ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CAO THỊ THU HIỀN
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN GIO LINH (QUẢNG TRỊ)
TỪ 1990 ĐẾN 2010
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Huế, tháng 9 năm 2017
i
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CAO THỊ THU HIỀN
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN GIO LINH (QUẢNG TRỊ)
TỪ 1990 ĐẾN 2010
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60 22 03 13
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG CHÍ HIẾU
Huế, tháng 9 năm 2017
2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU.........................................................................................................................5
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................................5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...........................................................................................6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................10
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ...............................................................10
6. Đóng góp của luận văn..............................................................................................11
7. Bố cục của luận văn...................................................................................................11
Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN BIẾN KINH TẾ -
XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH .....................................................................................12
1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên............................................................................12
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ...............................................................................................12
1.1.2. Tài nguyên...........................................................................................................13
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................................14
1.2.1. Nguồn lực kinh tế ................................................................................................14
1.2.2. Nguồn lực xã hội .................................................................................................17
1.3. Chủ trương của Đảng..............................................................................................20
1.3.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và tỉnh Quảng Trị.........................................20
1.3.1.1. Chủ trương của Trung ương Đảng ...................................................................20
1.3.1.2. Chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Trị..................................................................22
1.3.2. Chủ trương của Huyện ủy Gio Linh....................................................................23
Chương 2. CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH TỪ NĂM 1990
ĐẾN NĂM 2010 ............................................................................................................27
2.1. Về chuyển biến kinh tế..............................................................................................27
2.1.1. Thời kì 1990-2000...............................................................................................27
2.1.1.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp....................................................................27
2.1.1.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng.................34
2.1.1.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch ........................................................37
2.1.2. Thời kì 2000-2010...............................................................................................39
3
2.1.2.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp....................................................................39
2.1.2.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng.................46
2.1.2.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch ........................................................49
2.2. Về chuyển biến xã hội ............................................................................................52
2.2.1. Thời kì 1990-2000...............................................................................................52
2.2.1.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế .................................................................................52
2.2.1.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm.............................................................55
2.2.2. Thời kì 2000-2010...............................................................................................58
2.2.2.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế .................................................................................58
2.2.2.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm.............................................................61
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ...67
3.1. Đặc điểm.................................................................................................................67
3.1.1. Nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng đi lên...............................................67
3.1.2. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa............................................................................................................................68
3.1.3. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh...................................................69
3.1.4. Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt..............................................................70
3.2. Ý nghĩa lịch sử........................................................................................................71
3.2.1. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh giai đoạn 1991-2010 khẳng định tính
đúng đắn trong đường lối của Đảng nói chung và Đảng bộ huyện Gio Linh nói riêng
trong công cuộc đổi mới................................................................................................71
3.2.2. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh thời kì 1990-2010 là quá trình chuyển
biến phù hợp với xu thế chung, hợp lí đúng qui luật.....................................................71
3.2.3. Chuyển biến kinh tế - xã hội thời kì 1990-2010 đã tạo ra tiền đề thực hiện công
cuộc đổi toàn diện nền kinh tế - xã hội..........................................................................72
3.3. Bài học kinh nghiệm...............................................................................................73
3.3.1. Nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo đường lối, chủ
trương của Đảng và Nhà nước, kịp thời đề ra các chính sách cụ thể, vận dụng sáng tạo
vào thực tiễn địa phương; từng lĩnh vực kinh tế - xã hội. .............................................73
3.3.2. Các chủ trương, nhiệm vụ đề ra phải hợp lòng dân, thiết thực phục vụ lợi ích
nhân dân, được nhân dân tham gia bàn bạc, thì sẽ tạo được phong trào quần chúng
rộng rãi; giúp công tác lãnh đạo, điều hành đạt hiệu quả..............................................73
4
3.3.3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp trở thành ngành kinh tế động lực ..................74
3.3.4. Phát triển thương mại - dịch vụ, du lịch thành ngành kinh tế chủ đạo, đẩy mạnh
khai thác lợi thế của địa phương....................................................................................74
3.3.5. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực .....................................................75
KẾT LUẬN ..................................................................................................................77
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Kinh tế - xã hội được coi là thước đo trình độ cho sự phát triển của mỗi quốc
gia dân tộc trên thế giới. Bất cứ một quốc gia hay một thể chế chính trị nào thì thước
đo cho sự phát triển cũng bao gồm thành tựu của nhiều yếu tố hợp thành, trong đó
những những thành tựu kinh tế - xã hội giữ vai trò quan trọng. Kinh tế - xã hội có mối
quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác, là nhân tố quyết định cho sự vận động và
phát triển của một dân tộc. Chính vì thế, tất cả các quốc gia dù theo thể chế xã hội nào
thì cũng đều có những chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Huyện Gio Linh là một huyện nhỏ ở phía bắc của tỉnh Quảng Trị, từ khi tái lập
(tách ra từ huyện Bến Hải năm 1990), nền kinh tế - xã hội có những bước chuyển biến
tích cực, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân. Điều đó đã
khẳng định đường lối đổi mới của Đảng đề ra từ năm 1986 là đúng đắn. Đường lối đó
đã được nhân dân Gio Linh vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh địa
phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, địa phương vẫn còn tồn tại
những hạn chế và khó khăn cần được tiếp tục tổng kết, đánh giá, nhằm đưa ra những
giải pháp cụ thể thích hợp, thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển nhanh và bền
vững trong thời gian tới. Do đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu chuyển biến kinh tế - xã
hội huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị từ năm 1990 đến năm 2010, có ý nghĩa về mặt
khoa học và thực tiễn sau:
Về ý nghĩa khoa học: Luận văn làm rõ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
huyện Gio Linh thời kỳ đổi mới từ năm 1990 đến năm 2010, trong đó, luận văn nêu
bật lên những chủ trương của Đảng cùng với sự lao động sáng tạo của nhân dân huyện
Gio Linh đã thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung của đất nước. Trên cơ sở
đó, luận văn góp phần tìm hiểu rõ hơn những vấn đề lí luận và thực tiễn về đường lối
đổi mới của Đảng, về việc hiện thực hóa đường lối đó vào hoàn cảnh cụ thể ở địa
phương, trên cơ sở đó rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm,
đồng thời thấy được những thành công và tồn tại của nền kinh tế - xã hội huyện Gio
Linh trong 20 năm đổi mới. Mặt khác, qua luận văn, mong muốn được đóng góp một
6
số ý kiến, đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế của huyện
trong tương lai.
Về ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu đề tài này để chỉ ra những tồn tại, hạn chế,
cùng với những kiến nghị, giải pháp về quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
huyện cho hiện nay và trong tương lai, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc
hoạch định chính sách, chủ trương nhằm đưa nền kinh tế - xã hội ở Gio Linh phát
triển.
Mặt khác, ở một mức độ nhất định, luận văn cung cấp một số tư liệu cho việc
tham khảo, vận dụng trong những tiết giảng về bộ môn lịch sử địa phương cho giáo
viên các cấp học ở huyện nhằm giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước, trước
hết cho thế hệ trẻ.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Chuyển biến kinh tế - xã hội
huyện Gio Linh (Quảng Trị) từ 1990 đến 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Lịch sử Việt Nam của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài có những công trình sau:
Nguyễn Trọng Phúc (2001), Một số kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đây là
công trình này nghiên cứu những kinh nghiệm thực tế khi giải quyết đúng đắn mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, giữ vững được định hướng xã hội
chủ nghĩa và đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích và cuộc sống của nhân dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyễn Văn Thường (2004), Một số vấn đề về kinh tế - xã hội Việt Nam trong
thời kì đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Công trình này đã trình bày một số
vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kì đổi mới, từ đó, tác giả đã đưa ra một
số kiến nghị, giải pháp để khắc phục những hạn chế, giúp đất nước tiến nhanh trên con
đường đổi mới.
Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Quảng Trị (2005), Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị,
tập III (1975-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, đề cập đến tiến trình khôi phục
và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nền
tảng, là động lực của sự phát triển.
7
Trong thời gian gần đây, có một số khóa luận tốt nghiệp cử nhân và luận văn
thạc sĩ đã tập trung nghiên cứu những vấn đề về kinh tế - xã hội ở một số địa phương,
như: Đinh Thị Hoài Thu (2010), Chuyển biến kinh tế - xã hội ở Thị trấn Hồ Xá (Huyện
Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị) giai đoạn 1986-2005. Luận văn thạc sĩ Khoa học Lịch sử,
Trường Đại học Khoa học, nghiên cứu chuyển biến kinh tế - xã hội ở Thị trấn Hồ Xá
trong giai đoạn 1986-2005, luận văn làm rõ vị trí, vai trò, thành tựu, những đóng góp
cùng những hạn chế trên lĩnh vực kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển của huyện
Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị; qua đó, nhằm phát huy hơn nữa vai trò, vị trí của thị trấn
trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay; rút ra một số kinh nghiệm và
những giải pháp chủ yếu nhằm gợi mở cho Đảng bộ và chính quyền Thị trấn Hồ Xá
tham khảo để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp hơn trong thời gian tới. Lê Thị
Hằng (2012), Chuyển biến kinh tế của thành phố Đông Hà (Quảng Trị) giai đoạn
1989-2010. Luận văn thạc sĩ Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Huế, nghiên
cứu sự chuyển biến kinh tế ở thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 1989-
2010, trong đó tập trung phân tích, đánh giá về sự chuyển biến kinh tế của thành phố,
rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và các bài học kinh nghiệm có tính định hướng
cho sự phát triển của thành phố trong thời gian tới. Võ Thị Hoài Thu (2014), Nghiên
cứu phát triển nông nghiệp ở huyện Gio Linh - tỉnh Quảng Trị. Khóa luận tốt nghiệp
ngành Sư phạm Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Huế, nghiên cứu về vấn đề phát triển
nông nghiệp trong giai đoạn 2000-2020, khóa luận tổng quan lí luận liên quan đến sản
xuất nông nghiệp; phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện
trạng phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Gio Linh - tỉnh Quảng Trị; trên cơ sở
phân tích thực trạng để đề xuất giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp ở huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Về phía địa phương, Ban Thường vụ Huyện ủy Gio Linh (1995) Lịch sử Đảng
bộ huyện Gio Linh, tập I (1039-1975), là một công trình nghiên cứu dưới gốc độ lịch
sử Đảng, viết về con người và mảnh đất Gio Linh, thể hiện truyền thống chống giặc
ngoại xâm kiên cường, bất khuất của ông cha để vượt qua mọi khó khăn, thử thách,
kiên gan bền chí chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc, cho quê hương được giải
phóng. Trong đó, có trình bày về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội dưới chế độ thực
dân phong kiến và sự ra đời của chi bộ chợ cầu.
8
Thúy Sâm (2000), Làng Lan Đình và nghề đan lát, Tạp chí Cửa Việt, số 69. Bài
báo nghiên cứu Làng đan Lan Đình ở xã Gio Phong, huyện Gio Linh, nội dung viết về
các sản phẩm từ nghề đan, cấu tạo kĩ thuật, giá cả và thị trường tiêu thụ và tác giả đã
nêu lên thực tế hiện nay, tầm quan trọng của hàng đan cũng như hướng đầu tư để nhân
rộng các sản phẩm bằng kĩ thuật tinh vi đặc biệt hơn đề nghề đan cổ truyền ở Lan Đình
sẽ không mất đi mà sẽ được nhân rộng, phát huy một ngành kinh tế, nâng cao đời sống
cho đa số bộ phận cư dân nghèo vùng quê Gio Linh, Quảng Trị.
Lê Đình Hào (2001), Nghề dệt chiếu làng Lâm Xuân, Tạp chí Cửa Việt, số 87.
Nội dung bài báo viết về đôi nét về điều kiện tự nhiên - xã hội làng Lâm Xuân, qui
trình dệt chiếu và cuối cùng tác giả đã nêu lên ý kiến về việc đầu tư để khôi phục, củng
cố mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm để nghề
chiếu Lâm Xuân phát triển trở lại thích ứng với thị trường hiện nay vẫn là những trăn
trở, nhưng ước nguyện luôn sống động trong tâm thức của mỗi người dân làm nghề dệt
chiếu ở Lâm Xuân hôm nay.
Ban Thường vụ Huyện ủy Gio Linh (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Gio Linh,
tập II (1975-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, thể hiện tinh thần anh dũng kiên
cường của nhân dân Gio Linh trong xây dựng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi
phục kinh tế xây dựng lại cuộc sống trên đống tro tàn, đổ nát. Được sự quan tâm lãnh
chỉ đạo của Đảng, Chính phủ cùng các ban ngành đoàn thể ở Trung ương, tỉnh và địa
phương, đến nay diện mạo Gio Linh đã thay da đổi thịt, văn hóa - xã hội có nhiều tiến
bộ, quốc phòng - an ninh được đảm bảo; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
được cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc; công tác xây dựng Đảng, chính
quyền, Mặt trận và các đoàn thể có nhiều đổi mới và hiệu quả.
Thanh Hải (2007), Gio Linh đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Tạp chí Cửa
Việt, số 151. Bài báo đã đề cập đến vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên huyện Gio Linh; kho
tàng văn hóa dân gian, dân vũ; tự hào miền quê vốn giàu truyền thống, là nơi có nhiều
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị, bao gồm: di tích lịch sử, di tích kiến
trúc nghệ thuật, di tích danh lam thắng cảnh; bên cạnh các lĩnh vực về đời sống văn
hóa, bài viết còn đề cập đến bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế - xã hội huyện Gio
Linh; tác giả cho rằng việc các tầng lớp nhân dân toàn huyện quyết tâm phấn đấu, tiếp
tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa”, làm cho phong trào phát triển sâu rộng, đồng đều, thực chất và bền
9
vững, tạo chuyển biến cơ bản trong việc thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng môi
trường văn hóa, tư tưởng đạo đức lối sống lành mạnh, giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, xây dựng các thiết chế văn hóa, thể dục
thể thao, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, làm động lực
thúc đẩy thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội trong giai đoạn
2006 -2010 và những năm tiếp theo.
Ngoài ra còn có các bộ lịch sử Đảng bộ các xã trong huyện: Ban Chấp hành
Đảng bộ xã Gio Thành (2014), Lịch sử Đảng bộ xã Gio Thành, tập I (1930-2010), Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Gio Hải (2015), Lịch sử Đảng
bộ xã Gio Hải, tập I (1930-2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Ban Chấp hành
Đảng bộ xã Gio Việt (2015), Lịch sử Đảng bộ xã Gio Việt, tập I (1930-2010), Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; đã đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội ở các địa phương
qua các giai đoạn, như: ổn định sản xuất để đấu tranh với địch; hàn gắn vết thương
chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống sau chiến tranh; khôi phục hậu quả
của hai cuộc chiến tranh cùng cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc
đổi mới.
Các công trình và tài liệu trên đây đã phản ánh ở những khía cạnh khác nhau, ở
một mức độ khác nhau đã có một số nội sung liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Gio
Linh từ năm 1990 đến năm 2010 một cách có hệ thống và toàn diện. Vì vậy, việc đi
sâu tìm hiểu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh từ năm 1990 đến
năm 2010 là một vấn đề mới mẻ và cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm sáng tỏ những chuyển biến về kinh tế - xã hội của huyện Gio
Linh từ năm 1990 đến năm 2010. Từ đó rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa và các bài học
kinh nghiệm có tính định hướng cho sự phát triển của huyện trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, thu thập và xử lý các tài liệu thành văn có liên quan đến nội dung của
luận văn, nhất là các văn kiện, các báo cáo của Tỉnh ủy, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân
huyện Gio Linh.
10
Thứ hai, phân tích các nhân tố đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và
chủ trương của Đảng tác động đến chuyển biến kinh tế - xã hội của Gio Linh.
Thứ ba, phân tích hệ thống những chuyển biến kinh tế - xã hội của Gio Linh từ
năm 1990 đến năm 2010, làm rõ những thành tựu và hạn chế của huyện trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của huyện.
Thứ 4, rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và đúc rút những bài học kinh
nghiệm về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh từ
năm 1990 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, luận văn chọn mốc mở đầu là năm 1990 (huyện Gio Linh tái lập,
tách ra từ huyện Bến Hải) và mốc kết thúc đến năm 2010 (năm cuối cùng có ý nghĩa
quyết định trong việc hoàn thành qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện thời kì
1996-2010).
Về không gian, giới hạn trong huyện Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị, gồm 19 xã
và 2 thị trấn Gio Linh, Cửa Việt.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Các sách chuyên khảo có liên quan đến đề tài; các bài viết nghiên cứu về đổi
mới kinh tế - xã hội đăng trên các tạp chí của Trung ương và địa phương như: Tạp chí
Kinh tế - dự phòng, Thông tin lí luận, báo Quảng Trị,…
- Nguồn tài liệu do Cục Thống kê huyện Gio Linh công bố.
- Nguồn tài liệu lưu trữ: một số văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, các chỉ thị,
Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về kinh tế - xã hội. Ngoài ra chúng tôi còn tham
khảo các tài liệu lưu trữ như các văn kiện, các chỉ thị, Nghị quyết, các báo cáo tổng kết
hàng năm của Huyện ủy Gio Linh, Tỉnh ủy Quảng Trị qua các kì Đại hội và hội nghị
từ năm 1990 đến năm 2010, các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của Uỷ ban nhân
dân huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010, cùng với những tài liệu của các
phòng, ban, các ngành thuộc tỉnh Quảng Trị và huyện Gio Linh.
11
- Nguồn tài liệu do tác giả khảo sát thực tế tại địa phương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử nhằm
tái hiện lại bức tranh chân thực về quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Gio Linh từ
năm 1990 đến năm 2010, kết hợp với với phương pháp logic để đánh giá, khái quát nội
dung vấn đề cần nghiên cứu.
Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng các phương pháp khác như: Phương pháp
nghiên cứu tài liệu thành văn, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương
pháp so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp,… để làm rõ vấn đề.
6. Đóng góp của luận văn
Một là, Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về sự chuyển biến kinh
tế - xã hội của huyện Gio Linh trong 20 năm (1990-2010).
Hai là, Luận văn đánh giá làm rõ những thành công cũng như những hạn chế
trong quá trình chuyển biến kinh tế của huyện sau khi tách huyện. Từ đó rút ra một số
đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm để nêu lên một số giải pháp góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh.
Ba là, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhận thức toàn diện hơn về
lịch sử kinh tế của huyện Gio Linh nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung, đồng thời
cung cấp tài liệu cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần giáo dục truyền
thống cho thế hệ trẻ ở địa phương.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh
(13 trang).
Chương 2: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010
(39 trang).
Chương 3: Đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm (9 trang).
12
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN BIẾN
KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH
1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Gio Linh là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Trị, có tọa độ địa lí từ 160
9’
đến 170
vĩ Bắc và 1060
52’40” đến 1070
10’ độ kinh Đông, được giới hạn như sau: Phía
Đông giáp Biển Đông, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Linh, phía Tây giáp huyện Cam Lộ,
Đakrông và Hướng Hóa, phía Nam giáp huyện Triệu Phong, Cam Lộ và thành phố
Đông Hà.
Trên địa bàn huyện có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam chạy qua và một số tỉnh
lộ như 73, 74, 75, 76 nối vùng đồng bằng với vùng gò đồi phía Tây tạo điều kiện thuận lợi
giao lưu kinh tế xã hội giữa các địa phương trong huyện cũng như với cả tỉnh.
Những lợi thế về vị trí địa lí, tạo ra cho Gio Linh một nền tảng cơ bản để có thể
tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế giữa các huyện trong tỉnh, đẩy nhanh
hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 473 km2
, chiếm 10,5% tỉnh Quảng Trị.
Địa hình Gio Linh dốc nghiêng từ Tây sang Đông, bị chia cắt mạnh bởi các hệ thống
sông suối, ao hồ xen kẽ nhau. Do đó, việc tổ chức sản xuất cũng như việc phát triển
các hệ thống giao thông, thủy lợi gặp rất nhiều khó khăn. Phía Tây là đồi núi có diện
tích 31.773,75 ha (67,18%), ở giữa là đồng bằng có diện tích 12.631,01 ha (26,7%) và
phía Đông là bãi cát và cồn cát ven biển với diện tích 2.893,8 ha (6,12%).
Tài nguyên đất, nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển chiếm diện tích khoảng
9.000 ha; đất mặn chiếm diện tích khoảng 300 ha; đất phèn chiếm diện tích, khoảng
300 ha; đất phù sa chiếm diện tích nhỏ, phân bố ở các xã ven sông Bến Hải, tuy chiếm
tỉ trọng không lớn nhưng đây là nhóm đất có giá trị, đang được sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp; đất đỏ vàng diện tích 146.51 ha (chiếm 56.06% diện tích gò đồi).
Kinh tế Gio Linh chủ yếu là nông - lâm - ngư nghiệp; vùng trung du, miền núi
chủ yếu là đất bazan đỏ phù hợp với việc trồng cây lâu năm như cà phê, hồ tiêu, cao
su, mít, chè, …và chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê. Vùng đồng bằng ven biển trồng
lúa và các loại cây ngắn ngày, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Vùng cát và miền biển chủ
yếu là đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản.
13
Đất đai ở huyện Gio Linh tầng đất mặt dày, là một điều kiện hết sức thuận lợi để
phát triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, nhược điểm của đất đai huyện phần lớn là
chua, ở vùng đồi độ pH dao động từ 3,9 - 4,4. Thành phần cơ giới thịt trung bình, tỉ lệ
cấp hạt sét và limon từ 70 - 80%, độ xốp lớn, khả năng giữ nước, giữ phân kém, dẫn
đến vào mùa khô cây trồng thiếu nước, thiếu dinh dưỡng nên chậm phát triển.
Huyện Gio Linh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối điển
hình, mùa hè có gió Tây khô nóng (từ tháng 4 đến tháng 9), mùa đông lạnh ẩm ướt chịu
ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau).
Khí hậu ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu
mùa vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng thời
tiết thất thường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và phân bố cây trong và vật nuôi.
Khí hậu phân hóa theo mùa nên cây trồng cũng có sự sinh trưởng, phát triển theo mùa
với các mùa khác nhau, có thể thâm canh, xen canh, gối vụ, …Bão, lũ lụt, hạn hán,
sương muối làm thiệt hại mùa mạng và làm giảm chất lượng sản phẩm nông nghiệp.
Chế độ khí hậu thất thường làm phát sinh dịch bệnh trên cây trồng, lượng ẩm cao gây
khó khăn cho bảo quản sản phẩm nông nghiệp.
1.1.2. Tài nguyên
* Tài nguyên nước
Gio Linh có 2 sông lớn chảy qua là sông Bến Hải và sông Thạch Hãn. Sông
Bến Hải nằm ở phía Bắc của huyện, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều nên thủy chế
thất thường, hơn nữa phần trung lưu chảy qua khu vực phía Tây có độ dốc lớn nên khả
năng thủy lợi của sông kém. Hệ thống sông Thạch Hãn đổ ra biển qua Cửa Việt, là
mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng.
Trên địa bàn huyện còn có một số sông suối nhỏ như sông Cánh Hòm, suối Tân
Bích, suối Kinh Môn cung cấp nước cho sản xuất và đời sống nhân dân. Ngoài ra,
nguồn nước mặt trên địa bàn còn được cung cấp bởi một số hồ, đập nhằm điều hòa lưu
lượng và phục vụ tưới tiêu trong khu vực bao gồm hồ Kinh Môn, Hà Thượng, Trúc
Kinh, hồ Đập Hoi và một số hồ thủy lợi nhỏ như hồ Hoàng Hà, Nhĩ Thượng, Nhĩ Hạ.
Nhìn chung, hệ thống sông, hồ, ao khu vực đã cung cấp nguồn nước mặt tương
đối đầy đủ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Nguồn nước có sự phân hóa theo mùa: Mùa mưa nhiều nước, thuận lợi cho sản
xuất; tuy nhiên, còn gây ngập úng một số nơi làm thiệt hại mùa mạng. Mùa khô thiếu
14
nước, hạn hán, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện khá phong phú, chất lượng nước tốt, đáp
ứng cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, mặt khác có thể khai thác để bổ sung một phần
nước tưới phục vụ nhu cầu sản xuất.
* Tài nguyên thủy sản
Gio Linh có 15 km bờ biển, với hai cửa sông quan trọng (cửa Tùng, cửa Việt);
ngư trường rộng lớn, khá nhiều hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực nang,
cua, một số loại cá,… Diện tích bãi bồi ven sông, đặc biệt vùng ven biển với diện tích
mặt nước và một số diện tích bị nhiễm mặn, đất cát có khả năng chuyển đổi để phát triển
nuôi trồng thủy hải sản các loại. Cùng với phát triển đánh bắt thủy sản các khu vực ven
sông, đầm hồ, diện tích bãi bồi, mặt nước tự nhiên được người dân tận dụng để nuôi
thủy sản nước mặn, nước lợ, nước ngọt các loại; có một số nơi nuôi tôm trên cát.
Với đường bờ biển dài, Gio Linh có tiềm năng quan trọng để phát triển mạng
lưới thương mại - dịch vụ vùng biển với hai bãi tắm đẹp của vùng cũng như của tỉnh
Quảng Trị thu hút khách du lịch; phát triển thành các khu du lịch - dịch vụ góp phần
làm chuyển biến cơ cấu kinh tế - xã hội của địa phương.
* Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của huyện chủ yếu là nguyên liệu sản xuất xi măng và
vật liệu xây dựng như đá vôi, cát thủy tinh có khả năng chế biến silicát, sản xuất thủy
tinh và kính xây dựng, than bùn, làm nguyên liệu sản xuất phân vi sinh; Ti tan phân bố
dọc ven biển có thể khai thác xuất khẩu; đá bazan tập trung ở phía Tây huyện gồm các
xã Gio Sơn, Gio Hòa, Gio Bình khai thác làm nguyên liệu sản xuất xi măng; đá xây
dựng, ốp lát ở các xã phía Tây huyện như Gio Bình, Gio Hòa, Gio An, …có nhiều tảng
đá to trong lòng đất gây khó khăn rất lớn trong quá trình khai đất làm nông nghiệp, nay
là nguyên liệu cho nghề chẻ đá của địa phương, tạo công ăn việc làm cho các hộ dân ở
đây, góp phần xây dựng những công trình phục vụ cuộc sống.
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.1. Nguồn lực kinh tế
* Cơ sở vật chất kĩ thuật
Gio Linh có 6.917,6 ha đất ruộng, 3.517,35 ha đất lâm nghiệp, gần 700 ha
cây công nghiệp hằng năm, 812 ha nuôi trồng thủy hải sản.
15
Để đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, cung cấp các giống mới có năng
suất cao và phân bón, thuốc trừ sâu cũng như trao đổi kinh nghiệm sản xuất,
huyện có trạm bảo vệ thực vật Gio Linh, Trạm giống huyện Gio Linh, các trạm
giống ở các hợp tác xã như các trạm giống: Gio An, nông trường Cồn Tiên, xã
Gio Thành, Gio Mai, Gio Quang, Trung Hải,… và nhiều cơ sở dịch vụ nông
nghiệp khác.
Các trạm giống ở nông trường Cồn Tiên, Gio An ươm những loại cây công
nghiệp lâu năm và cây lâm nghiệp như cao su, hồ tiêu, keo, cây ăn quả, được
phân bố đều khắp trong toàn huyện, tạo điều kiện để người dân thuận lợi trong
việc vận chuyển và đưa vào sản xuất
Bên cạnh các cơ sở cung cấp các giống cây công nghiệp cho năng suất cao,
Gio Linh còn có hơn 70 cơ sở dịch vụ nông nghiệp cung cấp nhiều máy móc hiện
đại như: máy cày, máy bừa, máy xay xát cho người dân.
- Thông tin liên lạc, cùng với giao thông vận tải, mạng lưới thông tin liên
lạc đã vươn tới các xã, cả những xã vùng sâu. Tất cả các xã trong huyện đều có
bưu điện văn hóa. Hệ thống truyền thanh được mở rộng với 4 trạm thu phát, 7
trạm truyền thanh cơ sở.
- Thủy lợi, toàn huyện có 4 hệ thống hồ đập lớn và hơn 75 các hồ đập nhỏ;
115,7km kênh mương tưới. Tuy nhiên, các hồ đập chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ,
số lượng ít nên chưa đảm bảo tưới tiêu cho nông nghiệp. Hơn nữa, điều kiện địa
hình đồi núi độ dốc lớn làm hạn chế hiệu quả của các đập thủy lợi.
- Những thành tựu đạt được trước năm 1990
Từ năm 1975 đến năm 1989, kinh tế Gio Linh đã đạt được một số thành tựu
đáng kể trên các mặt nông - lâm, công nghiệp và giao thông vận tải góp phần tạo tiền
đề về chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh trong chặng đường tiếp theo.
Về nông - lâm nghiệp thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện
Gio Linh lần thứ V (4/1989) và các Nghị quyết của Huyện ủy, các phong trào thi đua
lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng quê hương được phát động mạnh mẽ trong các
tầng lớp nhân dân, được nhân dân hưởng ứng và thực hiện tích cực. Nổi bật là các
phong trào khai hoang phục hóa mở rộng diện tích, rà phá bom mìn để giải phóng
ruộng vườn. Toàn huyện đã lao vào trận tuyến mới, trận tuyến quyết liệt không chỉ đổ
mồ hôi, sức lực mà cả xương máu để làm sống dậy mảnh đất “trắng” từng bị cày xới,
16
la liệt bom đạn, chất nổ. Chỉ riêng tính từ ngày giải phóng nhân dân đã đưa tổng diện
tích khai hoang phục hóa toàn huyện là 5.371 ha. Trong vụ đông - xuân 1975-1976,
ngoài các công trình thủy lợi vừa như Kinh Môn, đập Hói Thủy Khê, các xã chú trọng
công trình thủy lợi, việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, đưa các giống lúa mới
có năng suất cao vào gieo cấy đã được các địa phương chú ý. Tỉ lệ giống lúa mới vụ
đông - xuân 1975-1976 đã chiếm 21,2% diện tích, đưa năng suất lúa bình quân toàn
huyện đạt 11,18 tạ/ha, bằng 73% kế hoạch đặt ra. Tổng sản lượng lương thực quy thóc
4.606 tấn, đạt 81,9% kế hoạch, tăng 93,3% so với vụ đông - xuân 1974-1975. Kết quả
bình quân trong 3 năm (1977-1979) diện tích cây lương thực tăng 12,3%; diện tích hoa
màu tăng từ 32% năm 1976 lên 42% năm 1979; sản lượng lương thực quy thóc tăng
bình quân 18%, trong đó sản lượng màu quy thóc tăng bình quân 37%. Đàn gia súc,
gia cầm tăng lên. Theo thống kê đến 1/4/1975, trên địa bàn đàn trâu bò từ 5.800 con
năm 1977 tăng lên 6.600 con năm 1979, đàn lợn từ 12.000 con tăng lên 16.000 con
[12, tr.54].
Việc triển khai thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa
IV) (tháng 1-1981) về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong
nông nghiệp, được nông dân đón nhận với tinh thần hồ hởi, phấn khởi và hăng hái sản
xuất, thúc đẩy nông nghiệp trên địa bàn huyện có những chuyển biến mạnh mẽ. Tổng
sản lượng lương thực từ 22.100 tấn năm 1981 lên 26.500 tấn năm 1984, năng suất lúa
từ 9,8 tạ/ha lên 14,9 tạ/ha, bình quân lương thực đầu người từ 246kg năm 1981 lên
285kg năm 1984; các năm 1987, 1988 sản lượng lương thực đạt 21.000 tấn, so với thời
kì 1981-1985 tăng 2.6000 tấn. Các xã đàn trâu bò từ 6.900 con năm 1981 lên 10.400
con năm 1985, đàn lợn bình quân hằng năm từ năm 1981-1985 đạt 14.500 con [14,
tr.80].
Trong 3 năm 1975-1977, toàn huyện đã trồng được 1.105 ha cây tập trung và
hàng chục vạn cây phân tán, chủ yếu là cây phi lao, bạch đàn, xoan dừa và tre mát.
Năm 1979 diện tích trồng cây đã đạt trên 10.000 ha. Năm 1981, diện tích cây công
nghiệp hàng năm 117,3 ha, năm 1984 là 278,5 ha và năm 1985 là 1.918,4 ha, trong đó
một số loại cây có giá trị xuất khẩu cao, được đầu tư phát triển mạnh như cao su, hồ
tiêu, ớt, …
Về công nghiệp, tập trung khai thế mạnh sẵn có, phát triển cơ khí, vật liệu xây
dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, thủy sản, tăng nhanh các mặt hàng thủ công mĩ
17
nghệ. Trong 3 năm (1978-1980), công nghiệp đạt giá trị sản lượng là 3.366.000 đồng,
tăng 67,6% so với năm 1976. Năm 1978, trên địa bàn đã xây dựng hai xí nghiệp gạch
ngói, các cơ sở chế biến màu đạt 500-800 tấn/năm [13, tr.55] và mở rộng thêm. Giá trị
sản xuất công nghiệp không ngừng tăng lên, từ 25,4 triệu đồng năm 1981 lên 50,3 triệu
đồng năm 1985. Trong đó ngành tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm tỉ trọng trên 76%
[11, tr.85]. Một số xí nghiệp đã đi vào hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa,
bước đầu sản xuất có hiệu quả, vươn lên mở rộng quan hệ sản xuất, chất lượng và giá
trị sản phẩm ngày càng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bình
quân hàng năm những năm 1986-1989 là 100 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân
10%/năm, năm 1989 đạt 102 triệu đồng [16, tr.117] . Một số ngành nghề mới như sản
xuất làn mây, chiếu cói, mành tăm xuất khẩu được đầu tư phát triển, bước đầu mang
lại hiệu quả.
Về giao thông vận tải và lưu thông phân phối, được sự hỗ trợ của Nhà nước, sự
đóng góp tiền của, công sức của nhân dân và các lực lượng trên địa bàn, cơ sở hạ tầng
và giao thông ở Gio Linh đã được sửa chữa, cải tạo và nâng cấp. Huyện đầu tư xây
mới nhiều cầu cống, tuyến giao thông như Bến Hải - Gio Việt, Chợ Kên - Nghĩa trang
Trường Sơn, …hình thành mạng lưới giao thông nông thôn, đảm bảo sản xuất về cả số
lượng, chủng loại. Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển trong năm 1988 là 17.000
tấn, tăng gấp hai lần so với năm 1986; thu mua lương thực hàng năm đạt 4.000 tấn và
hàng trăm tấn bông đót, sắt, phế liệu. Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng khá, năm 1985
đạt 950.000 rúp - đôla, năm 1988 là 1,1 triệu rúp - đô la. Bình quân giá trị kim ngạch
xuất khẩu tính trên đầu người năm 1987 là 7,66 rúp - đôla, năm 1988 là 9 rúp - đôla
[22, tr.118-119].
1.2.2. Nguồn lực xã hội
Về giáo dục, mặc dù vẫn còn những khó khăn cả về vật chất lẫn đội ngũ giáo
viên, nhưng cũng đã thu được nhiều thành quả quan trọng. Các xã có dân số đông đều
có trường cấp I và cấp II. Đến cuối năm 1980, toàn huyện có 20 trường phổ thông cấp
I, cấp II, đón nhận hàng năm khoảng 10.000 học sinh, đảm bảo nhu cầu học hết văn
hóa cấp II, có 1 trường cấp III với hàng trăm học sinh theo học. Ngoài ra, huyện còn
mở thêm các lớp học bổ túc, học xóa mù, các trường vừa học vừa làm. Tính trung
bình, cứ ba người dân có một người đi học.
18
Phong trào giáo dục trong những năm 1977-1980 đã xuất hiện nhiều điểm sáng.
Trường cấp III vừa học, vừa làm Cồn Tiên được Bộ trưởng Bộ Giáo dục kí quyết định
thành lập ngày 19/3/1979; gắn với Nông trường quốc doanh Cồn Tiên đã thu hút hàng
ngàn học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn theo học. Học sinh vừa học, vừa lao
động đảm bảo mức khoán của Nông trường; chăm lo công tác trồng cây phủ xanh đất
trống đồi trọc, trồng vườn rừng, là trường duy nhất trong toàn quốc trồng được nửa
triệu cây. Trường cấp I xã Gio Hòa là trường được chọn làm điểm nhân rộng của
ngành về nâng cao chất lượng dạy học, cải tiến giảng dạy, sáng kiến kinh nghiệm và
đã được Ủy ban nhân dân Bình Trị Thiên công nhận “Lá cờ đầu phong trào vở sạch,
chữ đẹp”.
Mạng lưới nhà trẻ, mẫu giáo được mở rộng. Đến cuối năm 1980 đã có trên
4.800 cháu vào nhà trẻ, đạt 50% số cháu trong độ tuổi; hơn 5.000 cháu vào các lớp
mẫu giáo, đạt 66% số cháu trong độ tuổi, tăng gấp đôi so với năm 1977 [3, tr.59].
Tính từ năm 1981 đến 1985, trung bình hằng có 10.333 học sinh ở các cấp, tỉ lệ
tốt nghiệp các cấp gần 90%. Số lượng học sinh giỏi toàn diện đạt gần 4% [11, tr.90].
Thực hiện phong trào kế hoạch nhỏ, nhà trường gắn liền với xã hội, học sinh các
trường tham gia sản xuất, làm hàng xuất khẩu đạt nhiều kết quả.
Từ năm 1986 trở đi, ngành giáo dục có những chuyển biến mạnh mẽ. Bước đầu
đã đạt được kết quả trong việc huy động số lượng, nâng cao chất lượng đại trà, chăm
lo bồi dưỡng học sinh giỏi, đẩy mạnh hoạt động lao động trồng cây xanh, giáo dục
hướng nghiệp dạy nghề. Năm học 1989-1990, trên địa bàn huyện đã có 21 trường học
trung học cơ sở, 1 trường phổ thông trung học, 2 trường bổ túc văn hóa, 1 trường dạy
nghề, với tổng số học sinh các cấp học, ngành học là 11.028 học sinh [3, tr.122].
Về y tế, đến cuối năm 1980, các bệnh viện và trạm xá được nâng cấp và xây
mới, nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh. Ngoài 1 bệnh viện ở trung tâm, hầu hết
các xã đều có trạm xá. Năm 1977, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,5%, đến năm 1980
giảm xuống còn 2,3% [6, tr.60]. Đến giai đoạn 1981-1985, hoạt động y tế đã đạt được
nhiều kết quả tích cực, 100% số xã có trạm y tế, chất lượng khám chữa bệnh không
ngừng được nâng cao; có 1 bệnh viện, 2 bệnh xá và 16 trạm y tế xã. Y tế huyện đã kịp
thời chặn đứng và dập tắt các nạn dịch như: sốt rét, sốt xuất huyết, mắt hột,... Chương
trình kế hoạch hóa gia đình, sinh đẻ có kế hoạch được nhân dân đồng tình hưởng ứng,
đưa tỉ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 1989 xuống còn 1,81% [21, tr.122].
19
Công tác chính sách xã hội được triển khai thực hiện có hiệu quả, với phương
châm giải quyết công ăn việc làm gắn với việc tổ chức lại sản xuất, điều phối dân cư,
xây dựng vùng kinh tế mới. Ở các xã miền biển, huyện đã chỉ đạo phát triển các tổ hợp
chế biến hải sản, làm dịch vụ; tổ chức trồng cây, sản xuất lương thực, thành lập các
hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, đã giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động vùng
biển, từng bước xóa đói giảm nghèo cho nhân dân các vùng bãi ngang của huyện.
Những thành tựu đã đạt được trong những năm 1977-1989 về kinh tế - xã hội
đã thể hiện sự phấn đấu, nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân toàn huyện theo phương
hướng đổi mới của Đảng. Nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, thì chỉ là
những thành tựu bước đầu, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện.
Nền kinh tế vẫn đang trong tình trạng tự cấp, tự túc, khép kín, kiến thức và năng
lực sản xuất hàng hóa còn yếu; trình độ sản xuất, kinh doanh, lương thực vẫn chưa
đảm bảo vững chắc, một số xã vẫn chưa chủ động được lương thực trước những diễn
biến bất lợi của thiên tai. Việc khai thác các tiềm năng, thế mạnh của các vùng mới có
chuyển biến rõ ở vùng đồng bằng, còn vùng biển và miền núi vẫn đang lúng túng.
Trong ba chương trình kinh tế lớn lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu thì chương trình sản xuất hàng xuất khẩu còn nghèo nàn, chương trình hàng tiêu
dùng chưa có chuyển biến đáng kể.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa được nghiên cứu, sắp xếp một cách
hợp lí; mặt hàng còn đơn điệu, số lượng ít, chất lượng sản phẩm còn kém, giá thành
cao, khó tiêu thụ. Việc tạo vốn cho sản xuất còn nhiều lúng tứng. Một số mặt hàng
xuất khẩu và tiêu dùng từ nguyên liệu địa phương chưa được tổ chức sản xuất một
cách có hiệu quả.
Chất lượng giáo dục toàn diện còn hạn chế, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Công
tác y tế chưa đảm bảo phòng trừ dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Công tác vận
động thực hiện kế hoạch hóa gia đình chưa được thường xuyên, tỉ lệ tăng dân số tự
nhiên còn cao.
Dù còn nhiều tồn tại, hạn chế nêu trên, nhưng những thành quả mà Đảng bộ và
nhân dân huyện Gio Linh giành được trong những năm hợp nhất (1977-1989), nhất là
những năm thực hiện công cuộc đổi mới có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở, tiền đề cho
sự nghiệp chuyển biến kinh tế - xã hội những năm tiếp theo của huyện.
20
1.3. Chủ trương của Đảng
1.3.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và tỉnh Quảng Trị
1.3.1.1. Chủ trương của Trung ương Đảng
Sau 3 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng (1986-1989), nền kinh tế đất
nước vẫn chưa thoát ra khỏi khủng hoảng và lạm phát, các thế lực thù địch tiếp tục
cấm vận và bao vây kinh tế, các khoản viện trợ quốc tế cũng như thị trường xuất khẩu
và nhập khẩu bị thu hẹp đáng kể.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991), đã xác định phương hướng,
nhiệm vụ trong 5 năm (1991-1995) như sau:
Khắc phục tính chất tự cấp, tự túc, khép kín, chuyển mạnh sang nền kinh
tế hàng hóa, gắn thị trường trong nước với nước ngoài, đẩy mạnh xuất
khẩu, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu. Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn
với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội; tăng tốc độ và tỉ trọng
của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ, tăng cường cơ sở hạ tầng, bước
đầu đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu.
Đảng chủ trương vượt qua những khó khăn gay gắt trước mắt, ổn định đời
sống của nhân dân; chấm dứt tình trạng xuống cấp về giáo dục, y tế, đẩy
lùi các tệ nạn xã hội; phấn đấu xóa đói giảm nghèo, giảm số người nghèo
khổ, giải quyết vấn đề việc làm, đảm bảo các nhu cầu cơ bản, cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tăng dần tích lũy từ nội bộ nền
kinh tế, thu hút nhiều nguồn nhân lực bên ngoài; tăng cường cơ sở vật chất
- kĩ thuật, chuyển dịch rõ rệt cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
[32, tr.4-5].
Sau 10 năm tiến hành đổi mới một cách toàn diện kể từ Đại hội VI của Đảng,
đến năm 1996 Việt Nam cơ bản đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tháng
6/1996, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ nhiệm vụ và phương hướng chủ
yếu của giai đoạn 1996-2000 là:
Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến
nông, lâm, ngư nghiệp và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển các ngành công nghiệp, chú
21
trọng trước hết công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu.
Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cùng
với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả
qui mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo. Giải quyết một số vấn
đề xã hội theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển;
khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo
[12, tr.6].
Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) nhìn lại một cách tổng quát quá
trình cách mạng Việt Nam trong thế kỉ XX, định ra chiến lược phát triển đất nước
trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI với mục tiêu tổng quát:
Tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục -
đào tạo, khoa học - công nghệ và phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều
việc làm, xóa đói giảm nghèo và đẩy lùi các tệ nạn xã hội [44, tr.404].
Bước sang giai đoạn 2006-2010, với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) (7/11/2006), nền kinh tế phát triển nhanh và đạt được
nhiều thành tựu. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra nhiệm vụ:
Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm
năng và nguồn lực, tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tăng
tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng của nước
đang phát triển có thu nhập thấp; chuyển mạnh sang kinh tế thị trường,
thực hiện các nguyên tắc của thị trường. Phát triển mạnh khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế trí
thức; kiềm chế tốc độ tăng dân số, nâng cao sức khỏe nhân dân [17,
tr.476].
22
1.3.1.2. Chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Trị
Sau ngày tái lập tỉnh (1/7/1989), Quảng Trị đứng trước những thời cơ, thuận lợi
cùng những khó khăn và thách thức mới, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị tiếp tục tiến
hành công cuộc đổi mới theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(12/1986) đã đề ra.
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (8/1991) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ
trong 5 năm (1991-1995) như sau:
Tổ chức lại nền kinh tế - xã hội, bố trí cơ cấu đầu tư phù hợp với cơ cấu
kinh tế đã xác định, phát triển có chọn lựa một số cơ sở công nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và kết cấu hạ tầng, tạo môi trường và
điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế sản xuất, kinh doanh theo
cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII (5/1996) nêu rõ phương hướng, mục
tiêu và nhiệm vụ của nhiệm kì 1996-2000 là:
Tập trung mọi lực lượng, khắc phục khó khăn, tranh thủ thời cơ, phát huy
lợi thế, phát triển kinh tế từng bước vững chắc; giải quyết những vấn đề
bức xúc về xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; phấn đấu không còn hộ
đói, giảm bớt hộ nghèo, tăng hộ khá, sớm hình thành cơ cấu kinh tế công
nghiệp - nông nghiệp - thương mại, dịch vụ [15, tr.262].
Tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cải biến cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy mạnh công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, có trọng điểm, khai
thác thế mạnh mũi nhọn vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm, thủy sản
và mở rộng công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; xây dựng kết cấu
hạ tầng và từng bước phát triển thương mại - dịch vụ và du lịch [27,
tr.264-265].
Giai đoạn 2001-2010, gắn với các Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV
với đường lối phát triển là: Huy động tối đa mọi nguồn lực trong tỉnh và sử dụng có
hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài, dự báo xu thế phát triển, nắm bắt cơ hội, đón đầu
thời cơ để chủ động phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng lợi thế của hành lang kinh tế
Đông - Tây và Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo để mở rộng và nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút nguồn vốn đầu tư bên ngoài, mở rộng
23
thị trường xuất khẩu, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả trên từng lĩnh vực, từng ngành, từng vùng
lãnh thổ trong tỉnh.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (2000) là tạo bước đột phá về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát
triển nền kinh tế toàn diện, vững chắc, sớm rút ngắn khoảng cách so với các tỉnh trong
cả nước với các định hướng lớn là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn; phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa,
làm cơ sở, nền tảng của nền kinh tế; phát triển công nghiệp - xây dựng là nhiệm vụ
trọng tâm, ưu tiên số một của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Thương mại -
du lịch - dịch vụ giữ vị trí quan trọng, sớm trở thành ngành mũi nhọn [5, tr.22].
1.3.2. Chủ trương của Huyện ủy Gio Linh
Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng
Trị, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Gio Linh lần thứ XI (9/1991) xác định nhiệm vụ của
nhiệm kì 1991-1995 là:
Tích cực đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực, nhằm giải phóng năng lực
sản xuất, huy động mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế để khai thác
có hiệu quả các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến. Phấn đấu đến năm
1995 vượt qua khó khăn, giữ gìn ổn định, đảm bảo nhu cầu lương thực tại
chỗ cho xã hội, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên trong thời kì
giáp hạt ở một số vùng. Từng bước giải quyết việc ăn, ở và đi lại cho nhân
dân, đảm bảo việc làm cho người lao động, gắn với việc giảm mạnh gia
tăng dân số. Giải quyết tốt các vấn đề chính sách xã hội cho các đối tượng.
Đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, giáo dục, nâng cao trình độ dân trí, tăng
cường quốc phòng - an ninh, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an ninh xã
hội” [24, tr.143-144].
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI, Huyện ủy Gio Linh đã
tổ chức nhiều hội nghị đề ra nhiều nghị quyết, chủ trương trên các lĩnh vực, trong đó
có Nghị quyết 03-NQ/HU ngày 20/6/1992, với những nội dung chính là: “Tiếp tục đẩy
mạnh việc sản xuất cây lương thực, tích cực phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả,
cây lâm nghiệp; đẩy mạnh khai thác kết hợp với chế biến thủy hải sản, tăng cường ứng
24
dụng các tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào sản xuất và đời sống, quan tâm đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng, nhanh chóng ổn định sản xuất ở các xã miền tây vừa mới tách ra
từ Công ti Cao su Quảng Trị” [14, tr.146].
Đại hội Đảng bộ huyện Gio Linh lần thứ XII được tiến hành ngày 28/2/1996 đề
ra phương hướng, mục tiêu chung cho nhiệm kì (1996-2000) là:
Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, khai thác
triệt để các tiềm năng, thế mạnh, đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu và
tăng trưởng kinh tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa xã hội, củng cố
quốc phòng - an ninh, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản
lí của Nhà nước, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Phấn đấu đến năm
2000 đảm bảo nhu cầu lương thực cho toàn xã hội, xóa bỏ tình trạng thiếu
đói, giải quyết cơ bản về việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần cho nhân dân, nâng cao tích lũy nội bộ, từng bước
vượt qua tình trạng của huyện nghèo, kém phát triển, vươn lên thu hẹp
khoảng cách so với các huyện khác, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội [8, tr.169].
Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Gio Linh lần thứ XIII (11/2000) đã đề ra
phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2005:
Tập trung đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; khai thác tốt các lợi thế, tranh thủ mọi thời cơ và
các nguồn lực đưa nền kinh tế phát triển nhanh và vững chắc. Từng bước
nâng cao chất lượng hoạt động của các lĩnh vực văn hóa - xã hội, đẩy
mạnh xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động. Tạo
được sự chuyển biến mạnh về đời sống của nhân dân, nhất là những vùng
khó khăn; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, đảm bảo giữ
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội [13, tr.15].
Đại hội Đại biểu Đảng bộ Gio Linh lần thứ XIV (10/2005) đề ra phương hướng,
nhiệm vụ nhiệm kì 2005-2010 là:
Xúc tiến nhanh quy hoạch chi tiết ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện, quy
hoạch sử dụng đất ở các xã, thị trấn; tạo bước đột phá mạnh mẽ trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng nông nghiệp, tăng nhanh tỉ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch. Đầu tư
25
chỉ đạo củng cố, kiện toàn hợp tác xã nông - ngư nghiệp, đảm bảo kinh doanh
dịch vụ có hiệu quả. Tăng cường chỉ đạo phát triển ngành nghề dịch vụ, đánh
bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, khai thác tiềm năng vùng cát. Thực
hiện có hiệu quả phong trào xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa, các chương
trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm [16, tr.4].
Những chủ trương trên đây của Đảng và các cấp là phương hướng để cán bộ và
nhân dân Gio Linh vận dụng vào thực tiễn của địa phương, phát huy sáng tạo, tìm ra
những giải pháp nhằm đưa nền kinh tế - xã hội của huyện nhà từng bước chuyển dịch
theo kịp các huyện khác trong tỉnh Quảng Trị và cả nước.
Tiểu kết
Gio Linh là một huyện đồng bằng có nhiều điều kiện tự nhiên và tài nguyên để
phát triển kinh tế. Điều kiện tự nhiên đã ảnh hưởng khá rõ nét và toàn diện đến sự
chuyển biến kinh tế cũng như đời sống người dân huyện Gio Linh. Bên cạnh những
thuận lợi việc định cư, phát triển kinh tế, điều kiện tự nhiên phần lớn không mấy thuận
lợi nhất là khí hậu khắc nghiệt, hằng năm người dân phải đối mặt với thiên tai, bão lụt,
hạn hán; hiện tượng thời tiết thất thường ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất
của người dân. Đảng bộ và chính quyền trong huyện đã có nhiều cố gắng, khắc phục
khó khăn tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội của huyện.
Bên cạnh những thành tựu về nguồn lực kinh tế - xã hội của huyện là một trong
những nhân tố quan trọng thúc đẩy việc chuyển biến kinh tế - xã hội. Huyện còn tồn
tại nhiều hạn chế, do cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, sự chỉ đạo của Đảng bộ và
chính quyền còn nhiều hạn chế nên kinh tế - xã hội của huyện còn chậm phát triển. Cơ
cấu kinh tế của huyện trước năm 1990 chủ yếu nặng về tỉ trọng nông nghiệp, tiềm
năng đất đai phần lớn thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp toàn diện với các
loại cây trồng, vật nuôi có khả năng đem lại năng suất. Tuy nhiên từ năm 1990 trở về
trước, nền nông nghiệp mang tính chất manh mún, công cụ sản xuất lạc hậu, năng suất
thấp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang tính chất nhỏ lẻ, sản xuất cầm chừng,
chưa có thị trường xuất khẩu. Số người trong độ tuổi lao động không có việc làm
chiếm tỉ lệ cao. Giáo dục, y tế còn nhiều bất cập, trình độ dân trí còn thấp, đời sống
của người dân còn nhiều hạn chế; đội ngũ lao động có tay nghề kĩ thuật còn thiếu.
Đảng bộ, chính quyền huyện đã vận dụng linh hoạt đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước và Tỉnh Ủy Quảng Trị; đã đề ra những chủ trương, chính sách trên
26
cơ sở phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn và những thành tựu đã đạt trước những
năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới để tiếp tục bước vào thời kì mới, tạo ra một
bước chuyển biến kinh tế - xã hội rõ rệt trong thời kì 1990-2010.
27
Chương 2
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH
TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2010
2.1. Về chuyển biến kinh tế
2.1.1. Thời kì 1990-2000
2.1.1.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp
* Về nông nghiệp
Nhận thức rõ vị trí nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, huyện chủ trương “đẩy
mạnh hơn nữa công tác khai hoang, phục hóa; mở rộng diện tích gieo trồng; bố trí lại
cơ cấu sản xuất, mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; tiếp tục phát huy thế mạnh của một nền
nông nghiệp toàn diện, đi vào chuyên canh và thâm canh có hiệu quả ngày càng cao”
[28, tr.6].
Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp Gio Linh bình quân giai đoạn 1991-
1995 là 7,8%, giai đoạn 1996-2000 đạt 9%. Đạt được mức tăng trưởng như vậy do
huyện tập trung chỉ đạo các xã vận động bà con nông dân thực hiện đưa giống lúa có
năng suất cao vào sản xuất, thực hiện những biện pháp thâm canh, tăng vụ, chú trọng
phát triển gia súc gia cầm, tăng diện tích các loại cây công nghiệp ngắn ngày nâng cao
năng suất, tận dụng quỹ đất và cải tạo đất.
Bảng 2.1: Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân
mỗi năm qua các thời kì (theo giá hiện hành )
ĐVT: Giá trị (triệu đồng), tăng trưởng (%)
Năm
Toàn ngành Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ trong
nông nghiệp
Giá trị Tăng
trưởng
Giá trị Tăng
trưởng
Giá trị Tăng
trưởng
Giá trị Tăng
trưởng
1990 34.599 - 22.314 - 9.187 - 3.098 -
1995 68.531 14,64 49.480 17,26 11.438 4,48 7.612 11,11
2000 120.002 11,85 75.432 8,79 29.886 21,17 14.703 14,07
[13, tr.241]
28
Trong nông nghiệp thời kì 1990-2000, mức tăng trưởng bình quân của chăn
nuôi và dịch vụ trong nông ngiệp tăng lên, trồng trọt giảm xuống.
Nguyên nhân, do điều kiện sản xuất còn nhiều yếu tố bất lợi, hai năm 1998,
1999 thiên tai hạn hán, lũ lụt hậu quả nghiêm trọng nhưng nhờ có định hướng phát
triển đúng cho từng tiểu vùng; một số công trình thủy lợi đưa vào sử dụng phát huy
hiệu quả; cơ giới hóa trong nông nghiệp được tăng cường, công tác chuyển đổi, nâng
cấp giống cây con, chỉ đạo thời vụ, thâm canh, áp dụng các tiến bộ kĩ thuật vào sản
xuất, cải tạo vườn tạp được nhiều địa phương chú ý; nên trồng trọt giai đoạn 1990-
1995 đạt 17,26%; đến giai đoạn 1995-2000 đạt 8,79%.
Chăn nuôi, tương đối ổn định về số lượng và chất lượng được nâng lên theo
hướng đưa những giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào chăn nuôi; công tác
phòng chống dịch bệnh được chú trọng, nhiều gia đình đã mạnh dạn đầu tư giống, vốn,
kĩ thuật vào chăn nuôi; nên chăn nuôi gia súc gia cầm mức tăng trưởng bình quân mỗi
năm của giai đoạn 1990-1995 ở mức 17,26%, đến 1995-2000 đạt 21,17%;
Trong nông nghiệp huyện luôn tăng cường đưa các giống cây trồng, vật nuôi
năng suất chất lượng tốt vào sản xuất nông nghiệp, nhu cầu sử dụng các dịch vụ nông
nghiệp như phân bón, công tác phòng chống dịch bệnh, máy móc ngày được đưa vào
sử dụng phục vụ quá trình sản xuất.
Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế
ĐVT %
Năm 1990 1995 2000
Tổng số 100 100 100
Trồng trọt 64,5 72,2 62,8
Chăn nuôi 26,5 16,7 24,9
Dịch vụ 9 11,1 12,3
Việc bố trí cơ cấu sản xuất cũng được điều chỉnh dần, phù hợp với điều kiện đất
đai, tập quán canh tác và phát triển trình độ sản xuất của địa phương. Việc khai thác
tốt tài nguyên nông nghiệp làm cho cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp ngày càng được
cân bằng, sản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú.
29
- Về trồng trọt
Thành công lớn nhất trong những năm 1990-2000 là tạo sự bứt phá mạnh mẽ
trong chuyển đổi cơ cấu ngành trồng trọt, kinh tế vùng gò đồi trở thành một mũi nhọn
vùng kinh tế trọng điểm, khai thác các nguồn lực, nhất là nguồn lực tại chỗ để phát
triển thành một vùng chuyên canh, tập trung sản xuất một số cây con và mặt hàng có
giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, hồ tiêu, dâu tằm, thịt, sữa,… phá dần thế độc
canh cây lúa bằng cách tăng vụ và đổi mới cơ cấu mùa vụ, tăng diện tích gieo trồng
nhằm sử dụng ruộng đất có hiệu quả và phát triển kinh tế đa dạng.
Bảng 2.3: Diện tích các loại cây trồng
ĐVT: ha
Năm 1990 1995 2000
Tổng số 7.601 8.857 9.745
Cây lương thực hàng năm 5.391 5.560 6.254
Cây chất bột 1.535 1.656 1.268
Cây thực phẩm 195 415 514
Cây công nghiệp hàng năm 250 966 459
Cây công nghiệp lâu năm 195 110 1.031
Cây ăn quả 135 128 181
[2, tr.242].
Diện tích các loại cây trồng năm 1990 đạt 7.601 ha, đến năm 2000 đạt 9.745 ha
(so với kế hoạch đạt 100,84%) tăng thêm 2.144 ha [8, tr.2]. Nhờ những chủ trương đề
ra trong Đại hội XI (9/1991) và XII (2/1996) của Đảng bộ huyện đã đẩy mạnh khả
năng khai hoang, tận dụng đất hoang hóa vào sản xuất làm cho diện tích gieo trồng các
loại cây nông nghiệp tăng lên đáng kể.
Đối với cây lương thực hàng năm 1990 chiếm 5.391 ha đến năm 2000 tăng lên
6.254 ha, tăng 863 ha. Diện tích các loại cây chất bột như khoai, sắn bị thu hẹp, nhưng
không đáng kể từ năm 1990 đến 2000 diện tích gieo trồng giảm 267 ha. Diện tích các
loại cây thực phẩm, cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn
quả đến năm 2000 đều có xu hướng tăng lên.
Đáng chú ý là diện tích cây công nghiệp lâu năm như hồ tiêu, cao su diện tích
tăng nhanh từ 195 ha năm 1990 lên 1.031 ha năm 2000, vì dự án của Thường vụ
30
Huyện ủy về phát triển kinh tế gò đồi giai đoạn 1996-2000, đặc biệt là trong năm
1998, chương trình phát triển kinh tế gò đồi được đẩy mạnh, việc lồng ghép các
chương trình, mục tiêu dự án thực hiện ngày càng hiệu quả.
Đối với cây lương thực có hạt (lúa, ngô), huyện đã từng bước đưa vụ Hè - Thu
thành một vụ sản xuất chính, đẩy mạnh công tác thâm canh, nâng cao năng suất và
hiệu quả trên từng đơn vị diện tích, tăng cường công tác khuyến nông, tích cực ứng
dụng các tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào sản xuất, chủ động công tác tưới tiêu, đưa một
số giống lúa có chất lượng và năng suất cao vào sản xuất. Huyện chủ trương chuyển
nhanh diện tích lúa rẫy sang trồng cây ngô lai cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao
hơn so với trồng lúa. Nhờ đó mà diện tích và sản lượng các loại cây lương thực đều
tăng nhanh.
Bảng 2.4: Sản lượng lương thực cây có hạt
ĐVT: tấn
Năm
Tổng sản lượng
lương thực Thóc Ngô
Bình quân lương
thực đầu người (kg)
1990 11.314 11.302 12 123,1
1995 13.479 13.479 - 201,5
2000 24.030 24.010 20,15 327,3
[19, tr.241]
Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 1990 đến năm 2000 tăng lên, từ 11.314
tấn lên 24.030 tấn tăng 12.716 tấn. Trong đó, sản lượng thóc và ngô đều tăng lên, nên
bình quân lương thực đầu người tăng lên theo các năm.
Điểm đáng chú ý ở đây, năm 1995 một số xã như Trung Hải, Trung Sơn, Gio
Phong,… đã có lương thực hàng hóa.
Sản lượng lương thực năm 2000 tăng vượt 2.248 tấn so với chỉ thị Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đề ra. Nổi bật hơn cả có xã Gio Quang, bình quân lương
thực trên 1.000 kg/người/năm.
Do nhu cầu thực phẩm tăng nhanh nên diện tích và sản lượng rau, đậu các loại
cũng tăng khá nhanh. Trên địa bàn nổi tiếng với loại rau liệt được trồng ở xã Gio An
như một loại cây xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Diện tích rau liệt và các loại rau
khác năm 2000 tăng 4,07 lần, sản lượng tăng 2,57 lần so với năm 1990.
31
Đối với cây công nghiệp, huyện luôn xác định cây cao su và hồ tiêu là thế
mạnh của địa phương. Do giá cả ổn định và hợp lí nên người sản xuất trong các thành
phần kinh tế tập trung đầu tư vốn, kĩ thuật, máy móc, tạo thành những vùng chuyên
canh lớn. Diện tích cây công nghiệp lâu năm của huyện chiếm 19,37% tổng diện tích
toàn tỉnh. Cây ăn quả các loại trồng năm 1990 trồng được 80 ha, năm 1996 trồng được
52 ha đạt 52% kế hoạch đưa diện tích cây ăn quả lên 110 ha, đến năm 2000 đạt 145 ha.
- Về chăn nuôi
Huyện chỉ đạo phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm ở cả 3 khu vực quốc doanh,
tập thể và hộ gia đình, nhằm đáp ứng sức cày, kéo và vừa tăng thực phẩm hàng hóa.
Trong thời kì (1990-2000) điểm nổi bật là chăn nuôi phát triển chủ yếu tập trung ở các
hộ gia đình theo lợi thế tiềm năng của từng vùng, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập
thể không theo kịp cơ chế mới, kinh doanh thua lỗ kéo dài nên phải giải thể. Chăn nuôi
gia súc, gia cầm đã giải quyết cơ bản nhu cầu thực phẩm trên địa bàn và một phần sức
kéo, phân bón cho sản xuất; góp phần tăng thêm thu nhập và sử dụng lao động nông
nhàn.
Đối với huyện Gio Linh, phát triển chăn nuôi là một trong những định hướng
phát triển kinh tế quan trọng của huyện. Trong thời kì 1990-2000 chăn nuôi có mức
tăng trưởng bình quân mỗi năm 16,69% [25, tr.173].
Chăn nuôi gia súc trong thời kì 1990-2000 phát triển tương đối toàn diện, cả về
tổng đàn và tăng về chất lượng gia súc. Quy mô đàn gia súc qua các năm được thể qua
bảng 2.5:
Bảng 2.5: Quy mô đàn gia súc qua các năm
ĐVT: con
Năm Trâu Bò Lợn Gia cầm
1990 2.500 8.842 15.500 158,5
1995 3.159 14.495 18.436 164.102
2000 3.244 12.522 23.709 183.605
[13, tr.242]
Tỉ trọng giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm 1990
chiếm 26,5%, đến năm 2000 giảm xuống còn 24,9% [21, tr.173]. Được sự giúp đỡ của Viện
chăn nuôi thú y và trung tâm khuyến nông tỉnh, nhiều gia đình đã mạnh dạn đầu tư giống,
32
vốn, kĩ thuật để nuôi bò lai sind, lợn lai kinh tế, vịt siêu trứng, gà công nghiệp đem lại giá trị
kinh tế cao. Nhờ vậy mà, tỉ trọng chăn nuôi giảm nhưng năng suất, sản lượng qua các năm
không ngừng tăng lên.
Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng nhanh, năm 1990 giá trị chăn nuôi đạt
9.187 triệu đồng, năm 2000 đạt 29.886 triệu đồng; như vậy chỉ sau 10 năm giá trị chăn
nuôi tăng lên 20.699 triệu đồng, vượt 5% chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra.
Có thể nói kết quả sản xuất nông nghiệp từ năm 1990-2000 là kết quả tổng hợp của
quá trình đổi mới công tác quản lí, điều hành thông qua đổi mới quan hệ sản xuất, phát huy
vai trò, quyền tự chủ của đơn vị kinh tế cơ sở (hộ gia đình) ở nông thôn; kết quả đó là dấu
hiệu của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn; xây dựng nông thôn thành khu
vực kinh tế có tỉ trọng giá trị hàng hóa ngày càng cao.
* Về lâm nghiệp
Thời kì 1990-2000, sản xuất lâm nghiệp chuyển mạnh theo hướng từ chủ yếu
khai thác sang hướng bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng với nhiều thành phần xã
hội cùng tham gia nhằm duy trì và bảo tồn nguồn tài nguyên quí giá này. Trong cơ cấu
sản xuất lâm nghiệp, hoạt động khai thác giảm mạnh và tăng hoạt động lâm sinh. Tỉ
trọng hoạt động khai thác và hoạt động lâm sinh qua các thời kì trong bảng 2.6:
Bảng 2.6: Giá trị và tỉ trọng sản xuất lâm nghiệp
phân theo ngành hoạt động
ĐVT: Giá trị (triệu đồng), tỉ trọng (%)
Năm Tổng số
Trồng và nuôi
rừng
Khai thác Hoạt động
lâm nghiệp khác
Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng
1990 4.289 863 20,1 3.187 74,3 239 5,6
1995 6.154 1.004 16,3 4.477 72,7 673 11
2000 7.564 1.476 19,5 5.127 67,8 961 12,7
Đảng bộ chỉ đạo tiếp tục phát triển mạnh ở tất cả các vùng, trên cả 3 khu vực
quốc doanh, tập thể và hộ gia đình. Đã dấy lên mạnh mẽ phong trào ươm cây và trồng
cây lâm nghiệp. Hàng năm, toàn huyện trồng được từ 10 triệu đến 13 triệu cây. Rừng
trồng tập trung hàng năm đạt trên 1.000 ha. Cùng với việc trồng mới, chăm sóc, bảo vệ
33
rừng, đã chú ý việc khai thác các nguồn lợi từ rừng. Bình quân hàng năm khai thác
3.500 đến 4.000m3
gỗ, 2000 ste củi, 300 đến 400 tấn đót nguyên liệu.
Phong trào trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng chuyển biến mạnh mẽ. Trong 10 năm
trồng trên 6.138 ha rừng tập trung và 2 triệu cây phân tán, nâng độ che phủ từ 13,43%
năm 1991 [15, tr.151] lên 21,68% năm 2000 (nếu tính cả diện tích cao su thì 31%) [11,
tr.174]; góp phần quan trọng vào việc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cân bằng môi
trường sinh thái, biến vùng đất hoang hóa, thành những rừng cây xanh tốt, tạo nên một
sức sống mới trên quê hương Gio Linh
Công tác định canh, định cư ở 2 xã miền núi, công tác di dãn dân xây dựng
vùng kinh tế mới có cố gắng. Năm 1997-1998 đã đưa 213 hộ, với 916 nhân khẩu, 407
lao động lên các vùng của dự án di dãn dân của huyện (Hải Cụ xã Trung Sơn, Khe Me
xã Linh Thượng, Trãng Rộng xã Hải Thái, Đồng Trài xã Trung Hải) [17, tr.151]. Đến
năm 2000, đã đưa thêm 568 khẩu, trong đó có 365 lao động lên các vùng dự án.
Thời kì 1990-2000, khai thác lâm nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn năm 1990 là
74,3% đến năm 2000 giảm xuống còn 67,8% [11, tr.2]. Đây là tín hiệu đáng mừng
trong sản xuất lâm nghiệp, tuy mức giảm còn thấp nhưng đã thể hiện được sự quyết
tâm của người dân, nhờ sự hỗ trợ của chính quyền đối với ngành lâm nghiệp nên hoạt
động khai thác lâm nghiệp đã bắt đầu có hiệu quả, như khoanh vùng những khu vực
rừng còn trẻ để bảo vệ và áp dụng khoa học kĩ thuật vào khai thác lâm nghiệp.
* Về ngư nghiệp
Thực hiện Nghị quyết số 05 của Huyện ủy ngày 20/1/1997 về phát triển kinh tế
- xã hội vùng biển giai đoạn 1997-2000, Nghị quyết chỉ rõ: “Phát triển kinh tế vùng
biển theo hướng đẩy mạnh việc khai thác, đánh bắt, nuôi trồng gắn với chế biến”
[4,tr.171]. Nghị quyết 05 Huyện ủy còn nhấn mạnh: “Lấy khai thác, nuôi trồng, chế
biến thủy hải sản làm trung tâm” [11, tr.171].
Nhờ có điều kiện thuận lợi cộng với tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật
tương đối đồng bộ cho các khâu nuôi trồng, đánh bắt và dịch vụ thủy sản, nên sản xuất
thủy sản phát triển nhanh.
Bảng 2.7: Số liệu ngành thủy sản qua các năm
Năm 1990 1995 2000
Giá trị sản xuất thủy sản (giá hiện hành: triệu đồng) 20.000 31.953 75.071
Tổng sản lượng hải sản đánh bắt (tấn) 800 3.500 6.140
34
Khai thác, chế biến, nuôi trồng thủy hải sản có bước phát triển mới. Tàu thuyền,
ngư lưới ngày càng được cải tiến, năng lực đánh bắt ngày một tăng nhanh từ 3.500 CV
năm 1990 tăng lên 17.490 CV năm 2000. Đầu tư mua sắm, nâng cấp, cải hoán thêm
hàng trăm tàu thuyền các loại, đặc biệt đã đóng mới 18 tàu đánh bắt xa bờ với các
phương tiện hiện đại. Sản lượng hải sản năm 2000 đạt 6.140 tấn. Giá trị sản xuất thủy
sản tăng lên 75.071 triệu đồng năm 2000. Nuôi trồng chế biến thủy hải sản tiếp tục
phát triển. Năm 2000 sản lượng tôm, cá nuôi đạt 210 tấn, tăng 126 tấn so với năm
1995 [1, tr.174].
2.1.1.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng
- Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Trong năm 1990, tổng giá trị sản lượng công nghiệp 1.572 triệu đồng. Tốc độ
tăng trưởng bình quân hằng năm của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn là
23% [10, tr.152].
Năm 1995, sản xuất công nghiệp từng bước vượt qua khó khăn, quá trình
chuyển đổi cơ chế đi vào ổn định, hệ thống mạng lưới điện phục vụ cho sản xuất và
sinh hoạt được mở rộng đến nhiều nơi, thúc đẩy phát triển công nghiệp toàn diện hơn.
Trong năm 1995, tổng giá trị sản xuất công nghiệp 3.370 triệu đồng.
Năm 2000, sản xuất công nghiệp đã có bước phát triển nhanh và chuyển biến
mạnh mẽ, phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước đề ra; đưa giá trị sản xuất
công nghiệp năm 2000 đạt 12.000 triệu đồng, tăng 9.512 triệu đồng so với năm 1995
[7, tr.175].
Bảng 2.8: Giá trị và cơ cấu sản xuất công nghiệp qua các thời kì
ĐVT Giá trị (triệu đồng), tỉ trọng (%)
Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000
Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng
Toàn ngành 1.572 100 3.496 100 11.871 100
Công nghiệp quốc
doanh
371 23,6 476 13,6 771 6,5
Công nghiệp ngoài
quốc doanh
1.201 76,4 3.020 86,4 11.101 93,5
35
Trong cơ cấu sản xuất công nghiệp, sản xuất cá thể chiếm tỉ trọng lớn và có xu
hướng tăng dần. Năm 1990, sản xuất công nghiệp cá thể chiếm 76,4% đến năm 2000
tăng lên 93,5%. Ngược lại, sản xuất tập thể chiếm tỉ trọng nhỏ có xu hướng giảm, năm
1990 chiếm 23,6% đến năm 2000 giảm xuống còn 6,5% [12, tr.55].
Công nghiệp khai thác và chế biến nông, lâm, hải sải sản đã từng bước liên
doanh, liên kết với các cơ sở kinh tế quanh vùng, các trung tâm công nghiệp dịch vụ
trong nước, đầu tư chiều sâu và chuyển hướng sản xuất gắn với thị trường. Đảng bộ và
chính quyền huyện Gio Linh luôn quan tâm phát triển song song cả công nghiệp khai
thác lẫn công nghiệp chế biến, song hướng trọng tâm vẫn là công nghiệp chế biến,
công nghiệp khai thác chỉ duy trì để cung cấp cho công nghiệp chế biến. Việc phát
triển công nghiệp chế biến đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với công nghiệp
khai thác, mà còn không làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn.
Bảng 2.9: Giá trị và cơ cấu công nghiệp khai thác và chế biến
ĐVT: Giá trị (triệu đồng), Tỉ trọng(%)
1990 1995 2000
Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng
Tổng số 1.572 100 3.496 100 11.871 100
CN khai thác 210 13,4 320 9,2 1.404 12,2
CN chế biến 1.362 86,6 3.176 90,8 10.467 87,8
Gio Linh là huyện nghèo tài nguyên khoáng sản, nên trong cơ cấu ngành công
nghiệp những năm đầu đổi mới công nghiệp khai thác chiếm tỉ trọng nhỏ, có xu hướng
giảm dần năm 1990 chiếm 13,4% đến năm 2000 giảm xuống 12,2%. Trong khi đó
ngành công nghiệp chế biến như chế biến lương thực thực phẩm, chế biến gỗ, sản xuất
vật liệu xây dựng, công nghiệp may mặc. Chiếm tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng dần,
năm 1990 chiếm 86,6% đến năm 2000 chiếm 87,8%.
Trong buổi ban đầu ngành công nghiệp Gio Linh đã có những bước chuyển tích
cực để trở thành một trong những ngành mũi nhọn của Gio Linh.
Cùng với công nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp như đan lát, dân dụng,
sửa chữa cơ khí, điện tử, sản xuất nước đã được củng cố. Một số ngành nghề mới như
sản xuất nấm rơm, mây, tre đan, khảm tranh tre xuất khẩu đang được triển khai, phát
36
triển mạnh đáp ứng được nhu cầu trên địa bàn. Một số cơ sở tự xoay xở về vật tư,
nguyên liệu, vốn liếng, mở rộng quan hệ thị trường, đã mạnh dạn hơn trong việc vay
vốn của Nhà nước để đầu tư cho sản xuất, đưa sản phẩm của mình cạnh tranh trên thị
trường. Các ngành tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất được một số mặt hàng phục vụ
công nghiệp và xây dựng cơ bản.
Giai đoạn 1990-1995, tiểu thủ công nghiệp đã có bước phát triển, các làng nghề
truyền thống được khôi phục, làng nghề mới dần xuất hiện và đem lại hiệu quả kinh tế
cao cho người lao động. Như nghề đan lát Lan Đình, đây là một làng nông nghiệp
vùng gò đồi ở Gio Linh, được hình thành khá sớm. Nghề mộc ở Làng Cát Sơn, một
làng ven biển, được hình thành khá sớm trên vùng đất phía bắc Quảng Trị, thu hút lao
động vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp với thu nhập mỗi người cao hơn so với lao
động sản xuất thuần nông. Khảo sát toàn huyện có 65% hộ nông dân có nghề phụ
ngoài sản xuất nông nghiệp. Riêng xã Gio Phong có tới 100% số hộ nông dân tham gia
sản xuất nghề thủ công đan lát. Thu nhập từ nghề tiểu thủ công đã giúp tăng thu nhập
đáng kể, nhiều gia đình thoát nghèo nhờ phát triển mạnh nghề thủ công.
Bước sang giai đoạn 1996-2000, Gio Linh trở thành một huyện có công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp phát triển ưu tiên hàng đầu trong định hướng phát triển kinh tế
của huyện. Việc khôi phục các làng nghề truyền thống góp phần tạo việc làm và tăng
thêm thu nhập cho người dân. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn là 23% [10, tr.152].
* Về phát triển cơ sở hạ tầng
Quán triệt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong những năm
1991-1995, được sự quan tâm đầu tư của Trung ương, của tỉnh và các tổ chức quốc tế,
cùng với sự đóng góp hàng vạn ngày công và hàng tỉ đồng của nhân dân, đã xây dựng
và sửa chữa, nâng cấp nhiều hạng mục công trình, tạo dựng một bước quan trọng về cơ
sở hạ tầng. Đến cuối năm 1995, các tuyến đường giao thông từ huyện về các xã cơ bản
đã thông suốt, mạng lưới điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt được mở rộng đến
nhiều nơi, có 50% số xã và 20% số hộ dùng điện. Hệ thống trường học, trạm xá, trụ sở
làm việc của các cơ quan cấp huyện và một số xã được xây dựng ngày một khang trang.
Trong những năm 1996-2000, với nhiều nguồn vốn đầu tư của Trung ương, các
tổ chức quốc tế, vốn sự nghiệp kinh tế của huyện và đóng góp của nhân dân, 5 năm
qua đã tập trung xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp thêm nhiều hạng mục công trình
37
quan trọng đưa vào sử dụng. Tổng số vốn đã huy động 61.245 triệu đồng, tăng gấp hai
lần so với giai đoạn 1991-1995. Trong đó: vốn đóng góp của nhân dân là 9.337 triệu
đồng, chiếm 15,2%. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm là 14,5% [4, tr.176].
Mạng lưới điện tiếp tục được mở rộng, đã xây dựng 50km đường dây 20KV, 28
trạm biến áp 10/0,4KV, với dung lượng 1.800KVA, đến cuối năm 1999 có 100% xã ,
thị trấn có điện lưới quốc gia, 83,93% số hộ dùng điện. Đến cuối năm 2000, có 85% số
hộ dùng điện [17, tr.175].
Hệ thống giao thông được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới với tổng chiều
dài 52km đường, hàng trăm cống qua các tuyến đường 73 đông, đường Gio Thành,
Gio Hải, đường 76 Đông, đường thị trấn. Đến nay, 100% xã có đường ô tô về đến
trung tâm, đáp ứng yêu cầu lưu thông hàng hóa, đi lại của nhân dân.
Thủy lợi được ưu tiên đầu tư. Đã xây dựng mới một số đập và trạm bơm điện,
kiên cố hóa một số tuyến kênh mương với tổng chiều dài 13.674m; tu bổ, cải tạo, nâng
cấp các đập nhỏ với tổng số vốn đầu tư chiếm 22% trong tổng số vốn huy động, đảm
bảo nước tưới cho 50% diện tích lúa trên địa bàn..
Bưu chính thông tin liên lạc, tiếp tục phát triển đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ
đạo, giao dịch trên địa bàn. Đến năm 2000, 100% xã có máy điện thoại, 1 tổng đài
trung tâm, 3 tổng đài cụm xã, 16 điểm bưu điện văn hóa xã, có 890 máy thuê bao, đạt
1,22 máy/100 dân, tăng 4,2 lần so với năm 1995 [10, tr.176].
Trong thời kì 1990-2000, vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở Gio Linh tăng nhanh,
tổng số vốn đầu tư năm 1990 là 4.030 triệu đồng, tăng lên 12.183 triệu đồng năm 2000
[11, tr.243].
2.1.1.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch
* Về thương mại - dịch vụ
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện khóa XI và Nghị quyết hội
nghị giữa nhiệm kì, huyện đã cố gắng khai thác các nguồn thu trên huyện đã cố gắng
khai thác các nguồn thu trên địa bàn, cùng với sự hỗ trợ của tỉnh, sự giúp đỡ của các tổ
chức trong nước và quốc tế, cơ bản đã cân đối cho nhu cầu ngân sách hoạt động
thường xuyên và dành một phần đầu tư cho sự nghiệp kinh tế.
Phương thức và thủ tục cho vay được cải tiến, tạo điều kiện thuận lợi để 67,8%
số hộ được vay vốn, nâng số dư tính đến cuối năm 1995 lên 9 tỉ đồng, tăng gần 8 lần
so với năm 1990, góp phần quan trọng vào việc phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa
38
bàn. Mạng lưới thương mại, dịch vụ phát triển đa dạng, phong phú, đưa tỉ trọng giá trị
thương mại, dịch vụ từ 4,26% GDP năm 1990 lên 18% GDP năm 2000 [4, tr.154].
Hoạt động của các ngành thương mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng có những
chuyển biến tích cực, ngày càng phục vụ tốt hơn cho đời sống và sản xuất của nhân
dân. Tổng doanh thu thương mại, dịch vụ 34 tỉ đồng, tăng 20,82% tỉ so với giai đoạn
1991-1995. Tổng thu ngân sách thời 1996-2000 là 43.818,9 triệu đồng, trong đó thu
trên địa bàn là 12.096,3 triệu đồng [19, tr.176].
Bảng 2.10: Hoạt động sản xuất kinh doanh phân loại theo loại hình doanh nghiệp
ĐVT: cơ sở
Năm Tổng số DN nhà nước DN tư nhân Cơ sở cá thể
1990 785 15 1 769
1995 1.053 25 3 1.025
2000 1.455 50 5 1.400
Về cơ sở kinh doanh thương mại phát triển nhanh từ 785 cơ sở năm 1990 lên
1.455 cơ sở năm 2000, tăng 670 cơ sở. Trung bình mỗi năm tăng 67 cơ sở kinh doanh,
nhưng chủ yếu là cơ sở hộ cá thể hoạt động nhỏ lẻ, thiếu tính bền vững.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, năm 1990 có 15 doanh nghiệp đến năm 2000
tăng lên 50 doanh nghiệp. Từ năm 1996 đến 2000, phát triển kinh tế nhiều thành phần
và đổi mới cơ chế quản lí được quan tâm. Thực hiện chỉ thị 68-CT/TW của Ban Bí thư
Trung ương Đảng và Nghị định 16/CP của Chính phủ, đến cuối năm 2000 toàn huyện
đã chuyển đổi được 31 hợp tác xã nông nghiệp, chiếm 73,8%; thành lập mới 17 hợp
tác xã khai thác, nuôi trồng, dịch vụ thủy hải sản và 2 hợp tác xã xây dựng [19, tr.44].
Một số hợp tác chuyển đổi đúng hướng, có hiệu quả thành chỗ dựa vững chắc cho xã
viên, như hợp tác xã Xuân Long (Trung Hải), hợp tác xã Kinh Môn (Trung Sơn).
Kinh tế tư nhân được coi trọng, năm 1990 có duy nhất 1 doanh nghiệp tư nhân,
đến năm 2000 huyện đã thành lập được 5 doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế hộ phát triển
mạnh. Năm 1990, chỉ có 769 doanh nghiệp cá thể; đến năm 2000, đã có trên 1.400 hộ
kết hợp kinh doanh lớn nhỏ, chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp và hàng chục hộ
phát triển kinh tế trang trại.
Trên địa bàn huyện có một số ít xã có chợ mà chợ này chỉ đông được vài ba giờ
hay nhiều lắm là một buổi. Chợ xã chỉ có Chợ Nam Đông (xã Gio Sơn), Chợ Gio An,
39
Chợ Kênh (xã Trung Sơn), Chợ Hôm (xã Gio Việt), các xã khác, nếu có chẳng qua là
thời vụ. Một chợ quan trọng về nhiều mặt đó là Chợ Cầu. Đây là trung tâm trao đổi
hàng hóa lớn nhất của huyện Gio Linh.
Gio Linh chưa có các trung tâm thương mại và siêu thị. Các bến bãi, kho phục
vụ cho thương mại còn đơn giản và chưa được quan tâm. Trong tương lai cùng với
việc phát triển và nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và đời sống người dân trong
huyện, việc hình thành các trung tâm thương mại, siêu thị là rất cần thiết.
* Về du lịch
Trên địa bàn huyện có khá nhiều các di tích, danh lam thắng cảnh có thể phục
vụ phát triển du lịch, tâm điểm khởi phát các tuyến du lịch trong toàn tỉnh và là nơi lưu
trú, dừng chân của khách du lịch, các nhà đầu tư, các đoàn Quốc tế đến Gio Linh như:
Căn cứ quân sự Dốc Miếu, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, bãi biển Cửa Việt, Cửa
Tùng, Cây Đa giếng Đìa. Dịch vụ lữ hành phát triển nhanh, đặc biệt là vận tải đưa đón
khách bằng taxi và dịch vụ khai thác các tour “Du lịch hoài niệm chiến trường xưa và
đồng đội”, vận chuyển liên vận Việt Nam - Lào, khai thác du lịch hành lang Đông Tây.
Hệ thống các nhà nghỉ, khách sạn đã được quan tâm đầu tư xây dựng hiện đại,
phát triển về cả số lượng và chất lượng, đã phần nào đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi
của đông đảo khách du lịch. Nếu như hơn 10 năm trước đây có rất ít khách sạn và nhà
nghỉ, thì giai đoạn này số nhà nghỉ, khách sạn phát triển khá nhanh về cả số lượng, quy
mô và chất lượng.
2.1.2. Thời kì 2000-2010
2.1.2.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp
* Trong nông nghiệp
Nét nổi bật trong nông nghiệp thời kì này là, thực hiện Nghị quyết lần thứ 5 của
BCHTW Đảng khóa IX (4/2001) “Về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn thời kì 2001-2010”, huyện đã vận động nhân dân tăng cường đầu tư
vốn, kĩ thuật, sức lao động phát triển cây công nghiệp dài ngày. Từ đó hình thành các
vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa, vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế
biến, làm cơ sở cho việc áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào trong sản xuất nông
nghiệp, thuận lợi cho việc cơ giới hóa, kiến thiết đồng ruộng. Người dân đã không
ngừng thâm canh tăng năng suất cây trồng, giảm chi phí đầu tư và giá thành sản phẩm,
40
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lí, thúc đẩy sản xuất theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Bảng 2.11: Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi năm qua các
thời kì (theo giá hiện hành)
ĐVT: Giá trị (triệu đồng), tăng trưởng (%)
Năm
Toàn ngành Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ trong
nông nghiệp
Giá trị Tăng
trưởng
Giá trị Tăng
trưởng
Giá trị Tăng
trưởng
Giá trị Tăng
trưởng
2000 120.002 11,85 75.432 8,79 29.886 21,17 14.703 14,07
2005 189.687 9,58 110.603 7,95 60.732 15,23 18.351 4,53
2010 726.982 30,82 410.209 29,97 212.196 28,42 104.577 41.63
Mức tăng trưởng bình quân mỗi năm có sự biến động, năm 2005 mức tăng
trưởng toàn ngành chậm lại, mức tăng trưởng bình quân mỗi năm trên tất cả các lĩnh
vực trong nông nghiệp đều giảm so với mốc năm 2000.
Nguyên nhân do năm 2005, huyện tiến hành sản xuất trong điều kiện thời tiết
có nhiều phức tạp rét đậm đầu vụ Đông Xuân, hạn nặng trong vụ Hè Thu, cuối năm lại
có nhiều trận lũ liên tiếp xảy ra, dịch cúm gia cầm xảy ra một số nới trên địa bàn; một
số đơn vị chấp hành chưa nghiêm kế hoạch tiêm phòng gia súc, gia cầm; Ủy ban nhân
dân các xã chưa quan tâm chỉ đạo, khoán trắng việc tiêm phòng cho thú y.
Đến năm 2010, mặc dù tình hình thời tiết không thuận lợi, nhưng nhờ có sự tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vị Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, có sự nỗ lực phấn
đấu của các địa phương và bà con nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu giống, áp
dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học, đẩy mạnh cơ giới hóa, chấp hành nghiêm lịch thời
vụ, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
vẫn đạt khá, với mức tăng trưởng bình quân hằng năm tăng lên so với các thời kì
trước. Cụ thể toàn ngành mức tăng trưởng năm 2000 ở mức 18,85%, đến năm 2010
tăng lên mức 30,82%.
Cơ cấu ngành nông nghiệp, trong ngành trồng trọt huyện chỉ đạo, tập trung đầu
tư phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cao su, hồ tiêu nhờ đó mà diện
41
tích cây công nghiệp tăng nhanh hơn so với cây lương thực. Bên cạnh đó, huyện đã
chú trọng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo lối trang trại (lợn, gà) để cân đối với
ngành trồng trọt và đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng. Tuy giá trị ngành chăn
nuôi hằng năm đều tăng lên nhưng xét về mặt tỉ trọng trong ngành nông nghiệp thì còn
quá nhỏ. Lĩnh vực dịch vụ phục vụ nông nghiệp ngày được chú trọng đầu tư.
Bảng 2.12: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế
ĐVT: %
Năm 2000 2005 2010
Tổng số 100 100 100
Trồng trọt 62,8 58,3 56,4
Chăn nuôi 24,9 32 29,2
Dịch vụ trong nông nghiệp 12,3 9,7 14,4
[29], [4].
- Về trồng trọt
Thời kì 2000-2010, Đảng và chính quyền đã có những chủ trương để khai
thác, tận dụng đất hoang hóa để sản xuất, làm cho diện tích gieo trồng các loại cây
nông nghiệp tăng khá nhanh, sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả, nên những năm qua
trồng trọt đã đạt được nhiều thành tựu; coi trọng sản xuất lương thực cả lúa và hoa
màu, đảm bảo an ninh lương thực, phát triển mạnh cây công nghiệp có giá trị như ca
su, hồ tiêu; đưa các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, ổn định diện tích cây trồng,
hình thành các vùng chuyên canh cây trồng và trại chăn nuôi các loại giống mới có
năng suất cao.
Diện tích gieo trồng và sản lượng các loại cây trồng cũng tăng lên đáng kể trong
thời kì 2000-2010; đến năm 2010, diện tích gieo trồng cả năm 10.171,11 ha, đạt 99,4%
kế hoạch. Trong đó, cây lương thực có hạt 7.005,78 ha, đạt 100,37% kế hoạch; cây
công nghiệp hằng năm 697,3 ha; cây lấy bột 1.314,65 ha, đạt 93,9% kế hoạch ; cây
thực phẩm 997,68 ha, đạt 110,85% kế hoạch.
42
Bảng 2.13: Diện tích và năng suất gieo trồng lúa qua các năm
ĐVT: Diện tích (ha), Năng suất (tạ/ha)
Năm 2000 2005 2010
Diện tích 6.231,25 6.422 6.917,58
Năng suất 24 45,5 47,38
[241-242], [4].
Diện tích trồng lúa từ năm 2000 đến 2010 tăng 686 ha; năm 2000, diện tích gieo
trồng lúa trong toàn huyện lên đến 6.231 ha; đến năm 2010, tăng lên 6.917 ha (Đông -
Xuân 3.821 ha, Hè - Thu 3.076 ha, vụ mùa 19,8 ha).
Về mặt năng suất, nhờ ứng dụng thành tựu khoa học vào sản xuất, sử dụng
các loại phân bón mới, một số giống lúa cấp 1 chất lượng tốt vào sản xuất; được đầu tư
chăm sóc, cung cấp phân bón đầy đủ và thêm vào đó hệ thống tưới tiêu nước cũng
được đảm bảo nên năng suất không ngừng tăng. Năm 2000, năng suất lúa đạt 24 tạ/ha;
đến năm 2010, tăng lên 47,38 tạ/ha, đạt 95,69% kế hoạch. Có thể thấy ngành trồng trọt
của huyện cũng có những bước chuyển biến tích cực trong thời kì 2000-2010.
Cây thực phẩm cũng có những chuyển biến đáng kể. Diện tích cây lạc năm
2000 là 514 ha với năng suất 13,5 tạ/ha [26, tr.242]. Đến năm 2010, diện tích giảm
xuống còn 670.1 ha, nhưng năng suất vẫn đạt 17,58 tạ/ha, đạt 94,68% kế hoạch [18,
tr.3].
Các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao tiếp tục được đầu tư
phát triển, mở rộng như: trồng hoa ở Gio Châu, Gio Mai; su le, mướp đắng, dưa hấu ở
Gio Phong; dưa Đông - Xuân, lạc Hè - Thu ở Gio Mỹ; trồng măng bát độ, trồng cỏ
nuôi bò…
- Về chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển do nguồn
sản phẩm đa dạng từ ngành nông nghiệp, nguyên liệu phong phú để làm thức ăn cho
ngành chăn nuôi, thêm vào đó là nguồn lao động dồi dào kết hợp các kinh nghiệm
chăn nuôi sẵn có, cùng những hiểu biết các tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chăn nuôi.
Các loại gia súc, gia cầm phân bố rộng rãi trên địa bàn huyện như trâu được nuôi nhiều
ở các xã vùng đồi và vùng đồng bằng, bò, lợn phân bố đều, chăn nuôi gia cầm chủ yếu
nuôi theo hộ gia đình. Trong những năm 2006-2010, để đáp ứng nhu cầu thịt và trứng
43
cho thị trường trong huyện và một số huyện, xã lân cận nên trên địa bàn đã phát triển
mô hình trang trại, chủ yếu là nuôi gà công nghiệp thả vườn, nuôi vịt.
Bảng 2.14: Qui mô đàn gia súc qua các năm
ĐVT: con
Năm Trâu Bò Lợn Gia cầm
2000 3.244 12.522 23.709 183.605
2005 5.214 13.097 33.556 247.977
2010 4.547 9.038 35.057 231.230
[242], [4], [5].
Giai đoạn 2000-2005, đàn gia súc, gia cầm tiếp tục tăng, chất lượng được cải
thiện qua chương trình sind hóa đàn bò, võ béo bò thịt, nuôi bò chất lượng, nạc hóa
đàn lợn. Nhiều mô hình trong chăn nuôi đã thu lại lợi nhuận cao, chương trình nuôi
lợn nái ngoại đến năm 2005 có 22 con [4, tr.3] đang phát triển tốt, nhiều hộ gia đình
đang duy trì hoặc tiếp tục mở rộng diện tích trồng cỏ nuôi bò hạn chế tình trạng thả
rong, bảo vệ trồng rừng, tăng hiệu quả kinh tế. Giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2005
chiếm 32% trong nông nghiệp.
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện có những chuyển biến tích cực. Được
sự giúp đỡ của Viện chăn nuôi thú y và Trung tâm khuyến nông tỉnh, nông dân đã tích
cực chủ động tiếp nhận và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào chăn nuôi. Một
số hộ gia đình bỏ vốn mua giống bò sind về nuôi thử nghiệm và phát triển đàn bò theo
giống mới. Trên địa bàn xuất hiện giống con nuôi mới như ông, hươu ở các xã Hải
Thái, Gio Sơn; nhưng chỉ nuôi theo hộ gia đình với số lượng ít. Trên địa bàn đã qui
hoạch 100 ha nuôi tôm trên cát tại xã Gio Hải, Trung Giang.
Trong giai đoạn 2005-2010, năm 2006 do ảnh hưởng của dịch bệnh nên tổng
đàn gia súc, gia cầm giảm so với năm trước 11,6%. Đến năm 2010, ngành chăn nuôi
tiếp tục được phục hồi, tương đối ổn định. Giá trị sản xuất chăn nuôi giảm xuống
chiếm 29,2% trong nông nghiệp.
* Về lâm nghiệp
Lâm nghiệp Gio Linh tiếp tục có những bước phát triển tích cực, đảm bảo sự
hài hòa giữa trồng rừng và khai thác. Công tác quản lí, khoanh nuôi chăm sóc rừng tự
nhiên được chú trọng. Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng năm 2005 được tiến
44
hành; đến năm 2005 đã trồng được 550 ha, chương trình trồng cây phân tán gồm 11,3
vạn cây tràm và 1.100 cây bóng mát; chăm sóc rừng trồng năm trước 2.499 ha [3, tr.4].
Lâm nghiệp và kinh tế vùng gò đồi, miền núi có nhiều tiến bộ, giá trị sản xuất
lâm nghiệp tăng bình quân hằng năm 6,3%. Các dự án phủ xanh đất trống đồi núi trọc,
trồng rừng tập trung như: 661, Việt Đức, định canh định cư, trồng cây phân tán được
triển khai tích cực. Bình quân mỗi năm trồng mới 843 ha rừng, nâng độ che phủ từ
21,68% năm 2000 lên 29% năm 2005 (nếu tính cả cao su 37,6%) [13, tr.2].
Đến năm 2010 đã hoàn thành qui hoạch 3 loại rừng, triển khai có hiệu quả các
chương trình, dự án trồng rừng, giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho các hộ gia đình và
các tổ chức; công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được chú trọng. Mỗi năm trồng mới 507,4
ha rừng tập trung. Năm 2010, toàn huyện có 17.636 ha rừng, trong đó có 12.415 ha
rừng trồng, tỉ lệ che phủ đạt 37,3%, tăng 4,8% so với năm 2005 [4, tr.10].
Bảng 2.15: Giá trị và cơ cấu sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động
ĐVT: Giá trị (triệu đồng), cơ cấu (%)
Năm Tổng số
Khai thác Trồng và nuôi
rừng
Dịch vụ lâm
nghiệp
Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu
2000 6.710 5.127 77,64 1.476 21.99 107 0,37
2005 13.735 7.539 54,88 6.019 43,82 177 1,3
2010 39.323 37.626 95,68 1.477 3,75 220 0,57
[34], [58].
Những năm qua giá trị lâm nghiệp tăng nhanh, tuy nhiên giá trị khai thác tăng
nhanh và chiếm tỉ trọng lớn. Giá trị trồng và nuôi rừng đang chiếm tỉ trọng thấp. Dịch
vụ lâm nghiệp tăng lên, nhưng chiếm tỉ trọng tương đối thấp.
Công tác định canh, định cư hai xã miền núi thực hiện đúng quy hoạch. Phong
trào cải tạo vườn tạp, xây dựng vườn nhà, vườn đồi, vườn rừng; phát triển trang trại
nông - lâm kết hợp ở vùng gò đồi, miền núi mang lại hiệu quả kinh tế. Đến năm 2010,
toàn vùng có 64 trang trại; 2.431 ha cao su tiểu điền, đưa vào khai thác 580 ha, sản
lượng đạt 785 tấn; 440 ha hồ tiêu, sản lượng 416 tấn (so với năm 2005 diện tích cao su
tăng 1.385 ha, hồ tiêu tăng 40,7 ha) [12, tr.10].
45
* Về ngư nghiệp
Gio Linh có điều kiện để phát triển thủy sản và xác định là ngành kinh tế mũi
nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, tập trung khai thác, nuôi trồng
và chế biến hải sản là nhiệm vụ trọng tâm của vùng.
Nuôi trồng thủy sản ngày càng được phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng,
diện tích nuôi trồng ngày càng mở rộng từ 210 ha năm 2000 [11, tr.3], năm 2010 tăng
lên 812 ha [20, tr.4].
Năng lực khai thác hải sản tăng khá, tổng công suất từ 15.660 CV năm 2000,
lên 18.500 CV năm 2010; dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển mạnh.
Nuôi trồng thủy sản phát triển theo hướng vừa và nhỏ, đa dạng hóa các loại con
nuôi, thực hiện thâm canh, bán thâm canh. Đã triển khai quy hoạch các vùng chuyên
canh cá dọc sông Cánh Hòm; nuôi cá nước ngọt trên các ao, đầm và hồ thủy lợi. Tổng
sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản năm 2000 đạt 6.140 tấn [26, tr.3]; năm 2005,
8.384 tấn (do biển mất mùa) [4], đến năm 2010 đạt 10.000 tấn, trong đó xuất khẩu
2.590 tấn, tăng 795 tấn so với năm 2005 [1, tr.11].
Nhờ áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong nuôi trồng thủy sản nên sản lượng
không ngừng tăng lên, góp phần làm giá trị thủy sản tăng nhanh.
Bảng 2.16: Giá trị và cơ cấu của ngành thủy sản (giá hiện hành)
ĐVT: Giá trị (triệu đồng), Tỉ trọng (%)
Năm Tổng số Nuôi trồng Khai thác
Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng
2000 6.140 100 1.241 20.21 4899 79.79
2005 14.322,6 100 1.888,3 13.18 12.434,3 86.82
2010 362.201 100 64.182 8.26 298.019 91.74
[242], [61].
Cơ cấu sản xuất thủy sản có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng khai thác
giảm nuôi trồng. Khai thác chiếm tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng lên, các tàu đánh
bắt xa bờ có hiệu quả. Trong giai đoạn 2000-2010, nuôi trồng thủy sản tuy chiếm tỉ
trọng còn thấp nhưng có những bước tiến quan trọng, nhờ xây dựng và hoàn thiện quy
hoạch, đầu tư hạ tầng kĩ thuật, giống, khuyến ngư, sự chỉ đạo sản xuất của huyện, đã
làm cho hoạt động nuôi trồng thủy sản được nhân dân hưởng ứng, các doanh nghiệp
46
đầu tư phát triển. Tiếp tục mở rộng diện tích nuôi nước ngọt ở sông, ao hồ tự nhiên, ao
hồ đào.
Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ ngư dân
theo Quyết định 289 của Chính phủ, làm tốt công tác bảo hiểm tàu thuyền, thuyền viên
và bảo vệ an toàn cho ngư dân trên biển, phát triển thêm nhiều tàu xa bờ (năm 2010 có
50 tàu). Chỉ đạo mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, quy hoạch 100 ha nuôi tôm
trên cát tại xã Gio Hải, Trung Giang; triển khai nuôi tôm 140 ha tôm, 422,38 ha cá.
2.1.2.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng
- Về công nghiệp
Thời kì 2000-2010, công nghiệp đã có bước phát triển vững chắc và làm sức bật
cho các ngành kinh tế khác phát triển. Giai đoạn 2000-2005, công nghiệp phát triển ổn
định và có bước tăng trưởng khá, năm 2005 giá trị của ngành công nghiệp đạt 23.145
triệu đồng. Điểm nổi bật trong phát triển công nghiệp ở giai đoạn 2005-2010 chính là
Khu Công nghiệp Quán Ngang được thành lập và tổ chức hoạt động theo Nghị định số
29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về Khu Công nghiệp, Khu
Chế xuất, Khu Kinh tế; với tổng diện tích đất quy hoạch 318,13 ha. Việc xây dựng khu
công nghiệp đã làm cho nền kinh tế thị trấn Gio Linh chuyển biến nhanh chóng. Giai
đoạn 2005-2010, công nghiệp đã có bước phát triển nhanh và có mức tăng trưởng vượt
bậc, giá trị ngành công nghiệp năm 2010 đạt 71.330 triệu đồng
Bảng 2.17: Giá trị sản xuất công nghiệp qua các thời kì
ĐVT: Triệu đồng
2000 2005 2010
Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng
Tổng số 11.871 100 23.145 100 71.330 100
Công nghiệp khai thác 1.404 12,2 7.702 33,2 4.119 5,7
Công nghiệp chế biến 10.467 87,8 17.442 66,8 67.211 94,3
[371], [69].
Giá trị của ngành công nghiệp khai thác và chế biến đều tăng theo từng năm,
đặc biệt là công nghiệp chế biến có bước tăng mạnh từ 10.467 triệu đồng năm 2000 lên
67.211 triệu đồng năm 2010.
Chủ trương của Đảng bộ và chính quyền huyện Gio Linh trong thời kì 2000-
2010 là chú trọng đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, nên những năm qua tỉ
47
trọng của công nghiệp khai thác giảm dần từ 12,2% năm 2000 giảm xuống còn 5,7%
năm 2010. Còn tỉ trọng của công nghiệp chế biến tăng dần, đến năm 2010 đạt 94,3%.
Việc thay đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp theo thành phần có tác động tích cực đến
nhịp độ phát triển công nghiệp trên địa bàn.
Bảng 2.18: Giá trị và cơ cấu sản xuất công nghiệp qua từng thời kì
ĐVT: Giá trị (triệu đồng), Tỉ trọng (%)
2000 2005 2010
Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng
Toàn ngành 11.871 100 23.145 100 71.330 100
Khu vực nhà nước 771 6,5 985 4,3 1.097 1,6
Khu vực ngoài nhà nước 11.101 93,5 22.160 95,7 70.233 98,4
Tỉ trọng giữa khu vực nhà nước và ngoài nhà nước cũng có nhiều thay đổi, khu
vực ngoài nhà nước chiếm tỉ trọng rất lớn và có xu hướng tăng dần theo thời gian, năm
2000 chiếm 93,5% đến năm 2010 đã tăng lên 98,4%. Sau năm 2000, xu thế chuyển các
cơ sở công nghiệp nhà nước thành các công ti cổ phần, các nhà máy trên địa bàn cũng
theo xu thế chuyển đổi của nền kinh tế thị trường, công nghiệp nhà nước dần chuyển tỉ
trọng cho công nghiệp ngoài nhà nước, các công ti tự điều hành và chịu trách nhiệm
cho sự tồn tại của công ti mình. Như vậy, chính sách của cơ chế thị trường đã thực sự
đi vào sản xuất công nghiệp trên địa bàn.
Công nghiệp tập trung chỉ đạo theo hướng phát triển mạnh các ngành nghề có
lợi thế như: khai thác vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm - thủy sản, sửa chữa tàu
thuyền, sản xuất nước đá…
* Về tiểu thủ công nghiệp
Trong thời kì 2000-2010, duy trì một số nghề truyền thống, phát triển một số
nghề mới như: mộc mĩ nghệ, nhôm kính gia dụng, thêu ren, mây giang đan,… bên
cạnh đó còn khôi phục và phát triển những làng nghề truyền thống đã góp phần tạo
công ăn việc làm cho người dân và tăng giá trị kinh tế địa phương; như nghề đan lát ở
làng Lan Đình, ngày càng phát triển đưa lại nguồn thu nhập lớn cho người dân, hiện tại
đang khôi phục thử nghiệm nghề đan mây truyền thống và tranh sơn khảm tre để thu
hút lao động tạo mặt hàng xuất khẩu cho tỉnh nhà.
48
Bảng 2.19: Số liệu tiểu thủ công nghiệp qua các thời kì
2000 2005 2010
Cơ sở 398 565 726
Giá trị (triệu đồng) 8.145 12.518 15.548
Những năm gần đây, cơ sở sản xuất thủ công trên địa bàn có bước phát triển
nhanh cả về quy mô lẫn chất lượng, số cơ sở sản xuất tăng từ 398 cơ sở năm 2000 tăng
lên 726 cơ sở năm 2010. Cùng với đó giá trị của thủ công nghiệp cũng tăng nhanh, đến
năm 2010 đạt 15.548 triệu đồng. Nhờ chủ trương hợp lí khai thác tốt các tiềm năng,
đầu tư kinh phí, kĩ thuật để phát triển thủ công nghiệp, nên những năm gần đây các cơ
sở sản xuất thủ công có bước phát triển ổn định, đảm bảo đươc đầu ra, tạo công ăn
việc làm cho hàng trăm lao động trong địa bàn.
* Về phát triển cơ sở hạ tầng
Bằng nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh, các tổ chức quốc tế, ngân sách
huyện và nhân dân đóng góp; từ năm 2001-2005, 5 năm qua đã xây dựng, nâng cấp
nhiều công trình quan trọng đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả, với tổng nguồn vốn
huy động 147.869 triệu đồng, tăng bình quân hàng năm 29.153 triệu; so với năm 2000
tăng 3 lần [17, tr.4]. Mạng lưới điện tiếp tục mở rộng và nâng cấp. Năm 2005, 99% số
hộ được sử dụng điện lưới quốc gia, chỉ còn 7 điểm dân cư ở miền núi, vùng xa chưa
có điện [41, tr.2]. Đến năm 2010, 100% số hộ sử dụng điện.
Hệ thống giao thông nội huyện, liên xã được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng
mới, chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn được nhiều địa phương triển khai.
Các tuyến đường do tỉnh và Trung ương đầu tư trên địa bàn như đường Gio Thành -
Trung Giang, đường vào khu công nghiệp Quán Ngang, đường 75 Đông, đặc biệt
đường Hồ Chí Minh, đường 74 hoàn thành mở ra khả năng phát triển kinh tế - xã hội,
cùng với sự đầu tư của Trung ương, của tỉnh đã hoàn thành việc tu sửa, nâng cấp hồ
thủy lợi Kinh Môn, Hà Thượng, một số hồ đập nhỏ, kiên cố kênh mương, cơ bản đảm
bảo tưới tiêu cho gần 3.700 ha lúa hai vụ. Các chương trình 135, chương trình kiên cố
hóa trường học, dự án MAG, PLAN,… đã góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng nông
thôn. Việc xây dựng nhà ở của nhân dân phát triển nhanh, đến năm 2005 tỉ lệ hộ có
nhà xây, nhà ngói đạt 93,7%; chương trình nước sạch được đẩy mạnh, đã có 69% hộ
dùng nước hợp vệ sinh [12, tr.3].
49
Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ
đạo, phục vụ có hiệu quả sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Đến năm 2005, bình quân
có 4,7 máy/100 máy (năm 2000: 1,22 máy/100 dân).
Trên địa bàn huyện có 1 tổng đài trung tâm, 3 tổng đài cụm, 16 điểm bưu điện
văn hóa xã hội với 3.478 máy điện thoại cố định và 200 máy di động; đã phủ mạng
được hệ thống thông tin liên lạc 100% số xã và cơ quan đơn vị đã có máy điện thoại.
Trong 5 năm 2006-2010, huyện đã đầu tư 347,7 tỉ đồng (trong đó nhân dân và
ngân sách địa phương 53,8 tỉ đồng). Hệ thống trường học, cơ sở y tế, trụ sở làm việc
của các cơ quan, đơn vị được cao tầng hóa, kiên cố hóa; bê tông hóa giao thông nông
thôn đạt 37,8%; kiên cố hóa kênh mương đạt 57,5%, một số tuyến đường nội thị được
nhựa hóa. Công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng cầu Cửa Tùng, Cửa Việt, đường
cơ động Cửa Việt - Cửa Tùng, Khu Công nghiệp Quán Ngang, khu dịch vụ - du lịch
Cửa Việt, nhựa hóa tỉnh lộ 76 Đông, đường liên xã Gio Mai - Trung Giang được thực
hiện khá tốt.
Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đến năm 2010,
nhìn chung cơ sở hạ tầng được đảm bảo, đã xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp nhiều
chương trình và hạng mục công trình phục vụ sản xuất đời sống nhân dân ngày càng
tốt hơn; điều đó góp phần tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và ổn
định đời sống của người dân.
2.1.2.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch
* Về thương mại - dịch vụ
Điểm nổi bật của thị trường nội địa từ 2000-2010 là mạng lưới kinh doanh phục
vụ phát triển nhanh, qui mô ngày càng mở rộng. Trước hết, số lượng cơ sở kinh doanh
bao gồm hệ thống doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, lực lượng hộ kinh
doanh cá thể.
Đi đôi với tăng nhanh số lượng cơ sở kinh doanh, hệ thống chợ, các điểm bán
hàng, kinh doanh dịch vụ mở rộng khắp các vùng trên địa bàn. Cụ thể được thể hiện
bằng bảng 2.20.
50
Bảng 2.20: Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
phân theo loại hình kinh doanh
ĐVT: Cơ sở
Năm Tổng số Chia ra
DN Nhà nước HTX DN tư nhân Hộ cá thể
2000 1.455 50 50 5 1.350
2005 1.644 78 34 32 1.500
2010 2.894 91 45 94 2.664
Về cơ sở kinh doanh, cơ sở cá thể phát triển với tốc độ nhanh từ 1.350 cơ sở
năm 2000 lên 2.664 cơ sở năm 2010. Bình quân mỗi năm tăng 131 cơ sở trong 10
năm. Hộ kinh doanh cá thể hoạt động linh hoạt, một bộ phận tập trung ở các chợ đầu
mối như chợ Cầu. Bộ phận còn lại tập trung ở các chợ ở nông thôn và các khu dân cư.
Hệ thống chợ trở thành nơi giao lưu trao đổi hàng hóa giữa người tiêu dùng và người
sản xuất, giữa người kinh doanh và người tiêu dùng. Như vậy lực lượng kinh doanh
thương mại phát triển tương đối đều ở các vùng trong huyện.
Xét về thành phần kinh tế, do sự điều tiết của cơ chế quản lí, số lượng cơ sở của
mỗi thành phần có sự thay đổi khác nhau. Đối với doanh nghiệp nhà nước, năm 2000
có 50 cơ sở, tăng lên 91 cơ sở năm 2010; tạo việc làm cho trên 350 lao động, thu nhập
bình quân 120-150 triệu đồng. Đến năm 2010, đã cơ bản hoàn thành công tác sắp xếp,
đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước theo các đề án được phê duyệt, đảm bảo chất
lượng, tiến độ, góp phần huy động nguồn lực các thành phần kinh tế tham gia phát
triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Nhà nước.
Đối với thành phần hợp tác xã, năm 2000 có 50 cơ sở, đến năm 1995 giảm
xuống còn 34 cơ sở. Sau đó Luật hợp tác xã ra đời, số lượng hợp tác xã phục hồi, đến
năm 2010, số lượng hợp tác xã tăng lên 45 cơ sở.
Doanh nghiệp tư nhân do tác động của Luật doanh nghiệp, nhiều nhà đầu tư
kinh doanh thương mại theo mô hình doanh nghiệp. Năm 2000, toàn huyện có 5 cơ sở;
đến năm 2010, tăng lên 94 cơ sở. Ngành kinh doanh chủ yếu tập trung vào hai lĩnh
vực: Kinh doanh thương mại và khách sạn nhà hàng.
51
Với lực lượng đông, mạng lưới kinh doanh rộng, hàng năm hệ thống nội thương đã
cung ứng cho thị trường nội địa một lượng hàng hóa lớn. Cụ thể qua bảng 2.21.
Bảng 2.21: Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội qua các thời kì (phân theo ngành)
ĐVT: Triệu đồng
Năm Tổng Trong đó
Thương mại Dịch vụ Khách sạn, nhà hàng
2000 49.535 28.672 1.001 19.862
2005 87.480 50.872 3.520 33.088
2010 424.061 333.334 29.994 92.834
[4], [81].
Mạng lưới thương mại, dịch vụ phát triển rộng khắp, hàng hóa đa dạng, lưu
thông thông thoáng. Doanh thu năm 2005 đạt 54.392 triệu đồng, tăng 24.719 triệu
đồng so với năm 2000. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 12,8%.
Hệ thống chợ nông thôn được nâng cấp, mở rộng; mạng lưới thương mại dịch
vụ có bước phát triển mới; hàng hóa lưu thông thuận tiện, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản
xuất và tiêu dùng trên địa bàn. Giá trị sản xuất kinh doanh tăng bình quân hàng năm
24,8%. Đến năm 2010, có 2.894 cơ sở và 3.160 lao động trong lĩnh vực thương mại -
dịch vụ, tăng 2,2 lần so với năm 2005 [24, tr.11], tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt
363.328 triệu đồng [19, tr.81].
Nhờ có chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, lực lượng kinh doanh
thương mại các ngành phát triển nhanh, mở rộng mạng lưới phục vụ nhu cầu xã hội.
Do đó, đã góp phần ổn định thị trường, điều hòa cung cầu, đặc biệt đã đáp ứng nhu cầu
cơ bản cho dân cư các vùng nông thôn.
Trong xu thế hội nhập kinh tế, hoạt động ngoại thương có vai trò vị trí quan
trọng, đó là bước đi đầu tiên để mở rộng quan hệ đối ngoại về kinh tế, thông qua hoạt
ngoại thương mở rộng quan hệ hợp tác, hòa nhập nền kinh tế địa phương vào kinh tế
khu vực.
Xác định được vị trí và hoạt động của chính sách phát triển kinh tế đối ngoại
của nhà nước, hoạt động ngoại thương được quan tâm đúng mức và nâng cao vị trí
trong nền kinh tế. Đối với Gio Linh, xuất khẩu được xác định là một trong bốn chương
trình kinh tế trọng điểm của địa phương, gắn xuất khẩu với các ngành nghề truyền
thống, nhất là nuôi trồng khai thác, chế biến hải sản.
52
* Trong du lịch
Du lịch là một ngành mới phát triển, nhưng cũng khẳng định Gio Linh có tiềm
năng phát triển du lịch. Khu thương mại - du lịch - dịch vụ Cửa Việt, tuyến đường Cửa
Việt - Cửa Tùng, cầu Cửa Tùng, Cửa Việt, các cụm du lịch đã được tỉnh phê duyệt như
đường Hồ Chí Minh và Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, cụm di tích đôi bờ Hiền
Lương, Cồn Tiên - Dốc Miếu; với lợi thế có bãi tắm dọc tuyến biển từ Cửa Việt đến
Cửa Tùng - là nơi thu hút rất đông khách trong và ngoài nước, nên cần phải có định
hướng phát triển và quy hoạch để đảm bảo phát triển bền vững trong những năm tới,
gắn phát triển thương mại với du lịch, dịch vụ trên địa bàn, có tính đến mối quan hệ
với các huyện bạn cũng như toàn tỉnh.
Nhờ những lợi thế và tiềm năng, du lịch Gio Linh thu hút được lượng khách
ngày càng đông và doanh thu từ du lịch ngày càng lớn dần theo số tăng của lượng
khách. Năm 2000 có 418.000 lượt khách [31, tr.9], năm 2010 đạt 927.851 lượt khách
[6, tr.91]. Doanh thu du lịch năm 2000 là 19.862 triệu đồng [10, tr.4], năm 2010 đạt
mức 92.83 triệu đồng [22, tr.81].
Song song với hiệu quả trực tiếp thể hiện qua doanh thu, hiệu quả xã hội thông
qua hoạt động du lịch rất lớn như tạo việc làm cho người hoạt động phục vụ du lịch,
trao đổi hàng hóa địa phương sản xuất và quan trọng hơn là trao đổi văn hóa địa
phương với khách thập phương.
Khi đời sống kinh tế được nâng cao, lượng khách du lịch tăng, nhu cầu hưởng
lợi các dịch vụ sinh hoạt được tăng theo thúc đẩy các hoạt động dịch vụ mở ngày càng
phát triển. Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Năm
2000, có 12 cơ sở lưu trú [26, tr.8]; đến năm 2010, tăng lên 130 cơ sở lưu trú [17,
tr.80].
2.2. Về chuyển biến xã hội
2.2.1. Thời kì 1990-2000
2.2.1.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế
* Về giáo dục
Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VII) về giáo dục, đào tạo và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI về
phát triển giáo dục và đào tạo, trong những năm từ 1991-1995, hệ thống giáo dục từ
mầm non đến phổ thông được sắp xếp, củng cố và mở rộng. Chất lượng giáo dục toàn
53
diện từng bước được nâng lên. Hàng năm có trên 94% học sinh lên lớp; tỉ lệ tốt
nghiệp, chuyển cấp, đỗ cao đẳng - đại học năm sau cao hơn năm trước. Số học sinh đạt
giải thưởng trong các kì thi học sinh giỏi ở tỉnh và quốc gia hàng năm đều tăng, trong
5 năm có 180 em dự các kì thi học sinh giỏi ở tỉnh và quốc gia (trong đó có 38 em đạt
giải cấp tỉnh, 3 em đạt giải cấp quốc gia). Số lượng học sinh ở các cấp học, ngành học
đều tăng nhanh, từ 11.333 em năm 1991 lên 13.934 em năm 1995 [25, tr.156]. Năm
1992, huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục - xóa mù chữ.
Phong trào xã hội hóa giáo dục được các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân hưởng
ứng khá tích cực.
Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh và huyện lần thứ XII, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương lần thứ hai (khóa VIII) về giáo dục và đào tạo; trong những năm
1996-2000, mặc dù trong hoàn cảnh một huyện còn nghèo, đời sống nhân dân còn gặp
nhiều khó khăn, nhưng ý thức được “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, các
cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội đã quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục và
đào tạo. Đến cuối năm 1999 đã có 17 đơn vị xã, thị trấn phổ cập trung học cơ sở, đạt
85%. Đến năm 2000, bình quân 3,6 người dân có 1 người đi học (tỉ lệ này năm 1995 là
4,5 người dân có 1 người đi học) [8, tr.101]. Cơ sở vật chất được tăng cường đáng kể,
hơn 50% số xã có trường cao tầng, kiên cố, hầu hết các trường có thư viện, phòng thiết
bị đạt chuẩn. Phong trào xã hội hóa giáo dục phát triển; năm 1995 được công nhận
huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở .
Bảng 2.22: Số trường, lớp, giáo viên và học sinh giáo dục phổ thông trên
địa bàn huyện năm học 1990-1991, 1995-1996, 2000-2001
Năm
Danh mục
1990-1991 1995-1996 2000-2001
PTCS PTTH PTCS PTTH PTCS PTTH
Số trường 19 2 34 2 39 3
Số lớp 348 20 414 19 549 25
Số giáo viên 531 47 610 60 728 75
Số học sinh 10.604 980 13.619 856 17.869 2.363
[15, tr.244].
Được sự quan tâm và giúp đỡ của các ban ngành, cùng với nỗ lực của toàn thể
giáo viên và học sinh trên địa bàn nên sự nghiệp giáo dục những năm qua đã có những
54
chuyển biến tích cực, điều kiện dạy và học được đảm bảo, số trường, lớp, giáo viên,
học sinh tăng lên, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên.
Quy mô trường lớp ngày đáp ứng nhu cầu học tập của các em học sinh, chất lượng
dạy và học được nâng cao thì người thầy có vai trò rất quan trọng, nhận thức được tầm
quan trọng đó huyện luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Công
tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện có hiệu quả.
* Về y tế
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, xây dựng ở 20/20 xã, thị trấn trong huyện
và ngày càng phục vụ tốt hơn việc khám, điều trị bệnh nhân. Đến năm 1995, đã xóa
được xã trắng về y tế. Trong giai đoạn 1996-2000, công tác xã hội hóa y tế được các
cấp, các ngành và mọi người quan tâm. Bằng nhiều nguồn vốn, trong thời gian này
toàn huyện đã đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thêm nhiều trang
thiết bị y tế phục vụ việc khám và chữa bệnh cho nhân dân; đã xây dựng mới Trung
tâm Y tế huyện và 18 trạm y tế xã khang trang. Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ
43,8% năm 1995 xuống còn 37% năm 2000 [5, tr.180]. Đã thực hiện tốt chương trình
y tế cộng đồng, thanh toán được bệnh phong, đẩy lùi bệnh sốt rét.
Từ năm 1990 đến 2000, số cơ sở và giường bệnh thuộc hệ thống y tế công lập
về cơ bản giữ mức ổn định, không tăng cơ sở, giường bệnh tăng không đáng kể. Song
năng lực phục vụ khám, điều trị được tăng cường do được đầu tư chiều sâu, trang thiết
bị phục vụ khám, chữa bệnh.
Bảng 2.23: Hoạt động khám và điều trị trên địa bàn
Năm
Cơ sở điều trị Giường bệnh Cán bộ y tế
Bệnh
viện
Trạm y tế Giường
bệnh nhân
Giường
trạm y tế
Ngành y Ngành
dược
1990 1 16 50 166 43 2
1995 1 20 112 320 106 4
2000 1 20 165 400 131 16
Năm 2000, Gio Linh có 23 cơ sở y tế, trong đó có 1 bệnh viện đa khoa, 2 phòng
khám khu vực và 20 trạm y tế, tất cả có 565 giường bệnh, 147 cán bộ y tế, trong đó
ngành y có 131 người, ngành dược có 16 người. Số lượt người điều trị nội trú năm
55
1995 có 2.750 lượt, đến năm 2000 có 3.684 lượt. Số lượt người khám bệnh năm 1995
có 42.505 lượt, năm 2000 có 81.500 lượt [19, tr.245].
Trải qua 10 năm đổi mới, ngành y tế Gio Linh đã chú trọng đến công tác đào
tạo cán bộ cả về chuyên môn và đạo đức, xây dựng mạng lưới y tế từ huyện về đến các
cơ sở xã. Ngành y tế Gio Linh đã có những kế hoạch và hành động sâu rộng tác động
trực tiếp và lâu dài đến đời sống sức khỏe người dân. Phát động phong trào vệ sinh
môi trường, duy trì thường xuyên công tác tiêm chủng, củng cố công tác khám chữa
bệnh, thực hiện các chức trách chế độ công tác trong bệnh viện; bệnh xá, xây dựng,
phát triển hệ thống mạng lưới ngành dược, thực hiện chủ trương đưa thuốc đến tận
người dân. Ngành y tế Gio Linh đóng góp không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng
cuộc sống người dân.
2.2.1.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm
* Về dân số
Công tác kế hoạch hóa gia đình đã được thành lập từ huyện tới xã đạt nhiều kết
quả. Hoạt động truyền thông dân số được quan tâm và có tác dụng tốt trong việc nâng
cao công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Mạng lưới cán bộ và công tác viên dân số
- kế hoạch hóa gia đình từ huyện đến cơ sở bước đầu hoạt động có hiệu quả. Tỉ lệ gia
tăng dân số tự nhiên giảm dần qua từng năm, từ 2,66% năm 1991 xuống còn 1,6%
năm 2000, vượt 0,2% so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII
đề ra [8, tr.180].
Nhận thức được tầm quan trọng của dân số đối với phát triển kinh tế - xã hội,
Đảng bộ và chính quyền Gio Linh đã có những chủ trương nhằm kiểm soát sự bùng nổ
dân số, nhờ đó sự quan tâm của chính quyền các cấp nên tỉ lệ dân số tăng tự nhiên đã
giảm đáng kể so với thời gian trước.
Bảng 2.24: Tỉ lệ sinh, tỉ lệ chết, tỉ lệ tăng tự nhiên qua các thời kì
ĐVT: (o
/oo)
Năm Tỉ lệ sinh Tỉ lệ chết Tỉ lệ tăng tự nhiên
1990 27,8 5, 9 20,3
1995 22,07 5,1 17,28
2000 16,6 3,7 12,20
56
Trong thời kì 1990-2000, tỉ lệ sinh giảm xuống nhanh chóng. Đây là thành công
lớn của công tác dân số kế hoạch hóa gia đình. Theo tài liệu thống kê, tính đến tháng
12/2000, dân số huyện Gio Linh là 74.527 người, tỉ lệ tăng tự nhiên là 12,20o
/oo giảm
xuống so với các năm trước [10, tr.6]. Những năm qua nhờ khoa học y tế hiện đại, nên
công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được tốt hơn, vì vậy mà tỉ lệ chết năm 1990
chiếm 5,9o
/oo giảm xuống còn 3,7o
/oo vào năm 2000.
Tính đến năm 2000 dân số phân bố trên 3 vùng địa lí kinh tế chủ yếu: vùng ven
biển diện tích 2.893 ha với dân số 17.083 người, trong đó người trong độ tuổi lao động
chiếm 7.945 người; gồm 3 xã chạy dọc theo bờ biển dài 15 km. Vùng đồng bằng với
diện tích 13.918 ha, gồm 7 xã với dân số 28.897 người, lao động 13.185 người. Vùng
gò đồi và miền núi với diện tích 30.486 ha, gồm thị trấn và 9 xã với dân số 28.547
người, lao động 12.887 người [22, tr.182]. Qua đó ta nhận thấy dân số Gio Linh phân
bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng.
* Về lao động và việc làm
Số người làm việc trong các ngành kinh tế tăng lên không ngừng. Năm 1990 là
25.602 [8, tr.4], năm 2000 là 34.017 [12, tr.2], tăng 8.415 người so với năm 1990.
Số người đang làm việc tăng lên là do những năm qua kinh tế của huyện tăng
trưởng liên tục với tốc độ khá đã tạo tiền đề cho vấn đề giải quyết việc làm. Nhà nước
cũng đã ban hành chính sách tạo môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc
làm, cơ sở kinh tế tự do thuê mướn người lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Thực hiện mục tiêu về việc làm của chính quyền huyện Gio Linh, phòng lao
động thương binh và xã hội đã tổ chức liên kết với trung tâm giới thiệu việc làm chủ
động tìm kiếm, tham gia cùng trung tâm tổ chức như đẩy mạnh các hoạt động tư vấn,
cung cấp thông tin cho người lao động có nhu cầu tìm việc làm, hình thành hệ thống
thông tin thị trường lao động góp phần đắc lực cho thị trường lao động trên địa bàn.
Đến năm 2000, đã giải quyết việc làm cho 28.874 lao động chiếm 84,2% lực lượng lao
động Gio Linh [7, tr.3].
Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng lao động cho sản xuất công
nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp. Trước thực trạng đó, nông
nghiệp ở huyện ngày càng bị thu hẹp để dành chỗ cho sản xuất công nghiệp trên địa
bàn nên công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đang ngày càng trở nên cấp thiết.
57
Đến năm 2000, lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp còn chiếm 65% lực
lượng lao động toàn Huyện [12, tr.4].
Trong những năm qua nhờ thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết việc làm
cho người lao động, đời sống của người lao động ngày càng được cải thiện đáng kể. Số
lao động nông thôn mắc các tệ nạn xã hội do thất nghiệp, nghèo đói đã giảm đáng kể.
Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng hiện đại, tăng lao động ngành công
nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp. Đây là thành quả bước đầu
trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động của các cấp chính quyền trong
thời gian qua. Giải quyết việc làm cho người lao động đã tạo bước ngoặt giúp ổn định
trật tự xã hội, góp phần nâng cao nếp văn minh cho bà con huyện Gio Linh.
* Đời sống dân cư
Do điểm xuất phát quá thấp, nên mặc dù Đảng bộ, chính quyền các cấp, các ban
ngành đoàn thể và nhân dân toàn huyện đã có nhiều cố gắng nhưng kinh tế của Gio
Linh vẫn còn ở tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ lẻ là phổ biến và nặng tính tự
cung tự cấp. Trong những năm qua chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong
những mục tiêu của chiến lược kinh tế chung trong cả nước, cả tỉnh, cả huyện và từng
địa phương, cơ sở; đã đạt được thành tựu quan trọng. Tỉ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể,
tỉ lệ hộ đói nghèo năm 1990 chiếm 30%, giảm xuống đến năm 2000 còn 15,6% [6,
tr.182]. Tuy nhiên số hộ thoát nghèo chưa bền vững, vì vậy công tác xóa đói giảm
nghèo bền vững là một nhiệm vụ hết sức khó khăn đối với các cấp chính quyền huyện
Gio Linh.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người có xu hướng
tăng, mặc dù so với mặt bằng chung của cả nước thì vẫn còn thấp. Năm 1990, thu nhập
bình quân đầu người là 665 ngàn đồng/tháng, tăng lên 979 ngàn đồng/tháng năm 2000
[21, tr.3]. Mức thu nhập bình quân đầu người ở thị trấn và nông thôn vẫn có sự chênh
lệch, khoảng cách đó ngày càng được nới rộng.
Cơ cấu chi tiêu cho đời sống những năm qua cũng có tiến bộ, tỉ trọng chi tiêu
cho ăn uống trong tổng chỉ tiêu cho đời sống giảm dần và chi tiêu cho nhu cầu ngoài
ăn uống (bao gồm mặc, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe) tăng lên. Những năm
1990, dân còn nghèo, phần lớn chi tiêu phục vụ ăn uống, sau này thu nhập tăng lên và
mức sống được cải thiện, chi tiêu cho nhu cầu ăn uống tăng lên; biểu hiện một sự tiến
bộ về đời sống của dân cư.
58
Nhà ở nhân dân được kiên cố từng bước; đưa tỉ lệ nhà xây, nhà ngói từ 32,2%
năm 1995 lên 62% năm 2000 (vượt 2% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
huyện lần thứ XII (2/1996) đề ra) [9, tr.182].
Những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã được lãnh đạo huyện và
cán bộ các ngành thực hiện sáng tạo và đi sâu vào đời sống người dân, vì vậy đời sống
nhân dân đã từng bước ổn định và phát triển, chất lượng đời sống nhân dân được nâng
lên đáng kể.
2.2.2. Thời kì 2000-2010
2.2.2.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế
* Về giáo dục
Thực hiện Chỉ thị 40 của Ban Bí thư và Quyết định số 09/NQ-CP về xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục nhằm không ngừng
nâng cao chất lượng giáo dục; Đảng bộ và chính quyền đã củng cố, duy trì kết quả phổ
cập THPT vững chắc ở 21/21 xã, thị trấn; triển khai Kế hoạch phổ cập giáo dục bậc
Trung học đến năm 2010; tích cực thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa và
phương pháp dạy - học, áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập; thực
hiện cuộc vận động “Hai không”.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, Đảng bộ và chính quyền đã có
những chủ trương để phát triển toàn diện về cả quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo
và cơ sở vật chất nền giáo dục phù hợp với tình hình mới. Mạng lưới trường học được
tăng cường nâng cấp đáng kể, qui mô giáo dục đào tạo được nâng lên theo đà phát
triển kinh tế.
Bảng 2.24: Số liệu của ngành giáo dục qua các thời kì
ĐVT: Người
Mầm non Tiểu học THCS THPT
Giáo
viên
Học
sinh
Giáo
viên
Học
sinh
Giáo
viên
Học
sinh
Giáo
viên
Học
sinh
2000-2001 119 2.950 435 11.199 400 6.670 75 2.363
2005-2006 150 2.574 529 9.284 460 8.727 127 2.855
2009-2010 201 3.089 579 6.125 519 6.870 129 3.155
[5], [7-8].
59
Trường học tiếp tục được quan tâm và đầu tư xây dựng. Hệ thống trường lớp
được quy hoạch và phát triển đúng hướng. Số học sinh huy động vào các cấp học,
ngành hoc đều tăng. Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến; số học sinh
giỏi, học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đều tăng. Công tác
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được chú trọng, nên phần lớn đạt chuẩn và trên
đạt chuẩn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được tăng cường đáng kể.
Đến năm 2005, 100% xã, thị trấn có trường phổ thông kiên cố, cao tầng; nhiều
trường phổ thông có thư viện và phòng thiết bị dùng chung đạt chuẩn. Phong trào xã
hội hóa giáo dục và hoạt động khuyến học được đẩy mạnh; giữ vững và nâng cao chất
lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS. Phong trào xây dựng
trường chuẩn quốc gia được triển khai tích cực; năm 2005, đã có 17 trường tiểu học, 2
trường THCS, 2 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia [41, tr.4].
Đến năm 2010, ngành giáo dục tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh phong trào xã hội hóa
giáo dục, gắn với việc nâng cao chất lượng các phong trào thi đua “Hai tốt”, cuộc vận
động “Hai không”, “Mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, tăng
cường công tác kiểm tra, đánh giá thực chất về chất lượng học sinh các cấp học. 100%
giáo viên các ngành học, cấp học có trình độ đạt chuẩn, trong đó 66,3% giáo viên đạt
chuẩn. Kết thúc năm học 2009-2010, trên toàn huyện tốt nghiệp THCS đạt 98,2%;
THPT 93%, tăng 24,7% so với năm học trước; Bổ túc Trung học 92,4%; hoàn thành
chương trình Tiểu học đạt 99,9% [35, tr.5-6].
Tổng kết 10 năm thực hiện mục tiêu phổ cập bậc THCS và xây dựng trường
chuẩn quốc gia (2001-2010); cơ sở vật chất trường học được quan tâm đầu tư xây
dựng. Năm 2010, có thêm 5 trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó có trường PTDTNT
huyện), nâng tổng số lên 43 trường, chiếm 66,7% tổng số trường [6, tr.6] và đã huy
động được 38.482 triệu đồng quỹ khuyến học; tổ chức phát thưởng cho trên 355 học
sinh, giáo viên với tổng kinh phí 26.760 triệu đồng [11, tr.6].
Giáo dục có vị trí chiến lược quốc sách hàng đầu, với mục tiêu nâng cao dân trí,
bồi dưỡng nhân tài đã được huyện nhận thức đúng đắn và thực hiện một cách hiệu quả
nên những năm gần đây giáo dục Gio Linh đã có hướng chuyển biến theo hướng hiện
đại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà.
60
* Về y tế
Công tác đào tạo đào tạo cán bộ và xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho các
trung tâm y tế xã, thị trấn được đầu tư. Chủ trương phát triển y tế của huyện theo quan
điểm y học dự phòng, lấy chăm sóc sức khỏe cho nhân dân làm nội dung chủ yếu, kết
hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại.
Bảng 2.25: Số liệu Y tế qua các thời kì
Năm Cơ sở điều trị Giường bệnh Cán bộ y tế
Bệnh viện Trạm y tế Giường
bệnh nhân
Giường
trạm y tế
Ngành y Ngành
dược
2000 1 16 50 50 43 2
2005 1 20 65 59 150 5
2010 1 21 83 102 169 11
[245], [87].
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có chuyển biến tích cực, cơ sở vật
chất, trang thiết bị ngành y tế được tăng cường. Đến năm 2005, 100% trạm y tế được
kiên cố hóa; đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến cơ sở từng bước được nâng lên; 100%
thôn, bản có nhân viên y tế - đảm bảo điều kiện khám và chữa bệnh cho nhân dân,
100%; 1 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia [3, tr.5].
Đến năm 2010, tổ chức đánh giá 7 năm xây dựng xã đạt chuẩn quốc gia về y tế,
có thêm 3 xã đạt chuẩn, nâng tổng số lên 18/21 xã, thị trấn, chiếm 85,7% vượt kế
35,7% kế hoạch; có 27 làng phát động xây dựng làng sức khỏe, gia đình sức khỏe,
nâng tổng số lên 64 làng. Tại tuyến huyện có trên 80.000 lượt người khám chữa bệnh;
điều trị nội trú cho 5.250 lượt người, công suất giường bệnh đạt 100% [19, tr.6].
Đến năm 2010, mạng lưới y tế phủ kín toàn địa bàn, có 24 cơ sở y tế trong đó
có 1 bệnh viện, 2 phòng khám khu vực và 21 trạm xá. Tổng số giường bệnh 215 trong
đó có 83 giường của bệnh viện.
Bảng 2.26: Số lượng và cơ cấu cán bộ ngành y tế qua các thời kì
ĐVT: Số lượng (người), Tỉ trọng (%)
Năm Tổng số Bác sĩ Y sĩ Y tá và nhân viên khác
SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng
2000 140 100 10 7,1 49 35 81 57,9
2005 145 100 17 11,7 56 38,6 72 49,7
2010 166 100 22 13,2 58 34,9 86 51.9
[245], [87].
61
Cán bộ y tế tăng từ 131 cán bộ năm 2000 lên 166 cán bộ năm 2010. Trong đó,
đội ngũ bác sĩ tăng nhiều nhất. Đến năm 2010, toàn huyện có 22 bác sĩ, trong đó có 3
bác sĩ chuyên khoa I.II. Chất lượng cán bộ y tế ngày càng được nâng cao, đối với
ngành y tỉ trọng bác sĩ tăng dần, chiếm 7,1% năm 2000 tăng lên 13,2% năm 2010. Đây
là dấu hiệu đáng mừng đối với y tế Gio Linh, chất lượng đội ngũ bác sĩ được nâng cao
giúp cho công tác chăm sóc sức khỏe của người dân được phục vụ tốt hơn.
Bảng 2.27: Số lượng và cơ cấu cán bộ ngành dược qua các năm
ĐVT: Số lượng (người), Tỉ trọng (%)
Năm Tổng số Dược sĩ cao cấp Dược sĩ trung cấp
SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng SL Tỉ trong
2000 2 100 2 100 0 0
2005 5 100 2 40 3 60
2010 11 100 4 36,3 7 63,7
[245], [87].
Đối với ngành dược, cán bộ còn thiếu, so với nhu cầu khám chữa bệnh của
người dân. Trong những năm gần đây cán bộ ngành được tăng nhưng không đáng kể.
Đến năm 2010, chỉ có 11 cán bộ dược, trong đó mới có 4 dược sĩ cao cấp.
Trong thời kì 2000-2010, ngành y tế Gio Linh đã chú trọng đến công tác đào
tạo cán bộ cả về chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp, xây dựng mạng lưới y tế từ
Huyện đến xã. Ngành y tế có những kế hoạch triển khai sâu rộng tác động trực tiếp
đến sức khỏe của người dân. Phong trào vệ sinh môi trường được duy trì thường
xuyên, công tác tiêm chủng, bảo vệ bà mẹ trẻ em và công tác khám chữa bệnh được
thực hiện đồng bộ và đạt hiệu quả cao, góp phần không nhỏ đến chất lượng cuộc sống
người dân.
2.2.2.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm
* Về dân số
Dân số là động lực phát triển kinh tế - xã hội, nhưng biến động dân số ảnh
hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của dân
số, Đảng bộ và chính quyền Gio Linh đã có những chủ trương phù hợp để kiểm soát
bùng nổ dân số trên địa bàn như chương trình kế hoạch hóa gia đình, rất được quan
tâm, chú trọng và triển khai sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
62
Bảng 2.28: Tỉ lệ sinh, tỉ lệ chết, tỉ lệ tăng tự nhiên qua các thời kì
ĐVT: o
/oo
Năm Tỉ lệ sinh Tỉ lệ chết Tỉ lệ tăng tự nhiên
2000 18,6 3,7 12,2
2005 14,8 4,1 10,7
2010 13,45 5,28 8,17
Hệ thống tổ chức kế hoạch hóa gia đình được thành lập từ huyện, xã tới thôn
xóm, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục thường xuyên được triển khai, giúp bà con
hiểu rõ vấn đề gia tăng dân số và các biện pháp tránh thai để hạn chế gia tăng dân số.
Nhờ thực hiện các chính sách rộng khắp, đồng bộ nên công tác kế hoạch hóa gia đình
đã đem lại những thành tích rất khả quan.
Thời kì 2000-2010, tỉ lệ sinh giảm nhưng không đáng kể còn ở mức cao. Năm
2000 là 18,6o
/oo [21, tr.9] đến năm 2010 giảm xuống còn 13o
/oo [16, tr.18]. Tỉ lệ sinh ở
thành thị và nông thôn có mức chênh lệch, ở thành thị thấp hơn so với nông thôn. Năm
2010, tỉ lệ sinh ở thành thị là 13o
/oo còn ở nông thôn 14,3o
/oo [22, tr.18]. Do tỉ lệ sinh
giảm nhanh nên tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên đã giảm xuống đáng kể từ 12,2o
/oo [23,
tr.9] năm 2000 xuống còn 8,17o
/oo năm 2010 [17, tr.18]. Dân số Gio Linh năm 2010 là
72.921 [16, tr.3] người so với năm 2000 là 72.861 người [7, tr.241].
Tỉ lệ dân số thành thị trong tổng số dân được sử dụng để đo mức độ phát triển
của đô thị, nhìn chung tốc độ đô thị hóa ở Gio Linh diễn ra còn chậm, dân số ở nông
thôn đang ở mức cao. Dân số thành thị năm 2000 là 7.062 người chiếm 9,69% [18,
tr.241], đến năm 2010 có 11.691 người chiếm 16,07% [10, tr.3]. Dân số nông thôn
năm 2000 là 65.799 người chiếm 90,31% [20, tr.241], năm 2010 có 61.011 người
chiếm 83,93% [8, tr.3]. Tốc độ phát triển phát triển đô thị Gio Linh còn thấp, tỉ lệ dân
số nông thôn cao. Qua đó cho thấy sự chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công
nghiệp, dịch vụ của huyện thời gian qua còn chậm.
* Về lao động và việc làm
Đảng bộ và chính quyền Gio Linh xác định giải quyết việc làm cho người lao
động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
xóa đói giảm nghèo.
63
Số người làm việc trong các ngành kinh tế tăng lên, năm 2000 là 30.310 người,
năm 2010 là 42.497 người, tăng 12.187 người so với năm 2000.
Phân bố lao động năm 2010 trong các lĩnh vực như sau: Trong nông - lâm - ngư
nghiệp 60,88%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng là 11,13%; thương
mại - dịch vụ 11,76%; lao động trong các nghành phi vật chất 16,23% [7, tr.13]. Cơ
cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng lao động ngành công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp và xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp.
Trong thời kì 2000-2010, thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội,
công tác đưa lao động đi làm việc ở các tỉnh phía Nam, xuất khẩu lao động, giải quyết
việc làm tại chỗ; đến năm 2010, huyện tổ chức điều tra cung cầu, nhu cầu học nghề ở
21 xã, thị trấn và các doanh nghiệp trên địa bàn. Giải quyết việc làm cho 1.128 lao
động; xuất khẩu lao động 137 người. Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 29% [1, tr.8], bình
quân mỗi năm tạo 1.084 chỗ làm mới [32, tr.13].
Huyện đã tiến hành tạo việc làm tại chỗ, thực hiện chủ trương giao đất, giao
rừng cho các hộ gia đình phát triển kinh tế. Trên địa bàn có 98 trang trại, đã tạo việc
làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động ở địa phương.
Trên địa bàn các dịch vụ nghề biển phát triển, giúp người dân ở các xã Gio Hải,
Gio Việt, Trung Giang, thị trấn Cửa Việt và các vùng lân cận có thêm việc làm góp
phần xóa đói giảm nghèo.
Huyện tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án xóa đói
giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm
cho người lao động. Nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm, vốn xóa đói giảm nghèo
của các chương trình, dự án đã góp phần không nhỏ vào giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn. Trong 2 năm 2009-2010, nguồn vốn giải quyết việc làm đã cho 384
hộ vay 6.428 triệu đồng, giải quyết và ổn định việc làm cho hơn 700 lao động [24,
tr.14].
Từ việc lồng ghép các chương trình dự án, các chính sách phát triển kinh tế - xã
hội, trong hai năm 2009-2010, trên địa bàn huyện đã giải quyết việc làm tại chỗ cho
hơn 1.344 lao động [29, tr.7]. Với chính sách giải quyết việc làm đúng đắn huyện đã
đề ra sẽ trở thành một động lực để đoàn kết được toàn dân, ổn định xã hội.
64
* Về đời sống dân cư
Cùng với sự phát triển đi lên của kinh tế, chương trình xóa đói giảm nghèo một
cách có hiệu quả, những năm gần đây đời sống của người dân có những bước chuyển
biến rõ rệt.
Nhằm đạt được mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV
(10/2005) đề ra bình quân mỗi năm giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 2,5-3%, Ủy ban nhân dân
huyện đã xây dựng Chương trình xóa đói giảm nghèo của huyện giai đoạn 2006-2010,
tỉ lệ hộ đói nghèo giảm từ 28% năm 2000 giảm xuống còn 14,22% năm 2010 [14,
tr.19]. Chương trình xóa mái tranh cho hộ nghèo được quan tâm đúng mức, huyện đã
tranh thủ mọi nguồn lực để thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Đến tháng 12/2010, toàn huyện đã xóa được 1.769 mái tranh cho các hộ nghèo, từ đó
tạo điều kiện thuận lợi cho những người nghèo yên tâm sản xuất [25, tr.19].
Đời sống của người dân ngày càng được nâng lên, thu nhập bình quân đầu
người một tháng là 250 ngàn đồng, khu vực thành thị là 287 ngàn đồng, khu vực nông
thôn là 241 ngàn đồng [7, tr.11]. Đã tăng lên 685 ngàn đồng năm 2010, trong đó dân
cư thành thị là 1.007 ngàn đồng, cư dân nông thôn là 615 ngàn đồng [8, tr.21].
Thu nhập có sự chênh lệch giữa 2 khu vực và khoảng cách có xu hướng ngày
một tăng lên. Năm 2000 thu nhập dân cư thị trấn cao gấp 1,5 lần thu nhập dân cư nông
thôn, năm 2010 đã tăng lên 1,7 lần [21, tr.5].
Nhu cầu chi tiêu của người dân cũng ngày một tăng lên theo thời gian, nhà ở ngày
càng được xây dựng khang trang, các vật dụng trong nhà ngày càng được chú trọng.
Những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã được lãnh đạo Huyện thực
hiện một cách sáng tạo, phù hợp tình hình địa phương, vì vậy, đời sống của nhân dân
đã từng bước ổn định và phát triển.
Tiểu kết
Trải qua chặng đường 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1990-2010), Đảng
bộ, chính quyền huyện Gio Linh đã tiếp thu một cách linh hoạt đường lối đổi mới vào
hoàn cảnh cụ thể của địa phương, cùng với sự lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân,
nền kinh tế của huyện đã có sự chuyển biến tích cực. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch rõ
nét theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm tỉ trọng nông nghiệp,
65
công nghiệp - xây dựng tăng tạo tiền đề quan trọng cho sự bứt phá trong giai đoạn tiếp
theo.
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Gio Linh giai đoạn 1990-2000
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Gio Linh giai đoạn 2000-2010
Nền kinh tế chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp, tự cung, tự cấp sang nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần. Kinh tế nông nghiệp phát triển khá đa dạng, toàn diện
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, năng suất và sản lượng nông sản hàng năm
không ngừng tăng lên. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp từng bước thay đổi theo chiều
hướng tăng tỉ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp không ngừng phát triển, bên cạnh các ngành nghề truyền thống ở
nông thôn đã xuất hiện thêm một số nghề mới có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Thương mại - dịch vụ phát triển rông khắp, hàng hóa lưu thông thuận tiện và giá
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010
Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000
66
cả các mặt hàng tiêu dừng thiết yếu khá ổn định; du lịch biển và các điểm cụm di tích
lịch sử ngày càng được đầu tư phát triển. Các ngành kinh tế tăng trưởng năm sau cao
hơn năm trước; cơ cấu kinh của huyện từng bước chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng các
ngành công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ tăng; tỉ trọng ngành nông
nghiệp giảm; phù hợp với lợi công cuộc đổi mới.
Việc phát triển các cụm công nghiệp, thủ công nghiệp có bước phát triển cao,
tạo công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh
tế. Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi.
Cùng với sự chuyển biến kinh tế, lĩnh vực xã hội cũng có những chuyển biến
tích cực. Tình hình xã hội có những bước tiến đáng kể. Giáo dục ngày càng được Đảng
bộ và chính quyền quan tâm, đầu tư phát triển giáo dục. Công tác chăm sóc sức khỏe
nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình đạt nhiều kết quả. Các vấn đề xã hội được
các cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể quan tâm. Phong trào đền ơn đáp nghĩa,
chương trình xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động được toàn
xã hội hưởng ứng nhiệt tình và mang lại những kết quả tốt đẹp. Đời sống người dân có
những thay đổi lớn, xóa hộ đói và xã nghèo, giảm phần lớn hộ nghèo, hộ giàu tăng
khá. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện.
Những thành quả đạt được trên các lĩnh vực đã tạo ra một diện mạo mới, sức mạnh
mới của huyện. Những kết quả mà Đảng bộ và nhân dân Gio Linh đạt được qua 10
năm nỗ lực phấn đấu, cần kiệm xây dựng quê hương, tuy còn khiêm tốn, chưa tương
xứng với tiềm năng, thế mạnh và chưa thỏa mãn với sự mong muốn của mỗi người
dân; nhưng đây là tiền đề và là cơ sở quan trọng tạo đà, tạo thế để Gio Linh vững bước
đi lên trên con đường đổi mới theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
những năm tiếp theo của thế kỉ XXI.
67
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
3.1. Đặc điểm
3.1.1. Nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng đi lên
Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu mà đường lối của Đảng bộ và
chính quyền Gio Linh đặt lên hàng đầu. Trải qua 20 năm đổi mới, xây dựng và phát
triển (1990-2010), có thể nhận thấy nền kinh tế Gio Linh chuyển biến theo chiều
hướng đi lên tương đối toàn diện và liên tục. Những năm đầu tái lập huyện, 1990-
1995, nhịp độ tăng trưởng kinh tế còn chậm. Đảng bộ và chính quyền huyện đề ra
những chủ trương, biện pháp khắc phục những khó khăn hạn chế nên kinh tế đã tăng
trưởng nhanh trong những năm 1996-2000 và phát triển vượt bậc theo theo hướng
công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong thời gian 2000-2010. Mặc dù năm 2005, tốc độ
tăng trưởng kinh tế có giảm xuống do ảnh hưởng của thiên tai hạn hán nặng nề, nhưng
nền kinh tế đã tăng trưởng nhanh trở lại vào những năm 2006-2010.
Giai đoạn 1990-1995, sau khi chia tách, nền kinh tế của huyện còn manh mún,
hoạt động kinh tế kém hiệu quả nhưng nhờ sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân sát
sao của Đảng các cấp và các ban ngành từ huyện đến cơ sở, quyết tâm vượt khó của
nhân dân nên Gio Linh giành được những kết quả có ý nghĩa trên nhiều lĩnh vực. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm giai đoạn 1990-1995 đạt 8,36%.
Giai đoạn 1996-2000, vốn và cơ sở vật chất tăng cường khá hơn, nền kinh tế đi dần
vào ổn định và có điều kiện phát triển; năm 1998 do chịu thiệt hại do thiên tai hạn hán
gây ra nên GDP chỉ đạt ở mức 8,17%. Bước sang giai đoạn 2000-2005, tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11% (Nghị quyết đề ra 9-10%). Sang giai đoạn
2006-2010, chịu nhiều tác động của nền kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam đứng trước
những thách thức về vấn đề hội nhập và phát triển. Trước tình hình đó, Gio Linh đã có
những bước chuyển biến đi lên, giữ vững tốc độ phát triển của nền kinh tế và khẳng
định vai trò của mình; tăng trưởng bình quân hằng năm của thời kì này là 12%.
Nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng đi lên trong suốt 20 năm qua đã
khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tiễn
của đất nước, chứng tỏ Gio Linh đã vận dụng thành công đường lối đổi mới của Đảng
68
để đề ra những chính sách đúng đắn, với một lộ trình thích hợp nhằm khai thác mọi
tiềm năng và huy động mọi nguồn lực vào công cuộc phát triển kinh tế.
3.1.2. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng bộ và nhân
dân Gio Linh đã tập trung mọi nguồn lực để thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông
nghiệp. Thời kì 1990-2010 đã có sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu kinh tế; tỉ trọng
của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp (khu vực I) trong cơ cấu GDP từ 82,5% năm 1990
qua các năm, đến năm 2010 đã giảm xuống còn 56,48%; khu vực công nghiệp (khu
vực II) và dịch vụ (khu vực III) tăng lên, với tỉ trọng khu vực II tăng từ 13,24% năm
1990 lên 19,25% năm 2010; khu vực III từ 4,26% năm 1990 tăng lên 24,27% năm
2010; trong cơ cấu GDP giảm tỉ trọng khu vực I, tăng khu vực II và III.
Về nông nghiệp, Gio Linh là một huyện thuần nông, chủ yếu là trồng lúa. Những
Nghị quyết của Đảng bộ và Hội đồng nhân dân huyện đều xác định đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế.
Đảng bộ huyện Gio Linh tập trung chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa trong nông nghiệp, hiện đại hóa trong nông thôn để thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời đẩy mạnh việc thâm canh, tăng năng suất cây
lương thực, coi trọng chỉ đạo việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, các loại giống cây
trồng vật nuôi năng suất cao được đưa vào sản xuất; các xã đầu tư trang thiết bị máy
móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhiều công trình thủy lợi như đê, trạm bơm, kênh
mương, … được xây dựng và nâng cấp. Người dân được tiếp xúc với những tiến bộ về
khoa học - kĩ thuật để đưa vào nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa.
Trong cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển biến phù hợp với đường lối của Đảng
đề ra, là giảm tỉ trọng của ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi và dịch
vụ nông nghiệp.
Gio Linh chọn hướng đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp mở đường cho
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương. Sản xuất công nghiệp thời kì
1990-2010 đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, trong 20 năm, sản xuất công nghiệp giữ
được tốc độ phát triển liên tục và nhịp độ tăng bình quân 11,2% năm. Tốc độ chuyển
dịch trong cơ cấu của khu vực II diễn ra theo chiều hướng tăng lên. Về tiểu thủ công
69
nghiệp, chính quyền đã cố gắng nhằm phục hồi và phát triển trở lại các nghề truyền
thống như nghề dệt chiếu Lâm Xuân, nghề mộc ở Cát Sơn; đồng thời tiếp tục mở rộng
phát triển làng nghề đan lát ở Lan Đình.
Về dịch vụ, trước 2000, ở Gio Linh chưa phát triển, chủ yếu là ăn uống. Từ năm
2001, ngành dịch vụ phát triển với nhiều loại hình. Cụ thể, năm 2010 trên địa bàn có
2.664 hộ kinh doanh cá thể; 94 tiểu thương buôn bán nhỏ, lẻ; 91 doanh nghiệp nhà
nước và nhiều loại hình dịch vụ phát triển đa dạng, đáp ứng nhu câu của nhân dân,
như: dịch vụ thương mại, dịch vụ phục vụ trong lĩnh vực du lịch; đã góp phần phục vụ
sản xuất và đời sống của nhân dân.
Như vậy, trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, khu vực kinh tế nông
nghiệp vẫn có sự tăng trưởng nhưng có xu hướng chuyển dịch sang khu vực công
nghiệp và dịch vụ, chứng tỏ nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa bền vững. Nông nghiệp vẫn có sự tăng trưởng đảm bảo lương thực, nhưng
trong cơ cấu kinh tế khu vực công nghiệp và dịch vụ dần thay thế vai trò chủ đạo của
khu vực nông nghiệp. Đây là một hướng phát triển phù hợp với đường lối phát triển
của Đảng và Nhà nước đề ra.
3.1.3. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh
Lúc mới tách huyện, hệ thống cơ sở hạ tầng của Gio Linh rất thiếu thốn, lạc hậu
về trang thiết bị, cơ cấu thiếu đồng bộ, mức đầu tư thấp. Sau 20 năm cơ sở hạ tầng
được nâng cấp mạnh mẽ với một diện mạo mới, đặc biệt là về giao thông vận tải, bưu
chính viễn thông và mạng lưới điện.
Về xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nông thôn, bằng nguồn vốn của Trung
ương, của tỉnh, các tổ chức quốc tế, ngân sách huyện và nhân dân đóng góp. Hệ thống
giao thông nội huyện, liên xã được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới, chương trình
bê tông hóa giao thông nông thôn được nhiều địa phương triển khai. Các tuyến đường
do tỉnh và Trung ương đầu tư trên địa bàn như đường Gio Thành - Trung Giang,
đường vào khu công nghiệp Quán Ngang, đường 75 Đông, đặc biệt đường Hồ Chí
Minh, đường 74 hoàn thành mở ra khả năng phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với sự đầu tư của Trung ương và của tỉnh, huyện đã hoàn thiện việc tu
sửa, nâng cấp hồ thủy lợi Kinh Môn, Hà Thượng, một số hồ đập nhỏ, kiên cố kênh
mương, cơ bản đảm bảo tưới tiêu cho gần 3.700 ha lúa hai vụ. Các chương trình 135,
70
chương trình kiên cố hóa trường học, dự án MAG, … đã góp phần tăng cường cơ sở
hạ tầng nông thôn.
Mạng lưới điện được mở rộng và nâng cấp, tất cả các hộ dân đều sử dụng điện
phục vụ quá trình sinh hoạt và sản xuất.
Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ
đạo, phục vụ có hiệu quả sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Trên địa bàn 100 số xã
và cơ quan đơn vị đã có máy điện thoại.
Hệ thống trường học, cơ sở y tế, trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị được
cao tầng hóa, kiên cố hóa; bê tông hóa giao thông nông thôn đạt 37,8%, một số tuyến
đường nội thị được nhựa hóa, công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng cầu, đường
được thực hiện khá tốt.
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội huyện Gio Linh đã có
những chuyển biến trên lĩnh vực xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng. Bêtông hóa
đường giao thông, điện, …đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, giao thông thuận tiện,
đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện và nâng lên rõ rệt.
3.1.4. Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt
Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống người dân cũng chuyển biến rõ rệt.
Những năm đầu sau khi tách huyện, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình trạng thiếu
lương thực xảy ra, bữa ăn của nhiều gia đình phải độn khoai sắn, nhưng nhờ sự hoạch định
đúng hướng của Đảng và Nhà nước, sản lượng lương thực tăng nhanh theo từng năm, vấn
đề lương thực dần được giải quyết; điều kiện ăn, ở ngày được đảm bảo hơn.
Sự chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh còn được thể hiện rõ nét là kết quả
của công tác xóa đói, giảm nghèo. Tỉ lệ hộ nghèo năm 1990 chiếm 30% dân số, đến
năm 2010 giảm xuống còn 14,22%. Công tác xóa nhà tạm bợ cho người dân được tiến
hành đồng bộ và đạt nhiều kết quả cao. Bên cạnh đó, vấn đề việc làm cho người nghèo
dần được giải quyết thông qua chính sách an sinh xã hội.
71
3.2. Ý nghĩa lịch sử
3.2.1. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh giai đoạn 1991-2010 khẳng
định tính đúng đắn trong đường lối của Đảng nói chung và Đảng bộ huyện Gio
Linh nói riêng trong công cuộc đổi mới
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), để giải quyết những khủng
hoảng về kinh tế, xã hội, Đảng đã thực hiện đổi mới đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực,
mà trọng tâm là đổi mới kinh tế.
Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, các chỉ thị và nghị quyết của Tỉnh ủy,
Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, Đảng bộ và nhân dân huyện Gio Linh đã vận dụng
sáng tạo và kịp thời vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình. Thực hiện công cuộc
đổi mới từ sau khi tái lập huyện năm 1990, sau hai mươi năm tiến hành đổi mới, trải
qua bốn kì đại hội đại biểu hội đồng nhân dân huyện và bốn kì kế hoạch 5 năm phát
triển kinh tế - xã hội, Gio Linh đã phát triển được sức mạnh của nền kinh tế nhiều
thành phần, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Bộ mặt kinh tế - xã hội của
huyện chuyển biến mạnh mẽ từ thành thị đến nông thôn. Niềm tin của nhân dân vào sự
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ngày càng nâng cao. Những thành tựu mà Gio Linh
đạt được đã khẳng định đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước là đúng đắn và
sáng tạo. Qua đó, cũng thấy được sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của Đảng bộ và
nhân dân Gio Linh trong công cuộc đổi mới.
3.2.2. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh thời kì 1990-2010 là quá trình
chuyển biến phù hợp với xu thế chung, hợp lí đúng qui luật
Gio Linh là một huyện có truyền thống cách mạng, nhân dân cần cù chịu khó
trong lao động, sản xuất. Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh cũng như những khó
khăn nảy sinh trong thời kì suy thoái kinh tế. Vì vậy, khi tách huyện, Gio Linh về mặt
kinh tế còn rất nghèo, đời sống người dân vô cùng khó khăn. Sau hai mươi năm xây
dựng và phát triển (1990-2010), nền kinh tế Gio Linh đã có bước tăng trưởng khá, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, cơ sở hạ tầng vật chất, kĩ thuật không ngừng
được tăng cường, nguồn nhân lực phát triển. Trên lĩnh vực xã hội có những bước tiến
bộ, đời sống người dân được nâng lên rõ rệt, tỉ lệ đói nghèo ngày càng giảm, chính trị
xã hội ổn định, chất lượng giáo dục, y tế ngày càng tăng.
Đảng bộ và nhân dân Gio Linh, dưới tác động của tình hình trong nước và thế
giới, những tiến bộ khoa học kĩ thuật, đã nắm bắt được thời cơ và xu thế của thời đại,
72
ra sức xây dựng, phát triển kinh tế, có nhiều ngành nghề mới ra đời, thu hút được
nhiều nguồn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong tiến trình phát triển kinh tế - xã
hội.
Đánh giá tổng thể kinh tế - xã hội Gio Linh trong hai mươi năm qua, thông qua
tất cả các mặt đều thấy được sự tăng trưởng và phát triển đúng đắn, hợp qui luật của sự
nghiệp đổi mới trong giai đoạn quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhà
nước đề ra, từng bước đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ
và văn minh”.
3.2.3. Chuyển biến kinh tế - xã hội thời kì 1990-2010 đã tạo ra tiền đề thực
hiện công cuộc đổi toàn diện nền kinh tế - xã hội
Sau khi tái lập huyện, Đảng bộ và nhân dân huyện Gio Linh đã trải qua bốn kế
hoạch 5 năm (1991-1995), (1996-2000), (2001-2005) và (2006-2010). Với những khó
khăn trong những năm trước đổi mới như kinh tế phát triển thiếu ổn định, xã hội
chuyển biến chậm; nhưng nhờ khả năng vận dụng đường lối hợp lí của Đảng bộ và
chính quyền nên thời kì 1990-2010 kinh tế - xã hội trên địa bàn đã có những chuyển
biến tích cực, năng lực sản xuất toàn bộ xã hội tăng lên rõ rệt trên tất cả các ngành:
nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, dịch vụ, thương mại, cơ sở hạ tầng
được xây dựng và hoàn thiện theo hướng hiện đại.
Kinh tế phát triển cùng với đó là năng lực sản xuất tăng cùng quá trình đổi mới
cơ chế quản lí, đổi mới phương thức quản trị kinh doanh. Từ một nền kinh tế nông
nghiệp độc canh cao chuyển sang nền kinh tế tương đối hoàn diện, cân đối giữa nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Kinh tế phát triển thúc đẩy các mặt xã hội được cải thiện và tiến bộ. Đời sống
dân cư ổn định, được nâng lên, tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh. Mạng lưới y tế, giáo dục,
văn hóa thông tin mở rộng cả về qui mô và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của
người dân.
Những thành tựu đạt được chứng tỏ chuyển biến kinh tế - xã hội ở Gio Linh
thời kì 1990-2010 là tương đối toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới. Đó cũng là tiền đề
và nền tảng quan trọng để Gio Linh tiếp tục phát triểm cùng nhịp độ với khu vực và cả
nước, thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội, từng
bước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
73
3.3. Bài học kinh nghiệm
Sau 20 năm (1990-2010) xây dựng và phát triển với nhiều biến động và thăng
trầm, kinh tế Gio Linh đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Từ những kết quả đạt được,
Đảng bộ huyện đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quí báu, cả thành công lẫn thất bại
để phát huy và khắc phục trong những giai đoạn tiếp theo.
3.3.1. Nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo đường
lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, kịp thời đề ra các chính sách cụ thể, vận
dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương; từng lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Bắt tay xây dựng quê hương sau ngày giải phóng trong bối cảnh của một huyện
chiến tranh để lại những hậu quả khá nặng nề, thời tiết khí hậu khắc nghiệt. Việc nhận
thức đầu đủ và vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng một cách đúng đắn, sáng tạo
và xuất phát từ thực tiễn địa phương để đề ra những nghị quyết, chủ trương đúng đắn,
sáng tạo, những giải pháp bước đi thích hợp để tạo nên bước phát triển mạnh mẽ, toàn
diện, là nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu và cũng là yếu tố có tính quyết định đến thành
công của Đảng bộ.
Để thực hiện công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Huyện ủy
đã kịp thời xây dựng được qui hoạch tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội thời kì
1991-2000 và 2001-2010 cũng như đề ra các Nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh
tế miền biển - vùng cát, kinh tế vùng gò đồi - miền núi, công nghiệp - tiểu thủ công,
thương mại - dịch vụ; trên cơ sở đó đã tạo được những bước đột phá, đưa nền kinh tế -
xã hội của huyện từng bước phát triển toàn diện, đúng hướng, thu được những kết quả
quan trọng, mở ra triển vọng mới đưa Gio Linh vững bước đi vào thời kì đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước.
3.3.2. Các chủ trương, nhiệm vụ đề ra phải hợp lòng dân, thiết thực phục
vụ lợi ích nhân dân, được nhân dân tham gia bàn bạc, thì sẽ tạo được phong trào
quần chúng rộng rãi; giúp công tác lãnh đạo, điều hành đạt hiệu quả
Cách mạng là sự nghiệp của dân và vì dân, do đó mỗi khi nhiệm vụ cách mạng
đặt ra hợp với lòng dân, vì lợi ích của dân thì nhiệm vụ đó được hoàn thành và ngược
lại. Đây là bài học lịch sử vô giá đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức và thực
hiện đầy đủ.
Chính nhờ các chủ trương, nhiệm vụ đề ra hợp lòng dân, thiết thực phục vụ lợi
ích nhân dân, mà huyện Gio Linh vượt qua những khó khăn, thử thách trong giai đoạn
74
đầu tái lập huyện. Trong thời kì đổi mới, đã chăm lo đúng mức đến quyền làm chủ của
nhân dân, phát huy cao độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đoàn kết toàn dân, tất
cả hướng vào mục tiêu xây dựng quê hương giàu đẹp.
Tiếp tục phát huy được vai trò của các mặt trận, các đoàn thể và quyền làm chủ
của nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phải tập trung vận động đoàn viên,
hội viên hưởng ứng thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, như cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới”, “Xóa đói giảm nghèo”, thực
hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở và các chính sách trong lĩnh vực tôn giáo, dân tộc, góp
phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do
Đảng đề ra.
Trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bài học này
càng có ý nghĩa hơn. Đảng bộ phải chăm lo đầy đủ và kịp thời đến đời sống, lợi ích
của quần chúng, thật sự phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân.
3.3.3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp trở thành ngành kinh tế động lực
Tăng cường xúc tiến đầu tư, xây dựng các mối quan hệ cởi mở, tin cậy nhằm
thu hút một số tập đoàn kinh tế mạnh, các doanh nghiệp có tiềm lực vốn trong nước và
nước ngoài đầu tư vào phát triển các dự án có qui mô lớn, tạo động lực, bước đột phá
cho nền kinh tế. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kĩ thuật khu công nghiệp Quán Ngang,
các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thu hút đầu tư từng bước mở rộng diện
tích.
Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng và phát huy được lợi
thế của huyện về hạ tầng, lao động, nguồn nguyên liệu, thị trường. Tập trung chú trọng
tổ chức lại sản xuất các ngành nghề có thế mạnh như chế biến nông - lâm - thủy sản,
sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, sữa chữa và đóng mới tàu thuyền, phát triển các
nghề mới như sản xuất chất đốt vỏ trấu, mùn cưa, dao cạo mủ, tấm lợp, chẻ đá xây
dựng, … các nghề truyền thống tiếp tục được duy trì, phát huy hiệu quả, tích cực phối
hợp với các ngành cấp tỉnh thực hiện có hiệu quả các giải pháp, tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất tại khu công nghiệp Quán Ngang.
3.3.4. Phát triển thương mại - dịch vụ, du lịch thành ngành kinh tế chủ
đạo, đẩy mạnh khai thác lợi thế của địa phương
Gio Linh có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và
đường thủy. Đi qua địa phận của huyện có các tuyến giao thông huyết mạch như:
75
Quốc lộ 1A, tuyến đường Bắc - Nam, đường Hồ Chí Minh; đặc biệt là nằm cuối tuyến
đường Xuyên Á thông ra Biển Đông bằng cảng Cửa Việt là một nút giao thông quan
trọng trong mối liên kết của hành lang kinh tế Đông - Tây, cho phép huyện mở rộng
giao lưu kinh tế với các địa phương trong tỉnh, cả nước, cũng như hội nhập khu vực và
Quốc tế. Mạng lưới tỉnh lộ trên địa bàn huyện có mật độ khá lớn, cùng với việc xây
dựng tuyến đường cơ động ven biển Cửa Việt - Cửa Tùng và hai cầu Cửa Tùng, Cửa
Việt đã tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng lưu thông hàng hóa, liên kết phát triển với
các huyện Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng và các địa phương khác trong tỉnh. Mặt
khác, Gio Linh còn tiếp giáp với Thành phố Đông Hà - vùng trung tâm động lực phát
triển của tỉnh ra các vùng lân cận. Cùng với sự phát triển đi lên của tỉnh, trên địa bàn
Gio Linh đã hình thành các vùng trọng điểm kinh tế lớn của tỉnh như Khu công nghiệp
Quán Ngang, khi dịch vụ - du lịch Cửa Việt đã và đang được tập trung đầu tư về kết
cấu hạ tầng và thu hút đầu tư. Hệ thống các cơ sở hạ tầng khác nhau như mạng lưới
điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông, các kết cấu hạ tầng xã hội không ngừng
được đầu tư nâng cấp, mở rộng, tạo thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của huyện.
Những lợi thế về vị trí địa lí - kinh tế hơn hẳn so với một số huyện trong tỉnh đã
và đang tạo ra cho Gio Linh một nền tảng rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng
giao lưu, hợp tác kinh tế trong tỉnh và cả nước; tăng cường liên kết, hội nhập với các
nước trong khu vực và quốc tế, đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển phát triển kinh tế -
xã hội trong thời gian tới.
Hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng của Gio Linh như du lịch thương
mại, du lịch biển - đảo, du lịch di tích lịch sử; hình thành các tour du lịch trong mối
liên kết với du lịch các huyện lân cận trong tỉnh, với miền Trung.
Xây dựng chương trình liên kết, hợp tác phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch
trong nước và quốc tế, tổ chức hội chợ khu vực thường niên; đặc biệt chú trọng đầu tư
một số dự án phát triển Khu du lịch biển Cửa Việt, Cửa Tùng.
3.3.5. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Cán bộ là nhân tố quyết định mọi thành bại của các chính sách, chủ trương và
đường lối của Đảng và Nhà nước, điều đó đã được minh chứng trong quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Cho nên phải thu hút, đào tạo lực lượng
lao động có trình độ cao, đủ khả năng tiếp thu và làm chủ các công nghệ, kĩ thuật hiện
76
đại, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh để phát triển. Xây dựng
đội ngũ cán bộ quản lí có năng lực tổ chức, điều hành, ngoại giao; có tầm nhìn xa và
tâm huyết với sự nghiệp phát triển chung. Đào tạo đội ngũ công nhân kĩ thuật phù hợp
với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành, nghề trên địa bàn.
Đào tạo, nâng cao tính chuyên nghiệp, phong cách phục vụ văn minh, lịch sự của lực
lượng lao động ngành thương mại, dịch vụ, du lịch đáp ứng nhu cầu hội nhập. Chăm lo
phát triển nguồn lực cán bộ, làm tốt công tác qui hoạch cán bộ cùng với việc bố trí và
sử dụng đúng cán bộ, nhất là người đứng đầu, xây dựng đội ngũ tham mưu giỏi là yêu
cầu hàng đầu không thể thiếu trong phát triển kinh tế.
Xây dựng đội ngũ cán bộ có kiến thức và năng lực thực tiễn, năng động và linh
hoạt vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa
phương, nhạy bén trong công việc, tích cực đổi mới, có quyết tâm và trách nhiệm cao,
đặc biệt đối với các nhiệm vụ mới và công việc khó. Tăng cường quản lí, rèn luyện đội
ngũ cán bộ, đề cao tính tự giác, tu dưỡng xây dựng đội ngũ lãnh đạo có phẩm chất đạo
đức tốt trên tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề.
77
KẾT LUẬN
1. Gio Linh có truyền thống cách mạng, nhân dân kiên cường, dũng cảm trong
cuộc chiến đấu và cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất. Tuy nhiên, do hậu quả của
chiến tranh và những vấn đề nảy sinh trong thời kì suy thoái kinh tế của cơ cấu hành
chính hợp nhất, nên tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn khu vực huyện Gio Linh gặp
nhiều khó khăn. Vì vậy, khi chia tách Gio Linh là một huyện có điểm xuất phát thấp so
với các huyện khác trong tỉnh, đời sống người dân không ổn định.
2. Từ năm 1990 đến năm 2010, thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước,
Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện Gio Linh đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi
mới của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương và đã giành được nhiều thành tựu
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Về kinh tế: Từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế hàng
hóa hóa theo cơ cấu nông - lâm - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ. Sản
xuất nông nghiệp đã phát triển theo hướng toàn diện, cơ cấu cây trồng, vật nuôi ngày
càng hợp lí hơn, từng bước đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
của nhân dân. Sản lượng lương thực hàng năm đều tăng. Sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ đều có sự phát triển, thu nhập bình quân đầu
người tăng. Bộ mặt huyện được cải thiện rõ rệt.
Về xã hội: Đời sống vật chất và văn tinh thần không ngừng được nâng cao và
cải thiện. Giáo dục được coi là sự nghiệp của toàn dân có sự phát triển cả về qui mô,
chất lượng và cơ sở ha tầng. Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân được quan
tâm. Thực hiện tốt các chính sách đối với thương binh, gia đình chính sách, người có
công với cách mạng.
3. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hiện nay nền kinh tế - xã hội Gio
Linh vẫn còn những hạn chế:
Tốc độ phát triển kinh tế còn chậm, vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông - lâm . Sự
phát triển kinh tế giữa các vùng trong huyện chưa đồng đều. Sản phẩm bán ra thị
trường chưa phong phú đa dạng. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa khai
thác hết tiềm năng của huyện, thiết bị kĩ thuật còn lạc hậu, năng suất, chất lượng còn
thấp, thu nhập của công nhân chưa cao. Công nghiệp chưa gắn chặt chẽ với nông - lâm
78
nghiệp và thị trường nông thôn trên địa bàn huyện, đặc biệt là công nghiệp chế biến
nông lâm sản.
Hoạt động của các doanh nghiệp còn kém hiệu quả, chưa chủ động kinh doanh.
Một số doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư lớn, qui mô và năng lực cao nhưng khai
thác chưa có hiệu quả, sản xuất kinh doanh còn thua lỗ. Tài chính doanh nghiệp còn
yếu kém, khả năng tự chủ về tài chính thấp, phần lớn phụ thuộc vào vốn vay. Doanh
nghiệp tư nhân phát triển mạnh nhưng mang tính tự phát, phát triển không cân đối,
phần lớn số doanh nghiệp tập trung vào hai ngành: Xây dựng và Thương mại, nhà
hàng, khách sạn, số doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp chiếm
tỉ lệ thấp.
Một số mặt xã hội chuyển biến còn chậm và còn nhiều hạn chế. Đời sống dân
cư nhiều nơi vẫn còn khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra với tốc độ nhanh,
khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa.
Để đưa nền kinh tế của huyện tiếp tục phát triển trong giai đoạn tới, khai thác
tốt tiềm năng, lợi thế của vùng, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau:
Trước hết cần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Con người bao giờ cũng là
yếu tố quyết định hàng đầu, thống nhất quan điểm con người vừa mực tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển, vì vậy cần phải có chiến lược nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực một cách toàn diện. Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, thường xuyên
có sự đánh giá nguồn nhân lực để kịp thời điều chỉnh sao cho đảm bảo về chất lượng
và số lượng ngang tầm với nhiệm vụ. Thực hiện các chính sách đào tạo, đào tạo lại, sử
dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ quản lí các cấp, các ngành, đội ngũ quản lí trong các
thành phần kinh tế, các nghệ nhân và thợ lành nghề; đào tạo nghề cho mọi đối tượng
lao động. Có chính sách ưu tiên để thu hút nhân tài và chế độ ưu đãi đối với người làm
việc ở vùng sâu, vùng xa.
Khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện, kết hợp huy động các nguồn lực từ
bên ngoài để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nền kinh tế nhằm đạt tốc độ tăng trưởng cao. Xây dựng Gio Linh thành đầu tàu
phát triển kinh tế của huyện, xứng đang vai trò là trung tâm huyện lị.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đô thị, tăng tỉ trọng thương mại - dịch
vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỉ trọng nông nghiệp.
79
Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng thương mại, du lịch, xây dựng mạng lưới chợ;
hình thành một số cụm thương mại, dịch vụ; cụm du lịch sinh thái, khu vui chơi giải
trí. Tập trung đầu tư xây dựng các công trình quan trọng như khách sạn, nhà hàng,
trung tâm thông tin - viễn thông, tài chính - ngân hàng, …tạo tiền đề đưa hoạt động
thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn huyện phát triển, đồng thời giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế.
Phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp sạch, hàm lượng kĩ thuật cao, ít
gây ô nhiễm; phát triển một nền công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, hiệu quả.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội. Nâng cao mức
sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, thu hút vốn đầu
tư vào khu công nghiệp trên địa bàn nhằm tăng giá trị kinh tế và giải quyết sức ép về
việc làm cho người lao động, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội.
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, giữ vững cân bằng sinh thái, bảo
tồn các di tích văn hóa - lịch sử và phong tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố hệ thống chính trị, bảo vệ
an ninh quốc phòng, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh; góp phần giữ
vững an ninh quốc phòng trên địa bàn toàn huyện.
Với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện, trong những năm
tới huyện sẽ có những chuyển biến tích cực hơn về mọi mặt, đạt được những thành tựu
to lớn hơn, nền kinh tế phát triển nhanh hơn và đời sống nhân dân ngày càng được
nâng lên. Gio Linh trở thành một huyện mạnh về kinh tế, văn minh và hiện đại trong
một tương lai không xa.

More Related Content

DOC
Luận văn: Đô thị hóa ngoại thành Hà Nội phát triển bền vững, HAY
PDF
Luận văn: Chuyển biến kinh tế, xã hội Huyện Tân Yên
DOC
Luận văn: Đô thị hóa ngoại thành Hà Nội theo hướng phát triển bền vững
PPTX
Bài 4 chuan.pptx
DOCX
Cách viết báo cáo thực tập tốt nghiệp đạt điểm cao
PDF
ĐẠI-HỘI-ĐẠI-BIỂU-LẦN-THỨ-VI (4).pdf
DOCX
Liệt Kê 200 Đề Tài Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Môi Trường
PDF
Luận văn: Bản sắc văn hóa Tây Nguyên trong văn xuôi H’Linh Niê
Luận văn: Đô thị hóa ngoại thành Hà Nội phát triển bền vững, HAY
Luận văn: Chuyển biến kinh tế, xã hội Huyện Tân Yên
Luận văn: Đô thị hóa ngoại thành Hà Nội theo hướng phát triển bền vững
Bài 4 chuan.pptx
Cách viết báo cáo thực tập tốt nghiệp đạt điểm cao
ĐẠI-HỘI-ĐẠI-BIỂU-LẦN-THỨ-VI (4).pdf
Liệt Kê 200 Đề Tài Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Môi Trường
Luận văn: Bản sắc văn hóa Tây Nguyên trong văn xuôi H’Linh Niê

What's hot (20)

PDF
Luận văn: Phát triển nông nghiệp bền vững dựa vào cộng đồng, HOT
PDF
Luận văn: Diễn ngôn chấn thương trong tiểu thuyết nữ Việt Nam, HAY
PDF
Ảnh Hưởng Phương Tây Đối Với Văn Hóa Nhật Bản Thời Kỳ Minh Trị, Kinh Nghiệm C...
PDF
Những vẫn đề cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam
PPTX
LỊCH SỬ ĐẢNG 27- NHÓM 3.pptx
DOCX
Vùng đồng bằng sông cửu long
DOCX
đồ áN tốt nghiệp thiết kế hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu công ngh...
PPTX
VĂN MINH ĐÔNG NAM Á ( Lịch sử văn minh thế giới)
PDF
Luận văn: Phát triển công nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi, HAY
PPTX
6 vung xinh dep viet nam
DOC
Luận văn: Phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố
PDF
Luận văn: Sự chuyển biến trong văn học nửa cuối thế kỉ XIX, HAY
DOC
196-cau-hoi-dap-duong-loi-dang-cong-san
PDF
Luận án: Quan hệ Hàn Quốc - Hoa Kỳ (1993 - 2012), HOT
PPTX
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
PDF
TRIẾT HỌC- GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP.pdf
PDF
Luận án: Xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại, 9đ
PDF
Luận văn “ trung với nước, hiếu với dân” trong tư tường đạo đức hổ chí minh
PPT
vấn đề ngập lụt ở TPHCM
PPT
Cơ sở, quá trình hình thành & phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh
Luận văn: Phát triển nông nghiệp bền vững dựa vào cộng đồng, HOT
Luận văn: Diễn ngôn chấn thương trong tiểu thuyết nữ Việt Nam, HAY
Ảnh Hưởng Phương Tây Đối Với Văn Hóa Nhật Bản Thời Kỳ Minh Trị, Kinh Nghiệm C...
Những vẫn đề cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam
LỊCH SỬ ĐẢNG 27- NHÓM 3.pptx
Vùng đồng bằng sông cửu long
đồ áN tốt nghiệp thiết kế hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu công ngh...
VĂN MINH ĐÔNG NAM Á ( Lịch sử văn minh thế giới)
Luận văn: Phát triển công nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi, HAY
6 vung xinh dep viet nam
Luận văn: Phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố
Luận văn: Sự chuyển biến trong văn học nửa cuối thế kỉ XIX, HAY
196-cau-hoi-dap-duong-loi-dang-cong-san
Luận án: Quan hệ Hàn Quốc - Hoa Kỳ (1993 - 2012), HOT
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
TRIẾT HỌC- GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP.pdf
Luận án: Xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại, 9đ
Luận văn “ trung với nước, hiếu với dân” trong tư tường đạo đức hổ chí minh
vấn đề ngập lụt ở TPHCM
Cơ sở, quá trình hình thành & phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh
Ad

Similar to Luận văn: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh 1990-2010 (20)

PDF
ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC(TỈNH HẢI DƢƠNG) LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP...
PDF
Luận án: Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường ở Việt Nam
PDF
Luận văn thạc sĩ.
PDF
Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa
PDF
Chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hữu Lũng, HAY
PDF
Luận văn: Chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Hòa Vang
PDF
Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm...
PDF
Sự biến đổi cơ cấu xã hội của nông dân vùng ĐB sông Cửu Long
DOC
Chuyển Biến Kinh Tế, Xã Hội Huyện Tân Yên Tỉnh Bắc Giang Từ Năm 1997 Đến Năm ...
PDF
Luận văn: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Minh Hóa (Quảng Bình) từ 1996 đế...
PDF
Luận văn: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Minh Hóa (Quảng Bình)
PDF
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG (1997 - 2015) - TẢI ...
PDF
Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, HAY
PDF
Luận văn: Quá trình đô thị hóa ở quận 7 (1986 – 2010), HAY, 9đ
PDF
Luận án: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển nông nghiệp
PDF
Đề tài: Thực hiện chính sách tạo việc làm tỉnh Thái Nguyên, HAY
PDF
Luận văn: Chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
PDF
Luận văn: Sự thay đổi địa danh và địa giới hành chính tỉnh Quảng Ngãi thời k...
PDF
Luận văn: Sự thay đổi địa danh và địa giới hành chính tỉnh Quảng Ngãi
PDF
Đảng bộ huyện Bình Lục (Hà Nam) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới.pdf
ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC(TỈNH HẢI DƢƠNG) LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP...
Luận án: Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường ở Việt Nam
Luận văn thạc sĩ.
Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa
Chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Hữu Lũng, HAY
Luận văn: Chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Hòa Vang
Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm...
Sự biến đổi cơ cấu xã hội của nông dân vùng ĐB sông Cửu Long
Chuyển Biến Kinh Tế, Xã Hội Huyện Tân Yên Tỉnh Bắc Giang Từ Năm 1997 Đến Năm ...
Luận văn: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Minh Hóa (Quảng Bình) từ 1996 đế...
Luận văn: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Minh Hóa (Quảng Bình)
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG (1997 - 2015) - TẢI ...
Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, HAY
Luận văn: Quá trình đô thị hóa ở quận 7 (1986 – 2010), HAY, 9đ
Luận án: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển nông nghiệp
Đề tài: Thực hiện chính sách tạo việc làm tỉnh Thái Nguyên, HAY
Luận văn: Chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Luận văn: Sự thay đổi địa danh và địa giới hành chính tỉnh Quảng Ngãi thời k...
Luận văn: Sự thay đổi địa danh và địa giới hành chính tỉnh Quảng Ngãi
Đảng bộ huyện Bình Lục (Hà Nam) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới.pdf
Ad

More from Dịch vụ viết thuê Luận Văn - ZALO 0932091562 (20)

DOC
Nghiên Cứu Thu Nhận Pectin Từ Một Số Nguồn Thực Vật Và Sản Xuất Màng Pectin S...
DOC
Phát Triển Cho Vay Hộ Kinh Doanh Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông...
DOC
Nghiên Cứu Nhiễu Loạn Điện Áp Trong Lưới Điện Phân Phối.doc
DOC
Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Kết Quả Kinh Doanh Của Các Công Ty Ngành...
DOC
Xây Dựng Công Cụ Sinh Dữ Liệu Thử Tự Động Cho Chương Trình Java.doc
DOC
Phát Triển Công Nghiệp Huyện Điện Bàn Tỉnh Quảng Nam.doc
DOC
Phát Triển Kinh Tế Hộ Nông Dân Trên Địa Bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình...
DOC
Vận Dụng Mô Hình Hồi Quy Ngưỡng Trong Nghiên Cứu Tác Động Của Nợ Lên Giá Trị ...
DOC
Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn Của Doanh Nghiệp Ngành Hàng...
DOC
Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Kinh Doanh Của Các Doanh Nghiệp...
DOC
Hoàn Thiện Công Tác Thẩm Định Giá Tài Sản Bảo Đảm Trong Hoạt Động Cho Vay Tại...
DOC
Biện Pháp Quản Lý Xây Dựng Ngân Hàng Câu Hỏi Kiểm Tra Đánh Giá Kết Quả Học Tậ...
DOC
Hoàn Thiện Công Tác Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng Tmcp Công Thương Việt Nam Chi ...
DOC
Ánh Xạ Đóng Trong Không Gian Mêtric Suy Rộng.doc
DOC
Giải Pháp Hạn Chế Nợ Xấu Đối Với Khách Hàng Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương...
DOC
Hoàn Thiện Công Tác Đào Tạo Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Phường Trên Địa Bàn Quận...
DOC
Giải Pháp Marketing Cho Dịch Vụ Ngân Hàng Điện Tử Tại Ngân Hàng Tmcp Hàng Hải...
DOC
Biện Pháp Quản Lý Công Tác Tự Đánh Giá Trong Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục Cá...
DOC
Kiểm Soát Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngành Xây Dựng Tại Nhtmcp Công Thương...
DOC
Diễn Ngôn Lịch Sử Trong Biên Bản Chiến Tranh 1-2 -3- 4.75 Của Trần Mai Hạnh.doc
Nghiên Cứu Thu Nhận Pectin Từ Một Số Nguồn Thực Vật Và Sản Xuất Màng Pectin S...
Phát Triển Cho Vay Hộ Kinh Doanh Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông...
Nghiên Cứu Nhiễu Loạn Điện Áp Trong Lưới Điện Phân Phối.doc
Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Kết Quả Kinh Doanh Của Các Công Ty Ngành...
Xây Dựng Công Cụ Sinh Dữ Liệu Thử Tự Động Cho Chương Trình Java.doc
Phát Triển Công Nghiệp Huyện Điện Bàn Tỉnh Quảng Nam.doc
Phát Triển Kinh Tế Hộ Nông Dân Trên Địa Bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình...
Vận Dụng Mô Hình Hồi Quy Ngưỡng Trong Nghiên Cứu Tác Động Của Nợ Lên Giá Trị ...
Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn Của Doanh Nghiệp Ngành Hàng...
Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Kinh Doanh Của Các Doanh Nghiệp...
Hoàn Thiện Công Tác Thẩm Định Giá Tài Sản Bảo Đảm Trong Hoạt Động Cho Vay Tại...
Biện Pháp Quản Lý Xây Dựng Ngân Hàng Câu Hỏi Kiểm Tra Đánh Giá Kết Quả Học Tậ...
Hoàn Thiện Công Tác Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng Tmcp Công Thương Việt Nam Chi ...
Ánh Xạ Đóng Trong Không Gian Mêtric Suy Rộng.doc
Giải Pháp Hạn Chế Nợ Xấu Đối Với Khách Hàng Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương...
Hoàn Thiện Công Tác Đào Tạo Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Phường Trên Địa Bàn Quận...
Giải Pháp Marketing Cho Dịch Vụ Ngân Hàng Điện Tử Tại Ngân Hàng Tmcp Hàng Hải...
Biện Pháp Quản Lý Công Tác Tự Đánh Giá Trong Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục Cá...
Kiểm Soát Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngành Xây Dựng Tại Nhtmcp Công Thương...
Diễn Ngôn Lịch Sử Trong Biên Bản Chiến Tranh 1-2 -3- 4.75 Của Trần Mai Hạnh.doc

Recently uploaded (20)

PPTX
Báo cáo Brucella sữa - trọng nghĩa..pptx
PPTX
[123doc] - bai-giang-hoc-phan-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-trong-du-lich-consumer-...
PPTX
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
PDF
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
PPTX
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
PDF
BÀI GIẢNG TÓM TẮT XÁC SUẤT THỐNG KÊ (KHÔNG CHUYÊN TOÁN, 2 TÍN CHỈ) - KHOA SƯ...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 10 BÓNG CHUYỀN - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THE...
PDF
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...
PDF
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
PPTX
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
PPTX
Luat dat dai 2024 chi tiet, khai quat nh
PDF
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
PDF
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
DOCX
bao cao thuc tap nhan thuc_marketing_pary2
PDF
CHƯƠNG 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TẸEEEEEEEEEEE
PDF
BÀI GIẢNG CƠ SỞ SINH HỌC NGƯỜI - KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN ĐẠI HỌC ĐỒNG ...
PDF
FULL TN LSĐ 2024 HUIT. LICH SU DANGGGGGG
PDF
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 THEO FORM THI MỚI BGD - TẬP 2 - NĂM HỌC 2025-202...
Báo cáo Brucella sữa - trọng nghĩa..pptx
[123doc] - bai-giang-hoc-phan-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-trong-du-lich-consumer-...
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
BÀI GIẢNG TÓM TẮT XÁC SUẤT THỐNG KÊ (KHÔNG CHUYÊN TOÁN, 2 TÍN CHỈ) - KHOA SƯ...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 10 BÓNG CHUYỀN - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THE...
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
Luat dat dai 2024 chi tiet, khai quat nh
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
bao cao thuc tap nhan thuc_marketing_pary2
CHƯƠNG 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TẸEEEEEEEEEEE
BÀI GIẢNG CƠ SỞ SINH HỌC NGƯỜI - KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN ĐẠI HỌC ĐỒNG ...
FULL TN LSĐ 2024 HUIT. LICH SU DANGGGGGG
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 THEO FORM THI MỚI BGD - TẬP 2 - NĂM HỌC 2025-202...

Luận văn: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh 1990-2010

  • 1. ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CAO THỊ THU HIỀN CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH (QUẢNG TRỊ) TỪ 1990 ĐẾN 2010 ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Huế, tháng 9 năm 2017
  • 2. i ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CAO THỊ THU HIỀN CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH (QUẢNG TRỊ) TỪ 1990 ĐẾN 2010 Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM Mã số: 60 22 03 13 ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG CHÍ HIẾU Huế, tháng 9 năm 2017
  • 3. 2 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU.........................................................................................................................5 1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................................5 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...........................................................................................6 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................9 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................10 5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ...............................................................10 6. Đóng góp của luận văn..............................................................................................11 7. Bố cục của luận văn...................................................................................................11 Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH .....................................................................................12 1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên............................................................................12 1.1.1. Điều kiện tự nhiên ...............................................................................................12 1.1.2. Tài nguyên...........................................................................................................13 1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................................14 1.2.1. Nguồn lực kinh tế ................................................................................................14 1.2.2. Nguồn lực xã hội .................................................................................................17 1.3. Chủ trương của Đảng..............................................................................................20 1.3.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và tỉnh Quảng Trị.........................................20 1.3.1.1. Chủ trương của Trung ương Đảng ...................................................................20 1.3.1.2. Chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Trị..................................................................22 1.3.2. Chủ trương của Huyện ủy Gio Linh....................................................................23 Chương 2. CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2010 ............................................................................................................27 2.1. Về chuyển biến kinh tế..............................................................................................27 2.1.1. Thời kì 1990-2000...............................................................................................27 2.1.1.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp....................................................................27 2.1.1.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng.................34 2.1.1.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch ........................................................37 2.1.2. Thời kì 2000-2010...............................................................................................39
  • 4. 3 2.1.2.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp....................................................................39 2.1.2.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng.................46 2.1.2.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch ........................................................49 2.2. Về chuyển biến xã hội ............................................................................................52 2.2.1. Thời kì 1990-2000...............................................................................................52 2.2.1.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế .................................................................................52 2.2.1.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm.............................................................55 2.2.2. Thời kì 2000-2010...............................................................................................58 2.2.2.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế .................................................................................58 2.2.2.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm.............................................................61 Chương 3. ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ...67 3.1. Đặc điểm.................................................................................................................67 3.1.1. Nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng đi lên...............................................67 3.1.2. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa............................................................................................................................68 3.1.3. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh...................................................69 3.1.4. Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt..............................................................70 3.2. Ý nghĩa lịch sử........................................................................................................71 3.2.1. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh giai đoạn 1991-2010 khẳng định tính đúng đắn trong đường lối của Đảng nói chung và Đảng bộ huyện Gio Linh nói riêng trong công cuộc đổi mới................................................................................................71 3.2.2. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh thời kì 1990-2010 là quá trình chuyển biến phù hợp với xu thế chung, hợp lí đúng qui luật.....................................................71 3.2.3. Chuyển biến kinh tế - xã hội thời kì 1990-2010 đã tạo ra tiền đề thực hiện công cuộc đổi toàn diện nền kinh tế - xã hội..........................................................................72 3.3. Bài học kinh nghiệm...............................................................................................73 3.3.1. Nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, kịp thời đề ra các chính sách cụ thể, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương; từng lĩnh vực kinh tế - xã hội. .............................................73 3.3.2. Các chủ trương, nhiệm vụ đề ra phải hợp lòng dân, thiết thực phục vụ lợi ích nhân dân, được nhân dân tham gia bàn bạc, thì sẽ tạo được phong trào quần chúng rộng rãi; giúp công tác lãnh đạo, điều hành đạt hiệu quả..............................................73
  • 5. 4 3.3.3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp trở thành ngành kinh tế động lực ..................74 3.3.4. Phát triển thương mại - dịch vụ, du lịch thành ngành kinh tế chủ đạo, đẩy mạnh khai thác lợi thế của địa phương....................................................................................74 3.3.5. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực .....................................................75 KẾT LUẬN ..................................................................................................................77
  • 6. 5 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Kinh tế - xã hội được coi là thước đo trình độ cho sự phát triển của mỗi quốc gia dân tộc trên thế giới. Bất cứ một quốc gia hay một thể chế chính trị nào thì thước đo cho sự phát triển cũng bao gồm thành tựu của nhiều yếu tố hợp thành, trong đó những những thành tựu kinh tế - xã hội giữ vai trò quan trọng. Kinh tế - xã hội có mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác, là nhân tố quyết định cho sự vận động và phát triển của một dân tộc. Chính vì thế, tất cả các quốc gia dù theo thể chế xã hội nào thì cũng đều có những chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Huyện Gio Linh là một huyện nhỏ ở phía bắc của tỉnh Quảng Trị, từ khi tái lập (tách ra từ huyện Bến Hải năm 1990), nền kinh tế - xã hội có những bước chuyển biến tích cực, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân. Điều đó đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng đề ra từ năm 1986 là đúng đắn. Đường lối đó đã được nhân dân Gio Linh vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, địa phương vẫn còn tồn tại những hạn chế và khó khăn cần được tiếp tục tổng kết, đánh giá, nhằm đưa ra những giải pháp cụ thể thích hợp, thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị từ năm 1990 đến năm 2010, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn sau: Về ý nghĩa khoa học: Luận văn làm rõ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh thời kỳ đổi mới từ năm 1990 đến năm 2010, trong đó, luận văn nêu bật lên những chủ trương của Đảng cùng với sự lao động sáng tạo của nhân dân huyện Gio Linh đã thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung của đất nước. Trên cơ sở đó, luận văn góp phần tìm hiểu rõ hơn những vấn đề lí luận và thực tiễn về đường lối đổi mới của Đảng, về việc hiện thực hóa đường lối đó vào hoàn cảnh cụ thể ở địa phương, trên cơ sở đó rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm, đồng thời thấy được những thành công và tồn tại của nền kinh tế - xã hội huyện Gio Linh trong 20 năm đổi mới. Mặt khác, qua luận văn, mong muốn được đóng góp một
  • 7. 6 số ý kiến, đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế của huyện trong tương lai. Về ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu đề tài này để chỉ ra những tồn tại, hạn chế, cùng với những kiến nghị, giải pháp về quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện cho hiện nay và trong tương lai, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, chủ trương nhằm đưa nền kinh tế - xã hội ở Gio Linh phát triển. Mặt khác, ở một mức độ nhất định, luận văn cung cấp một số tư liệu cho việc tham khảo, vận dụng trong những tiết giảng về bộ môn lịch sử địa phương cho giáo viên các cấp học ở huyện nhằm giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước, trước hết cho thế hệ trẻ. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh (Quảng Trị) từ 1990 đến 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Liên quan đến đề tài có những công trình sau: Nguyễn Trọng Phúc (2001), Một số kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đây là công trình này nghiên cứu những kinh nghiệm thực tế khi giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích và cuộc sống của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Văn Thường (2004), Một số vấn đề về kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kì đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Công trình này đã trình bày một số vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kì đổi mới, từ đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để khắc phục những hạn chế, giúp đất nước tiến nhanh trên con đường đổi mới. Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Quảng Trị (2005), Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị, tập III (1975-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, đề cập đến tiến trình khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng, là động lực của sự phát triển.
  • 8. 7 Trong thời gian gần đây, có một số khóa luận tốt nghiệp cử nhân và luận văn thạc sĩ đã tập trung nghiên cứu những vấn đề về kinh tế - xã hội ở một số địa phương, như: Đinh Thị Hoài Thu (2010), Chuyển biến kinh tế - xã hội ở Thị trấn Hồ Xá (Huyện Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị) giai đoạn 1986-2005. Luận văn thạc sĩ Khoa học Lịch sử, Trường Đại học Khoa học, nghiên cứu chuyển biến kinh tế - xã hội ở Thị trấn Hồ Xá trong giai đoạn 1986-2005, luận văn làm rõ vị trí, vai trò, thành tựu, những đóng góp cùng những hạn chế trên lĩnh vực kinh tế - xã hội trong quá trình phát triển của huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị; qua đó, nhằm phát huy hơn nữa vai trò, vị trí của thị trấn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay; rút ra một số kinh nghiệm và những giải pháp chủ yếu nhằm gợi mở cho Đảng bộ và chính quyền Thị trấn Hồ Xá tham khảo để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp hơn trong thời gian tới. Lê Thị Hằng (2012), Chuyển biến kinh tế của thành phố Đông Hà (Quảng Trị) giai đoạn 1989-2010. Luận văn thạc sĩ Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Huế, nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế ở thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 1989- 2010, trong đó tập trung phân tích, đánh giá về sự chuyển biến kinh tế của thành phố, rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và các bài học kinh nghiệm có tính định hướng cho sự phát triển của thành phố trong thời gian tới. Võ Thị Hoài Thu (2014), Nghiên cứu phát triển nông nghiệp ở huyện Gio Linh - tỉnh Quảng Trị. Khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Huế, nghiên cứu về vấn đề phát triển nông nghiệp trong giai đoạn 2000-2020, khóa luận tổng quan lí luận liên quan đến sản xuất nông nghiệp; phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Gio Linh - tỉnh Quảng Trị; trên cơ sở phân tích thực trạng để đề xuất giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ở huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Về phía địa phương, Ban Thường vụ Huyện ủy Gio Linh (1995) Lịch sử Đảng bộ huyện Gio Linh, tập I (1039-1975), là một công trình nghiên cứu dưới gốc độ lịch sử Đảng, viết về con người và mảnh đất Gio Linh, thể hiện truyền thống chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất của ông cha để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, kiên gan bền chí chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc, cho quê hương được giải phóng. Trong đó, có trình bày về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội dưới chế độ thực dân phong kiến và sự ra đời của chi bộ chợ cầu.
  • 9. 8 Thúy Sâm (2000), Làng Lan Đình và nghề đan lát, Tạp chí Cửa Việt, số 69. Bài báo nghiên cứu Làng đan Lan Đình ở xã Gio Phong, huyện Gio Linh, nội dung viết về các sản phẩm từ nghề đan, cấu tạo kĩ thuật, giá cả và thị trường tiêu thụ và tác giả đã nêu lên thực tế hiện nay, tầm quan trọng của hàng đan cũng như hướng đầu tư để nhân rộng các sản phẩm bằng kĩ thuật tinh vi đặc biệt hơn đề nghề đan cổ truyền ở Lan Đình sẽ không mất đi mà sẽ được nhân rộng, phát huy một ngành kinh tế, nâng cao đời sống cho đa số bộ phận cư dân nghèo vùng quê Gio Linh, Quảng Trị. Lê Đình Hào (2001), Nghề dệt chiếu làng Lâm Xuân, Tạp chí Cửa Việt, số 87. Nội dung bài báo viết về đôi nét về điều kiện tự nhiên - xã hội làng Lâm Xuân, qui trình dệt chiếu và cuối cùng tác giả đã nêu lên ý kiến về việc đầu tư để khôi phục, củng cố mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm để nghề chiếu Lâm Xuân phát triển trở lại thích ứng với thị trường hiện nay vẫn là những trăn trở, nhưng ước nguyện luôn sống động trong tâm thức của mỗi người dân làm nghề dệt chiếu ở Lâm Xuân hôm nay. Ban Thường vụ Huyện ủy Gio Linh (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Gio Linh, tập II (1975-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, thể hiện tinh thần anh dũng kiên cường của nhân dân Gio Linh trong xây dựng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế xây dựng lại cuộc sống trên đống tro tàn, đổ nát. Được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Đảng, Chính phủ cùng các ban ngành đoàn thể ở Trung ương, tỉnh và địa phương, đến nay diện mạo Gio Linh đã thay da đổi thịt, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng - an ninh được đảm bảo; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc; công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể có nhiều đổi mới và hiệu quả. Thanh Hải (2007), Gio Linh đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Tạp chí Cửa Việt, số 151. Bài báo đã đề cập đến vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên huyện Gio Linh; kho tàng văn hóa dân gian, dân vũ; tự hào miền quê vốn giàu truyền thống, là nơi có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị, bao gồm: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích danh lam thắng cảnh; bên cạnh các lĩnh vực về đời sống văn hóa, bài viết còn đề cập đến bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế - xã hội huyện Gio Linh; tác giả cho rằng việc các tầng lớp nhân dân toàn huyện quyết tâm phấn đấu, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, làm cho phong trào phát triển sâu rộng, đồng đều, thực chất và bền
  • 10. 9 vững, tạo chuyển biến cơ bản trong việc thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng môi trường văn hóa, tư tưởng đạo đức lối sống lành mạnh, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, xây dựng các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, làm động lực thúc đẩy thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội trong giai đoạn 2006 -2010 và những năm tiếp theo. Ngoài ra còn có các bộ lịch sử Đảng bộ các xã trong huyện: Ban Chấp hành Đảng bộ xã Gio Thành (2014), Lịch sử Đảng bộ xã Gio Thành, tập I (1930-2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Gio Hải (2015), Lịch sử Đảng bộ xã Gio Hải, tập I (1930-2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ xã Gio Việt (2015), Lịch sử Đảng bộ xã Gio Việt, tập I (1930-2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; đã đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội ở các địa phương qua các giai đoạn, như: ổn định sản xuất để đấu tranh với địch; hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống sau chiến tranh; khôi phục hậu quả của hai cuộc chiến tranh cùng cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới. Các công trình và tài liệu trên đây đã phản ánh ở những khía cạnh khác nhau, ở một mức độ khác nhau đã có một số nội sung liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010 một cách có hệ thống và toàn diện. Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010 là một vấn đề mới mẻ và cần thiết. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn làm sáng tỏ những chuyển biến về kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010. Từ đó rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa và các bài học kinh nghiệm có tính định hướng cho sự phát triển của huyện trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Thứ nhất, thu thập và xử lý các tài liệu thành văn có liên quan đến nội dung của luận văn, nhất là các văn kiện, các báo cáo của Tỉnh ủy, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Gio Linh.
  • 11. 10 Thứ hai, phân tích các nhân tố đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và chủ trương của Đảng tác động đến chuyển biến kinh tế - xã hội của Gio Linh. Thứ ba, phân tích hệ thống những chuyển biến kinh tế - xã hội của Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010, làm rõ những thành tựu và hạn chế của huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện. Thứ 4, rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và đúc rút những bài học kinh nghiệm về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về thời gian, luận văn chọn mốc mở đầu là năm 1990 (huyện Gio Linh tái lập, tách ra từ huyện Bến Hải) và mốc kết thúc đến năm 2010 (năm cuối cùng có ý nghĩa quyết định trong việc hoàn thành qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện thời kì 1996-2010). Về không gian, giới hạn trong huyện Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị, gồm 19 xã và 2 thị trấn Gio Linh, Cửa Việt. 5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5.1. Nguồn tư liệu Để thực hiện đề này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau: - Các sách chuyên khảo có liên quan đến đề tài; các bài viết nghiên cứu về đổi mới kinh tế - xã hội đăng trên các tạp chí của Trung ương và địa phương như: Tạp chí Kinh tế - dự phòng, Thông tin lí luận, báo Quảng Trị,… - Nguồn tài liệu do Cục Thống kê huyện Gio Linh công bố. - Nguồn tài liệu lưu trữ: một số văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về kinh tế - xã hội. Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo các tài liệu lưu trữ như các văn kiện, các chỉ thị, Nghị quyết, các báo cáo tổng kết hàng năm của Huyện ủy Gio Linh, Tỉnh ủy Quảng Trị qua các kì Đại hội và hội nghị từ năm 1990 đến năm 2010, các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của Uỷ ban nhân dân huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010, cùng với những tài liệu của các phòng, ban, các ngành thuộc tỉnh Quảng Trị và huyện Gio Linh.
  • 12. 11 - Nguồn tài liệu do tác giả khảo sát thực tế tại địa phương. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử nhằm tái hiện lại bức tranh chân thực về quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010, kết hợp với với phương pháp logic để đánh giá, khái quát nội dung vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng các phương pháp khác như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thành văn, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp,… để làm rõ vấn đề. 6. Đóng góp của luận văn Một là, Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh trong 20 năm (1990-2010). Hai là, Luận văn đánh giá làm rõ những thành công cũng như những hạn chế trong quá trình chuyển biến kinh tế của huyện sau khi tách huyện. Từ đó rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm để nêu lên một số giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gio Linh. Ba là, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhận thức toàn diện hơn về lịch sử kinh tế của huyện Gio Linh nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung, đồng thời cung cấp tài liệu cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ ở địa phương. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Những nhân tố tác động đến chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh (13 trang). Chương 2: Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Gio Linh từ năm 1990 đến năm 2010 (39 trang). Chương 3: Đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm (9 trang).
  • 13. 12 Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH 1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên 1.1.1. Điều kiện tự nhiên Gio Linh là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Trị, có tọa độ địa lí từ 160 9’ đến 170 vĩ Bắc và 1060 52’40” đến 1070 10’ độ kinh Đông, được giới hạn như sau: Phía Đông giáp Biển Đông, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Linh, phía Tây giáp huyện Cam Lộ, Đakrông và Hướng Hóa, phía Nam giáp huyện Triệu Phong, Cam Lộ và thành phố Đông Hà. Trên địa bàn huyện có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam chạy qua và một số tỉnh lộ như 73, 74, 75, 76 nối vùng đồng bằng với vùng gò đồi phía Tây tạo điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế xã hội giữa các địa phương trong huyện cũng như với cả tỉnh. Những lợi thế về vị trí địa lí, tạo ra cho Gio Linh một nền tảng cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế giữa các huyện trong tỉnh, đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 473 km2 , chiếm 10,5% tỉnh Quảng Trị. Địa hình Gio Linh dốc nghiêng từ Tây sang Đông, bị chia cắt mạnh bởi các hệ thống sông suối, ao hồ xen kẽ nhau. Do đó, việc tổ chức sản xuất cũng như việc phát triển các hệ thống giao thông, thủy lợi gặp rất nhiều khó khăn. Phía Tây là đồi núi có diện tích 31.773,75 ha (67,18%), ở giữa là đồng bằng có diện tích 12.631,01 ha (26,7%) và phía Đông là bãi cát và cồn cát ven biển với diện tích 2.893,8 ha (6,12%). Tài nguyên đất, nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển chiếm diện tích khoảng 9.000 ha; đất mặn chiếm diện tích khoảng 300 ha; đất phèn chiếm diện tích, khoảng 300 ha; đất phù sa chiếm diện tích nhỏ, phân bố ở các xã ven sông Bến Hải, tuy chiếm tỉ trọng không lớn nhưng đây là nhóm đất có giá trị, đang được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp; đất đỏ vàng diện tích 146.51 ha (chiếm 56.06% diện tích gò đồi). Kinh tế Gio Linh chủ yếu là nông - lâm - ngư nghiệp; vùng trung du, miền núi chủ yếu là đất bazan đỏ phù hợp với việc trồng cây lâu năm như cà phê, hồ tiêu, cao su, mít, chè, …và chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê. Vùng đồng bằng ven biển trồng lúa và các loại cây ngắn ngày, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Vùng cát và miền biển chủ yếu là đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản.
  • 14. 13 Đất đai ở huyện Gio Linh tầng đất mặt dày, là một điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, nhược điểm của đất đai huyện phần lớn là chua, ở vùng đồi độ pH dao động từ 3,9 - 4,4. Thành phần cơ giới thịt trung bình, tỉ lệ cấp hạt sét và limon từ 70 - 80%, độ xốp lớn, khả năng giữ nước, giữ phân kém, dẫn đến vào mùa khô cây trồng thiếu nước, thiếu dinh dưỡng nên chậm phát triển. Huyện Gio Linh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối điển hình, mùa hè có gió Tây khô nóng (từ tháng 4 đến tháng 9), mùa đông lạnh ẩm ướt chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau). Khí hậu ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng thời tiết thất thường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và phân bố cây trong và vật nuôi. Khí hậu phân hóa theo mùa nên cây trồng cũng có sự sinh trưởng, phát triển theo mùa với các mùa khác nhau, có thể thâm canh, xen canh, gối vụ, …Bão, lũ lụt, hạn hán, sương muối làm thiệt hại mùa mạng và làm giảm chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Chế độ khí hậu thất thường làm phát sinh dịch bệnh trên cây trồng, lượng ẩm cao gây khó khăn cho bảo quản sản phẩm nông nghiệp. 1.1.2. Tài nguyên * Tài nguyên nước Gio Linh có 2 sông lớn chảy qua là sông Bến Hải và sông Thạch Hãn. Sông Bến Hải nằm ở phía Bắc của huyện, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều nên thủy chế thất thường, hơn nữa phần trung lưu chảy qua khu vực phía Tây có độ dốc lớn nên khả năng thủy lợi của sông kém. Hệ thống sông Thạch Hãn đổ ra biển qua Cửa Việt, là mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng. Trên địa bàn huyện còn có một số sông suối nhỏ như sông Cánh Hòm, suối Tân Bích, suối Kinh Môn cung cấp nước cho sản xuất và đời sống nhân dân. Ngoài ra, nguồn nước mặt trên địa bàn còn được cung cấp bởi một số hồ, đập nhằm điều hòa lưu lượng và phục vụ tưới tiêu trong khu vực bao gồm hồ Kinh Môn, Hà Thượng, Trúc Kinh, hồ Đập Hoi và một số hồ thủy lợi nhỏ như hồ Hoàng Hà, Nhĩ Thượng, Nhĩ Hạ. Nhìn chung, hệ thống sông, hồ, ao khu vực đã cung cấp nguồn nước mặt tương đối đầy đủ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Nguồn nước có sự phân hóa theo mùa: Mùa mưa nhiều nước, thuận lợi cho sản xuất; tuy nhiên, còn gây ngập úng một số nơi làm thiệt hại mùa mạng. Mùa khô thiếu
  • 15. 14 nước, hạn hán, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện khá phong phú, chất lượng nước tốt, đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, mặt khác có thể khai thác để bổ sung một phần nước tưới phục vụ nhu cầu sản xuất. * Tài nguyên thủy sản Gio Linh có 15 km bờ biển, với hai cửa sông quan trọng (cửa Tùng, cửa Việt); ngư trường rộng lớn, khá nhiều hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực nang, cua, một số loại cá,… Diện tích bãi bồi ven sông, đặc biệt vùng ven biển với diện tích mặt nước và một số diện tích bị nhiễm mặn, đất cát có khả năng chuyển đổi để phát triển nuôi trồng thủy hải sản các loại. Cùng với phát triển đánh bắt thủy sản các khu vực ven sông, đầm hồ, diện tích bãi bồi, mặt nước tự nhiên được người dân tận dụng để nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ, nước ngọt các loại; có một số nơi nuôi tôm trên cát. Với đường bờ biển dài, Gio Linh có tiềm năng quan trọng để phát triển mạng lưới thương mại - dịch vụ vùng biển với hai bãi tắm đẹp của vùng cũng như của tỉnh Quảng Trị thu hút khách du lịch; phát triển thành các khu du lịch - dịch vụ góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế - xã hội của địa phương. * Tài nguyên khoáng sản Tài nguyên khoáng sản của huyện chủ yếu là nguyên liệu sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng như đá vôi, cát thủy tinh có khả năng chế biến silicát, sản xuất thủy tinh và kính xây dựng, than bùn, làm nguyên liệu sản xuất phân vi sinh; Ti tan phân bố dọc ven biển có thể khai thác xuất khẩu; đá bazan tập trung ở phía Tây huyện gồm các xã Gio Sơn, Gio Hòa, Gio Bình khai thác làm nguyên liệu sản xuất xi măng; đá xây dựng, ốp lát ở các xã phía Tây huyện như Gio Bình, Gio Hòa, Gio An, …có nhiều tảng đá to trong lòng đất gây khó khăn rất lớn trong quá trình khai đất làm nông nghiệp, nay là nguyên liệu cho nghề chẻ đá của địa phương, tạo công ăn việc làm cho các hộ dân ở đây, góp phần xây dựng những công trình phục vụ cuộc sống. 1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 1.2.1. Nguồn lực kinh tế * Cơ sở vật chất kĩ thuật Gio Linh có 6.917,6 ha đất ruộng, 3.517,35 ha đất lâm nghiệp, gần 700 ha cây công nghiệp hằng năm, 812 ha nuôi trồng thủy hải sản.
  • 16. 15 Để đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, cung cấp các giống mới có năng suất cao và phân bón, thuốc trừ sâu cũng như trao đổi kinh nghiệm sản xuất, huyện có trạm bảo vệ thực vật Gio Linh, Trạm giống huyện Gio Linh, các trạm giống ở các hợp tác xã như các trạm giống: Gio An, nông trường Cồn Tiên, xã Gio Thành, Gio Mai, Gio Quang, Trung Hải,… và nhiều cơ sở dịch vụ nông nghiệp khác. Các trạm giống ở nông trường Cồn Tiên, Gio An ươm những loại cây công nghiệp lâu năm và cây lâm nghiệp như cao su, hồ tiêu, keo, cây ăn quả, được phân bố đều khắp trong toàn huyện, tạo điều kiện để người dân thuận lợi trong việc vận chuyển và đưa vào sản xuất Bên cạnh các cơ sở cung cấp các giống cây công nghiệp cho năng suất cao, Gio Linh còn có hơn 70 cơ sở dịch vụ nông nghiệp cung cấp nhiều máy móc hiện đại như: máy cày, máy bừa, máy xay xát cho người dân. - Thông tin liên lạc, cùng với giao thông vận tải, mạng lưới thông tin liên lạc đã vươn tới các xã, cả những xã vùng sâu. Tất cả các xã trong huyện đều có bưu điện văn hóa. Hệ thống truyền thanh được mở rộng với 4 trạm thu phát, 7 trạm truyền thanh cơ sở. - Thủy lợi, toàn huyện có 4 hệ thống hồ đập lớn và hơn 75 các hồ đập nhỏ; 115,7km kênh mương tưới. Tuy nhiên, các hồ đập chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, số lượng ít nên chưa đảm bảo tưới tiêu cho nông nghiệp. Hơn nữa, điều kiện địa hình đồi núi độ dốc lớn làm hạn chế hiệu quả của các đập thủy lợi. - Những thành tựu đạt được trước năm 1990 Từ năm 1975 đến năm 1989, kinh tế Gio Linh đã đạt được một số thành tựu đáng kể trên các mặt nông - lâm, công nghiệp và giao thông vận tải góp phần tạo tiền đề về chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh trong chặng đường tiếp theo. Về nông - lâm nghiệp thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Gio Linh lần thứ V (4/1989) và các Nghị quyết của Huyện ủy, các phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng quê hương được phát động mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân, được nhân dân hưởng ứng và thực hiện tích cực. Nổi bật là các phong trào khai hoang phục hóa mở rộng diện tích, rà phá bom mìn để giải phóng ruộng vườn. Toàn huyện đã lao vào trận tuyến mới, trận tuyến quyết liệt không chỉ đổ mồ hôi, sức lực mà cả xương máu để làm sống dậy mảnh đất “trắng” từng bị cày xới,
  • 17. 16 la liệt bom đạn, chất nổ. Chỉ riêng tính từ ngày giải phóng nhân dân đã đưa tổng diện tích khai hoang phục hóa toàn huyện là 5.371 ha. Trong vụ đông - xuân 1975-1976, ngoài các công trình thủy lợi vừa như Kinh Môn, đập Hói Thủy Khê, các xã chú trọng công trình thủy lợi, việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, đưa các giống lúa mới có năng suất cao vào gieo cấy đã được các địa phương chú ý. Tỉ lệ giống lúa mới vụ đông - xuân 1975-1976 đã chiếm 21,2% diện tích, đưa năng suất lúa bình quân toàn huyện đạt 11,18 tạ/ha, bằng 73% kế hoạch đặt ra. Tổng sản lượng lương thực quy thóc 4.606 tấn, đạt 81,9% kế hoạch, tăng 93,3% so với vụ đông - xuân 1974-1975. Kết quả bình quân trong 3 năm (1977-1979) diện tích cây lương thực tăng 12,3%; diện tích hoa màu tăng từ 32% năm 1976 lên 42% năm 1979; sản lượng lương thực quy thóc tăng bình quân 18%, trong đó sản lượng màu quy thóc tăng bình quân 37%. Đàn gia súc, gia cầm tăng lên. Theo thống kê đến 1/4/1975, trên địa bàn đàn trâu bò từ 5.800 con năm 1977 tăng lên 6.600 con năm 1979, đàn lợn từ 12.000 con tăng lên 16.000 con [12, tr.54]. Việc triển khai thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) (tháng 1-1981) về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp, được nông dân đón nhận với tinh thần hồ hởi, phấn khởi và hăng hái sản xuất, thúc đẩy nông nghiệp trên địa bàn huyện có những chuyển biến mạnh mẽ. Tổng sản lượng lương thực từ 22.100 tấn năm 1981 lên 26.500 tấn năm 1984, năng suất lúa từ 9,8 tạ/ha lên 14,9 tạ/ha, bình quân lương thực đầu người từ 246kg năm 1981 lên 285kg năm 1984; các năm 1987, 1988 sản lượng lương thực đạt 21.000 tấn, so với thời kì 1981-1985 tăng 2.6000 tấn. Các xã đàn trâu bò từ 6.900 con năm 1981 lên 10.400 con năm 1985, đàn lợn bình quân hằng năm từ năm 1981-1985 đạt 14.500 con [14, tr.80]. Trong 3 năm 1975-1977, toàn huyện đã trồng được 1.105 ha cây tập trung và hàng chục vạn cây phân tán, chủ yếu là cây phi lao, bạch đàn, xoan dừa và tre mát. Năm 1979 diện tích trồng cây đã đạt trên 10.000 ha. Năm 1981, diện tích cây công nghiệp hàng năm 117,3 ha, năm 1984 là 278,5 ha và năm 1985 là 1.918,4 ha, trong đó một số loại cây có giá trị xuất khẩu cao, được đầu tư phát triển mạnh như cao su, hồ tiêu, ớt, … Về công nghiệp, tập trung khai thế mạnh sẵn có, phát triển cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, thủy sản, tăng nhanh các mặt hàng thủ công mĩ
  • 18. 17 nghệ. Trong 3 năm (1978-1980), công nghiệp đạt giá trị sản lượng là 3.366.000 đồng, tăng 67,6% so với năm 1976. Năm 1978, trên địa bàn đã xây dựng hai xí nghiệp gạch ngói, các cơ sở chế biến màu đạt 500-800 tấn/năm [13, tr.55] và mở rộng thêm. Giá trị sản xuất công nghiệp không ngừng tăng lên, từ 25,4 triệu đồng năm 1981 lên 50,3 triệu đồng năm 1985. Trong đó ngành tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm tỉ trọng trên 76% [11, tr.85]. Một số xí nghiệp đã đi vào hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa, bước đầu sản xuất có hiệu quả, vươn lên mở rộng quan hệ sản xuất, chất lượng và giá trị sản phẩm ngày càng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bình quân hàng năm những năm 1986-1989 là 100 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 10%/năm, năm 1989 đạt 102 triệu đồng [16, tr.117] . Một số ngành nghề mới như sản xuất làn mây, chiếu cói, mành tăm xuất khẩu được đầu tư phát triển, bước đầu mang lại hiệu quả. Về giao thông vận tải và lưu thông phân phối, được sự hỗ trợ của Nhà nước, sự đóng góp tiền của, công sức của nhân dân và các lực lượng trên địa bàn, cơ sở hạ tầng và giao thông ở Gio Linh đã được sửa chữa, cải tạo và nâng cấp. Huyện đầu tư xây mới nhiều cầu cống, tuyến giao thông như Bến Hải - Gio Việt, Chợ Kên - Nghĩa trang Trường Sơn, …hình thành mạng lưới giao thông nông thôn, đảm bảo sản xuất về cả số lượng, chủng loại. Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển trong năm 1988 là 17.000 tấn, tăng gấp hai lần so với năm 1986; thu mua lương thực hàng năm đạt 4.000 tấn và hàng trăm tấn bông đót, sắt, phế liệu. Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng khá, năm 1985 đạt 950.000 rúp - đôla, năm 1988 là 1,1 triệu rúp - đô la. Bình quân giá trị kim ngạch xuất khẩu tính trên đầu người năm 1987 là 7,66 rúp - đôla, năm 1988 là 9 rúp - đôla [22, tr.118-119]. 1.2.2. Nguồn lực xã hội Về giáo dục, mặc dù vẫn còn những khó khăn cả về vật chất lẫn đội ngũ giáo viên, nhưng cũng đã thu được nhiều thành quả quan trọng. Các xã có dân số đông đều có trường cấp I và cấp II. Đến cuối năm 1980, toàn huyện có 20 trường phổ thông cấp I, cấp II, đón nhận hàng năm khoảng 10.000 học sinh, đảm bảo nhu cầu học hết văn hóa cấp II, có 1 trường cấp III với hàng trăm học sinh theo học. Ngoài ra, huyện còn mở thêm các lớp học bổ túc, học xóa mù, các trường vừa học vừa làm. Tính trung bình, cứ ba người dân có một người đi học.
  • 19. 18 Phong trào giáo dục trong những năm 1977-1980 đã xuất hiện nhiều điểm sáng. Trường cấp III vừa học, vừa làm Cồn Tiên được Bộ trưởng Bộ Giáo dục kí quyết định thành lập ngày 19/3/1979; gắn với Nông trường quốc doanh Cồn Tiên đã thu hút hàng ngàn học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn theo học. Học sinh vừa học, vừa lao động đảm bảo mức khoán của Nông trường; chăm lo công tác trồng cây phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng vườn rừng, là trường duy nhất trong toàn quốc trồng được nửa triệu cây. Trường cấp I xã Gio Hòa là trường được chọn làm điểm nhân rộng của ngành về nâng cao chất lượng dạy học, cải tiến giảng dạy, sáng kiến kinh nghiệm và đã được Ủy ban nhân dân Bình Trị Thiên công nhận “Lá cờ đầu phong trào vở sạch, chữ đẹp”. Mạng lưới nhà trẻ, mẫu giáo được mở rộng. Đến cuối năm 1980 đã có trên 4.800 cháu vào nhà trẻ, đạt 50% số cháu trong độ tuổi; hơn 5.000 cháu vào các lớp mẫu giáo, đạt 66% số cháu trong độ tuổi, tăng gấp đôi so với năm 1977 [3, tr.59]. Tính từ năm 1981 đến 1985, trung bình hằng có 10.333 học sinh ở các cấp, tỉ lệ tốt nghiệp các cấp gần 90%. Số lượng học sinh giỏi toàn diện đạt gần 4% [11, tr.90]. Thực hiện phong trào kế hoạch nhỏ, nhà trường gắn liền với xã hội, học sinh các trường tham gia sản xuất, làm hàng xuất khẩu đạt nhiều kết quả. Từ năm 1986 trở đi, ngành giáo dục có những chuyển biến mạnh mẽ. Bước đầu đã đạt được kết quả trong việc huy động số lượng, nâng cao chất lượng đại trà, chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi, đẩy mạnh hoạt động lao động trồng cây xanh, giáo dục hướng nghiệp dạy nghề. Năm học 1989-1990, trên địa bàn huyện đã có 21 trường học trung học cơ sở, 1 trường phổ thông trung học, 2 trường bổ túc văn hóa, 1 trường dạy nghề, với tổng số học sinh các cấp học, ngành học là 11.028 học sinh [3, tr.122]. Về y tế, đến cuối năm 1980, các bệnh viện và trạm xá được nâng cấp và xây mới, nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh. Ngoài 1 bệnh viện ở trung tâm, hầu hết các xã đều có trạm xá. Năm 1977, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,5%, đến năm 1980 giảm xuống còn 2,3% [6, tr.60]. Đến giai đoạn 1981-1985, hoạt động y tế đã đạt được nhiều kết quả tích cực, 100% số xã có trạm y tế, chất lượng khám chữa bệnh không ngừng được nâng cao; có 1 bệnh viện, 2 bệnh xá và 16 trạm y tế xã. Y tế huyện đã kịp thời chặn đứng và dập tắt các nạn dịch như: sốt rét, sốt xuất huyết, mắt hột,... Chương trình kế hoạch hóa gia đình, sinh đẻ có kế hoạch được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đưa tỉ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 1989 xuống còn 1,81% [21, tr.122].
  • 20. 19 Công tác chính sách xã hội được triển khai thực hiện có hiệu quả, với phương châm giải quyết công ăn việc làm gắn với việc tổ chức lại sản xuất, điều phối dân cư, xây dựng vùng kinh tế mới. Ở các xã miền biển, huyện đã chỉ đạo phát triển các tổ hợp chế biến hải sản, làm dịch vụ; tổ chức trồng cây, sản xuất lương thực, thành lập các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, đã giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động vùng biển, từng bước xóa đói giảm nghèo cho nhân dân các vùng bãi ngang của huyện. Những thành tựu đã đạt được trong những năm 1977-1989 về kinh tế - xã hội đã thể hiện sự phấn đấu, nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân toàn huyện theo phương hướng đổi mới của Đảng. Nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, thì chỉ là những thành tựu bước đầu, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện. Nền kinh tế vẫn đang trong tình trạng tự cấp, tự túc, khép kín, kiến thức và năng lực sản xuất hàng hóa còn yếu; trình độ sản xuất, kinh doanh, lương thực vẫn chưa đảm bảo vững chắc, một số xã vẫn chưa chủ động được lương thực trước những diễn biến bất lợi của thiên tai. Việc khai thác các tiềm năng, thế mạnh của các vùng mới có chuyển biến rõ ở vùng đồng bằng, còn vùng biển và miền núi vẫn đang lúng túng. Trong ba chương trình kinh tế lớn lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu thì chương trình sản xuất hàng xuất khẩu còn nghèo nàn, chương trình hàng tiêu dùng chưa có chuyển biến đáng kể. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa được nghiên cứu, sắp xếp một cách hợp lí; mặt hàng còn đơn điệu, số lượng ít, chất lượng sản phẩm còn kém, giá thành cao, khó tiêu thụ. Việc tạo vốn cho sản xuất còn nhiều lúng tứng. Một số mặt hàng xuất khẩu và tiêu dùng từ nguyên liệu địa phương chưa được tổ chức sản xuất một cách có hiệu quả. Chất lượng giáo dục toàn diện còn hạn chế, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Công tác y tế chưa đảm bảo phòng trừ dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Công tác vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình chưa được thường xuyên, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn cao. Dù còn nhiều tồn tại, hạn chế nêu trên, nhưng những thành quả mà Đảng bộ và nhân dân huyện Gio Linh giành được trong những năm hợp nhất (1977-1989), nhất là những năm thực hiện công cuộc đổi mới có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở, tiền đề cho sự nghiệp chuyển biến kinh tế - xã hội những năm tiếp theo của huyện.
  • 21. 20 1.3. Chủ trương của Đảng 1.3.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và tỉnh Quảng Trị 1.3.1.1. Chủ trương của Trung ương Đảng Sau 3 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng (1986-1989), nền kinh tế đất nước vẫn chưa thoát ra khỏi khủng hoảng và lạm phát, các thế lực thù địch tiếp tục cấm vận và bao vây kinh tế, các khoản viện trợ quốc tế cũng như thị trường xuất khẩu và nhập khẩu bị thu hẹp đáng kể. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991), đã xác định phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm (1991-1995) như sau: Khắc phục tính chất tự cấp, tự túc, khép kín, chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hóa, gắn thị trường trong nước với nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu. Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội; tăng tốc độ và tỉ trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ, tăng cường cơ sở hạ tầng, bước đầu đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu. Đảng chủ trương vượt qua những khó khăn gay gắt trước mắt, ổn định đời sống của nhân dân; chấm dứt tình trạng xuống cấp về giáo dục, y tế, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; phấn đấu xóa đói giảm nghèo, giảm số người nghèo khổ, giải quyết vấn đề việc làm, đảm bảo các nhu cầu cơ bản, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tăng dần tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, thu hút nhiều nguồn nhân lực bên ngoài; tăng cường cơ sở vật chất - kĩ thuật, chuyển dịch rõ rệt cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa [32, tr.4-5]. Sau 10 năm tiến hành đổi mới một cách toàn diện kể từ Đại hội VI của Đảng, đến năm 1996 Việt Nam cơ bản đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tháng 6/1996, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ nhiệm vụ và phương hướng chủ yếu của giai đoạn 1996-2000 là: Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, ngư nghiệp và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển các ngành công nghiệp, chú
  • 22. 21 trọng trước hết công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả qui mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo. Giải quyết một số vấn đề xã hội theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo [12, tr.6]. Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) nhìn lại một cách tổng quát quá trình cách mạng Việt Nam trong thế kỉ XX, định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI với mục tiêu tổng quát: Tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo và đẩy lùi các tệ nạn xã hội [44, tr.404]. Bước sang giai đoạn 2006-2010, với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) (7/11/2006), nền kinh tế phát triển nhanh và đạt được nhiều thành tựu. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra nhiệm vụ: Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp; chuyển mạnh sang kinh tế thị trường, thực hiện các nguyên tắc của thị trường. Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế trí thức; kiềm chế tốc độ tăng dân số, nâng cao sức khỏe nhân dân [17, tr.476].
  • 23. 22 1.3.1.2. Chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Trị Sau ngày tái lập tỉnh (1/7/1989), Quảng Trị đứng trước những thời cơ, thuận lợi cùng những khó khăn và thách thức mới, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đề ra. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI (8/1991) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm (1991-1995) như sau: Tổ chức lại nền kinh tế - xã hội, bố trí cơ cấu đầu tư phù hợp với cơ cấu kinh tế đã xác định, phát triển có chọn lựa một số cơ sở công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và kết cấu hạ tầng, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII (5/1996) nêu rõ phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của nhiệm kì 1996-2000 là: Tập trung mọi lực lượng, khắc phục khó khăn, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, phát triển kinh tế từng bước vững chắc; giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; phấn đấu không còn hộ đói, giảm bớt hộ nghèo, tăng hộ khá, sớm hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - thương mại, dịch vụ [15, tr.262]. Tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy mạnh công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, có trọng điểm, khai thác thế mạnh mũi nhọn vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm, thủy sản và mở rộng công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; xây dựng kết cấu hạ tầng và từng bước phát triển thương mại - dịch vụ và du lịch [27, tr.264-265]. Giai đoạn 2001-2010, gắn với các Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV với đường lối phát triển là: Huy động tối đa mọi nguồn lực trong tỉnh và sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài, dự báo xu thế phát triển, nắm bắt cơ hội, đón đầu thời cơ để chủ động phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng lợi thế của hành lang kinh tế Đông - Tây và Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút nguồn vốn đầu tư bên ngoài, mở rộng
  • 24. 23 thị trường xuất khẩu, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả trên từng lĩnh vực, từng ngành, từng vùng lãnh thổ trong tỉnh. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (2000) là tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế toàn diện, vững chắc, sớm rút ngắn khoảng cách so với các tỉnh trong cả nước với các định hướng lớn là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, làm cơ sở, nền tảng của nền kinh tế; phát triển công nghiệp - xây dựng là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên số một của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Thương mại - du lịch - dịch vụ giữ vị trí quan trọng, sớm trở thành ngành mũi nhọn [5, tr.22]. 1.3.2. Chủ trương của Huyện ủy Gio Linh Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Gio Linh lần thứ XI (9/1991) xác định nhiệm vụ của nhiệm kì 1991-1995 là: Tích cực đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực, nhằm giải phóng năng lực sản xuất, huy động mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế để khai thác có hiệu quả các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến. Phấn đấu đến năm 1995 vượt qua khó khăn, giữ gìn ổn định, đảm bảo nhu cầu lương thực tại chỗ cho xã hội, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên trong thời kì giáp hạt ở một số vùng. Từng bước giải quyết việc ăn, ở và đi lại cho nhân dân, đảm bảo việc làm cho người lao động, gắn với việc giảm mạnh gia tăng dân số. Giải quyết tốt các vấn đề chính sách xã hội cho các đối tượng. Đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, giáo dục, nâng cao trình độ dân trí, tăng cường quốc phòng - an ninh, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an ninh xã hội” [24, tr.143-144]. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI, Huyện ủy Gio Linh đã tổ chức nhiều hội nghị đề ra nhiều nghị quyết, chủ trương trên các lĩnh vực, trong đó có Nghị quyết 03-NQ/HU ngày 20/6/1992, với những nội dung chính là: “Tiếp tục đẩy mạnh việc sản xuất cây lương thực, tích cực phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp; đẩy mạnh khai thác kết hợp với chế biến thủy hải sản, tăng cường ứng
  • 25. 24 dụng các tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào sản xuất và đời sống, quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhanh chóng ổn định sản xuất ở các xã miền tây vừa mới tách ra từ Công ti Cao su Quảng Trị” [14, tr.146]. Đại hội Đảng bộ huyện Gio Linh lần thứ XII được tiến hành ngày 28/2/1996 đề ra phương hướng, mục tiêu chung cho nhiệm kì (1996-2000) là: Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, khai thác triệt để các tiềm năng, thế mạnh, đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lí của Nhà nước, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Phấn đấu đến năm 2000 đảm bảo nhu cầu lương thực cho toàn xã hội, xóa bỏ tình trạng thiếu đói, giải quyết cơ bản về việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nâng cao tích lũy nội bộ, từng bước vượt qua tình trạng của huyện nghèo, kém phát triển, vươn lên thu hẹp khoảng cách so với các huyện khác, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội [8, tr.169]. Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Gio Linh lần thứ XIII (11/2000) đã đề ra phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2005: Tập trung đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khai thác tốt các lợi thế, tranh thủ mọi thời cơ và các nguồn lực đưa nền kinh tế phát triển nhanh và vững chắc. Từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của các lĩnh vực văn hóa - xã hội, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động. Tạo được sự chuyển biến mạnh về đời sống của nhân dân, nhất là những vùng khó khăn; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội [13, tr.15]. Đại hội Đại biểu Đảng bộ Gio Linh lần thứ XIV (10/2005) đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kì 2005-2010 là: Xúc tiến nhanh quy hoạch chi tiết ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện, quy hoạch sử dụng đất ở các xã, thị trấn; tạo bước đột phá mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng nông nghiệp, tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch. Đầu tư
  • 26. 25 chỉ đạo củng cố, kiện toàn hợp tác xã nông - ngư nghiệp, đảm bảo kinh doanh dịch vụ có hiệu quả. Tăng cường chỉ đạo phát triển ngành nghề dịch vụ, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, khai thác tiềm năng vùng cát. Thực hiện có hiệu quả phong trào xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa, các chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm [16, tr.4]. Những chủ trương trên đây của Đảng và các cấp là phương hướng để cán bộ và nhân dân Gio Linh vận dụng vào thực tiễn của địa phương, phát huy sáng tạo, tìm ra những giải pháp nhằm đưa nền kinh tế - xã hội của huyện nhà từng bước chuyển dịch theo kịp các huyện khác trong tỉnh Quảng Trị và cả nước. Tiểu kết Gio Linh là một huyện đồng bằng có nhiều điều kiện tự nhiên và tài nguyên để phát triển kinh tế. Điều kiện tự nhiên đã ảnh hưởng khá rõ nét và toàn diện đến sự chuyển biến kinh tế cũng như đời sống người dân huyện Gio Linh. Bên cạnh những thuận lợi việc định cư, phát triển kinh tế, điều kiện tự nhiên phần lớn không mấy thuận lợi nhất là khí hậu khắc nghiệt, hằng năm người dân phải đối mặt với thiên tai, bão lụt, hạn hán; hiện tượng thời tiết thất thường ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất của người dân. Đảng bộ và chính quyền trong huyện đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội của huyện. Bên cạnh những thành tựu về nguồn lực kinh tế - xã hội của huyện là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy việc chuyển biến kinh tế - xã hội. Huyện còn tồn tại nhiều hạn chế, do cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, sự chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền còn nhiều hạn chế nên kinh tế - xã hội của huyện còn chậm phát triển. Cơ cấu kinh tế của huyện trước năm 1990 chủ yếu nặng về tỉ trọng nông nghiệp, tiềm năng đất đai phần lớn thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp toàn diện với các loại cây trồng, vật nuôi có khả năng đem lại năng suất. Tuy nhiên từ năm 1990 trở về trước, nền nông nghiệp mang tính chất manh mún, công cụ sản xuất lạc hậu, năng suất thấp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang tính chất nhỏ lẻ, sản xuất cầm chừng, chưa có thị trường xuất khẩu. Số người trong độ tuổi lao động không có việc làm chiếm tỉ lệ cao. Giáo dục, y tế còn nhiều bất cập, trình độ dân trí còn thấp, đời sống của người dân còn nhiều hạn chế; đội ngũ lao động có tay nghề kĩ thuật còn thiếu. Đảng bộ, chính quyền huyện đã vận dụng linh hoạt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước và Tỉnh Ủy Quảng Trị; đã đề ra những chủ trương, chính sách trên
  • 27. 26 cơ sở phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn và những thành tựu đã đạt trước những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới để tiếp tục bước vào thời kì mới, tạo ra một bước chuyển biến kinh tế - xã hội rõ rệt trong thời kì 1990-2010.
  • 28. 27 Chương 2 CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIO LINH TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2010 2.1. Về chuyển biến kinh tế 2.1.1. Thời kì 1990-2000 2.1.1.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp * Về nông nghiệp Nhận thức rõ vị trí nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, huyện chủ trương “đẩy mạnh hơn nữa công tác khai hoang, phục hóa; mở rộng diện tích gieo trồng; bố trí lại cơ cấu sản xuất, mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; tiếp tục phát huy thế mạnh của một nền nông nghiệp toàn diện, đi vào chuyên canh và thâm canh có hiệu quả ngày càng cao” [28, tr.6]. Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp Gio Linh bình quân giai đoạn 1991- 1995 là 7,8%, giai đoạn 1996-2000 đạt 9%. Đạt được mức tăng trưởng như vậy do huyện tập trung chỉ đạo các xã vận động bà con nông dân thực hiện đưa giống lúa có năng suất cao vào sản xuất, thực hiện những biện pháp thâm canh, tăng vụ, chú trọng phát triển gia súc gia cầm, tăng diện tích các loại cây công nghiệp ngắn ngày nâng cao năng suất, tận dụng quỹ đất và cải tạo đất. Bảng 2.1: Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi năm qua các thời kì (theo giá hiện hành ) ĐVT: Giá trị (triệu đồng), tăng trưởng (%) Năm Toàn ngành Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ trong nông nghiệp Giá trị Tăng trưởng Giá trị Tăng trưởng Giá trị Tăng trưởng Giá trị Tăng trưởng 1990 34.599 - 22.314 - 9.187 - 3.098 - 1995 68.531 14,64 49.480 17,26 11.438 4,48 7.612 11,11 2000 120.002 11,85 75.432 8,79 29.886 21,17 14.703 14,07 [13, tr.241]
  • 29. 28 Trong nông nghiệp thời kì 1990-2000, mức tăng trưởng bình quân của chăn nuôi và dịch vụ trong nông ngiệp tăng lên, trồng trọt giảm xuống. Nguyên nhân, do điều kiện sản xuất còn nhiều yếu tố bất lợi, hai năm 1998, 1999 thiên tai hạn hán, lũ lụt hậu quả nghiêm trọng nhưng nhờ có định hướng phát triển đúng cho từng tiểu vùng; một số công trình thủy lợi đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả; cơ giới hóa trong nông nghiệp được tăng cường, công tác chuyển đổi, nâng cấp giống cây con, chỉ đạo thời vụ, thâm canh, áp dụng các tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất, cải tạo vườn tạp được nhiều địa phương chú ý; nên trồng trọt giai đoạn 1990- 1995 đạt 17,26%; đến giai đoạn 1995-2000 đạt 8,79%. Chăn nuôi, tương đối ổn định về số lượng và chất lượng được nâng lên theo hướng đưa những giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào chăn nuôi; công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, nhiều gia đình đã mạnh dạn đầu tư giống, vốn, kĩ thuật vào chăn nuôi; nên chăn nuôi gia súc gia cầm mức tăng trưởng bình quân mỗi năm của giai đoạn 1990-1995 ở mức 17,26%, đến 1995-2000 đạt 21,17%; Trong nông nghiệp huyện luôn tăng cường đưa các giống cây trồng, vật nuôi năng suất chất lượng tốt vào sản xuất nông nghiệp, nhu cầu sử dụng các dịch vụ nông nghiệp như phân bón, công tác phòng chống dịch bệnh, máy móc ngày được đưa vào sử dụng phục vụ quá trình sản xuất. Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế ĐVT % Năm 1990 1995 2000 Tổng số 100 100 100 Trồng trọt 64,5 72,2 62,8 Chăn nuôi 26,5 16,7 24,9 Dịch vụ 9 11,1 12,3 Việc bố trí cơ cấu sản xuất cũng được điều chỉnh dần, phù hợp với điều kiện đất đai, tập quán canh tác và phát triển trình độ sản xuất của địa phương. Việc khai thác tốt tài nguyên nông nghiệp làm cho cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp ngày càng được cân bằng, sản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú.
  • 30. 29 - Về trồng trọt Thành công lớn nhất trong những năm 1990-2000 là tạo sự bứt phá mạnh mẽ trong chuyển đổi cơ cấu ngành trồng trọt, kinh tế vùng gò đồi trở thành một mũi nhọn vùng kinh tế trọng điểm, khai thác các nguồn lực, nhất là nguồn lực tại chỗ để phát triển thành một vùng chuyên canh, tập trung sản xuất một số cây con và mặt hàng có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, hồ tiêu, dâu tằm, thịt, sữa,… phá dần thế độc canh cây lúa bằng cách tăng vụ và đổi mới cơ cấu mùa vụ, tăng diện tích gieo trồng nhằm sử dụng ruộng đất có hiệu quả và phát triển kinh tế đa dạng. Bảng 2.3: Diện tích các loại cây trồng ĐVT: ha Năm 1990 1995 2000 Tổng số 7.601 8.857 9.745 Cây lương thực hàng năm 5.391 5.560 6.254 Cây chất bột 1.535 1.656 1.268 Cây thực phẩm 195 415 514 Cây công nghiệp hàng năm 250 966 459 Cây công nghiệp lâu năm 195 110 1.031 Cây ăn quả 135 128 181 [2, tr.242]. Diện tích các loại cây trồng năm 1990 đạt 7.601 ha, đến năm 2000 đạt 9.745 ha (so với kế hoạch đạt 100,84%) tăng thêm 2.144 ha [8, tr.2]. Nhờ những chủ trương đề ra trong Đại hội XI (9/1991) và XII (2/1996) của Đảng bộ huyện đã đẩy mạnh khả năng khai hoang, tận dụng đất hoang hóa vào sản xuất làm cho diện tích gieo trồng các loại cây nông nghiệp tăng lên đáng kể. Đối với cây lương thực hàng năm 1990 chiếm 5.391 ha đến năm 2000 tăng lên 6.254 ha, tăng 863 ha. Diện tích các loại cây chất bột như khoai, sắn bị thu hẹp, nhưng không đáng kể từ năm 1990 đến 2000 diện tích gieo trồng giảm 267 ha. Diện tích các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả đến năm 2000 đều có xu hướng tăng lên. Đáng chú ý là diện tích cây công nghiệp lâu năm như hồ tiêu, cao su diện tích tăng nhanh từ 195 ha năm 1990 lên 1.031 ha năm 2000, vì dự án của Thường vụ
  • 31. 30 Huyện ủy về phát triển kinh tế gò đồi giai đoạn 1996-2000, đặc biệt là trong năm 1998, chương trình phát triển kinh tế gò đồi được đẩy mạnh, việc lồng ghép các chương trình, mục tiêu dự án thực hiện ngày càng hiệu quả. Đối với cây lương thực có hạt (lúa, ngô), huyện đã từng bước đưa vụ Hè - Thu thành một vụ sản xuất chính, đẩy mạnh công tác thâm canh, nâng cao năng suất và hiệu quả trên từng đơn vị diện tích, tăng cường công tác khuyến nông, tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào sản xuất, chủ động công tác tưới tiêu, đưa một số giống lúa có chất lượng và năng suất cao vào sản xuất. Huyện chủ trương chuyển nhanh diện tích lúa rẫy sang trồng cây ngô lai cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng lúa. Nhờ đó mà diện tích và sản lượng các loại cây lương thực đều tăng nhanh. Bảng 2.4: Sản lượng lương thực cây có hạt ĐVT: tấn Năm Tổng sản lượng lương thực Thóc Ngô Bình quân lương thực đầu người (kg) 1990 11.314 11.302 12 123,1 1995 13.479 13.479 - 201,5 2000 24.030 24.010 20,15 327,3 [19, tr.241] Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 1990 đến năm 2000 tăng lên, từ 11.314 tấn lên 24.030 tấn tăng 12.716 tấn. Trong đó, sản lượng thóc và ngô đều tăng lên, nên bình quân lương thực đầu người tăng lên theo các năm. Điểm đáng chú ý ở đây, năm 1995 một số xã như Trung Hải, Trung Sơn, Gio Phong,… đã có lương thực hàng hóa. Sản lượng lương thực năm 2000 tăng vượt 2.248 tấn so với chỉ thị Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đề ra. Nổi bật hơn cả có xã Gio Quang, bình quân lương thực trên 1.000 kg/người/năm. Do nhu cầu thực phẩm tăng nhanh nên diện tích và sản lượng rau, đậu các loại cũng tăng khá nhanh. Trên địa bàn nổi tiếng với loại rau liệt được trồng ở xã Gio An như một loại cây xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Diện tích rau liệt và các loại rau khác năm 2000 tăng 4,07 lần, sản lượng tăng 2,57 lần so với năm 1990.
  • 32. 31 Đối với cây công nghiệp, huyện luôn xác định cây cao su và hồ tiêu là thế mạnh của địa phương. Do giá cả ổn định và hợp lí nên người sản xuất trong các thành phần kinh tế tập trung đầu tư vốn, kĩ thuật, máy móc, tạo thành những vùng chuyên canh lớn. Diện tích cây công nghiệp lâu năm của huyện chiếm 19,37% tổng diện tích toàn tỉnh. Cây ăn quả các loại trồng năm 1990 trồng được 80 ha, năm 1996 trồng được 52 ha đạt 52% kế hoạch đưa diện tích cây ăn quả lên 110 ha, đến năm 2000 đạt 145 ha. - Về chăn nuôi Huyện chỉ đạo phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm ở cả 3 khu vực quốc doanh, tập thể và hộ gia đình, nhằm đáp ứng sức cày, kéo và vừa tăng thực phẩm hàng hóa. Trong thời kì (1990-2000) điểm nổi bật là chăn nuôi phát triển chủ yếu tập trung ở các hộ gia đình theo lợi thế tiềm năng của từng vùng, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập thể không theo kịp cơ chế mới, kinh doanh thua lỗ kéo dài nên phải giải thể. Chăn nuôi gia súc, gia cầm đã giải quyết cơ bản nhu cầu thực phẩm trên địa bàn và một phần sức kéo, phân bón cho sản xuất; góp phần tăng thêm thu nhập và sử dụng lao động nông nhàn. Đối với huyện Gio Linh, phát triển chăn nuôi là một trong những định hướng phát triển kinh tế quan trọng của huyện. Trong thời kì 1990-2000 chăn nuôi có mức tăng trưởng bình quân mỗi năm 16,69% [25, tr.173]. Chăn nuôi gia súc trong thời kì 1990-2000 phát triển tương đối toàn diện, cả về tổng đàn và tăng về chất lượng gia súc. Quy mô đàn gia súc qua các năm được thể qua bảng 2.5: Bảng 2.5: Quy mô đàn gia súc qua các năm ĐVT: con Năm Trâu Bò Lợn Gia cầm 1990 2.500 8.842 15.500 158,5 1995 3.159 14.495 18.436 164.102 2000 3.244 12.522 23.709 183.605 [13, tr.242] Tỉ trọng giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm 1990 chiếm 26,5%, đến năm 2000 giảm xuống còn 24,9% [21, tr.173]. Được sự giúp đỡ của Viện chăn nuôi thú y và trung tâm khuyến nông tỉnh, nhiều gia đình đã mạnh dạn đầu tư giống,
  • 33. 32 vốn, kĩ thuật để nuôi bò lai sind, lợn lai kinh tế, vịt siêu trứng, gà công nghiệp đem lại giá trị kinh tế cao. Nhờ vậy mà, tỉ trọng chăn nuôi giảm nhưng năng suất, sản lượng qua các năm không ngừng tăng lên. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng nhanh, năm 1990 giá trị chăn nuôi đạt 9.187 triệu đồng, năm 2000 đạt 29.886 triệu đồng; như vậy chỉ sau 10 năm giá trị chăn nuôi tăng lên 20.699 triệu đồng, vượt 5% chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra. Có thể nói kết quả sản xuất nông nghiệp từ năm 1990-2000 là kết quả tổng hợp của quá trình đổi mới công tác quản lí, điều hành thông qua đổi mới quan hệ sản xuất, phát huy vai trò, quyền tự chủ của đơn vị kinh tế cơ sở (hộ gia đình) ở nông thôn; kết quả đó là dấu hiệu của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn; xây dựng nông thôn thành khu vực kinh tế có tỉ trọng giá trị hàng hóa ngày càng cao. * Về lâm nghiệp Thời kì 1990-2000, sản xuất lâm nghiệp chuyển mạnh theo hướng từ chủ yếu khai thác sang hướng bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng với nhiều thành phần xã hội cùng tham gia nhằm duy trì và bảo tồn nguồn tài nguyên quí giá này. Trong cơ cấu sản xuất lâm nghiệp, hoạt động khai thác giảm mạnh và tăng hoạt động lâm sinh. Tỉ trọng hoạt động khai thác và hoạt động lâm sinh qua các thời kì trong bảng 2.6: Bảng 2.6: Giá trị và tỉ trọng sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động ĐVT: Giá trị (triệu đồng), tỉ trọng (%) Năm Tổng số Trồng và nuôi rừng Khai thác Hoạt động lâm nghiệp khác Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng 1990 4.289 863 20,1 3.187 74,3 239 5,6 1995 6.154 1.004 16,3 4.477 72,7 673 11 2000 7.564 1.476 19,5 5.127 67,8 961 12,7 Đảng bộ chỉ đạo tiếp tục phát triển mạnh ở tất cả các vùng, trên cả 3 khu vực quốc doanh, tập thể và hộ gia đình. Đã dấy lên mạnh mẽ phong trào ươm cây và trồng cây lâm nghiệp. Hàng năm, toàn huyện trồng được từ 10 triệu đến 13 triệu cây. Rừng trồng tập trung hàng năm đạt trên 1.000 ha. Cùng với việc trồng mới, chăm sóc, bảo vệ
  • 34. 33 rừng, đã chú ý việc khai thác các nguồn lợi từ rừng. Bình quân hàng năm khai thác 3.500 đến 4.000m3 gỗ, 2000 ste củi, 300 đến 400 tấn đót nguyên liệu. Phong trào trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng chuyển biến mạnh mẽ. Trong 10 năm trồng trên 6.138 ha rừng tập trung và 2 triệu cây phân tán, nâng độ che phủ từ 13,43% năm 1991 [15, tr.151] lên 21,68% năm 2000 (nếu tính cả diện tích cao su thì 31%) [11, tr.174]; góp phần quan trọng vào việc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cân bằng môi trường sinh thái, biến vùng đất hoang hóa, thành những rừng cây xanh tốt, tạo nên một sức sống mới trên quê hương Gio Linh Công tác định canh, định cư ở 2 xã miền núi, công tác di dãn dân xây dựng vùng kinh tế mới có cố gắng. Năm 1997-1998 đã đưa 213 hộ, với 916 nhân khẩu, 407 lao động lên các vùng của dự án di dãn dân của huyện (Hải Cụ xã Trung Sơn, Khe Me xã Linh Thượng, Trãng Rộng xã Hải Thái, Đồng Trài xã Trung Hải) [17, tr.151]. Đến năm 2000, đã đưa thêm 568 khẩu, trong đó có 365 lao động lên các vùng dự án. Thời kì 1990-2000, khai thác lâm nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn năm 1990 là 74,3% đến năm 2000 giảm xuống còn 67,8% [11, tr.2]. Đây là tín hiệu đáng mừng trong sản xuất lâm nghiệp, tuy mức giảm còn thấp nhưng đã thể hiện được sự quyết tâm của người dân, nhờ sự hỗ trợ của chính quyền đối với ngành lâm nghiệp nên hoạt động khai thác lâm nghiệp đã bắt đầu có hiệu quả, như khoanh vùng những khu vực rừng còn trẻ để bảo vệ và áp dụng khoa học kĩ thuật vào khai thác lâm nghiệp. * Về ngư nghiệp Thực hiện Nghị quyết số 05 của Huyện ủy ngày 20/1/1997 về phát triển kinh tế - xã hội vùng biển giai đoạn 1997-2000, Nghị quyết chỉ rõ: “Phát triển kinh tế vùng biển theo hướng đẩy mạnh việc khai thác, đánh bắt, nuôi trồng gắn với chế biến” [4,tr.171]. Nghị quyết 05 Huyện ủy còn nhấn mạnh: “Lấy khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản làm trung tâm” [11, tr.171]. Nhờ có điều kiện thuận lợi cộng với tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật tương đối đồng bộ cho các khâu nuôi trồng, đánh bắt và dịch vụ thủy sản, nên sản xuất thủy sản phát triển nhanh. Bảng 2.7: Số liệu ngành thủy sản qua các năm Năm 1990 1995 2000 Giá trị sản xuất thủy sản (giá hiện hành: triệu đồng) 20.000 31.953 75.071 Tổng sản lượng hải sản đánh bắt (tấn) 800 3.500 6.140
  • 35. 34 Khai thác, chế biến, nuôi trồng thủy hải sản có bước phát triển mới. Tàu thuyền, ngư lưới ngày càng được cải tiến, năng lực đánh bắt ngày một tăng nhanh từ 3.500 CV năm 1990 tăng lên 17.490 CV năm 2000. Đầu tư mua sắm, nâng cấp, cải hoán thêm hàng trăm tàu thuyền các loại, đặc biệt đã đóng mới 18 tàu đánh bắt xa bờ với các phương tiện hiện đại. Sản lượng hải sản năm 2000 đạt 6.140 tấn. Giá trị sản xuất thủy sản tăng lên 75.071 triệu đồng năm 2000. Nuôi trồng chế biến thủy hải sản tiếp tục phát triển. Năm 2000 sản lượng tôm, cá nuôi đạt 210 tấn, tăng 126 tấn so với năm 1995 [1, tr.174]. 2.1.1.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng - Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Trong năm 1990, tổng giá trị sản lượng công nghiệp 1.572 triệu đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn là 23% [10, tr.152]. Năm 1995, sản xuất công nghiệp từng bước vượt qua khó khăn, quá trình chuyển đổi cơ chế đi vào ổn định, hệ thống mạng lưới điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt được mở rộng đến nhiều nơi, thúc đẩy phát triển công nghiệp toàn diện hơn. Trong năm 1995, tổng giá trị sản xuất công nghiệp 3.370 triệu đồng. Năm 2000, sản xuất công nghiệp đã có bước phát triển nhanh và chuyển biến mạnh mẽ, phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước đề ra; đưa giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000 đạt 12.000 triệu đồng, tăng 9.512 triệu đồng so với năm 1995 [7, tr.175]. Bảng 2.8: Giá trị và cơ cấu sản xuất công nghiệp qua các thời kì ĐVT Giá trị (triệu đồng), tỉ trọng (%) Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000 Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Toàn ngành 1.572 100 3.496 100 11.871 100 Công nghiệp quốc doanh 371 23,6 476 13,6 771 6,5 Công nghiệp ngoài quốc doanh 1.201 76,4 3.020 86,4 11.101 93,5
  • 36. 35 Trong cơ cấu sản xuất công nghiệp, sản xuất cá thể chiếm tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng dần. Năm 1990, sản xuất công nghiệp cá thể chiếm 76,4% đến năm 2000 tăng lên 93,5%. Ngược lại, sản xuất tập thể chiếm tỉ trọng nhỏ có xu hướng giảm, năm 1990 chiếm 23,6% đến năm 2000 giảm xuống còn 6,5% [12, tr.55]. Công nghiệp khai thác và chế biến nông, lâm, hải sải sản đã từng bước liên doanh, liên kết với các cơ sở kinh tế quanh vùng, các trung tâm công nghiệp dịch vụ trong nước, đầu tư chiều sâu và chuyển hướng sản xuất gắn với thị trường. Đảng bộ và chính quyền huyện Gio Linh luôn quan tâm phát triển song song cả công nghiệp khai thác lẫn công nghiệp chế biến, song hướng trọng tâm vẫn là công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác chỉ duy trì để cung cấp cho công nghiệp chế biến. Việc phát triển công nghiệp chế biến đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với công nghiệp khai thác, mà còn không làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn. Bảng 2.9: Giá trị và cơ cấu công nghiệp khai thác và chế biến ĐVT: Giá trị (triệu đồng), Tỉ trọng(%) 1990 1995 2000 Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Tổng số 1.572 100 3.496 100 11.871 100 CN khai thác 210 13,4 320 9,2 1.404 12,2 CN chế biến 1.362 86,6 3.176 90,8 10.467 87,8 Gio Linh là huyện nghèo tài nguyên khoáng sản, nên trong cơ cấu ngành công nghiệp những năm đầu đổi mới công nghiệp khai thác chiếm tỉ trọng nhỏ, có xu hướng giảm dần năm 1990 chiếm 13,4% đến năm 2000 giảm xuống 12,2%. Trong khi đó ngành công nghiệp chế biến như chế biến lương thực thực phẩm, chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp may mặc. Chiếm tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng dần, năm 1990 chiếm 86,6% đến năm 2000 chiếm 87,8%. Trong buổi ban đầu ngành công nghiệp Gio Linh đã có những bước chuyển tích cực để trở thành một trong những ngành mũi nhọn của Gio Linh. Cùng với công nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp như đan lát, dân dụng, sửa chữa cơ khí, điện tử, sản xuất nước đã được củng cố. Một số ngành nghề mới như sản xuất nấm rơm, mây, tre đan, khảm tranh tre xuất khẩu đang được triển khai, phát
  • 37. 36 triển mạnh đáp ứng được nhu cầu trên địa bàn. Một số cơ sở tự xoay xở về vật tư, nguyên liệu, vốn liếng, mở rộng quan hệ thị trường, đã mạnh dạn hơn trong việc vay vốn của Nhà nước để đầu tư cho sản xuất, đưa sản phẩm của mình cạnh tranh trên thị trường. Các ngành tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất được một số mặt hàng phục vụ công nghiệp và xây dựng cơ bản. Giai đoạn 1990-1995, tiểu thủ công nghiệp đã có bước phát triển, các làng nghề truyền thống được khôi phục, làng nghề mới dần xuất hiện và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người lao động. Như nghề đan lát Lan Đình, đây là một làng nông nghiệp vùng gò đồi ở Gio Linh, được hình thành khá sớm. Nghề mộc ở Làng Cát Sơn, một làng ven biển, được hình thành khá sớm trên vùng đất phía bắc Quảng Trị, thu hút lao động vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp với thu nhập mỗi người cao hơn so với lao động sản xuất thuần nông. Khảo sát toàn huyện có 65% hộ nông dân có nghề phụ ngoài sản xuất nông nghiệp. Riêng xã Gio Phong có tới 100% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề thủ công đan lát. Thu nhập từ nghề tiểu thủ công đã giúp tăng thu nhập đáng kể, nhiều gia đình thoát nghèo nhờ phát triển mạnh nghề thủ công. Bước sang giai đoạn 1996-2000, Gio Linh trở thành một huyện có công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển ưu tiên hàng đầu trong định hướng phát triển kinh tế của huyện. Việc khôi phục các làng nghề truyền thống góp phần tạo việc làm và tăng thêm thu nhập cho người dân. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn là 23% [10, tr.152]. * Về phát triển cơ sở hạ tầng Quán triệt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong những năm 1991-1995, được sự quan tâm đầu tư của Trung ương, của tỉnh và các tổ chức quốc tế, cùng với sự đóng góp hàng vạn ngày công và hàng tỉ đồng của nhân dân, đã xây dựng và sửa chữa, nâng cấp nhiều hạng mục công trình, tạo dựng một bước quan trọng về cơ sở hạ tầng. Đến cuối năm 1995, các tuyến đường giao thông từ huyện về các xã cơ bản đã thông suốt, mạng lưới điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt được mở rộng đến nhiều nơi, có 50% số xã và 20% số hộ dùng điện. Hệ thống trường học, trạm xá, trụ sở làm việc của các cơ quan cấp huyện và một số xã được xây dựng ngày một khang trang. Trong những năm 1996-2000, với nhiều nguồn vốn đầu tư của Trung ương, các tổ chức quốc tế, vốn sự nghiệp kinh tế của huyện và đóng góp của nhân dân, 5 năm qua đã tập trung xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp thêm nhiều hạng mục công trình
  • 38. 37 quan trọng đưa vào sử dụng. Tổng số vốn đã huy động 61.245 triệu đồng, tăng gấp hai lần so với giai đoạn 1991-1995. Trong đó: vốn đóng góp của nhân dân là 9.337 triệu đồng, chiếm 15,2%. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm là 14,5% [4, tr.176]. Mạng lưới điện tiếp tục được mở rộng, đã xây dựng 50km đường dây 20KV, 28 trạm biến áp 10/0,4KV, với dung lượng 1.800KVA, đến cuối năm 1999 có 100% xã , thị trấn có điện lưới quốc gia, 83,93% số hộ dùng điện. Đến cuối năm 2000, có 85% số hộ dùng điện [17, tr.175]. Hệ thống giao thông được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới với tổng chiều dài 52km đường, hàng trăm cống qua các tuyến đường 73 đông, đường Gio Thành, Gio Hải, đường 76 Đông, đường thị trấn. Đến nay, 100% xã có đường ô tô về đến trung tâm, đáp ứng yêu cầu lưu thông hàng hóa, đi lại của nhân dân. Thủy lợi được ưu tiên đầu tư. Đã xây dựng mới một số đập và trạm bơm điện, kiên cố hóa một số tuyến kênh mương với tổng chiều dài 13.674m; tu bổ, cải tạo, nâng cấp các đập nhỏ với tổng số vốn đầu tư chiếm 22% trong tổng số vốn huy động, đảm bảo nước tưới cho 50% diện tích lúa trên địa bàn.. Bưu chính thông tin liên lạc, tiếp tục phát triển đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, giao dịch trên địa bàn. Đến năm 2000, 100% xã có máy điện thoại, 1 tổng đài trung tâm, 3 tổng đài cụm xã, 16 điểm bưu điện văn hóa xã, có 890 máy thuê bao, đạt 1,22 máy/100 dân, tăng 4,2 lần so với năm 1995 [10, tr.176]. Trong thời kì 1990-2000, vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở Gio Linh tăng nhanh, tổng số vốn đầu tư năm 1990 là 4.030 triệu đồng, tăng lên 12.183 triệu đồng năm 2000 [11, tr.243]. 2.1.1.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch * Về thương mại - dịch vụ Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện khóa XI và Nghị quyết hội nghị giữa nhiệm kì, huyện đã cố gắng khai thác các nguồn thu trên huyện đã cố gắng khai thác các nguồn thu trên địa bàn, cùng với sự hỗ trợ của tỉnh, sự giúp đỡ của các tổ chức trong nước và quốc tế, cơ bản đã cân đối cho nhu cầu ngân sách hoạt động thường xuyên và dành một phần đầu tư cho sự nghiệp kinh tế. Phương thức và thủ tục cho vay được cải tiến, tạo điều kiện thuận lợi để 67,8% số hộ được vay vốn, nâng số dư tính đến cuối năm 1995 lên 9 tỉ đồng, tăng gần 8 lần so với năm 1990, góp phần quan trọng vào việc phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa
  • 39. 38 bàn. Mạng lưới thương mại, dịch vụ phát triển đa dạng, phong phú, đưa tỉ trọng giá trị thương mại, dịch vụ từ 4,26% GDP năm 1990 lên 18% GDP năm 2000 [4, tr.154]. Hoạt động của các ngành thương mại, dịch vụ, tài chính, ngân hàng có những chuyển biến tích cực, ngày càng phục vụ tốt hơn cho đời sống và sản xuất của nhân dân. Tổng doanh thu thương mại, dịch vụ 34 tỉ đồng, tăng 20,82% tỉ so với giai đoạn 1991-1995. Tổng thu ngân sách thời 1996-2000 là 43.818,9 triệu đồng, trong đó thu trên địa bàn là 12.096,3 triệu đồng [19, tr.176]. Bảng 2.10: Hoạt động sản xuất kinh doanh phân loại theo loại hình doanh nghiệp ĐVT: cơ sở Năm Tổng số DN nhà nước DN tư nhân Cơ sở cá thể 1990 785 15 1 769 1995 1.053 25 3 1.025 2000 1.455 50 5 1.400 Về cơ sở kinh doanh thương mại phát triển nhanh từ 785 cơ sở năm 1990 lên 1.455 cơ sở năm 2000, tăng 670 cơ sở. Trung bình mỗi năm tăng 67 cơ sở kinh doanh, nhưng chủ yếu là cơ sở hộ cá thể hoạt động nhỏ lẻ, thiếu tính bền vững. Đối với doanh nghiệp nhà nước, năm 1990 có 15 doanh nghiệp đến năm 2000 tăng lên 50 doanh nghiệp. Từ năm 1996 đến 2000, phát triển kinh tế nhiều thành phần và đổi mới cơ chế quản lí được quan tâm. Thực hiện chỉ thị 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị định 16/CP của Chính phủ, đến cuối năm 2000 toàn huyện đã chuyển đổi được 31 hợp tác xã nông nghiệp, chiếm 73,8%; thành lập mới 17 hợp tác xã khai thác, nuôi trồng, dịch vụ thủy hải sản và 2 hợp tác xã xây dựng [19, tr.44]. Một số hợp tác chuyển đổi đúng hướng, có hiệu quả thành chỗ dựa vững chắc cho xã viên, như hợp tác xã Xuân Long (Trung Hải), hợp tác xã Kinh Môn (Trung Sơn). Kinh tế tư nhân được coi trọng, năm 1990 có duy nhất 1 doanh nghiệp tư nhân, đến năm 2000 huyện đã thành lập được 5 doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế hộ phát triển mạnh. Năm 1990, chỉ có 769 doanh nghiệp cá thể; đến năm 2000, đã có trên 1.400 hộ kết hợp kinh doanh lớn nhỏ, chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp và hàng chục hộ phát triển kinh tế trang trại. Trên địa bàn huyện có một số ít xã có chợ mà chợ này chỉ đông được vài ba giờ hay nhiều lắm là một buổi. Chợ xã chỉ có Chợ Nam Đông (xã Gio Sơn), Chợ Gio An,
  • 40. 39 Chợ Kênh (xã Trung Sơn), Chợ Hôm (xã Gio Việt), các xã khác, nếu có chẳng qua là thời vụ. Một chợ quan trọng về nhiều mặt đó là Chợ Cầu. Đây là trung tâm trao đổi hàng hóa lớn nhất của huyện Gio Linh. Gio Linh chưa có các trung tâm thương mại và siêu thị. Các bến bãi, kho phục vụ cho thương mại còn đơn giản và chưa được quan tâm. Trong tương lai cùng với việc phát triển và nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và đời sống người dân trong huyện, việc hình thành các trung tâm thương mại, siêu thị là rất cần thiết. * Về du lịch Trên địa bàn huyện có khá nhiều các di tích, danh lam thắng cảnh có thể phục vụ phát triển du lịch, tâm điểm khởi phát các tuyến du lịch trong toàn tỉnh và là nơi lưu trú, dừng chân của khách du lịch, các nhà đầu tư, các đoàn Quốc tế đến Gio Linh như: Căn cứ quân sự Dốc Miếu, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, bãi biển Cửa Việt, Cửa Tùng, Cây Đa giếng Đìa. Dịch vụ lữ hành phát triển nhanh, đặc biệt là vận tải đưa đón khách bằng taxi và dịch vụ khai thác các tour “Du lịch hoài niệm chiến trường xưa và đồng đội”, vận chuyển liên vận Việt Nam - Lào, khai thác du lịch hành lang Đông Tây. Hệ thống các nhà nghỉ, khách sạn đã được quan tâm đầu tư xây dựng hiện đại, phát triển về cả số lượng và chất lượng, đã phần nào đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi của đông đảo khách du lịch. Nếu như hơn 10 năm trước đây có rất ít khách sạn và nhà nghỉ, thì giai đoạn này số nhà nghỉ, khách sạn phát triển khá nhanh về cả số lượng, quy mô và chất lượng. 2.1.2. Thời kì 2000-2010 2.1.2.1. Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp * Trong nông nghiệp Nét nổi bật trong nông nghiệp thời kì này là, thực hiện Nghị quyết lần thứ 5 của BCHTW Đảng khóa IX (4/2001) “Về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kì 2001-2010”, huyện đã vận động nhân dân tăng cường đầu tư vốn, kĩ thuật, sức lao động phát triển cây công nghiệp dài ngày. Từ đó hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa, vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến, làm cơ sở cho việc áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp, thuận lợi cho việc cơ giới hóa, kiến thiết đồng ruộng. Người dân đã không ngừng thâm canh tăng năng suất cây trồng, giảm chi phí đầu tư và giá thành sản phẩm,
  • 41. 40 góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lí, thúc đẩy sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Bảng 2.11: Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi năm qua các thời kì (theo giá hiện hành) ĐVT: Giá trị (triệu đồng), tăng trưởng (%) Năm Toàn ngành Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ trong nông nghiệp Giá trị Tăng trưởng Giá trị Tăng trưởng Giá trị Tăng trưởng Giá trị Tăng trưởng 2000 120.002 11,85 75.432 8,79 29.886 21,17 14.703 14,07 2005 189.687 9,58 110.603 7,95 60.732 15,23 18.351 4,53 2010 726.982 30,82 410.209 29,97 212.196 28,42 104.577 41.63 Mức tăng trưởng bình quân mỗi năm có sự biến động, năm 2005 mức tăng trưởng toàn ngành chậm lại, mức tăng trưởng bình quân mỗi năm trên tất cả các lĩnh vực trong nông nghiệp đều giảm so với mốc năm 2000. Nguyên nhân do năm 2005, huyện tiến hành sản xuất trong điều kiện thời tiết có nhiều phức tạp rét đậm đầu vụ Đông Xuân, hạn nặng trong vụ Hè Thu, cuối năm lại có nhiều trận lũ liên tiếp xảy ra, dịch cúm gia cầm xảy ra một số nới trên địa bàn; một số đơn vị chấp hành chưa nghiêm kế hoạch tiêm phòng gia súc, gia cầm; Ủy ban nhân dân các xã chưa quan tâm chỉ đạo, khoán trắng việc tiêm phòng cho thú y. Đến năm 2010, mặc dù tình hình thời tiết không thuận lợi, nhưng nhờ có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vị Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, có sự nỗ lực phấn đấu của các địa phương và bà con nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu giống, áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học, đẩy mạnh cơ giới hóa, chấp hành nghiêm lịch thời vụ, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện vẫn đạt khá, với mức tăng trưởng bình quân hằng năm tăng lên so với các thời kì trước. Cụ thể toàn ngành mức tăng trưởng năm 2000 ở mức 18,85%, đến năm 2010 tăng lên mức 30,82%. Cơ cấu ngành nông nghiệp, trong ngành trồng trọt huyện chỉ đạo, tập trung đầu tư phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cao su, hồ tiêu nhờ đó mà diện
  • 42. 41 tích cây công nghiệp tăng nhanh hơn so với cây lương thực. Bên cạnh đó, huyện đã chú trọng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo lối trang trại (lợn, gà) để cân đối với ngành trồng trọt và đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng. Tuy giá trị ngành chăn nuôi hằng năm đều tăng lên nhưng xét về mặt tỉ trọng trong ngành nông nghiệp thì còn quá nhỏ. Lĩnh vực dịch vụ phục vụ nông nghiệp ngày được chú trọng đầu tư. Bảng 2.12: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế ĐVT: % Năm 2000 2005 2010 Tổng số 100 100 100 Trồng trọt 62,8 58,3 56,4 Chăn nuôi 24,9 32 29,2 Dịch vụ trong nông nghiệp 12,3 9,7 14,4 [29], [4]. - Về trồng trọt Thời kì 2000-2010, Đảng và chính quyền đã có những chủ trương để khai thác, tận dụng đất hoang hóa để sản xuất, làm cho diện tích gieo trồng các loại cây nông nghiệp tăng khá nhanh, sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả, nên những năm qua trồng trọt đã đạt được nhiều thành tựu; coi trọng sản xuất lương thực cả lúa và hoa màu, đảm bảo an ninh lương thực, phát triển mạnh cây công nghiệp có giá trị như ca su, hồ tiêu; đưa các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, ổn định diện tích cây trồng, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng và trại chăn nuôi các loại giống mới có năng suất cao. Diện tích gieo trồng và sản lượng các loại cây trồng cũng tăng lên đáng kể trong thời kì 2000-2010; đến năm 2010, diện tích gieo trồng cả năm 10.171,11 ha, đạt 99,4% kế hoạch. Trong đó, cây lương thực có hạt 7.005,78 ha, đạt 100,37% kế hoạch; cây công nghiệp hằng năm 697,3 ha; cây lấy bột 1.314,65 ha, đạt 93,9% kế hoạch ; cây thực phẩm 997,68 ha, đạt 110,85% kế hoạch.
  • 43. 42 Bảng 2.13: Diện tích và năng suất gieo trồng lúa qua các năm ĐVT: Diện tích (ha), Năng suất (tạ/ha) Năm 2000 2005 2010 Diện tích 6.231,25 6.422 6.917,58 Năng suất 24 45,5 47,38 [241-242], [4]. Diện tích trồng lúa từ năm 2000 đến 2010 tăng 686 ha; năm 2000, diện tích gieo trồng lúa trong toàn huyện lên đến 6.231 ha; đến năm 2010, tăng lên 6.917 ha (Đông - Xuân 3.821 ha, Hè - Thu 3.076 ha, vụ mùa 19,8 ha). Về mặt năng suất, nhờ ứng dụng thành tựu khoa học vào sản xuất, sử dụng các loại phân bón mới, một số giống lúa cấp 1 chất lượng tốt vào sản xuất; được đầu tư chăm sóc, cung cấp phân bón đầy đủ và thêm vào đó hệ thống tưới tiêu nước cũng được đảm bảo nên năng suất không ngừng tăng. Năm 2000, năng suất lúa đạt 24 tạ/ha; đến năm 2010, tăng lên 47,38 tạ/ha, đạt 95,69% kế hoạch. Có thể thấy ngành trồng trọt của huyện cũng có những bước chuyển biến tích cực trong thời kì 2000-2010. Cây thực phẩm cũng có những chuyển biến đáng kể. Diện tích cây lạc năm 2000 là 514 ha với năng suất 13,5 tạ/ha [26, tr.242]. Đến năm 2010, diện tích giảm xuống còn 670.1 ha, nhưng năng suất vẫn đạt 17,58 tạ/ha, đạt 94,68% kế hoạch [18, tr.3]. Các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao tiếp tục được đầu tư phát triển, mở rộng như: trồng hoa ở Gio Châu, Gio Mai; su le, mướp đắng, dưa hấu ở Gio Phong; dưa Đông - Xuân, lạc Hè - Thu ở Gio Mỹ; trồng măng bát độ, trồng cỏ nuôi bò… - Về chăn nuôi Ngành chăn nuôi của huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển do nguồn sản phẩm đa dạng từ ngành nông nghiệp, nguyên liệu phong phú để làm thức ăn cho ngành chăn nuôi, thêm vào đó là nguồn lao động dồi dào kết hợp các kinh nghiệm chăn nuôi sẵn có, cùng những hiểu biết các tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chăn nuôi. Các loại gia súc, gia cầm phân bố rộng rãi trên địa bàn huyện như trâu được nuôi nhiều ở các xã vùng đồi và vùng đồng bằng, bò, lợn phân bố đều, chăn nuôi gia cầm chủ yếu nuôi theo hộ gia đình. Trong những năm 2006-2010, để đáp ứng nhu cầu thịt và trứng
  • 44. 43 cho thị trường trong huyện và một số huyện, xã lân cận nên trên địa bàn đã phát triển mô hình trang trại, chủ yếu là nuôi gà công nghiệp thả vườn, nuôi vịt. Bảng 2.14: Qui mô đàn gia súc qua các năm ĐVT: con Năm Trâu Bò Lợn Gia cầm 2000 3.244 12.522 23.709 183.605 2005 5.214 13.097 33.556 247.977 2010 4.547 9.038 35.057 231.230 [242], [4], [5]. Giai đoạn 2000-2005, đàn gia súc, gia cầm tiếp tục tăng, chất lượng được cải thiện qua chương trình sind hóa đàn bò, võ béo bò thịt, nuôi bò chất lượng, nạc hóa đàn lợn. Nhiều mô hình trong chăn nuôi đã thu lại lợi nhuận cao, chương trình nuôi lợn nái ngoại đến năm 2005 có 22 con [4, tr.3] đang phát triển tốt, nhiều hộ gia đình đang duy trì hoặc tiếp tục mở rộng diện tích trồng cỏ nuôi bò hạn chế tình trạng thả rong, bảo vệ trồng rừng, tăng hiệu quả kinh tế. Giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2005 chiếm 32% trong nông nghiệp. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện có những chuyển biến tích cực. Được sự giúp đỡ của Viện chăn nuôi thú y và Trung tâm khuyến nông tỉnh, nông dân đã tích cực chủ động tiếp nhận và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào chăn nuôi. Một số hộ gia đình bỏ vốn mua giống bò sind về nuôi thử nghiệm và phát triển đàn bò theo giống mới. Trên địa bàn xuất hiện giống con nuôi mới như ông, hươu ở các xã Hải Thái, Gio Sơn; nhưng chỉ nuôi theo hộ gia đình với số lượng ít. Trên địa bàn đã qui hoạch 100 ha nuôi tôm trên cát tại xã Gio Hải, Trung Giang. Trong giai đoạn 2005-2010, năm 2006 do ảnh hưởng của dịch bệnh nên tổng đàn gia súc, gia cầm giảm so với năm trước 11,6%. Đến năm 2010, ngành chăn nuôi tiếp tục được phục hồi, tương đối ổn định. Giá trị sản xuất chăn nuôi giảm xuống chiếm 29,2% trong nông nghiệp. * Về lâm nghiệp Lâm nghiệp Gio Linh tiếp tục có những bước phát triển tích cực, đảm bảo sự hài hòa giữa trồng rừng và khai thác. Công tác quản lí, khoanh nuôi chăm sóc rừng tự nhiên được chú trọng. Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng năm 2005 được tiến
  • 45. 44 hành; đến năm 2005 đã trồng được 550 ha, chương trình trồng cây phân tán gồm 11,3 vạn cây tràm và 1.100 cây bóng mát; chăm sóc rừng trồng năm trước 2.499 ha [3, tr.4]. Lâm nghiệp và kinh tế vùng gò đồi, miền núi có nhiều tiến bộ, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân hằng năm 6,3%. Các dự án phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng rừng tập trung như: 661, Việt Đức, định canh định cư, trồng cây phân tán được triển khai tích cực. Bình quân mỗi năm trồng mới 843 ha rừng, nâng độ che phủ từ 21,68% năm 2000 lên 29% năm 2005 (nếu tính cả cao su 37,6%) [13, tr.2]. Đến năm 2010 đã hoàn thành qui hoạch 3 loại rừng, triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án trồng rừng, giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho các hộ gia đình và các tổ chức; công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được chú trọng. Mỗi năm trồng mới 507,4 ha rừng tập trung. Năm 2010, toàn huyện có 17.636 ha rừng, trong đó có 12.415 ha rừng trồng, tỉ lệ che phủ đạt 37,3%, tăng 4,8% so với năm 2005 [4, tr.10]. Bảng 2.15: Giá trị và cơ cấu sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động ĐVT: Giá trị (triệu đồng), cơ cấu (%) Năm Tổng số Khai thác Trồng và nuôi rừng Dịch vụ lâm nghiệp Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu 2000 6.710 5.127 77,64 1.476 21.99 107 0,37 2005 13.735 7.539 54,88 6.019 43,82 177 1,3 2010 39.323 37.626 95,68 1.477 3,75 220 0,57 [34], [58]. Những năm qua giá trị lâm nghiệp tăng nhanh, tuy nhiên giá trị khai thác tăng nhanh và chiếm tỉ trọng lớn. Giá trị trồng và nuôi rừng đang chiếm tỉ trọng thấp. Dịch vụ lâm nghiệp tăng lên, nhưng chiếm tỉ trọng tương đối thấp. Công tác định canh, định cư hai xã miền núi thực hiện đúng quy hoạch. Phong trào cải tạo vườn tạp, xây dựng vườn nhà, vườn đồi, vườn rừng; phát triển trang trại nông - lâm kết hợp ở vùng gò đồi, miền núi mang lại hiệu quả kinh tế. Đến năm 2010, toàn vùng có 64 trang trại; 2.431 ha cao su tiểu điền, đưa vào khai thác 580 ha, sản lượng đạt 785 tấn; 440 ha hồ tiêu, sản lượng 416 tấn (so với năm 2005 diện tích cao su tăng 1.385 ha, hồ tiêu tăng 40,7 ha) [12, tr.10].
  • 46. 45 * Về ngư nghiệp Gio Linh có điều kiện để phát triển thủy sản và xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, tập trung khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản là nhiệm vụ trọng tâm của vùng. Nuôi trồng thủy sản ngày càng được phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, diện tích nuôi trồng ngày càng mở rộng từ 210 ha năm 2000 [11, tr.3], năm 2010 tăng lên 812 ha [20, tr.4]. Năng lực khai thác hải sản tăng khá, tổng công suất từ 15.660 CV năm 2000, lên 18.500 CV năm 2010; dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển mạnh. Nuôi trồng thủy sản phát triển theo hướng vừa và nhỏ, đa dạng hóa các loại con nuôi, thực hiện thâm canh, bán thâm canh. Đã triển khai quy hoạch các vùng chuyên canh cá dọc sông Cánh Hòm; nuôi cá nước ngọt trên các ao, đầm và hồ thủy lợi. Tổng sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản năm 2000 đạt 6.140 tấn [26, tr.3]; năm 2005, 8.384 tấn (do biển mất mùa) [4], đến năm 2010 đạt 10.000 tấn, trong đó xuất khẩu 2.590 tấn, tăng 795 tấn so với năm 2005 [1, tr.11]. Nhờ áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong nuôi trồng thủy sản nên sản lượng không ngừng tăng lên, góp phần làm giá trị thủy sản tăng nhanh. Bảng 2.16: Giá trị và cơ cấu của ngành thủy sản (giá hiện hành) ĐVT: Giá trị (triệu đồng), Tỉ trọng (%) Năm Tổng số Nuôi trồng Khai thác Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng 2000 6.140 100 1.241 20.21 4899 79.79 2005 14.322,6 100 1.888,3 13.18 12.434,3 86.82 2010 362.201 100 64.182 8.26 298.019 91.74 [242], [61]. Cơ cấu sản xuất thủy sản có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng khai thác giảm nuôi trồng. Khai thác chiếm tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng lên, các tàu đánh bắt xa bờ có hiệu quả. Trong giai đoạn 2000-2010, nuôi trồng thủy sản tuy chiếm tỉ trọng còn thấp nhưng có những bước tiến quan trọng, nhờ xây dựng và hoàn thiện quy hoạch, đầu tư hạ tầng kĩ thuật, giống, khuyến ngư, sự chỉ đạo sản xuất của huyện, đã làm cho hoạt động nuôi trồng thủy sản được nhân dân hưởng ứng, các doanh nghiệp
  • 47. 46 đầu tư phát triển. Tiếp tục mở rộng diện tích nuôi nước ngọt ở sông, ao hồ tự nhiên, ao hồ đào. Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ ngư dân theo Quyết định 289 của Chính phủ, làm tốt công tác bảo hiểm tàu thuyền, thuyền viên và bảo vệ an toàn cho ngư dân trên biển, phát triển thêm nhiều tàu xa bờ (năm 2010 có 50 tàu). Chỉ đạo mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, quy hoạch 100 ha nuôi tôm trên cát tại xã Gio Hải, Trung Giang; triển khai nuôi tôm 140 ha tôm, 422,38 ha cá. 2.1.2.2. Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng - Về công nghiệp Thời kì 2000-2010, công nghiệp đã có bước phát triển vững chắc và làm sức bật cho các ngành kinh tế khác phát triển. Giai đoạn 2000-2005, công nghiệp phát triển ổn định và có bước tăng trưởng khá, năm 2005 giá trị của ngành công nghiệp đạt 23.145 triệu đồng. Điểm nổi bật trong phát triển công nghiệp ở giai đoạn 2005-2010 chính là Khu Công nghiệp Quán Ngang được thành lập và tổ chức hoạt động theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất, Khu Kinh tế; với tổng diện tích đất quy hoạch 318,13 ha. Việc xây dựng khu công nghiệp đã làm cho nền kinh tế thị trấn Gio Linh chuyển biến nhanh chóng. Giai đoạn 2005-2010, công nghiệp đã có bước phát triển nhanh và có mức tăng trưởng vượt bậc, giá trị ngành công nghiệp năm 2010 đạt 71.330 triệu đồng Bảng 2.17: Giá trị sản xuất công nghiệp qua các thời kì ĐVT: Triệu đồng 2000 2005 2010 Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Tổng số 11.871 100 23.145 100 71.330 100 Công nghiệp khai thác 1.404 12,2 7.702 33,2 4.119 5,7 Công nghiệp chế biến 10.467 87,8 17.442 66,8 67.211 94,3 [371], [69]. Giá trị của ngành công nghiệp khai thác và chế biến đều tăng theo từng năm, đặc biệt là công nghiệp chế biến có bước tăng mạnh từ 10.467 triệu đồng năm 2000 lên 67.211 triệu đồng năm 2010. Chủ trương của Đảng bộ và chính quyền huyện Gio Linh trong thời kì 2000- 2010 là chú trọng đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, nên những năm qua tỉ
  • 48. 47 trọng của công nghiệp khai thác giảm dần từ 12,2% năm 2000 giảm xuống còn 5,7% năm 2010. Còn tỉ trọng của công nghiệp chế biến tăng dần, đến năm 2010 đạt 94,3%. Việc thay đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp theo thành phần có tác động tích cực đến nhịp độ phát triển công nghiệp trên địa bàn. Bảng 2.18: Giá trị và cơ cấu sản xuất công nghiệp qua từng thời kì ĐVT: Giá trị (triệu đồng), Tỉ trọng (%) 2000 2005 2010 Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Giá trị Tỉ trọng Toàn ngành 11.871 100 23.145 100 71.330 100 Khu vực nhà nước 771 6,5 985 4,3 1.097 1,6 Khu vực ngoài nhà nước 11.101 93,5 22.160 95,7 70.233 98,4 Tỉ trọng giữa khu vực nhà nước và ngoài nhà nước cũng có nhiều thay đổi, khu vực ngoài nhà nước chiếm tỉ trọng rất lớn và có xu hướng tăng dần theo thời gian, năm 2000 chiếm 93,5% đến năm 2010 đã tăng lên 98,4%. Sau năm 2000, xu thế chuyển các cơ sở công nghiệp nhà nước thành các công ti cổ phần, các nhà máy trên địa bàn cũng theo xu thế chuyển đổi của nền kinh tế thị trường, công nghiệp nhà nước dần chuyển tỉ trọng cho công nghiệp ngoài nhà nước, các công ti tự điều hành và chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của công ti mình. Như vậy, chính sách của cơ chế thị trường đã thực sự đi vào sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Công nghiệp tập trung chỉ đạo theo hướng phát triển mạnh các ngành nghề có lợi thế như: khai thác vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm - thủy sản, sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá… * Về tiểu thủ công nghiệp Trong thời kì 2000-2010, duy trì một số nghề truyền thống, phát triển một số nghề mới như: mộc mĩ nghệ, nhôm kính gia dụng, thêu ren, mây giang đan,… bên cạnh đó còn khôi phục và phát triển những làng nghề truyền thống đã góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân và tăng giá trị kinh tế địa phương; như nghề đan lát ở làng Lan Đình, ngày càng phát triển đưa lại nguồn thu nhập lớn cho người dân, hiện tại đang khôi phục thử nghiệm nghề đan mây truyền thống và tranh sơn khảm tre để thu hút lao động tạo mặt hàng xuất khẩu cho tỉnh nhà.
  • 49. 48 Bảng 2.19: Số liệu tiểu thủ công nghiệp qua các thời kì 2000 2005 2010 Cơ sở 398 565 726 Giá trị (triệu đồng) 8.145 12.518 15.548 Những năm gần đây, cơ sở sản xuất thủ công trên địa bàn có bước phát triển nhanh cả về quy mô lẫn chất lượng, số cơ sở sản xuất tăng từ 398 cơ sở năm 2000 tăng lên 726 cơ sở năm 2010. Cùng với đó giá trị của thủ công nghiệp cũng tăng nhanh, đến năm 2010 đạt 15.548 triệu đồng. Nhờ chủ trương hợp lí khai thác tốt các tiềm năng, đầu tư kinh phí, kĩ thuật để phát triển thủ công nghiệp, nên những năm gần đây các cơ sở sản xuất thủ công có bước phát triển ổn định, đảm bảo đươc đầu ra, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động trong địa bàn. * Về phát triển cơ sở hạ tầng Bằng nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh, các tổ chức quốc tế, ngân sách huyện và nhân dân đóng góp; từ năm 2001-2005, 5 năm qua đã xây dựng, nâng cấp nhiều công trình quan trọng đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả, với tổng nguồn vốn huy động 147.869 triệu đồng, tăng bình quân hàng năm 29.153 triệu; so với năm 2000 tăng 3 lần [17, tr.4]. Mạng lưới điện tiếp tục mở rộng và nâng cấp. Năm 2005, 99% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia, chỉ còn 7 điểm dân cư ở miền núi, vùng xa chưa có điện [41, tr.2]. Đến năm 2010, 100% số hộ sử dụng điện. Hệ thống giao thông nội huyện, liên xã được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới, chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn được nhiều địa phương triển khai. Các tuyến đường do tỉnh và Trung ương đầu tư trên địa bàn như đường Gio Thành - Trung Giang, đường vào khu công nghiệp Quán Ngang, đường 75 Đông, đặc biệt đường Hồ Chí Minh, đường 74 hoàn thành mở ra khả năng phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự đầu tư của Trung ương, của tỉnh đã hoàn thành việc tu sửa, nâng cấp hồ thủy lợi Kinh Môn, Hà Thượng, một số hồ đập nhỏ, kiên cố kênh mương, cơ bản đảm bảo tưới tiêu cho gần 3.700 ha lúa hai vụ. Các chương trình 135, chương trình kiên cố hóa trường học, dự án MAG, PLAN,… đã góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng nông thôn. Việc xây dựng nhà ở của nhân dân phát triển nhanh, đến năm 2005 tỉ lệ hộ có nhà xây, nhà ngói đạt 93,7%; chương trình nước sạch được đẩy mạnh, đã có 69% hộ dùng nước hợp vệ sinh [12, tr.3].
  • 50. 49 Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phục vụ có hiệu quả sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Đến năm 2005, bình quân có 4,7 máy/100 máy (năm 2000: 1,22 máy/100 dân). Trên địa bàn huyện có 1 tổng đài trung tâm, 3 tổng đài cụm, 16 điểm bưu điện văn hóa xã hội với 3.478 máy điện thoại cố định và 200 máy di động; đã phủ mạng được hệ thống thông tin liên lạc 100% số xã và cơ quan đơn vị đã có máy điện thoại. Trong 5 năm 2006-2010, huyện đã đầu tư 347,7 tỉ đồng (trong đó nhân dân và ngân sách địa phương 53,8 tỉ đồng). Hệ thống trường học, cơ sở y tế, trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị được cao tầng hóa, kiên cố hóa; bê tông hóa giao thông nông thôn đạt 37,8%; kiên cố hóa kênh mương đạt 57,5%, một số tuyến đường nội thị được nhựa hóa. Công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng cầu Cửa Tùng, Cửa Việt, đường cơ động Cửa Việt - Cửa Tùng, Khu Công nghiệp Quán Ngang, khu dịch vụ - du lịch Cửa Việt, nhựa hóa tỉnh lộ 76 Đông, đường liên xã Gio Mai - Trung Giang được thực hiện khá tốt. Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đến năm 2010, nhìn chung cơ sở hạ tầng được đảm bảo, đã xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp nhiều chương trình và hạng mục công trình phục vụ sản xuất đời sống nhân dân ngày càng tốt hơn; điều đó góp phần tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và ổn định đời sống của người dân. 2.1.2.3. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch * Về thương mại - dịch vụ Điểm nổi bật của thị trường nội địa từ 2000-2010 là mạng lưới kinh doanh phục vụ phát triển nhanh, qui mô ngày càng mở rộng. Trước hết, số lượng cơ sở kinh doanh bao gồm hệ thống doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, lực lượng hộ kinh doanh cá thể. Đi đôi với tăng nhanh số lượng cơ sở kinh doanh, hệ thống chợ, các điểm bán hàng, kinh doanh dịch vụ mở rộng khắp các vùng trên địa bàn. Cụ thể được thể hiện bằng bảng 2.20.
  • 51. 50 Bảng 2.20: Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phân theo loại hình kinh doanh ĐVT: Cơ sở Năm Tổng số Chia ra DN Nhà nước HTX DN tư nhân Hộ cá thể 2000 1.455 50 50 5 1.350 2005 1.644 78 34 32 1.500 2010 2.894 91 45 94 2.664 Về cơ sở kinh doanh, cơ sở cá thể phát triển với tốc độ nhanh từ 1.350 cơ sở năm 2000 lên 2.664 cơ sở năm 2010. Bình quân mỗi năm tăng 131 cơ sở trong 10 năm. Hộ kinh doanh cá thể hoạt động linh hoạt, một bộ phận tập trung ở các chợ đầu mối như chợ Cầu. Bộ phận còn lại tập trung ở các chợ ở nông thôn và các khu dân cư. Hệ thống chợ trở thành nơi giao lưu trao đổi hàng hóa giữa người tiêu dùng và người sản xuất, giữa người kinh doanh và người tiêu dùng. Như vậy lực lượng kinh doanh thương mại phát triển tương đối đều ở các vùng trong huyện. Xét về thành phần kinh tế, do sự điều tiết của cơ chế quản lí, số lượng cơ sở của mỗi thành phần có sự thay đổi khác nhau. Đối với doanh nghiệp nhà nước, năm 2000 có 50 cơ sở, tăng lên 91 cơ sở năm 2010; tạo việc làm cho trên 350 lao động, thu nhập bình quân 120-150 triệu đồng. Đến năm 2010, đã cơ bản hoàn thành công tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước theo các đề án được phê duyệt, đảm bảo chất lượng, tiến độ, góp phần huy động nguồn lực các thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước. Đối với thành phần hợp tác xã, năm 2000 có 50 cơ sở, đến năm 1995 giảm xuống còn 34 cơ sở. Sau đó Luật hợp tác xã ra đời, số lượng hợp tác xã phục hồi, đến năm 2010, số lượng hợp tác xã tăng lên 45 cơ sở. Doanh nghiệp tư nhân do tác động của Luật doanh nghiệp, nhiều nhà đầu tư kinh doanh thương mại theo mô hình doanh nghiệp. Năm 2000, toàn huyện có 5 cơ sở; đến năm 2010, tăng lên 94 cơ sở. Ngành kinh doanh chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực: Kinh doanh thương mại và khách sạn nhà hàng.
  • 52. 51 Với lực lượng đông, mạng lưới kinh doanh rộng, hàng năm hệ thống nội thương đã cung ứng cho thị trường nội địa một lượng hàng hóa lớn. Cụ thể qua bảng 2.21. Bảng 2.21: Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội qua các thời kì (phân theo ngành) ĐVT: Triệu đồng Năm Tổng Trong đó Thương mại Dịch vụ Khách sạn, nhà hàng 2000 49.535 28.672 1.001 19.862 2005 87.480 50.872 3.520 33.088 2010 424.061 333.334 29.994 92.834 [4], [81]. Mạng lưới thương mại, dịch vụ phát triển rộng khắp, hàng hóa đa dạng, lưu thông thông thoáng. Doanh thu năm 2005 đạt 54.392 triệu đồng, tăng 24.719 triệu đồng so với năm 2000. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 12,8%. Hệ thống chợ nông thôn được nâng cấp, mở rộng; mạng lưới thương mại dịch vụ có bước phát triển mới; hàng hóa lưu thông thuận tiện, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn. Giá trị sản xuất kinh doanh tăng bình quân hàng năm 24,8%. Đến năm 2010, có 2.894 cơ sở và 3.160 lao động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, tăng 2,2 lần so với năm 2005 [24, tr.11], tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 363.328 triệu đồng [19, tr.81]. Nhờ có chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, lực lượng kinh doanh thương mại các ngành phát triển nhanh, mở rộng mạng lưới phục vụ nhu cầu xã hội. Do đó, đã góp phần ổn định thị trường, điều hòa cung cầu, đặc biệt đã đáp ứng nhu cầu cơ bản cho dân cư các vùng nông thôn. Trong xu thế hội nhập kinh tế, hoạt động ngoại thương có vai trò vị trí quan trọng, đó là bước đi đầu tiên để mở rộng quan hệ đối ngoại về kinh tế, thông qua hoạt ngoại thương mở rộng quan hệ hợp tác, hòa nhập nền kinh tế địa phương vào kinh tế khu vực. Xác định được vị trí và hoạt động của chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của nhà nước, hoạt động ngoại thương được quan tâm đúng mức và nâng cao vị trí trong nền kinh tế. Đối với Gio Linh, xuất khẩu được xác định là một trong bốn chương trình kinh tế trọng điểm của địa phương, gắn xuất khẩu với các ngành nghề truyền thống, nhất là nuôi trồng khai thác, chế biến hải sản.
  • 53. 52 * Trong du lịch Du lịch là một ngành mới phát triển, nhưng cũng khẳng định Gio Linh có tiềm năng phát triển du lịch. Khu thương mại - du lịch - dịch vụ Cửa Việt, tuyến đường Cửa Việt - Cửa Tùng, cầu Cửa Tùng, Cửa Việt, các cụm du lịch đã được tỉnh phê duyệt như đường Hồ Chí Minh và Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, cụm di tích đôi bờ Hiền Lương, Cồn Tiên - Dốc Miếu; với lợi thế có bãi tắm dọc tuyến biển từ Cửa Việt đến Cửa Tùng - là nơi thu hút rất đông khách trong và ngoài nước, nên cần phải có định hướng phát triển và quy hoạch để đảm bảo phát triển bền vững trong những năm tới, gắn phát triển thương mại với du lịch, dịch vụ trên địa bàn, có tính đến mối quan hệ với các huyện bạn cũng như toàn tỉnh. Nhờ những lợi thế và tiềm năng, du lịch Gio Linh thu hút được lượng khách ngày càng đông và doanh thu từ du lịch ngày càng lớn dần theo số tăng của lượng khách. Năm 2000 có 418.000 lượt khách [31, tr.9], năm 2010 đạt 927.851 lượt khách [6, tr.91]. Doanh thu du lịch năm 2000 là 19.862 triệu đồng [10, tr.4], năm 2010 đạt mức 92.83 triệu đồng [22, tr.81]. Song song với hiệu quả trực tiếp thể hiện qua doanh thu, hiệu quả xã hội thông qua hoạt động du lịch rất lớn như tạo việc làm cho người hoạt động phục vụ du lịch, trao đổi hàng hóa địa phương sản xuất và quan trọng hơn là trao đổi văn hóa địa phương với khách thập phương. Khi đời sống kinh tế được nâng cao, lượng khách du lịch tăng, nhu cầu hưởng lợi các dịch vụ sinh hoạt được tăng theo thúc đẩy các hoạt động dịch vụ mở ngày càng phát triển. Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Năm 2000, có 12 cơ sở lưu trú [26, tr.8]; đến năm 2010, tăng lên 130 cơ sở lưu trú [17, tr.80]. 2.2. Về chuyển biến xã hội 2.2.1. Thời kì 1990-2000 2.2.1.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế * Về giáo dục Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về giáo dục, đào tạo và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI về phát triển giáo dục và đào tạo, trong những năm từ 1991-1995, hệ thống giáo dục từ mầm non đến phổ thông được sắp xếp, củng cố và mở rộng. Chất lượng giáo dục toàn
  • 54. 53 diện từng bước được nâng lên. Hàng năm có trên 94% học sinh lên lớp; tỉ lệ tốt nghiệp, chuyển cấp, đỗ cao đẳng - đại học năm sau cao hơn năm trước. Số học sinh đạt giải thưởng trong các kì thi học sinh giỏi ở tỉnh và quốc gia hàng năm đều tăng, trong 5 năm có 180 em dự các kì thi học sinh giỏi ở tỉnh và quốc gia (trong đó có 38 em đạt giải cấp tỉnh, 3 em đạt giải cấp quốc gia). Số lượng học sinh ở các cấp học, ngành học đều tăng nhanh, từ 11.333 em năm 1991 lên 13.934 em năm 1995 [25, tr.156]. Năm 1992, huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục - xóa mù chữ. Phong trào xã hội hóa giáo dục được các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân hưởng ứng khá tích cực. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và huyện lần thứ XII, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ hai (khóa VIII) về giáo dục và đào tạo; trong những năm 1996-2000, mặc dù trong hoàn cảnh một huyện còn nghèo, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhưng ý thức được “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội đã quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đến cuối năm 1999 đã có 17 đơn vị xã, thị trấn phổ cập trung học cơ sở, đạt 85%. Đến năm 2000, bình quân 3,6 người dân có 1 người đi học (tỉ lệ này năm 1995 là 4,5 người dân có 1 người đi học) [8, tr.101]. Cơ sở vật chất được tăng cường đáng kể, hơn 50% số xã có trường cao tầng, kiên cố, hầu hết các trường có thư viện, phòng thiết bị đạt chuẩn. Phong trào xã hội hóa giáo dục phát triển; năm 1995 được công nhận huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở . Bảng 2.22: Số trường, lớp, giáo viên và học sinh giáo dục phổ thông trên địa bàn huyện năm học 1990-1991, 1995-1996, 2000-2001 Năm Danh mục 1990-1991 1995-1996 2000-2001 PTCS PTTH PTCS PTTH PTCS PTTH Số trường 19 2 34 2 39 3 Số lớp 348 20 414 19 549 25 Số giáo viên 531 47 610 60 728 75 Số học sinh 10.604 980 13.619 856 17.869 2.363 [15, tr.244]. Được sự quan tâm và giúp đỡ của các ban ngành, cùng với nỗ lực của toàn thể giáo viên và học sinh trên địa bàn nên sự nghiệp giáo dục những năm qua đã có những
  • 55. 54 chuyển biến tích cực, điều kiện dạy và học được đảm bảo, số trường, lớp, giáo viên, học sinh tăng lên, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên. Quy mô trường lớp ngày đáp ứng nhu cầu học tập của các em học sinh, chất lượng dạy và học được nâng cao thì người thầy có vai trò rất quan trọng, nhận thức được tầm quan trọng đó huyện luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện có hiệu quả. * Về y tế Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, xây dựng ở 20/20 xã, thị trấn trong huyện và ngày càng phục vụ tốt hơn việc khám, điều trị bệnh nhân. Đến năm 1995, đã xóa được xã trắng về y tế. Trong giai đoạn 1996-2000, công tác xã hội hóa y tế được các cấp, các ngành và mọi người quan tâm. Bằng nhiều nguồn vốn, trong thời gian này toàn huyện đã đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thêm nhiều trang thiết bị y tế phục vụ việc khám và chữa bệnh cho nhân dân; đã xây dựng mới Trung tâm Y tế huyện và 18 trạm y tế xã khang trang. Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 43,8% năm 1995 xuống còn 37% năm 2000 [5, tr.180]. Đã thực hiện tốt chương trình y tế cộng đồng, thanh toán được bệnh phong, đẩy lùi bệnh sốt rét. Từ năm 1990 đến 2000, số cơ sở và giường bệnh thuộc hệ thống y tế công lập về cơ bản giữ mức ổn định, không tăng cơ sở, giường bệnh tăng không đáng kể. Song năng lực phục vụ khám, điều trị được tăng cường do được đầu tư chiều sâu, trang thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh. Bảng 2.23: Hoạt động khám và điều trị trên địa bàn Năm Cơ sở điều trị Giường bệnh Cán bộ y tế Bệnh viện Trạm y tế Giường bệnh nhân Giường trạm y tế Ngành y Ngành dược 1990 1 16 50 166 43 2 1995 1 20 112 320 106 4 2000 1 20 165 400 131 16 Năm 2000, Gio Linh có 23 cơ sở y tế, trong đó có 1 bệnh viện đa khoa, 2 phòng khám khu vực và 20 trạm y tế, tất cả có 565 giường bệnh, 147 cán bộ y tế, trong đó ngành y có 131 người, ngành dược có 16 người. Số lượt người điều trị nội trú năm
  • 56. 55 1995 có 2.750 lượt, đến năm 2000 có 3.684 lượt. Số lượt người khám bệnh năm 1995 có 42.505 lượt, năm 2000 có 81.500 lượt [19, tr.245]. Trải qua 10 năm đổi mới, ngành y tế Gio Linh đã chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ cả về chuyên môn và đạo đức, xây dựng mạng lưới y tế từ huyện về đến các cơ sở xã. Ngành y tế Gio Linh đã có những kế hoạch và hành động sâu rộng tác động trực tiếp và lâu dài đến đời sống sức khỏe người dân. Phát động phong trào vệ sinh môi trường, duy trì thường xuyên công tác tiêm chủng, củng cố công tác khám chữa bệnh, thực hiện các chức trách chế độ công tác trong bệnh viện; bệnh xá, xây dựng, phát triển hệ thống mạng lưới ngành dược, thực hiện chủ trương đưa thuốc đến tận người dân. Ngành y tế Gio Linh đóng góp không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. 2.2.1.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm * Về dân số Công tác kế hoạch hóa gia đình đã được thành lập từ huyện tới xã đạt nhiều kết quả. Hoạt động truyền thông dân số được quan tâm và có tác dụng tốt trong việc nâng cao công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Mạng lưới cán bộ và công tác viên dân số - kế hoạch hóa gia đình từ huyện đến cơ sở bước đầu hoạt động có hiệu quả. Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm dần qua từng năm, từ 2,66% năm 1991 xuống còn 1,6% năm 2000, vượt 0,2% so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đề ra [8, tr.180]. Nhận thức được tầm quan trọng của dân số đối với phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ và chính quyền Gio Linh đã có những chủ trương nhằm kiểm soát sự bùng nổ dân số, nhờ đó sự quan tâm của chính quyền các cấp nên tỉ lệ dân số tăng tự nhiên đã giảm đáng kể so với thời gian trước. Bảng 2.24: Tỉ lệ sinh, tỉ lệ chết, tỉ lệ tăng tự nhiên qua các thời kì ĐVT: (o /oo) Năm Tỉ lệ sinh Tỉ lệ chết Tỉ lệ tăng tự nhiên 1990 27,8 5, 9 20,3 1995 22,07 5,1 17,28 2000 16,6 3,7 12,20
  • 57. 56 Trong thời kì 1990-2000, tỉ lệ sinh giảm xuống nhanh chóng. Đây là thành công lớn của công tác dân số kế hoạch hóa gia đình. Theo tài liệu thống kê, tính đến tháng 12/2000, dân số huyện Gio Linh là 74.527 người, tỉ lệ tăng tự nhiên là 12,20o /oo giảm xuống so với các năm trước [10, tr.6]. Những năm qua nhờ khoa học y tế hiện đại, nên công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được tốt hơn, vì vậy mà tỉ lệ chết năm 1990 chiếm 5,9o /oo giảm xuống còn 3,7o /oo vào năm 2000. Tính đến năm 2000 dân số phân bố trên 3 vùng địa lí kinh tế chủ yếu: vùng ven biển diện tích 2.893 ha với dân số 17.083 người, trong đó người trong độ tuổi lao động chiếm 7.945 người; gồm 3 xã chạy dọc theo bờ biển dài 15 km. Vùng đồng bằng với diện tích 13.918 ha, gồm 7 xã với dân số 28.897 người, lao động 13.185 người. Vùng gò đồi và miền núi với diện tích 30.486 ha, gồm thị trấn và 9 xã với dân số 28.547 người, lao động 12.887 người [22, tr.182]. Qua đó ta nhận thấy dân số Gio Linh phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng. * Về lao động và việc làm Số người làm việc trong các ngành kinh tế tăng lên không ngừng. Năm 1990 là 25.602 [8, tr.4], năm 2000 là 34.017 [12, tr.2], tăng 8.415 người so với năm 1990. Số người đang làm việc tăng lên là do những năm qua kinh tế của huyện tăng trưởng liên tục với tốc độ khá đã tạo tiền đề cho vấn đề giải quyết việc làm. Nhà nước cũng đã ban hành chính sách tạo môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm, cơ sở kinh tế tự do thuê mướn người lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh. Thực hiện mục tiêu về việc làm của chính quyền huyện Gio Linh, phòng lao động thương binh và xã hội đã tổ chức liên kết với trung tâm giới thiệu việc làm chủ động tìm kiếm, tham gia cùng trung tâm tổ chức như đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, cung cấp thông tin cho người lao động có nhu cầu tìm việc làm, hình thành hệ thống thông tin thị trường lao động góp phần đắc lực cho thị trường lao động trên địa bàn. Đến năm 2000, đã giải quyết việc làm cho 28.874 lao động chiếm 84,2% lực lượng lao động Gio Linh [7, tr.3]. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng lao động cho sản xuất công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp. Trước thực trạng đó, nông nghiệp ở huyện ngày càng bị thu hẹp để dành chỗ cho sản xuất công nghiệp trên địa bàn nên công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đang ngày càng trở nên cấp thiết.
  • 58. 57 Đến năm 2000, lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp còn chiếm 65% lực lượng lao động toàn Huyện [12, tr.4]. Trong những năm qua nhờ thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho người lao động, đời sống của người lao động ngày càng được cải thiện đáng kể. Số lao động nông thôn mắc các tệ nạn xã hội do thất nghiệp, nghèo đói đã giảm đáng kể. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng hiện đại, tăng lao động ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp. Đây là thành quả bước đầu trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động của các cấp chính quyền trong thời gian qua. Giải quyết việc làm cho người lao động đã tạo bước ngoặt giúp ổn định trật tự xã hội, góp phần nâng cao nếp văn minh cho bà con huyện Gio Linh. * Đời sống dân cư Do điểm xuất phát quá thấp, nên mặc dù Đảng bộ, chính quyền các cấp, các ban ngành đoàn thể và nhân dân toàn huyện đã có nhiều cố gắng nhưng kinh tế của Gio Linh vẫn còn ở tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ lẻ là phổ biến và nặng tính tự cung tự cấp. Trong những năm qua chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu của chiến lược kinh tế chung trong cả nước, cả tỉnh, cả huyện và từng địa phương, cơ sở; đã đạt được thành tựu quan trọng. Tỉ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể, tỉ lệ hộ đói nghèo năm 1990 chiếm 30%, giảm xuống đến năm 2000 còn 15,6% [6, tr.182]. Tuy nhiên số hộ thoát nghèo chưa bền vững, vì vậy công tác xóa đói giảm nghèo bền vững là một nhiệm vụ hết sức khó khăn đối với các cấp chính quyền huyện Gio Linh. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người có xu hướng tăng, mặc dù so với mặt bằng chung của cả nước thì vẫn còn thấp. Năm 1990, thu nhập bình quân đầu người là 665 ngàn đồng/tháng, tăng lên 979 ngàn đồng/tháng năm 2000 [21, tr.3]. Mức thu nhập bình quân đầu người ở thị trấn và nông thôn vẫn có sự chênh lệch, khoảng cách đó ngày càng được nới rộng. Cơ cấu chi tiêu cho đời sống những năm qua cũng có tiến bộ, tỉ trọng chi tiêu cho ăn uống trong tổng chỉ tiêu cho đời sống giảm dần và chi tiêu cho nhu cầu ngoài ăn uống (bao gồm mặc, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe) tăng lên. Những năm 1990, dân còn nghèo, phần lớn chi tiêu phục vụ ăn uống, sau này thu nhập tăng lên và mức sống được cải thiện, chi tiêu cho nhu cầu ăn uống tăng lên; biểu hiện một sự tiến bộ về đời sống của dân cư.
  • 59. 58 Nhà ở nhân dân được kiên cố từng bước; đưa tỉ lệ nhà xây, nhà ngói từ 32,2% năm 1995 lên 62% năm 2000 (vượt 2% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII (2/1996) đề ra) [9, tr.182]. Những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã được lãnh đạo huyện và cán bộ các ngành thực hiện sáng tạo và đi sâu vào đời sống người dân, vì vậy đời sống nhân dân đã từng bước ổn định và phát triển, chất lượng đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể. 2.2.2. Thời kì 2000-2010 2.2.2.1. Lĩnh vực giáo dục và y tế * Về giáo dục Thực hiện Chỉ thị 40 của Ban Bí thư và Quyết định số 09/NQ-CP về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục; Đảng bộ và chính quyền đã củng cố, duy trì kết quả phổ cập THPT vững chắc ở 21/21 xã, thị trấn; triển khai Kế hoạch phổ cập giáo dục bậc Trung học đến năm 2010; tích cực thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy - học, áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập; thực hiện cuộc vận động “Hai không”. Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, Đảng bộ và chính quyền đã có những chủ trương để phát triển toàn diện về cả quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất nền giáo dục phù hợp với tình hình mới. Mạng lưới trường học được tăng cường nâng cấp đáng kể, qui mô giáo dục đào tạo được nâng lên theo đà phát triển kinh tế. Bảng 2.24: Số liệu của ngành giáo dục qua các thời kì ĐVT: Người Mầm non Tiểu học THCS THPT Giáo viên Học sinh Giáo viên Học sinh Giáo viên Học sinh Giáo viên Học sinh 2000-2001 119 2.950 435 11.199 400 6.670 75 2.363 2005-2006 150 2.574 529 9.284 460 8.727 127 2.855 2009-2010 201 3.089 579 6.125 519 6.870 129 3.155 [5], [7-8].
  • 60. 59 Trường học tiếp tục được quan tâm và đầu tư xây dựng. Hệ thống trường lớp được quy hoạch và phát triển đúng hướng. Số học sinh huy động vào các cấp học, ngành hoc đều tăng. Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến; số học sinh giỏi, học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đều tăng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được chú trọng, nên phần lớn đạt chuẩn và trên đạt chuẩn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được tăng cường đáng kể. Đến năm 2005, 100% xã, thị trấn có trường phổ thông kiên cố, cao tầng; nhiều trường phổ thông có thư viện và phòng thiết bị dùng chung đạt chuẩn. Phong trào xã hội hóa giáo dục và hoạt động khuyến học được đẩy mạnh; giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS. Phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia được triển khai tích cực; năm 2005, đã có 17 trường tiểu học, 2 trường THCS, 2 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia [41, tr.4]. Đến năm 2010, ngành giáo dục tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh phong trào xã hội hóa giáo dục, gắn với việc nâng cao chất lượng các phong trào thi đua “Hai tốt”, cuộc vận động “Hai không”, “Mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá thực chất về chất lượng học sinh các cấp học. 100% giáo viên các ngành học, cấp học có trình độ đạt chuẩn, trong đó 66,3% giáo viên đạt chuẩn. Kết thúc năm học 2009-2010, trên toàn huyện tốt nghiệp THCS đạt 98,2%; THPT 93%, tăng 24,7% so với năm học trước; Bổ túc Trung học 92,4%; hoàn thành chương trình Tiểu học đạt 99,9% [35, tr.5-6]. Tổng kết 10 năm thực hiện mục tiêu phổ cập bậc THCS và xây dựng trường chuẩn quốc gia (2001-2010); cơ sở vật chất trường học được quan tâm đầu tư xây dựng. Năm 2010, có thêm 5 trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó có trường PTDTNT huyện), nâng tổng số lên 43 trường, chiếm 66,7% tổng số trường [6, tr.6] và đã huy động được 38.482 triệu đồng quỹ khuyến học; tổ chức phát thưởng cho trên 355 học sinh, giáo viên với tổng kinh phí 26.760 triệu đồng [11, tr.6]. Giáo dục có vị trí chiến lược quốc sách hàng đầu, với mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài đã được huyện nhận thức đúng đắn và thực hiện một cách hiệu quả nên những năm gần đây giáo dục Gio Linh đã có hướng chuyển biến theo hướng hiện đại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà.
  • 61. 60 * Về y tế Công tác đào tạo đào tạo cán bộ và xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho các trung tâm y tế xã, thị trấn được đầu tư. Chủ trương phát triển y tế của huyện theo quan điểm y học dự phòng, lấy chăm sóc sức khỏe cho nhân dân làm nội dung chủ yếu, kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại. Bảng 2.25: Số liệu Y tế qua các thời kì Năm Cơ sở điều trị Giường bệnh Cán bộ y tế Bệnh viện Trạm y tế Giường bệnh nhân Giường trạm y tế Ngành y Ngành dược 2000 1 16 50 50 43 2 2005 1 20 65 59 150 5 2010 1 21 83 102 169 11 [245], [87]. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất, trang thiết bị ngành y tế được tăng cường. Đến năm 2005, 100% trạm y tế được kiên cố hóa; đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến cơ sở từng bước được nâng lên; 100% thôn, bản có nhân viên y tế - đảm bảo điều kiện khám và chữa bệnh cho nhân dân, 100%; 1 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia [3, tr.5]. Đến năm 2010, tổ chức đánh giá 7 năm xây dựng xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, có thêm 3 xã đạt chuẩn, nâng tổng số lên 18/21 xã, thị trấn, chiếm 85,7% vượt kế 35,7% kế hoạch; có 27 làng phát động xây dựng làng sức khỏe, gia đình sức khỏe, nâng tổng số lên 64 làng. Tại tuyến huyện có trên 80.000 lượt người khám chữa bệnh; điều trị nội trú cho 5.250 lượt người, công suất giường bệnh đạt 100% [19, tr.6]. Đến năm 2010, mạng lưới y tế phủ kín toàn địa bàn, có 24 cơ sở y tế trong đó có 1 bệnh viện, 2 phòng khám khu vực và 21 trạm xá. Tổng số giường bệnh 215 trong đó có 83 giường của bệnh viện. Bảng 2.26: Số lượng và cơ cấu cán bộ ngành y tế qua các thời kì ĐVT: Số lượng (người), Tỉ trọng (%) Năm Tổng số Bác sĩ Y sĩ Y tá và nhân viên khác SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng 2000 140 100 10 7,1 49 35 81 57,9 2005 145 100 17 11,7 56 38,6 72 49,7 2010 166 100 22 13,2 58 34,9 86 51.9 [245], [87].
  • 62. 61 Cán bộ y tế tăng từ 131 cán bộ năm 2000 lên 166 cán bộ năm 2010. Trong đó, đội ngũ bác sĩ tăng nhiều nhất. Đến năm 2010, toàn huyện có 22 bác sĩ, trong đó có 3 bác sĩ chuyên khoa I.II. Chất lượng cán bộ y tế ngày càng được nâng cao, đối với ngành y tỉ trọng bác sĩ tăng dần, chiếm 7,1% năm 2000 tăng lên 13,2% năm 2010. Đây là dấu hiệu đáng mừng đối với y tế Gio Linh, chất lượng đội ngũ bác sĩ được nâng cao giúp cho công tác chăm sóc sức khỏe của người dân được phục vụ tốt hơn. Bảng 2.27: Số lượng và cơ cấu cán bộ ngành dược qua các năm ĐVT: Số lượng (người), Tỉ trọng (%) Năm Tổng số Dược sĩ cao cấp Dược sĩ trung cấp SL Tỉ trọng SL Tỉ trọng SL Tỉ trong 2000 2 100 2 100 0 0 2005 5 100 2 40 3 60 2010 11 100 4 36,3 7 63,7 [245], [87]. Đối với ngành dược, cán bộ còn thiếu, so với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Trong những năm gần đây cán bộ ngành được tăng nhưng không đáng kể. Đến năm 2010, chỉ có 11 cán bộ dược, trong đó mới có 4 dược sĩ cao cấp. Trong thời kì 2000-2010, ngành y tế Gio Linh đã chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ cả về chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp, xây dựng mạng lưới y tế từ Huyện đến xã. Ngành y tế có những kế hoạch triển khai sâu rộng tác động trực tiếp đến sức khỏe của người dân. Phong trào vệ sinh môi trường được duy trì thường xuyên, công tác tiêm chủng, bảo vệ bà mẹ trẻ em và công tác khám chữa bệnh được thực hiện đồng bộ và đạt hiệu quả cao, góp phần không nhỏ đến chất lượng cuộc sống người dân. 2.2.2.2. Lĩnh vực dân số, lao động và việc làm * Về dân số Dân số là động lực phát triển kinh tế - xã hội, nhưng biến động dân số ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của dân số, Đảng bộ và chính quyền Gio Linh đã có những chủ trương phù hợp để kiểm soát bùng nổ dân số trên địa bàn như chương trình kế hoạch hóa gia đình, rất được quan tâm, chú trọng và triển khai sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
  • 63. 62 Bảng 2.28: Tỉ lệ sinh, tỉ lệ chết, tỉ lệ tăng tự nhiên qua các thời kì ĐVT: o /oo Năm Tỉ lệ sinh Tỉ lệ chết Tỉ lệ tăng tự nhiên 2000 18,6 3,7 12,2 2005 14,8 4,1 10,7 2010 13,45 5,28 8,17 Hệ thống tổ chức kế hoạch hóa gia đình được thành lập từ huyện, xã tới thôn xóm, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục thường xuyên được triển khai, giúp bà con hiểu rõ vấn đề gia tăng dân số và các biện pháp tránh thai để hạn chế gia tăng dân số. Nhờ thực hiện các chính sách rộng khắp, đồng bộ nên công tác kế hoạch hóa gia đình đã đem lại những thành tích rất khả quan. Thời kì 2000-2010, tỉ lệ sinh giảm nhưng không đáng kể còn ở mức cao. Năm 2000 là 18,6o /oo [21, tr.9] đến năm 2010 giảm xuống còn 13o /oo [16, tr.18]. Tỉ lệ sinh ở thành thị và nông thôn có mức chênh lệch, ở thành thị thấp hơn so với nông thôn. Năm 2010, tỉ lệ sinh ở thành thị là 13o /oo còn ở nông thôn 14,3o /oo [22, tr.18]. Do tỉ lệ sinh giảm nhanh nên tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên đã giảm xuống đáng kể từ 12,2o /oo [23, tr.9] năm 2000 xuống còn 8,17o /oo năm 2010 [17, tr.18]. Dân số Gio Linh năm 2010 là 72.921 [16, tr.3] người so với năm 2000 là 72.861 người [7, tr.241]. Tỉ lệ dân số thành thị trong tổng số dân được sử dụng để đo mức độ phát triển của đô thị, nhìn chung tốc độ đô thị hóa ở Gio Linh diễn ra còn chậm, dân số ở nông thôn đang ở mức cao. Dân số thành thị năm 2000 là 7.062 người chiếm 9,69% [18, tr.241], đến năm 2010 có 11.691 người chiếm 16,07% [10, tr.3]. Dân số nông thôn năm 2000 là 65.799 người chiếm 90,31% [20, tr.241], năm 2010 có 61.011 người chiếm 83,93% [8, tr.3]. Tốc độ phát triển phát triển đô thị Gio Linh còn thấp, tỉ lệ dân số nông thôn cao. Qua đó cho thấy sự chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ của huyện thời gian qua còn chậm. * Về lao động và việc làm Đảng bộ và chính quyền Gio Linh xác định giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo.
  • 64. 63 Số người làm việc trong các ngành kinh tế tăng lên, năm 2000 là 30.310 người, năm 2010 là 42.497 người, tăng 12.187 người so với năm 2000. Phân bố lao động năm 2010 trong các lĩnh vực như sau: Trong nông - lâm - ngư nghiệp 60,88%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng là 11,13%; thương mại - dịch vụ 11,76%; lao động trong các nghành phi vật chất 16,23% [7, tr.13]. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng lao động ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp. Trong thời kì 2000-2010, thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, công tác đưa lao động đi làm việc ở các tỉnh phía Nam, xuất khẩu lao động, giải quyết việc làm tại chỗ; đến năm 2010, huyện tổ chức điều tra cung cầu, nhu cầu học nghề ở 21 xã, thị trấn và các doanh nghiệp trên địa bàn. Giải quyết việc làm cho 1.128 lao động; xuất khẩu lao động 137 người. Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 29% [1, tr.8], bình quân mỗi năm tạo 1.084 chỗ làm mới [32, tr.13]. Huyện đã tiến hành tạo việc làm tại chỗ, thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình phát triển kinh tế. Trên địa bàn có 98 trang trại, đã tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động ở địa phương. Trên địa bàn các dịch vụ nghề biển phát triển, giúp người dân ở các xã Gio Hải, Gio Việt, Trung Giang, thị trấn Cửa Việt và các vùng lân cận có thêm việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo. Huyện tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho người lao động. Nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm, vốn xóa đói giảm nghèo của các chương trình, dự án đã góp phần không nhỏ vào giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Trong 2 năm 2009-2010, nguồn vốn giải quyết việc làm đã cho 384 hộ vay 6.428 triệu đồng, giải quyết và ổn định việc làm cho hơn 700 lao động [24, tr.14]. Từ việc lồng ghép các chương trình dự án, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, trong hai năm 2009-2010, trên địa bàn huyện đã giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 1.344 lao động [29, tr.7]. Với chính sách giải quyết việc làm đúng đắn huyện đã đề ra sẽ trở thành một động lực để đoàn kết được toàn dân, ổn định xã hội.
  • 65. 64 * Về đời sống dân cư Cùng với sự phát triển đi lên của kinh tế, chương trình xóa đói giảm nghèo một cách có hiệu quả, những năm gần đây đời sống của người dân có những bước chuyển biến rõ rệt. Nhằm đạt được mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV (10/2005) đề ra bình quân mỗi năm giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 2,5-3%, Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng Chương trình xóa đói giảm nghèo của huyện giai đoạn 2006-2010, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm từ 28% năm 2000 giảm xuống còn 14,22% năm 2010 [14, tr.19]. Chương trình xóa mái tranh cho hộ nghèo được quan tâm đúng mức, huyện đã tranh thủ mọi nguồn lực để thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo cho người dân. Đến tháng 12/2010, toàn huyện đã xóa được 1.769 mái tranh cho các hộ nghèo, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho những người nghèo yên tâm sản xuất [25, tr.19]. Đời sống của người dân ngày càng được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người một tháng là 250 ngàn đồng, khu vực thành thị là 287 ngàn đồng, khu vực nông thôn là 241 ngàn đồng [7, tr.11]. Đã tăng lên 685 ngàn đồng năm 2010, trong đó dân cư thành thị là 1.007 ngàn đồng, cư dân nông thôn là 615 ngàn đồng [8, tr.21]. Thu nhập có sự chênh lệch giữa 2 khu vực và khoảng cách có xu hướng ngày một tăng lên. Năm 2000 thu nhập dân cư thị trấn cao gấp 1,5 lần thu nhập dân cư nông thôn, năm 2010 đã tăng lên 1,7 lần [21, tr.5]. Nhu cầu chi tiêu của người dân cũng ngày một tăng lên theo thời gian, nhà ở ngày càng được xây dựng khang trang, các vật dụng trong nhà ngày càng được chú trọng. Những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã được lãnh đạo Huyện thực hiện một cách sáng tạo, phù hợp tình hình địa phương, vì vậy, đời sống của nhân dân đã từng bước ổn định và phát triển. Tiểu kết Trải qua chặng đường 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1990-2010), Đảng bộ, chính quyền huyện Gio Linh đã tiếp thu một cách linh hoạt đường lối đổi mới vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương, cùng với sự lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân, nền kinh tế của huyện đã có sự chuyển biến tích cực. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch rõ nét theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm tỉ trọng nông nghiệp,
  • 66. 65 công nghiệp - xây dựng tăng tạo tiền đề quan trọng cho sự bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Gio Linh giai đoạn 1990-2000 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Gio Linh giai đoạn 2000-2010 Nền kinh tế chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp, tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Kinh tế nông nghiệp phát triển khá đa dạng, toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, năng suất và sản lượng nông sản hàng năm không ngừng tăng lên. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp từng bước thay đổi theo chiều hướng tăng tỉ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp không ngừng phát triển, bên cạnh các ngành nghề truyền thống ở nông thôn đã xuất hiện thêm một số nghề mới có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thương mại - dịch vụ phát triển rông khắp, hàng hóa lưu thông thuận tiện và giá Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000
  • 67. 66 cả các mặt hàng tiêu dừng thiết yếu khá ổn định; du lịch biển và các điểm cụm di tích lịch sử ngày càng được đầu tư phát triển. Các ngành kinh tế tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước; cơ cấu kinh của huyện từng bước chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ tăng; tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm; phù hợp với lợi công cuộc đổi mới. Việc phát triển các cụm công nghiệp, thủ công nghiệp có bước phát triển cao, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế. Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi. Cùng với sự chuyển biến kinh tế, lĩnh vực xã hội cũng có những chuyển biến tích cực. Tình hình xã hội có những bước tiến đáng kể. Giáo dục ngày càng được Đảng bộ và chính quyền quan tâm, đầu tư phát triển giáo dục. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình đạt nhiều kết quả. Các vấn đề xã hội được các cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể quan tâm. Phong trào đền ơn đáp nghĩa, chương trình xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động được toàn xã hội hưởng ứng nhiệt tình và mang lại những kết quả tốt đẹp. Đời sống người dân có những thay đổi lớn, xóa hộ đói và xã nghèo, giảm phần lớn hộ nghèo, hộ giàu tăng khá. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện. Những thành quả đạt được trên các lĩnh vực đã tạo ra một diện mạo mới, sức mạnh mới của huyện. Những kết quả mà Đảng bộ và nhân dân Gio Linh đạt được qua 10 năm nỗ lực phấn đấu, cần kiệm xây dựng quê hương, tuy còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và chưa thỏa mãn với sự mong muốn của mỗi người dân; nhưng đây là tiền đề và là cơ sở quan trọng tạo đà, tạo thế để Gio Linh vững bước đi lên trên con đường đổi mới theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh những năm tiếp theo của thế kỉ XXI.
  • 68. 67 Chương 3 ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 3.1. Đặc điểm 3.1.1. Nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng đi lên Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu mà đường lối của Đảng bộ và chính quyền Gio Linh đặt lên hàng đầu. Trải qua 20 năm đổi mới, xây dựng và phát triển (1990-2010), có thể nhận thấy nền kinh tế Gio Linh chuyển biến theo chiều hướng đi lên tương đối toàn diện và liên tục. Những năm đầu tái lập huyện, 1990- 1995, nhịp độ tăng trưởng kinh tế còn chậm. Đảng bộ và chính quyền huyện đề ra những chủ trương, biện pháp khắc phục những khó khăn hạn chế nên kinh tế đã tăng trưởng nhanh trong những năm 1996-2000 và phát triển vượt bậc theo theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong thời gian 2000-2010. Mặc dù năm 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế có giảm xuống do ảnh hưởng của thiên tai hạn hán nặng nề, nhưng nền kinh tế đã tăng trưởng nhanh trở lại vào những năm 2006-2010. Giai đoạn 1990-1995, sau khi chia tách, nền kinh tế của huyện còn manh mún, hoạt động kinh tế kém hiệu quả nhưng nhờ sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân sát sao của Đảng các cấp và các ban ngành từ huyện đến cơ sở, quyết tâm vượt khó của nhân dân nên Gio Linh giành được những kết quả có ý nghĩa trên nhiều lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm giai đoạn 1990-1995 đạt 8,36%. Giai đoạn 1996-2000, vốn và cơ sở vật chất tăng cường khá hơn, nền kinh tế đi dần vào ổn định và có điều kiện phát triển; năm 1998 do chịu thiệt hại do thiên tai hạn hán gây ra nên GDP chỉ đạt ở mức 8,17%. Bước sang giai đoạn 2000-2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11% (Nghị quyết đề ra 9-10%). Sang giai đoạn 2006-2010, chịu nhiều tác động của nền kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam đứng trước những thách thức về vấn đề hội nhập và phát triển. Trước tình hình đó, Gio Linh đã có những bước chuyển biến đi lên, giữ vững tốc độ phát triển của nền kinh tế và khẳng định vai trò của mình; tăng trưởng bình quân hằng năm của thời kì này là 12%. Nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng đi lên trong suốt 20 năm qua đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, chứng tỏ Gio Linh đã vận dụng thành công đường lối đổi mới của Đảng
  • 69. 68 để đề ra những chính sách đúng đắn, với một lộ trình thích hợp nhằm khai thác mọi tiềm năng và huy động mọi nguồn lực vào công cuộc phát triển kinh tế. 3.1.2. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng bộ và nhân dân Gio Linh đã tập trung mọi nguồn lực để thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp. Thời kì 1990-2010 đã có sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu kinh tế; tỉ trọng của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp (khu vực I) trong cơ cấu GDP từ 82,5% năm 1990 qua các năm, đến năm 2010 đã giảm xuống còn 56,48%; khu vực công nghiệp (khu vực II) và dịch vụ (khu vực III) tăng lên, với tỉ trọng khu vực II tăng từ 13,24% năm 1990 lên 19,25% năm 2010; khu vực III từ 4,26% năm 1990 tăng lên 24,27% năm 2010; trong cơ cấu GDP giảm tỉ trọng khu vực I, tăng khu vực II và III. Về nông nghiệp, Gio Linh là một huyện thuần nông, chủ yếu là trồng lúa. Những Nghị quyết của Đảng bộ và Hội đồng nhân dân huyện đều xác định đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế. Đảng bộ huyện Gio Linh tập trung chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa trong nông nghiệp, hiện đại hóa trong nông thôn để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời đẩy mạnh việc thâm canh, tăng năng suất cây lương thực, coi trọng chỉ đạo việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, các loại giống cây trồng vật nuôi năng suất cao được đưa vào sản xuất; các xã đầu tư trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhiều công trình thủy lợi như đê, trạm bơm, kênh mương, … được xây dựng và nâng cấp. Người dân được tiếp xúc với những tiến bộ về khoa học - kĩ thuật để đưa vào nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển biến phù hợp với đường lối của Đảng đề ra, là giảm tỉ trọng của ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Gio Linh chọn hướng đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp mở đường cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương. Sản xuất công nghiệp thời kì 1990-2010 đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, trong 20 năm, sản xuất công nghiệp giữ được tốc độ phát triển liên tục và nhịp độ tăng bình quân 11,2% năm. Tốc độ chuyển dịch trong cơ cấu của khu vực II diễn ra theo chiều hướng tăng lên. Về tiểu thủ công
  • 70. 69 nghiệp, chính quyền đã cố gắng nhằm phục hồi và phát triển trở lại các nghề truyền thống như nghề dệt chiếu Lâm Xuân, nghề mộc ở Cát Sơn; đồng thời tiếp tục mở rộng phát triển làng nghề đan lát ở Lan Đình. Về dịch vụ, trước 2000, ở Gio Linh chưa phát triển, chủ yếu là ăn uống. Từ năm 2001, ngành dịch vụ phát triển với nhiều loại hình. Cụ thể, năm 2010 trên địa bàn có 2.664 hộ kinh doanh cá thể; 94 tiểu thương buôn bán nhỏ, lẻ; 91 doanh nghiệp nhà nước và nhiều loại hình dịch vụ phát triển đa dạng, đáp ứng nhu câu của nhân dân, như: dịch vụ thương mại, dịch vụ phục vụ trong lĩnh vực du lịch; đã góp phần phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân. Như vậy, trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, khu vực kinh tế nông nghiệp vẫn có sự tăng trưởng nhưng có xu hướng chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, chứng tỏ nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa bền vững. Nông nghiệp vẫn có sự tăng trưởng đảm bảo lương thực, nhưng trong cơ cấu kinh tế khu vực công nghiệp và dịch vụ dần thay thế vai trò chủ đạo của khu vực nông nghiệp. Đây là một hướng phát triển phù hợp với đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước đề ra. 3.1.3. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh Lúc mới tách huyện, hệ thống cơ sở hạ tầng của Gio Linh rất thiếu thốn, lạc hậu về trang thiết bị, cơ cấu thiếu đồng bộ, mức đầu tư thấp. Sau 20 năm cơ sở hạ tầng được nâng cấp mạnh mẽ với một diện mạo mới, đặc biệt là về giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và mạng lưới điện. Về xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nông thôn, bằng nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh, các tổ chức quốc tế, ngân sách huyện và nhân dân đóng góp. Hệ thống giao thông nội huyện, liên xã được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới, chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn được nhiều địa phương triển khai. Các tuyến đường do tỉnh và Trung ương đầu tư trên địa bàn như đường Gio Thành - Trung Giang, đường vào khu công nghiệp Quán Ngang, đường 75 Đông, đặc biệt đường Hồ Chí Minh, đường 74 hoàn thành mở ra khả năng phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với sự đầu tư của Trung ương và của tỉnh, huyện đã hoàn thiện việc tu sửa, nâng cấp hồ thủy lợi Kinh Môn, Hà Thượng, một số hồ đập nhỏ, kiên cố kênh mương, cơ bản đảm bảo tưới tiêu cho gần 3.700 ha lúa hai vụ. Các chương trình 135,
  • 71. 70 chương trình kiên cố hóa trường học, dự án MAG, … đã góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng nông thôn. Mạng lưới điện được mở rộng và nâng cấp, tất cả các hộ dân đều sử dụng điện phục vụ quá trình sinh hoạt và sản xuất. Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phục vụ có hiệu quả sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Trên địa bàn 100 số xã và cơ quan đơn vị đã có máy điện thoại. Hệ thống trường học, cơ sở y tế, trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị được cao tầng hóa, kiên cố hóa; bê tông hóa giao thông nông thôn đạt 37,8%, một số tuyến đường nội thị được nhựa hóa, công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng cầu, đường được thực hiện khá tốt. Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội huyện Gio Linh đã có những chuyển biến trên lĩnh vực xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng. Bêtông hóa đường giao thông, điện, …đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, giao thông thuận tiện, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện và nâng lên rõ rệt. 3.1.4. Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống người dân cũng chuyển biến rõ rệt. Những năm đầu sau khi tách huyện, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tình trạng thiếu lương thực xảy ra, bữa ăn của nhiều gia đình phải độn khoai sắn, nhưng nhờ sự hoạch định đúng hướng của Đảng và Nhà nước, sản lượng lương thực tăng nhanh theo từng năm, vấn đề lương thực dần được giải quyết; điều kiện ăn, ở ngày được đảm bảo hơn. Sự chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh còn được thể hiện rõ nét là kết quả của công tác xóa đói, giảm nghèo. Tỉ lệ hộ nghèo năm 1990 chiếm 30% dân số, đến năm 2010 giảm xuống còn 14,22%. Công tác xóa nhà tạm bợ cho người dân được tiến hành đồng bộ và đạt nhiều kết quả cao. Bên cạnh đó, vấn đề việc làm cho người nghèo dần được giải quyết thông qua chính sách an sinh xã hội.
  • 72. 71 3.2. Ý nghĩa lịch sử 3.2.1. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh giai đoạn 1991-2010 khẳng định tính đúng đắn trong đường lối của Đảng nói chung và Đảng bộ huyện Gio Linh nói riêng trong công cuộc đổi mới Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), để giải quyết những khủng hoảng về kinh tế, xã hội, Đảng đã thực hiện đổi mới đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, mà trọng tâm là đổi mới kinh tế. Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, các chỉ thị và nghị quyết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, Đảng bộ và nhân dân huyện Gio Linh đã vận dụng sáng tạo và kịp thời vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình. Thực hiện công cuộc đổi mới từ sau khi tái lập huyện năm 1990, sau hai mươi năm tiến hành đổi mới, trải qua bốn kì đại hội đại biểu hội đồng nhân dân huyện và bốn kì kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội, Gio Linh đã phát triển được sức mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Bộ mặt kinh tế - xã hội của huyện chuyển biến mạnh mẽ từ thành thị đến nông thôn. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ngày càng nâng cao. Những thành tựu mà Gio Linh đạt được đã khẳng định đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước là đúng đắn và sáng tạo. Qua đó, cũng thấy được sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của Đảng bộ và nhân dân Gio Linh trong công cuộc đổi mới. 3.2.2. Chuyển biến kinh tế - xã hội Gio Linh thời kì 1990-2010 là quá trình chuyển biến phù hợp với xu thế chung, hợp lí đúng qui luật Gio Linh là một huyện có truyền thống cách mạng, nhân dân cần cù chịu khó trong lao động, sản xuất. Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh cũng như những khó khăn nảy sinh trong thời kì suy thoái kinh tế. Vì vậy, khi tách huyện, Gio Linh về mặt kinh tế còn rất nghèo, đời sống người dân vô cùng khó khăn. Sau hai mươi năm xây dựng và phát triển (1990-2010), nền kinh tế Gio Linh đã có bước tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, cơ sở hạ tầng vật chất, kĩ thuật không ngừng được tăng cường, nguồn nhân lực phát triển. Trên lĩnh vực xã hội có những bước tiến bộ, đời sống người dân được nâng lên rõ rệt, tỉ lệ đói nghèo ngày càng giảm, chính trị xã hội ổn định, chất lượng giáo dục, y tế ngày càng tăng. Đảng bộ và nhân dân Gio Linh, dưới tác động của tình hình trong nước và thế giới, những tiến bộ khoa học kĩ thuật, đã nắm bắt được thời cơ và xu thế của thời đại,
  • 73. 72 ra sức xây dựng, phát triển kinh tế, có nhiều ngành nghề mới ra đời, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Đánh giá tổng thể kinh tế - xã hội Gio Linh trong hai mươi năm qua, thông qua tất cả các mặt đều thấy được sự tăng trưởng và phát triển đúng đắn, hợp qui luật của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra, từng bước đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh”. 3.2.3. Chuyển biến kinh tế - xã hội thời kì 1990-2010 đã tạo ra tiền đề thực hiện công cuộc đổi toàn diện nền kinh tế - xã hội Sau khi tái lập huyện, Đảng bộ và nhân dân huyện Gio Linh đã trải qua bốn kế hoạch 5 năm (1991-1995), (1996-2000), (2001-2005) và (2006-2010). Với những khó khăn trong những năm trước đổi mới như kinh tế phát triển thiếu ổn định, xã hội chuyển biến chậm; nhưng nhờ khả năng vận dụng đường lối hợp lí của Đảng bộ và chính quyền nên thời kì 1990-2010 kinh tế - xã hội trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực, năng lực sản xuất toàn bộ xã hội tăng lên rõ rệt trên tất cả các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, dịch vụ, thương mại, cơ sở hạ tầng được xây dựng và hoàn thiện theo hướng hiện đại. Kinh tế phát triển cùng với đó là năng lực sản xuất tăng cùng quá trình đổi mới cơ chế quản lí, đổi mới phương thức quản trị kinh doanh. Từ một nền kinh tế nông nghiệp độc canh cao chuyển sang nền kinh tế tương đối hoàn diện, cân đối giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Kinh tế phát triển thúc đẩy các mặt xã hội được cải thiện và tiến bộ. Đời sống dân cư ổn định, được nâng lên, tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh. Mạng lưới y tế, giáo dục, văn hóa thông tin mở rộng cả về qui mô và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Những thành tựu đạt được chứng tỏ chuyển biến kinh tế - xã hội ở Gio Linh thời kì 1990-2010 là tương đối toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới. Đó cũng là tiền đề và nền tảng quan trọng để Gio Linh tiếp tục phát triểm cùng nhịp độ với khu vực và cả nước, thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội, từng bước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • 74. 73 3.3. Bài học kinh nghiệm Sau 20 năm (1990-2010) xây dựng và phát triển với nhiều biến động và thăng trầm, kinh tế Gio Linh đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Từ những kết quả đạt được, Đảng bộ huyện đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quí báu, cả thành công lẫn thất bại để phát huy và khắc phục trong những giai đoạn tiếp theo. 3.3.1. Nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, kịp thời đề ra các chính sách cụ thể, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương; từng lĩnh vực kinh tế - xã hội. Bắt tay xây dựng quê hương sau ngày giải phóng trong bối cảnh của một huyện chiến tranh để lại những hậu quả khá nặng nề, thời tiết khí hậu khắc nghiệt. Việc nhận thức đầu đủ và vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng một cách đúng đắn, sáng tạo và xuất phát từ thực tiễn địa phương để đề ra những nghị quyết, chủ trương đúng đắn, sáng tạo, những giải pháp bước đi thích hợp để tạo nên bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện, là nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu và cũng là yếu tố có tính quyết định đến thành công của Đảng bộ. Để thực hiện công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Huyện ủy đã kịp thời xây dựng được qui hoạch tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội thời kì 1991-2000 và 2001-2010 cũng như đề ra các Nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế miền biển - vùng cát, kinh tế vùng gò đồi - miền núi, công nghiệp - tiểu thủ công, thương mại - dịch vụ; trên cơ sở đó đã tạo được những bước đột phá, đưa nền kinh tế - xã hội của huyện từng bước phát triển toàn diện, đúng hướng, thu được những kết quả quan trọng, mở ra triển vọng mới đưa Gio Linh vững bước đi vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước. 3.3.2. Các chủ trương, nhiệm vụ đề ra phải hợp lòng dân, thiết thực phục vụ lợi ích nhân dân, được nhân dân tham gia bàn bạc, thì sẽ tạo được phong trào quần chúng rộng rãi; giúp công tác lãnh đạo, điều hành đạt hiệu quả Cách mạng là sự nghiệp của dân và vì dân, do đó mỗi khi nhiệm vụ cách mạng đặt ra hợp với lòng dân, vì lợi ích của dân thì nhiệm vụ đó được hoàn thành và ngược lại. Đây là bài học lịch sử vô giá đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức và thực hiện đầy đủ. Chính nhờ các chủ trương, nhiệm vụ đề ra hợp lòng dân, thiết thực phục vụ lợi ích nhân dân, mà huyện Gio Linh vượt qua những khó khăn, thử thách trong giai đoạn
  • 75. 74 đầu tái lập huyện. Trong thời kì đổi mới, đã chăm lo đúng mức đến quyền làm chủ của nhân dân, phát huy cao độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đoàn kết toàn dân, tất cả hướng vào mục tiêu xây dựng quê hương giàu đẹp. Tiếp tục phát huy được vai trò của các mặt trận, các đoàn thể và quyền làm chủ của nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phải tập trung vận động đoàn viên, hội viên hưởng ứng thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, như cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới”, “Xóa đói giảm nghèo”, thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở và các chính sách trong lĩnh vực tôn giáo, dân tộc, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng đề ra. Trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bài học này càng có ý nghĩa hơn. Đảng bộ phải chăm lo đầy đủ và kịp thời đến đời sống, lợi ích của quần chúng, thật sự phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. 3.3.3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp trở thành ngành kinh tế động lực Tăng cường xúc tiến đầu tư, xây dựng các mối quan hệ cởi mở, tin cậy nhằm thu hút một số tập đoàn kinh tế mạnh, các doanh nghiệp có tiềm lực vốn trong nước và nước ngoài đầu tư vào phát triển các dự án có qui mô lớn, tạo động lực, bước đột phá cho nền kinh tế. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kĩ thuật khu công nghiệp Quán Ngang, các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thu hút đầu tư từng bước mở rộng diện tích. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng và phát huy được lợi thế của huyện về hạ tầng, lao động, nguồn nguyên liệu, thị trường. Tập trung chú trọng tổ chức lại sản xuất các ngành nghề có thế mạnh như chế biến nông - lâm - thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, sữa chữa và đóng mới tàu thuyền, phát triển các nghề mới như sản xuất chất đốt vỏ trấu, mùn cưa, dao cạo mủ, tấm lợp, chẻ đá xây dựng, … các nghề truyền thống tiếp tục được duy trì, phát huy hiệu quả, tích cực phối hợp với các ngành cấp tỉnh thực hiện có hiệu quả các giải pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất tại khu công nghiệp Quán Ngang. 3.3.4. Phát triển thương mại - dịch vụ, du lịch thành ngành kinh tế chủ đạo, đẩy mạnh khai thác lợi thế của địa phương Gio Linh có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thủy. Đi qua địa phận của huyện có các tuyến giao thông huyết mạch như:
  • 76. 75 Quốc lộ 1A, tuyến đường Bắc - Nam, đường Hồ Chí Minh; đặc biệt là nằm cuối tuyến đường Xuyên Á thông ra Biển Đông bằng cảng Cửa Việt là một nút giao thông quan trọng trong mối liên kết của hành lang kinh tế Đông - Tây, cho phép huyện mở rộng giao lưu kinh tế với các địa phương trong tỉnh, cả nước, cũng như hội nhập khu vực và Quốc tế. Mạng lưới tỉnh lộ trên địa bàn huyện có mật độ khá lớn, cùng với việc xây dựng tuyến đường cơ động ven biển Cửa Việt - Cửa Tùng và hai cầu Cửa Tùng, Cửa Việt đã tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng lưu thông hàng hóa, liên kết phát triển với các huyện Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng và các địa phương khác trong tỉnh. Mặt khác, Gio Linh còn tiếp giáp với Thành phố Đông Hà - vùng trung tâm động lực phát triển của tỉnh ra các vùng lân cận. Cùng với sự phát triển đi lên của tỉnh, trên địa bàn Gio Linh đã hình thành các vùng trọng điểm kinh tế lớn của tỉnh như Khu công nghiệp Quán Ngang, khi dịch vụ - du lịch Cửa Việt đã và đang được tập trung đầu tư về kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư. Hệ thống các cơ sở hạ tầng khác nhau như mạng lưới điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông, các kết cấu hạ tầng xã hội không ngừng được đầu tư nâng cấp, mở rộng, tạo thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Những lợi thế về vị trí địa lí - kinh tế hơn hẳn so với một số huyện trong tỉnh đã và đang tạo ra cho Gio Linh một nền tảng rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế trong tỉnh và cả nước; tăng cường liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế, đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng của Gio Linh như du lịch thương mại, du lịch biển - đảo, du lịch di tích lịch sử; hình thành các tour du lịch trong mối liên kết với du lịch các huyện lân cận trong tỉnh, với miền Trung. Xây dựng chương trình liên kết, hợp tác phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch trong nước và quốc tế, tổ chức hội chợ khu vực thường niên; đặc biệt chú trọng đầu tư một số dự án phát triển Khu du lịch biển Cửa Việt, Cửa Tùng. 3.3.5. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Cán bộ là nhân tố quyết định mọi thành bại của các chính sách, chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước, điều đó đã được minh chứng trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Cho nên phải thu hút, đào tạo lực lượng lao động có trình độ cao, đủ khả năng tiếp thu và làm chủ các công nghệ, kĩ thuật hiện
  • 77. 76 đại, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh để phát triển. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí có năng lực tổ chức, điều hành, ngoại giao; có tầm nhìn xa và tâm huyết với sự nghiệp phát triển chung. Đào tạo đội ngũ công nhân kĩ thuật phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành, nghề trên địa bàn. Đào tạo, nâng cao tính chuyên nghiệp, phong cách phục vụ văn minh, lịch sự của lực lượng lao động ngành thương mại, dịch vụ, du lịch đáp ứng nhu cầu hội nhập. Chăm lo phát triển nguồn lực cán bộ, làm tốt công tác qui hoạch cán bộ cùng với việc bố trí và sử dụng đúng cán bộ, nhất là người đứng đầu, xây dựng đội ngũ tham mưu giỏi là yêu cầu hàng đầu không thể thiếu trong phát triển kinh tế. Xây dựng đội ngũ cán bộ có kiến thức và năng lực thực tiễn, năng động và linh hoạt vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương, nhạy bén trong công việc, tích cực đổi mới, có quyết tâm và trách nhiệm cao, đặc biệt đối với các nhiệm vụ mới và công việc khó. Tăng cường quản lí, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đề cao tính tự giác, tu dưỡng xây dựng đội ngũ lãnh đạo có phẩm chất đạo đức tốt trên tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề.
  • 78. 77 KẾT LUẬN 1. Gio Linh có truyền thống cách mạng, nhân dân kiên cường, dũng cảm trong cuộc chiến đấu và cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất. Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh và những vấn đề nảy sinh trong thời kì suy thoái kinh tế của cơ cấu hành chính hợp nhất, nên tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn khu vực huyện Gio Linh gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, khi chia tách Gio Linh là một huyện có điểm xuất phát thấp so với các huyện khác trong tỉnh, đời sống người dân không ổn định. 2. Từ năm 1990 đến năm 2010, thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện Gio Linh đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương và đã giành được nhiều thành tựu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Về kinh tế: Từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế hàng hóa hóa theo cơ cấu nông - lâm - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ. Sản xuất nông nghiệp đã phát triển theo hướng toàn diện, cơ cấu cây trồng, vật nuôi ngày càng hợp lí hơn, từng bước đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân. Sản lượng lương thực hàng năm đều tăng. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ đều có sự phát triển, thu nhập bình quân đầu người tăng. Bộ mặt huyện được cải thiện rõ rệt. Về xã hội: Đời sống vật chất và văn tinh thần không ngừng được nâng cao và cải thiện. Giáo dục được coi là sự nghiệp của toàn dân có sự phát triển cả về qui mô, chất lượng và cơ sở ha tầng. Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân được quan tâm. Thực hiện tốt các chính sách đối với thương binh, gia đình chính sách, người có công với cách mạng. 3. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hiện nay nền kinh tế - xã hội Gio Linh vẫn còn những hạn chế: Tốc độ phát triển kinh tế còn chậm, vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông - lâm . Sự phát triển kinh tế giữa các vùng trong huyện chưa đồng đều. Sản phẩm bán ra thị trường chưa phong phú đa dạng. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa khai thác hết tiềm năng của huyện, thiết bị kĩ thuật còn lạc hậu, năng suất, chất lượng còn thấp, thu nhập của công nhân chưa cao. Công nghiệp chưa gắn chặt chẽ với nông - lâm
  • 79. 78 nghiệp và thị trường nông thôn trên địa bàn huyện, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông lâm sản. Hoạt động của các doanh nghiệp còn kém hiệu quả, chưa chủ động kinh doanh. Một số doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư lớn, qui mô và năng lực cao nhưng khai thác chưa có hiệu quả, sản xuất kinh doanh còn thua lỗ. Tài chính doanh nghiệp còn yếu kém, khả năng tự chủ về tài chính thấp, phần lớn phụ thuộc vào vốn vay. Doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh nhưng mang tính tự phát, phát triển không cân đối, phần lớn số doanh nghiệp tập trung vào hai ngành: Xây dựng và Thương mại, nhà hàng, khách sạn, số doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp chiếm tỉ lệ thấp. Một số mặt xã hội chuyển biến còn chậm và còn nhiều hạn chế. Đời sống dân cư nhiều nơi vẫn còn khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra với tốc độ nhanh, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa. Để đưa nền kinh tế của huyện tiếp tục phát triển trong giai đoạn tới, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của vùng, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau: Trước hết cần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Con người bao giờ cũng là yếu tố quyết định hàng đầu, thống nhất quan điểm con người vừa mực tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, vì vậy cần phải có chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn diện. Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, thường xuyên có sự đánh giá nguồn nhân lực để kịp thời điều chỉnh sao cho đảm bảo về chất lượng và số lượng ngang tầm với nhiệm vụ. Thực hiện các chính sách đào tạo, đào tạo lại, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ quản lí các cấp, các ngành, đội ngũ quản lí trong các thành phần kinh tế, các nghệ nhân và thợ lành nghề; đào tạo nghề cho mọi đối tượng lao động. Có chính sách ưu tiên để thu hút nhân tài và chế độ ưu đãi đối với người làm việc ở vùng sâu, vùng xa. Khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện, kết hợp huy động các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nhằm đạt tốc độ tăng trưởng cao. Xây dựng Gio Linh thành đầu tàu phát triển kinh tế của huyện, xứng đang vai trò là trung tâm huyện lị. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đô thị, tăng tỉ trọng thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỉ trọng nông nghiệp.
  • 80. 79 Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng thương mại, du lịch, xây dựng mạng lưới chợ; hình thành một số cụm thương mại, dịch vụ; cụm du lịch sinh thái, khu vui chơi giải trí. Tập trung đầu tư xây dựng các công trình quan trọng như khách sạn, nhà hàng, trung tâm thông tin - viễn thông, tài chính - ngân hàng, …tạo tiền đề đưa hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn huyện phát triển, đồng thời giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp sạch, hàm lượng kĩ thuật cao, ít gây ô nhiễm; phát triển một nền công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội. Nâng cao mức sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp trên địa bàn nhằm tăng giá trị kinh tế và giải quyết sức ép về việc làm cho người lao động, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, giữ vững cân bằng sinh thái, bảo tồn các di tích văn hóa - lịch sử và phong tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố hệ thống chính trị, bảo vệ an ninh quốc phòng, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh; góp phần giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn toàn huyện. Với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện, trong những năm tới huyện sẽ có những chuyển biến tích cực hơn về mọi mặt, đạt được những thành tựu to lớn hơn, nền kinh tế phát triển nhanh hơn và đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên. Gio Linh trở thành một huyện mạnh về kinh tế, văn minh và hiện đại trong một tương lai không xa.