BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________________
Trương Thu Sương
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ
CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ
TẢI MIỄN PHÍ KẾT BẠN ZALO:0917 193 864
DỊCH VỤ VIẾT LUẬN VĂN CHẤT LƯỢNG
WEBSITE: LUANVANTRUST.COM
ZALO/TELEGRAM: 0917 193 864
MAIL:
BAOCAOTHUCTAPNET@GMAIL.COM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
Trương Thu Sương
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN
NGỮ CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ
Chuyên ngành : Ngônngữ học
Mã số : 662201
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRỊNHSÂM
Lời cảm ơn
Khi quyết định học sau đại học, em chọn ngành ngôn ngữ học xuất phát
từ sở thích của bản thân. Trong quá trình học tại Trường Đại học Sư phạm TP
Hồ Chí Minh, em được mở mang kiến thức rất nhiều và em nhận ra rằng làm
nghiên cứu khoa học không phải là điều dễ, và luận văn này chỉ là bước đầu
tập tễnh đi vào con đường nghiên cứu. Em chân thành cảm ơn tất cả Thầy Cô
đã dạy em.
Khi viết những dòng này, học trò khắc ghi sâu sắc lòng biết ơn đối với
Thầy Trịnh Sâm là người đã hướng dẫn học trò hoàn thành luận văn. Thầy
Trịnh Sâm đã tận tình chỉ dạy cách thức làm việc cho học trò, uốn nắn từng
câu từng chữ để luận văn nên vóc nên hình. Qua thời gian làm việc với Thầy,
học trò học được ở Thầy nhiều bài học quý báu về phương pháp làm việc
khoa học, nghiêm túc và say mê với công việc. Bên cạnh việc hoàn thành luận
văn thì thành công của bản thân chính là sự trưởng thành trong nhận thức của
học trò đối với cuộc sống và công việc. Sau này, dù đi đến đâu hay làm việc
gì thì kỷ niệm đẹp nhất trong quãng thời gian học sau đại học tại Trường Đại
học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh chính là tình cảm thầy trò mà Thầy Trịnh Sâm
đã dành cho em.
Con cảm ơn mẹ, mẹ đã yêu thương con, hy sinh cả cuộc đời vì con, dõi
theo từng bước con đi, dù giờ đây con đã trở thành bà mẹ của hai đứa con
nhỏ. Em cảm ơn anh Triều và các con đã tạo điều kiện thuận lợi cho em, động
viên em vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình học. Sau khi bảo vệ luận
văn, em tự nhủ, bên cạnh vận dụng những kiến thức học được vào công việc,
em sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu nhất của em, bù
đắp lại thời gian qua.
Em kính chúc quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè luôn hạnh phúc trong
cuộc sống. Thêm một lần nữa em xin tri ân đến tất cả mọi người bằng niềm
vui và lòng biết ơn chân thành nhất!
Trương Thu Sương
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU...................................................................................................1
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG ................................................12
1.1. Cần Thơ ........................................................................................12
1.1.1. Vùng đất, con người................................................................12
1.1.2. Báo Cần Thơ ..........................................................................13
1.2. Phong cách ngôn ngữ báo chí .........................................................14
1.2.1. Các quan điểm khác nhau về phong cách ngôn ngữ báo chí ......14
1.2.2. Chuẩn ngôn ngữ và chuẩn phong cáchngôn ngữ báo chí..........16
1.3. Lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobsonvà việc nhận diện phong cách
và thể loại......................................................................................20
1.4. Chức năng của phong cách ngôn ngữ báo chí ..................................24
1.5. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí............................................................28
1.5.1. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện .....................................28
1.5.2. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự tương tác .......................28
1.5.3. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự hấp dẫn..........................29
1.6. Một số thể loại báo chí tiêu biểu .....................................................30
1.7. Màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ ......................33
1.7.1. Màu sắc địa phương................................................................33
1.7.2. Màu sắc địa phương Nam Bộ ..................................................36
1.8. Tiểu kết .........................................................................................38
Chương 2 : NGÔN NGỮ NHẬT BÁO CẦN THƠ .................................40
2.1. Tiêu đề..........................................................................................40
2.1.1. Cấu tạo của tiêu đề..................................................................41
2.1.2. Sự phân bố 5W + 1H ở đơn đề ................................................49
2.1.3. Mối quan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề...................53
2.1.4. Một số thủ pháp nghệ thuật sử dụng ở tiêu đề ..........................55
2.2. Dẫn đề...........................................................................................56
2.2.1. Mô hình dẫn đề theo lý thuyết của F. Danes .............................57
2.2.2. Mô hình dẫn đề theo T- R- I....................................................65
2.2.3. Mô hình dẫn đề theo cấu trúc 5W + 1H....................................72
2.3. Đoạn văn.......................................................................................78
2.3.1. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch................................79
2.3.2. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc quy nạp..................................83
2.4. Văn bản.........................................................................................84
2.4.1. Mô hình 1...............................................................................85
2.4.2. Mô hình 2...............................................................................87
2.5. Màu sắc địa phương Nam Bộ .........................................................93
2.5.1. Từ biến thể ngữ âm.................................................................94
2.5.2. Từ ngữ địa phương .................................................................95
2.5.3. Từ ngữ xưng hô......................................................................98
2.5.4. Địa danh............................................................................... 101
2.5.5. Sản vật địa phương ............................................................... 103
2.5.6. Thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ ............................................... 106
2.5.7. Một só biểu thức diễn đạt...................................................... 107
2.6. Tiểu kết ....................................................................................... 110
KẾT LUẬN........................................................................................... 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................... 113
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua, các phương
tiện truyền thông đại chúng bao gồm các loại như báo nói, báo hình, báo ảnh,
báo chữ đều có bước phát triển nhảy vọt. Hầu như ở thành phố nào, tỉnh nào
cũng có các đài truyền hình, đài phát thanh, báo đảng. Và các cơ quan thông
tấn địa phương bên cạnh những cái chung, xét riêng về mặt ngôn ngữ nó cũng
có những yêu cầu riêng ví dụ như đáp ứng cho một bộ phận công chúng trên
một địa bàn cụ thể. Và như vậy, liệu các phương ngữ địa lý, các phương ngữ
xã hội có vai trò gì trong việc chuyển tải thông tin, chuyển tải các đường lối
chính sách của nhà nước đến với người dân.
Khác với tiếng Hán hiện đại, phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội
khác biệt nhau rất lớn thậm chí phải dùng bút đàm, tiếng Việt đang tồn tại
dưới dạng các phương ngữ và ít nhất theo một quan niệm phổ biến, tiếng Việt
có 3 phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam.
Giữa chúng ít nhiều có sự khác biệt, rõ nhất là về mặt ngữ âm và một ít là từ
vựng. Tuy nhiên, cư dân của 3 phương ngữ này có thể giao tiếp với nhau một
cách dễ dàng. Điều đó cho thấy rằng, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất
trên thế đa dạng. Sự đa dạng gắn liền với các phương ngữ, liên quan đến vấn
đề ở đây là gắn liền với các cơ quan truyền thông ở địa phương. Và giữ gìn,
phát triển sự đa dạng của phương ngữ cũng như giữ gìn sự đa dạng sinh học,
sinh thái thiên nhiên.
Vậy liên quan đến chuẩn mực ngôn ngữ, việc xử lý các yếu tố phương ngữ đối
với một tờ báo, đối với các cơ quan thông tấn ở địa phương như thế nào?
- Phương ngữ Nam Bộ là một phương ngữ khá thống nhất, có thể dễ
dàng nhận thấy là từ Ninh Thuận trở vào Cà Mau hầu như là không có sự
khác biệt nhiều. Trong hệ thống phương ngữ đó, thành phố Cần Thơ với tư
2
cách là một cơ quan địa hành chính mà mọi người gọi là thủ phủ của Tây Đô,
xét trên nhiều phương diện là có sức lan tỏa. Do vậy, có thể nói, nghiên cứu
ngôn ngữ trên báo Cần Thơ là một nghiên cứu có tính chất điển hình và chắc
chắn rằng, kết quả thu gặt được từ các ngữ liệu sẽ là những gợi ý lý thú và bổ
ích cho cả phương ngữ Nam Bộ.
- Là một người công tác tại báo đảng Cần Thơ, chúng tôi muốn có một
cái nhìn sâu sắc và toàn diện về việc sử dụng ngôn ngữ. Từ những khái quát
đúc kết sẽ đề xuất một số gợi ý trong việc phát huy thế mạnh cũng như hạn
chế những nhược điểm xét thuần túy về mặt ngôn ngữ của tờ báo mình hiện
đang công tác.
Từ tất cả những điều nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn tìm hiểu đặc trưng
ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Trước hết, cần minh định rõ cái đối tượng mà luận văn trực tiếp
khảo sát. Khi xác định đề tài luận văn, đặc trưng ngôn ngữ của báo Cần Thơ,
trong nhận thức của chúng tôi, là ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ, là các ngữ
liệu khảo sát được sưu tập trên tờ báo này. Đương nhiên, là một tờ báo tại địa
phương, với yêu cầu phục vụ một công chúng cụ thể, về mặt ngôn ngữ, hiển
nhiên ít nhiều có sự khác biệt so với các địa phương khác cũng như ở các báo
trung ương. Mặt khác, trong quá trình tiếp cận để làm rõ một số đặc trưng nào
đó, luận văn sẽ tiến hành so sánh đối chiếu với một số ngữ liệu ở một số báo
khác. Cũng cần lưu ý là, không phải tất cả các văn bản xuất hiện ở trên mặt
báo nói chung, báo Cần Thơ nói riêng đều thuộc phong cách báo chí. Vì vậy
cần phải xác định rõ hơn đối tượng mà luận văn khảo sát.
2.2 Đặc trưng ngôn ngữ của một tờ báo nhìn khái quát có thể được thể
hiện ở mọi cấp độ ngôn ngữ dù tiếp cận từ trên xuống hay từ dưới lên. Tuy
nhiên, theo chúng tôi, các đơn vị sau đây: i) tiêu đề, đề dẫn, đoạn văn và văn
3
bản; ii) màu sắc địa phương là những thành tố có khả năng thể hiện rõ nhất. Ở
i), là những thực thể thuộc cấp độ ngôn ngữ, còn ở ii), là các biểu thức ngôn
từ thuộc về lời nói theo lý thuyết của Saussure.
2.3 Về mặt thể loại báo chí, xét từ góc độ ngôn ngữ học cũng như
truyền thông học, hiện nay có nhiều nghiên cứu rất khác nhau. Hệ thống thể
loại này nhiều hay ít là tùy thuộc vào quan niệm và các tiêu chí phân loại. Đó
là chưa kể có một khoảng cách rất lớn từ lý thuyết và việc vận dụng ngay ở
cách định danh ở các tòa soạn báo. Đây là một vấn đề hết sức lý thú nhưng
không phải là trọng tâm của luận văn. Để tiện làm việc, xuất phát từ cách định
danh của tòa soạn, ngữ liệu mà chúng tôi sưu tập gồm các thể loại sau đây:
- Tin tức
- Phóng sự
- Phỏng vấn
- Phản ánh, ghi nhanh
- Gương điển hình.
Bên trên, ngoài việc nhận diện 3 thể loại đầu là khá hạn hữu và phổ
biến, cách gọi tên các thể loại thuộc nhóm sau xuất phát từ tính quen dùng và
thực tiễn ở tòa soạn báo. Chúng tôi hiểu là, sự phân loại ở đây chỉ có tính chất
tương đối, chủ yếu là để tiện làm việc.
Chúng tôi cũng xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các văn
bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ xuất bản từ đầu năm 2010 đến 9 – 2012.
3. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của báo Cần Thơ, bao gồm những đặc
trưng có tính chất phổ biến cũng như những đặc trưng riêng là mục tiêu mà
luận văn hướng đến. Về phương diện thứ nhất, như đã nói, tiếng Việt là một
ngôn ngữ thống nhất, các đặc trưng ngôn ngữ thuộc kiểu này có thể thể hiện
4
trên nhiều cấp độ ngôn ngữ. Kết quả của luận văn này góp phần làm rõ thêm
một số đặc trưng chung của báo chí hiện đại. Về phương diện thứ 2, ở đây,
chúng tôi không hoàn toàn dùng thủ pháp đối lập có không mà đặc biệt chú ý
đến độ đậm nhạt của các phương tiện ngôn ngữ.
Xin lưu ý, một số từ ngữ của từ ngữ địa phương Nam Bộ lúc đầu chỉ
xuất hiện ở trong vùng sau đó được một số báo chí địa phương sử dụng và lâu
dần, nó hoàn toàn nhập vào hệ thống tiếng Việt toàn dân. Và đến lúc nào đó,
người sử dụng quên mất gốc gác của nó, đó là các trường hợp sau: chìm
xuồng, trùm mền, rút ruột, quyết liệt, nở nồi, chiên, xào, .v.v…
Nói rộng ra, lớp từ ngữ trong phong cách báo chí nói chung, báo Cần
Thơ nói riêng chúng thể hiện bộ mặt ngôn từ mà ở đó người ta có thể nhận ra
xu hướng phát triển từ vựng. Đương nhiên, báo Cần Thơ không tránh khỏi
tình trạng du nhập khá nhiều từ vựng hoặc mô phỏng hoặc dịch nghĩa hoặc
dùng nguyên dạng.
Bên cạnh đó, do nhiều lý do khác nhau, các từ ngữ địa phương cũng
tràn vào trang báo.
Luận văn bên cạnh hướng tới các ngữ liệu trung tâm, cũng không bỏ sót
các ngữ liệu thuộc ngoại vi, mặc dầu về mặt sử dụng tính tích cực và tiêu cực
không như nhau.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các thủ pháp nghiên cứu mà bất kỳ một khảo sát nào cũng vận
dụng như nhận diện, sưu tập, phân loại, miêu tả, luận văn này chủ yếu sử
dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: thống kê các đối tượng ( từ
ngữ, câu, văn bản các thể loại, v.v. ) và phân loại theo chủ điểm nghiên cứu,
từ đó tìm ra các quy luật, các mối liên hệ giữa các đối tượng.
5
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: so sánh, đối chiếu các đơn vị cùng
loại; so sánh, đối chiếu cứ liệu ngôn ngữ trên báo Cần Thơ với một số báo
khác để tìm ra những tương đồng và khác biệt; từ đó các kết luận có được vừa
mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát.
- Phương pháp phân tích cú pháp- ngữ nghĩa: là phương pháp đặc
trưng để nghiên cứu ngữ nghĩa, cấu trúc của các đối tượng đã thống kê ( các
yếu tố được đặt trong hệ thống và xem xét trên nhiều bình diện).
- Phương pháp mô hình hóa: để trình bày một cách có hệ thống; mô
hình các thể loại văn bản, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả
quan hệ của các đối tượng khảo sát ( qua các sơ đồ, bảng biểu).
Trong quá trình nghiên cứu, các thủ pháp, phương pháp được vận dụng, kết
hợp; tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sử
dụng chủ yếu một phương pháp thích hợp.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử nghiên cứu phong cách học diễn ra trong một thời gian khá lâu
dài. Trong “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” của
Hữu Đạt (2000), tác giả chia ra hai giai đoạn trong lịch sử nghiên cứu phong
cách học: giai đoạn trước Ch.Bally và giai đoạn sau Ch.Bally. Giai đoạn truớc
Ch.Bally: trước khi các lý thuyết về ngôn ngữ học đại cương của
F.de.Saussuse ra đời, việc nghiên cứu phong cách học chưa có tính hệ thống,
chưa phải là một bộ môn khoa học thực sự vì nó chưa có được những phương
pháp nghiên cứu cụ thể. Thậm chí, ngay cả những đối tượng và nhiệm vụ
nghiên cứu của nó vẫn còn là một vấn đề rất mơ hồ.
Có thể nói rằng, trong nhiều thế kỷ hình thành và phát triển của ngôn
ngữ học thế giới, phong cách học chưa hề xác lập được cho mình một chỗ
đứng với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập. Phải đợi đến thế kỷ thứ XX
sau khi F.de.Saussuse tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại trong ngôn ngữ học
6
với công trình lý thuyết về ngôn ngữ học đại cương, phong cách học mới có
những điều kiện để trở thành một bộ môn khoa học độc lập thật sự với đầy đủ
ý nghĩa của nó.
Tiếp đến là giai đoạn sau Ch.Bally. Chính nhờ một hệ thống các khái
niệm được từng bước hoàn chỉnh và một hệ thống các phương pháp nghiên
cứu được định hình, phong cách học bắt đầu có cơ sở để xây dựng cho mình
những cách thức làm việc, phương pháp luận và nội dung nghiên cứu. Từ đây,
phong cách học trở thành ngành học mới đáp ứng những tiêu chuẩn cần có
của một môn khoa học thật sự. Người ta gọi phong cách học từ giai đoạn này
trở về sau là giai đoạn phát triển của phong cách học hiện đại. Người đặt nền
móng đầu tiên cho phong cách học hiện đại chính là một trong các học trò
xuất sắc nhất của Saussuse: Ch.Bally, đánh dấu một chặng đường mới của
lịch sử nghiên cứu phong cách học.
Phương pháp nghiên cứu của ông là đẳng nhất hóa các sự kiện ngôn
ngữ. Ông chú ý nhiều tới “tính biểu cảm, gợi cảm” ở các yếu tố của hệ thống
ngôn ngữ và đặc biệt quan tâm tới sự phối hợp các sự kiện lời nói để tạo nên
hệ thống các phương tiện này.
Có thể nói Ch.Bally trở thành người mở đầu của nền phong cách học
hiện đại chính là do cách tiếp cận rất mới của ông về các đối tượng nghiên
cứu cũng như xây dựng phong cách nghiên cứu để thực hiện các nhiệm vụ đặt
ra. Sau Ch.Bally, việc nghiên cứu phong cách học vẫn được tiếp tục ở Pháp và
phát triển ở nhiều nước như Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc.
Trên đây là nội dung về lịch sử nghiên cứu phong cách học trên thế giới
mà Hữu Đạt đã trình bày trong công trình nghiên cứu của mình. Còn truyền
thống phong cách học ở Việt Nam cũng có một tiến trình phát triển riêng.
Trước những năm 60, bộ môn phong cách học ở Việt Nam chưa xuất hiện.
Trong khi đó trên bình diện thực tế, ta gặp không ít những lời hay ý đẹp nói
7
đến ý thức rèn luyện phong cách nói năng, giao tiếp, biểu hiện nét đẹp của
truyền thống văn hóa Việt Nam rất cần được nghiên cứu từ góc độ phong cách
học.
Từ sau năm 1960, môn phong cách học tiếng Việt được hình thành ở
Việt Nam (1964). Lúc đầu nó được gọi với cái tên “tu từ học”. Có thể xem
đây là bộ môn kế thừa những kết quả ban đầu của việc vận dụng các lý thuyết
về phong cách học của thế giới (chủ yếu của Liên Xô cũ) vào nghiên cứu thực
tiễn Việt Nam.
Trong công trình của mình, Hữu Đạt nêu ra những khái niệm cơ bản
trong nghiên cứu phong cách học, bao gồm: khái niệm phong cách và phong
cách học, phân biệt các hiện tượng đúng và hiện tượng chuẩn trong sử dụng
ngôn ngữ tiếng Việt (chuẩn ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp,…). Đặc biệt
tác giả đề cập đến cơ sở phân chia các phong cách chức năng. Theo tác giả,
tiếng Việt được chia làm 6 loại phong cách chức năng, mỗi loại lại chia ra ở
hai hình thức nói và viết. Cụ thể: phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách
hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong
cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật.
Ở “Phong cách học tiếng Việt” của tác giả Đinh Trọng Lạc (1997) và
“Phong cách học tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 1997) và Nguyễn
Thái Hòa thì phân chia ra: i) các phong cách chức năng gồm: các phong cách
chức năng của hoạt động lời nói và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và ii)
trên cơ sở đối lập với ngôn ngữ phi nghệ thuật. Các phong cách chức năng của
hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm: phong cách hành chính, phong
cách khoa học, phong cách báo, phong cách chính luận và phong cách sinh
hoạt.
“Phong cách học tiếng Việt” của nhóm tác giả Cù Đình Tú – Lê Anh
Hiền – Nguyễn Thái Hòa – Võ Bình (1982) thì chia ra các phong cách chức
8
năng tiếng Việt làm hai loại đó là i) phong cách khẩu ngữ và ii) phong cách
văn hóa. Trong phong cách văn hóa lại chia ra: phong cách khoa học, phong
cách chính luận, phong cách báo chí – tin tức, phong cách hành chính công
vụ, phong cách cổ động, phong cách nghệ thuật.
Phong cách học văn bản của Đinh Trọng Lạc (1994) cũng là một công
trình có giá trị trong việc luận bàn về vấn đề phong cách học xét từ góc độ văn
bản.
Mục đíchcủa giáo trình này là nêu lên sự cần thiết phải mở rộng phạm
vi nghiên cứu phong cách học, đồng thời đi sâu vào những vấn đề mà sự ra
đời của ngôn ngữ học văn bản đã đặt ra cho bộ phận này. Khi vượt qua giới
hạn của câu – mà ngữ pháp truyền thống cho là loại đơn vị ngữ pháp thuộc
bậc cao nhất – để đi đến những đơn vị quy mô và kích thước lớn hơn những
văn bản, thì ngôn ngữ học văn bản đã thật sự làm một cuộc cách mạng, vì nó
đã được ngôn ngữ học nâng lên một tầm khoa học bao quát hết đối tượng của
mình.
Trong lĩnh vực phương ngữ học, “Phương ngữ học tiếng Việt” của
Hoàng Thị Châu ( 2004 ) được xem là một công cụ thiết thực cho người
nghiên cứu ngôn ngữ học. Giáo trình thật sự là một cẩm nang bổ ích giúp
người nghiên cứu bổ sung nền tảng kiến thức ngôn ngữ học nói chung,
phương ngữ học nói riêng. Những vấn đề trong giáo trình được trình bày một
cách mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu xoay quanh khái niệm phương ngữ học, đặc
trưng phương ngữ cũng như bước đường diễn tiến của các phương ngữ, được
xem xét trong thế đối lập giữa các phương ngữ với nhau cũng như giữa
phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân. Đặc biệt hơn cả, qua công trình nghiên
cứu này, người nghiên cứu luận văn hiểu thêm cái hay cái đẹp của tâm hồn
quê hương mỗi vùng miền chất chứa đằng sau ngôn từ mỗi phương ngữ, bởi
lẽ “phương ngữ là biểu hiện vật chất cụ thể” cho vốn văn hóa của người dân
9
bản xứ. Trên cơ sở lý luận mà giáo trình cung cấp, người viết ứng dụng vào
việc xem xét lý giải các văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ để thấy được
bản sắc địa phương miền Tây thông qua các tác phẩm báo chí.
Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí,
các sách tham khảo nghiệp vụ, chuyên ngành báo chí, từ lý luận chung đến
từng thể loại riêng thuộc phong cách báo chí. Từ nền kiến thức này, người
nghiên cứu có một cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể, vừa khách quan vừa chủ
quan về vấn đề mình quyết định nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình
nghiên cứu dạng này như:
“Đi tìm bản sắc tiếng Việt” của Trịnh Sâm (2011), Nhà xuất bản Tuổi trẻ.
“Ngôn ngữbáo chí”, Vũ Quang Hào ( 2007 ), Nhà xuất bản Thông tấn.
“ Ngôn ngữ báochí – Những vấn đề cơ bản”, Nguyễn Đức Dân (2007),
Nhà xuất bản Giáo dục.
“Tác phẩm báo chí ” của Trần Thế Thiệt ( 1995), Khoa báo chí – Học viện
chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nhà
xuất bản Giáo dục Hà Nội.
“Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí” của Nguyễn Trọng Báu (2002), Học
viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện báo chí và tuyên truyền,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
“Công việc của ngườiviết báo” của Hữu Thọ (1997), Nhà xuất bản Giáo
dục.
“Cácthể ký báochí” của Đức Dũng ( 1996 ), Nhà xuất bản Văn hóa Thể
thao.
“Công tác biên tập”, Claudia Mast ( 2003 ), Nhà xuất bản thông tấn.
…
Bên cạnh những công trình về phong cách, về ngôn ngữ báo chí và một
số nghiên cứu về phương ngữ trong đó có phương ngữ Nam bộ nói trên,
10
khoảng 20 năm gần đây, trên cơ sở tiếng Việt, trào lưu phân tích diễn ngôn
nói chung, phân tích diễn ngôn báo chí nói riêng cũng đạt được một số kết quả
khả quan. Đặc điểm chung của trào lưu này là bên cạnh cách hình dung mỗi
diễn ngôn là một chỉnh thể, việc phân tích cấu trúc của nó, bao gồm cả cấu
trúc nội dung và cấu trúc hình thức, việc gắn diễn ngôn với quá trình hành
chức với ngữ cảnh (ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp). Nói một cách khái quát,
những yếu tố như quan hệ giữa diễn ngôn với hiện thực, diễn ngôn với người
sử dụng, đã đặt ra nhiều vấn đề lý thú và bổ ích.
Luận văn này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình đi
trước, bao gồm một số lĩnh vực vừa nêu trên, mạnh dạn triển khai việc tìm
hiểu đặc trưng trên nhật báo Cần Thơ một cách toàn diện và có hệ thống.
5. Đóng góp của luận văn
5.1 Luận văn không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết
phức tạp của truyền thông học và ngôn ngữ báo chí. Bởi đây là những vấn đề
mà thành tựu nghiên cứu trên cứ liệu tiếng Việt là rất lớn. Vả lại là một công
việc quá sức đối với người nghiên cứu. Tại đây, thông qua những nhận xét,
đúc kết cụ thể, luận văn muốn làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về vai trò và
chức năng của phương ngữ ( nhất là phương ngữ Nam bộ từ Ninh Thuận trở
vào), một phương ngữ tương đối thuần nhất về mặt ngôn ngữ lại được số
người sử dụng nhiều nhất đối với những phạm vi giao tiếp trên địa bàn, trong
đó có giao tiếp bằng báo chí.
5.2 Là một người công tác trong ngành báo chí, khi tiến hành đề tài
này, người viết trước hết xem đây là cơ hội để học tập, nâng cao trình độ về
mặt lý thuyết cũng như khả năng xử lý thực tiễn và thông qua những đúc kết,
những nhận xét cụ thể, hy vọng góp sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao
những công việc báo chí có tính chất bếp núc và gợi ra một số gợi ý tương đối
với những ai quan tâm đến đề tài.
11
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của
luận văn chia làm 2 chương chính:
Chương 1: Giới thiệu về cơ sở lý thuyết chung, mang tính khái quát,
bao gồm: vùng đất và con người Cần Thơ, lịch sử báo Cần Thơ, đặc điểm
chung của ngôn ngữ báo chí, cách phân chia và nhận diện các thể loại thuộc
phong cách báo chí, đặc biệt là vai trò của phương ngữ trong giao tiếp xã hội
cũng như trong việc tạo bản sắc văn hóa vùng, miền cho từng địa phương.
Đây có thể coi là phần lý thuyết, tiền đề làm xuất phát điểm mà luận văn dựa
vào để tiếp tục khảo sát những vấn đề cụ thể ở chương tiếp theo.
Chương 2: Ngôn ngữ nhật báo Cần Thơ
Trình bày những kết quả nghiên cứu cụ thể trên cả hai bình diện ngôn
ngữ và lời nói trong đó đặc biệt chú ý là các nhân tố làm nét riêng về mặt
ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ.
12
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
Trước khi đi vào khảo sát những đặc trưng ngôn ngữ của báo in Cần Thơ
không thể không đề cập đến một số tri thức nền liên quan đến đề tài. Ở
chương này luận văn lần lượt đề cập đến các vấn đề sau đây:
- Tổng quan về vùng đất Cần Thơ
- Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Chức năng ngôn ngữ báo chí
- Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
- Lý thuyết về giao tiếp của Roman Jakobsonvà việc nhận diện các phong
cách và thể loại
- Nhận diện một số thể loại trong báo chí, màu sắc địa phương và màu sắc
địa phương Nam Bộ
1.1. Cần Thơ
1.1.1. Vùng đất, con người
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về”
Đó là câu ca dao quen thuộc ngợi ca xứ sở Tây Đô tươi đẹp. Với diện
tích 1.389,59 km2
nằm bên bờ phải sông Hậu, Cần Thơ hiền hòa với những
luồng gió mát thổi vào từ hai con sông là sông Hậu và sông Cần Thơ. Mỗi
năm hai mùa mưa nắng cho Cần Thơ nhiều cây xanh trái ngọt, tạo nên đặc
trưng của một xứ sở miệt vườn. Thiên nhiên ưu đãi, Cần Thơ trù phú nhiều
sản vật. Đất đai màu mỡ, người dân nơi đây yên tâm chăm lo sản xuất, xây
dựng cuộc sống ấm no giàu đẹp. Sự ưu đãi của thiên nhiên ảnh hưởng đến sự
hình thành tính cách của con người Cần Thơ.
Người Cần Thơ chân chất thật thà, hiền hòa, chí tình chí nghĩa. Trong
đối nhân xử thế, tình người luôn được xem làm trọng. Vì lẽ đó, ai một lần đến
Cần Thơ đều lưu luyến trước tình đất tình người của đất Tây Đô.
13
1.1.2. Báo CầnThơ
Phát huy truyền thống, thành tích báo chí Cách mạng trong các thời kỳ
đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ ngày tái lập
tỉnh Cần Thơ (1992), báo Cần Thơ được tách ra từ báo Hậu Giang cũ, trong
hoàn cảnh mới vẫn tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng, từng bước
trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, không ngừng cải tiến nâng cao chất
lượng tờ báo, tạo bước đi lên vững chắc.
Sau 7 năm (1992- 1999), phấn đấu xây dựng và phát triển, báo Cần Thơ
luôn giữ vững tôn chỉ mục đích tờ báo của cơ quan ngôn luận của đảng bộ và
diễn đàn của nhân dân địa phương. Báo Cần Thơ bám sát sự chỉ đạo và định
hướng tuyên truyền của Đảng, các quy định của nhà nước, không ngừng cải
tiến nội dung, cách tân hình thức, thông tin kịp thời các sự kiện chính trị quan
trọng, phản ánh trung thực, sinh động mọi lĩnh vực đời sống xã hội, những
tiềm lực của quê hương đất nước trong những năm đổi mới.
Từ chỗ kế thừa báo Hậu Giang (cũ) định kỳ xuất bản 2 số/ tuần, 8 trang/ khổ
30 x40 cm, đến tháng 4 năm 1996, báo Cần Thơ tăng lên 3 số/ tuần, tháng 8
năm 1997 cả 3 kỳ báo trong tuần tăng từ 8 trang lên 12 trang và từ tháng 1
năm 1999 tăng thêm kỳ chủ nhật, 16 trang in 4 màu. Số lượng ấn bản phát
hành ngày càng tăng lên. Hiện nay báo Cần Thơ là món ăn tinh thần không
chỉ của cán bộ, công nhân viên chức mà còn của nhân dân địa phương.
Cùng với việc chăm lo xây dựng phát triển đội ngũ, báo Cần Thơ từng
bước đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng tốt nhất
việc chuyển tải thông tin, đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước đến
với đông đảo bạn đọc.
Đi đôi với việc tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng các kỳ báo Cần
Thơ, kể từ ngày 01-01-2001, báo Cần Thơ trở thành nhật báo.
14
1.2. Phong cáchngôn ngữ báo chí
1.2.1. Các quan điểm khác nhau về phong cáchngôn ngữ báo chí
Như chúng ta đã biết, phong cách học trên thế giới đã có lịch sử từ rất
lâu đời, nhưng ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu này còn khá mới mẻ, bắt đầu
từ những thập niên 60 của thế kỷ trước. Chưa có một công trình nghiên cứu
phong cách học thật sự xét một cách toàn diện các cấp độ ngôn ngữ. Các nhà
nghiên cứu còn tranh luận với nhau nhiều vấn đề thuộc phong cách học. Thậm
chí, riêng bản thân một nhà ngôn ngữ học cũng có sự thay đổi quan điểm theo
thời gian. Do đó việc phân chia các phong cách chức năng của tiếng Việt còn
là một vấn đề rối rắm, chưa thống nhất.
So với các phong cách khác, về mặt lí luận và nhận thức, phong cách
báo chí được nhìn nhận như một phong cách độc lập là khá muộn. Các tài liệu
như Tu từ học tiếng Việt hiện đại (Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên
Trứ, 1975) hay Phong cách học tiếng Việt (Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền,
Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình, 1982) không đề cập đến phong cách báo chí. Mãi
đến 1982, Nguyễn Thái Hòa mới đề cập trong cuốn Phong cách học tiếng
Việt. Như vậy, đến thập niên 80 của thế kỉ XX, phong cách chức năng báo chí
tiếng Việt mới được nhìn nhận như một phong cách độc lập, mặc dù báo chí
tiếng Việt đã có từ năm 1865, năm Gia Định Báo ra đời.
Nhóm tác giả Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyễn Thái Hòa – Vũ
Bình (1982) chia tiếng Việt toàn dân ra hai thế đối lập là phong cách khẩu ngữ
và phong cách văn hóa (văn học). Trong phong cách văn hóa lại bao gồm các
phong cách chức năng: phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong
cách báo chí - tin tức, phong cách hành chính - công vụ, phong cách cổ động
và phong cách nghệ thuật.
Trong cả hai công trình nghiên cứu của mình năm 1991 và năm 1997,
tác giả Đinh Trọng Lạc đều quan niệm các phong cách chức năng tiếng Việt
15
bao gồm hai loại là phong cách chức năng của hoạt động lời nói và phong
cách hoạt động nghệ thuật đối lập với phong cách ngôn ngữ phi nghệ thuật.
Các phong cách chức năng của hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm:
phong cách hành chính, phong cách khoa học, phong cách báo, phong cách
chính luận và phong cách sinh hoạt.
Xét từ phương diện truyền thông tác giả Vũ Quang Hào cho rằng không
có sự phân biệt một phong cách báo chí riêng biệt, trong thế đối lập với các
phong cách chức năng khác của hệ thống tiếng Việt. Theo ông, báo chí
thường sử dụng ba phong cách chủ yếu là: phong cách chính luận, phong cách
khoa học và phong cách hành chính.
Quan niệm của tác giả Hữu Đạt (2000) trong công trình nghiên cứu
“Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” thì đứng từ một
góc độ khác để phân chia các phong cách chức năng tiếng Việt. Hữu Đạt chia
tiếng Việt ra làm sáu phong cách chức năng theo cách nhìn từ trong ra ngoài,
bao gồm: phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính công vụ,
phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách
văn học - nghệ thuật. Trong đó, mỗi phong cách lại có hai dạng nói và viết.
Song song đó, cũng từ công trình nghiên cứu này, theo cách nhìn từ ngoài vào
Hữu Đạt lại phân chia tiếng Việt thành hai thế đối lập, bao gồm: phong cách
khẩu ngữ toàn dân và phong cách văn chương (còn gọi là phong cách gọt
giũa). Trong phong cách văn chương lại phân ra các phong cách: phong cách
hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong
cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật.
Có sự khác biệt đáng chú ý trong hai cách phân chia vừa nêu trên. Ở
cách phân chia thứ nhất, nói và viết chỉ coi là các dạng biểu hiện của phong
cách chức năng. Tuy nhiên, ở cách phân chia thứ hai, nói và viết được quan
niệm là chính phong cách chức năng. Tuy khác nhau, nhưng mỗi quan niệm
16
đều có những hạt nhân hợp lý của mình. Vấn đề quan trọng ở đây là sự phân
biệt giữa một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là hình thức thể hiện của ngôn
ngữ và một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là chức năng.
Nhìn chung, từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở về sau, ở hầu hết các
công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đều có sự phân biệt
phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí xét trong thế đối lập với các phong
cách chức năng ngôn ngữ khác. Phong cách ngôn ngữ báo bao gồm các kiểu
và thể loại văn bản phục vụ cho mục đích trao đổi thông tin giữa cơ quan báo
chí với bạn đọc, nhằm thực hiện chức năng tác động, chức năng giáo dục và
thẩm mỹ, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà chức năng này hay chức năng kia
nổi trội.
1.2.2. Chuẩnngôn ngữ và chuẩn phong cáchngôn ngữ báo chí
1.2.2.1. Chuẩn ngôn ngữ
Có nhiều quan niệm khác nhau về chuẩn ngôn ngữ. Hoàng Tuệ quan
niệm về chuẩn ngôn ngữ như sau:
“ Chuẩn mựcnói một cách khái quátlà cái đúng. Đó là cái đúng có tính chất
chung, tính chất bình thường được mọi ngườitrong cộng đồng ngôn ngữ chấp
nhận ở một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển lịch sử của ngôn
ngữ. Cái đúng cũng đượcxác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định
thuộc các phạm vi phátâm, chữ viết, dùng từ, cấu tạo từ mới và đặt câu”. [94,
tr.21] Hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa cũng đồng ý với quan
niệm trên về chuẩn ngôn ngữ. Riêng tác giả Hữu Đạt quan niệm chuẩn ngôn
ngữ trước hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về
mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ.
Tác giả Cù Đình Tú ( 1982) thì quan niệm chuẩn mực ngôn ngữ là hệ
thống các phương tiện liên kết biểu hiện tốt nhất, hợp lý nhất, được mọi người
17
thừa nhận, sử dụng để phục vụ cho sự giao tiếp xã hội trong thời kỳ nhất định.
Cù Đình Tú còn nhấn mạnh, hệ thống các phương tiện ngôn ngữ bao giờ cũng
tồn tại dưới dạng các biến thể. Mỗi biến thể tương ứng với một chức năng
giao tiếp nhất định, đúng trong phạm vi giao tiếp này nhưng có thể sai trong
phạm vi giao tiếp khác. Cái được công nhận là chuẩn mực trong phong cách
chức năng ngôn ngữ này chưa hẳn đã được chấp nhận ở phong cách chức
năng ngôn ngữ kia. [93, tr.62]. Tác giả Cù Đình Tú này cũng đề cập, đối với
các biến thể ngôn ngữ, chuẩn mực ngôn ngữ chỉ thừa nhận hoặc phủ định chứ
không giải quyết vấn đề lựa chọn biến thể để sử dụng trong các phong cách
chức năng ngôn ngữ.
Song song với khái niệm chuẩn mực trong ngôn ngữ, người ta thường
nhắc đến hiện tượng lệch chuẩn. Đó là những hiện tượng ngôn ngữ không phù
hợp với thói quen sử dụng ngôn ngữ và đi khỏi cảm thức ngôn ngữ của cộng
đồng [93, tr.21]. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, một số hiện tượng ngôn ngữ
mới nảy sinh, ban đầu, chúng được coi là lệch chuẩn, nhưng được cộng đồng
sử dụng thường xuyên và chấp nhận, dần dần những hiện tượng đó sẽ tham
gia vào chuẩn. Ta thường bắt gặp hiện tượng lệch chuẩn trong các sáng tác
văn chương, trong tác phẩm báo. Đặc biệt, báo chí là lĩnh vực tiên phong
trong việc sử dụng các hiện tượng lệch chuẩn trong ngôn ngữ.
Có thể phân chia các cấp độ của chuẩn ngôn ngữ gồm:
i) chuẩn ngữ âm,
ii) chuẩn từ vựng,
iii) chuẩn chính tả
iiii) chuẩn ngữ pháp.
Chúng tôi lần lượt xem xét từng cấp độ của chuẩn ngôn ngữ như sau:
i) Chuẩn ngữ âm: Chuẩn ngữ âm được đặt ra khi có hai hay nhiều biến
thể phát âm cho cùng một từ. Hiện tượng được coi là chuẩn là hiện tượng
18
được dùng chung cho toàn quốc gia, cho mọi lĩnh vực giao tiếp, mọi phong
cách chức năng. Hiện tượng chuẩn bao giờ cũng mang tính hợp lý, được cộng
đồng chấp nhận và được sử dụng chính thức trong ngôn ngữ hành chính, pháp
luật, mang tính nhà nước.
Mặc dù vậy, chuẩn không phải là quy ước mang tính hành chính thuần
túy. Tính quy ước này là kết quả cuối cùng của quy ước mang tính xã hội. Nó
liên quan đến tính hệ thống, áp lực của cấu trúc tiếng Việt và chịu thử thách
qua thời gian.
Nói một cách khái quát, tiếng Việt không có chuẩn ngữ âm, ( tức không
có giọng của vùng nào có đầy đủ các thế đối lập được thể hiện trong hệ thống
ngữ âm), chuẩn mà chúng ta nhắc ở đây là chuẩn trên chữ viết.
ii) Chuẩn chính tả: Nếu chuẩn ngữ âm được xây dựng trên việc lựa
chọn các biến thể ngữ âm, chuẩn từ vựng đươc xây dựng dựa trên sự lựa chọn
một đơn vị từ vựng trong loạt từ có nghĩa khác nhau mà người sử dụng dễ
nhầm lẫn là một thì chuẩn chính tả là những quy định cụ thể về cách viết, cách
phiên âm cho từng âm cụ thể.
iii) Chuẩn từ vựng: Cần thiết để xác lập các chuẩn từ vựng, tránh nhầm
lẫn các biến thể ngữ âm của cùng một từ hay các từ hoàn toàn khác nghĩa
nhau, đảm bảo cho việc sử dụng từ đạt được sự chính xác và đúng đắn.
So với chuẩn ngữ âm và chuẩn từ vựng, chuẩn chính tả ngoài tính dân
tộc còn có tính quốc tế. Chuẩn chính tả và chuẩn ngữ âm có quan hệ mật thiết
với nhau nhưng không phải là một.
Chuẩn chính tả là một hiện tượng phức tạp. Một mặt là do hệ thống chữ
cái tiếng Việt vốn được mượn từ hệ thống chữ cái tiếng Latin dùng để ghi âm,
mặt khác, mối quan hệ giữa âm và chữ vốn là mối quan hệ không ổn định
trong lịch sử. Sự thay đổi tương đốinhanh cách phát âm một số phụ âm đã tạo
nên những khó khăn nhất định trong việc phân biệt chính tả. Do đó, xây dựng
19
chuẩn chính tả đã và đang là vấn đề đặt ra. [21, tr.26].
iiii) Chuẩn ngữ pháp: Là toàn bộ những quy tắc quy định cho việc tổ
chức câu trong quá trình giao tiếp. Bộ quy tắc này ở mỗi ngôn ngữ đều có
những nét riêng ngoài những nét chung mang tính phổ quát.
1.2.2.2. Chuẩn phong cách ngôn ngữbáo chí
Bên cạnh khái niệm chuẩn ngôn ngữ, chuẩn phong cáchcũng là vấn đề
thời sự được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu.
Trong nhiệm vụ của mình, phong cách học một mặt phải chỉ ra khả năng và
hiệu lực biểu đạt của từng loại phương tiện ngôn ngữ trong các phong cách
chức năng ngôn ngữ, mặt khác phải chỉ ra ở một phong cách chức năng nhất
định thì sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như thế nào là hợp lý, là có hiệu
lực. Do đó phong cách học có mối quan hệ mật thiết với vấn đề xây dựng
chuẩn mực ngôn ngữ trong đó có chuẩn mực phong cách.
Theo tác giả Cù Đình Tú ( 1994), chuẩn mực phong cách là toàn bộ
những quy ước, chỉ dẫn về tính hợp lý, tính đúng chỗ của việc sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ phù hợp với yêu cầu của mỗi phong cách chức năng
ngôn ngữ.
Nhắc đến chuẩn mực phong cách là nói đến màu sắc phong cách. Màu
sắc phong cách là khái niệm gắn với phong cách chức năng ngôn ngữ, được
thể hiện qua những đặc trưng chung về việc dùng từ, đặt câu ở từng phong
cách chức năng cụ thể. Màu sắc phong cách là cái có tính chất ổn định tương
đối và có tính chất thông dụng, là tập hợp những đặc điểm mang tính khác
biệt của phong cách chức năng này với phong cách chức năng kia nên nó
mang tính khách quan và có tính quy luật trong quá trình sử dụng, không phụ
thuộc vào ý đồ chủ quan của người nói.
Muốn phân tích đặc điểm ngôn ngữ của mỗi lời nói ra xem nó thuộc về
phong cách chức năng nào, ta cần phải đặt nó trong quan hệ và hoàn cảnh
20
giao tiếp nhất định.
1.3. Lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson và việc nhận diện phong
cách và thể loại
Để đạt được hiệu quả giao tiếp thì quá trình giao tiếp phải đảm bảo các
điều kiện là người nói và người nghe phải cùng một ngôn ngữ; đồng thời có
sự tương xứng về hiểu biết trong lĩnh vực giao tiếp; có tập quán ngôn ngữ,
thói quen sử dụng các quy tắc ngôn ngữ đang được dùng làm công cụ giao
tiếp; có sự gần nhau về tâm lý và mức độ quan tâm với vấn đề đặt ra.
Người nói ( viết) và người nghe ( đọc) nằm trong mối quan hệ truyền
tin và tác động. Trong đó người viết là người cung cấp thông tin, là người tác
động và thuyết phục. Người đọc, nghe, là người nhận tin và chịu sự tác động,
thuyết phục. Đây là cơ sở làm xuất hiện phong cách báo chí- chính luận.
Liên quan đến vấn đề đang bàn, mô hình 6 yếu tố và tương ứng với nó
là 6 chức năng của Roman Jakobson (1960) không chỉ có ý nghĩa trong việc
nhận thức bản chất của ngôn ngữ thơ ca mà còn có thể xem xét để nhận diện
các phong cách chức năng và thể loại.
Theo Roman Jakobson, mọi giao tiếp đều có 6 yếu tố sau:
Quy chiếu
Người gửi Thông điệp Người nhận
Tiếp xúc
Mã
Và tương ứng với 6 yếu tố này, chúng ta có 6 chức năng ngôn ngữ khác
nhau: chức năng biểu hiện (gắn với người gửi), chức năng thi ca (gắn với
thông điệp), chức năng tác động (gắn với người nhận), chức năng nhận thức
(gắn với quy chiếu), chức năng siêu ngôn ngữ (gắn với mã) và chức năng đưa
đẩy (gắn với yếu tố tiếp xúc). Xem hình sau:
21
Nhận thức
Biểu hiện Thi ca Tác động Đưa đẩy
Siêu ngôn ngữ
Theo tác giả, có thể lưỡng phân thành hai nhóm giao tiếp lớn. Đó là
giao tiếp nghệ thuật và giao tiếp phi nghệ thuật. Trong giao tiếp nghệ thuật,
ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là mục đích. Nó là một tấm kiếng mờ đục
bởi vì cùng một lúc, nó phóng chiếu trục kết hợp lên trục đồng thời. Còn ngôn
ngữ phi nghệ thuật là một tấm kiếng trong suốt, ngôn ngữ thuần tuý chỉ là
phương tiện.
Và cũng trên sự suy tưởng này, Roman Jakobson cho rằng mọi loại
hình giao tiếp đều có 6 yếu tố và 6 chức năng như vừa đề cập ở trên. Vấn đề
là ở chỗ, khi chúng ta nhận diện và phân loại một loại hình giao tiếp nào, một
phong cách nào là dựa vào chức năng chủ đạo, chi phối các chức năng khác.
Chẳng hạn, đối với phong cách nghệ thuật, chức năng thi ca nổi trội, chi phối
và biến cải tất cả các chức năng khác. Phong cách khoa học và hành chính,
chức năng nhận thức là chức năng nổi trội, chi phối và biến cải tất cả các chức
năng khác. Cách kiến giải của tác giả có thể coi như là một phát kiến độc đáo,
rất phù hợp với ngôn ngữ học hiện đại.
Việc vận dụng mô hình của Roman Jakobson vào giao tiếp báo chí có
phức tạp hơn. Nếu tính đến đặc điểm của thời đại và quan điểm maxit thì chức
năng tác động mang tính định hướng của phong cách báo chí là chức năng nổi
trội, chi phối và biến cải tất cả các chức năng khác. Còn nếu nhấn mạnh đến
chức năng cung cấp thông tin thì chức năng nhận thức sẽ được thay thế.
Chức năng biểu hiện, gắn liền với người gửi. Ở đây có thể gắn với ban
biên tập, chính kiến của một tờ báo. Nó là chức năng bộc lộ tính tình thái. Đối
với những nhà báo có tài, thông qua các sự kiện mà họ trình bày, miêu tả, nó
22
có thể mang dấu ấn cá nhân. Đối với phương Tây, chức năng biểu hiện còn
được bộc lộ qua việc nhìn nhận, đánh giá sự kiện, thậm chí còn thể hiện trong
cách thức đưa tin.
Chức năng thi ca, hay còn gọi là chất nghệ thuật của báo chí: gắn liền
với văn bản. Mặc dù đây không phải là chức năng chính, tuy nhiên tính hấp
dẫn, gợi mở như đã đề cập ở trên, không thể thiếu trong ngôn ngữ báo chí. Có
thể ngôn ngữ báo chí không cho phép xuất hiện các hình tượng nghệ thuật
nhưng thông qua so sánh, đối chiếu, sử dụng các ẩn dụ, một văn bản báo chí
hay, đặc sắc thường vươn tới một mức độ nghệ thuật nhất định.
Chức năng tác động, gắn liền với người đọc. Như đã sơ lược phân tích
ở trên, đây có thể là chức năng quan yếu. Giao tiếp báo chí không chỉ cung
cấp thuần tuý thông tin mà thông qua thông tin để nhằm tác động đến người
nghe/người đọc, kêu gọi ở họ một sự cộng hưởng. Đây là cái mà báo chí
maxit gọi là định hướng dư luận, giúp cho người đọc từ suy nghĩ đúng dẫn
đến hành động đúng.
Ngày nay, tính tác động của báo chí còn được thể hiện qua sự tương tác
giữa công chúng với nhà báo, giữa công chúng với toà soạn báo. Nói cách
khác, trang báo ngày nay không còn là độc quyền của các kí giả.
Chức năng nhận thức, gắn liền với quy chiếu, tức là hiện thực được các
văn bản báo chí đề cập đến. Chức năng này có liên quan đến một vấn đề khá
tế nhị, đó là tính khách quan hay chủ quan trong việc chọn lựa các sự kiện.
Báo chí phương Tây chủ trương trình bày sự kiện một cách lạnh lùng, để tự sự
kiện nói lên, người viết không bình luận. Nói cách khác, ở đây, phần bình
luận, đánh giá không xuất hiện trên bề mặt văn bản một cách tường minh mà
dành do độc giả. Quan niệm này ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức ngôn ngữ
của văn bản báo chí. Chẳng hạn trước một sự kiện, có nên sử dụng thủ pháp
dẫn hay không dẫn và nếu có dẫn thì dẫn trực tiếp hay gián tiếp đều ít nhiều
23
có liên quan đến tính khách quan/chủ quan của sự kiện được đề cập.
Còn theo quan điểm maxit thì không có chủ nghĩa khách quan tuyệt
đối. Trong hàng loạt sự kiện xảy ra trong ngày, chọn yếu tố nào, không chọn
yếu tố nào, chúng xuất hiện ở đâu, ở trang nào, mục nào, thể loại nào, và cách
thức tổ chức văn bản, tất cả đều không tránh khỏi chủ quan.
Cho dù lí giải nó theo hướng nào thì chức năng nhận thức cũng là chức
năng quan trọng. Nó gắn kết rất mật thiết với các chức năng khác, mà trước
hết là với chức năng tác động.
Chức năng siêu ngôn ngữ, theo lí thuyết, gắn liền với mã ngôn ngữ, với
tri thức nền, tức sự kiện. Để thực hiện một giao tiếp tốt, nhất là giao tiếp báo
chí, giữa người viết báo với bạn đọc phải có cùng một mã chung, một tri thức
nền chung. Đây là một yêu cầu có tính chất lí tưởng. Nhiều khi trong thực tiễn
giao tiếp, ở một số thể loại nhất định, phải sử dụng ngôn ngữ để giải thích,
thuyết minh về một sự kiện hay thuật ngữ nào đó. Đối với phong cách báo
chí, có thể coi đây là chức năng thứ yếu nhưng rõ ràng không thể thiếu được.
Chức năng đưa đẩy, gắn liền với yếu tố tiếp xúc. Cụ thể ở đây có sự
cộng hưởng, sự phản hồi, sự tiếp xúc giữa nhà báo với công chúng. Đây là
cuộc tiếp xúc có tính cách gián tiếp, không phải là giao tiếp mặt đối mặt
nhưng nếu ai đó xem thường nó thì khó lòng nói được rằng cuộc giao tiếp đó
là thành công. Tuy người đọc không xuất hiện trực tiếp nhưng khi cầm bút,
nhà báo bao giờ cũng phải trả lời cho được đối tượng người đọc mà văn bản
nhắm tới là ai, thành phần xã hội của họ thế nào, nhu cầu thẩm mĩ của họ ra
sao.
Liên quan đến vấn đề đang bàn, nếu chúng ta chú ý quan sát, mỗi một
tờ báo, mỗi một cơ quan thông tấn thường có một số lượng độc giả rất đặc
thù.
24
Như vậy, giao tiếp báo chí một mặt cũng có những đặc điểm chung của
mọi loại hình giao tiếp, mặt khác lại bao chứa những đặc điểm riêng. Các đặc
điểm riêng này, nói như Roman Jakobson, là tính chất nổi trội và chi phối của
chức năng tác động, một chức năng rất quan trọng trong việc nhìn nhận sự
kiện, tính khách quan và chủ quan, cũng như vai trò định hướng báo chí theo
quan điểm maxit.
1.4. Chức năng của phong cáchngôn ngữ báo chí
Theo Đinh Trọng Lạc ( 1994), phong cách báo là khuôn mẫu thích hợp
để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp
trong lĩnh vực báo. Nói cụ thể hơn đó là vai của nhà báo, người đưa tin, người
cổ động, bạn đọc,… tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã
hội về tất cả các vấn đề thời sự.
Chức năng của ngôn ngữ được hiện thực hóa trong phong cách báo chí
gồm các chức năng giao tiếp lý trí và chức năng tác động. Chức năng giao tiếp
lý trí được hiểu cụ thể là thông báo, chức năng tác động là gây ra những biến
đổi có ảnh hưởng tới nguyện vọng, nhu cầu của người nghe, người đọc.
Theo quan điểm của Hữu Đạt, phong cách ngôn ngữ báo chí có nhiều
chức năng gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ báo như: chức năng thông báo,
chức năng hướng dẫn dư luận, chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng,
v.v… Sau đây, chúng ta lần lượt xem xét các chức năng đó:
a. Chức năng thông báo: Báo chí ra đời trước hết là do nhu cầu thông
tin. Xã hội càng phát triển, nhu cầu thông tin của con người càng lớn, báo chí
trở thành một công cụ đắc lực khắc phục tình trạng đói thông tin của con
người.
Như vậy, nói tới đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí trước hết
phải đề cập đến chức năng thông báo. Đó là chức năng đầu tiên của ngôn ngữ
báo chí. Ngôn ngữ phải đảm bảo tính khách quan, trung thực trong việc phản
25
ánh thông tin nhằm đưa đến những thông tin lành mạnh, có ích giúp cho con
người mở rộng sự hiểu biết và phát triển theo khuynh hướng toàn diện. Khi
thực hiện chức năng thông báo, ngôn ngữ tham gia giao tiếp phải mang tính lý
trí, gạt ra ngoài những cảm xúc cá nhân.
b. Chức năng hướng dẫn dư luận: Chức năng hướng dẫn và tác động
luôn luôn đi kèm với chức năng thông báo. Ngôn ngữ báo chí luôn phải đảm
nhiệm một nhiệm vụ to lớn là hướng dẫn dư luận và tác động đến dư luận làm
cho người đọc hiểu được bản chất của sự thật, để phân biệt rõ đâu là chân lý,
đâu là ngụy biện. Từ đó, giúp bạn đọc định hướng rõ ràng, ủng hộ hay phản
đối vấn đề mà báo chí đặt ra.
c. Chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng: Sự thu hút của ngôn
ngữ báo chí tạo ra khả năng tập hợp và tổ chức quần chúng rất lớn. Có thể nói,
trong những điều kiện lịch sử nhất định, báo chí đã góp phần tạo ra những sức
mạnh tinh thần to lớn đến mức chuyển hóa thành sức mạnh vật chất. Khi thực
hiện chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, ngôn ngữ báo thiên về cách
dùng các câu mệnh lệnh, kêu gọi.
d. Tính chiến đấu mạnh mẽ: Đúng như Lê nin khẳng định, mỗi tờ báo
thường là đại diện cho tiếng nói của các nhóm người hay các tập đoàn người.
Trên thực tế, không phải lúc nào quyền lợi của các tập đoàn người trong xã
hội cũng thống nhất với nhau. Khi đó báo chí hoạt động với tư cách là công cụ
đắc lực, trực tiếp nhất phục vụ cho cuộc đấu tranh tư tưởng, chính trị của giai
cấp mình.
Tính chiến đấu của báo chí được hình thành từ những cách lập luận
đanh thép, từ các phương pháp sử dụng từ ngữ nhằm châm biếm, công kích,
tiến tới phủ định đối phương.
Nhiều người cho rằng, chỉ trong xã hội có giai cấp ngôn ngữ báo chí
mới có tính chiến đấu. Không phải như vậy, tính chiến đấu của ngôn ngữ báo
26
chí vẫn luôn là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình tạo nên sự ổn
định và phát triển của xã hội trên mặt trận chính trị tư tưởng. Đây chính là
cuộc đấu tranh trong nội bộ nhân dân giữa các luồng tư tưởng đối lập nhau:
đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và lạc hậu, giữa tích cực và
tiêu cực. Tính chiến đấu của ngôn ngữ báo chí thể hiện ở nhiều mức độ khác
nhau.
e. Tính thẩm mỹvà giáo dục: Báo chí muốn trở thành món ăn tinh thần
thực sự của đông đảo bạn đọc thì ngôn ngữ của nó phải được chọn lọc, mang
vẻ đẹp của ngôn từ, đảm bảo nguyên tắc về thẩm mỹ. Người viết phải biết lựa
chọn từ ngữ và tìm tòi những kiểu kết hợp từ làm sao cho sáng tạo, vừa đạt
được mục đích của mình vừa giữ được tính thẩm mỹ.
Thực hiện được tính thẩm mỹ trong ngôn ngữ báo chí đồng nghĩa với
việc đã thực hiện được tính giáo dục của báo chí. Tuy nhiên, tính giáo dục của
ngôn ngữ báo chí thường không hiện lên bề mặt của văn bản mà ẩn chìm sau
những lớp ngôn ngữ, thực chất là ý nghĩa loại suy từ nghĩa thông báo và nghĩa
tác động.
f. Tính hấp dẫn và thuyết phục: Đây là một trong các yếu tố quyết
định sự sinh tồn của báo chí. Về nội dung, ngôn ngữ báo chí phải luôn luôn
mới, đa dạng và phong phú. Trong đó, yêu cầu đưa tin nhanh, xác thực, cập
nhật và phản ánh được nhiều hướng dư luận khác nhau. Về mặt hình thức,
ngôn ngữ được sử dụng phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc. Do đó, sự
hấp dẫn về mặt hình thức của bài báo phải bao gồm một tổng thể hình thức: từ
cách trình bày đến các hình ảnh phụ họa, các biện pháp sử dụng ngôn ngữ,
trong đó có việc lựa chọn từ ngữ. Chẳng hạn là việc sử dụng từ độc đáo; kiến
tạo những kết hợp từ độc đáo, bất ngờ; sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, ca dao
một cách sáng tạo và có hiệu quả; sử dụng tốt các biện pháp chơi chữ dựa trên
đặc điểm ngôn ngữ dân tộc.
27
Theo Hoàng Trọng Phiến (1998), những hiện tượng bất thường trong sử
dụng ngôn ngữ có thể được xem như biện pháp hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí,
tuy nhiên, đó là những hiện tượng mang tính sáng tạo và có mục đích, đồng
thời phải tính đến những thói quen và cách tri giác của người bản ngữ.
g. Tính ngắn gọn và biểu cảm: Nói tới ngôn ngữ báo chí là nói tới đặc
điểm phong cách mang tính ngắn gọn; tuy nhiên, ít nhiều gắn với cảm xúc chủ
quan. Ta thấy, ở loại văn bản tin được xem là ít có yếu tố biểu cảm nhất của
phong cách báo chí thì mỗi bản tin đều bao gồm 2 nét nghĩa là: phần tin lý trí,
là phần tin chính mang nội dung phản ánh hiện thực; phần tin bổ sung là phần
tin biểu cảm thái độ, quan điểm của người viết. Tính ngắn gọn của báo là yêu
cầu mang tính tất yếu xuất phát từ chức năng cơ bản của báo chí là thông tin
nhanh. Đặc điểm này thể hiện ở việc sử dụng các cấu trúc cú pháp ít thành
phần, ở việc ít mở rộng các thành phần định ngữ trong câu, rất ít khi gặp các
loại câu trùng điệp, nhiều tầng lớp.
Đồng thời, ngôn ngữ trong phong cách báo chí phải có tính biểu cảm.
Đặc trưng này xuất hiện đáp ứng các chức năng của báo chí là chức năng tác
động, tổ chức và tập hợp quần chúng. Bởi vì báo chí cuối cùng vẫn phải tác
động vào lòng người, tạo nên niềm tin và hy vọng ở người đọc.
Tùy theo quan điểm của các tác giả mà chức năng này hay chức năng
kia của phong cách ngôn ngữ báo chí được xem là đặc trưng nổi trội. Nhưng
có thể nói rằng, xuất phát từ những đặc trưng nêu trên mà ngôn ngữ báo chí
có những đặc điểm khác biệt so với các phong cách chức năng ngôn ngữ khác.
28
1.5. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
1.5.1. Ngônngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện
Ngôn ngữ của báo chí là ngôn ngữ mang tính sự kiện. Đặc điểm này
gắn liền với tính thời sự của báo chí. Trong một trang báo bất kì, có thể dễ
dàng nhặt ra được hàng loạt các sự kiện đi liền với nhau. Thông tin mà độc
giả muốn tìm hiểu là sự kiện chứ không phải là cái gì khác. Ngôn ngữ báo chí
không mang tính định tính mà mang tính định lượng. Thông tin nén chặt trong
một khối lượng chữ được quy định nghiêm ngặt. Do đó, mô hình 5W+H được
sử dụng rất nhiều và nói đến sự kiện là nói đến mô hình này.
Nói rộng hơn, đối với việc biểu đạt, ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ bằng
một hình thức tối thiểu phải chuyển tải một thông tin tối đa. Trong đó, ngay cả
mặt hình thức cũng phục vụ cho việc chỉ báo thông tin, tìm kiếm thông tin
thông qua các phân đoạn, thông qua việc khai thác các hình thức chữ viết, đặc
biệt là các tiêu điểm thông báo.
1.5.2. Ngônngữ báo chí là ngôn ngữ của sự tương tác
Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ báo chí là sự tương tác: tương tác giữa
sự kiện xảy ra và quan điểm của người viết, toà soạn; tương tác giữa bài báo
và bạn đọc, và xa hơn nữa là kết quả thu được từ bài báo: tương tác giữa công
luận với sự kiện được nêu ra. Đặc trưng của báo chí là tính cộng đồng. Mỗi
một sự kiện được lên khuôn đều có hàng vạn người đọc, thuộc mọi thành
phần và tầng lớp xã hội. Do đó, người viết phải viết với tư tưởng là viết cho
đông đảo độc giả chứ không phải chỉ phục vụ một nhóm nhỏ cục bộ nào đó.
Vì vậy, trong nhiều bài báo, người viết không sử dụng đại từ nhân xưng “tôi”
mà dùng “chúng tôi”, hoặc có thể mời gọi bạn đọc tham gia vào vấn đề một
cách tường minh như “quý độc giả”, “bạn đọc”; hoặc kín đáo hơn là “chúng
ta”.
29
Do vậy, ngôn ngữ được sử dụng phải là ngôn ngữ của cộng đồng, nhất
là trên bình diện từ vựng. Tất nhiên, phải có cân nhắc, lựa chọn cẩn thận. Có
như vậy, ngôn ngữ báo chí mới thực sự là tiếng nói của cả cộng đồng. Chẳng
hạn, về mặt từ ngữ, bên cạnh các từ vốn có như “lâm tặc”, “không tặc”, “hải
tặc”, “đạo tặc” dựa trên ngôn ngữ của cộng đồng, trên báo chí gần đây xuất
hiện rất nhiều từ ngữ dựa vào mô hình kết hợp này như “sa tặc”, “cát tặc”,
“tin tặc”, “đất tặc”, “đinh tặc”, “nhớt tặc”, “tình tặc”, “mông tặc”, “tôm tặc”,
thậm chí là “cà phê tặc”. Đưa vào tác phẩm lời ăn tiếng nói của quần chúng là
một cách làm hay, vừa tăng tính cộng đồng, vừa làm giảm vẻ xơ cứng, chính
trị hoá mà một thời báo chí tiếng Việt đã mắc phải.
1.5.3. Ngônngữ báo chí là ngôn ngữ của sự hấp dẫn
Ngôn ngữ báo chí về cơ bản không phải là ngôn ngữ nghệ thuật, nhưng
điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ báo chí lúc nào cũng phải khoác cái áo
nghiêm nghị, không có nghĩa là ngôn ngữ báo chí không được phép hấp dẫn.
Công chúng chỉ tiếp nhận thông tin mà người viết truyền đạt nếu thông tin đó
được thể hiện bằng một ngôn ngữ dễ đọc, hấp dẫn. Đặc điểm này thể hiện rõ
nét nhất là ở tiêu đề, rồi đến dẫn đề.
Người viết phải biết kết hợp giữa tính khách quan của sự kiện và tính
hấp dẫn của ngôn ngữ miêu tả sự kiện đó để lôi cuốn, hấp dẫn độc giả. Cần
tránh cả hai thaí cực: chỉ đặt trọng tâm vào việc lôi kéo độc giả mà quên đi nội
dung của thông tin, dẫn đến việc ngôn ngữ rất hấp dẫn, gợi cảm nhưng nội
dung chỉ là con số không; hoặc chỉ chú ý đến nội dung thông tin, không dụng
công trong lựa chọn câu chữ dẫn đến việc thông tin thì ngồn ngộn nhưng
chẳng mấy ai đọc vì hàn lâm quá, khô cứng quá trong diễn đạt. Trong thông
tin trên báo chí, ai cũng biết rằng tin tiêu cực thường thu hút độc giả nhiều
hơn.
30
So với các đặc điểm ngôn ngữ sự kiện, ngôn ngữ tương tác thì ngôn
ngữ hấp dẫn bị chi phối bởi tâm lí công nghiệp nhiều nhất. Việc đưa thông tin
chính xác, khách quan, bằng hình thức ngắn gọn cô đúc đã phần nào thể hiện
được sự lôi cuốn, hấp dẫn. Tuy nhiên, tính hấp dẫn trước hết là về mặt ngôn
từ, tùy theo thể loại mà sử dụng từ vựng, kết cấu câu thích hợp. Tính hấp dẫn
còn thể hiện ở mặt hình thức, các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ như màu sắc,
hình ảnh minh hoạ, các box tóm tắt. Nhìn một cách khái quát, tính hấp dẫn
của ngôn ngữ báo chí có thể xuất phát từ các hình thức ngôn từ biểu đạt mà
cũng có thể từ ngay chính nội dung vấn đề được trình bày trong văn bản.
Như vậy, ngôn ngữ báo chí là một biến thể chức năng, nói như ngữ
pháp chức năng hệ thống, nó là một kiểu ngữ vực mà trường diễn ngôn là
những chủ đề trong đời sống trong và ngoài nước. Mục đích diễn ngôn là định
hướng dư luận, còn phương thức diễn ngôn được thể hiện trên ba kênh: kênh
viết, kênh nói và kênh hình.
1.6. Một số thể loại báo chí tiêu biểu
Thể loại báo chí hình thành là do nhu cầu khách quan của cuộc sống,
của con người và của chính thực tế báo chí. Các nhà kinh điển về báo chí như
Lê-nin, Hồ Chí Minh cũng cho rằng một tờ báo hay một nhà báo sử dụng
được nhiều thể loại báo chí thì tờ báo đó sẽ càng có tác dụng, sẽ phong phú,
hấp dẫn và lôi cuốn bạn đọc nhiều hơn.
Trong quá trình phát triển lâu dài của báo chí, các thể loại đã được hình
thành phù hợp với nội dung, mục đích và tôn chỉ của nó. Các hình thức tổ
chức tư liệu, phương thức phản ánh các sự kiện, hiện tượng, quá trình của đời
sống xã hội đã đáp ứng hoạt động, nhiệm vụ của nhà báo và các cơ quan báo
chí. Các hình thức, phương thức này đều có tính chất, đặc điểm nhất định mà
mọi người quen gọi là thể loại.
31
Tác giả Đinh Hường nêu định nghĩa về thể loại báo chí như sau: “ Thể
loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định
của các bài báo, được phân chia theo hình thức phản ánh hiện thực, sử dụng
ngôn ngữ và các công cụ khác nhau để chuyển tải nội dung mang tính chính
trị, tư tưởng nhất định”.
Ở luận văn này, chúng tôi tán thành quan điểm của Đức Dũng ( 1996)
phân chia hệ thống thể loại báo chí ở nước ta thành 3 loại thể: nhóm thông
tấn báo chí, nhóm chính luận báo chí và ký báo chí. Đức Dũng lý giải, hệ
thống thể loại báo chí được hình thành bởi 3 loại thể nêu trên có đặc điểm bao
trùm là thông tin thời sự, với tư cách là hạt nhân của thông tin báo chí.
- Loại thể thông tấn báo chí gồm: tin, phỏng vấn, tường thuật, điều
tra. Cả bốn thể loại này có chung 1 đặc điểm là thiên về thông tin sự kiện, lấy
việc thông tin sự kiện là mục đích tối thượng trong quá trình phản ánh hiện
thực. Sự kiện được thông tin trong các thể loại này có nhiều cấp độ khác nhau,
phụ thuộc vào tầm quan trọng của chúng nhưng dù ở cấp độ nào cũng phải
đáp ứng yêu cầu thời sự và tính xác thực, cặn kẽ, tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ
nhất. Tất cả các chi tiết, dữ kiện được đưa ra trong những thể loại này đều
phải chịu áp lực rất lớn của tính thời sự và tính chính xác với mục đích rõ
ràng là nhằm cung cấp các sự kiện cho công chúng.
Trong thể loại thông tấn báo chí, tin được coi là thể loại hạt nhân vì nó
có khả năng thông tin một cách nhanh nhất, sớm nhất, dưới một hình thức
chặt chẽ nhất về những sự việc, sự kiện vừa mới xảy ra, đang xảy ra hoặc
chắc chắn sẽ xảy ra.
Với những khả năng đó, tin không chỉ được coi là thể loại hạt nhân của
loại thể thông tấn báo chí mà còn là hạt nhân của toàn bộ hệ thống thể loại
báo chí.
32
- Loại thể chính luận báochí gồm xã luận, bìnhluận, chuyên luận.
Đặc điểm nổi bật của nhóm loại thể này là khả năng bàn luận, giải thích, bình
giá các sự kiện. Có thể nói, mô hình luận cứ- luận chứng- luận điểm là mô
hình chung cho cả 3 thể loại thuộc loại thể chính luận báo chí.
- Loại thể ký báo chí có phần sinh động hơn so với 2 nhóm loại thể
trước không chỉ bởi ở hình thức kết cấu mà ngay cả trong phạm vi nội dung
được phản ánh. Trong số các thể loại của ký báo chí, phóng sự được xếp ở vị
trí đầu tiên và được coi như thể loại đóng vai trò hạt nhân của toàn bộ loại thể.
Việc phân chia các thể loại báo chí thành 3 nhóm trên chỉ có tính tương đối.
Trong mỗi loại thể đều thể hiện những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống,
đều là sự kết hợp ít nhiều giữa các khả năng thông tin sự kiện, thông tin lý lẽ
và thông tin thẩm mỹ dưới đặc điểm bao trùm là thông tin xác thực, thông tin
thời sự.
Ở đây ta bàn đến một số thể loại tiêu biểu thuộc phong cách ngôn ngữ
báo chí:
- Tin tức: bao gồm tin vắn, tin dài, tin tổng hợp, tin tường thuật, tin
trong nước, tin thế giới, tin có tiêu đề, tin không có tiêu đề. Trong thể loại
này, luận văn tập trung chú ý nhiều nhất là tin địa phương bởi vì nó có nhiều
khả năng thể hiện được đặc trưng ngôn ngữ ít nhất là lời ăn tiếng nói của Nam
Bộ. Đương nhiên, thể loại tin tức khó xuất hiện các yếu tố ngôn ngữ địa
phương, tuy nhiên không phải là không có.
- Phóng sự: như chúng ta biết, phóng sự hình thành từ những tình
huống có vấn đề. Đối với một tờ báo địa phương, phóng sự thường gắn liền
với những vấn đề nóng hổi của cuộc sống trên một địa bàn địa phương cụ thể.
- Phỏng vấn: về phỏng vấn, nếu như ở một số tờ báo lớn ở trung ương,
phỏng vấn thường rơi vào hai trường hợp: i) các chính khách, chính trị gia và
ii) một số nhân vật nổi tiếng về các lĩnh vực nào đó ( văn hóa, văn nghệ, thể
33
thao). Thuộc nhóm trước, chủ đề thường liên quan đến chủ trương, đường lối,
chính sách, định hướng xã hội của lãnh đạo và nhóm thứ 2 trao đổi về lĩnh
vực chuyên môn nào đó ví dụ như phỏng vấn huấn luyện viên, vận động viên,
bác sĩ, v.v. về một số vấn đề chuyên môn mà xã hội quan tâm, thì ở các báo
địa phương, phỏng vấn thuộc loại i). Cần nói ngay, phỏng vấn báo in thường
có một khâu chuẩn bị trước mặc dầu có thể được biên tập, tỉa tót cẩn thận
nhưng do đề cập đến những vấn đề địa phương nên cũng có khả năng thể hiện
đặc trưng ngôn ngữ riêng của một vùng đất.
- Phản ánh, ghi nhanh: Ngoài 3 thể loại rất phổ biến vừa đề cập, khi
sưu tập ngữ liệu trên mặt báo Cần Thơ, chúng tôi còn chú ý đến các thể loại
sau đây: về phản ánh: thực ra cách gọi tên này không thật nghiêm ngặt, nó
thể hiện cách thức cung cấp thông tin, so với phóng sự thì phản ánh đáp ứng
được yêu cầu kịp thời, sốt dẻo nhưng về mặt quy mô, không thể nào bằng
được phóng sự. Do vậy, có thể nói được cái phản ánh là dạng thô của phóng
sự, là các sự kiện ban đầu làm xuất phát điểm của phóng sự. Giữa phản ánh và
phóng sự có đặc điểm chung là đều xuất phát từ những tình huống có vấn đề.
Còn ghi nhanh, như tên gọi, đó là một nhát cắt của sự kiện, một khoảnh khắc
của sự kiện, mà người phóng viên nắm bắt được. Và do vậy, nó không đòi hỏi
phải nêu nguyên nhân, đó cũng là một dạng thông tin ở dạng thô.
- Cuối cùng, còn có một thể loại cũng khá quan trọng, đó là ký nhân vật
và ký sự kiện mà các tòa soạn thường tập trung ở mục là gương điển hình.
Có thể nói, đây là thể loại tập trung nhiều đặc điểm ngôn ngữ nhất.
1.7. Màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam
Bộ 1.7.1. Màusắc địa phương
Tiếng Việt có nhiều phương ngữ. Cũng như một con người có nhiều
dáng vẻ khác nhau, tùy nơi, tùy lúc, tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa thống
nhất, vừa đa dạng. Tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ, cái làm
34
nên đặc điểm của tiếng Việt với một lịch sử lâu dài, còn mặt biểu hiện khi thì
nó là ngôn ngữ văn học trau chuốt và tế nhị, khi thì nó là tiếng địa phương
đậm đà màu sắc quê hương của từng vùng. Các tiếng địa phương không hề
cản trở quá trình giao tiếp. Phương ngữ học khi nghiên cứu một phương ngữ
thì chỉ chú trọng đến những điểm khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân.
Nó nghiên cứu sự khác nhau để tìm cho ra qui luật đi đến sự thống nhất, đây
là một yêu cầu có thực trong xã hội hiện tại.
Ngôn ngữ toàn dân là một hiện tượng lịch sử, văn hóa, đó là các hình
thức trau chuốt có ý thức của cách nói năng mà ta phải học tập mới có được
chứ không phải có tự nhiên, cho nên miêu tả tiếng nói tự nhiên thì dứt khoát
là miêu tả một phương ngữ cụ thể.
Khi việc miêu tả chỉ thu hẹp vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau
giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng, trừ
một vài từ chỉ trỏ, một vài hư từ có nghĩa là không liên quan đến cấu trúc. Và
chính sự thống nhất của mọi phương ngữ về mặt ngữ pháp là đảm bảo cơ bản
tính thống nhất của tiếng Việt. Sang đến mặt từ vựng cũng thế. Giữa các
phương ngữ không hề có sự khác nhau về cốt lõi của hệ thống từ vựng tức là
về cấu tạo từ, vị trí của các yếu tố, các kiểu láy âm, sự khác nhau chỉ thu gọn
ở các từ, các biểu hiện bên ngoài của từ vựng học. Có thể nói, then chốt quy
định sự phân chia các phương ngữ là ngữ âm chứ không phải là từ vựng.
Đặc điểm đối lập ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ đó là ta có thể
nghiên cứu ngôn ngữ toàn dân như một tồn tại khách quan, cụ thể là như một
vật mà không cần phải đặt trong một trạng thái đối lập với các đối tượng khác.
Trái lại ta nghiên cứu một phương ngữ như một ngôn ngữ, tức không đặt nó
đối lập với các phương ngữ khác, không xem nó là một biến thể của ngôn ngữ
toàn dân, thì công trình đó dù là miêu tả hay lịch sử cũng không phải là công
trình phương ngữ học. Như vậy sự khác nhau giữa định nghĩa
35
của một phương ngữ với định nghĩa của một ngôn ngữ không phải ở chỗ ngôn
ngữ có nhiều người nói hơn phương ngữ mà là ở chỗ ngôn ngữ là một khái
niệm độc lập không tồn tại trên sự đối lập, so sánh, còn phương ngữ là một
khái niệm xây dựng trên sự đối lập. Chính đặc điểm này quy định phương
thức làm việc của nhà phương ngữ học. Tuy nhiên, ngay cả những công trình
phương ngữ học nổi tiếng cũng ít khi chú ý đến phương ngữ là một khái niệm
xây dựng trên sự đối lập.
Bên cạnh ngôn ngữ được xét đến, có ngôn ngữ toàn dân. Do đó, trong
việc nghiên cứu một phương ngữ của tiếng Việt, cách tiếp cận chỉ có thể là
cách tiếp cận so sánh đối lập. Ngay dù ta có miêu tả đơn thuần, không nói gì
đến lịch sử cả ta cũng phải làm thao tác so sách đối lập, vì phương ngữ học
không nghiên cứu phương ngữ như một vật cho nó và tự nó mà như một biểu
hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình phát triển.
Phương ngữ là kết quả của một sự biến đổi trong đó bắt đầu có sự
chuyển mã ở một khía cạnh nào đấy trong khi hệ thống các mã vẫn gần như
nguyên vẹn. Sự ra đời của các phương ngữ trong lòng ngôn ngữ toàn dân là
kết quả của những sự tác động:
- Tác động từ bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ: đó là ngôn ngữ thay
đổi ở trong hoạt động giao tiếp với tính cách một tập hợp những tập quán nói
năng. Đây là mặt ngôn ngữ học của vấn đề.
- Sự tác động của những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ. Trước tiên, sự
phân bố tách biệt khác nhau về địa lý.
- Tác động của những yếu tố xã hội: khi nghiên cứu một phương ngữ
trong thế so sánh đối lập với các phương ngữ khác cũng như ngôn ngữ toàn
dân, cái khó không phải là tìm ra cho được sự khác nhau. Điều đó thuộc về
mặt hiện tượng nên rất dễ thấy. Cái khó là tìm cho được bản chất của sự khác
nhau này. Nói khác đi, ta phải giải thích được sự khác nhau này do đâu mà có,
36
nó sẽ gây những ảnh hưởng gì trong phương ngữ đã chọn, nó sẽ mất đi hay sẽ
phát triển, nó là tích cực hay tiêu cực đối với lịch sử của ngôn ngữ. Chính
điều này đòi hỏi một cách tiếp cận là tìm mối quan hệ giữa mặt biến đổi và
mặt bất biến của ngôn ngữ.
Phương ngữ Nam Bộ là một trong 3 vùng ngôn ngữ lớn của tiếng Việt.
Trải dài từ đèo Hải Vân đến cực Nam của Tổ quốc, hầu như không có một
biến thể nào khác ngoài phương ngữ Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ gìn giữ
bản sắc văn hóa vùng miền, đồng thời góp phần đi đến xây dựng và phát triển
một hệ thống ngôn ngữ toàn dân thống nhất.
1.7.2. Màusắc địa phương Nam Bộ
Trước khi tìm hiểu màu sắc địa phương được biểu hiện trên nhật báo
Cần Thơ, chúng tôi nhắc đến lý luận về màu sắc phong cách chức năng của
ngôn ngữ báo chí.
Theo thói quen sử dụng của truyền thống, mỗi đơn vị ngôn ngữ thường
gắn với một hoặc nhiều phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định.
Màu sắc phong cách là giá trị phong cách chức năng của đơn vị ngôn
ngữ. Về mặt nguồn gốc nảy sinh thì đó là kết quả của ưu tiên sử dụng theo
truyền thống. Về mặt nội dung bổ sung thì nó gợi sự liên tưởng đến phong
cách chức năng ngôn ngữ mà đơn vị ngôn ngữ thường được sử dụng. Khái
niệm đa phong cách hay đơn phong cách là kết quả được rút ra từ khả năng sử
dụng tự do hay hạn chế trong phong cách chức năng ngôn ngữ của đơn vị
ngôn ngữ. Đơn vị có màu sắc đa phong cách là đơn vị được dùng tự do, dùng
chung cho mọi phong cách chức năng ngôn ngữ. Đơn vị ngôn ngữ có màu sắc
đơn phong cách là đơn vị chỉ được dùng hạn chế, dùng riêng cho một phong
cách chức năng ngôn ngữ nhất định. Dựa vào kết quả phân loại phong cách
chức năng ngôn ngữ, Cù Đình Tú chia các đơn vị đơn phong cách gồm: đơn
vị có màu sắc phong cách khẩu ngữ; đơn vị có màu sắc phong cách gọt giũa;
37
đơn vị có màu sắc phong cách văn chương.
Tác giả Cù Đình Tú khảo sát đặc điểm tu từ của từ địa phương dựa trên
cơ sở phân loại theo quan điểm ngữ pháp học, từ vựng học. Tiếng Viêt có
nhiều phương ngữ nên việc sử dụng phương ngữ trong phong cách ngôn ngữ
báo chí không phải là không có. Từ địa phương được dùng chủ yếu trong
phong cách ngôn ngữ tự nhiên ở các địa phương, mang màu sắc phong cách
khẩu ngữ tự nhiên. Qua thực tế sử dụng, có thể thấy được hiệu quả từ việc
dùng từ địa phương, đó là dùng từ địa phương để bổ sung cho từ toàn dân
trong trường hợp vốn từ toàn dân thiếu phương tiện miêu tả thật trúng đối
tượng tác giả định biểu hiện; dùng từ địa phương để nhấn mạnh vào tính chất
riêng biệt về khu vực, địa bàn của hiện tượng hoặc nhân vật được miêu tả;
dùng từ địa phương để tạo sự hòa hợp giữa tác giả và nhân vật địa phương.
Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp phục vụ đắc lực cho hoạt động
giao tiếp của con người mà còn giúp ta hiểu được các giá trị văn hóa chứa
đựng trong ngôn ngữ. Ở đề tài luận văn này, chúng tôi xuất phát từ mục tiêu
chung tìm hiểu các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí đồng thời
hướng đến mục tiêu riêng là tìm hiểu sắc thái địa phương Nam Bộ được biểu
hiện trên các văn bản nhật báo Cần Thơ. Đó là hệ thống từ vựng chỉ địa danh,
sản vật, các hoạt động văn hóa gắn với đặc trưng vùng miền, đồng thời đó
cũng là những lời ăn tiếng nói của người dân địa phương thông qua những lời
dẫn trực tiếp, mang hơi hướm của người dân miệt ruộng vườn,…
Trong nhận thức của chúng tôi, màu sắc ngôn ngữ địa phương là một
tập hợp bao gồm nhiều yếu tố từ ngữ âm, từ vựng, đến một số mô thức biểu
đạt có nét riêng gắn liền với một vùng đất nhất định. Và nét riêng này không
được hình thành trên thế đốilập có không mà được biểu hiện bởi độ đậm nhạt.
Nói khác, màu sắc phương ngữ được thể hiện cụ thể qua một số sắc thái nổi
bật chứ không phải là chỉ có ở trong phương ngữ đó. Điều này là hoàn
38
toàn phù hợp với tình hình giao tiếp của tiếng Việt- một ngôn ngữ thống nhất
ở mức độ cao và thống nhất trong thế đa dạng. Cũng cần nói thêm theo một
cách hình dung phổ biến, phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ là rất gần
nhau, đặc biệt là ở Nam Bộ hầu như không có sự khác biệt nhiều giữa các
tỉnh. Do vậy, những đặc điểm về ngôn ngữ trên báo Cần Thơ có thể là đặc
điểm chung cho cả vùng Nam Bộ.
1.8. Tiểu kết
Bên trên, luận văn lần lượt trình bày một số cơ sở lý luận liên quan đến
những vấn đề thuộc về ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ. Trong nhận thức của
chúng tôi, đây là những nội dung rất quan trọng, là tiền đề giúp cho chúng ta
tìm hiểu sâu hơn những vấn đề chi tiết ở chương 2.
Ở tiểu mục thứ nhất, việc giới thiệu vùng đất Cần Thơ và lịch sử Báo
Cần Thơ nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về một vùng đất có ít nhiều
khác biệt so với các vùng khác trên đất nước và quá trình phát triển của Báo
Cần Thơ từ khi tách tỉnh, từ báo ra 3 số một tuần đến nhật báo. Điều này cho
thấy con đường lớn mạnh của Báo Cần Thơ, đối tượng khảo sát chính của
luận văn.
Ở tiểu mục thứ 2, chúng tôi mạnh dạn giới thiệu một số quan điểm khác
nhau về việc nhận diện phong cách báo chí. Điều này cho thấy rằng, mặc dù
thực tế báo chí quốc ngữ ra đời rất sớm nhưng về mặt nghiên cứu, việc nhìn
nhận nó như một phong cách độc lập lại là một quá trình không đơn giản.
Ở tiểu mục tiếp theo, việc xác lập tính chuẩn mực của ngôn ngữ nói
chung, và chuẩn mực của phong cách báo chí nói riêng là hướng đến việc làm
rõ thêm một số cách diễn đạt điển hình, mặc dầu ranh giới giữa chúng chỉ có ý
nghĩa tương đối. Ở đây, rõ ràng lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson là
chiếc chìa khóa giúp cho chúng ta lý giải một cách khoa học và xác đáng về
tính tương đối này, nhờ vào chức năng nổi trội. Đương nhiên, một vấn đề
39
khác, cũng không thể không đề cập đến, đó là chức năng của phong cách báo
chí cũng như đặc điểm của ngôn ngữ báo chí nhìn từ lý thuyết vừa nêu.
Và như chúng ta đều biết, không phải tất cả các loại diễn ngôn xuất
hiện trên báo đều thuộc phong cách này. Do vậy, cũng cần thiết khi đề cập
đến vấn đề nhận diện thể loại. Nhìn chung, vấn đề thể loại của báo chí khá
phức tạp. Như lý giải từ đầu, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công
trình nghiên cứu đi trước, luận văn này chỉ khảo sát các thể loại sau:
- Tin tức
- Phóng sự
- Phản ánh
- Ghi nhanh
- Gương điển hình
Cuối cùng, một vấn đề cũng khá quan trọng nếu không nói là quan
trọng nhất tạo nên diện mạo riêng của tờ báo địa phương nói chung, Báo Cần
Thơ nói riêng là màu sắc địa phương, cụ thể là màu sắc địa phương Nam Bộ.
40
Chương 2 : NGÔN NGỮ NHẬT BÁO CẦN THƠ
Sau khi đã xác lập một số tiền đề lý thuyết về ngôn ngữ báo chí cũng
như một số tri thức hữu quan, đến đây luận văn đi vào xem xét một số vấn đề
cụ thể. Trước hết, chúng tôi áp dụng lý thuyết 5W + 1H, một lý thuyết đã
được thử thách qua thời gian, để xem xét cấu trúc của tiêu đề. Cùng với cách
tiếp cận tương tự, dẫn đề sẽ được khảo sát bằng các mô hình đề thuyết của
F.Danes. Bên cạnh đó, việc quan sát đặc điểm ngôn ngữ của đoạn văn và văn
bản và màu sắc địa phương cũng được xem xét trong chương này.
2.1. Tiêu đề
Theo quan điểm phổ biến, văn bản là một chỉnh thể bao gồm đầy đủ các
phần: tiêu đề, mở đầu, triển khai và kết luận. Riêng đối với một văn bản báo
chí, thường có kết cấu gồm các phần chính sau: tiêu đề, dẫn đề, mở đầu, triển
khai và kết luận. Tiêu đề và dẫn đề thường được xếp vào loại tóm tắt còn các
phần còn lại thì được gộp chung vào loại triển khai. Tuy nhiên, trong các thể
loại báo chí khác nhau, sự xuất hiện của chúng cũng hết sức phức tạp và đa
dạng.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần
Thơ, chúng tôi xem xét những đặc điểm ngôn ngữ được thể hiện ở tiêu đề, bộ
phận được xem là dấu hiệu hình thức đầu tiên đập vào mắt độc giả.
Nhìn chung, tin tức chính là xương sống của mỗi số báo ra hàng ngày.
Thống kê 300 số báo ngẫu nhiên từ năm 2010 đến 2012, kết quả thể loại tin
tức chiếm tỷ lệ 65 % tổng thể loại báo chí. Bảng thống kê cho thấy:
Thể loại Tổng số %
Tin 3020 66
Bài phản ánh 1160 25
Phóng sự điều tra, Ký sự, bình luận 130 3
Phỏng vấn 50 1
Sổ tay 100 2
Một số thể loại khác 110 3
Tổng cộng 4570 100
41
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi thấy được vị trí trung tâm của tin tức
trong mỗi số báo. Đây cũng là đặc trưng của báo chí nói chung, báo Cần Thơ
nói riêng, đáp ứng nhu cầu thông tin thời sự cấp thiết cho đông đảo bạn đọc.
Từ lí do đó, khi nghiên cứu tiêu đề văn bản báo chí, luận văn bắt đầu từ việc
xem xét thể loại tin tức.
Thể loại tin tức bao gồm tin tức trong nước và tin thế giới. Tin tức
trong nước gồm mảng tin chung trong nước và mảng tin riêng tại địa phương
Cần Thơ và ĐBSCL. Mảng tin tức trong nước chủ yếu lấy từ nguồn tin thông
tấn xã, tin thế giới thường được dịch từ các trang web điện tử. Hai mảng tin
tức này không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn. Như vậy,
đối tượng chính của mục này là tin tức địa phương.
Báo Cần Thơ là một tờ báo Đảng ở địa phương, là cơ quan ngôn luận
của Thành ủy Thành phố, ngôn ngữ được sử dụng ở thể loại tin tức thường là
lớp từ ngữ đa phong cách, mang sắc thái trung hòa. Với tư cách là một yếu tố
đại diện, tiêu đề văn bản tin tức cũng chịu ảnh hưởng của đặc điểm này. Tuy
nhiên cũng phải thừa nhận rằng một mặt tiêu đề văn bản vừa mang những đặc
điểm của phong cách báo chí, nhưng mặt khác lại có những nét riêng của thể
loại. Sau đây, luận văn sẽ khảo sát sự phân bố của các yếu tố thông tin trên cơ
sở tìm hiểu cấu tạo của tiêu đề, dạng thức các mô hình như 5W + 1H ở tiêu
đề, mối quan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề và các biện pháp nghệ
thuật sử dụng ở tiêu đề.
2.1.1. Cấutạo của tiêu đề
2.1.1.1Từngữ
Luận văn khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin tức địa phương TP Cần
Thơ và ĐBSCL, cho thấy tỉ lệ là 99,5% tiêu đề có xuất hiện động từ. Đây là
lớp từ chỉ hoạt động, diễn biến của chủ thể hoặc sự kiện được đề cập. Trong
1.500 tiêu đề chỉ có 8 trường hợp không xuất hiện động từ ở tiêu đề.
42
Đặc biệt, khi khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin, luận văn phát hiện một
cấu trúc khá độc đáo của tiêu đề thuộc thể loại tin ở nhật báo Cần Thơ, chiếm
tỉ lệ 1.100/1.500 tiêu đề (73,33%). Đó là kiểu tiêu đề được cấu tạo bắt đầu
bằng một động từ hay một cụm động từ phối hợp với các yếu tố còn lại của
cấu trúc thông tin theo mô hình 5W + 1H. Các yếu tố còn lại đó có thể là con
người, những thông tin lý giải nguyên nhân, kết quả, thời gian, địa điểm của
chủ thể hoặc sự kiện được nói đến. Mô hình:
TĐ = Động từ + Chủ thể, sự kiện
VD1:
Triển lãm sách mừng Quốc khánh 2-9
CT, 14-8-2012
VD2:
Khánh thànhđưa vào sử dụng côngtrình nâng cấp mở rộng đường
Lê Bình
CT, 8-6-2012
Lớp từ ngữ sử dụng ở kiểu tiêu đề này thường là lớp từ đa phong cách, mang
sắc thái trung hòa. Bên cạnh đó, chúng ta thường bắt gặp trên nhật báo Cần
Thơ lớp từ ngữ chính trị- xã hội, mang tính thời đại, như: tăng cường, tập
trung, đẩymạnh, toàn diện, nâng cao, giám sát, thực hiện, tổ chức, pháttriển,
bổ nhiệm, hưởng ứng, xây dựng, kế hoạch, .v.v…
VD3:
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đẩy mạnh đào tạo theo nhu
cầu
CT, 12- 2-2012
43
Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, luận văn còn phát hiện bên cạnh tỉ lệ lớn
cấu trúc tiêu đề bắt đầu bằng động từ, cụm động từ, thì tiêu đề trên văn bản tin
tức của nhật báo Cần Thơ còn được bắt đầu bằng tính từ, cụm tính từ nhằm
nhấn mạnh đặc trưng, tính chất của chủ thể, sự kiện được đề cập. Kết quả
khảo sát cho thấy một tỉ lệ khiêm tốn là 33/1.500 ( 2,2%) nhưng điều thú vị là
những kiểu tiêu đề cấu tạo bằng tính từ, cụm tính từ thường sử dụng lớp từ
đơn phong cách với nhiều sắc thái đa dạng thể hiện sự trang trọng hoặc phủ
định, phê phán, bình giá. Kiểu tiêu đề này nhằm nhấn mạnh đến giá trị thẩm
mỹ thông qua yếu tố cảm xúc chủ quan của tác giả, gây ấn tượng mạnh đối
với độc giả khi tiếp xúc với yếu tố đầu tiên của văn bản báo chí, đó là tiêu đề.
VD4:
Cố ý gây thương tích lãnh 4,5 năm tù
CT, 14-6-2011
VD5:
TP Cần Thơ: Long trọng tổ chức lễ giao nhận quân, tiễn 900 thanh
niên nhập ngũ
CT, 8-4-2012
Xét các ví dụ tiếp theo sau đây:
VD6:
Khánh thànhgiaiđoạn 1 khu nghỉdưỡng sinh tháiTây Đô
CT, 12-7-2012
VD7:
Binhanfishcotrả 90 tỉ đồng tiền nợ cá cho nông dân
CT, 5-6-2012
VD8:
Phátthưởng và trao học bổng cho 146 học sinh- sinh viên
CT, 16-7-2012
44
Trong 2 ví dụ đầu, khu nghỉ dưỡng sinh thái Tây Đô, Binhanfishco thuộc
loại danh từ chung riêng, còn ở ví dụ sau học sinh- sinh viên thuộc loại danh
từ chung. Qua khảo sát có thể thấy lớp danh từ xuất hiện trong cấu trúc tiêu đề
văn bản tin trên nhật báo Cần Thơ thường trùng với yếu tố Who và What
trong mô hình 5W + 1H của báo chí.
Tiêu đề văn bản tin tức trên nhật báo Cần Thơ thường được bắt đầu bằng
động từ hay tính từ nên kiểu tiêu đề có cấu tạo là một cụm động từ, cụm danh
từ hay cụm tính từ cũng phổ biến. Khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin tức, kết
quả có 735/1.500 (chiếm tỉ lệ 49%) có cấu tạo là cụm động từ, danh từ, tính
từ.
VD9:
Trốn không thoát
CT, 26-8-2012
VD10:
Khởi tố tổng giám đốc công ty trốn thuế
CT, 18-6-2012
Tiêu đề trên là một kiểu tiêu đề có cấu tạo là cụm động từ.
Còn khi khảo sát ở các thể loại phỏng vấn, phóng sự, bài phản ánh,
gương điển hình, với 1.500 tiêu đề văn bản được khảo sát, kết quả là
967/1.500 tiêu đề (64,5%) được cấu tạo là cụm động từ, cụm danh từ và cụm
tính từ. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả khảo sát tiêu đề trên văn bản tin
tức. Chúng ta nhận thấy rằng, ở thể loại tin tức, xu hướng hiện nay là thể hiện
phần lớn các yếu tố 5W + 1H ở tiêu đề, đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh
chóng của độc giả.
Bên cạnh kiểu cấu trúc tiêu đề là cụm động từ, danh từ, tính từ, tiêu đề
văn bản tin tức trên nhật báo Cần Thơ cũng có kiểu cấu tạo là câu trần thuật.
Liên quan đến vấn đề này, chúng ta đi vào khảo sát các kiểu câu ở tiêu đề.
45
2.1.1.2. Câu
Xét VD11:
Đối tượng đánh bạcra đầu thú
CT, 5-7-2011
VD12:
Đất sử dụng ổn định, vì sao bị tranh chấp...
CT, 2-6-2011
Ví dụ thứ nhất ở tiểu mục này chính là câu đơn, ví dụ tiếp sau đó chính
là câu ghép.
Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện nên đòi hỏi tính cô đọng, ngắn
gọn, hàm súc. Do vậy, ngôn ngữ sử dụng ở tiêu đề cũng không nằm ngoài đặc
trưng của phong cách. Khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin ở nhật báo Cần Thơ,
cho kết quả thống kê các kiểu câu xét theo cấu tạo như sau: có 570 ngữ và 930
câu, trong đó, có 642 câu đơn và số còn lại là 42 câu ghép.
Kiểu câu Số lượng Tỉ lệ %
Câu đơn 642 69
Câu ghép 288 31
Tổng số 930 100
Có thể thấy, bên cạnh các kiểu cấu tạo là một ngữ cố định, cụm động
từ, cụm danh từ và cụm tính từ thì kiểu câu xét về mặt cấu tạo ở tiêu đề chủ
yếu là câu đơn. Điều này cũng dễ lý giải, vì ngôn ngữ báo chí đòi hỏi phải
ngắn gọn, đơn giản, đồng thời phải thực hiện được vai trò điểm chỉ báo thông
tin của tiêu đề. Những tiêu đề có cấu tạo là câu ghép thường bắt gặp ở những
thể loại bài phản ánh, phóng sự, điều tra. Ở văn bản tin tức, tiêu đề hiếm khi
có cấu tạo phức tạp, do đặc trưng của thể loại quy định, đó là thể loại báo chí
ít hàm chứa yếu tố chủ quan của người viết mà chỉ thuần trình bày những sự
kiện khách quan. Do đó, kiểu câu đơn với mục đíchtrần thuật được chuộng sử
dụng ở thể loại tin tức.
46
Còn xem xét cấu tạo câu ở tiêu đề xét theo mục đích nói, luận văn thấy
rằng các kiểu câu sử dụng ở tiêu đề của các văn bản báo chí rất đa dạng, với
nhiều kiểu câu khác nhau như câu trần thuật, câu phủ định, câu cầu khiến, câu
cảm thán. Tuy nhiên, có sự khác biệt ở các tiêu đề văn bản của thể loại tin tức
so với các thể loại báo chí khác. Có nghĩa là, ở tiêu đề văn bản tin tức, chúng
ta nhận thấy hầu hết tiêu đề có cấu tạo là câu trần thuật, mang sắc thái khách
quan, sử dụng lớp từ đa phong cách. Ngược lại, ở các văn bản báo chí thuộc
các thể loại như bài phản ánh, phỏng vấn, gương điển hình, phóng sự, chúng
ta nhận thấy có sự phong phú, đa dạng trong cách đặt tiêu đề. Bên cạnh những
cấu tạo tiêu đề là ngữ cố định, như cụm động từ, tính từ, tiêu đề ở các thể loại
này thường xuyên sử dụng các kiểu câu nghi vấn, câu phủ định, câu cảm thán,
vừa tạo giá trị tác động, vừa tạo giá trị thẩm mỹ cho độc giả.
VD13:
Bao giờ "Xóm đèn dầu" có điện, nước sạch sử dụng ?
CT, 14-3-2011
VD14:
Lắng ngheđểhiểu học trò hơn !
CT, 12-5-2011
VD15:
Đâu phảinghèolà trở thành tội phạm!
CT, 5-3-2012
Trên đây là các kiểu câu nghi vấn, câu cảm thán, câu phủ định được sử
dụng ở tiêu đề. Thông qua các tiêu đề này, chúng ta nhận thấy yếu tố chủ
quan của tác giả thông qua những từ ngữ biểu cảm, nhằm tạo tác động mạnh
mẽ đến bạn đọc.
Bên cạnh việc xem xét cấu tạo của tiêu đề, luận văn nhận thấy số từ có
một vai trò rất quan trọng. Khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin, chúng tôi nhận
47
thấy tần suất của số từ xuất hiện ở tiêu đề cũng là trường hợp phổ biến, với
kết quả thống kê là 653/1.500 ( tỉ lệ 43,5%). Số từ phân bố ở nhiều vị trí trong
cấu trúc của tiêu đề thuộc thể loại tin tức nói riêng. Số từ bao gồm nhiều ý
nghĩa như: số từ chỉ thời gian, số từ chỉ số lượng con người, số từ chỉ giá trị
của sự vật, hiện tượng cụ thể, hoặc số từ chỉ số thứ tự. Tùy theo những cảnh
huống khác nhau, số từ được chọn lựa để đặt ở tiêu đề, trước hết thể hiện sự
nhấn mạnh đến một nội dung được biểu hiện cụ thể qua con số. Thông qua
cách sử dụng số từ ở tiêu đề, bạn đọc dễ dàng tri nhận con số hơn chữ viết, do
đó thông tin cần truyền đạt đạt hiệu quả.
VD16:
Xử phạthành chính 23,8 triệu đồng đối với các trường hợp bạo lực gia
đình
CT,11-5-2011
VD17:
2050 lao động có việc làm
CT, 6-8-2011
Đối với trường hợp ở ví dụ thứ nhất trong tiểu mục này, số tiền 23,8
triệu đồng là yếu tố đầu tiên đập vào mắt người đọc, tạo giá trị tác động mạnh
mẽ đối với mọi người nói chung và những người có liên quan, đặc biệt là
những người chuyên hành hung, bạo lực với người thân trong gia đình và
những người là nạn nhân của bạo lực gia đình. Ở ví dụ thứ hai, con số 2050
lao động được đưa lên làm tiêu đề là một thông tin đáng mừng về tình hình
lao động của địa phương, bởi lẽ trong xã hội hiện đại, vấn đề việc làm là một
vấn đề khó khăn đối với nhiều người.
Ngoài ra, luận văn khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin trên nhật báo Cần
Thơ, kết quả thống kê cho thấy sự phân bố đa dạng của dấu câu xuất hiện ở
48
tiêu đề. Chúng tôi nhận thấy có đầy đủ các loại dấu câu xuất hiện ở tiêu đề,
gồm dấu chấm cảm, dấu chấm hỏi, dấu chấm lửng, dấu hai chấm, v.v…
Chúng ta xét các ví dụ sau:
VD18:
Lao đaovì… sâu biển
CT, 11-6- 2012
VD19:
“ Khátnước sạch” ở miệt rừng U Minh
CT, 8-4-2012
VD20:
Lòng vị tha!...
CT, 24-5-2012
VD21:
Nghĩa vợ chồng…
CT, 12-3-2012
VD22:
Xăm mình-Vui ít, khổ nhiều
CT, 26-12-2011
VD23:
Cà Mau: Bấtcẩn, 1 người bị điện giật bỏng nặng
CT, 15-4-2012
VD24:
Bao giờ “ Xóm đèn dầu” có điện, nước sạch sử dụng?
CT, 16-5-2012
49
Dấu câu tham gia vào cấu tạo tiêu đề góp phần nhấn mạnh ý nghĩa bổ
sung bên cạnh ý nghĩa cơ bản của thông tin. Việc sử dụng dấu câu ở tiêu đề
hoàn toàn phụ thuộc vào dụng ý chủ quan của tác giả bài báo.
2.1.2. Sựphân bố 5W + 1H ở đơn đề
Do nhiều lý do khác nhau, các văn bản báo chí nói chung, văn bản tin
tức nói riêng thường phải tuân thủ theo nguyên tắc bằng một hình thức tối
thiểu, đồng thời phải chuyển tải được một thông tin tối đa. Cho nên có thể nói,
tính ngắn gọn, hàm súc là một đặc điểm chung dễ thấy ở ngôn ngữ báo chí nói
chung, báo chí Cần Thơ cũng không vượt qua thông lệ này.
Như đã nói, tin tức là một thể loại tiêu biểu nhất cho ngôn ngữ báo chí.
Tính chất tiêu biểu không chỉ ở cấp độ từ vựng, cú pháp mà cả ở tổ chức văn
bản. Xét về mặt thông tin, từ lâu, giới báo chí học đã khái quát thành công
thức 5W + 1H với các yếu tố là Who ( Ai), What ( Cái gì), Why (Tại sao)
When ( Khi nào), Where (Ở đâu), và How ( Như thế nào). Nói cụ thể, tiêu đề
văn bản là yếu tố đầu tiên đập vào mắt người đọc, nó có giá trị khiêu gợi, kích
thích người đọc khám phá phần nội dung cơ bản bên cạnh phần nội dung bổ
sung của bản tin. Và tiêu đề cũng là yếu tố được chọn lựa, cân nhắc rất cẩn
thận từ phía người tạo lập văn bản. Ngôn ngữ của tiêu đề văn bản lệ thuộc vào
phong cách và thể loại mà nó là yếu tố đại diện. Luận văn sẽ dùng công thức
này để xem xét sự phân bố của chúng trong tiêu đề báo chí nói chung, chưa
tính đến sự phân bố trong đặc điểm thể loại.
Chúng tôi khảo sát 1.500 bản tin ngẫu nhiên, kết quả thống kê là 90%
bản tin có tiêu đề, 10% còn lại không có tiêu đề. Trong loại những bản tin
không có tiêu đề này, câu mở đầu thay thế cho tiêu đề và đóng vai trò là điểm
chỉ báo thông tin.
Chúng tôi phân chia những trường hợp văn bản tin tức không có tiêu đề
với các dạng sau:
50
- Dấu hiệu thay thế về mặt hình thức: đó là trường hợp của tin vắn,
được đóng khung riêng ở những vị trí nhất định trên trang báo, như sát mép
phải của trang báo hay phần dưới cùng của chân trang báo. Tin vắn thường
được xếp trong một hệ thống cùng loại.
Ngoài ra, trong quá trình nhận diện, chúng tôi thấy rằng mặc dù không
có tiêu đề nhưng trong nhiều trường hợp tin vắn được bắt đầu bằng một từ hay
một cụm từ, câu, đóng vai trò chỉ báo thông tin nằm ở vị trí đầu bản tin hoặc
nằm tách biệt bên ngoài bản tin, chỉ không gian, thời gian, địa điểm, chủ thể
hay sự kiện được đề cập.
- Dấu hiệu về mặt nội dung:Nhìn chung, tin vắn đáp ứng nhu cầu
thông tin nhanh, tức thời, sơ lược vấn đề của độc giả.
Đối tượng khảo sát của luận văn là những văn bản có tiêu đề, loại văn
bản không có tiêu đề chỉ mang tính chất tham khảo. Nhìn chung, cùng với sự
phát triển của tâm lí công nghiệp, nói cụ thể, tiêu đề của báo chí là thông tin
một cách nhanh gọn tùy theo nhu cầu của độc giả. Đặc điểm này chung cho
tất cả thể loại báo chí, nhưng nổi rõ nhất là ở tin tức.
2.1.2.1. Tiêu đềchứa 1 yếu tố
VD25:
Trốn không thoát
CT, 08-4-11
Hiếm bắt gặp kiểu tiêu đề chứa 1 yếu tố ở cấu trúc tiêu đề của văn bản
tin tức.
Một yếu tố thường gặp là cụm danh ngữ hoặc là cụm động ngữ, tính
ngữ, và hiếm khi xuất hiện ở văn bản tin tức.
2.1.2.2. Tiêu đềchứa 2 yếu tố
VD26:
Trường Đại học Cần Thơ khaigiảng năm học mới
CT, 08-4-11
51
Kiểu tiêu đề chứa 2 yếu tố thông dụng hơn cả vì nó đáp ứng nhu cầu
thông tin ban đầu của độc giả, đó là chủ thể và vận động của chủ thể. Chủ thể
ở đây có thể là người, là vật, là sự kiện và hoạt động, trạng thái, tính chất của
chủ thể.
Như vậy có thể thấy, kiểu tiêu đề chứa 2 yếu tố xuất hiện trội hơn cả
trên nhật báo Cần Thơ. Tiếp đến là kiểu tiêu đề chứa 3 yếu tố, 4 yếu tố và sau
cùng là 1 yếu tố. Kiểu tiêu đề chứa 5 yếu tố hoặc đầy đủ các yếu tố trong cấu
trúc 5W + 1H không xuất hiện trường hợp nào trong tổng số các tiêu đề đã
xét.
2.1.2.3. Tiêu đềchứa 3 yếu tố
VD27:
Đoàn công tác Ban dân nguyện làm việc tại TP Cần Thơ
CT, 17-4-11
2.1.2.4. Tiêu đềchứa 4 yếu tố
VD28:
Hội nhà báoTP Cần Thơ tổ chức chuyến đi thực tế cho hội viên CT,
16-6-2011
Xét 1.500 tiêu đề ngẫu nhiên trên báo Cần Thơ, thông qua phương pháp thống
kê ngôn ngữ học, ta có bảng sau:
Số lượng yếu tố
xuất hiện ở tiêu đề Tổng số Tỉ lệ%
1 yếu tố 165 11
2 yếu tố 645 43
3 yếu tố 435 29
4 yếu tố 255 17
5,6 yếu tố 0 0
Cộng 1.500 100
52
Ta thấy tiêu đề chứa 2, 3 yếu tố là kiểu tiêu đề thích hợp cho hầu hết
các thể loại văn bản báo chí. Bởi vì các yếu tố vừa nhắc đáp ứng được nhu cầu
thông tin tức thời của người đọc và coi như chúng là những thông tin hạt
nhân.
Kiểu tiêu đề chỉ chứa 1 yếu tố xuất hiện ở tần số thấp, chủ thể được đề
cập đến trong bài báo thường ẩn. Thông thường kiểu tiêu đề này được kết cấu
bằng 1 cụm từ, nêu nguyên nhân, cách thức, phương tiện hoặc hiệu quả đạt
được, nhằm mục đích nhấn mạnh hoạt động của chủ thể và nó cũng lệ thuộc
vào yếu tố thể loại, không xuất hiện ở thể loại tin tức.
Trên cơ sở xem xét cấu trúc tiêu đề, luận văn khảo sát tần suất xuất hiện
của từng yếu tố trong cấu trúc 5W + 1H. Ta có bảng sau:
Các yếu tố Tần số xuất hiện Tỉ lệ %
Who 293 19,5
What 555 37
Where 202 13,5
When 45 3
Why 120 8
How 285 19
Cộng 1.500 100
Yếu tố bắt buộc phải có Who, Whats, How, Why; trong khi yếu tố
không bắt buộc phải có là Where với When.
Nhìn vào bảng, ta thấy yếu tố What xuất hiện trội hơn cả các yếu tố
khác. Điều này cũng dễ lý giải, vì hầu hết các cấu trúc tiêu đề đều thấy xuất
hiện chủ thể, ở đây thường là sự kiện, cũng có thể là vật. What thực chất bao
gồm 2 đối tượng vật và sự kiện. Thứ đến là Who, điều này cũng có thể giải
thích được vì đó là chủ thể quan sát sự kiện, và How lí giải nguyên nhân.
Những thông tin trên báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp đều xoay quanh cuộc
53
sống con người. Con người là đối tượng chính của thông tin báo chí. Thống
kê cũng cho thấy, yếu tố không gian và thời gian có tần suất thấp, điều này có
thể lý giải được vì hai yếu tố này nhờ vào 1 sự giả định hoặc do tính chất liên
văn bản cho nên nó không nhất thiết lúc nào cũng xuất hiện trên tiêu đề.
2.1.3. Mốiquan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề
Tiểu mục trước xem xét tiêu đề dưới dạng đơn đề, tiểu mục tiếp theo sẽ
xem xét mối quan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề. Ở tiểu mục trước,
với cách tiếp cận sự phân bố của 5W + 1H chủ yếu là ở tiêu đề đơn tức có
nghĩa là tương ứng với một văn bản chúng ta chỉ có một tiêu đề duy nhất phần
nào cho thấy sự phân bố thông tin tần suất xuất hiện của chúng cũng như vai
trò gợi mở của các thông tin hạt nhân cũng như thông tin vệ tinh. Tuy nhiên
trong hoạt động giao tiếp, cấu tạo của tiêu đề rất phức tạp. Nhiều khi chúng
làm thành một hệ thống. Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, ít nhất là có 3
trường hợp sau:
i. Thượng đề và đề
ii. Đề và hạ đề
iii. Thượng đề, đề và hạ đề.
Tiểu mục tiếp theo luận văn sẽ xem xét mối quan hệ về mặt nội dung
giữa các tiêu đề trong hệ thống đa đề.
Luận văn khảo sát 1.500 tiêu đề của đầy đủ các thể loại báo chí thuộc
đối tượng khảo sát của luận văn, kết quả tìm được là có 513/1.500 tiêu đề có
cấu trúc đa đề.
Từ góc độ chức năng, có thể nói thượng đề là chủ đề bao trùm còn đề là
phần thuyết minh hay nói về chủ đề bao trùm đó. Hạ đề là phần giải thích, bổ
sung ý nghĩa thông tin cho chủ đề nêu ở thượng đề. Trong kết cấu tiêu đề, 3
phần này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ thông tin cho nhau.
54
2.1.3.1. Môhình 1
Tiêu đề = Thượng đề + Đề
VD29:
Thượng đề: Xã Thạnh Thắng, huyện Vĩnh Thạnh:
Điểm sáng trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc
CT, 13-2-2011
2.1.3.2. Môhình 2
Tiêu đề = Hạ đề + Đề
VD30:
Đề: Bế mạc liên hoan Những bàica đi cùng năm tháng
Hạ đề: Đoàn trường Đại học Cần thơ đứng nhấttoàn đoàn
CT, 24-2012
2.1.3.3. Môhình 3
Tiêu đề = Thượng đề + Đề + Hạ đề
VD31:
Thượng đề: Hôm nayngày6-9-2011
Đề: TP Cần thơ tiễn 900 thanh niên ưu tú lên đường nhập ngũ
Hạ đề: Tổ chức hội trại tòng quân 5 quận, huyện
CT, 6-9-2011
Sau khi khảo sát 1.500 tiêu đề các văn bản báo chí thuộc các thể loại
nằm trong phạm vi nghiên cứu, luận văn nhận thấy hai mô hình 1 và 2 xuất
hiện phổ biến trên các tiêu đề văn bản báo Cần Thơ. Còn kiểu mô hình thứ 3
xuất hiện hạn chế hơn. Các yếu tố thượng đề, đề và hạ đề có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Như đã nói, thượng đề nêu cái chủ đề bao trùm của toàn văn
bản.
55
Việc xuất hiện đầy đủ các loại đề liên quan đến sự kiện và độ dài văn
bản. Quan sát trên báo Nhân dân thì những sự kiện như Ngàygiải phóng hoàn
toàn miền Nam Việt Nam, Ngày quốc tế lao động,… thì thấy xuất hiện cả hệ
thống tiêu đề đầy đủ 3 yếu tố. Tương tự như vậy, trên nhật báo Cần Thơ, chỉ
có những sự kiện lớn mới đầy đủ 3 thành phần, còn mô hình đơn đề là phổ
biến, tiếp đến là mô hình thượng đề và đề, sau cùng là mô hình đề và hạ đề.
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy thượng đề trên nhật báo Cần
Thơ thường nêu các đối tượng sau:
- Thời gian
- Địa điểm
- Nhân vật
- Sự kiện
Luận văn khái quát mô hình đa đề như sau:
Mô hình 1: Thượng đề + Đề
Đa đề Mô hình 2: Đề + Hạ đề
Mô hình 3: Thượng đề + Đề + Hạ đề
2.1.4. Mộtsố thủ pháp nghệ thuật sử dụng ở tiêu đề
Bên cạnh ý nghĩa về mặt ngôn tử, các thủ pháp nghệ thuật góp phần
đáng kể trong việc tạo hiệu quả thông tin cho tiêu đề. Chúng ta bắt gặp đa
dạng các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng ở tiêu đề, kíchthích trí tò mò của
độc giả. Sau đây là một số thủ pháp nghệ thuật thường được sử dụng ở tiêu đề
nhật báo Cần Thơ.
* Thủ pháp đối
VD32:
Những cái chết làm nên sự sống
CT,6-8-2011
56
VD33:
Điểm mạnh của phái yếu
CT,24-4-2012
* Thành ngữ
VD34:
"Nhàn cư vi bất thiện"
CT,4-4-2011
VD35:
"Nhất nghệtinh, nhấtthân vinh"
CT,21-6-2012
* Ẩn dụ, hoán dụ
VD36:
Giúp "cần câu" để thoát nghèo...
CT,12-4-2012
VD37:
Thiếu nhi "khát” sân chơi
CT,23-5-2012
VD38:
Áo xanh tình nguyện
CT,12-2-2011
2.2. Dẫn đề
Xét văn bản trong tính chỉnh thể, dẫn đề đảm nhiệm vai trò vô cùng
quan trọng trong hệ thống các thành phần cấu thành văn bản. Dẫn đề nằm ở vị
trí sau tiêu đề, có chức năng dẫn dắt độc giả đi vào tác phẩm. Theo cấu trúc
thông tin, dẫn đề thường đóng vai trò là thông tin hạt nhân của văn bản, phần
thân của văn bản đóng vai trò là những thông tin vệ tinh, phát triển ý cho chủ
đề nêu ở dẫn đề.
57
Đặt dẫn đề trong mối quan hệ của một chỉnh thể thống nhất là văn bản,
trước hết xét mối quan hệ giữa dẫn đề và tiêu đề, có rất nhiều vấn đề lý thú
cần được bàn luận. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của luận văn có hạn
nên người viết không bàn đến ở đây. Tiếp theo là mối quan hệ giữa dẫn đề và
các phần còn lại của văn bản, người viết sẽ đi sâu vào tìm hiểu khi tiến hành
khảo sát toàn văn bản báo chí.
Ở phạm vi hẹp, trước hết, xét dẫn đề trên cơ sở khảo sát bản thân dẫn
đề. Những cơ sở lý thuyết về khái niệm dẫn đề cũng như chức năng của dẫn
đề, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước
bàn luận đến.
Ở đây, người viết vận dụng những cơ sở lý thuyết tìm hiểu được để
nhận diện và tìm ra đặc trưng của dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ.
2.2.1. Mô hình dẫn đề theo lý thuyết của F. Danes
Từ sự bất cập của hướng phân tích văn bản cũng như các đơn vị thấp
hơn theo cấu trúc chủ vị, giới nghiên cứu ngôn ngữ học đã chấp nhận và vận
dụng cấu trúc Đề ( theme, topic) – Thuyết ( rheme, comment) của ngữ pháp
chức năng hệ thống.
Có rất nhiều lý thuyết về đề - thuyết trong cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt,
trong đó nổi bật hơn cả là Cao Xuân Hạo. Ông là người đầu tiên áp dụng một
cách triệt để quan hệ đề – thuyết vào việc phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng
Việt. Ông cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề. Cho nên việc áp
dụng cấu trúc chủ vị vào việc phân tích câu và các đơn vị trên câu không phải
là giải pháp thỏa đáng. Trong công trình Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức
năng ( 1991) ông cho rằng phân tích câu theo quan hệ đề thuyết là phù hợp
với loại hình tiếng Việt. Câu được hiểu là đơn vị thông báo một mệnh đề hay
phản ánh một nhận định được cấu trúc hóa thành hai phần đề, thuyết, trong đó
58
“ đề là điểm xuất phát, là cái cơ sở, cái điểm tựa làm bàn đạp cho đà triển khai
của câu” ở phần thuyết.
Còn về quan niệm đề – thuyết của F. Danes chính là lý thuyết về mô
thức phát triển đề. Theo đó phát triển đề là sự lựa chọn và sắp xếp đề, sự liên
hoàn và phân cấp qua lại của chúng, cũng như mối quan hệ của chúng với các
siêu đề của các đơn vị văn bản cao hơn (như đoạn, chương…) với toàn bộ văn
bản và với ngữ cảnh tình huống. Theo quan điểm của ông thì phát triển đề có
thể được xem như bộ khung của toàn bộ văn bản.
Trên cơ sở lý thuyết của F. Danes có thể xác lập các mô hình phát triển
đề sau đây:
- Mô hình phát triển đề tuyến tính đơn
- Mô hình phát triển đề cố định
- Mô hình phát triển đề phái sinh
- Mô hình thuyết tách
Dựa trên quan niệm của F. Danes có thể thấy các phát ngôn có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Phát ngôn mở đầu luôn là chỗ dựa cho các phát
ngôn sau, và tiếp đến phát ngôn sau lại làm chỗ dựa cho phát ngôn kế tiếp.
Dẫn đề có độ dài tương đối ngắn. Trung bình mỗi dẫn đề từ 2 đến 3 câu. Tuy
nhiên có những dẫn đề gồm 1 câu hoặc rất nhiều câu, tùy theo mỗi văn bản
báo chí cũng như dụng ý của phóng viên. Đây là xét về mặt hình thức.
Ở đây, chúng tôi dựa trên cơ sở lý thuyết về các mô thức phát triển đề
ứng dụng vào việc thống kê, khảo sát và miêu tả dẫn đề trên các văn bản nhật
báo Cần Thơ, nhằm mục đích tìm ra đặc trưng cơ bản của đối tượng này.
2.2.1.1. Môhình phát triển đề tuyến tính đơn
Đặc điểm của mô hình này là phần thuyết của phát ngôn trước sẽ trở
thành phần đề của phát ngôn sau
59
T1 R1
T2 R2
T3 R3
Trong đó, T2=R1, T3=R2. Mô hình này có thể cụ thể hoá bằng văn bản là một
dẫn đề như sau:
VD39:
Thời gian qua, BộChỉ huyQuân sự TP Cần Thơ đã tổ chức nhiều hoạt
động chăm lo cho các gia đình chính sách, như: xây dựng nhà tình nghĩa,
nhà tình đồng đội;khám bệnh, cấp thuốc miễn phí; thăm hỏi, tặng quà khi
lễ, Tết... Các hoạt động trên không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ
nguồn” của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang (LLVT) TP mà còn góp phần
vun đắp tình quân dân ngày càng gắn bó...
CT, 21-7-2011
Xét ví dụ trên chúng ta thấy các hoạt động trên thay thế cho nhiều hoạt động
chăm lo cho các gia đình chính sách, như: xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đồng
đội,… Như vậy, có thể thấy quá trình phát triển đề theo lý thuyết của F. Danes
chính là việc lặp lại phần thuyết của câu mở đầu ở câu tiếp sau. Và quá trình cứ
tiếp tục diễn ra như vậy, tạo mối quan hệ móc xích liên hoàn với nhau.
2.2.1.2. Môhình phát triển đề cố định
Mô hình này có cấu trúc như sau:
T1 R1
T1 R2
T1 R3….
60
Trong mô hình này, thành phần đề của các câu kế tiếp nhau không thay
đổi, sự thay đổi chỉ diễn ra ở phần thuyết. Mô hình phát triển đề này có hai
loại chuỗi đề.
Chuỗi đồng nhất gồm một chuỗi các thành tố ngôn ngữ cùng quy chiếu
từ cùng một thực thể (hoặc một sự kiện).
VD40:
Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò quan
trọng của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Bên cạnh vai trò “nội tướng”
trong gia đình, phụ nữ còn tham gia phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
cho gia đình, đóng góp trên nhiều lĩnh vực của xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh
góc nhìn người phụ nữ hoàn thiện phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, một
số người quên rằng cũng như nam giới, phụ nữ cần có nhu cầu được rèn
luyện sức khỏe, vui chơi giải trí, học tập để tiến bộ... Bên cạnh nhiều đấng
mày râu biết quan tâm chia sẻ việc nhà với vợ thì cũng còn không ít phụ nữ
hàng ngày phải gánh vác “hàng núi” công việc có tên, lẫn không tên trong
gia đình, không có được cuộc sống “hạnh phúc” theo đúng nghĩa...
CT, 15-7-2011
Trong mô hình phát triển đề cố định, có một số trường hợp đề không
được lặp lại hoàn toàn mà chỉ lặp lại một phần ở các câu tiếp theo. Xét trường
hợp sau:
VD41:
Nhiều hộ dân ở khu vực 1, phường Ba Láng, quận Cái Răng bức xúc
phản ánh tình trạng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn (TNHH) TríHưng, tọa lạc
tại khu vực này, chuyên sản xuất nhựa tái sinh, trong thời gian dài trực tiếp
xả nước thải xuống rạch Bà Vượt, khiến cho nguồn nước nơi đây bị ô nhiễm
và có mùi hôi thối, gây ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sức khỏe của
61
các hộ dân. Tình trạng nàyđã kéo dàinhiều năm nay, người dân cũng đã
nhiều lần phản ánh,nhưng tình trạng trên chưa được cải thiện.
CT, 12 -7- 2011
Chuỗi tương đồng là một chuỗi các thành tố ngôn ngữ có quy chiếu
không đồng nhất với nhau, nhưng lại cùng nằm trong cùng một nhóm hoặc
nằm trong các nhóm có quan hệ với nhau được nhận ra thông qua trường liên
tưởng. Mô hình phát triển đề cố định theo chuỗi tương đồng:
T1 R1
T2 R2
T3 R3….
VD42:
Từ sự tận tụy, hết mình của các cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN)
phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, công tác giáo dục trẻ vị thành niên
(VTN) trên địa bàn ngàycàng đivào chiều sâu, đạt nhiều hiệu quả thiết thực.
Điều đáng quýlà Hội đã vận động được gia đình cùng tham gia, kết hợp với
các ban ngànhđoàn thểphường chăm lo cho con em mình được tốt hơn. Hoạt
động ý nghĩa này của Hội LHPN phường Trà Nóc đã được UBND quận
tuyên dương vào tháng 6-2011.
CT, 11- 7- 2011
2.2.1.3. Môhình phát triển Đề phái sinh
Mô hình này có cấu trúc như sau:
T
T1–R1 T3–R3
T2–R2
62
Ở đây gồm một đề lớn ở câu đầu tiên. Phần đề ở những câu tiếp theo là
sự phát triển thông tin của đề lớn đó. Chẳng hạn:
VD43:
Khi đọc tiểu thuyết “Không gia đình” của văn hào Hector Malot, tôi đã
không cầm được nước mắt vì cảm thương cho cậu bé Rémi bị cha mẹ bỏ rơi,
sống vất vưởng nhờ vào tình thương của những người xa lạ. Với những đứa
trẻ mà tôi có dịp gặp gỡ, cuộc đời buồn không kém gì những chuyện buồn
trong tiểu thuyết. Không có một mái ấm để tựa nương, các em luôn khát khao
về một gia đình có cha, có mẹ…
CT, 25-6-2011
2.2.1.4. Môhình Thuyết tách
Đặc điểm của mô hình này là phần Thuyết của phát ngôn trước được
triển khai bằng nhiều cấu trúc nòng cốt t - r theo mô hình:
T1 R1
t1 – r1 t2 – r2 t3 – r3 ….
VD44:
Người xưa có câu “Ớt nào mà ớt chẳng cay - Gái nào mà gái chẳng
hay ghen chồng”, ý nói ghen tuông là đặc tính cố hữu trong tình yêu - hôn
nhân, mà đặc biệt là đối với phụ nữ. Thế nhưng “ghen” cũng có năm bảy
đường. Có những người vì ghen tuông mà tan nhà nát cửa. Nhưng cũng có
những cặp vợ chồng khi lòng người “nổi sóng”, những người trong cuộc đã
khéo kềm chế, lèo lái cho con thuyền hạnh phúc vững vàng vượt qua sóng
gió...
CT, 22- 4- 2011
Qua khảo sát 1.500 dẫn đề trên ngữ liệu báo Cần Thơ, người viết nhận
thấy có sự xuất hiện đầy đủ các mô hình dẫn đề theo lý thuyết của F. Danes,
63
tuy nhiên tần số xuất hiện của các mô hình là khác nhau. Kết quả khảo sát
được thể hiện qua bảng sau:
Loại đề Số liệu Tỉ lệ %
Đề tuyến tính đơn 585 39
Đề cố định 383 25,5
Đề phái sinh 142 9,5
Đề thuyết tách 68 4,5
Ngoại lệ 322 21,5
Cộng 1.500 100
Dựa trên kết quả khảo sát tìm được, ta thấy dẫn đề trên nhật báo Cần
Thơ có đặc trưng riêng. Đó là việc chuộng mô hình phát triển đề tuyến tính
đơn và đề cố định. Ở mô hình phát triển đề tuyến tính đơn, tác giả đưa vấn đề
cần bàn đến trong bài báo ở phần thuyết của câu mở đầu, tiếp đến nhắc lại
phần thuyết đó ở câu tiếp theo. Sử dụng kiểu mô hình này, thông qua quan sát
nguồn ngữ liệu là dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ, tạo hiệu quả truyền tải thông
tin nhanh chóng cho người đọc. Đóng vai trò là cửa ngõ đi vào mỗi tác phẩm
báo chí, dẫn đề theo mô hình phát triển đề tuyến tính đơn cuốn hút người đọc
tiếp tục tìm hiểu nội dung bài báo sau phần dẫn đề. Loại dẫn đề theo mô hình
này thường bắt gặp ở các dạng bài gọi chung là bài phản ánh trên nhật báo
Cần Thơ.
Tiếp đến là mô hình phát triển đề cố định. Kiểu mô hình này chiếm tỉ lệ
khoảng ¼ ( 25,5% trong tổng số 1.500 dẫn đề) các kiểu mô hình theo quan
niệm của F. Danes. Có thể thấy kiểu mô thức này xuất hiện khá thường xuyên
ở dẫn đề nhật báo Cần Thơ, đặc biệt là ở dạng bài viết về gương điển hình.
Đối tượng của dạng bài này có thể là một con người cụ thể, một tập thể, một
mô hình làm ăn sáng tạo, v.v… đạt hiệu quả xuất sắc đáng được biểu dương
và nhân rộng, học tập. Đây cũng là điểm đặc thù của một tờ báo Đảng ở địa
phương. Bên cạnh những thông tin thời sự nóng hổi diễn ra tại địa phương
64
hay vùng miền, các phóng viên của tờ báo luôn tìm tòi trên từng cây số những
gương điển hình tiêu biểu, tìm ra những mặt tốt, mặt tích cực của cuộc sống
để khen ngợi. Đó cũng nhằm định hướng dư luận, hướng đến xây dựng quê
hương thêm giàu đẹp, cuộc sống thanh bình.
Trên đây chúng tôi bàn về đặc trưng của dẫn đề. Trở lại mô hình phát
triển đề cố định. Với dạng bài viết về gương điển hình, từ tiêu đề, dẫn đề cho
đến kết thúc văn bản báo, đối tượng được nêu gương luôn được lặp đi lặp lại
nhiều lần nhằm mục đích khắc họa đậm nét hình tượng nhân vật trong lòng
độc giả. Chính vì vậy phần dẫn đề cũng không ngoại lệ. Và trong tư duy thông
thường của con người, vấn đề gì quan trọng, người ta thường đặt nó ở phần
đề. Điều này lý giải vì sao trong những bài viết về gương điển hình, ta bắt gặp
hiện tượng tác giả sử dụng thủ pháp lặp thường xuyên.
Hai mô hình đề phái sinh và đề thuyết tách có tần số xuất hiện kém hơn
các mô hình đề khác. Việc sử dụng mô hình nào trong việc triển khai dẫn đề
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể kể đến yếu tố cá nhân của phóng viên, yếu
tố thể loại, yếu tố tư duy và ngôn ngữ vùng miền. Tuy nhiên, đi sâu vào vấn
đề này, người viết chưa có đủ các cơ sở lý luận cũng như nguồn ngữ liệu minh
chứng nên tạm gác lại. Chỉ có điều, việc nêu ra kết quả thống kê về các mô
thức đề theo lý thuyết của F. Danes cũng cho ta được ấn tượng về việc triển
khai đề trên nhật báo Cần Thơ.
Có một vấn đề quan trọng nữa trong phần nghiên cứu các mô thức phát
triển đề theo F. Danes cần được bàn luận đến. Đó là những trường hợp ngoại
lệ, tức là có nhiều trường hợp, ( khoảng 21,5% trong tổng số 1.500 dẫn đề
được khảo sát), không thuộc mô hình nào trong 4 mô hình được đưa ra. Như
chúng ta đã biết, dẫn đề có độ dài tương đối ngắn, trung bình từ 2 đến 3 câu.
Đề áp dụng các mô thức của F. Danes vào dẫn đề, với độ dài như vậy là phù
hợp, xét về mặt hình thức. Tuy nhiên, có những trường hợp dẫn đề chỉ gồm 1
65
câu hoặc rất nhiều câu. Ở trường hợp dẫn đề chỉ gồm một câu thì nhất định
không thể áp dụng các mô hình phát triển đề. Ở trường hợp dẫn đề gồm quá
nhiều câu thì ta lại gặp khó trong việc xác định đề của dẫn đề, đề không phát
triển theo trật tự các mô hình đã nêu. Những trường hợp trên được xếp vào
trường hợp ngoại lệ. Theo số liệu thống kê, ta thấy tần số các trường hợp
ngoại lệ khá cao ( 21,5 % trong tổng số 1.500 dẫn đề). Con số này cũng có
một ý nghĩa nhất định nào đó. Có thể là do dụng ý sáng tạo của phóng viên,
bởi lẽ quá trình sử dụng ngôn ngữ là một quá trình sáng tạo, đặc biệt đối
tượng phục vụ của báo chí lại là đông đảo bạn đọc gần xa, thuộc mọi tầng lớp,
mọi trình độ và lứa tuổi. Ý nghĩa khác cũng có thể là do ảnh hưởng của đặc
trưng thể loại và nhiều yếu tố khác chi phối đến việc tạo dẫn đề. Vấn đề này
sẽ được tìm hiểu ở hoàn cảnh khác, do phạm vi nghiên cứu của luận văn
không cho phép.
2.2.2. Mô hình dẫn đề theo T- R- I
Dựa vào lý thuyết phân tích diễn ngôn, ta có thể khảo sát dẫn đề trên cơ
sở xem xét sự phân bố của các yếu tố nội dung trong văn bản, bao gồm 3 yếu
tố:
Đề: kí hiệu là T ( theme), là chủ đề chính của văn bản, là cái được nêu lên
hoặc đề cập trong văn bản, thường nằm bên trái của phát ngôn/ văn bản.
Thuyết: kí hiệu là R ( rheme), nói về cái đề, là cái giải thích và thuyết
minh cho đề, thường nằm bên phải phát ngôn/ văn bản.
Thành phần giải thích: kí hiệu là I ( interpretation), nó có thể giải thích cho T
hoặc R, cũng có thể giải thích cho cả hai thành phần trên. Thành phần này có
thể do một hoặc nhiều phát ngôn đảm nhiệm.
Khảo sát dẫn đề theo 3 yếu tố T- R- I, dựa trên nguồn ngữ liệu là 1.500
dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ, tìm ra tỉ lệ của từng mô hình dẫn đề, bằng cách
đảo trật tự của ba thành tố. Lần lượt ta có 3 mô hình sau:
66
2.2.2.1. Môhình dẫn đề theo T- R- I
Qua khảo sát nguồn ngữ liệu, thấy rằng kiểu dẫn đề này có tần số xuất
hiện cao hơn hẳn so với các mô hình khác. Ở đây phần đề và phần thuyết của
dẫn đề được nêu lên đầu tiên. Phần còn lại chính là thành phần giải thích cho
đề và thuyết đã nêu trước đó. Đứng từ góc độ kết cấu của đoạn văn thì dẫn đề
thuộc mô hình này giống việc triển khai đoạn văn theo lối diễn dịch. Xét từ
góc độ cấu trúc thông tin trong một văn bản báo chí thì mô hình này tương
ứng mô hình hình tháp ngược. Các yếu tố thông tin quan trọng được đặt lên
hàng đầu. Những yếu tố giải thích, chứng minh, bổ sung nội dung cho thông
tin quan trọng được triển khai tiếp sau đó nhằm làm rõ vấn đề. Về phía người
biên tập trong tòa soạn, khi muốn cắt bớt thông tin của phóng viên để vừa với
khuôn báo thì biên tập viên sẽ thao tác cắt từ dưới lên. Thao tác này không
làm ảnh hưởng đến nội dung quan trọng của bài báo cũng như ý đồ của tác
giả.
Kiểu dẫn đề này đáp ứng tâm lí công nghiệp của độc giả thời nay.
Thông thường độc giả khi cầm một tờ báo thường đọc lướt qua các tiêu đề và
dẫn đề ấn tượng, xét cả hình thức trình bày cũng như ngôn ngữ sử dụng.
Chính vì vậy, với những tiêu đề hấp dẫn, những dẫn đề được trình bày với
hình thức bắt mắt và ngôn ngữ cô đúc, ngắn gọn nhưng chứa nhiều hàm ý dễ
thu hút sự quan tâm của độc giả. Thông tin hạt nhân được đưa lên đầu dẫn đề
sẽ giúp độc giả tiếp cận vấn đề chính một cách nhanh chóng và giúp độc giả
dễ dàng đi đến quyết định có tiếp tục đọc bài báo đó hay không và đọc đến
đâu. Vì lẽ đó mà mô hình dẫn đề này được ưu tiên lựa chọn trong hầu hết thể
loại báo.
Hai thành phần T và R có thể được tạo thành từ cấu trúc t- r nhỏ hơn,
còn I có thể được tạo thành từ chuỗi cấu trúc t- r. Xét các ví dụ sau:
67
VD45:
Mỗi năm, TP Cần Thơ xảy ra khoảng 30 trường hợp trẻ em bị xâm hại
được pháthiện và xử lý. Trẻ em có nguy cơ bị xâm hại tình dục (XHTD) cao,
đặc biệt ở các vùng xa ven trung tâm thành phố, những khu dân cư có nhiều
công trình đang xây dựng. Bên cạnh công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm xâm hạitrẻ em của địa phương, thì việc trang bị những kiến thức và kỹ
năng an toàn cho các em là hết sức cần thiết, giúp các em biết cách tự bảo vệ
bản thân, phòng tránh được nguy cơ bị xâm hại.
CT, 17-7-2011
Trong đó:
“ThànhphốCần Thơ”:T
“ Khoảng 30 trường hợp trẻ em bị xâm hại bị… xử lý”: R
“ Trẻ em có nguycơ…. Phòng tránh được nguycơ bị xâm hại”: I
2.2.2.2. Môhình dẫn đề theo I- T- R
Nếu như mô hình dẫn đề theo T- R- I giống kết cấu đoạn văn triển khai
theo lối diễn dịch thì mô hình được khảo sát ở đây lại giống kết cấu đoạn văn
triển khai theo lối quy nạp. Có nghĩa là những thông tin mang tính chất giải
thích, chứng minh, biện luận cho thông tin chính được đặt ở đầu dẫn đề, còn
những thông tin cơ bản đóng vai trò đề, thuyết chính của dẫn đề thì phân bố ở
vị trí cuối dẫn đề. Trong công tác biên tập, khi muốn gọt dũa dẫn đề, biên tập
viên thường cắt từ trên xuống, vừa thực hiện được mục đích biên tập, vừa giữ
được thông tin cốt lõi của dẫn đề.
Khi sử dụng kiểu dẫn đề này, phóng viên luôn phải xác định khả năng
sử dụng ngôn ngữ của mình. Bởi lẽ, những thông tin cơ bản, điều mà phóng
viên muốn truyền đến người đọc, nằm ở vị trí cuối dẫn đề. Có nghĩa là, phải
trải qua một quá trình dẫn dắt thì người đọc mới đến đích thông tin, tức thông
điệp của phóng viên. Vậy làm sao giữ chân độc giả là trọng trách của tác giả
68
bài báo mà phần dẫn đề đóng vai trò vô cùng quan trọng. Cho nên, triển khai
dẫn đề với thành phần giải thích đầu tiên rồi mới đến phần đề và thuyết của
vấn đề thì thực sự đây không phải là điều dễ. Chúng ta xét ví dụ sau:
VD46:
Theo thống kê từ năm 2008 đến năm 2010, trên địa bàn thành phố xảy ra
49 vụ cháy, 1 vụ nổ, làm chết 9 người và 8 người bị thương, thiệt hại tài sản
trên 26 tỉ 940 triệu đồng. Địa bàn xảy ra cháy tập trung chủ yếu là khu vực
nội ô và các cơ sở công nghiệp. Đây là một thách thức không nhỏ của địa
phương, đốivới việc vừa đảm bảotốc độ tăng trưởng kinh tế, xã hội, phảivừa
đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.
CT, 15- 7- 2011
Trong đó:
“ Theo thống kê… cơ sở công nghiệp”:I
“ Đây là thách thức không nhỏ của địa phương”:T
“ vừa đảm bảotốc độ tăng trưởng kinh tế…. trên địa bàn”:R
2.2.2.3. Môhình dẫn đề theo T- I- R
Đứng từ góc độ phóng viên cũng như biên tập viên, mô hình này gây
khó trong quá trình biên tập. Bởi lẽ thông tin hạt nhân, thông tin cốt lõi không
phân bố tập trung mà rải ra khắp tiêu đề, khi muốn cắt gọt câu chữ, biên tập
viên phải cân nhắc nhiều lựa chọn. Về phía độc giả, do thông tin ở dẫn đề
thuộc mô hình này thiên về giải thích nên độc giả phải đi tìm chủ đề chính của
dẫn đề. Điều này gây khó cho độc giả trong quá trình tiếp nhận thông tin.
Muốn viết tốt dẫn đề này đòi hỏi phóng viên phải có một trình độ sử dụng
ngôn ngữ nhất định.
69
VD47:
Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò quan
trọng của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Bên cạnh vai trò “nội tướng”
trong gia đình, phụ nữcòn tham gia pháttriển kinh tế, nâng caothu nhập cho
gia đình, đóng góp trên nhiều lĩnh vực của xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh góc
nhìn người phụ nữ hoàn thiện phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, một số
người quên rằng cũng như nam giới, phụ nữ cần có nhu cầu được rèn luyện
sức khỏe, vui chơi giải trí, học tập để tiến bộ... Bên cạnh nhiều đấng mày râu
biết quan tâm chia sẻ việc nhà với vợ thì cũng còn không ít phụ nữ hàng ngày
phải gánh vác “hàng núi” công việc có tên, lẫn không tên trong gia đình,
không có được cuộc sống “hạnh phúc” theo đúng nghĩa...
CT, 15- 7- 2011
Trong đó:
“ Xã hội ngàycàng pháttriển… và ngoàixã hội”: T
“ Bên cạnh vai trò “nội tướng” trong gia đình… để tiến bộ”: I
“ Bên cạnh nhiều đấng màyrâu… theo đúng nghĩa…”:R
Xét ví dụ trên chúng ta thấy dẫn đề có dung lượng tương đối lớn. Muốn
tìm được chủ đề của dẫn đề trên, chúng ta phải trải qua quá trình suy luận,
khái quát. Đồng thời, chúng ta nhận thấy kiểu dẫn đề theo mô hình trên có
nhiều nét rườm, làm giảm hiệu quả thông tin của dẫn đề.
Ngoài 3 mô hình vừa nêu trên, khảo sát dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ,
luận văn còn thấy xuất hiện mô hình dẫn đề chỉ có hai yếu tố T – R và không
có thành phần giải thích.
Qua khảo sát 1.500 dẫn đề theo các yếu tố T, R, I, lần lượt theo các mô
hình đã miêu tả trên, ta có bảng tỉ lệ sau:
70
Mô hình Số liệu Tỉ lệ %
T-R-I 675 45
I-T-R 487 32,5
T-I-R 225 15
T-R 113 7,5
Cộng 1.500 100%
Từ bảng thống kê chúng ta thấy mô hình T- R- I có tần số xuất hiện cao
nhất, tiếp đến là mô hình I- T- R, mô hình T- I- R và sau cùng là mô hình T -
R. Kết quả khảo sát phù hợp với phần biện giải đã nêu ra ở trên. Quá trình
khảo sát dẫn đề theo các mô hình trên cũng cho ta nhiều nhận xét lí thú.
Mô hình T- R- I chiếm tỉ lệ cao vì nó thuận theo logic ngữ nghĩa thông
thường: giới thiệu nhân vật hoặc vấn đề cần bàn luận trước rồi mới giải thích,
diễn giải vấn đề.
Về mặt hình thức, dẫn đề cũng như tiêu đề được tách riêng ra phần thân
văn bản báo. Bên cạnh đó dẫn đề cũng được in với co chữ, kiểu chữ và màu
sắc chữ khác hẳn so với các phần còn lại. Ở nhật báo Cần Thơ, dẫn đề thường
được in kiểu chữ đứng đậm, đôi khi nghiêng đậm. Qua đó ít nhiều thấy được
vị trí của dẫn đề trong văn bản báo, xét tính hệ thống của văn bản.
Khảo sát 1.500 dẫn đề từ nguồn ngữ liệu báo Cần Thơ cho ta nhận diện
được một số đặc trưng sau: có nhiều dẫn đề bắt đầu bằng cụm từ “ nói đến”, “
nhắc đến”. Đây là dấu hiệu cho những bài báo viết về gương điển hình nhân
vật hay tập thể có thành tích nổi bật. Tiếp theo là dẫn đề bắt đầu bằng cụm từ
“ thời gian qua”. Mô thức này được bắt gặp thường xuyên, được bắt gặp ở các
bài báo tổng kết một quá trình thực hiện một chương trình hay chủ trương,
chính sách nào đó của địa phương, Đảng và Nhà nước,… Kiểu dẫn đề này
nhằm nhấn mạnh thông tin thời sự ở thì hiện tại.
71
Ở dẫn đề, đôikhi ta bắt gặp cái tôi của tác giả xuất hiện một cách trực
tiếp.
Ngoài ba mô hình đã liệt kê, khi khảo sát dẫn đề, ta bắt gặp một vài
trường hợp ngoại lệ. Do số lượng dẫn đề được khảo sát chỉ là con số nhỏ cho
nên người viết luận văn chưa thể rút ra thành nhận xét khái quát. Tuy nhiên
cũng liệt kê ra đây một vài trường hợp ngoại lệ điển hình. Có trường hợp bắt
đầu dẫn đề là phần giải thích, tiếp đó là thành phần đề, thuyết, và sau cùng lại
là thành phần giải thích. Thiết nghĩ có thể có một hay một số mô hình phái
sinh của dẫn đề để có thể có đầy đủ hơn nữa cơ sở lý thuyết để khảo sát bộ
phận dẫn đề một cách toàn diện, tổng thể. Ngoài ra, có trường hợp ngoại lệ là
dẫn đề chỉ gồm thành phần đề thuyết mà không có thành phần giải thích. Có
thể kể thêm trường hợp ngoại lệ là dẫn đề, xét về mặt ý nghĩa chỉ nêu phần đề
mà không nêu phần thuyết, nêu dẫn chứng nhưng không giải thích, muốn tìm
hiểu cái thuyết, người đọc phải tự mình suy ngẫm. Thêm nữa là có trường hợp
có loại dẫn đề chứa nhiều chủ đề, thường được tạo nên bởi thủ pháp đối lập.
Xét văn bản trong cấu trúc thông tin, dẫn đề thường đóng vai trò hạt
nhân của văn bản. Chính vì vậy sai sót ở dẫn đề dễ dẫn đến sự thất bại trong
hiệu quả truyền tải thông tin của nhà báo đến bạn đọc. Khảo sát dẫn đề nhật
báo Cần Thơ, bên cạnh đặc trưng cô đọng, hàm súc của dẫn đề, đôi khi độc
giả cũng bắt gặp ít nhiều hạt sạn ở dẫn đề. Đây cũng là thực tế của nhiều tờ
báo chứ không riêng gì báo Cần Thơ, mặc dù cả tập thể tòa soạn luôn nỗ lực
đáp ứng mong mỏi của bạn đọc. Những lỗi về lô gic, ngữ nghĩa, dấu câu hoặc
lỗi về việc lặp lại một mô tip từ ngữ nào đó ở dẫn đề dễ tạo hiệu ứng không
tốt từ phía độc giả, giảm hiệu quả thông tin của bài báo và giảm chất lượng tờ
báo.
72
2.2.3. Mô hình dẫn đề theo cấu trúc 5W + 1H
Trong quá trình tạo lập văn bản, đặc biệt là văn bản báo chí, các yếu tố
trong cấu trúc 5W + 1H là những yếu tố cơ bản. Mỗi văn bản chứa càng nhiều
các yếu tố trong cấu trúc trên càng đầy đủ ý nghĩa. Tuy nhiên, việc xuất hiện
đầy đủ hay vắng mặt một hay nhiều yếu tố trong cấu trúc 5W + 1H cũng còn
tùy thuộc vào các thể loại báo chí. Còn bên trong các bộ phận cấu thành văn
bản báo chí thì tùy thuộc vào chức năng của từng bộ phận.
Khảo sát 1.500 dẫn đề ta được bảng thống kê tỉ lệ các mô hình như sau:
Kiểu mô hình Số liệu Tỉ lệ %
3 yếu tố 277 18,5
4 yếu tố 728 48,5
5 yếu tố 367 24,5
6 yếu tố 128 8,5
Cộng 1.500 100
Qua bảng thống kê ta thấy kiểu mô hình dẫn đề gồm 4 yếu tố có tần số
xuất hiện cao nhất. Tiếp đến là mô hình dẫn đề gồm 5 yếu tố, 3 yếu tố và sau
cùng là kiểu mô hình chứa đầy đủ các yếu tố. Như các phần diễn giải trên đã
nhắc đến độ dài của dẫn đề, mặc dù có độ dài tương đối ngắn nhưng nội dung
thông tin được nén chặt. Dẫn đề tuy ngắn gọn, cô đọng nhưng hàm súc, lời ít
mà ý nhiều. Chính vì vậy, việc xuất hiện nhiều yếu tố thông tin ở phần dẫn đề
là điều dễ hiểu. Qua thống kê, kiểu mô hình chứa đầy đủ các yếu tố trong cấu
trúc 5W + 1H tương đối thấp ( 8,5%). Theo quan sát nguồn ngữ liệu, hai yếu
tố Where và When không xuất hiện thường trực ở dẫn đề. Thông qua ngữ
cảnh độc giả có thể đoán định được không gian, thời gian của sự tình. Hoặc có
thể hai yếu tố đó được nhắc đến ở phần thân bài báo.
Qua quan sát ngữ liệu, ta thấy có sự nhập nhằng giữa các yếu tố Who,
What và Where. Có khi đề là Where mà cũng chính là What.
73
VD48:
Thành phố Cần Thơ đang nỗ lực đầu tư phát triển để trở thành đô thị
trung tâm vùng ĐBSCL. Trong cáctiêu chí pháttriển của một đô thị hiện đại,
thì hệ thống cây xanh ở khu đô thị, khu dân cư (KDC) cần đảm bảo độ che
phủ cũng nhưcân bằng sinh thái, tạo vẻ mỹ quan đô thị và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, việc đầu tư pháttriển hệ thống cây xanh tại các KDC mới ở thành
phố lại thiếu đồng bộ…
CT, 18-6-2011
Who ở dẫn đề có thể là “ cái tôi” của phóng viên.
VD49:
Để xây dựng một gia đình êm ấm, hạnh phúc rất cần sự yêu thương,
hòa hợp và vun đắp tình cảm của cả người vợ lẫn người chồng. Tuy nhiên,
theo kinh nghiệm của những cặp đôi hạnh phúc mà chúng tôi đã gặp, thì “bí
quyết” lại phụ thuộc phần nhiều ở vai trò của người vợ - người dựng xây tổ
ấm bằng chính tình yêu, sự tinh tế và khéo léo dung hòa các mối quan hệ
trong gia đình...
CT, 17-6-20111
Đôi khi câu trả lời cho yếu tố Why không được nêu tường minh ra câu
chữ; tuy nhiên dựa trên câu chữ ta có thể nhận ra ý nghĩa hàm ngôn của nó.
Dẫn đề chứa 3 yếu tố thường mang tính khái quát, nêu nhận định chung, đôi
khi đó cũng là những lí lẽ đời thường, ứng với tất cả mọi người chứ không
nhằm chỉ một đối tượng cụ thể nào.
VD50:
Câu nói đó không hẳn đúng trong mọi trường hợp nhưng phần nào
được đúc kết từ thực trạng xảy ra ở nhiều gia đình. Chính cuộc sống quá
nhàn rỗi, ít lao động, thiếu thông tin, không có mục tiêu phấn đấu đã khiến
một số người “nhàncư” mất phương hướng, từ đó dẫn đến những suy nghĩ,
74
hành động lệch lạc, sai trái, đôi khi gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối
với bản thân, gia đình và những người xung quanh. Tuy điều đơn giản trên
luôn được nhiều người từng trải cảnh báo, nhắc nhở, nhưng thực tế có không
ít gia đình xào xáo, thậm chí hạnh phúcđổvỡ vì sự lầm đường lạc lối của một
vài thành viên “nhàn cư”...
CT, 03-6-2011
Dẫn đề chứa 4 yếu tố thể hiện tính cân đối của một dẫn đề: nêu những
yếu tố nòng cốtcủa cấu trúc thông tin chuẩn mực. Những yếu tố khuyết sẽ
được trình bày ở phần thân bài báo.
VD51:
Qua nắm tình hình, vào tháng 9-2010, Công an quận Cái Răng nhận
được thông tin về trường hợp sử dụng giấy chứng nhận kết quả thi đại học
năm 2010 giả vào Trường Đại học Tây Đô của các thí sinh Cao Thị Nhi (sinh
năm 1992, ở xã Phú Hữu, huyện Châu Thành) và Huỳnh Hoài Nhân (sinh
năm 1991, ởthị trấn Kinh Cùng, huyện PhụngHiệp, tỉnh Hậu Giang). Saukhi
xác minh, thu thập chứng cứ, Công an quận Cái Răng báo cáo với lãnh đạo
Công an thành phố, Thủ trưởng Phòng An ninh điều tra (ANĐT) Công an TP
Cần Thơ chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ tiến hành điều tra, xác minh làm rõ
đường dây làm giả giấy chứng nhận kết quả thi đại học.
CT, 18-6-2011
Dẫn đề chứa đầy đủ các yếu tố thường ở dạng bài có độ dài tương đối
lớn như phóng sự, phản ánh,… Ví dụ ở một bài viết về sự kiện pháp luật,
tranh chấp đất đai, tác giả muốn trình bày sơ lược vụ việc cho người đọc hiểu.
Phần thân bài báo là việc tường trình lần lượt các chi tiết liên quan đến sự
kiện.
75
VD52:
Hằng năm, khoảng tháng 5 và tháng 6 (âm lịch), nhiều người dân tại
các vùng lũ ở ĐBSCL mua cá giống để thả trên chân ruộng lúa nên sức mua
nhiều loại cá giống tăng, nhấtlà các loại cá trắng. Năm nay, do đầu ra và giá
nhiều loại cá thịt ở mức cao đã khuyến khích người dân phát triển nuôi cá,
làm giá nhiều loại cá giống tăng và nhiều loại hiện đã có dấu hiệu khan hàng
... CT,12-3-2011 Chủ thể Who ở dẫn đề có thể là một người, cũng có thể
là một tổ chức,
cơ quan, đoàn thể,..
VD53:
Những năm qua, lực lượng vũ trang (LLVT) TP Cần Thơ luôn giữ vai
trò là lực lượng xung kích trong công tác phòng chống lụt bão (PCLB) và tìm
kiếm cứu nạn (TKCN). Khi các vụ thiên tai, sự cố xảy ra trên địa bàn, các cơ
quan, đơn vị LLVT thành phố đều điều động lực lượng và phương tiện đến
ứng cứu, khắc phụckịp thời, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân thànhphố
đánh giá cao.
CT, 21-7-2011
Trong một số bài báo, dẫn đề thiếu yếu tố When hoặc Where, dù vậy
người đọc vẫn mặc nhiên hiểu Where hoặc When là gì. Nếu tác giả không nêu
Where thì mặc nhiên là trong xã hội ngày nay, tương ứng với mọi người,
trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ riêng địa danh hay nơi chốn nào. Còn đối
với yếu tố When, thường thì thời gian không xác định chính xác mà dùng
những từ chỉ chung chung như hiện nay, gần đây,… Thời gian chính xác là
ngày, giờ, tháng, năm,… thường xuất hiện ở các bản tin.
Khi khảo sát dẫn đề theo cấu trúc 5W + 1H ta cũng bắt gặp một số hạt sạn về
dấu câu, cách dùng từ ngữ,… Ở trường hợp viết hoa sau dấu 3 chấm với từ
76
“qua đó”, “ từ đó”,… lẽ ra phải viết hoa vì đã hết câu nhưng lại không được
viết hoa.
Có trường hợp dẫn đề sử dụng dấu ba chấm không phù hợp.
VD54:
Đã từ lâu, tiệm Thúy Nga (tại số 151/72B) đường Trần Hoàng Na,
quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ đã trở thành địa chỉ khá quen thuộc với nhiều
chị em. Tiệm không lúc nào vắng khách. Ai tới đây cũng muốn được cô chủ
tiệm là chị Nga (tên thật là Võ Thị Cẩm Hồng, sinh năm 1975)giúp làm đẹp...
CT, 11- 7- 2011
Có trường hợp dẫn đề dùng dư từ ngữ.
VD55:
Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò
quan trọng của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Bên cạnh vai trò “nội
tướng” trong gia đình, phụ nữ còn tham gia phát triển kinh tế, nâng cao thu
nhập cho gia đình, đóng góp trên nhiều lĩnh vực của xã hội... Tuy nhiên, bên
cạnh góc nhìn ngườiphụ nữ hoàn thiện phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà”,
một số người quên rằng cũng nhưnam giới, phụ nữ cần có nhu cầu được rèn
luyện sức khỏe, vui chơi giải trí, học tập để tiến bộ... Bên cạnh nhiều đấng
mày râu biết quan tâm chia sẻ việc nhà với vợ thì cũng còn không ít phụ nữ
hàng ngày phải gánh vác “hàng núi” công việc có tên, lẫn không tên trong
gia đình, không có được cuộc sống “hạnh phúc” theo đúng nghĩa...
CT,15-7-2011
Có những dẫn đề quá dài nhưng chỉ chứa rất ít yếu tố thông tin. Lẽ ra
có thể rút gọn, cô đọng dẫn đề. Phần lý giải dành cho thân bài báo.
Như vậy, dấn đề đóng vai trò là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc
văn bản báo chí. Với một ngòi bút chuyên nghiệp, việc đầu tư cho dẫn đề là
một công đọan vô cùng quan trọng. Điều đòi hỏi đầu tiên của dẫn đề chính là
77
yếu tố cô đọng nhưng hàm súc của dẫn đề. Đặc biệt tránh hiện tượng lặp từ,
lặp ngữ, lặp ý ở dẫn đề. Bên cạnh đó, sự đồng nhất giữa nội diên và ngoại
hàm của đối tượng được nhắc đến ở dẫn đề cũng là một lưu ý cần thiết.
Ngắn gọn là yếu tố hàng đầu của dẫn đề. Dẫn đề đi thẳng vào vấn đề,
vừa tạo tính thời sự hấp dẫn của thông tin, vừa lôi cuốn người đọc. Có điều dễ
nhận ra là dẫn đề của các tác phẩm báo trên nhật báo Cần Thơ hạn chế sử
dụng các phương tiện liên kết bằng từ nối, quan hệ từ. Bên cạnh những dẫn đề
thật sự mang bản chất, chức năng của dẫn đề thì người viết còn bắt gặp ở ngữ
liệu báo Cần Thơ những dẫn đề giả. Tuy nhiên, khi khảo sát toàn bộ văn bản
thì ta dễ nhận ra được sự sáo rỗng trong những kiểu dẫn đề như thế. Có hay
chăng những dẫn đề giả này thực hiện chức năng đưa đường, dẫn dắt bạn đọc
vào nội dung văn bản báo.
Trong mỗi số báo ra hàng ngày, thư ký tòa soạn lựa chọn những bài
đinh, đặc biệt là những bài viết có dẫn đề hay, hấp dẫn đưa ra trang nhất, trang
bìa nhằm tạo ấn tượng về mặt hình thức đối với độc giả. Điều này thêm một
lần chứng tỏ vai trò quan trọng của dẫn đề đối với cấu trúc văn bản báo trong
các thể loại báo chí.
Mặc dù được quy định bởi phong cách ngôn ngữ báo chí nhất định
nhưng ngôn ngữ được sử dụng ở dẫn đề nói riêng cũng vô cùng phong phú và
hấp dẫn. Bằng sự sáng tạo của ngòi bút phóng viên, nhiều kiểu dẫn đề hấp dẫn
được tạo ra. Đó là sự kết hợp của các thủ pháp nghệ thuật, là sự ví von của
ngôn từ, cốt làm sao thực hiện được chức năng dẫn dắt, hấp dẫn độc giả. Qua
khảo sát dẫn đề, người viết thấy rằng cái tôi của tác giả bài báo đôi khi xuất
hiện ở dẫn đề. Cái tôi ở đây như một nhân chứng thuyết phục độ tin cậy của
độc giả đối với tác phẩm báo. Trong những loại dẫn đề có xuất hiện cái tôi, ta
thường thấy đi kèm là các yếu tố cảm xúc cá nhân của phóng viên về con
người, sự vật, hiện tượng,… Đó có thể là sự yêu mến, xúc động, hay sự giận
78
dữ, lời trách cứ, lên án,… tất cả đều nhằm hướng đến làm tăng giá trị tác động
cho vấn đề được nói đến.
Trong nhiều trường hợp khảo sát bản thân dẫn đề cũng như toàn bộ văn
bản báo, người viết luận văn nhận ra dẫn đề cũng chính là phần kết của văn
bản. Như vậy, trong trường hợp này tác giả bài viết đã sử dụng kết cấu liên
hoàn trong cấu trúc văn bản báo.
Có một điều đáng lưu ý ở dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ, ở các bài viết
về gương nhân vật điển hình, thường bắt chước kiểu mào đầu giống hệt nhau.
Không thể phủ nhận trong nhiều trường hợp kiểu dẫn đề đi thẳng vào khắc
họa nhân vật dễ tạo ấn tượng tích cực cho độc giả. Tuy nhiên sự lặp đi lặp lại
của một kiểu cấu trúc dẫn đề làm người đọc nhàm chán là điều không thể
tránh khỏi.
2.3. Đoạnvăn
Ở cấp độ ngôn ngữ trên câu, đoạn văn đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong việc cấu thành văn bản. Hình thức nhận diện đoạn văn đó là bắt đầu
bằng việc viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng. Đoạn
tiếp theo lại lặp lại hình thức như vậy. Có rất nhiều lý thuyết đã được đưa ra
làm cơ sở lý luận, thậm chí có những lý thuyết về đoạn văn còn đang được
bàn luận. Tuy nhiên ở đây người viết chỉ xét mối quan hệ của đoạn văn trong
cấu trúc của chính nó và trong mối quan hệ với các bộ phận còn lại của văn
bản báo chí.
Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, câu là đơn vị ngôn ngữ lớn
nhất và không có cấp độ ngôn ngữ trên câu. Trên cơ sở đó khi khảo sát đoạn
văn ta bắt gặp những câu thể hiện chủ đề của cả đoạn, các câu còn lại đảm
nhiệm vai trò chứng minh, giải thích, bổ sung thông tin cho chủ đề đã nêu.
Dựa trên lý thuyết về câu chủ đề trong đoạn văn, khảo sát 1.500 đoạn văn
ngẫu nhiên trên nhật báo Cần Thơ, ta có bảng thống kê sau:
79
Mô hình Số liệu Tỉ lệ %
Diễn dịch 735 49
Quy nạp 240 16
Song hành 75 5
Tổng hợp 270 18
Không xác định 180 12
Tổng cộng 1.500 100
Qua kết quả khảo sát ta thấy đoạn văn trong nhật báo Cần Thơ sử dụng
mô hình diễn dịch là phổ biến ( 49% trong tổng số 1.500 đoạn văn). Như
chúng ta đã biết, đoạn văn triển khai theo lối diễn dịch là đoạn văn có câu chủ
đề được nêu đầu đoạn văn. Câu chủ đề gánh vác gánh nặng chữ nghĩa cho
toàn đoạn. Các câu còn lại trong đoạn văn đều phục vụ cho câu chủ đề.
2.3.1. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch
Sau đây chúng ta xem xét một ví dụ về đoạn văn được triển khai theo mô hình
diễn dịch.
VD56:
Chị Đặng ThịNga, CTVDSkhu vực Phú Thạnh, phườngTân Phú,quận
Cái Răng, có thâm niên gần 15 năm gắn bó với công tác dân số. Những năm
đầu khi mới tham gia công tác, con còn nhỏ, chồng đi dạy học, công việc
đồng áng nhiều nên chồng chị than phiền khi thấy vợ mình tham gia công tác
dân số. ChịNga vừa khéo léo khuyên nhủ chồng, đồng thời thu xếp việc nhà,
dành thờigian đi công tác. Lúc ấy trong ấp toàn cầu khỉ, đường sá đi lại rất
khó khăn, chị phảichèo xuống đến từng nhà vận động. Có hôm, cầu nhỏ, chị
té lên té xuống, mình mẩy đầysình bùn, vậy mà đến nhà gặp đối tượng để vận
động thực hiện KHHGĐ thì bị mấy bà cụ đuổi thẳng. Mấy bà cụ còn nói:
“con tôi, tôi cho đẻ sạch ruột, cháu tôi, tôi nuôi, can gì đến cô mà cô vận
80
động”. Chị Nga buồn lắm nhưng vẫn cố gượng cười chào họ ra về. Trên
đường về, chị Nga tủi thân, ứa nước mắt. Nhưng buồn thì buồn, chị không bỏ
cuộc. Chị tìm cách gặp riêng các chị để vận động. Chị còn dẫn chứng các
trường hợp chị em trong xóm nhờ thực hiện BPTT mà chỉ sanh hai con, kinh
tế khá giả, sức khỏe lại đảm bảo. Một lần, hai lần, các chị dần hiểu ra, nghe
theo. Cứ thế số lượng chị em thực hiện BPTT ngày càng nhiều. Đến nay, các
chị còn tự giác đến nhà chị Nga nhận baocao su, thuốc ngừa thai về sử dụng.
CT, 11-7-2011
Ở đoạn văn trên, câu chủ đề “ChịĐặng ThịNga, CTVDS khu vực Phú Thạnh,
phường Tân Phú, quận CáiRăng, có thâm niên gần 15 năm gắn bó với công
tác dân số” nằm ở đầu đoạn văn. Các câu còn lại trong đoạn triển khai các ý
phục vụ thông tin cho chủ đề chị Nga là một cộng tác viên dân số có thâm
niên gắn bó với công tác dân số. Thông tin nêu ở câu chủ đề là thông tin hạt
nhân, thông tin ở các câu còn lại là thông tin vệ tinh xoay quanh thông tin hạt
nhân.
Như đã biết, mô hình triển khai đoạn văn theo lối diễn dịch ở dẫn đề
chiếm tỉ lệ cao; đại bộ phận đều đạt tỉ lệ trội. Nhưng trong đoạn văn cũng trội
nhưng không quá cách biệt như ở dẫn đề.
Xét một ví dụ khác:
VD57:
Từ đầu năm đến nay, số ca mắc sốt xuất huyết (SXH) tại huyện Cờ
Đỏ tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Điều đáng lo ngại là số ca bệnh
nặng cũng tăng hai lần, trong đó có 2 trường hợp tử vong. Huyện Cờ Đỏ
đang tập trung nguồn lực, kinh phíđể phòng chống, dập dịch SXH, góp phần
bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng.
CT, 26- 11- 2011
81
Ở đoạn văn trên, câu chủ đề nằm ở vị trí đầu đoạn. Các câu còn lại triển
khai chủ đề theo hướng giải thích, liệt kê nhằm làm rõ chủ đề đã nêu trước đó.
Về mặt tri nhận, kiểu đoạn văn kết cấu theo mô hình diễn dịch phản ánh cơ
chế của tư duy, vì báo chí muốn cung cấp thông tin nhanh gọn, đáp ứng tính
thời sự của sự kiện. Mô hình này phù hợp với độc giả, phục vụ cho tâm lý
công nghiệp của độc giả trong xã hội hiện đại. Đối với người đọc, mô hình
này phục vụ đắc lực cho việc tìm kiếm thông tin bằng một thời gian ngắn nhất
mà tìm được thông tin tối đa. Chỉ cần đọc lướt thông tin hạt nhân là biết được
thông tin nói gì, có thời gian thì đọc tiếp, không có thời gian thì chỉ cần đọc
thông tin hạt nhân là đủ. Còn đối với người tạo lập văn bản thì đoạn văn triển
khai theo mô hình diễn dịch rất thuận tiện, dễ dàng trong cách triển khai thông
tin. Có thể coi đây là mô hình mà hạt nhân diễn dịch ở đầu, hạt nhân vệ tinh là
những gạch đầu dòng, triển khai ngắn dài tùy theo chủ đích của người viết.
Đối với người biên tập, do yêu cầu phải xử lý văn bản thật nhanh nên tùy theo
không gian trang báo, có thể biên tập một cách máy móc là cắt từ dưới lên.
Điều này có thể hiểu thông tin phân bố xung quanh thông tin hạt nhân càng xa
chừng nào thì quan hệ ngữ nghĩa của nó càng mờ nhạt. Với 3 đặc điểm trên
chúng ta có thể hiểu được vì sao mô hình kim tự tháp đảo mặc dầu đã được ra
đời khá lâu nhưng đến nay báo chí hiện đại vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của
nó. Công bằng mà nói, không phải tất cả tổ chức văn bản trên báo Cần Thơ
đều đạt yêu cầu này, nhiều khi do trình độ, do cách triển khai mà nhiều đoạn
văn không đáp ứng được yêu cầu vừa nhắc.
VD58:
Trước đâyvợ chồng chị Ngọc - anh Khen sống ở phường Tân An, Ninh
Kiều. Năm 1987, cha mẹchồng già yếu, người em út của anh Khen công tác ở
xa nên anh chị dọn về gần nhà cha mẹ ruột của anh Khen (nay thuộc phường
Phú Thứ, quận Cái Răng), để tiện việc chăm sóc cho cha mẹ. Năm đó, con
82
trai đầu lòng của anh chị mới được 5 tuổi. Chị Ngọc nhớ lại: “Lúc bấy giờ
kinh tế gia đình rất khó khăn, thu nhập chủ yếu là nhờ vào hoa lợi từ mấy
công vườn tạp. Hàng ngày, tôi mang trái cây, rau cải ra chợ bán và phải
mang con theo vì ông bà đã già yếu, ông xã tôi thì lo vườn tược, đi soi cá
bống kiếm thêm thức ăn hàng ngày, hoàn cảnh túng thiếu vô cùng...”. Anh
Khen tiếp lời vợ: “Thời gian đó, cha tôi bệnh nặng nằm một chỗ, việc chăm
sóc cha đều do vợ tôi gánh vác. Ai cũng khen vợ tôi phụng dưỡng cha mẹ
chồng rất chu đáo cho đến khi cha mẹ tôi qua đời”. Dù cuộc sống chật vật,
anh chị luôn động viên nhau cố gắng vượt qua khó khăn, cùng lo cải tạo vườn
tược và chăn nuôi heo. Trong quá trình cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn
trái, chị tranh thủ trồng xen rau màu để “lấy ngắn nuôi dài”. Năm 1990 chị
sinh thêm con gái, tuy việc chăm sóc, dạy dỗ 2 con nhỏ vất vả nhưng chị luôn
đảm đang cùng chồng làm lụng, chăn nuôiđể pháttriển kinh tế gia đình. Năm
2006, khikinh tế gia đình dần ổn định, vườn cây ăn trái cho thu nhập khoảng
40 triệu đồng/năm, chịbắtđầu tham gia công tác phụ nữ ở khu vực, được hội
viên tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng. Trong công tác, chị Ngọc luôn gần
gũi, quan tâm giúp đỡ hội viên, nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ và nhận
được nhiều giấy khen.
CT,17-6-2011
Trong đoạn văn trên, chúng ta thấy những khó khăn vất vả của hai vợ
chồng chị Ngọc và sự cố gắng của bản thân chị Ngọc trong công tác xã hội.
Tuy nhiên, khi đọc hết đoạn văn, chúng ta không tìm thấy câu chủ đề của
đoạn, nhiều thông tin được nhắc đến trong đoạn văn nhưng không tìm thấy
một thông tin hạt nhân.
Như chúng ta biết, mỗi đoạn văn thường chỉ nêu một chủ đề. Tuy nhiên
trong vài trường hợp ngoại lệ, một chủ đề được thể hiện ở nhiều đoạn văn.
Giữa các đoạn văn có mối liên hệ cơ bản về mặt ý nghĩa.
83
Có những đoạn văn khi đọc ta không xác định được chủ đề, các chi tiết
trong đoạn văn hay nói đúng hơn trong toàn đoạn văn chứng minh, dẫn chứng
cho chủ đề ở đoạn trước đó. Trong đoạn ta thấy ngồn ngộn chi tiết, dẫn chứng
nhưng không xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào. Tuy nhiên thông qua
các chi tiết, dẫn chứng, người đọc có thể tìm được chủ đề của đoạn.
Trong quá trình tạo lập văn bản, giữa các đoạn văn ta thường bắt gặp
thủ pháp liên kết hồi chỉ, tạo logich về mặt ý nghĩa, giúp văn bản hình thành
một chỉnh thể chặt chẽ, thống nhất. Nói về liên kết ở đoạn văn, qua quá trình
khảo sát, người viết nhận thấy có sự xuất hiện của các phép liên kết sau: liên
kết về mặt hình thức (dùng phương tiện liên kết, từ liên kết, phép liên kết );
liên kết về mặt nội dung (liên kết về mặt ý nghĩa như nhắc lại đối tượng, chủ
đề, nhấn mạnh, bổ sung thông tin,…).
2.3.2. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc quy nạp
Như chúng ta biết, mô hình đoạn văn triển khai theo kết cấu quy nạp là
mô hình có tính chất tổng kết và nhìn chung đó là mô hình diễn dịch đảo. Tuy
về mặt lý thuyết đó là nét gần gũi với diễn dịch nhưng về mặt triển khai lại
không đơn giản, vì nó liên quan đến hai khái niệm là trí nhớ ngắn hạn và trí
nhớ dài hạn. Điều này cũng ảnh hưởng đến người đọc, người tạo lập và cả
biên tập. Đối với người đọc, để nắm được chủ đề của đoạn, người đọc phải
đọc hết đoạn văn. Đối với người tạo lập văn bản, khi triển khai đoạn văn theo
mô hình diễn dịch đòi hỏi người tạo lập văn bản phải có khả năng tổng kết,
khái quát vấn đề. Còn đối với biên tập viên, muốn biên tập ngắn gọn thông tin
đòi hỏi phải có khả năng bao quát vấn đề để giữ được những thông tin cốt lõi
đồng thời làm nổi bật thêm chủ đề của cả đoạn. Và nói chung, để viết được
mô hình này đòi hỏi người viết phải có kinh nghiệm nghề nghiệp lâu dài.
84
VD59:
Từ thực tế trên, Ban ATGT TP Cần Thơ đã kết hợp với Cục đường thủy nội
địa Việt Nam, Ban ATGT quận Thốt Nốt, Ô Môn và huyện Phong Điền tổ
chức trao cặp phaocứu sinh và áo phaocho 350 học sinh thường đi học bằng
đò dọc, đò ngang,ở các trường: Tiểu học lộ Vòng Cung, Tiểu học Nhơn Ái II
(thuộc huyện Phong Điền) và các Trường tiểu học, THCS ở quận Ô Môn,
Thốt Nốt. Mỗi cặp phao cứu sinh và áo phao trị giá từ 70.000 đồng đến
200.000 đồng,trích từ nguồn ngân sách Cụcđường thủy nội địa Việt Nam và
Ban ATGT TP Cần Thơ. Đây là việc làm rất ý nghĩa nhằm đảm bảo an toàn
tính mạng, sức khỏe cho học sinh và tạo thói quen để học sinh ý thức mặc áo
phao mỗi khi tham gia giao thông trên tuyến đường thủy nội địa.
CT,17-6-2011
Bên cạnh hai mô hình phổ biến là diễn dịch và quy nạp thì trong quá
trình khảo sát đoạn văn, luận văn còn bắt gặp một số kiểu kết cấu khác như
mô hình đoạn văn theo kết cấu song hành, móc xích. Tuy nhiên, những mô
hình vừa kể chỉ xuất hiện ở tần suất rất thấp trên nhật báo Cần Thơ. Ngoài ra,
luận văn còn bắt gặp nhiều đoạn văn không có chủ đề.
2.4. Văn bản
Trên đây luận văn đã khảo sát các bộ phận cấu thành một văn bản báo
chí. Tiếp theo, luận văn mở rộng tầm khảo sát mang tính toàn diện, xét trên
qui mô toàn văn bản báo chí. Xem xét văn bản dựa trên sự xuất hiện và phân
bố của thông tin hạt nhân và các thông tin vệ tinh, trên cơ sở đó tìm ra đặc
trưng của văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ.
Thông tin hạt nhân là thông tin quan trọng nhất, là thông tin có chức
năng bao quát toàn văn bản. Thông tin vệ tinh là thông tin có chức năng làm
sáng tỏ cho thông tin hạt nhân.
85
Luận văn chọn 1.500 văn bản thuộc thể loại tin tức làm đối tượng khảo
sát để tìm ra đặc trưng tổ chức văn bản của nhật báo Cần Thơ. Kết quả khảo
sát cho thấy, văn bản thuộc thể loại tin tức thường cấu tạo theo hai mô hình:
- Mô hình gồm hai thành phần: Ở mô hình văn bản có hai thành phần lại
chia làm hai loại là:
+ Mô hình có phần mở đầu, phần triển khai và phần kết luận nhập làm
một.
+ Mô hình có phần mở đầu và triển khai nhập làm một và phần kết luận
- Mô hình có đầy đủ ba thành phần gồm phần mở đầu, phần triển khai và
phần kết luận.
2.4.1. Mô hình 1
Khảo sát 500 văn bản thuộc thể loại tin tức, mô hình văn bản bao gồm 2
thành phần chiếm tỉ lệ 675/1.500 ( 45%). Trong đó, mô hình này lại chia làm
2 loại:
- Mô hình văn bản có phần mở, phần triển khai và kết luận nhập làm một
chiếm tỉ lệ 510/1.500 ( 34%)
- Mô hình văn bản có phần mở, phần triên khai nhập làm một và phần kết
luận chiếm tỉ lệ 165/ 1.500 (11%)
Nhìn chung, mô hình văn bản gồm hai thành phần có độ dài tương đốingắn,
thường triển khai một chủ đề nêu ở tiêu đề.
VD60:
Theo Ban Chỉhuy Phòng chống Lụt bão - Tìm kiếm Cứu nạn (PCLB-TKCN)
TP Cần Thơ, hiện nay, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa xuất hiện nhiều và
kéo dài trong tháng 9-2012 nên đợt triều cường đầu tháng 10 này có khả
năng lên cao, với mức xấp xỉ hoặc cao hơn báo động III (1,90m). Mực nước
dâng cao sẽ gây ngập lụt ở diện rộng, có thể gây thiệt hại cho sản xuất nông
nghiệp và cơ sở vật chất ở các địa phương.
86
Đợt triều cường giữa tháng 9-2012 đã làm 1.050ha lúa thu đông bị đổ ngã,
ngập trong nước ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch và năng suất. Để hạn chế
thiệt hạitrong đợt triều cường đầu tháng 10 này, Ban Chỉ huy PCLB-TKCN
TP Cần Thơ đề nghịUBND các quận, huyện, Ban Chỉ huy PCLB-TKCN các
cấp khẩn trương thực hiện kiểm tra, gia cố, tôn cao các tuyến bờ bao ngăn lũ
để bảo vệ lúa thu đông, các cồn trên sông Hậu; củng cố các tổ xung kích để
tuần tra, canh gác, kịp thời pháthiện và ứng cứu khi bờ baobị vỡ. Đồng thời,
Ban Chỉ huy PCLB-TKCN các cấp phải túc trực 24/24 giờ trong đợt triều
cường lên cao để nắm bắt diễn biến của mưa lũ, kịp thời đề xuất biện pháp
ứng phó với thiên tai; thông báo tình hình mực nước và vận động nông dân
chuẩn bị sẵn máy bơm động cơ để kịp thời bơm nước ra khỏi ruộng lúa, vườn
cây ăn trái, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do triều cường gây ra...
CT,29-9-2012
VD61:
Sở Y tế vừa có Công văn số 1636/SYT-NVY triển khai thực hiện mức thu đối
với một số dịch vụ khám, chữa bệnh năm 2012 theo quy định của UBND TP
Cần Thơ ban hành và bắt đầu thực hiện từ ngày1-8-2012. Theođó, Giám đốc
các cơ sở khám, chữa bệnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thực
hiện các chế độ miễn giảm viện phí cho người bệnh đúng theo quy định; chấn
chỉnh tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ, nhân viên y tế, nâng cao chất
lượng điều trị, chăm sóc người bệnh... Sở Y tế cũng đề nghị Bảo hiểm xã hội
thành phốphối hợp và hỗ trợ các cơ sở khám, chữa bệnh trong việc thực hiện
mức thu viện phí theo quy định mới ban hành.
Theo chỉ đạocủa UBND thành phố, Giám đốc Sở Y tế chịu trách nhiệm trước
UBND thành phố nếu để xảy ra tiêu cực hoặc phản ánh về thái độ phục vụ
của nhân viên ngành y tế thuộc địa bàn quản lý.
CT, 13-7-2012
87
2.4.2. Mô hình 2
Tương tự, kết quả khảo sát 1.500 văn bản tin tức thì mô hình văn bản
bao gồm 3 thành phần là phần mở đầu, phần triển khai và phần kết luận chiếm
tỉ lệ 825/1.500% ( 55%). Những văn bản được cấu tạo theo mô hình này
thường có độ dài lớn, nêu lên những sự kiện lớn, có giá trị tác động mạnh mẽ
trong cộng đồng xã hội. Trong quá trình khảo sát, luận văn nhận thấy dù ở mô
hình nào thì thông tin hạt nhân cũng tập trung ở tiêu đề ( bao gồm thượng đề,
đề và hạ đề), những thông tin vệ tinh lần lượt được triển khai theo trình tự
không gian, thời gian, diễn biến của sự kiện trong bản tin.
VD62:
Ngày 26-9-2012, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống đã có
buổi làm việc với Sở Công thương TP Cần Thơ và Ban quản lý các khu Chế
xuất và Công nghiệp Cần Thơ về tình hình hoạt động 9 tháng đầu năm và việc
thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2012.
Theo Sở Công thương, 9 tháng đầu năm 2012tình hình kinh tế thành phố vẫn
còn nhiều khó khăn. Doanh nghiệp còn khó tiếp cận các nguồn vốn vay với lãi
suất ưu đãi, tình hình sản xuất không ổn định, hàng hóa xuấtkhẩu gặp khó về
thị trường tiêu thụ và giá giảm thấp nên kết quả các chỉ tiêu 9 tháng so với kế
hoạch 2012 đạtthấp, song so với cùng kỳ năm trước có tăng. Giá trị sản xuất
công nghiệp ước thực hiện là 17.239 tỉ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm
trước. Tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng hóa và doanh thu dịch vụ ngoại tệ ước
thực hiện 937 triệu USD, đạt 62,46% so với kế hoạch năm, tăng 22% so với
cùng kỳ năm trước. Tình hình lưu chuyển hàng hóa trên thị trường tương đối
ổn định, công tác dự trữ hàng hóa và tổ chức các điểm bán lẻ bình ổn giá
được tổ chức tốt, không có tình trạng khan hiếm hàng, tăng giá đột biến. Báo
cáo của Ban quản lý các khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ cũng cho
thấy, tình hình sản xuất công nghiệp trong 9 tháng đầu năm gặp nhiều khó
88
khăn, có 9 doanh nghiệp trong các khu chế xuất và công nghiệp đã phải
ngưng hoạt động, 2 doanh nghiệp bị vỡ nợ và có nhiều doanh nghiệp đang
hoạt động không có lợi nhuận… Dù các khu chế xuất và công nghiệp thu hút
được 14 dự án, nhưng tổng vốn đăng ký của các dự án nàychỉ bằng phânnửa
vốn của các dự án đăng ký trong cùng kỳ năm trước.
Phátbiểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành
Thống đã nhấn mạnh, trong 3 tháng còn lại của năm 2012 ngành công
thương thành phốcần phải nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra
trong năm. Trước tình hình khó khăn của sản xuất công nghiệp và doanh
nghiệp nói chung, Ban quảnlý các khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ và
Sở Công thương thành phốphảitiếp tục quan tâm và có các hành động cụ thể
giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh
các hoạt động hỗ trợ và thu hút nhà đầu tư đến làm ăn tại thành phố. Đặc
biệt, Sở Công thương thành phốcần phảităng cường công tác kiểm tra, quản
lý thị trường và bình ổn giá trong những tháng cuối năm…
CT,26-9-2012
VD63:
Ngày29-9-2012, SởTưpháp TP Cần Thơ tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ về
công chứng và các nghiệp vụ về khoa học kỹ thuật hình sự có liên quan đến
lĩnh vực công chứng cho các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn
thành phố.
Trong thời gian tập huấn các công chứng viên, cán bộ và nhân viên hành
nghềcông chứng được học tập theo 5 chuyên đề với các nội dung như:Những
kinh nghiệm thực tiễn về hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh... hợp đồng
chuyển nhượng, hợp đồng góp vốn; giao dịch thừa kế; hợp đồng ủy quyền đối
với các dự án tái định cư, khu dân cư; các nghiệp vụ về lĩnh vực khoa học kỹ
thuật hình sự có liên quan đến nghiệp vụ công chứng…
89
Đợt tập huấn nàynhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực công
chứng, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của
những người đang làm việc tại các tổ chức hành nghề công chứng. Theo kế
hoạch, lớp tập huấn sẽ kết thúc vào ngày 7-10-2012.
CT, 29-9-2012
Hầu hết văn bản ở mô hình thứ hai đều có độ dài lớn hơn so với mô
hình thứ nhất.
Có thể thấy, tin tức là xương sống của tờ báo, là thể loại hạt nhân trong
các thể loại báo chí. Do vậy, việc tìm hiểu tổ chức văn bản ở thể loại tin tức
phần nào thấy được đặc trưng chung trong việc cấu thành các văn bản báo chí
trên nhật báo Cần Thơ. Do quy định về độ dài ngắn cũng như quy mô thông
tin, đặc điểm thể loại nên bên cạnh những đặc điểm chung, các thể loại văn
bản báo chí khác như phóng sự, ghi nhanh, phỏng vấn có một số điểm khác so
với thể loại tin tức. Trước hết về độ dài, văn bản tin tức thường có độ dài
ngắn. Cấu tạo tiêu đề thường đơn giản, bao gồm thượng đề, đề và hạ đề,
nhưng không phải văn bản nào cũng xuất hiện đồng thời các bộ phận trên. Đối
với thể loại phỏng vấn, phóng sự, bên cạnh tiêu đề còncó các tiêu đề bộ phận,
đóng vai trò là những thông tin hạt nhân phụ bên cạnh thông tin hạt nhân
chính được nêu ra ở tiêu đề chính và dẫn đề.
VD64:
Tiêu đề Thông tin tiền hạt nhân Đừng để nhà cổ đồng bằng bị maimột!
Những ngôiđình, chùa, miếu, mạo, nhà
ở… cổ xưa ở ĐBSCL mangnhữngdấu
ấn văn hóa, lịch sử, kinh tế – xã hội
Dẫn đề Thông tin hạt nhân trong suốt quá trình hơn 300 năm hình
thành và pháttriển vùng đất này, lưu
dấu bản sắc rất riêng của cư dân vùng
sông nước miền Tây. Tuynhiên, dưới tác
90
động của thời gian và con người, những
ngôi nhà cổ nàyđang bị xuống cấp
nghiêm trọng, có nguycơ bị mai một.
Dấu ấn lịch sử trăm năm của đồng
bằng ( tiêu đề bộ phận)
Căn cứ LuậtDi sản văn hóa năm 2001,
Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của
LuậtDi sản văn hóa và Nghịđịnh số
98/2010/NĐ-CPngày21 tháng 9 năm
2010 của Chính phủ, nhữngngôinhà có
niên đạitừ 80 đến 100 năm tuổi được
Thông tin vệ tinh 1 đưa vào danh sách lập hồ sơ bảo tồn,
bảo tàng;những ngôinhà có niên đạitừ
100 năm trở lên, được xếp hạng là nhà
Phần
cổ và có kế hoạch bảo vệ. Những nhà cổ
có gắn với yếu tố, tiêu chí đặcthù khác
phát như: lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ
triển thuậtthì sẽ được xếp hạng ditích theo
dẫn đề đúng luậtDi sản văn hóa.
…
Thông tin vệ tinh 2 Thôi rồi, nhà cổ... ( tiêu đề bộ phận)
Những ngôinhà cổ ĐBSCL bềthế và
mang đậm giá trị kiến trúc, lịch sử là
vậy nên trùng tu, tôn tạo di tích là điều
phảilàm. Tuy nhiên, công việc này hiện
nay còn nhiều điều bất cập. Hậu quả là
tháng năm cứ đi qua, những ngôinhà cổ
dần bị mai một, biến dạng, thậm chí
nhiều ngôi nhà đã biến mất
.…
CT, 29-5-2011
91
Qua ví dụ trên, xét về mặt cấu trúc thông tin ta có thể chia văn bản làm
2 phần cơ bản là phần nêu thông tin hạt nhân và phần nêu các thông tin vệ
tinh, thực hiện chức năng phát triển thông tin hạt nhân trong văn bản. Ở đây
thông tin hạt nhân chính là tiêu đề và đề dẫn của văn bản. Các thông tin vệ
tinh chính là những nội dung nằm ở tiêu đề bộ phận của văn bản.
Ở phần cơ sở lý luận của luận văn ta đã từng nhắc đến tính thông tin và
tính thời sự của một văn bản báo chí. Và hai đặc trưng này của văn bản báo
chí có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc hình thành nên cấu trúc thông tin hoàn
chỉnh của một thông tin báo chí. Qua khảo sát ngữ liệu ta thấy một thông tin
báo chí cơ bản thường bao gồm đầy đủ các phần: tiêu đề, đề dẫn, tiêu đề bộ
phận, phần thân văn bản và tiểu kết. Tuy nhiên, tùy theo thể loại báo chí mà
có hay không sự xuất hiện đầy đủ các thành phần. Đồng thời, điều quan trọng
mà người viết nhận diện được trong một cấu trúc thông tin ở các thể loại báo
chí trên nhật báo Cần Thơ là bộ phận tiêu đề kết hợp với dẫn đề thường nêu
chủ đề của toàn văn bản, đóng vai trò là thông tin hạt nhân của văn bản. Dù
văn bản được trình bày theo kết cấu nào thì các nội dung trong phần còn lại
của văn bản luôn đóng vai trò là phần phát triển thông tin hạt nhân, giữ chức
năng của những thông tin vệ tinh xoay quanh thông tin hạt nhân đã nêu trước
đó. Điều này đáp ứng đúng yêu cầu của đặc trưng văn bản báo chí, phù hợp
với thị hiếu của đông đảo độc giả hiện đại là nhanh, gọn, lẹ, vừa đáp ứng yêu
cầu của phóng viên và biên tập viên tòa soạn: cái gì quan trọng nói trước,
thông tin phụ, có ý nghĩa giải thích, bổ sung thông tin thì nói sau.
Ở những văn bản không có phần dẫn đề, phần mở đầu của văn bản báo
đóng vai trò là thông tin hạt nhân. Nội dung ở phần mở đầu có thể là việc
trình bày lại một sự kiện hay một lời phát biểu của lãnh đạo. Phần thân còn lại
của văn bản là việc triển khai, chứng minh, giải thích cho vấn đề đã nêu ra
trước đó.
92
Trong quá trình khảo sát văn bản, người viết bắt gặp những trường hợp
văn bản có cấu trúc thông tin khác thường. Có nghĩa là những thông tin giữ
vai trò thông tin vệ tinh được nêu đầu tiên. Phần tiểu kết của văn bản chính là
thông tin hạt nhân của văn bản. Những bài viết có cấu trúc này thì thông tin
hạt nhân ở cuối văn bản thường là những bài học được rút ra từ sự kiện đã
nêu. Ở đó gián tiếp xuất hiện cái tôi của tác giả với những lời khuyên, lời
khuyến cáo, răn đe, nêu đạo lý đời thường về sự việc đáng tiếc đã xảy ra.
Phần thân văn bản báo thường bao gồm nhiều đoạn văn cấu thành,
trong đó được đánh dấu bằng những tiêu đề bộ phận. Tuy nhiên có những
trường hợp ngoại lệ, việc phân chia các đoạn thuộc những chủ đề thông tin
khác nhau không được đánh dấu bằng tiêu đề bộ phận mà được đánh dấu về
mặt hình thức, có thể là dấu hoa thị ở giữa các đoạn thuộc các chủ đề khác
nhau.
Thể loại phóng sự thường có cấu trúc thông tin hoàn chỉnh, xét cả về
mặt hình thức lẫn nội dung. Trên nhật báo Cần Thơ, thể loại phóng sự thường
bao gồm một loạt bài nhiều kỳ nhằm thể hiện cùng một chủ đề, được trình bày
đều đặn ở các số báo ra liên tiếp của tờ nhật báo. Tính chất liên văn bản này
không chỉ thể hiện ở thể loại phóng sự mà còn được thể hiện ở một số thể loại
khác như điều tra, bút ký, bình luận, v.v…
Phần kết của văn bản cũng nằm trong chỉnh thể văn bản giúp văn bản trở
thành một chỉnh thể thống nhất, chặt chẽ.
Mạch lạc văn bản được trình bày theo nhiều kiểu khác nhau, có thể kể:
mạch lạc theo trình tự thời gian, trình tự không gian, cũng có khi kết hợp cả
hai, mạch lạc theo đặc điểm của nhân vật hoặc theo một trong các yếu tố của
cấu trúc thông tin 5W + 1H.
Như chúng ta đã nói, thể loại văn bản chi phối đến cấu trúc văn bản.
Qua khảo sát ta thấy, thể loại sự kiện và lời bình có cấu trúc văn bản theo kết
93
cấu quy nạp: từ chi tiết, sự kiện đơn lẻ đi đến nhận xét, tổng kết mang tầm
khái quát, mang tính vĩ mô, đa chiều, toàn diện. Còn kết cấu của thể loại sự
kiện và lời bình thường không thấy sự xuất hiện của bộ phận dẫn đề. Đoạn mở
đầu văn bản đảm đương chức năng của đoạn dẫn đề, nêu sự kiện thời sự vừa
mới diễn ra, mang tính có vấn đề. Chủ đề của thể loại này không thể đọc lên
được trên ý nghĩa hiển ngôn mà phải được rút ra từ sự tổng hợp các dẫn chứng
và lý lẽ.
2.5. Màu sắc địa phương Nam Bộ
Bên trên luận văn đã trình bày lần lượt về mặt hình thức các cấp độ
ngôn ngữ cấu thành một văn bản báo chí, từ đó tìm ra các yếu tố chi phối
ngôn ngữ văn bản báo chí cũng như tìm ra một số đặc trưng về mặt hình thức
cũng như nội dung của ngôn ngữ báo chí trên nhật báo Cần Thơ. Tiếp theo ở
phần cuối này, người viết muốn đi sâu khai thác hệ thống từ vựng có nét riêng
bao gồm nhiều tiểu hệ thống như địa danh, từ ngữ chỉ sản vật, đặc sản địa
phương, các biến thể ngữ âm so với hệ thống ngữ âm toàn dân… Xét theo tính
hệ thống, có thể phân chia các cấp bậc ngôn ngữ như sau: từ ngữ địa phương
gồm từ biến thể ngữ âm và từ không biến thể ngữ âm; từ không biến thể ngữ
âm gồm từ biến thể ngữ nghĩa ( gồm đồng nghĩa và khác nghĩa) và từ không
biến thể ngữ nghĩa ( gồm biến thể hình thức- cú pháp và không biến thể hình
thức). Đặc biệt, tiểu mục không biến thể hình thức bao gồm từ phổ thông; đặc
phương ngữ; thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ; từ ngữ chỉ sản vật địa phương;
nhân xưng; danh xưng ( gồm địa danh và nhân danh).
Nhìn chung, ngôn ngữ báo chí có khuynh hướng sử dụng vốn ngôn ngữ
toàn dân, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đông đảo bạn đọc chứ không
giới hạn đối tượng vùng miền nào, dù báo Cần Thơ là một tờ báo Đảng của
địa phương. Song, trong quá trình tạo lập văn bản, đội ngũ phóng viên, qua lời
ăn tiếng nói của mình đề cập đến những vấn đề cụ thể của địa phương dù
94
vô tình hay cố ý đều ít nhiều có sử dụng hệ thống phương ngữ. Cần lưu ý
rằng, đối với văn bản tin tức, dù là tin tức địa phương, màu sắc riêng được thể
hiện rất mờ nhạt. Như vậy, đặc trưng phương ngữ chỉ được thể hiện ở một số
thể loại còn lại. Nói cụ thể, bên cạnh sự xuất hiện của phương ngữ trong trích
dẫn trực tiếp lời nói của người dân địa phương ta còn thấy màu sắc Nam Bộ
được thể hiện ở từng địa danh, ở những sản vật địa phương, ở tính cách con
người miền Nam xuất hiện ngồn ngộn trong từng số báo ra hàng ngày.
Như vậy, trong nhận thức của chúng tôi, màu sắc được hiểu là những
nét đặc thù và màu sắc địa phương Nam Bộ là những đặc điểm riêng được thể
hiện trong ngôn từ rõ nhất là từ vựng và một số kiểu biểu đạt khác. Và như đã
phân giải, do tính chất thuần nhất của phương ngữ Nam Bộ, nên những đặc
điểm kể ra sau đây cũng là nét riêng của cả lời ăn tiếng nói Nam Bộ chứ
không chỉ riêng ở Cần Thơ. Và cũng như đã nói, tiếng Việt là một ngôn ngữ
thống nhất, những quan sát bên dưới của luận văn chủ yếu căn cứ vào độ đậm
nhạt, phổ biến, không phổ biến, chứ không được hình thành từ thế đối lập có
không.
Ví dụ từ mần, thoạt nhìn từ mần dễ tưởng là đặc sản của Nam Bộ, nhưng
qua tra cứu, hiện nay từ này vẫn còn được sử dụng ở một số phương ngữ miền
Trung, tuy rất hạn chế. Trong khi đó, ở phương ngữ đang xét, mần được sử
dụng khá rộng rãi. Và như vậy mần được coi là đặc trưng của Nam Bộ.
2.5.1. Từbiến thể ngữ âm
So với tiếng Việt toàn dân, do nhiều lý do trong và ngoài ngôn ngữ, hệ
thống ngữ âm phương ngữ Nam Bộ nói chung, Cần Thơ nói riêng có một số
cách phát âm là chệch đi, ví dụ, bịnh- bệnh, chưn- chân, chánh- chính, mơi-
mai, thúi- thối, gởi- gửi… Tuy số lượng loại từ này không nhiều nhưng chính
chúng là phương tiện tạo ra nét riêng không chỉ trong lời dẫn mà cả trong
ngôn ngữ miêu tả.
95
VD65: Về từ thúi- thối
Ông Nguyễn Văn Hai, ngườidân ở ấp Thạnh Lợi A, cho biết: "Nhà tui
có 6 người, ai cũng bị viêm mũi dị ứng vì mùi hôi của rác, nhưng khổ hơn là
cây nước nhà tôi đã bị nhiễm bẩn, nước nấu chín uống vẫn có mùi thúi của
phân rác"… Tình trạng bãi rác Tân Long gây ô nhiễm nguồn nước không thể
khắc phụcđược, do đây là bãi rác lộ thiên rộng đến 20 ha. Mỗi khi trời mưa,
nước mưa thấm qua rác, bãi rác còn có 3/7 ô chứa rác chưa trải địa (trải
nhựa để chống thấm), nên lượng nước mưa thấm qua rác không chỉ chảy ra
con sông phía sau mà nguy hiểm hơn là ngấm vào tầng nước ngầm, làm cho
nguồn nước trong các cây nước của nhà dân có mùi hôi thúi.
CT, 16-09-2012
2.5.2. Từngữ địa phương
Xét một cách nghiêm ngặt, hệ thống từ ngữ địa phương là một tập hợp
bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau trong đó có cả từ ngữ biến thể ngữ âm (liên
quan đến mặt hình thức của từ) cả những từ chỉ sản vật, đặc sản chỉ có ở Nam
Bộ (liên quan đến những sở chỉ khác nhau) và cả những cách xưng hô mang
tính đậm nhạt phổ biến. Nhưng ở đây, để tiện làm rõ màu sắc địa phương
thông qua nhật báo Cần Thơ, luận văn tách riêng từng nhóm mặc dầu chúng
tôi biết là sự phân loại này chỉ có ý nghĩa tương đối. Và nếu như một khảo sát
nghiêm ngặt hơn, dứt khoát phải dựa vào ba đỉnh của tam giác ngữ nghĩa từ.
Với cách hình dung đó, tại tiểu mục này, luận văn chỉ tập trung khảo sát
loại cùng một sự vật, một hiện tượng, mà được gọi bằng những tên khác nhau
ở những vùng khác nhau: cá lóc- cá tràu/ cá quả/ cá chuối; bắp- ngô, bông-
hoa, heo- lợn, khoai- sắn,…
So với các vùng khác, thì cách gọi tên này ít nhiều mang dấu ấn của
một vùng đất. Hãy quan sát các ví dụ sau:
VD66:
96
Mỗi năm, đầu mùa lũ, ông Nguyễn Văn Tuấn, ở thị trấn Vĩnh Thạnh,
huyện Vĩnh Thạnh đều thả nuôi cá lóc trong ao gần nhà và mua lưới bén
giăng cá mồi ngoài tự nhiên làm thức ăn cho cá, vừa tiết kiệm tiền thức ăn
cho cá, ông lại có thu nhập tăng thêm nhờ bán lượng cá mồi đánh bắt được...
Và sau mùa lũ, gia đình ông có một khoản thu nhập lớn khi thu hoạch cá lóc
nuôi. Ông Nguyễn Văn Tuấnbộc bạch:“Năm nay, gia đình tôi thả nuôi 2.500
con cá lóc. Mấy ngày nay, gia đình tôi giăng trên 10 tay lưới (mỗi tay dài
80m) nhưng mỗi ngày chỉ được vài ký cá, chưa đủ làm mồi cho đàn cá lóc
đang nuôinói chi đem bán kiếm thêm thu nhập nhưmùa lũ trước. Tôi hy vọng
tới đây nước lũ sẽ về nhiều hơn, đánh bắt nhiều cá để không phải tốn thêm
tiền mua thức ăn cho cá lóc nuôi...”.
CT, 13-09-2012
VD67:
Ở xứ Cái Sơn, ông Hai Thảo được nhiều người biết đến bởi có nhiều kinh
nghiệm trong canh tác màu. Dẫn chúng tôi tham quan hơn 1 mẫu đất trồng
bắp nếp đang cho trái, hứa hẹn vụ mùa bội thu, ông Hai Thảo khoe: “Năm
rồi tôi trúng đậm cây ớt sừng vàng Châu Phi và dưa hấu, trừ chi phí, bỏ túi
trên 100 triệu đồng. Năm nay, thấy bà con ở đây trồng 2 loại cây này nhiều
quá sợ bị dội hàng, tôi chuyển sang trồng cây bắp nếp, mè. Còn hơn nửa
tháng nữa mới thu hoạch nhưng thương lái đã bỏ cọc, nếu suôn sẻ vụ mùa
này kiếm lời cũng kha khá”. Canh tác hơn 1 ha đất trồng lúa, 5 công vườn
nhưng nhiều năm nay, ông Hai Thảovẫn trung thành với cây màu nhướt, dưa
hấu, bí hồ lô, cà phổi,... Bởi theo ông Hai Thảo, trồng màu thời gian thu
hoạch ngắn nhưng hiệu quả kinh tế cao.
CT, 09-04-2012
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng hiện nay tiếng Việt có một sự tiếp xúc rất
rộng rãi giữa các phương ngữ, điều này thể hiện sự di dân, sự xáo trộn về mặt
97
dân số. Và điều này được thể hiện trong ngôn ngữ. Theo quan sát của chúng
tôi, trên báo Cần Thơ cũng có.
VD68:
Trước đâyvợ chồng chị Ngọc - anh Khen sống ở phường Tân An, Ninh Kiều.
Năm 1987, cha mẹ chồng già yếu, người em út của anh Khen công tác ở xa
nên anh chị dọn về gần nhà cha mẹ ruột của anh Khen (nay thuộc phường
Phú Thứ, quận CáiRăng), đểtiện việc chăm sóc cho bố mẹ. Năm đó, con trai
đầu lòng của anh chị mới được 5 tuổi. ChịNgọc nhớ lại: “Lúcbấy giờ kinh tế
gia đình rất khó khăn, thu nhập chủ yếu là nhờ vào hoa lợi từ mấy công vườn
tạp. Hàng ngày, tôi mang trái cây, rau cải ra chợ bán và phải mang con theo
vì ông bà đã già yếu, ông xã tôi thì lo vườn tược, đi soi cá bống kiếm thêm
thức ăn hàng ngày, hoàn cảnh túng thiếu vô cùng...”. Anh Khen tiếp lời vợ:
“Thờigian đó, cha tôi bệnh nặng nằm một chỗ, việc chăm sóc cha đều do vợ
tôi gánh vác. Ai cũng khen vợ tôi phụng dưỡng cha mẹchồng rất chu đáo cho
đến khi cha mẹ tôi qua đời”. Dù cuộc sống chật vật, anh chị luôn động viên
nhau cố gắng vượt qua khó khăn, cùng lo cải tạo vườn tược và chăn nuôi heo.
Trong quá trình cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn trái, chị tranh thủ trồng
xen rau màu để “lấy ngắn nuôi dài”. Năm 1990 chị sinh thêm con gái, tuy
việc chăm sóc, dạy dỗ 2 con nhỏvất vả nhưng chị luôn đảm đang cùng chồng
làm lụng, chăn nuôiđể pháttriển kinh tế gia đình. Năm 2006, khi kinh tế gia
đình dần ổn định, vườn cây ăn trái cho thu nhập khoảng 40 triệu đồng/năm,
chị bắt đầu tham gia công tác phụ nữ ở khu vực, được hội viên tín nhiệm bầu
làm Chihội trưởng. Trong công tác, chị Ngọc luôn gần gũi, quan tâm giúp đỡ
hội viên, nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ và nhận được nhiều giấy khen.
CT,27-6-2011
98
2.5.3. Từngữ xưng hô
Bên cạnh hệ thống đại từ, kiểu như ổng, chỉ, bả, dưỡng, dĩ, có thể nói
xu hướng xưng hô ngoại hóa là nét riêng của Nam Bộ. Nói cụ thể, người ta
gọi dì, cậu phổ biến hơn cô, chú. Và có thể kể thêm cách xưng hô bằng thứ
như anh Hai, chị Sáu, cậu Tám cũng có thể coi là nét riêng. Theo quan sát của
chúng tôi, các từ ngữ vừa nêu xuất hiện nhiều ở lời dẫn trực tiếp.
VD69:
Ở thời buổi đất đaingàycàng đắt đỏ, vậy mà ông Lý Văn Tăng (TưTăng), 70
tuổi, ở khu vực Thuận An 4, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ,
bán 5 công đấttrị giá gần 350 triệu đồng để bắc cầu cho bà con đi lại thuận
tiện. Tiền bán đất không đủ, ông lấy hết số tiền gởi tiết kiệm dưỡng già, rồi
vay mượn thêm của người thân, không để chuyện tiền nong ảnh hưởng đến
tiến độ thi công. Không chỉ là người đi đầu trong công tác từ thiện - xã hội,
lão nông Tư Tăng còn làm nhiều người cảm phục bởi nếp sống chuẩn mực,
chan hòa, luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác.
CT, 20-12-2010
VD70:
Chúng tôi gặp Lê Huỳnh NhấtSinh khi em đang ở Trung tâm học liệu Trường
Đại học Cần Thơ. Sinh ra tại ấp Mỹ Thới 2, xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh,
tỉnh Vĩnh Long, từ nhỏ Sinh đã thiếu sự chăm sóc của mẹ. Khi Sinh được 9
tuổi, mẹ của Sinh qua đời vì bệnh nặng. Sau đó 2 năm, ba Sinh bước thêm
bước nữa. Từ một gia đình khá giả, gia đình của Sinh lâm vào cảnh nợ nần, 3
anh chị của Sinh không được học hành đến nơi đến chốn. Không khí gia đình
càng không vui vẻ khi chị Hai, chị Tư của Sinh rời quê lên TP Hồ Chí Minh
để làm thuê, làm mướn.
CT,16-11-2010
99
Có thể nói được là dựa vào khảo sát 100 lời dẫn trực tiếp, chúng tôi ghi
nhận có đến hơn 70% phát ngôn có chứa màu sắc địa phương. Màu sắc địa
phương này đa dạng và phong phú. Có khi đó chỉ là những từ nhấn nhá đệm
lót, nghen, hông, hén.
VD71:
Vươn lên từ nghèo khó, vợ chồng ông Đào Phấn không chỉ được bà con lối
xóm quýmến ở tính cần cù lao động mà còn là tấm gương vượt khó làm giàu.
“Ở xứ này, mấy chục năm trước, khó tay nào cắt lúa mướn qua Đào Phấn à
nghen!” - ông Thạch Đông, thường nói thế mỗi khi nhắcđến ông bạn già của
mình.
CT, 20-01-2012
Hoặc là cách nói có sức gợi tả rất lớn, chảng bànhki, rẻ nhưbèo,…
VD72:
Những ngườiphu xẻ đá ở Hòn Sóc nói, vì không có ruộng đấtnên họ phảiđeo
theo nghề đá, tiền công hiện nay rẻ như bèo. “Nhiều người thấy thợ xẻ đá
cuối ngày làm việc lãnh tiền công 100.000 đồng- 200.000 đồng/ngày/người
thì cho rằng nghề đá mau giàu.
CT,22-4-2011
Có khi đó là những từ ngữ đưa đẩy, mình ên, ta nói,…
VD73:
Biết vợ, con cần mình anh Tùng không cho phép mình dừng lại. Anh
tiếp tục hành trình tìm hạnh phúc. Con rạch Bằng Lăng những năm 90 tôm cá
cạn dần, ốc hến cũng ít, do bị ô nhiễm. Anh “lên bờ” học nghề đan bội,
thúng, nia và nghề mộc. Chị Đức nói gọn lỏn nhưng không dấu vẻ tự hào:
“Không có đôi chân nhưng đôi tay ảnh nhanh lắm, nhìn là học được ngay.
Nghềđan với mộc nàyđâu có ai dạy, ảnh học lóm mình ên đó chớ. Đâu phải
ai lành lặn cũng làm được như ảnh”.
CT, 30-7-2012
100
Còn những lời tường thuật, những lời miêu tả ( ngôn ngữ phóng sự, ghi
nhanh của người tạo lập văn bản) thì tần suất xuất hiện của chúng rất thấp.
Quan sát phóng sự dài 1200 âm tiết, chúng tôi ghi nhận chỉ 3, 4 từ màu sắc địa
phương. Tuy nhiên, sức gợi tả, sức biểu cảm của chúng là hết sức lớn.
VD74:
Những người thợ xẻ đá ở Hòn Sóc luôn miệng than, đổ mồ hôi, đổ máu làm
việc cực khổ, công xá rẻ mạt nên chẳng tích lũy được. Nhưng ông Nguyễn
Quốc Đoàn nói, một ngàythợ đá thu nhập 100.000 đồng- 200.000 đồng mà
không tích cóp, dành dụm được tiền là vô lý. “Lâu nay ở các bãi đá vẫn tồn
tại dai dẳng nhiều tệ nạn, tình hình trật tự trị an rất phức tạp. Chồng suốt
ngàyquần quậtngoàibãiđá kiếm tiền, chiều về nhậu nhẹt say sưa, trong khi
vợ ở nhà tụ tập đánh bàiăn tiền... Hầu như tháng nào công an xã cũng xử lý
vài vụ cờ bạc, đánh ghen, nhậu say gây rối. Cứ như vậy thì làm sao mà khá
lên cho được”, ông Đoàn nói.
Theo Sở Xây dựng tỉnh Kiên Giang, hiện nay quanh núi Hòn Sóc có đến 10
doanh nghiệp được cấp phép khai thác đá, trữ lượng cho phép khai thác lên
đến hơn 25.000.000m3.Đó là chưa kể hơn chục bãi đá khai thác tự phát của
cư dân địa phương. Bà Võ Ngọc Thứ, Giám đốc Sở Lao động- Thương binh
và Xã hội Kiên Giang, cho biết dù khai thác đá là một nghềhết sức nguyhiểm
nhưng tình trạng bảo hộ lao động ở các mỏ đá rất kém. “Hiện nay, trên địa
bàn tỉnh có hơn 3.000 lao động làm việc ở các mỏ đá, nhưng 10 người làm
nghề khai thác đá thì hết 9 người không thèm trang bị bảo hộ lao động, dù
các cơ quan hữu trách thường đến kiểm tra, nhắc nhở”, bà Thứ nói. Những
người thợ đá ở Hòn Sóc, dụng cụ hành nghềchỉ là vài chiếc đụclớn nhỏ bằng
thép và chiếc búa, nón vải, chân trần, lâu lâu mới thấy một người mang được
đôi găng taybảo hộ lao động. Mỗi nhát đục chạm vào phiến đá, vụn đá bắn
ra xung quanh ràorào, nhưng chẳng thấyphu đá nào mang kính bảo vệ mắt.
101
“Ở đây, chuyện đập búa vào tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như cơm bữa,
riết rồi thợ nào cũng quen”, ông Châu Kha nói. Theo ông Nguyễn Quốc
Đoàn, từ trước đến nay khi xảy ra tai nạn nghiêm trọng, phu đá bị thương tật
nặng hoặcmạng vong, nếu các chủ mỏ đá, bãi đá có thông báo thì UBND xã
mới biết. “Nếu chủ mỏ ém nhẹm tai nạn để tự thỏa thuận bồi thường với nạn
nhân thìUBND xã và các cơ quan hữu trách cũng mù tịt. Những tai nạn nhỏ
như đá bắn vào mắt, đập búa giập tay, chân, đá lăn đè gâythương tích xảy ra
hà rằm... nhưng UBND xã vô phương thống kê vì không ai báo cáo”, ông
Đoàn nói. Ông Nguyễn Thiện Tấn, Thanhtra sở LĐ-TB&XH Kiên Giang, cho
biết khi kiểm tra an toàn lao động thì thợ đá nói trang bị bảo hộ lao động
cồng kềnh, vướng víu và nóng bức, làm việc giảm năng suất nên họ không sử
dụng; còn chủ mỏ đá thì trả lời lửng lơ: có trang bị bảo hộ nhưng phu đá
không chịu sử dụng, rốt cuộc các cơ quan hữu trách chẳng phạt vạ được ai.
2.5.4. Địa danh
Nhìn chung, địa danh trong tiếng Việt có hai xu hướng, một là thuần
Việt, thường là những từ đơn, từ xưa, từ cổ xuất hiện rất nhiều ở phía Bắc. Xu
hướng thứ hai là thể hiện bằng các từ Hán Việt, thể hiện khát vọng hòa bình
no ấm, hạnh phúc của nhân dân. Bên cạnh đó, địa danh trong tiếng Việt còn
ghi dấu ấn Nam tiến của dân tộc. Khá nhiều địa danh của vùng biển phía Bắc
được đặt tên cho vùng biển của Trung Bộ. Địa danh Nam Trung Bộ và Nam
Bộ có gốc gác từ miền Trung. Chẳng hạn dọc theo bờ biển Việt Nam có rất
nhiều địa danh được lặp đi lặp lại, ví dụ như Cửa Đại, Tư Hiền, Đập Đá hay
Cầu Đá. Nhìn chung Nam Bộ cũng có những đặc điểm này, bên cạnh đó nó
cũng có những nét riêng.
Thứ nhất, địa danh của Nam Bộ mang nhiều yếu tố địa hình.
VD75: Xẻo, vàm, dòng
102
Ngày30-8-2012, tạiNgã ba Vàm Nhon, huyện Thới Lai đã diễn ra lễ khánh
thành và thông xe tuyến đường vào trung tâm xã Định Môn- Trường Thành.
CT, 30-8-2012
VD76:
Trưa chủ nhật2-10, chúng tôi thuê xe ôm mới đến được khu vực đê bao bị bể
hôm 27-9 ở xã Ô Long Vĩ, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang - vì cách đó gần
10 cây số chỗ ấp Mỹ Quí, xã Mỹ Phú, một chiếc xe cạp đấtđang đóng cừ tràm
hộ đê làm tắt đường ô tô.
CT, 05-10-2011
VD77:
Hằng ngày, bên chái nhà đơn sơ, cũ kỹ ở ấp Thới Hiệp B, xã Xuân Thắng,
huyện Cờ Đỏ (TP Cần Thơ), em Trần Thị Thoại Nhi, học sinh lớp 11B5,
Trường THPT Thới Lai, lặng lẽ ngồi bên mẹ phụ chuốt từng cọng dừa để bó
chổi bán.
CT, 23-2-2012
Bên cạnh đó, khoảng 20, 30 năm gần đây, ở vùng Nam Bộ xuất hiện
cách đặt những địa danh mới thường theo các con số, ví dụ xã 18, xã 1000,
Bốn Tổng Một Ngàn.
VD78:
Dự án Tuyến giao thông Bốn Tổng - Một Ngàn (BT-MN)điqua địa bàn huyện
Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Thới Lai đang tất bật thi công để khánh thành giai
đoạn 1 vào giữa tháng 5-2010 và hoàn thành toàn bộ dự án nối liền với tỉnh
Hậu Giang vào đầu quíI/2010. Con đường mới thênh thang, haibên là những
cánh đồng lúa trĩu hạt đang mở ra một tương lai tươi sáng cho vùng đất
ngoại thành..
CT, 6-3-2012
103
Chưa bàn đến cách đặt tên ở nhóm 3, nó có bảo đảm được tính dân tộc
hay không, nó có thể hiện được khát vọng của nhân dân hay không, hay đó
chỉ là những con số hoàn toàn lạnh lùng máy móc, tuy nhiên sự xuất hiện của
3 nhóm địa danh vừa kể trên rõ ràng là tạo được nét riêng, người vùng khác
dễ nhận diện đó chỉ có thể là vùng đất Nam Bộ.
2.5.5. Sảnvật địa phương
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, nhìn chung hầu như địa
phương nào cũng có những sản vật. Sản vật được chia làm 2 nhóm, một nhóm
là nhân tạo ví dụ như đường phổi, đường phèn, bạch nha, kẹo gương ở Trung
Bộ… hay bánh pía, bánhkhọt, lẩu mắm, đường Thốt Nốt,… và nhóm sản vật
tự nhiên như sầu riêng, măng cụt, bưởi năm roi, bòng bong, chôm chôm, cá
kèo, cá thòi lòi, ba khía, mắm ruột, dưa gang muối,…ở miền Nam.
VD79:
Từ những ngàyđầu tháng 8 đến nay, vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu tái diễn nạn
khai thác trái phép cá kèo giống, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái,
làm hủy diệt, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản thiên nhiên.
CT,4-8-2012
VD80:
Ông Lê Văn Cung, cơ sở bán cây giống ở Phú Phụng, huyện Chợ Lách cho
rằng, điều khá bất ngờdiễn ra từ đầu năm đến nay là xoài giống các loại tiêu
thụ rất mạnh, có thời điểm khan hiếm. Chỉ riêng thị trường An Giang, cơ sở
của ông đã tiêu thụ trên 200 ngàn cây giống, trong đó xoài Đài Loan chiếm
150 ngàn cây. Kế đến là mít siêu sớm tiêu thụ 50 ngàn cây, cam và quýt 20
ngàn cây, sầu riêng 15 ngàn cây, vú sữa Lò Rèn và vú sữa tím 7 ngàn cây...
Một điều tất yếu kèm theo là giá của những chủng loại cây giống này tăng
đáng kể: xoài Đài Loan từ 10.000 - 12.000 đồng/cây đã tăng lên 15.000
104
đồng/cây. Vú sữa Lò Rèn từ 12.000đồng/câytăng lên 19.000 đồng/cây. Xoài
tứ quý từ 10.000đồng/câytăng lên 12.000 đồng/cây.
CT,18-6-2012
Hiển nhiên, tất cả những hệ thống từ vựng chỉ sản vật, đặc sản của địa
phương một mặt tô đậm nét riêng của bài phóng sự, bài ghi nhanh, mặt khác
tạo ra được một tri thức nền rất gần gũi với công chúng địa phương và chính
điều này sẽ giúp cho công chúng địa phương dễ nhận thức ra vấn đề và bài
viết dễ tạo ấn tượng ở họ.
Là vùng đồng bằng phù sa màu mỡ nên miền Tây có nhiều cây trái tốt
tươi. Qua những tác phẩm báo chí ngợi ca mùa vụ bội thu của người dân miền
Tây, chúng tôi bắt gặp nào sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,… Miền Tây có
mùa nước lũ. Nước lũ đem phù sa về bồiđắp cho ruộng vườn, vừa đem nguồn
lợi thủy sản phong phú ban tặng cho người dân. Đến hẹn lại lên, mỗi khi vào
mùa nước lũ, chúng tôi bắt gặp những bài viết về mùa thu hoạch của người
dân sống bằng nghề đánh bắt, những lo toan, những hạnh phúc của người dân
mùa nước nổi trong cuộc sống đời thường. Thậm chí chúng tôi bắt gặp trên
từng trang viết những món ăn mang đậm hương sắc miền Tây mà không nơi
nào có được như cá linh nấu canh bông điên điển, tép rong chiên bánh,…
VD81:
Đặc biệt năm nào mực nước lên cao, năm đó bà con lao động nghèosẽ
có công ăn việc làm như đánh bắt, nhổbông súng, háibông điên điển và khai
thác các loài đặc sản như rắn, lươn, cua, rùa, ếch... tạo cho sinh hoạt đồng
quê trở nên rộn ràng tất bật.
CT, 25-8-2012
Nói đến Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều người nghĩ ngay đến vườn
cò Bằng Lăng,vườn chim Tam Nông ( Đồng Tháp). Hàng trăm hàng ngàn
chủng loại chim cò, có những loại thuộc về sáchđỏ thế giới cũng sinh sôi nảy
105
nở trù phú ở miệt đồng bằng phù sa màu mỡ. Có thể liệt kê tên một số loài
chim cò miệt miền Tây như: cồng cộc, bồ nông, diệc, diệc lửa, diệc mốc, trích
cồ, cúm núm, bìm bịp, vạc, cò quắm, cò ngà, cò cá, cò ruồi, cò đúm, cò sen,
cò nhạn,…
VD82:
Vốn yêu thích thiên nhiên, ông Nguyễn Ngọc Thuyền không xua đuổi hay săn
bắt chúng mà tìm cách tạo điều kiện để cò tụ họp về đông đảo hơn. Ông nói:
“Đất có lành, chim mới đậu. Bảo vệ cò, tức là góp phần bảo vệ thiên nhiên.
Từ đó, tôi quyết tâm xây dựng khu đấtnày thành vườn cò”. Đến nay, vườn cò
Bằng Lăngcó trên 300.000 con, với gần 20 chủng loại: cò quắm, cò ngà, cò
cá, cò ruồi, cò ma, cò xanh, cò rằn, cò rán, cò lép, cò đúm, cò sen, cò nhạn...
Trung bình mỗi năm cò đẻ ba đợt, mỗi đợt có khoảng 100.000 ổ, mỗi ổ từ 2-4
trứng.
CT,28-8-2012
Miền đất phù sa màu mỡ là vậy, tuy nhiên ta vẫn bắt gặp đề tài về những
vùng đất nhiễm phèn mặn ở xứ sở này.
VD83:
Dẫn chúng tôi ra cánh đồng lúa sắp đến ngàythu hoạch, ông Tư Thuận
nâng niu từng bông lúa trĩu hạt, bày tỏ: "Suốt cuộc đời mình, tôi luôn có một
tình cảm đặcbiệt dành chonông thôn với những ngườinông dân Nam bộ chất
phác, nhân hậu. Cũng vì cái tình này mà bất chấp sự ngăn cản của vợ con,
bạn bè, thayvì mở phòng mạch tư, mở nhà thuốc thì tôi quyết tâm bán hết nhà
cửa gom góp tiền lương hưu và của cải dành dụm mấy mươi năm để đầu tư
khai hoang, phục hóa mảnh đất 41 ha phèn mặn.
CT,2-9-2012
Cây lúa không đâm chồi được, đôi bàn tay người nông dân chai sần,
cuộc đời người nông dân triền miên khốn khó. Những phóng sự về cuộc đời,
106
về một địa phương nghèo khó được sự hỗ trợ quan tâm của chính quyền địa
phương về chính sách thoát nghèo cho người dân cũng phản ánh trên nhật báo
Cần Thơ.
Nói một cách khái quát mảng hiện thực trù phú của Nam Bộ là một đối
tượng miêu tả. Trước hết là để phản ánh những sự kiện, nhưng thông qua đó,
nó cũng khắc họa được chân dung, màu sắc của một vùng đất. Ở đây, xét về
lựa chọn ngôn từ, từ phía người tạo lập văn bản, cũng như nhận hiểu văn bản,
xuất phát từ tri thức nền, các mảng hiện thực vừa đề cập một mặt là các thông
tin sự kiện, mặt khác nó lại chính là thông tin tình thái để đưa đường lối chính
sách của Đảng, nhà nước địa phương đến quần chúng.
2.5.6. Thànhngữ, quán ngữ, tục ngữ
Thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ nhất là hai loại sau thường là những đơn
vị văn hóa- ngôn ngữ, đúc kết kinh nghiệm sống của nhân dân, ở Nam Bộ nói
chung, Cần Thơ nói riêng. Bên cạnh cái hệ thống quán ngữ, thành ngữ, tục
ngữ được sử dụng chung trong tiếng Việt toàn dân, ở đây còn có xuất hiện
một số hệ thống riêng. Hệ thống này bao gồm một số đơn vị khó lòng giải
thích được tính lý do, thí dụ như hết biết, nói nàongay, thiệt tình,… Còn phần
lớn những đơn vị thể hiện khá rõ cách trải nghiệm của người dân địa phương,
ví dụ như sặc rằn, nước chưn,… Đặc biệt là mảng tục ngữ, quán ngữ, thành
ngữ liên quan đến sông nước, xuất hiện cũng rất là nhiều. Ở đây cũng có đặc
điểm như vừa phân tích ở bên trên cả hai trường hợp là trong lời dẫn trực tiếp
và trong lời miêu tả. Bên cạnh đó, việc sử dụng các đơn vị này đúng nơi, đúng
chỗ nói rộng ra là đúng ngữ cảnh cũng tạo ra nét riêng cho văn bản diễn ngôn.
VD84:
Cứ thế, từng bước, từng bước đầy khập khiễng và nhọc nhằn, do không
có thăng bằng nên hễ giơ ghế lên là đầu trút xuống đất: u đầu, chảy máu
không biết bao nhiêu lần. Rồi chị đứng sau lưng anh, nắm vai anh để làm
107
điểm tựa. Từng bước chân nhọc nhằn của anh Tùng, có chị dõi theo. Nhờ vậy
mà anh đã rời chiếc xe lăn, tự di chuyển, lo sinh hoạt hằng ngày. Với anh
Tùng, mỗiniềm vui trong đời đều có hình bóng người vợ một đời tần tảo. Chị
là đôi chân để anh bước. Chịlà hạnh phúc để anh tìm. Và cũng chính chị đã
vì anh, cùng anh sau bao ngày “gừng cay muối mặn”.
CT, 30-7-2012
2.5.7. Mộtsó biểu thức diễn đạt
Biểu thức diễn đạt được hiểu là một ngữ đoạn mà xét từng yếu tố không
có yếu tố nào là mang dấu ấn địa phương nhưng trong tương tác với ngữ cảnh
thì chúng ta cảm nhận được cách nói địa phương. Sau đây là một vài nhận xét
về sự thể hiện cá tính của người Nam Bộ trên báo Cần Thơ.
VD85:
Mới tờ mờ sáng mà tiếng đục đá đã vang lên trên các bãi xẻ đá dọc theo con
đường nhựa từ thị trấn Hòn Đấtchạy vào núi Hòn Sóc. Những người phu đá
da đen cháy vì phơi nắng giólâu ngày cắm cúi căng dây làm chuẩn đưa búa
đập lên những cây đục bằng thép. Theo từng nhát búa, cây đục cắm sâu vào
những thớđá xanh, chậm rãi tách phiến đá to đùng ra thành từng thanh dài
theo kích thước đã định sẵn.
CT,22-4-2011
VD86:
Những người thợ đá ở Hòn Sóc, dụng cụ hành nghề chỉ là vài chiếc đục lớn
nhỏ bằng thép và chiếc búa, nón vải, chân trần, lâu lâu mới thấy một người
mang được đôi găng tay bảo hộ lao động. Mỗi nhát đục chạm vào phiến đá,
vụn đá bắn ra xung quanh ràorào, nhưng chẳng thấy phu đá nào mang kính
bảo vệ mắt. “Ở đây, chuyện đập búa vào tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như
cơm bữa, riết rồi thợ nào cũng quen”, ông Châu Kha nói.
CT,22-4-2011
108
VD87:
Theo ông Nguyễn Quốc Đoàn, từ trước đến nay khi xảy ra tai nạn nghiêm
trọng, phu đá bị thương tật nặng hoặcmạng vong, nếu các chủ mỏ đá, bãi đá
có thông báothì UBND xã mới biết. “Nếu chủ mỏ ém nhẹm tai nạn để tự thỏa
thuận bồi thường với nạn nhân thì UBND xã và các cơ quan hữu trách cũng
mù tịt. Những tai nạn nhỏnhư đá bắn vào mắt, đập búa giập tay, chân, đá lăn
đè gây thương tích xảy ra hà rằm... nhưng UBND xã vô phương thống kê vì
không ai báo cáo”, ông Đoàn nói.
CT,22-4-2011
Ý chí vượt khó vươn lên thoát nghèo, thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn là
một trong những nét tính cách điển hình của người dân Nam Bộ. Rất nhiều
hình ảnh con người miền Tây Nam Bộ được ngợi ca khi từ trong gian khó họ
trăn trở tìm phương thức vực dậy cuộc sống gia đình và thậm chí cả một vùng
quê. Nghề nuôi cá tra, nghề dệt thảm lục bình, nghề trồng lúa một tép, nghề
trồng dưa hấu thỏi vàng,… tất cả những nghề đó đều được phát triển và đem
lại lợi nhuận đáng kể cho người dân vốn dĩ có hai bàn tay trắng. Những thành
công của những cá nhân điển hình phần nào chứng minh cho chúng ta thấy
người miền Tây chất phác thật thà là vậy nhưng khi gặp hoàn cảnh nghiệt ngã
cũng dùng hết sức mình vượt qua khốn khó, chinh phục thử thách.
Khi nhắc đến tính cách người Nam Bộ là người ta nghĩ ngay đến nét tính
cách đầu đội trời chân đạp đất, cương trực thẳng thắn, chí nghĩa chí tình,…
Nét đẹp trong tính cách Nam Bộ đã được ngợi ca rất nhiều và từng đi vào
sách sử hay trong những bài thơ, câu hát. Trên nhật báo Cần Thơ, ta cũng dễ
dàng bắt gặp những nét tính cách đẹp đẽ ấy. Như có lần luận văn đã từng đề
cập đến, những bài viết về gương điển hình có tần số xuất hiện cao. Những
nhân vật được nêu gương là những con người chân chất hiền lành, thuộc
nhiều đối tượng, tầng lớp khác nhau nhưng có điểm chung là đều xuất phát từ
109
cái tâm nhân ái mà hết lòng giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc
sống. Đó có thể là một lão nông hiến đất làm đường, xây cầu; đó cũng có thể
là một chị y tá ở trạm y tế đi quyên góp tiền mua xe cứu thương; hay đó là
một cụ bà đã mấy mươi năm hiến máu cứu người; v.v
Quả nhiên, trong Tiếng Việt, ngôn ngữ nào cũng dùng so sánh nhưng
cách so sánh rất phổ biến: như cơm bữa, như nước rong, như nước đứng, như
nước nhảy, rõ ràng là dễ tạo cách cảm nhận về một vùng sông nước.
VD88:
Những ngườiphu xẻ đá ở Hòn Sóc nói, vì không có ruộng đấtnên họ phảiđeo
theo nghề đá, tiền công hiện nay rẻ như bèo.
CT, 24-4-2012
VD89:
Mỗi nhátđụcchạm vào phiến đá, vụn đá bắn ra xung quanh rào rào, nhưng
chẳng thấyphu đá nào mang kính bảo vệ mắt. “Ở đây, chuyện đập búa vào
tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như cơm bữa, riết rồi thợ nào cũng quen”,
ông Châu Kha nói.
CT, 24-4-2012
Cũng cần lưu ý, cách diễn đạt khuếch tán nghĩa theo hướng mở rộng
hoặc giảm thiểu là đặc điểm chung của tiếng Việt. Tuy nhiên, tần suất xuất
hiện của các biểu thức này trong tiếng Nam Bộ là rất cao. Thí dụ như đỏ lét,
đỏ lòm, đỏ hổi, xanh mét, tái nhợt, đen thui,… Rõ ràng là các biểu thức này có
sức miêu tả rất lớn, đặc biệt trong các phóng sự và ghi nhanh.
VD90:
Những ngườiphu đá da đen cháy vì phơi nắng giólâu ngàycắm cúi căng dây
làm chuẩn đưa búa đập lên những cây đục bằng thép.
CT,22-4-2012
110
2.6. Tiểu kết
Trên đây chúng tôi đã đi vào khảo sát các cấp độ ngôn ngữ cũng như
các bộ phận cấu thành một văn bản báo chí hoàn chỉnh, từ tiêu đề, dẫn đề,
đoạn văn, văn bản cho đến màu sắc địa phương. Một số mô hình, một số
thống kê để khảo sát các đơn vị ngôn ngữ như trên cho thấy rằng đặc điểm
chung có tính chất nổi bật tại đây khó lòng tìm thấy những nét riêng trên
những đơn vị có tính chất vĩ mô mặc dầu ở các cấp độ như là từ vựng, ngữ
âm. Nếu chịu khó quan sát có thể nhận diện ra những khác biệt.
Bên cạnh đó, luận văn tập trung chú ý đến những lớp từ địa phương
xuất hiện ở nhiều thể loại báo chí tiêu biểu theo quan niệm của chúng tôi, qua
đó một số đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ trên báo Cần Thơ được thể hiện.
111
KẾT LUẬN
Trước đây, ở một số cơ sở đào tạo đã có một số đề tài về ngôn ngữ báo
chí địa phương được thực hiện. Đây là đề tài thoạt nhìn dễ tưởng rất đơn giản
nhưng khi bắt tay vào thực hiện, người viết gặp phải những trở ngại rất lớn.
Với đề tài của chúng tôi, tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ
dù được hiểu là ngữ liệu được sưu tập là trên nhật báo Cần Thơ, việc chỉ ra
được những nét riêng dựa vào tiêu chí độ đậm- nhạt quả cũng rất khó khăn.
Đối chiếu với những mục tiêu đặt ra ở phần dẫn nhập, đến đây luận văn xin
khái quát một số kết quả chính:
1. Bên cạnh việc xác lập các đặc điểm về con người, vùng đất và báo
chí Cần Thơ, trên cơ sở kế thừa các công trình lý luận đi trước, luận văn đã
làm rõ thêm một số đặc điểm về chức năng, ngôn ngữ của báo chí, bên cạnh
đó, có việc vận dụng lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson vào việc nhận
diện các phong cách và thể loại trong đó có phong cách và thể loại báo chí.
Hiển nhiên, khi đi tìm đặc trưng riêng, luận văn không dựa vào thế đối lập có
– không mà chủ yếu dựa vào sự quan sát căn cứ vào độ đậm nhạt của một số
đặc trưng.
2. Đóng vai trò là cầu nối thông tin giữa phóng viên với độc giả, ngôn
ngữ báo chí chịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc phong cách ngôn ngữ báo
chí. Bên cạnh những đặc trưng thuộc phong cách thể loại, các văn bản trên
nhật báo Cần Thơ còn biểu hiện những nét đặc trưng mang đậm sắc thái địa
phương Nam Bộ, từ mặt hình thức đến nội dung, qua cách dùng từ đặt câu
cũng như những đề tài được phản ánh trên báo.
3. Tiêu đề trên nhật báo Cần Thơ đa dạng về mặt cấu tạo với nhiều cấu
trúc cả định danh và thông báo, trong đó đáng chú ý là các cấu trúc thông tin
khác nhau như cấu trúc 5W + 1H, cấu trúc đơn đề và đa đề, và việc có hay
không có thượng đề, hạ đề sẽ chi phối cấu trúc tiêu điểm của chúng. Nằm ở vị
trí cửa ngõ, là nhãn mác của mỗi bài báo nên việc đặt tiêu đề cho mỗi bài báo
112
rất được phóng viên quan tâm. Điều này thể hiện ở sự sinh động, đa dạng của
tiêu đề thuộc các thể loại báo chí khác nhau.
4. Dẫn đề thường có độ dài tương đối ngắn nhưng lại chứa đựng nhiều
nội dung thông tin. Lời ít mà ý nhiều là đặc trưng dành để nói về dẫn đề. Trên
nhật báo Cần Thơ, trên cơ sở các mô hình của lý thuyết F. Danes cũng như
các mô hình triển khai theo các yếu T, R, I và theo các yếu tố thuộc cấu trúc
5W + 1H, dẫn đề được xem xét từ nhiều khía cạnh và tìm ra tỉ lệ trội của sự
xuất hiện một số mô hình.
5. Mỗi văn bản thường được cấu thành từ nhiều đoạn văn khác nhau.
Mỗi đoạn văn phục vụ cho một chủ đề. Cũng có khi một chủ đề được triển
khai bởi nhiều đoạn văn. Giữa các đoạn văn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
về mặt hình thức và cả về mặt nội dung, dù trực tiếp hay gián tiếp. Trên số
liệu thống kê, luận văn đã chỉ ra được tần suất nổi trội của mô hình diễn dịch
tức mô hình kim tự tháp đảo nói theo báo chí học cũng như đặc điểm 4 mô
hình khác với các số liệu minh họa cụ thể.
6. Xét cấu trúc văn bản lý tưởng, với đầy đủ các bộ phận cấu thành,
một tác phẩm báo chí bao gồm: tiêu đề, dẫn đề, phần mở đầu, phần triển khai
và phần kết luận, trong đó tiêu đề, dẫn đề thường đóng vai trò thông tin hạt
nhân, các phần còn lại của văn bản là các thông tin vệ tinh xoay quanh thông
tin hạt nhân. Trong hoạt động hành chức, mô hình lý tưởng này được vận
dụng một cách khá linh hoạt tùy thuộc vào các thể loại cụ thể. Trên cứ liệu
500 văn bản thuộc thể loại tin tức, luận văn đã khái quát được một số mô hình
phổ biến và đây là mô hình xuất hiện nhiều nhất trên nhật báo Cần Thơ.
7. Tiếp cận từ góc độ dưới câu, thông qua một số lớp từ ngữ như biến
thể ngữ âm, từ địa phương, địa danh, xưng hô,… luận văn bước đầu đã xác
lập được một số đặc trưng của ngôn ngữ- văn hóa Nam Bộ được thể hiện trên
nhật báo Cần Thơ. Đây là một vấn đề khá lý thú, nhưng do giới hạn của đề tài,
luận văn chưa có dịp khảo sát kỹ hơn như lẽ ra phải có.
113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Albert Pierre (2003), Lịch sử báochí, Nxb Thế giới.
2. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2000), Lịch sử báoĐảng bộ các tỉnh
và thành phố( sơ thảo), Nxb Chính trị Quốc gia.
3. Diệp Quang Ban (2005), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo
dục.
4. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản,
Nxb Giáo dục.
5. Phạm Thế Bảo ( 2008), Viết một bài báo khoa học nhưthế
nào, Nxb Lao động xã hội.
6. Nguyễn Trọng Báu (2002) Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí, Học viện
Quốc gia TP Hồ Chí Minh Phân viện báo chí và tuyên truyền, Nxb Khoa
học xã hội.
7. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữhọc tiếng Việt, Nxb Hà Nội.
8. Trường Chinh ( 1963), Tăng cường công tác báo chí của chúng ta,
Nxb Sự thật.
9. Hồng Chương ( 1985), Báo chí Vìệt Nam, Nxb Sự thật.
10. Hồng Chương (1987), Tìm hiểu lịch sử báochí Việt Nam, Nxb Sách giáo
khoa Mác – Lênin.
11. Claudia Mast (2003a), Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản
(bản tiếng Việt), Nxb Thông tấn, Hà Nội.
12. Claudia Mast (2003b), Truyền thông đại chúng - Công tác biên tập (bản
tiếng Việt), Nxb Thông tấn, Hà Nội.
13. Trần Văn Cơ ( 2007), Ngôn ngữhọc tri nhận ( Ghi chép và suy nghĩ),
Nxb Khoa học xã hội.
114
14. David Nunan (1999), Dẫn nhập phântích diễn ngôn (Hồ Mỹ Huyền,
Trúc Thanh dịch), Nxb Giáo dục.
15. Nguyễn Đức Dân ( 2003), Nỗi oan thì, là, mà, Nxb Trẻ.
16. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản,
Nxb Giáo dục.
17. Đức Dũng (2000), Các thể ký báo chí, Nxb Văn hóa thông tin.
18. Hoàng Dũng- Bùi Mạnh Hùng (2007), Giáo trình dẫn luận ngôn ngữ
học, Nxb Đại học Sư phạm TP HCM.
19. Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã
hội Hà Nội.
20. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng
Việt, Nxb Văn hóa thông tin.
21. Hà Minh Đức (chủ biên, 1998), Báo chí- Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
22. Hà Minh Đức ( 2000), Cơ sở lý luận báo chí: Đặc tính chung và phong
cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
23. Gérault Fabienne (2006), Sapô– Chiếc mũ không che khuấtbàibáo (Vũ
Kim Hải, Đinh Thuận biên soạn), Nxb Thông tấn.
24. Bằng Giang ( 1997), Tiếng Việt phong phú, Nxb Văn hóa.
25. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
26. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữhọc,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
27. Grabennhicốp ( 2003), Báo chí trong kinh tế thị trường (Lê Tâm Hằng,
Ngữ Phan, Đới Thị Kim Thoa dịch), Nxb Thông tấn.
28. Hải Hà, Hà Phương (biên soạn, 2006), Để người khác làm theo ý bạn,
Nxb Thông tấn.
115
29. M.A.K.Halliday ( 1994), Dẫn luận ngữ pháp chứcnăng (Hoàng Văn
Vân dịch, 2001), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
30. Vũ Quang Hào (2007), Ngôn ngữ báochí, Nxb Thông tấn.
31. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Nxb Trẻ.
32. Cao Xuân Hạo (2006a), Tiếng Việt, mấyvấn đề ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ
pháp, Nxb Khoa học xã hội.
33. Cao Xuân Hạo (2006b), Tiếng Việt sơ thảo ngữpháp chức năng,
Nxb Giáo dục.
34. Z.S.Harris ( 2001), Các phương pháp của ngôn ngữhọc cấu trúc,
Nxb Giáo dục.
35. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp,
Nxb Giáo dục.
36. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ( 1995), Biên tập ngôn ngữ
sách và báo chí, Nxb Quân đội nhân dân.
37. Phạm Thành Hưng ( 2007), Thuậtngữbáo chí- truyền thông, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
38. Đinh Văn Hường ( 2006a), Tổ chức và hoạt động của tòa soạn, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
39. Đinh Văn Hường ( 2006b), Các thể loại báochí thông tấn, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
40. Jean- Luc Martin- Lagardette ( 2003), Hướng dẫn cách viết báo, Nxb
Thông tấn.
41. Nguyễn Văn Khang ( 2003), Kế hoạch hóa ngôn ngữ, Nxb Khoa học xã
hội.
42. Nguyễn Văn Khang ( 2007), Từ ngoạilai trong tiếng Việt,
Nxb Giáo dục.
116
43. Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 1991), Phong cách học tiếng
Việt, Nxb Giáo dục.
44. Đinh Trọng Lạc (1994), Phong cách học văn bản, Nxb Giáo dục.
45. Đinh Trọng Lạc (1997), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
46. Đinh Trọng Lạc (2008), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt,
Nxb Giáo dục.
47. Trần Thị Ngọc Lang (chủ biên, 2005), Một số vấn đề về phương ngữxã
hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
48. Lưu Vân Lăng (1998), Ngôn ngữhọc và tiếng Việt, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
49. Loic Hervouet (1999), Viết cho độc giả (Lê Hồng Quang dịch), Hội nhà
báo Việt Nam.
50. Nguyễn Thị Lương ( 2009), Câu tiếng Việt, Nxb Đại học Sư phạm Hà
Nội.
51. Lê Minh, Đinh Thuận (biên soạn, 2006), Dọc đường tác
nghiệp, Nxb Thông tấn.
52. Sơn Nam (biên khảo, 2005), Nói về miền Nam, cá tính miền Nam, thuần
phong mỹ tục Việt Nam, Nxb Trẻ.
53. Lê Kiều Nga (2009), Tìm hiểu ngôn ngữ truyền hình, Luận văn thạc sĩ
ngữ văn, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia
TP Hồ Chí Minh.
54. Trần Thanh Nguyện (2004), Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo
chí, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí
Minh.
55. Nhiều tác giả (1984), Ngôn ngữ học: khuynh hướng – lĩnh vực – khái
niệm, tập 1, 2,3, Nxb Khoa học Xã hội.
117
56. Nhiều tác giả ( 1995), Biên tập ngôn ngữ và báo chí, Nxb Quân đội nhân
dân.
57. Nhiều tác giả (1999), Tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông đại
chúng, Hội Ngôn ngữ học TPHCM – Viện Ngôn ngữ học Việt Nam –
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia
TP HCM.
58. Nhiều tác giả ( 2001), Một góc nhìn của trí thức, Nxb Trẻ.
59. Nhiều tác giả, Hội Khoa học và lịch sử TP Hồ Chí Minh (2004) Nam Bộ
Đất và Người (3), Nxb Trẻ.
60. Nhiều tác giả ( 2005), Nghềbáo, Nxb Kim Đồng.
61. Nhiều tác giả ( 2006), Kỹ năng viết bài, Nxb Thông tấn.
62. Phân Viện Báo chí và Tuyên truyền, Tác phẩm báochí (3), Nxb Giáo
dục Hà Nội.
63. Philippe Gaillard (2003), Nghềlàm báo, Nxb Thông tấn, Hà Nội.
64. Hoàng Minh Phương ( 2000), Phương pháp thựchiện phóng sự báochí,
Nxb TP Hồ Chí Minh.
65. Hoàng Phê (chủ biên) , Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội.
66. Trần Hữu Quang ( 2006), Xã hội học báo chí, Thời báo kinh tế Sài Gòn.
67. Trần Quang ( 2001), Làm báo Lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội.
68. Trần Quang ( 2005), Kỹ thuậtviết tin, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
69. Nguyễn Thanh Quang (2003), Đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa Việt ở
Đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường Đại học
sư phạm TP Hồ Chí Minh.
70. Đào Duy Quát, Nguyễn Duy Hùng, Lê Phúc Nguyên,…(biên soạn,
2009), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, Nxb Chính trị
Quốc gia.
118
71. Lê Minh Quốc (2000), Hỏi đáp báo chí Việt Nam, Nxb Trẻ.
72. Vũ Đình Quý ( 2006), Phóng viên thường trú, Nxb TP Hồ Chí Minh.
73. Tạp chí Xưa và Nay (1996), Nam Bộ xưa và nay, Nxb TP Hồ Chí Minh.
74. Ferdinand de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữhọc đại cương, Nxb
Khoa học xã hội Hà Nội.
75. Trịnh Sâm (2000), Tiêu đề văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
76. Trịnh Sâm (2008), “Đặc điểm ngôn ngữ báo chí nhìn từ hoạt động báo
chí ở thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống,
số 12(158),tr.11-15.
77. Trịnh Sâm (2011), Đi tìm bản sắc tiếng Việt, Nxb Trẻ.
78. Trịnh Sâm (2012), “Về một số mô hình của dẫn đề báo chí tiếng Việt”,
Tạp chí từ điển học và bách khoa thư, số 2 (16), tháng 3-2012.
79. Dương Xuân Sơn (1996), Báo chí nước ngoài, Nxb Văn hóa Thông tin.
80. Dương Xuân Sơn ( 2004), Các thể loại báo chí chính luận nghệthuật,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
81. Dương Xuân Sơn (biên soạn, 2009), Giáo trình báochí truyền hình, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
82. Lý Sinh Sự (2007), Hãyviết tiểu phẩm đi, Nxb Thông tấn.
83. Leonard Rayteel- Ron Taylor (1993), Bước về nghềbáo, Nxb TP Hồ Chí
Minh.
84. Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận tiếng Việt từ lý thuyết đại
cương
85. Hữu Thọ (2000a), Công việc của người viết báo, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
86. Hữu Thọ ( 2000b), Bình luận báochí thời kỳ đổi mới: Một số vấn đề
công tác tư tưởng-văn hóa, Nxb Giáo dục.
119
87. Hữu Thọ ( 2002), Theo bước chân đổi mới: Bình luận báochí, Nxb
Chính trị Quốc gia.
88. Trần Ngọc Thêm (2006), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb
Giáo dục.
89. Vũ Văn Tiến ( 2006), Viết báothời sinh viên, Nxb Lý luận chính trị.
90. Trần Đình Thu (2003), Tìm hiểu nghềbáo, Nxb Trẻ.
91. Đoàn Thiện Thuật ( 2007), Ngữ âm tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.
92. Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ (1975), Tu từ học tiếng
Việt hiện đại, ĐHSP Việt Bắc.
93. Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình (1982), Phong
cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
94. Hoàng Tuệ (2001), Tuyển tập ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia
TP HCM.
95. Hoàng Văn Vân ( 2005), Ngữpháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả
theo quan điểm chức năng hệthống, Nxb Khoa học xã hội.
Tiếng Anh
96. Aamidor A. (2006), Real feature writing: story shapes and writing
strategies from the real world of journalism, Routledge
97. Ahmad Shahzad (2005), Art of modern journalism, Anmol Publications
98. Aitchison Jean & Lewis Diana M. (2003), New media language,
Routledge
99. Akmajian Adrian (2001), Linguistics: an introduction to languageand
communication, MIT Press
100. Bell A. (1991), Thelanguageof News media, Oxford, Blackwell
120
101. Bell Allan (1994) , Telling Stories. In GraddolDavid, Boyd-Barrett,
Media texts, authors and readers: a reader, Multilingual Matters
102. Bhatia V.K (2004), Worlds of written discourse,Continuum London
New York
103. Bliss Edward (1991), Now the News: TheStory of Broadcast
Journalism, Columbia University Press
104. Boczkowski Pablo J. (2005), Digitizing the news: innovation in online
newspapers, MIT Press
105. Bryan Wright (2005), Writing for the Web. In Quinn Stephen, Filak
Vincent F. (2005), Convergent journalism: an introduction, 69 – 80,
Elsevier
106. Charnley M. V. (1965), Reporting, Rinehard & Winston
107. Christie Frances, Martin J. R. (2005), Genre and institutions: social
processes in the workplace and school, Continuum International
Publishing Group
108. Daněv F. (1974), “Funtional sentence perspective” and “Text
connectedness”. In Text and Discoure Connectedness… John
Benjamins Publshing Company, p 106-127
109. Pavlik John Vernon (2001), Journalism and new media, Columbia
University Press
110. Shrivastava K. M. (1987), News Reporting and Editing, Sterling
Publishers Private Limited
111. Smith Jeanette (1995), The new publicity kit, John Wiley and Sons
112. Sojka Petr , Kopeček Ivan, Pala Karel (2004), Text, speech and
dialogue:7th internationalconference, Springer
113. Swales J.M. (1990), Genre Analysis: English in Academic and
Research Setting, Cambridge, Cambridge University
121
114. Swales J.M. (2004), Research genres: Explorations and applications,
Cambridge, Cambridge University
115. Thor Clas, Antwi Ransford & Oliver Willie (2005), Use Media To
Teach Media, NSJ Southern Africa Media Training Trust
116. Whitaker Wayne R., Ramsey Janet E. and Smith Ronald D. (2004),
Mediawriting:print, broadcast, and publicrelations, Routledge
117. Zaidi S.M and Muniruddin Qur. (2005), History Of Journalism, Anmol
Publications PVT. Ltd
122
PHỤ LỤC
1. TIÊU ĐỀ
1. Bắt 2 đốitượng cướp giật tài sản
2. Tử hình kẻ giết người, cướp tài sản/ Hạ Đề: Giết người, lãnh án tù
chung thân
3. Khánh thành giai đoạn 1 khu nghỉ dưỡng sinh thái Tây Đô
4. Tổng thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh/ Tập trung rà soát dứt
điểm các vụ việc khiếu nại tồn đọng, kéo dài
5. Tăng cường giáo dục văn hóa học đường cho học sinh/ Tặng 20 suất
học bổng “tiếp sức đến trường” cho học sinh nghèo
6. Binhanfishco trả 90 tỉ đồng tiền nợ cá cho nông dân
7. Hội thảo một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo TP Cần thơ
8. Đoàn công tác Ban dân nguyện làm việc tại TP Cần Thơ
9. Thư viện TP Cần Thơ/ Tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
10. Triển lãm sách mừng Quốc khánh 2-9
11. Công ty Cổ phần dược Hậu Giang/Trên 23,7 tỉ đồng giúp cho bệnh
nhân nghèo, đồng bào bị thiên tai
12. Lãnh đạo TP tiếp và làm việc với Tập đoàn VK Vương quốc Bỉ/ Làm
việc với công ty TNHH Citelum Việt Nam
13. Khởi công xây dựng chợ chuyên doanh lúa gạo Thốt Nốt
14. TP Cần Thơ/ Nhiều trường học khánh thành và khai giảng năm học mới
2012- 2013
15. Sản xuất côngnghiệp của TP ước tăng 3,3%
123
16. Bế giảng khóa bồidưỡng kỹ năng dạy tiếng Hàn và giới thiệu văn hóa,
pháp luật Hàn Quốc
17. TP Cần Thơ/ Long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 67 năm cách mạng tháng
Tám và quốc khánh
18. Cố ý gây thương tích lãnh 4,5 năm tù
19. Khánh thành đưa vào sử dụng công trình nâng cấp mở rộng đường lê
Bình
20. Hội nhà báo TP Cần Thơ tổ chức chuyến đi thực tế cho hội viên
21. Bế mạc liên hoan Những bài ca đi cùng năm tháng/ Đoàn trường Đại
học Cần thơ đứng nhất toàn đoàn
22. Duy trì hoạt động truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình
23. Công ân TP Cần thơ/ Triển khai kế hoạch cao điểm đảm bảo trật tự
tháng an toàn giao thông
24. Phát thưởng và trao học bổng cho 146 học sinh- sinh viên
25. Khảo sát vị trí dự kiến di dời chợ Hưng Lợi
26. Bắt quả tang đối tượng vận chuyển ma túy
27. Trốn không thoát
28. Tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố giảm/ Tước 6.290 giấy phép
lái xe
29. Phó Chủ tich UBND TP Cần thơ Đào Anh Dũng/ Khẩn trương công bố
quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới ra dân
30. Cục thuế TP Cần Thơ đối thoại với doanh nghiệp
31. TP Cần Thơ/ Long trọng tổ chức lễ giao nhận quân, tiễn 900 thanh niên
nhập ngũ
32. TP Cần Thơ/ Doanh nghiệp xuất khẩu gạo đạt lợi nhuận thấp
33. Hôm nay, ngày 7-9-2012/ Đại hội đại biểu Hội cựu chiến binh TP Cần
Thơ lần thứ V, nhiệm Kỳ 2012-17
124
34. Tăng cường các giải pháp để hạn chế số ca mắc và tử vong vì bệnh tay
chân miệng, sốtxuất huyết
35. Lãnh đạo thành phố tham quan nhà máy xử lý rác thải tỉnh Vĩnh Logn
36. Hôm nay ngày 6-9-2012/ TP Cần thơ tiễn 900 thanh niên ưu tú lên
đường nhập ngũ/ Hạ đề: Tổ chức hội trại tòng quân 5 quận, huyện
37. Nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
quản lý hành chính Nhà nước
38. Khai trương Trugn tâm cơ hội số APEC tại TP Cần Thơ
39. Các trường đồng loạt khai giảng năm học mới
40. Khai mạc hội diễn văn nghệ quần chúng công nhân viên chức lao động
TP Cần Thơ
41. Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư
Thành ủy/ Các cấp, các ngành cần xây dựng chương trình, kế hoạch
thực hiện tốt các Kết luận và nghị quyết trung ương 5
42. Bắt đầu kiểm tra hồ sơ vận động viên Hội khỏe Phù đổng toàn quốc lần
thứ VIII
43. Thới Lai và Bình Thủy/ bàn giao nhà tình nghĩa cho các hộ chính sách
44. 4.500 bạn trẻ sẽ hưởng ứng Chương trình hành trình xe đạp vui nhộn
Revive Fun Bike
45. Tuổi trẻ Cảnh sát nhân dân TP Cần thơ hành quân về nguồn/ Khám
bệnh và cấp phát thuốc miễn phí cho 200 thiếu nhi có hoàn cảnh khó
khăn
46. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam khảo sát tình hình đội ngũ nữ cán
bộ tại cần Thơ
47. 32 cơ quan, doanh nghiệp nợ hơn 22,4 tỉ đồng tiền bảo hiểm xã hội
48. Cà Mau/ Miễn phí xét nghiệm tôm giống cho hộ nghèo và cận nghèo
49. Đồng bằng Sông Cửu Long/ Đào tạo nghề cho khoảng 117.300 người
125
50. Hội thảo Biến đổi khí hậu: hiểu biết và hành động
51. 150 cán bộ y tế sinh hoạt chuyên đề về Helicobacter pylori
52. Các công trình phục vụ Hội khỏe phù đổng/ Hạ đề:Khán đài A sân vận
động Cần Thơ kịp hoàn thành cho ngày khai mạc HKPĐ
53. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: hải sản giảm giá từ 10 đến 40%/ Hạ đề:
294 tỉ đồng đầu tư khu nuôi tôm công nghiệp Hà Tiên
54. Thượng đề: Huyện Thới Lai/ Đề: Đầu tư 7 tỉ đồng xây dựng đường
giao thông nông thôn
55. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục truyền thống yêu nước cho đoàn viên
thanh niên
56. Khánh thành cầu Lấp Vò sông Thốt Nốt
57. Khởi công xây dựng tường kè sông chợ Trà Nóc
58. Triển khai kế hoạch phòng chống đại dịch cúm
59. bệnh sốtxuất huyết và tay chân miệng đều tăng
60. Thượng đề: Thới Lai/ Đề: Tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 06 về
Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở
61. Đề xuất phương án xây dựng Di tích Lịch sử- văn hóa Lộ vòng cung
62. Đề: Khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho bà connghèo, gia đình
chính sách/ Hạ đề: Cà Mau: Chitrên 147 tỉ dồng cho gia đình chính
sách
63. Thượng đề: Bình Thủy/ Đề: Tổ chức tập huấn đại biểu HĐND cấp
phường
64. Thượng đề: Phong Điền/ Đề: Kết thúc đợt kiểm tra công tác cải cách
hành chính tại các xã, thị trấn
65. Tuyển chọn tổ chức, các nhân chủ trì đề tài/ dự án khoa học công nghệ
cấp thành phố 2013
66. Chương trình đạp xe xuyên miền Tây kết thúc chặng 5
126
67. Lãnh đạo TP Cần Thơ tiếp ngái thị trưởng Thành phố Riverside Hoa
Kỳ
68. Thượng đề: Hội chữ Thâp đỏ TP Cần Thơ/ Đề: Triển khai sửa chữa 30
căn nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách
69. Ra mắt trang tra cứu điểm thi chính thức kết quả tuyển sinh đại học
năm 2012
70. Thượng đề: Vụ đưa và nhận hối lộ tại sở Tư pháp TP Cần Thơ/ Đề: Bị
cáo Phạm Thanh Dũng tù chung thân, 8 bị cáo còn lại từ 10 đến 20 năm
tù
71. Thượng đề: An Giang/ Đề; 275 doanh nghiệp đăng ký mới, thu hút 32
dự án đầu tư
72. Thượng đề: Bến Tre/ Đề: Giá dừa khô tăng trở lại
73. Giá cá tra giống tăng
74. Thượng đề: An Giang/ Đề: Phát vay 15.373 tỉ đồng phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn.
75. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
76. Giới thiệu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá
77. Phát hiện sai phạm về kinh tế trên 3,5 tỉ đồng
78. Thượng đề: Doanh nghiệp ĐBSCL/ Đề: Tái cấu trúc, nhạy bén tiếp cận
thị trường
79. Thượng đề: Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Nguyên Thanh Sơn/ Đề: Quy
hoạch phải đảm bảo sự phát triển của TP Cần Thơ và vùng ĐBSCL
80. Tập trung liên kết vùng và xây dựng sản phẩm du lịch
81. Đề: Lãnh đạo TP thăm, động viên các đội tuyển dự Hội khỏe Phù
Đổng/ Triển khai kế hoạch sẵn sàng bảo vệ Hội khỏe Phù Đổng toàn
quốc
127
82. Phát triển Khoa học xã hội và nhân văn phải gắn liền với phát triển
kiinh tế- xã hội của TP
83. Thượng đề: TP Cần Thơ/ Đề: 6 tháng chỉ cấp mới 1 giấy chứng nhận
FDI
84. Tặng tập, quà cho học sinh và hộ nghèo ở xã Thới Hưng và xã Vĩnh
Viễn
85. Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh
86. Thượng đề: Bộ Chỉ huy quân sự TP CầnTho/ Đề: Tíchcực chăm lo cho
đối tượng chính sách
87. Thượng đề: Quận Ninh Kiều/ Đề: Thương mại, dịch vụ chiếm vai trò
chủ đạo
88. Tập trung giải quyết các vấn đề về an toàn giao thông và xây dựng cơ
bản
89. Thượng đề: Phiên tòa xét xử vụ đánh cờ bạc tỉ ở Sóc Trăng/ Đề: Đề
nghị tổng mức án trên 50 năm tù cho 6 bị cáo
90. Một xe gắn máy bị cháy rụi
91. Làm rõ vụ ngư phủ ở Cà Mau chết tại Malaysia
92. Đầu thú sau một năm lẩn trốn
93. Tạm giữ đối tượng cướp giật tài sản
94. Mua bán trái phép chất ma túy, sa lưới
95. Bắt giam đốitượng bán lô nền khống, gạt tiền người dân
96. Đề: Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm học 2012 cụm thi Cần Thơ
kết thúc an toàn, tốt đẹp/ Hạ Đề: Dự kiến đầu tháng 8-2012 sẽ công bố
kết quả thi đại học
97. Đề: Các cấp Hội liên hiệp phụ nữ thành phố/ Hạ đề: Tích cực giới thiệu
nguồn cán bộ nữ cho các cấp ủy đề bạt, bổ nhiệm các chức danh lãnh
đạo
128
98. Thượng đề: Ban QLDA Năng lực tài chính nhằm giảm thiểu BLGĐ TP
Cần Thơ/ Đề: Hỗ trợ và xử lý 55 vụ bạo lực gia đình
99. Thượng đề: 6 tháng đầu năm 2012/ Đề: Kinh tế- xã hội quận Cái Răng
tiếp tục phát triển
100. Trao huy hiệu cao tuổi Đảng cho 222 đảng viên
101. 220 cán bộ Hội Nông dân cơ sở được bồi dưỡng nghiệp vụ chính trị
102. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đẩy mạnh đào tạo theo nhu
cầu
103. Cải táng 4 hài cốtliệt sĩ thuộc Tiểu đoàn 309, Trung đoàn 1, Quân khu
9
101. Thu ngân sách nhà nước đạt trên 2.400 tỉ đồng
102. Thượng đề: TP Cần Thơ/ Đề: Không phát hiện chất cấm thuộc nhóm
beeta- agonist trong thịt heo
103. Công khai cơ sở vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm nhiều lần trên
phương tiện thông tin đại chúng
104. Triển khai công tác tuyển chọn900 thanh niên nhập ngũ
105. Thượng đề: Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Phó Bí thu thành ủy, Chủ
tịch UBND TP Cần Thơ/ Đề: Quận Nih Kiều cần tập trung thực hiện tốt
công tác chỉnh trang đô thị
106. Quản lý chặt cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nuôi trồng thủy sản
107. Giảm mật độ nhà cao tầng tại dự án khu dân cư Mỹ Hưng
108. Thượng đề: Quận Ninh Kiều/ Đề: Hơn 250 triệu đồng lắp đặt thùng rác
công cộng
109. Thượng đề: Tiền Giang/ Đề: Cần hơn 158 tỉ đồng phát triển vùng sản
xuất rau, thanh long an toàn
110. Đề: 7000 chỗ trọ miễn phí cho thí sinh thi đại học 2012/ Hạ đề: Trường
Đại học Tây Đô: hỗ trợ 35 triệu đồng cho chương trình tiếp sức mùa thi
129
111. Triển khai các luật có hiệu lực từ 2013
112. Khánh thành đường vào trung tâm xã Định Môn- Trường Thành
113. Bắt quả tang một đốitượng vận chuyển trái phép chất ma túy
114. Đổi mới căn bản và toàn diện để nâng cao chất lượng giáo dục
115. Thượng đề: TP Cần Thơ/ Đề: Chuẩn bị nguồn hàng bình ổn trị giá trên
637 tỉ đồng
116. 162 công trình đăng ký chào mừng kỷ niệm 10 năm thành phố trực
thuộc trung ương
117. Cấp mới đăng ký kinh doanh cho 576 doanh nghiệp, thu hút 6 dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài
118. Ốc bươu vàng giá tăng 500 đồng/ kg
119. Thượng đề: An Giang/ Đề: Giá cá tra nguyên liệu tăng, người nuôi cá
có lợi
120. Thượng đề: TP CT/ Đề: Tổng vốn huy động đạt 30.900 tỉ đồng
121. Tập huấn điều tra, giám sát và thu mẫu dịch bệnh môi trường nuôi tôm
122. Thuonwjg đề: ĐBSCL/ Đề: Mở rộng dienj tíchvùng mía nguyên liệu
60.000 ha
123. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phòng, chống tội phạm, giữ
gìn an ninh trật tự
124. Phát triển bền vững mô hình xã hội hóa công tác giống ở ĐBSCL
125. Tăng cường phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội
126. Trang bị phương tiện cứu hộ, cứu nạn, giúp ngư dân yên tâm sản xuất
trên biển
127. Thượng đề: Bạc liêu/ Đề: Giá lúa tăng cao nhưng nông dân không có
lúa để bán
128. Đẩy mạnh tuyên truyền đợt sinh hoạt kiểm điểm, tự phê bình và phê
bình theo Nghị quyết TƯ 4
130
129. Tập trung các giải pháp, đảm bao hiệu quả việc làm bền vững
130. Trường Đại học Cần Thơ khai giảng năm học mới
131. Tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào dân tộc Khmer đón lễ Đôn- ta vui
tươi, phấn khởi
132. Thượng đề: Đại hội Hội Nông dân quận Ô Môn, nhiệm kỳ 2012-2017/
Đề: Đổimới puhwong thức hoạt động, góp phần nâng cao đời sốn nông
dân
133. Tặng căn nhà nhân ái cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn
134. Tập trung chỉnh trang đô thị, đê Ninh kiều xứng đáng là quận Trung
tâm của TP Cần Thơ
135. Thống nhất điều chỉnh quy hoạch đất xây dựng nút giao quốc lộ 91 và
91B
136. Giám sát việc thực hiện nghị quyết về xây dựng nếp sống văn hóa, văn
minh đô thị
137. Tăng cường liên kết, phốihợp, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy
nghề gắn với giải quyết việc làm
138. Hội thảo giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vi mô đẩy mạnh phát triển sản
xuất kinh doanh vượt qua bốicảnh khủng hoảng kinh tế
139. Thượng đề: Trường ĐH CT/ Dề: Công bố điêm chuân trúng tuyển
nguyện vọng 2
140. Dự kiến đầu tháng 11 sẽ tổ chức hội thảo trước đối thoại về phòng
chống tham nhũng
141. Đoàn doanh nghiệp Nhật bản giới thiệu công nghệ xử lý chất thải trong
bệnh viện
142. Hội thảo về tiếp tục đổimới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
143. Y tế công- tư phối hợp trong quản lý bệnh lao
131
144. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức hành nghề
công chứng
145. Thượng đề: Bình Thủy/ Đề: Triển khai quy trình cải cách thủ tục hành
chính trong Đảng
146. Chi hơn 809 triệu đồng cho công tác chăm sóc nạn nhân chất độc da
cam
147. Thượng đề: Trường Cao đẳng y tế Cần Thơ/ Đề: 804 thí sinh trúng
tuyển nguyện vọng 2 bậc cao đẳng
148. VIB mở rộng dịch vụ thu tiền điện
149. VIPBank nhận giải thưởng về tỷ lệ điện chuẩn Thanh toán quốc tế
150. Thượng đề: Trà vinh/ Đề: Tổ chức hội thảo nuôi nghêu theo tiêu chuẩn
MSC
151. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: Thí điểm nuôi thương phẩm cá trê Phú
Quốc
152. TP Cần Thơ tìm giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu
153. Thượng đề: Ninh Kiều/ Đề: Hoàn thành đại hội các chi bộ cơ sở
154. Họp bàn xử lý việc kinh doanh trên vỉa hè khu vực Sân vận động Cần
Thơ
155. Ổn định trật tự, hỗ trợ đơn vị thi công dự án khu đô thị tái định cư Cửu
Long
156. Nhân rộng đề án tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình
Việt Nam.
157. Thượng đề: Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Phương Châu/ Đề: Cấp cứu
thành công một trường hợp nhau bong non thể nặng
158. Nhiều hoạt động hỗ trợ thiếu nhi nghèo vui Tết Trung thu
159. Thượng đề: hội sinh viên trường ĐHTĐ/ Đề: Nhiều công trình, phần
việc giúp các địa phương khu vực ĐBSCL xây dựng nông thôn mới/ Hạ
132
đề: Quận đoàn Ninh Kiều khai giảng lớp tập huấn chuyên môn công tác
đoàn
160. Trường phổ thông Việt Mỹ khai giảng năm học mới và khánh thành
Trường Mầm non
161. Chung kết cuộc thi Người dẫn chương trình truyền hình VTV Cần Thơ
162. Bắt và vận động đầu thú 39 đối tượng bị truy nẵ trong đợt cao điểm
163. Thượng đề: An giang/ Đề: Giá cá tra nguyên liệu tăng, người nuôi cá có
lợi
164. 2050 lao động có việc làm
165. 478 lao động nhận quyết định hưởng bảo hiểm thất nghiệp
166. Thượng đề: Cờ Đỏ/đề: Dạy nghề ngắn hạn cho gần 700 lao động nông
thôn
167. Cục thuế TP CT tổ chức tuần lễ lắng nghe ý kiến người nộp thuế
168. Trồng dừa xiêm dây “siêu trái” cho thu nhập cao
169. Giao lưu với nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển
170. Xử lý thành công quả bom nặng hơn 125 kg
171. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: thành lập đoàn kiểm tra toàn diện 4 tuyến
dân cư vượt lũ ở Tân Hiệp
172. Thượng đề: Tiền Giang/ Đề: Giá tăng, nghề nuôi cá điêu hồng lồng bè
hồi phục trở lại
173. Khai trương khách sạn Hậu Giang
174. Nông dân Cà Mau gấp rút thu hoạch các trà lúa hè thu
175. Đường Hoa Cần Thơ- xuân Quý Tỵ năm 2013 sẽ tổ chức trên trục
đường Võ Văn Tần- Nguyễn Thái Học
176. Tham dự hội giảng giáo viên dạy nghề toàn quốc năm 2012
177. Thượng đề: Sở giao thông vận tải TP Cần Thơ/ Đề: Giải ngân hơn
226,5 tỉ đồng vốn xây dựng cơ bản giao thông
133
178. Trung tâm phát triển quỹ đất TP Cần Thơ nộp ngân sách 174 tỉ đồng
179. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: Khu dân cư lấn biển Phú Cường triển khai
xây dựng nhà phố
180. Thượng đề: Tiền Giang/ Đề: Phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 quảng
trường trung tâm
181. Khẩn trương lắp đặt dải phân cách khu vực cầu Cái Răng và cầu Đầu
Sấu
182. Lãnh đạo TP làm việc với GIZ về chương trình quản lý nước thải
183. Trộm cắp xe gắn máy, bị bắt
184. Thượng đề: Trà Vinh/ Đề: Đầu tư 72,5 tỉ đồng sửa chữa, gia cố các
tuyến dê biển, bờ bao
185. Thượng đề: Quận Ninh Kiều/ Đề: Phát động tháng hành động phòng,
chống ma túy năm 2012
186. Triển khai kế hoạch tổ chức lễ phát động phong trào vệ sinh yêu nước
nâng cao sức khỏe nhân dân
187. Thượng đề: Phiên chợ hàng Việt về nông thôn tại huyện Tân Hồng, tỉnh
Đồng Tháp/ Đề: Thu hút 13.260 lượt người đến tham quan, mua sắm
188. Quan tâm giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật,
không để xảy ra các điểm nóng
189. Phát động cuộc thi thiết kế bài giảng điện từ E- Learning
190. Xử phạt hành chính 23,8 triệu đồng đối với các trường hợp bạo lực gia
đình
191. Tổ chức cuộc thi tìm hiểu luật phòng chống tác hại của thuốc lá
192. Lãnh đạo thành phố kiểm tra tình hình thu gom rác thải
193. Tăng cường giáo dục chính trị, kỷ luật quân đội cho cán bộ, chiến sĩ
194. Đề: Khánh thành trường THPT Giai Xuân và khai giảng năm học mới/
Hạ đề: bàn giao 2 phòng học ngoại ngữ tương tác trị giá 1 tỉ đồng
134
195. Thượng đề: Cầu lông: / Đề: Hà Nội giành 2 HCV
196. Thượng đề: Cờ Đỏ/Hạ đề: Hỗ trợ thiết thực nạn nhân chất độc da cam
197. Hội Cần Thơ Nối vn. Thăm và tặng quà cho các hoàn cảnh khó khăn
198. Thêm một số công trình xây dựng cơ bản đưa vào sử dụng
199. Cái Răng tập trung xây dựng giao thông nông thôn
200. Đối tượng mua bán tiền giả “ sa lưới”
2. ĐOẠN VĂN
1. Để khắc phục phần nào tình trạng ô nhiễm trên, trong năm 2010,
chính quyền địa phương đã phối hợp với người dân tiến hành dọn dẹp cỏ trên
con rạch, vận động một số hộ dân nạo vét rạch để khơi thông dòng chảy. Tuy
nhiên, do lượng nước thải hôi hám hàng ngày vẫn đổ xuống con rạch nên mùi
hôi dưới lòng rạch vẫn bốc lên. Ông Nguyễn Văn Dũng, Trưởng khu vực1,
phường Ba Láng, cho biết: “Tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm và bốc mùi hôi
thối đổ ra từ Công ty TNHH Trí Hưng và mùi hôi bốc lên từ khối lượng lớn
bọc dơ tập kết tại công ty trong thời gian dài khiến nhiều hộ dân nơi đây rất
bức xúc. Tôi đã nhiều lần phản ánh đến phường, nhưng đến nay công ty vẫn
chưa có biện pháp khắc phục. Theo quy định, đáng lẽ khi được cấp phép hoạt
động, công ty phải có hệ thống thu gom nước thải, lắng lọc, xử lý đạt tiêu
chuẩn rồi mới thải ra môi trường. Chúng tôi yêu cầu các cơ quan chức năng
sớm có biện pháp giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường ở nơi
đây, trả lại môi trường sống trong sạch cho bà con”.
CT,12-7-2011
2. Chị Đặng Thị Nga, CTVDS khu vực Phú Thạnh, phường Tân Phú, quận
Cái Răng, có thâm niên gần 15 năm gắn bó với công tác dân số. Những năm
đầu khi mới tham gia công tác, con còn nhỏ, chồng đi dạy học, công việc
đồng áng nhiều nên chồng chị than phiền khi thấy vợ mình tham gia công tác
dân số. Chị Nga vừa khéo léo khuyên nhủ chồng, đồng thời thu xếp việc nhà,
135
dành thời gian đi công tác. Lúc ấy trong ấp toàn cầu khỉ, đường sá đi lại rất
khó khăn, chị phải chèo xuống đến từng nhà vận động. Có hôm, cầu nhỏ, chị
té lên té xuống, mình mẩy đầy sình bùn, vậy mà đến nhà gặp đối tượng để vận
động thực hiện KHHGĐ thì bị mấy bà cụ đuổithẳng. Mấy bà cụ cònnói: “con
tôi, tôi cho đẻ sạch ruột, cháu tôi, tôi nuôi, can gì đến cô mà cô vận động”.
Chị Nga buồn lắm nhưng vẫn cố gượng cười chào họ ra về. Trên đường về,
chị Nga tủi thân, ứa nước mắt. Nhưng buồn thì buồn, chị không bỏ cuộc. Chị
tìm cách gặp riêng các chị để vận động. Chị còn dẫn chứng các trường hợp
chị em trong xóm nhờ thực hiện BPTT mà chỉ sanh hai con, kinh tế khá giả,
sức khỏe lại đảm bảo. Một lần, hai lần, các chị dần hiểu ra, nghe theo. Cứ thế
số lượng chị em thực hiện BPTT ngày càng nhiều. Đến nay, các chị còn tự
giác đến nhà chị Nga nhận bao cao su, thuốc ngừa thai về sử dụng. CT,11-7-
2011
3. Khi quyết định gắn bó cuộc đời với người chồng hơn mình 15 tuổi, chẳng
giàu có mà cũng chẳng nổi trội về ngoại hình, cô N.T.M. (quận Bình Thủy)
cũng đương đầu với bao điều tiếng từ những người chung quanh, nhất là
những bạn bè, thanh niên trai trẻ từng “để ý” cô. Cô cũng chẳng hiểu sao khi
gặp “ông ấy” cô cảm thấy thật gần gũi, thân thiết, nói chuyện rất hạp nhau, rồi
yêu nhau lúc nào không biết. Theo cô, thời gian đầu về chung sống, do tuổi
tác chênh lệch nhau nên sở thích trong sinh hoạt, cuộc sống cũng khác nhau,
đôi khi cũng xảy ra việc này, việc khác nhưng hai vợ chồng cùng cố gắng tự
điều chỉnh cho phù hợp. Cô thì bớt cái tính trẻ con, hay giận hờn, ham vui với
bạn bè; còn ông xã cô cũng cố gắng “trẻ hóa”, chiều theo sở thích, cách trang
trí nhà cửa, thói quen ăn uống, kể cả “gu” nghe nhạc, phim ảnh của vợ. Với
tình yêu và trách nhiệm, vợ chồng cô ra sức vun đắp cho tổ ấm của mình ngày
càng sung túc. Dù bận việc làm ăn, nhưng chồng cô luôn dành thời gian phụ
tiếp vợ chăm sóc các con, thậm chí thân thiết với hai con hơn cả vợ. Cô cười
136
bảo: “Bây giờ gặp lại, bạn bè lại bảo là mình có phước...”. Tương tự, trường
hợp vợ chồng chú K. (quận Ninh Kiều) cũng chênh nhau đến 18 tuổi. Có lúc,
sự so sánh, bàn tán của bạn bè, hàng xóm cũng là nguyên nhân gây nên sóng
gió trong gia đình. Chú K. dí dỏm kể: “Nhiều khi hai vợ chồng cùng đi ra
ngoài, mọi người không biết cứ tưởng nhầm là “cha con”, hoặc thường nghe
cách xưng hô tréo ngoe: một đằng là em, một đằng là chú... Ban đầu cũng
thấy hơi tự ái nhưng rồi chú cũng thông cảm vì người ta không biết. Quan
trọng là mình sống sao cho thật hạnh phúc để mọi người nhìn vào thấy vợ
chồng xứng đôi”.
CT,8-7-2011
4. Không chỉ lợi dụng chủ xe sơ hở để trộm, băng nhóm này còn thực hiện
nhiều vụ lấy xe máy khá liều lĩnh. Khoảng 1 giờ đêm một ngày tháng 2-2011,
Khanh và Đức Anh đi bộ tìm tài sản để trộm. Khi đến gần hẻm 17, đường
Trần Hoàng Na, thấy một thanh niên đang đứng tiểu bên đường, chiếc xe máy
dựng kế bên, chìa khóa để sẵn trên xe, hai đối tượng lập tức nhảy lên xe nổ
máy chạy đến bán cho Hiển với giá 1 triệu đồng. 1 giờ đêm một ngày đầu
năm 2011, Khanh và đối tượng tên Huy đi bộ tìm tài sản để trộm. Khi đến chợ
Tầm Vu thấy một người thanh niên nhậu say nằm ngủ trên sạp ở chợ, xe gắn
máy dựng gần bên, hai đối tượng dẫn xe đi một đoạn và bứt dây điện ổ khóa
rồi nổ máy chạy đến bán cho Hiển với giá 500 ngàn đồng...
CT,2-7-2011
5. Sau khi nghe hướng dẫn, phân công nhiệm vụ, một nhóm tình nguyện viên
nhanh chóng len lỏi vào dòng người tham dự lễ ra quân chiến dịch Thanh niên
tình nguyện hè để phát tờ bướm tuyên truyền, một nhóm tỏa đi vận động các
hộ dân trên hai bên đường Ba Tháng Hai ký cam kết không lấn chiếm lòng
đường, nhóm còn lại thì đứng chốt cùng lực lượng cảnh sát giao thông phân
luồng tại các điểm giao thông quan trọng trên địa bàn quận. Đoàn viên Lý
137
Phúc Vinh, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, cầm xấp tờ bướm tuyên truyền
Luật Giao thông đường bộ đến phát cho từng sinh viên. Vinh giải thích: “Lực
lượng sinh viên tình nguyện tham gia hỗ trợ cho kỳ thi đại học, cao đẳng rất
đông và thường xuyên tham gia giao thông. Các bạn cần hiểu rõ Luật Giao
thông đường bộ thì mới hỗ trợ tốt cho các phụ huynh, thí sinh; đồng thời tiếp
sức với các lực lượng để đảm bảo cho giao thông được thông suốt, an toàn...”.
CT,1-7-2011
6. Rời xã Thạnh Quới, chúng tôi đến tuyến đường bê-tông dài 1.350 m (đi qua
hai ấp Lân Quới 1 và Qui Long) ở bờ Bắc Cái Sắn của xã Thạnh Mỹ. Ông Hồ
Văn Phú, Trưởng Khối vận xã Thạnh Mỹ chia sẻ: “Công trình được thực hiện
theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” với kinh phí đầu tư trên
200 triệu đồng. Chúng tôi dựa vào các cụ cao niên, các chức sắc tôn giáo để
phối hợp vận động nhân dân. Về phía Đảng ủy xã, đích thân đồng chí Bí thư
Đảng ủy trực tiếp đến gặp gỡ, chủ trì các cuộc họp dân để triển khai chủ
trương, kế hoạch và ghi nhận ý kiến đóng góp của nhân dân”. Anh Nguyễn Lê
Dũng, ở ấp Lân Quới 1, cho biết: “ Khi nghe các cụ cao tuổi trong ấp đến vận
động làm đường, tôi rất tâm đắc với chủ trương này. Dù phải đi mượn thêm
mới đủ 2,8 triệu đồng để đóng góp nhưng tôi rất sẵn sàng”. Theo ông Hồ Văn
Phú, cũng nhờ các vị chức sắc tôn giáo nhiệt tình ủng hộ, đứng ra vận động
những người có kinh nghiệm trực tiếp xây dựng đường, nên giá thành xây
dựng giảm hơn nhiều so với mức dự kiến. Khi thực hiện công trình, bà con
cũng đã đề nghị xã mua 2 máy trộn hồ và máy dầm đá trị giá gần 20 triệu
đồng để tự xây dựng tuyến đường. Các phương tiện này sau đó dùng để thực
hiện các công trình khác của địa phương. Đồng thời, bên cạnh sắm thêm các
dụng cụ làm đường, địa phương còn tận dụng lực lượng nhân công tại chỗ,
nên giá thành xây dựng mỗi mét tới từ 360.000 đồng giảm còn 220.000 đồng,
thậm chí sau này chỉ còn 190.000 đồng. Xã cũng đã thành lập Ban giám sát
138
gồm 7 người để giám sát thi công mỗi ngày, đảm bảo đúng thời gian và kỹ
thuật. Chị Lê Thị Cẩm Vân, ấp Lân Quới 1, cho biết: “Những ngày làm
đường, bà con người thì góp công, người góp phương tiện, trên dưới đồng
lòng nên công trình sớm hoàn thành”. Ngoài đóng góp tiền xây dựng tuyến
đường, bà con còn đóng góp trên 1.000 ngày công lao động và hiến đất, hoa
màu trị giá hàng trăm triệu đồng. Công trình xây dựng đường giao thông Bắc
Cái Sắn của xã Thạnh Mỹ cũng được UBND thành phố tặng bằng khen mô
hình “Dân vận khéo” năm 2010. Ông Hồ Văn Phú, Trưởng Khối vận xã
Thạnh Mỹ cho biết thêm, trong năm 2010, xã Thạnh Mỹ còn xây thêm 2 cây
cầu trị giá 77 triệu đồng và trên 200 ngày công lao động; còn từ đầu năm 2011
đến nay, xã đã vận động bà con xây mới 3 cầu bê-tông, trị giá trên 213 triệu
đồng và gần 300 ngày công lao động...
CT, 27-6-2011
7. Trước đây vợ chồng chị Ngọc - anh Khen sống ở phường Tân An, Ninh
Kiều. Năm 1987, cha mẹ chồng già yếu, người em út của anh Khen công tác ở
xa nên anh chị dọn về gần nhà cha mẹ ruột của anh Khen (nay thuộc phường
Phú Thứ, quận Cái Răng), để tiện việc chăm sóc cho cha mẹ. Năm đó, con trai
đầu lòng của anh chị mới được 5 tuổi. Chị Ngọc nhớ lại: “Lúc bấy giờ kinh tế
gia đình rất khó khăn, thu nhập chủ yếu là nhờ vào hoa lợi từ mấy công vườn
tạp. Hàng ngày, tôi mang trái cây, rau cải ra chợ bán và phải mang con theo vì
ông bà đã già yếu, ông xã tôi thì lo vườn tược, đi soi cá bống kiếm thêm thức
ăn hàng ngày, hoàn cảnh túng thiếu vô cùng...”. Anh Khen tiếp lời vợ: “Thời
gian đó, cha tôi bệnh nặng nằm một chỗ, việc chăm sóc cha đều do vợ tôi
gánh vác. Ai cũng khen vợ tôi phụng dưỡng cha mẹ chồng rất chu đáo cho
đến khi cha mẹ tôi qua đời”. Dù cuộc sống chật vật, anh chị luôn động viên
nhau cố gắng vượt qua khó khăn, cùng lo cải tạo vườn tược và chăn nuôi heo.
Trong quá trình cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn trái, chị tranh thủ trồng
139
xen rau màu để “lấy ngắn nuôi dài”. Năm 1990 chị sinh thêm con gái, tuy việc
chăm sóc, dạy dỗ 2 con nhỏ vất vả nhưng chị luôn đảm đang cùng chồng làm
lụng, chăn nuôi để phát triển kinh tế gia đình. Năm 2006, khi kinh tế gia đình
dần ổn định, vườn cây ăn trái cho thu nhập khoảng 40 triệu đồng/năm, chị bắt
đầu tham gia công tác phụ nữ ở khu vực, được hội viên tín nhiệm bầu làm Chi
hội trưởng. Trong công tác, chị Ngọc luôn gần gũi, quan tâm giúp đỡ hội viên,
nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ và nhận được nhiều giấy khen.
CT,17-6-2011
8. Từ thực tế trên, Ban ATGT TP Cần Thơ đã kết hợp với Cục đường thủy nội
địa Việt Nam, Ban ATGT quận Thốt Nốt, Ô Môn và huyện Phong Điền tổ
chức trao cặp phao cứu sinh và áo phao cho 350 học sinh thường đi học bằng
đò dọc, đò ngang, ở các trường: Tiểu học lộ Vòng Cung, Tiểu học Nhơn Ái II
(thuộc huyện Phong Điền) và các Trường tiểu học, THCS ở quận Ô Môn,
Thốt Nốt. Mỗi cặp phao cứu sinh và áo phao trị giá từ 70.000 đồng đến
200.000 đồng, trích từ nguồn ngân sách Cục đường thủy nội địa Việt Nam và
Ban ATGT TP Cần Thơ. Đây là việc làm rất ý nghĩa nhằm đảm bảo an toàn
tính mạng, sức khỏe cho học sinh và tạo thói quen để học sinh ý thức mặc áo
phao mỗi khi tham gia giao thông trên tuyến đường thủy nội địa.
CT,17-6-2011
9. Chị Thanh xuất thân trong một gia đình nghèo, đông anh em ở quận Ninh
Kiều. Cha mất sớm, vì hoàn cảnh khó khăn, chị nghỉ học đi làm phụng dưỡng
mẹ. Các chị lập gia đình, mỗi người một nơi, ai cũng nghèo nên không giúp
được gì cho nhau. Năm 1986, chị lập gia đình với anh Tô Văn Hóa, bạn gần
nhà, làm nghề chạy xe ôm. Từ khi có chồng, chị Thanh nghỉ làm ở xưởng
bánh kẹo, lo việc nội trợ, chăm sóc chồng con, mẹ già. Để đỡ đần kinh tế với
chồng, chị Thanh mày mò học sửa quần áo. Được người quen cho chiếc bàn
máy may cũ, chị nhận đồ khách về sửa. Làm cẩn thận, giá rẻ nên chị được
140
nhiều mối gởi hàng làm. Đêm nào chị cũng thức đến khuya sửa đồ, dọn dẹp
nhà cửa. Mỗi tối đặt mình xuống giường, điều đầu tiên chị nghĩ là bài toán
chợ búa cho cả nhà vào ngày tới trong khoảng 30.000 đồng rồi mới yên tâm
chợp mắt. Khoảng 4 giờ sáng chị đã thức, giúp mẹ làm vệ sinh, nấu cháo
trắng cho mọi người ăn sáng rồi bắt tay vào những công việc thường nhật.
CT,12-6-2011
3. TỪ ĐỊA PHƯƠNG
1. Chuyện về nghề "phá núi" ở Hòn Sóc
Hòn Sóc, một trong bốn ngọn núi ở huyện Hòn Đất (tỉnh Kiên 07/2011
Giang), rộng 117 ha nhưng có đến hơn 95 ha đang bị hàng chục doanh nghiệp
thẳng tay nổ mìn để khai thác đá. Dưới chân Hòn Sóc thuộc địa bàn xã Thổ
Sơn, nghề xẻ đá đang phát đạt với hàng ngàn lao động, nhưng chẳng ai màng
đến chuyện hiểm nguy.
Mới tờ mờ sáng mà tiếng đục đá đã vang lên trên các bãi xẻ đá dọc theo con
đường nhựa từ thị trấn Hòn Đất chạy vào núi Hòn Sóc. Những người phu đá
da đen cháy vì phơi nắng gió lâu ngày cắm cúi căng dây làm chuẩn đưa búa
đập lên những cây đục bằng thép. Theo từng nhát búa, cây đục cắm sâu vào
những thớ đá xanh, chậm rãi tách phiến đá to đùng ra thành từng thanh dài
theo kích thước đã định sẵn. Ông Châu Kha, một thợ đục đá có thâm niên hơn
20 năm làm nghề, quê ở huyện Tri Tôn (tỉnh An Giang), nói: “Thợ xẻ đá làm
ăn sản phẩm, đục được một thanh đá 4 cạnh từ 15 cm đến 20cm, cứ đo chiều
dài, mỗi mét chủ bãi trả công 5.500 đồng”.
Ông Kha kể, hồi mới có các công trường khai thác đá ở Hòn Sóc, các chủ
doanh nghiệp phải chạy qua miệt Thất Sơn (tỉnh An Giang) thuê thợ xẻ đá về
làm, trả công cán rất hậu hỉ, bởi lúc đó cư dân địa phương chẳng ai biết nghề.
Lâu ngày, người Hòn Sóc thấy người Thất Sơn làm ăn được nên đến các bãi
xẻ đá học nghề, tới nay thì tay nghề ngang ngửa nhau. Nhưng theo ông
141
Nguyễn Quốc Đoàn, Chủ tịch UBND xã Thổ Sơn, dưới chân Hòn Sóc hiện
nay ở các bãi xẻ đá đang có hơn 1.000 lao động làm việc, trong đó chỉ có
chừng 40% là lao động của địa phương, số còn lại là dân Thất Sơn qua tạm trú
làm nghề. “Từ một phiến đá lớn xẻ ra những thanh đá nhỏ không phải dễ ăn.
Thợ xẻ đá chuyên nghiệp chỉ cần liếc qua khối đá là xác định được mạch đá,
từ đó dễ dàng căng mực, đục chẻ ra từng thanh. Người giỏi, mỗi ngày có thể
đục được 50m, kiếm được hơn 200.000 đồng. Nhưng dân mới vô nghề không
xác định được mạch đá, cả ngày đục chưa được 10m, còn làm bể vụn tảng đá,
bị chủ bắt đền”, ông Kha nói.
Những người phu xẻ đá ở Hòn Sóc nói, vì không có ruộng đất nên họ phải đeo
theo nghề đá, tiền công hiện nay rẻ như bèo. “Nhiều người thấy thợ xẻ đá cuối
ngày làm việc lãnh tiền công 100.000 đồng- 200.000 đồng/ngày/người thì cho
rằng nghề đá mau giàu. Nhưng họ đâu biết để chẻ được một thanh đá người
thợ phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”, nhiều khi búa đập vào tay bật máu tươi,
tiền công chỉ có 5.500 đồng/mét trong khi chủ bãi bán ra thị trường giá 50.000
đồng- 70.000 đồng/mét”, anh Minh, thợ xẻ đá ở ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn, nói.
Chỉ tay về phía những túp lều tạm bợ, xập xệ nằm rải rác quanh chân Hòn
Sóc, anh Minh cho biết đó là nơi tạm trú của những tốp phu đá từ Thất Sơn
qua làm ăn. Do hiện nay đội quân xẻ đá đông đúc nên tiền công của các chủ
bãi ngày càng rẻ, nhưng những người phu đá vẫn cắn răng làm việc. “Bất kể
ngày nắng hay mưa, hễ chủ bãi kêu là thợ phải xách búa, xách đục ra làm
việc. Nếu không làm thì sẽ có người khác nhảy vô thế chỗ ngay tức khắc, coi
như mất việc”, ông Kha nói.
Những người thợ xẻ đá ở Hòn Sóc luôn miệng than, đổ mồ hôi, đổ máu làm
việc cực khổ, công xá rẻ mạt nên chẳng tích lũy được. Nhưng ông Nguyễn
Quốc Đoàn nói, một ngày thợ đá thu nhập 100.000 đồng- 200.000 đồng mà
không tích cóp, dành dụm được tiền là vô lý. “Lâu nay ở các bãi đá vẫn tồn tại
142
dai dẳng nhiều tệ nạn, tình hình trật tự trị an rất phức tạp. Chồng suốt ngày
quần quật ngoài bãi đá kiếm tiền, chiều về nhậu nhẹt say sưa, trong khi vợ ở
nhà tụ tập đánh bài ăn tiền... Hầu như tháng nào công an xã cũng xử lý vài vụ
cờ bạc, đánh ghen, nhậu say gây rối. Cứ như vậy thì làm sao mà khá lên cho
được”, ông Đoàn nói.
Theo Sở Xây dựng tỉnh Kiên Giang, hiện nay quanh núi Hòn Sóc có đến 10
doanh nghiệp được cấp phép khai thác đá, trữ lượng cho phép khai thác lên
đến hơn 25.000.000m3. Đó là chưa kể hơn chục bãi đá khai thác tự phát của
cư dân địa phương. Bà Võ Ngọc Thứ, Giám đốc Sở Lao động- Thương binh
và Xã hội Kiên Giang, cho biết dù khai thác đá là một nghề hết sức nguy hiểm
nhưng tình trạng bảo hộ lao động ở các mỏ đá rất kém. “Hiện nay, trên địa
bàn tỉnh có hơn 3.000 lao động làm việc ở các mỏ đá, nhưng 10 người làm
nghề khai thác đá thì hết 9 người không thèm trang bị bảo hộ lao động, dù các
cơ quan hữu trách thường đến kiểm tra, nhắc nhở”, bà Thứ nói. Những người
thợ đá ở Hòn Sóc, dụng cụ hành nghề chỉ là vài chiếc đục lớn nhỏ bằng thép
và chiếc búa, nón vải, chân trần, lâu lâu mới thấy một người mang được đôi
găng tay bảo hộ lao động. Mỗi nhát đục chạm vào phiến đá, vụn đá bắn ra
xung quanh rào rào, nhưng chẳng thấy phu đá nào mang kính bảo vệ mắt. “Ở
đây, chuyện đập búa vào tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như cơm bữa, riết
rồi thợ nào cũng quen”, ông Châu Kha nói. Theo ông Nguyễn Quốc Đoàn, từ
trước đến nay khi xảy ra tai nạn nghiêm trọng, phu đá bị thương tật nặng hoặc
mạng vong, nếu các chủ mỏ đá, bãi đá có thông báo thì UBND xã mới biết.
“Nếu chủ mỏ ém nhẹm tai nạn để tự thỏa thuận bồi thường với nạn nhân thì
UBND xã và các cơ quan hữu trách cũng mù tịt. Những tai nạn nhỏ như đá
bắn vào mắt, đập búa giập tay, chân, đá lăn đè gây thương tích xảy ra hà
rằm... nhưng UBND xã vô phương thống kê vì không ai báo cáo”, ông Đoàn
nói. Ông Nguyễn Thiện Tấn, Thanh tra sở LĐ-TB&XH Kiên Giang, cho biết
143
khi kiểm tra an toàn lao động thì thợ đá nói trang bị bảo hộ lao động cồng
kềnh, vướng víu và nóng bức, làm việc giảm năng suất nên họ không sử dụng;
còn chủ mỏ đá thì trả lời lửng lơ: có trang bị bảo hộ nhưng phu đá không chịu
sử dụng, rốt cuộc các cơ quan hữu trách chẳng phạt vạ được ai.
Những người phu đá ở Hòn Sóc không ai quên được những tai nạn kinh
hoàng ập xuống đầu thợ đá. Ngày 14-10-2010, ông Trịnh Phúc ở ấp Bến Đá bị
đá đè chết tại mỏ Chín Hải. Tháng 5-2010, ông Nguyễn Văn Quy ở ấp Hòn
Sóc bị băng chuyền tải đá nghiến mất một cánh tay. Tháng 3-2010, ông Đặng
Đồng Khởi ở ấp Bến Đá cũng thiệt mạng trong khi khai thác đá. Ông Đoàn
nói, từ năm 2005 đến nay, ở các mỏ đá quanh chân núi Hòn Sóc năm nào
cũng xảy ra nhiều vụ tai nạn chết người. “Người ta khai thác đá thì lấy dần
dần từ trên ngọn xuống chân núi, còn mấy ông thợ đá ở Hòn Sóc cứ moi từ
dưới chân núi lên, nên sụp mỏ, đá đè chết người là chuyện tất yếu phải xảy ra.
Vụ tai nạn chết người kinh hoàng nhất xảy ra năm 2008, do khai thác sai quy
trình nên nguyên một khối núi đổ ụp xuống đầu công nhân đang làm việc làm
4 người chết tại chỗ, trong đó có hai cha con ông chủ mỏ đá”, ông Đoàn cho
biết.
Theo bà Võ Ngọc Thứ, hiện nay tình hình an toàn lao động ở các mỏ đá rất
lộn xộn, người không có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn cũng ào ào đi khai
thác đá, nên đã xuất hiện tình trạng các chủ mỏ đá đi thuê bằng cấp của các kỹ
sư địa chất để qua mặt các cơ quan hữu trách khi bị kiểm tra, giống như tiệm
thuốc tây thuê bằng của dược sĩ. Dù các cơ quan hữu trách của tỉnh Kiên
Giang đã làm hết cách yêu cầu phu đá sử dụng bảo hộ lao động để tự bảo vệ
thân thể, tính mạng nhưng hàng ngàn thợ đá ở Hòn Sóc và các mỏ đá khác
vẫn “vô tư”, ngày ngày nón vải chân trần lăn xả vào đá núi để đổi lấy chén
cơm manh áo. “Trời kêu ai nấy dạ, thương tật, chết chóc do đá gây ra cũng là
cái nghiệp chướng của nghề phá sơn lâm”, ông Châu Kha nói.
144
CT, 22-4-2011
2. Sức mạnh tình yêu
Tôi từng nghe câu nói: “Có sức mạnh tình yêu, người ta có thể làm nên những
điều kỳ diệu”, và khi được làm quen với người thương binh ¼ Trần Thanh
Tùng ở khu vực Thới Bình, phường Phước Thới, quận Ô Môn, tôi mới thấu
hiểu hết ý nghĩa. Có tình yêu Tổ quốc, anh sẵn sàng xông pha trận mạc, không
màng mạng sống; có tình yêu với người bạn đời, anh vượt qua nghịch cảnh,
xây đắp gia đình hạnh phúc. Đó chính là sức mạnh của tình yêu.
Trên con rạch Bằng Lăng (thuộc khu vực Thới Bình, phường Phước Thới,
quận Ô Môn) sau cơn mưa chiều, tôi gặp anh đang bơi xuồng gỡ mấy tay lưới
giăng cá đối. Anh nói rằng, dạo này kinh rạch ít cá tôm, chỉ đủ cho bữa cơm
chiều và không quên mời tôi ở lại “ăn ba hột”. Tỉ mẩn cột xuồng vào cây bần
dưới bến, anh lấy hai chiếc ghế đặt lên bờ rồi khẽ khàng lấy tay đặt mình lên
ghế, di chuyển một cách nhanh nhẹn. Gương mặt người đàn ông đã 46 tuổi
nhưng vẫn trẻ trung, hay cười khiến tôi có cảm giác thân thiện ngay từ cái
nhìn đầu tiên.
Cuộc trò chuyện của tôi và anh Tùng bắt đầu từ công việc giăng lưới, cắm câu
mấy chục năm qua của anh trên dòng Bằng Lăng này. Nghe vợ định nấu nồi
bánh canh đãi khách, anh Tùng nói tôi ngồi uống trà chờ anh chốc lát. Không
thể tin là người thương binh đôi chân đã cụt gần đến háng vẫn thoăn thoắt trèo
cây dừa cao hàng chục thước hái dừa cho vợ làm bánh. Đôi tay anh bám chặt
thân dừa, đôi chân còn sót lại chưa đầy gang tay vẫn cố quờ quạng bám lấy
thân dừa. Sự mất mát ấy tính ra đã 26 năm rồi nhưng trong vô thức, dường
như anh vẫn chưa chấp nhận mình đã mất đôi chân từng vạn dặm trèo núi
băng rừng trên đất nước Chùa Tháp.
* * *
145
Trời chiều lại đổ mưa, càng lúc càng nặng hạt và tạt vào căn bếp trống huơ.
Anh Tùng hớp từng ngụm trà nóng, kể cho tôi nghe về 18 tháng ngắn ngủi
được làm lính của mình. Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy tuy đã lùi xa nhưng
anh Tùng nhớ rành rọt như một ký ức đẹp, khó phai. Năm 1985, Trần Thanh
Tùng tình nguyện nhập ngũ, khi ấy anh vừa tròn 18 tuổi. Sau 5 tháng huấn
luyện ở Đồng Dù, anh lên đường cùng đoàn quân tình nguyện Việt Nam sang
làm nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia. Trở thành lính công binh,
đơn vị đóng quân ở tỉnh Pôsát, nhiệm vụ của anh Tùng cùng đồng đội là lội
suối băng rừng, trèo đèo vượt núi trên khắp đất nước Chùa Tháp để rà phá,
tháo gỡ bom mìn, trả lại sự bình yên, giúp người dân nước bạn an tâm cày cấy
và mở đường cho bộ đội tiến công tiêu diệt bọn Pôn-pốt. 13 tháng dạn dày
ngược xuôi, anh Tùng đã thấu tỏ những cực khổ, gian nan mà cũng lắm tự hào
của đời lính. Cái cảm giác ở tuổi ngấp nghé đôi mươi được cống hiến cho sự
nghiệp quốc tế vĩ đại cứ thôi thúc anh tỉ mẩn tìm gỡ bom mìn. Nhưng rồi một
ngày của mùa khô năm 1986, trong một lần mở đường cho bộ đội tiến công
vào khu vực Tam giác, gần biên giới Thái Lan, anh giẫm phải mìn. Phút giây
kinh hoàng xảy ra trong nháy mắt nhưng làm thay đổi cuộc đời anh, đôi chân
anh vĩnh viễn nằm lại nơi rừng sâu. Bất giác nhìn xuống cơ thể mình, anh
Tùng nói: “Lúc đó, tôi chỉ biết la một tiếng thất thanh rồi lịm đi...”.
Sau một thời gian điều trị và an dưỡng, anh Tùng trở về quê nhà, về lại dòng
sông bến nước Bằng Lăng trên chiếc xe lăn. Anh trở thành thương binh ¼,
vĩnh viễn mất 95% sức lao động.
18 tháng quân trường ngắn ngủi nhưng đến bây giờ, anh Tùng vẫn yêu đời
lính, bởi tình cảm tốt đẹp mà đồng đội dành cho nhau. Những đêm dừng chân,
những giờ giải lao, đồng đội lại kể cho nhau nghe về gia đình, làng quê,
chuyện người yêu ở quê nhà hẹn “hoàn thành nghĩa vụ quốc tế về mới tính
chuyện cưới xin”... Anh Tùng vẫn thường kể cho đồng đội nghe về dòng
146
Bằng Lăng quê nhà đầy ắp cá tôm, kể về cha mẹ đang chờ ở quê nhà và câu
nói của 6 đứa em thơ: “Anh Hai đi bộ đội oai thiệt!”, trong niềm mong nhớ, tự
hào...
Vừa lùa mấy con gà tre vào chuồng, anh Tùng vừa kể: “Qua Campuchia, tôi
bị sốt rét rừng tới ba lần đó chớ, nhưng được các anh chị quân y chăm sóc tận
tình lắm, nhất là đồng đội luôn yêu thương, quan tâm nhau như thể anh em
ruột. Tình cảm đó đến giờ tôi chưa phút nào quên”. Ngay như trong lần đạp
mìn phá cụt chân, anh được đồng đội hết lòng chăm lo, an ủi và nhiều người
đã rơi nước mắt với nỗi đau thể xác của anh. Cũng từ đó mà những tháng
ngày trải đời lính, anh thấu hiểu sâu sắc hai từ “đồng đội”.
* * *
Nghe chuyện anh kể, thấy chuyện anh làm, tôi trầm trồ thán phục, nhưng anh
cười ý nhị: “Không có vợ tôi chắc tôi đầu hàng số phận rồi”.
Những ngày giải ngũ về quê, anh Tùng gắn chặt trên chiếc xe lăn, sống khép
kín, mặc cảm. Thấy bạn bè cùng trang lứa có vợ đẹp con ngoan, làm lụng
chăm lo cuộc sống gia đình, anh chạnh lòng. Rồi trong những lần được bạn
đẩy xe lăn lên chợ Ô Môn chơi, như một duyên tiền định, anh gặp chị Nguyễn
Thị Đức – người đã nguyện cùng anh đắp xây hạnh phúc. Khi ấy anh vừa tròn
22 tuổi. Được sự động viên của chị Đức, anh Tùng đóng ghế tập đi. Anh đặt
một ghế lên trước rồi dùng sức của đôi tay nâng cơ thể lên ghế, sau đó chuyển
cái thứ hai lên trước... Cứ thế, từng bước, từng bước đầy khập khiễng và nhọc
nhằn, do không có thăng bằng nên hễ giơ ghế lên là đầu trút xuống đất: u đầu,
chảy máu không biết bao nhiêu lần. Rồi chị đứng sau lưng anh, nắm vai anh
để làm điểm tựa. Từng bước chân nhọc nhằn của anh Tùng, có chị dõi theo.
Nhờ vậy mà anh đã rời chiếc xe lăn, tự di chuyển, lo sinh hoạt hằng ngày. Với
anh Tùng, mỗi niềm vui trong đời đều có hình bóng người vợ một đời tần tảo.
147
Chị là đôi chân để anh bước. Chị là hạnh phúc để anh tìm. Và cũng chính chị
đã vì anh, cùng anh sau bao ngày “gừng cay muối mặn”.
Vợ chồng lập nghiệp, vốn liếng duy nhất là nền nhà chưa đầy nửa công đất.
Vốn là người con của sông nước, giỏi bơi lội từ nhỏ nhưng giờ anh không thể
lội vì đầu cứ cắm xuống vì do không chân để giữ thăng bằng. Chị lại làm trụ
đứng để anh ôm eo mà tập. Bà con đi qua lại cười mà ngán ngại, với lời nhận
xét: “Hai đứa này gan thiệt, sống nhờ tình yêu!”. Vậy rồi anh cũng có thể bơi
hàng trăm mét trên sông, nhanh nhẹn và chính xác như bao người khác. Anh
sắm xuồng câu, ngày ngày bơi dọc tuyến rạch Bằng Lăng, giăng lưới, cắm
câu, đặt lọp nuôi sống gia đình, dầu mưa, dầu nắng.
Biết vợ, con cần mình anh Tùng không cho phép mình dừng lại. Anh tiếp tục
hành trình tìm hạnh phúc. Con rạch Bằng Lăng những năm 90 tôm cá cạn dần,
ốc hến cũng ít, do bị ô nhiễm. Anh “lên bờ” học nghề đan bội, thúng, nia và
nghề mộc. Chị Đức nói gọn lỏn nhưng không dấu vẻ tự hào: “Không có đôi
chân nhưng đôi tay ảnh nhanh lắm, nhìn là học được ngay. Nghề đan với mộc
này đâu có ai dạy, ảnh học lóm không đó chớ. Đâu phải ai lành lặn cũng làm
được như ảnh”. Chẳng vậy, anh còn nuôi thêm gà thịt, gà kiểng và trồng mai
vàng để giúp gia đình có thêm thu nhập. Chị Đức cũng bỏ nghề vạn chài, tìm
lên khu công nghiệp Trà Nóc xin làm công nhân. Cuộc sống gia đình tuy thiếu
thốn nhưng đầy ắp tiếng cười. Tôi nhớ hoài câu nói của anh: “Cuộc đời nếu
cánh cửa này đóng thì vẫn có cánh cửa khác mở. Hãy cố gắng thực hiện ước
mơ, đừng buông xuôi!”.
Gian nan bước qua từng khúc quanh của đời người nhưng niềm động viên của
anh chị chính là hai đứa con. Con trai lớn của anh là Trần Quốc Hận, sau khi
học nghề đã làm tài xế cho một công ty và đã kết hôn. Còn cô con gái Trần
Thị Cẩm Hồng sắp vào lớp 9, học sinh khá của Trường THCS Lê Lợi (quận Ô
Môn). Chị Đức khoe, vợ chồng rất vui và chờ đợi vì sắp lên chức ông bà nội.
148
Mấy tháng nay anh Tùng bị cao huyết áp, người hay mệt mỏi nên chị Đức và
các con khuyên anh ở nhà nghỉ ngơi. Đành vậy! Nhưng việc nội trợ từ bếp
núc, giặt giũ, quét dọn nhà cửa, anh Tùng làm rất ngăn nắp, sạch sẽ. 26 năm
sống không có đôi chân nhưng anh có đôi tay vạn dặm. Chính đôi tay này đã
nâng đỡ đời anh. Chính đôi tay ấy đã dắt dìu gia đình đến bến bờ hạnh phúc.
Và đôi tay ấy đã nâng cánh những ước mơ của mái ấm này. Ông Đào Văn
Thắm, Trưởng Khu vực Thới Bình, nói rằng: “Nghị lực của anh Tùng lớn
lắm, đúng với câu “thương binh tàn nhưng không phế”. Nhất là anh đã xây
dựng được một mái ấm hạnh phúc, con cái thảo hiền. Tấm gương vượt khó
của anh thật xứng đáng để người dân khu vực chúng tôi học tập”.
Cuộc sống gia đìnhanh bây giờ tuy không dư dả nhưng đã ổn định, không còn
lo cái ăn cái mặc như ngày nào. Với anh, đó là hạnh phúc! Thứ hạnh phúc mà
người thương binh ấy đã phải truân chuyên, vất vả lắm để mưu cầu.
Chia tay vợ chồng anh Tùng trong căn nhà nhỏ bên rạch Bằng Lăng khi trời
đã nhá nhem tối, chia tay những con người nhỏ bé mà nghị lực thật lớn lao, ra
về trên con đường đá lởm chởm, dằn xốc của khu vực Thới Bình, bất giác tôi
hình dung con đường vợ chồng anh Tùng, chị Đức đã đi qua...
CT,30-7-2012
4. VĂN BẢN TIN TỨC
1. TP Cần Thơ thông qua kế hoạch xúc tiến đầu tư - thương mại - du lịch năm
2013 Thứ sáu, 21/09/2012 22 giờ 00 GMT+7
(CT)- Ngày 21-9-2012, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống đã
có buổi làm việc với Trung tâm Xúc tiến Đầu tư-Thương mại-Du lịch TP Cần
Thơ cùng các sở, ngành hữu quan thành phố về kế hoạch xúc tiến đầu tư-
thương mại- du lịch năm 2013.
Theo Trung tâm Xúc tiến Đầu tư-Thương mại-Du lịch TP Cần Thơ, năm 2013
trung tâm sẽ tập trung đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào các dự án phát triển cơ sở
149
hạ tầng và công nghiệp tại thành phố; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh việc phát
triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ở nội địa và xuất khẩu, xúc tiến phát triển
các loại hình du lịch thế mạnh của TP Cần Thơ. Theo kế hoạch, trung tâm sẽ
có các hoạt động xúc tiến, tăng cường hợp tác đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng
kim ngạch xuất nhập khẩu các mặt hàng giữa TP Cần Thơ với các nước như:
Hàn Quốc, Hà Lan. Mặt khác, có các hoạt động hội chợ triển lãm thương mại
tại Campuchia, Lào và các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn và khu
công nghiệp trên địa bàn thành phố… Kết nối với các địa phương trong các
hoạt động xúc tiến du lịch và hỗ trợ phát triển du lịch thành phố. Tại cuộc
họp, các sở ngành thành phố đã cơ bản thống nhất với kế hoạch này. Trong đó
trọng tâm đẩy mạnh kêu gọi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, công nghiệp và
du lịch tại thành phố, đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống đã yêu cầu Trung tâm
Xúc tiến Đầu tư-Thương mại-Du lịch TP Cần Thơ tiếp thu các ý kiến đóng
góp và hoàn thiện bản kế hoạch để trình UBND thành phố phê duyệt.
KHÁNH TRUNG
2. Tăng cường tập huấn nghiệp vụ về công tác đốingoại nhân dân Thứ bảy,
22/09/2012 08 giờ 19 GMT+7
(CT) – Ngày 21-9-2012, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Ban
điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) phối hợp với Liên hiệp Các tổ chức
hữu nghị TP Cần Thơ tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác đối ngoại
nhân dân năm 2012. 80 cán bộ, công chức, viên chức phụ trách công tác đối
ngoại đang công tác tại các sở, ban, ngành, đoàn thể, cán bộ các trường Cao
đẳng, Đại học trên địa bàn thành phố, các đơn vị sự nghiệp đang thực hiện các
chương trình dự án có nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài đã tham gia lớp tập huấn.
150
Trong 1 buổi tập huấn, các học viên được học tập, quán triệt các nội dung về
công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới và biện pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động đối ngoại nhân dân; báo cáo tổng quan về công tác phi chính
phủ nước ngoài, định hướng công tác phi chính phủ nước ngoài những năm
tới; các quy định pháp lý có liên quan;…
Trước đó, chiều ngày 20-9-2012, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị TP Cần Thơ
cũng đã tổ chức buổi tập huấn về nâng cao năng lực cho cán bộ vận động và
tổ chức thực hiện dự án phi chính phủ nước ngoài. Hơn 30 cán bộ, công chức,
viên chức đang công tác tại các Sở, ban, ngành, đoàn thể, các đơn vị sự
nghiệp đang thực hiện các chương trình dự án có nguồn viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài tham dự lớp được trang bị các nội dung về kỹ
năng viết dự án; giao tiếp đàm phán và kinh nghiệm vận động viện trợ các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài.
H. VÂN
3. Mạnh dạn cải cách thủ tục hành chính phù hợp thực tiễn, đúng quy định
pháp luật Thứ sáu, 21/09/2012 21 giờ 59 GMT+7
(CT)- Đó là ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND
TP Cần Thơ, trong buổi làm việc với Sở Nội vụ về công tác thực hiện cải cách
hành chính (CCHC) 9 tháng đầu năm 2012 và triển khai nhiệm vụ trong
những tháng cuối năm.
Trong 9 thánh đầu năm 2012, các ngành, các cấp tập trung chỉ đạo việc xây
dựng và triển khai công tác CCHC. Đến nay đã có 9/9 quận, huyện; 18/22 sở,
ngành đã ban hành chương trình tổng thể CCHC trong 10 năm và 64/85 đơn
vị ban hành kế hoạch CCHC năm 2012. Tất cả các sở, ngành, UBND các cấp
đều thực hiện tốt việc niêm yết, công khai thủ tục hành chính (TTHC). 9
tháng qua, mô hình Một cửa liên thông tại các sở, ban ngành TP Cần Thơ tiếp
nhận và giải quyết 565 hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp mới, với tổng
151
vốn gần 4.997 tỉ đồng; mô hình Một cửa ứng dụng công nghệ thông tin tại 9/9
quận, huyện đi vào hoạt động nề nếp, tiếp nhận trên 42.500 hồ sơ, trong đó
giải quyết đúng hẹn đạt tỷ lệ 96%,... Mô hình Một cửa liên thông, Một cửa
hiện đại từ phường lên quận từng bước được nhân rộng... Ngoài ra, các TTHC
được sở, ngành và UBND các quận, huyện rút ngắn thời gian giải quyết, tạo
thuận lợi cho tổ chức, cá nhân…
Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ biểu dương và
ghi nhận những nỗ lực mà Sở Nội vụ đã thực hiện qua công tác kiểm tra, hỗ
trợ các sở, ngành, các địa phương thực hiện có hiệu quả chương trình CCHC.
Trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến
thức tiếp cận và giải quyết TTHC cho cán bộ cấp cơ sở, tăng cường công tác
thanh, kiểm tra tại các đơn vị, địa phương thực hiện CCHC; hỗ trợ, hướng dẫn
các địa phương, mạnh dạn thay đổi TTHC phù hợp thực tiễn, đúng quy định
pháp luật...
H.V
4. Khởi công Tổ máy số 2 Công trình Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I Thứ sáu,
21/09/2012 21 giờ 44 GMT+7
(CT)- Sáng 21-9-2012, tại TP Cần Thơ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)
phối hợp với Nhà thầu liên danh Daelim (Hàn Quốc) –Sojitz (Nhật Bản) tổ
chức lễ khởi công xây dựng Tổ máy số 2 công trình Nhà máy Nhiệt điện Ô
Môn I (phường Phước Thới, quận Ô Môn). Đến dự có Thứ trưởng Bộ Công
Thương Lê Dương Quang; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương
Đảng, Bí thư Thành Ủy Cần Thơ; Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Nguyễn
Thanh Sơn cùng Công sứ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Cơ quan Hợp
tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và lãnh đạo các sở, ngành hữu quan TP Cần
Thơ.
152
Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I được thiết kế gồm 2 tổ máy, tháng 7-2009, Tổ
máy số 1 với công suất 330MW vận hành thương mại. Theo EVN, Tổ máy 2
do liên danh nhà thầu Daelim-Sojitz thực hiện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam
làm chủ đầu tư (vay vốn ODA từ JICA). Tổ máy số 2 cũng có công suất
330MW, với tổng mức đầu tư 9.722 tỉ đồng. Đây là nhà máy nhiệt điện ngưng
hơi truyền thống sử dụng 2 loại nhiên liệu là dầu FO và khí thiên nhiên, hoặc
hỗn hợp dầu FO/khí thiên nhiên. Dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng
vào năm 2015 sau 36 tháng xây dựng.
Phát biểu tại lễ khởi công, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang
đánh giá cao sự nỗ lực của EVN trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển
mạng lưới điện theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-
2020 và định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, góp phần giải quyết tình
trạng thiếu điện cho miền Nam trong các năm tới, cũng như đảm bảo cung
ứng điện năng phục vụ phát triển kinh tế cả nước. Để Tổ máy số 2 thực hiện
đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng công trình, Thứ trưởng đề nghị các ban,
ngành Trung ương và địa phương hết sức quan tâm hỗ trợ chủ đầu tư thực
hiện dự án. Chủ đầu tư, đơn vị tư vấn (Công ty Tư vấn Điện lực Tokyo), liên
danh nhà thầu… tiếp tục phát huy năng lực và kinh nghiệm của mình để hoàn
thành dự án đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình và an toàn trong quá
trình thi công dự án. Thứ Trưởng gởi lời cảm ơn Chính phủ Nhật Bản và
JICA đã tạo điều kiện, hỗ trợ Việt Nam vay vốn ODA và hy vọng sẽ tiếp tục
nhận được sự hỗ trợ trong thời gian tới.
Tin, ảnh: THU HOÀI
5. Các sở, ngành cần phối hợp chặt chẽ trong thực hiện công tác tài chính Thứ
năm, 20/09/2012 22 giờ 20 GMT+7
(CT)- Đó là chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống
trong cuộc họp về tình hình thực hiện công tác 9 tháng năm 2012 và kế hoạch
153
công tác quý IV/2012 của ngành tài chính (Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước,
Cục Hải quan TP Cần Thơ và Cục thuế thành phố) sáng 20-9.
Trong 9 tháng qua, các đơn vị thuộc Cục Hải quan thành phố đã tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
theo quy định của pháp luật. Thời gian qua, công tác thu ngân sách trên địa
bàn còn nhiều khó khăn, tính đến giữa tháng 9-2012 tổng thu ngân sách nhà
nước đạt trên 4.341 tỉ đồng, đạt 50,72% dự toán HĐND thành phố giao. Theo
Sở Tài chính, do giá nguyên nhiên liệu tăng cao, DN khó tiếp cận nguồn vốn
ngân hàng, lượng hàng tồn kho lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các
DN kém hiệu quả, đây là những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến
việc thu ngân sách nhà nước của thành phố thời gian qua. Ngoài ra, một số dự
án đầu tư đang ngừng hoặc chậm triển khai như: Nhà máy Nhiệt điện Long
Phú, khu kinh tế Định An… cũng ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu ngân sách
của thành phố…
Tại buổi họp, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống ghi nhận
những nỗ lực của các sở, ngành trong việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã
hội đề ra. Tuy nhiên, do khó khăn chung của nền kinh tế, thành phố cũng bị
ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch triển khai vốn. Đồng chí đề nghị trong quý IV,
các sở, ngành thành phố cần phối hợp chặt chẽ để điều hành thực hiện nhiệm
vụ- tài chính - ngân sách nhà nước tốt hơn. Sở Tài chính chủ trì phối hợp với
các sở, ngành, UBND quận, huyện tăng cường quản lý thu chi ngân sách nhà
nước, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả; Cục thuế tăng cường kiểm tra,
kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế các DN, tổ chức, cá nhân thu
đúng, thu đủ các khoản thuế, phí…Về phía thành phố sẽ đề xuất những giải
pháp cụ thể hỗ trợ các DN trên địa bàn tháo gỡ khó khăn, nhanh chóng ổn
định sản xuất…
THU HOÀI
154
6. TP CẦN THƠ Hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm
2012 Thứ năm, 20/09/2012 22 giờ 12 GMT+7
(CT)- UBND TP Cần Thơ vừa ban hành kế hoạch tổ chức các hoạt động
hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạchhơn năm 2012.
Chủ đề của Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2012 là "Nơi sinh
sống của chúng ta... Hành tinh của chúng ta... Trách nhiệm của chúng ta",
được phát động và hưởng ứng trên phạm vi toàn cầu. Qua đó, TP Cần Thơ
hưởng ứng chiến dịch này bằng các việc làm như: đẩy mạnh phong trào bảo
vệ môi trường tại nơi ở, cơ quan, trường học, các cơ sở sản xuất kinh doanh,
các khu dân cư, các khu vực công cộng; thu gom, xử lý rác thải, nạo vét kênh,
cống, rãnh thoát nước; các ngành chức năng tăng cường kiểm tra, xử lý
nghiêm những hành vi gây ô nhiễm môi trường; tổ chức treo băng rôn, áp
phích, khẩu hiệu về chủ đề môi trường tại các đường phố chính; phát động
phong trào bảo vệ môi trường tại các cơ sở với chủ đề: Ngày chủ nhật xanh,
Ngày thứ bảy tình nguyện, Ngày không sử dụng túi nilon; biểu dương, khen
thưởng những cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có thành tích trong bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững...
Đợt hưởng ứng này nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức cán bộ công chức và
cộng đồng về bảo vệ môi trường, có ý thức chấp hành tốt Luật bảo vệ môi
trường và các văn bản dưới luật. Phát động toàn dân tham gia phong trào bảo
vệ môi trường, phòng ngừa và thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
môi trường trên địa bàn thành phố bằng các hành động thiết thực để hưởng
ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2012.
H.V
7. Làm việc tại TP Cần Thơ, Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và xã hội
Phạm Thị Hải Chuyền: Quan tâm chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, gắn
với nhu cầu xã hội và doanh nghiệp Thứ năm, 20/09/2012 22 giờ 11 GMT+7
155
(CT)- Ngày 20-9-2012, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
(LĐ-TB&XH) Phạm Thị Hải Chuyền đã có buổi làm việc với Trung tâm
Chỉnh hình và phục hồi chức năng (CH&PHCN) Cần Thơ.
Theo báo cáo của Trung tâm CH&PHCN Cần Thơ, Trung tâm hiện có 35 cán
bộ, công chức viên chức, với chức năng khám, điều trị bệnh, chỉnh hình –
phục hồi chức năng vận động, vận động trị liệu… Mỗi năm, Trung tâm cung
cấp khoảng 700 dụng cụ chỉnh hình; khám và điều trị phục hồi chức năng
khoảng 3.000 lượt người. Trong điều kiện cơ sở vật chất hư hỏng, xuống cấp,
trang thiết bị máy móc quá hạn sử dụng, phải sửa chữa tạm thời, đội ngũ chưa
đồng bộ, tuyển dụng nhân sự khó khăn… nhưng trung tâm vẫn hạ quyết tâm
vượt khó, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, quan hệ tốt với các đối tác và địa
phương…
Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Phạm Thị Hải Chuyền đánh giá cao những đóng
góp của tập thể cán bộ, công chức viên chức, đã nỗ lực khắc phục khó khăn,
tận tụy chăm sóc, phục vụ điều trị cho bệnh nhân cũng như chia sẻ những khó
khăn trong hoạt động của Trung tâm thời gian qua. Bộ trưởng nhấn mạnh, để
góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, trung tâm được tiếp tục đầu tư thành
trung tâm cấp khu vực, nhưng không đầu tư dàn trải mà có cân nhắc chọn lọc
theo từng hạng mục cần thiết, với kế hoạch cụ thể, đồng bộ; song song với
đào tạo đội ngũ cán bộ vững vàng về chuyên môn, đáp ứng tốt nhất nhu cầu
điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân. Trong thời gian chờ đợi triển khai
kế hoạch đầu tư nâng cấp, Trung tâm cố gắng vượt khó, để tiếp tục phục vụ
tốt hơn nữa cho bệnh nhân.
Chiều cùng ngày, tập thể cán bộ công chức Sở LĐ-TB&XH TP Cần Thơ đón
tiếp Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH đến làm việc về hoạt động của ngành 9 tháng
năm 2012 và phương hướng những tháng cuối năm 2012. Ông Nguyễn Thanh
Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, đã đến dự.
156
9 tháng qua, ngành đã kịp thời triển khai các công tác trọng tâm và đạt nhiều
kết quả khích lệ trên các lĩnh vực, như: Giải quyết việc làm cho 39.600 lao
động, đạt trên 80% kế hoạch; đào tạo nghề trên 32.500 lao động (trên 4.500
lao động học nghề theo Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn); triển
khai xây dựng 3.000 căn nhà Đại đoàn kết và 9 mô hình giảm nghèo bền vững
ở các quận, huyện; trợ cấp thường xuyên cho 7.400 đối tượng chính sách,
người có công, xây dựng 91 căn và sửa chữa 64 căn nhà tình nghĩa; trợ cấp
thường xuyên cho 104.283 lượt đối tượng bảo trợ xã hội; triển khai hiệu quả
các hoạt động bảo vệ chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới… Trong những tháng
cuối năm, ngành dồn sức thực hiện các công tác trọng tâm, đảm bảo hoàn
thành kế hoạch, góp phần phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội thành
phố.
Ghi nhận và biểu dương những kết quả ngành LĐ-TB&XH thành phố đạt
được thời gian qua, nhiều công tác có khả năng đạt và vượt chỉ tiêu vào cuối
năm 2012. Bộ trưởng lưu ý, thời gian tới, ngành LĐ-TB&XH thành phố cần
quan tâm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện chính sách nhà ở
đối với người có công; có kế hoạch rà soát nhu cầu học nghề, đào tạo nghề có
địa chỉ, nghề trọng điểm, gắn với nhu cầu xã hội và doanh nghiệp; tập trung
đầu tư hoàn chỉnh một số trung tâm dạy nghề để đưa vào hoạt động, hạn chế
đầu tư dàn trải. Đồng thời, quan tâm việc thực hiện chế độ, chính sách của các
doanh nghiệp giải thể, đối với số lao động mất việc cũng như hỗ trợ việc làm,
bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động; đẩy mạnh phòng, chống tệ
nạn xã hội; làm tốt công tác thanh tra, hạn chế phát sinh tiêu cực trong thực
hiện chế độ, chính sáchcho các đốitượng quản lý; tích cực chăm lo cho người
nghèo, hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững.
ANH PHƯƠNG
157
8. Tập trung giải ngân vốn các công trình, dự án sử dụng vốn hỗ trợ từ Trung
ương Thứ năm, 20/09/2012 22 giờ 05 GMT+7
(CT)- Chiều 20-9, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ do đồng chí Trần
Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ làm
Trưởng Đoàn đã có buổi làm việc với UBND TP Cần Thơ cùng các sở, ngành
hữu quan thành phố và địa phương về tình hình triển khai thực hiện các công
trình, dự án sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn Trung ương hỗ trợ
có mục tiêu, vốn chương trình mục tiêu quốc gia năm 2012.
Theo đánh giá của các sở, ngành chức năng, Trung ương quan tâm hỗ trợ các
nguồn vốn cho thành phố, nhưng vốn bố trí cònthấp so với nhu cầu. Công tác
bố trí vốn cho các Chương trình mục tiêu quốc gia còn chậm (Trung ương
giao giữa tháng 5-2012, thành phố giao giữa tháng 6-2012) đã ảnh hưởng đến
tiến độ giải ngân vốn. Năm 2012, TP Cần Thơ có 22 dự án thuộc các lĩnh vực
y tế, giáo dục, xây dựng đường giao thông, thủy lợi… có sử dụng nguồn trái
phiếu Chính phủ, với tổng số tiền hơn 577,6 tỉ đồng. Theo số liệu Kho bạc
Nhà nước Cần Thơ, đến cuối tháng 8-2012 mới giải ngân được hơn 440,9 tỉ
đồng vốn Trái phiếu Chính phủ, đạt 76,33% kế hoạch. Ngoài ra, 21 dự án sử
dụng nguồn vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, với tổng số tiền 231,89 tỉ
đồng, tính đến cuối tháng 8-2012, các dự án này đã giải ngân được 145,38 tỉ
đồng, đạt 62,59% kế hoạch. Năm 2012, thành phố được Trung ương phân bổ
vốn cho 11/16 Chương trình mục tiêu quốc gia, với tổng số vốn 126,874 tỉ
đồng, trong đó vốn sự nghiệp 101,574 tỉ đồng, vốn đầu tư phát triển 25,3 tỉ
đồng; đến ngày 31-8-2012 đã giải ngân được hơn 11,24 tỉ đồng, đạt 11,07%
kế hoạch, chủ yếu là vốn sự nghiệp, cònvốn đầu tư phát triển chưa giải ngân.
Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng,
Bí thư Thành ủy Cần Thơ, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ yêu
cầu UBND thành phố cần chỉ đạo các sở, ngành chức năng và địa phương
158
đang làm chủ đầu tư và quản lý các dự án có sử dụng vốn hỗ trợ từ Trung
ương, vốn Trái phiếu Chính phủ phải tập trung quyết liệt cho công tác giải
ngân vốn trong các tháng còn lại của năm 2012. Đồng thời, thành phố cần
phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm tiến độ và chất
lượng các công trình, có biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Mặt
khác, cần chỉnh sửa hoàn thiện báo cáo và tổng hợp các kiến nghị để Đoàn
Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ xem xét và kiến nghị về Trung ương.
KHÁNH TRUNG
9. Phê duyệt "Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao TP Cần
Thơ giai đoạn 2012-2020" Thứ năm, 20/09/2012 09 giờ 42 GMT+7
(CT)- UBND TP Cần Thơ vừa ra Quyết định số 2231/QĐ-UBND ngày 13-9-
2012 về việc phê duyệt "Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao TP Cần Thơ giai đoạn 2012-2020".
Đề án có tổng mức đầu tư là 338 tỉ đồng, phân kỳ đầu tư qua 2 giai đoạn: Giai
đoạn 2012-2015, từng bước hình thành nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao trọng tâm là các khu nông nghiệp công nghệ cao, hệ thống thủy lợi phục
vụ sản xuất nông nghiệp; phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao chiếm 10-15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của
thành phố. Giai đoạn 2016-2020, TP Cần Thơ đẩy mạnh phát triển toàn diện
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao gồm: hệ thống các doanh nghiệp
ứng dụng công nghệ cao; các khu công nghiệp, nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao; vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hệ thống
thủy lợi phục vụ nông nghiệp công nghệ cao. Song song đó, ứng dụng trên
diện rộng công nghệ cao trong nông nghiệp để sản xuất các sản phẩm hàng
hóa có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, đưa tỷ trọng giá trị
sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 30-35% tổng giá trị sản
xuất nông nghiệp của thành phố. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP
159
Cần Thơ với vai trò là chủ đầu tư có trách nhiệm phối hợp với các sở, ban,
ngành và các quận, huyện để triển khai thực hiện Đề án. Song song đó, tập
trung vào các giải pháp cụ thể như: huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, phát
triển khoa học và công nghệ, tiếp cận thị trường, đào tạo nguồn nhân lực...
nhằm góp phần xây dựng nền nông nghiệp thành phố phát triển toàn diện theo
hướng hiện đại, bền vững.
MỸ THANH
10. Nhiều hoạt động văn hóa- thể thao đặc sắc mừng Xuân Quý Tỵ- mừng
Đảng quang vinh Thứ năm, 20/09/2012 09 giờ 36 GMT+7
* Góp ý thiết kế đường hoa “Cần Thơ xưa và nay”
(CT)- Chiều ngày 19-9-2012, đồng chí Lê Hùng Dũng, Phó Chủ tịch Thường
trực UBND TP Cần Thơ, Trưởng Ban Tổ chức các ngày lễ, kỷ niệm TP Cần
Thơ, chủ trì cuộc họp để thông qua kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa -
thể thao chào mừng năm mới 2013 và mừng Xuân Quý Tỵ-mừng Đảng quang
vinh.
Dự kiến nội dung tổ chức các hoạt động mừng Xuân Quý Tỵ 2013- mừng
Đảng quang vinh, bao gồm 12 hoạt động lớn, với 31 loại hình hoạt động.
Trong đó, các thành viên dành nhiều thời gian thảo luận các chương trình văn
nghệ mừng Xuân Quý Tỵ 2013- Mừng Đảng quang vinh (diễn trong đêm giao
thừa) và thống nhất địa điểm tổ chức tại công viên sông Hậu. Các thành viên
cũng thảo luận về việc tổ chức tuyên dương công dân tiêu biểu của thành phố
trên các lĩnh vực trong đêm giao thừa.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, đồng chí Lê Hùng Dũng yêu cầu các thành
viên Ban Tổ chức, các Tiểu ban chuyên môn và các đơn vị liên quan tích cực
tham gia với tinh thần trách nhiệm cao nhất, góp phần tổ chức thành công các
hoạt động văn hóa- thể thao mừng Xuân- mừng Đảng.
160
* Ngày 19-9-2012, Ban Tổ chức các ngày lễ, kỷ niệm TP Cần Thơ tổ chức
cuộc họp lấy ý kiến đóng góp thiết kế đường hoa nghệ thuật với chủ đề: "Cần
Thơ xưa và nay", nhằm phục vụ nhân dân và du khách vui đón Tết Nguyên
đán 2013. Đồng chí Lê Hùng Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP
Cần Thơ và lãnh đạo các sở, ban, ngành của thành phố đến dự.
Tại cuộc họp, đại diện tổ tư vấn đã giới thiệu về ý tưởng thiết kế đường hoa
nghệ thuật, hệ thống đèn màu trang trí trên các tuyến đường chính trong nội ô
thành phố trên cơ sở chỉnh sửa, bổ sung các ý kiến đóng góp từ cuộc họp
trước đó. Sau khi nghe đại diện các sở, ban ngành góp ý, đường hoa nghệ
thuật được chia thành nhiều đoạn, tương ứng với các nội dung: "Cần Thơ vào
xuân", "Cần Thơ xưa", "Cần Thơ nay" và "Hướng đến tương lai". Đường hoa
"Cần Thơ xưa và nay" kéo dài trên trục đường Võ Văn Tần – Nguyễn Thái
Học, với tổng chiều dài 451m. Đường hoa nghệ thuật là một không gian văn
hóa đa dạng gồm các công trình nghệ thuật sắp đặt trưng bày hoa, cây kiểng,
cây xanh… nhằm giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc, các loại hình nghệ
thuật tiêu biểu; đồng thời, phản ánh những thành tựu về kinh tế – xã hội của
TP Cần Thơ.
Các đại biểu cũng đã thống nhất trang trí cổng chào, hệ thống đèn màu trang
trí trên các tuyến đường chính trong nội ô thành phố, nhằm tạo cảnh quan đẹp
phục vụ bà con vui Xuân, đón Tết.
P.LAM - QUỐC THÁI
11. Lãnh đạo TP Cần Thơ tiếp đoàn đại biểu tỉnh Champasak, Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào Thứ năm, 20/09/2012 09 giờ 13 GMT+7
(CT)- Ngày 19-9-2012, đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Champasak, Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào do đồng chí Sỏn-Xay Sy-Phăn-Đon Ủy viên Trung ương
Đảng, Bí thư, Tỉnh trưởng tỉnh Champasak đã đến thăm và làm việc với lãnh
đạo TP Cần Thơ. Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí
161
thư Thành ủy Cần Thơ, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP
Cần Thơ cùng đại diện các sở, ban, ngành thành phố tiếp Đoàn.
Tại buổilàm việc, đồng chí Sỏn-Xay Sy-Phăn-Đon bày tỏ sự vui mừng và
niềm vinh dự khi được đến thăm và làm việc với lãnh đạo TP Cần Thơ. Đồng
chí cũng trình bày tóm tắt những hoạt động kỷ niệm trang trọng, sôi nổi của
tỉnh nhân kỷ niệm "Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào 2012"; đồng thời
nhấn mạnh: sự hỗ trợ giúp đỡ chí tình, nhiều mặt của Việt Nam trong thời
gian qua đã góp phần to lớn cho sự phát triển của Cộng hòa Dân chủ Nhân
dân Lào nói chung và tỉnh Champasak nói riêng. Trên tinh thần hợp tác toàn
diện, đồng chí bày tỏ mong muốn giữa TP Cần Thơ và tỉnh Champasak sẽ tiếp
tục tăng cường mối quan hệ hữu nghị hợp tác ngày càng bền chặt… Nhân
buổi gặp mặt, 2 bên cũng đã thảo luận với nhau về phương hướng và những
vấn đề hợp tác trong thời gian tới, như: chương trình đào tạo nhân lực; phát
triển nông nghiệp,…
Phát biểu tại buổi tiếp Đoàn, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND
TP Cần Thơ khẳng định mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết, gắn bó hợp tác nhiều
mặt giữa TP Cần Thơ và tỉnh Champasak trong thời gian qua. Thay mặt lãnh
đạo TP Cần Thơ, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn gửi lời chúc sức khỏe đến các
đồng chí lãnh đạo tỉnh Champasak và mong rằng mối quan hệ hữu nghị, tình
đoàn kết giữa 2 địa phương ngày càng phát triển bền vững.

More Related Content

DOC
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam, HAY, 9 ĐIỂM
PDF
Luận văn: Thể loại phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay, HAY, 9đ
PDF
Phân tích báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Phụ sản - Gửi miễn ...
DOC
Bài mẫu Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ Thuật, 9 ĐIỂM
DOCX
Luận Văn Thạc Sĩ Chủ Đề Tình Yêu Lứa Đôi Trong Thơ Của Xuân Diệu
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Tiểu Luận Môn Địa Lí Từ Sinh Viên Khóa Trước
PDF
Luận án: Đặc điểm hồi kí văn học Việt Nam (1975 - 2010), HAY
DOC
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam, HAY, 9 ĐIỂM
Luận văn: Thể loại phóng sự Việt Nam từ 1975 đến nay, HAY, 9đ
Phân tích báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Phụ sản - Gửi miễn ...
Bài mẫu Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ Thuật, 9 ĐIỂM
Luận Văn Thạc Sĩ Chủ Đề Tình Yêu Lứa Đôi Trong Thơ Của Xuân Diệu
Danh Sách 200 Đề Tài Tiểu Luận Môn Địa Lí Từ Sinh Viên Khóa Trước
Luận án: Đặc điểm hồi kí văn học Việt Nam (1975 - 2010), HAY

What's hot (20)

PDF
Luận văn: Những hình ảnh biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Tuân, HAY
PDF
Văn Học Thiếu Nhi (Đỗ Thị Thanh Hương).pdf
DOC
Nhân Vật Nữ Trong Truyện Ngắn Võ Thị Xuân Hà.doc
PPTX
Կերպարվեստի ժանրեր
DOC
Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí - Hoàng Anh - Boong Media
PDF
Liviu pop + curs de obligaţii 106 pagini
DOCX
Luận Văn Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Ngắn Lê Minh Khuê
PPTX
Vai trò của protein trong dinh dưỡng
PDF
Ngu phap toeic thay tuan toeic academy
PDF
Luận văn: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Nhật Ánh, HAY
PDF
Luận văn: Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn liên văn bản, HAY
DOCX
321+ Đề Tài Báo Cáo Tốt Nghiệp Ngành Văn Học – Điểm Cao Nhất Hiện Nay!
PDF
Luận văn: Số đỏ và kỹ nghệ lấy tây của Vũ Trọng Phụng, HAY, 9đ
PDF
Olah Tubuh Tari
PPTX
Կերպարվեստի ժանրեր
PDF
Luận văn: Vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của T...
PDF
Đặc trưng nghệ thuật Truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, HAY
PDF
Buku Pegangan Siswa PAI SD/MI Kelas 1 (edisi revisi 2014)
PDF
Đề tài viết về thiếu niên qua ba tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh
PDF
Luận văn: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Luận văn: Những hình ảnh biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Tuân, HAY
Văn Học Thiếu Nhi (Đỗ Thị Thanh Hương).pdf
Nhân Vật Nữ Trong Truyện Ngắn Võ Thị Xuân Hà.doc
Կերպարվեստի ժանրեր
Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí - Hoàng Anh - Boong Media
Liviu pop + curs de obligaţii 106 pagini
Luận Văn Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Ngắn Lê Minh Khuê
Vai trò của protein trong dinh dưỡng
Ngu phap toeic thay tuan toeic academy
Luận văn: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Nhật Ánh, HAY
Luận văn: Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn liên văn bản, HAY
321+ Đề Tài Báo Cáo Tốt Nghiệp Ngành Văn Học – Điểm Cao Nhất Hiện Nay!
Luận văn: Số đỏ và kỹ nghệ lấy tây của Vũ Trọng Phụng, HAY, 9đ
Olah Tubuh Tari
Կերպարվեստի ժանրեր
Luận văn: Vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của T...
Đặc trưng nghệ thuật Truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại, HAY
Buku Pegangan Siswa PAI SD/MI Kelas 1 (edisi revisi 2014)
Đề tài viết về thiếu niên qua ba tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh
Luận văn: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Ad

Similar to Luận văn: Đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ, HAY (20)

PDF
Tim hieu tieu_de_van_ban_bao_chi_tieng_viet_tren_cu_lieu_bao_tuoi_tre_va_than...
PDF
Luận văn: Từ ngữ địa phương trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc
DOC
On thi thptqg
PDF
Luận văn Các phương tiện biểu thị tình thái (PTBTTT - NV) thuộc ngôn ngữ ngườ...
PDF
Luận văn Đặc điểm ngôn ngữ báo chí trong chương trình thời sự của Đài phát th...
PDF
De cuong-on-tap-thptqg-nam-2015-mon-van
DOCX
Tổng Kết 628+ Đề Tài Báo Cáo Tốt Nghiệp Ngành Ngôn Ngữ Học – Điểm Cao Nhấ...
DOCX
Tổng Kết 200+ Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Học – Điểm Cao Nhất!.
PDF
Luận văn Phương tiện biểu thị tình thái ngôn ngữ nhân vật trong các phóng sự ...
PDF
Luận văn tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến tiếng việt thức trạng, đặc...
PPT
Phong cách ngôn ngữ báo chí
PDF
Luận án: Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí, 9đ
PDF
Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản hành chính trong Châu Bản triều Nguyễn(chiếu, c...
PDF
Luận án: Câu hỏi tiếng việt dưới góc nhìn lý thuyết thông tin, 9đ
PPTX
Nhóm 4 - PCNNBC- phong cách ngôn ngữ báo chí.pptx
PDF
Phân tích câu về cú pháp dựa vào thuộc tính kết trị của từ, HAY
DOCX
Phong cách ngôn ngữ tiếng việt
PDF
8734 2812201116036gtnguphaptiengviet
PDF
Phương ngữ Khmer Rạch Giá nhìn từ gốc độ văn hóa_TOMTAT_LV D_SOL.pdf
PDF
Phân tích đối chiếu chuyển dịch câu hỏi chính danh Anh - Việt về mặt cấu trúc...
Tim hieu tieu_de_van_ban_bao_chi_tieng_viet_tren_cu_lieu_bao_tuoi_tre_va_than...
Luận văn: Từ ngữ địa phương trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc
On thi thptqg
Luận văn Các phương tiện biểu thị tình thái (PTBTTT - NV) thuộc ngôn ngữ ngườ...
Luận văn Đặc điểm ngôn ngữ báo chí trong chương trình thời sự của Đài phát th...
De cuong-on-tap-thptqg-nam-2015-mon-van
Tổng Kết 628+ Đề Tài Báo Cáo Tốt Nghiệp Ngành Ngôn Ngữ Học – Điểm Cao Nhấ...
Tổng Kết 200+ Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Học – Điểm Cao Nhất!.
Luận văn Phương tiện biểu thị tình thái ngôn ngữ nhân vật trong các phóng sự ...
Luận văn tiếng lóng trên các diễn đàn trực tuyến tiếng việt thức trạng, đặc...
Phong cách ngôn ngữ báo chí
Luận án: Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí, 9đ
Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản hành chính trong Châu Bản triều Nguyễn(chiếu, c...
Luận án: Câu hỏi tiếng việt dưới góc nhìn lý thuyết thông tin, 9đ
Nhóm 4 - PCNNBC- phong cách ngôn ngữ báo chí.pptx
Phân tích câu về cú pháp dựa vào thuộc tính kết trị của từ, HAY
Phong cách ngôn ngữ tiếng việt
8734 2812201116036gtnguphaptiengviet
Phương ngữ Khmer Rạch Giá nhìn từ gốc độ văn hóa_TOMTAT_LV D_SOL.pdf
Phân tích đối chiếu chuyển dịch câu hỏi chính danh Anh - Việt về mặt cấu trúc...
Ad

More from Viết Thuê Khóa Luận _ ZALO 0917.193.864 default (20)

PDF
Khóa luận ngành tài chính ngân hàng chính sách xã hội, HAY
DOCX
Bài mẫu báo cáo thực tập tại ngân hàng chính sách xã hội, HAY
DOC
Bài mẫu báo cáo tại ngân hàng đầu tư và phát triển BIDV
DOCX
Báo cáo Thực trạng hoạt động cho vay cá nhân Tại Vietcombank, HAY
DOCX
Khóa luận tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, HAY
DOC
Bài mẫu tiểu luận về An ninh mạng, HAY
DOC
Bài mẫu Tiểu luận về an toàn giao thông đường bộ, HAY
DOCX
Tiểu luận Chiến lược cạnh tranh của công ty Amazon, HAY
PDF
Bài mẫu tiểu luận môn về Apple, HAY
DOCX
Bài mẫu Tiểu luận về FPT, HAY
DOCX
Bài mẫu Tiểu luận về chính quyền địa phương, HAY
PDF
Bài mẫu tiểu luận về công ty Vissan, HAY
DOCX
Tiểu luận Chiến lược marketing của kinh đô, HAY
DOC
Bài mẫu Tiểu luận về cà phê Trung Nguyên, HAY
DOC
Bài mẫu tiểu luận về bình đẳng giới, 9 ĐIỂM
DOC
Bài mẫu tiểu luận về bánh ngọt, HAY
PDF
Bài mẫu tiểu luận về báo in, HAY
DOCX
Bài mẫu Tiểu luận bảo vệ môi trường, HAY
DOC
Tiểu luận thực trạng bạo lực gia đình Việt Nam hiện nay
DOCX
Tiểu luận Nguyên lý marketing với đề tài về BITIS, HAY
Khóa luận ngành tài chính ngân hàng chính sách xã hội, HAY
Bài mẫu báo cáo thực tập tại ngân hàng chính sách xã hội, HAY
Bài mẫu báo cáo tại ngân hàng đầu tư và phát triển BIDV
Báo cáo Thực trạng hoạt động cho vay cá nhân Tại Vietcombank, HAY
Khóa luận tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, HAY
Bài mẫu tiểu luận về An ninh mạng, HAY
Bài mẫu Tiểu luận về an toàn giao thông đường bộ, HAY
Tiểu luận Chiến lược cạnh tranh của công ty Amazon, HAY
Bài mẫu tiểu luận môn về Apple, HAY
Bài mẫu Tiểu luận về FPT, HAY
Bài mẫu Tiểu luận về chính quyền địa phương, HAY
Bài mẫu tiểu luận về công ty Vissan, HAY
Tiểu luận Chiến lược marketing của kinh đô, HAY
Bài mẫu Tiểu luận về cà phê Trung Nguyên, HAY
Bài mẫu tiểu luận về bình đẳng giới, 9 ĐIỂM
Bài mẫu tiểu luận về bánh ngọt, HAY
Bài mẫu tiểu luận về báo in, HAY
Bài mẫu Tiểu luận bảo vệ môi trường, HAY
Tiểu luận thực trạng bạo lực gia đình Việt Nam hiện nay
Tiểu luận Nguyên lý marketing với đề tài về BITIS, HAY

Recently uploaded (20)

PDF
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PPT
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
PDF
10 phương pháp rèn luyên tâm trí vững vàng • Sống Vững Vàng #1
PDF
VIOLYMPIC TOÁN LỚP 2 NĂM 2025 - 2026 TỪ VÒNG 1 ĐẾN VÒNG 10
PDF
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
DOCX
123 ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I TOÁN 6 (1).docx
PDF
CHƯƠNG 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TẸEEEEEEEEEEE
PDF
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
PPTX
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
PPTX
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
PDF
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
PPTX
THUÊ 2025 - CHƯƠNG 1 TỔNG QUANưqeqweqw.pptx
PDF
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PPT
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
PPTX
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
PDF
[IP] Chương 2. Chứng từ trong TMQT TTQT.pdf
PDF
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
10 phương pháp rèn luyên tâm trí vững vàng • Sống Vững Vàng #1
VIOLYMPIC TOÁN LỚP 2 NĂM 2025 - 2026 TỪ VÒNG 1 ĐẾN VÒNG 10
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
123 ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I TOÁN 6 (1).docx
CHƯƠNG 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TẸEEEEEEEEEEE
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
THUÊ 2025 - CHƯƠNG 1 TỔNG QUANưqeqweqw.pptx
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
[IP] Chương 2. Chứng từ trong TMQT TTQT.pdf
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf

Luận văn: Đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ, HAY

  • 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH _________________________ Trương Thu Sương TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ TẢI MIỄN PHÍ KẾT BẠN ZALO:0917 193 864 DỊCH VỤ VIẾT LUẬN VĂN CHẤT LƯỢNG WEBSITE: LUANVANTRUST.COM ZALO/TELEGRAM: 0917 193 864 MAIL: [email protected] LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
  • 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ___________________ Trương Thu Sương TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ Chuyên ngành : Ngônngữ học Mã số : 662201 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRỊNHSÂM
  • 3. Lời cảm ơn Khi quyết định học sau đại học, em chọn ngành ngôn ngữ học xuất phát từ sở thích của bản thân. Trong quá trình học tại Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, em được mở mang kiến thức rất nhiều và em nhận ra rằng làm nghiên cứu khoa học không phải là điều dễ, và luận văn này chỉ là bước đầu tập tễnh đi vào con đường nghiên cứu. Em chân thành cảm ơn tất cả Thầy Cô đã dạy em. Khi viết những dòng này, học trò khắc ghi sâu sắc lòng biết ơn đối với Thầy Trịnh Sâm là người đã hướng dẫn học trò hoàn thành luận văn. Thầy Trịnh Sâm đã tận tình chỉ dạy cách thức làm việc cho học trò, uốn nắn từng câu từng chữ để luận văn nên vóc nên hình. Qua thời gian làm việc với Thầy, học trò học được ở Thầy nhiều bài học quý báu về phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc và say mê với công việc. Bên cạnh việc hoàn thành luận văn thì thành công của bản thân chính là sự trưởng thành trong nhận thức của học trò đối với cuộc sống và công việc. Sau này, dù đi đến đâu hay làm việc gì thì kỷ niệm đẹp nhất trong quãng thời gian học sau đại học tại Trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh chính là tình cảm thầy trò mà Thầy Trịnh Sâm đã dành cho em. Con cảm ơn mẹ, mẹ đã yêu thương con, hy sinh cả cuộc đời vì con, dõi theo từng bước con đi, dù giờ đây con đã trở thành bà mẹ của hai đứa con nhỏ. Em cảm ơn anh Triều và các con đã tạo điều kiện thuận lợi cho em, động viên em vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình học. Sau khi bảo vệ luận văn, em tự nhủ, bên cạnh vận dụng những kiến thức học được vào công việc, em sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu nhất của em, bù đắp lại thời gian qua. Em kính chúc quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè luôn hạnh phúc trong cuộc sống. Thêm một lần nữa em xin tri ân đến tất cả mọi người bằng niềm vui và lòng biết ơn chân thành nhất! Trương Thu Sương
  • 4. MỤC LỤC Lời cảm ơn Mục lục MỞ ĐẦU...................................................................................................1 Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG ................................................12 1.1. Cần Thơ ........................................................................................12 1.1.1. Vùng đất, con người................................................................12 1.1.2. Báo Cần Thơ ..........................................................................13 1.2. Phong cách ngôn ngữ báo chí .........................................................14 1.2.1. Các quan điểm khác nhau về phong cách ngôn ngữ báo chí ......14 1.2.2. Chuẩn ngôn ngữ và chuẩn phong cáchngôn ngữ báo chí..........16 1.3. Lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobsonvà việc nhận diện phong cách và thể loại......................................................................................20 1.4. Chức năng của phong cách ngôn ngữ báo chí ..................................24 1.5. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí............................................................28 1.5.1. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện .....................................28 1.5.2. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự tương tác .......................28 1.5.3. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự hấp dẫn..........................29 1.6. Một số thể loại báo chí tiêu biểu .....................................................30 1.7. Màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ ......................33 1.7.1. Màu sắc địa phương................................................................33 1.7.2. Màu sắc địa phương Nam Bộ ..................................................36 1.8. Tiểu kết .........................................................................................38 Chương 2 : NGÔN NGỮ NHẬT BÁO CẦN THƠ .................................40 2.1. Tiêu đề..........................................................................................40 2.1.1. Cấu tạo của tiêu đề..................................................................41
  • 5. 2.1.2. Sự phân bố 5W + 1H ở đơn đề ................................................49 2.1.3. Mối quan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề...................53 2.1.4. Một số thủ pháp nghệ thuật sử dụng ở tiêu đề ..........................55 2.2. Dẫn đề...........................................................................................56 2.2.1. Mô hình dẫn đề theo lý thuyết của F. Danes .............................57 2.2.2. Mô hình dẫn đề theo T- R- I....................................................65 2.2.3. Mô hình dẫn đề theo cấu trúc 5W + 1H....................................72 2.3. Đoạn văn.......................................................................................78 2.3.1. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch................................79 2.3.2. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc quy nạp..................................83 2.4. Văn bản.........................................................................................84 2.4.1. Mô hình 1...............................................................................85 2.4.2. Mô hình 2...............................................................................87 2.5. Màu sắc địa phương Nam Bộ .........................................................93 2.5.1. Từ biến thể ngữ âm.................................................................94 2.5.2. Từ ngữ địa phương .................................................................95 2.5.3. Từ ngữ xưng hô......................................................................98 2.5.4. Địa danh............................................................................... 101 2.5.5. Sản vật địa phương ............................................................... 103 2.5.6. Thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ ............................................... 106 2.5.7. Một só biểu thức diễn đạt...................................................... 107 2.6. Tiểu kết ....................................................................................... 110 KẾT LUẬN........................................................................................... 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................... 113
  • 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua, các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm các loại như báo nói, báo hình, báo ảnh, báo chữ đều có bước phát triển nhảy vọt. Hầu như ở thành phố nào, tỉnh nào cũng có các đài truyền hình, đài phát thanh, báo đảng. Và các cơ quan thông tấn địa phương bên cạnh những cái chung, xét riêng về mặt ngôn ngữ nó cũng có những yêu cầu riêng ví dụ như đáp ứng cho một bộ phận công chúng trên một địa bàn cụ thể. Và như vậy, liệu các phương ngữ địa lý, các phương ngữ xã hội có vai trò gì trong việc chuyển tải thông tin, chuyển tải các đường lối chính sách của nhà nước đến với người dân. Khác với tiếng Hán hiện đại, phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội khác biệt nhau rất lớn thậm chí phải dùng bút đàm, tiếng Việt đang tồn tại dưới dạng các phương ngữ và ít nhất theo một quan niệm phổ biến, tiếng Việt có 3 phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam. Giữa chúng ít nhiều có sự khác biệt, rõ nhất là về mặt ngữ âm và một ít là từ vựng. Tuy nhiên, cư dân của 3 phương ngữ này có thể giao tiếp với nhau một cách dễ dàng. Điều đó cho thấy rằng, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên thế đa dạng. Sự đa dạng gắn liền với các phương ngữ, liên quan đến vấn đề ở đây là gắn liền với các cơ quan truyền thông ở địa phương. Và giữ gìn, phát triển sự đa dạng của phương ngữ cũng như giữ gìn sự đa dạng sinh học, sinh thái thiên nhiên. Vậy liên quan đến chuẩn mực ngôn ngữ, việc xử lý các yếu tố phương ngữ đối với một tờ báo, đối với các cơ quan thông tấn ở địa phương như thế nào? - Phương ngữ Nam Bộ là một phương ngữ khá thống nhất, có thể dễ dàng nhận thấy là từ Ninh Thuận trở vào Cà Mau hầu như là không có sự khác biệt nhiều. Trong hệ thống phương ngữ đó, thành phố Cần Thơ với tư
  • 7. 2 cách là một cơ quan địa hành chính mà mọi người gọi là thủ phủ của Tây Đô, xét trên nhiều phương diện là có sức lan tỏa. Do vậy, có thể nói, nghiên cứu ngôn ngữ trên báo Cần Thơ là một nghiên cứu có tính chất điển hình và chắc chắn rằng, kết quả thu gặt được từ các ngữ liệu sẽ là những gợi ý lý thú và bổ ích cho cả phương ngữ Nam Bộ. - Là một người công tác tại báo đảng Cần Thơ, chúng tôi muốn có một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về việc sử dụng ngôn ngữ. Từ những khái quát đúc kết sẽ đề xuất một số gợi ý trong việc phát huy thế mạnh cũng như hạn chế những nhược điểm xét thuần túy về mặt ngôn ngữ của tờ báo mình hiện đang công tác. Từ tất cả những điều nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.1 Trước hết, cần minh định rõ cái đối tượng mà luận văn trực tiếp khảo sát. Khi xác định đề tài luận văn, đặc trưng ngôn ngữ của báo Cần Thơ, trong nhận thức của chúng tôi, là ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ, là các ngữ liệu khảo sát được sưu tập trên tờ báo này. Đương nhiên, là một tờ báo tại địa phương, với yêu cầu phục vụ một công chúng cụ thể, về mặt ngôn ngữ, hiển nhiên ít nhiều có sự khác biệt so với các địa phương khác cũng như ở các báo trung ương. Mặt khác, trong quá trình tiếp cận để làm rõ một số đặc trưng nào đó, luận văn sẽ tiến hành so sánh đối chiếu với một số ngữ liệu ở một số báo khác. Cũng cần lưu ý là, không phải tất cả các văn bản xuất hiện ở trên mặt báo nói chung, báo Cần Thơ nói riêng đều thuộc phong cách báo chí. Vì vậy cần phải xác định rõ hơn đối tượng mà luận văn khảo sát. 2.2 Đặc trưng ngôn ngữ của một tờ báo nhìn khái quát có thể được thể hiện ở mọi cấp độ ngôn ngữ dù tiếp cận từ trên xuống hay từ dưới lên. Tuy nhiên, theo chúng tôi, các đơn vị sau đây: i) tiêu đề, đề dẫn, đoạn văn và văn
  • 8. 3 bản; ii) màu sắc địa phương là những thành tố có khả năng thể hiện rõ nhất. Ở i), là những thực thể thuộc cấp độ ngôn ngữ, còn ở ii), là các biểu thức ngôn từ thuộc về lời nói theo lý thuyết của Saussure. 2.3 Về mặt thể loại báo chí, xét từ góc độ ngôn ngữ học cũng như truyền thông học, hiện nay có nhiều nghiên cứu rất khác nhau. Hệ thống thể loại này nhiều hay ít là tùy thuộc vào quan niệm và các tiêu chí phân loại. Đó là chưa kể có một khoảng cách rất lớn từ lý thuyết và việc vận dụng ngay ở cách định danh ở các tòa soạn báo. Đây là một vấn đề hết sức lý thú nhưng không phải là trọng tâm của luận văn. Để tiện làm việc, xuất phát từ cách định danh của tòa soạn, ngữ liệu mà chúng tôi sưu tập gồm các thể loại sau đây: - Tin tức - Phóng sự - Phỏng vấn - Phản ánh, ghi nhanh - Gương điển hình. Bên trên, ngoài việc nhận diện 3 thể loại đầu là khá hạn hữu và phổ biến, cách gọi tên các thể loại thuộc nhóm sau xuất phát từ tính quen dùng và thực tiễn ở tòa soạn báo. Chúng tôi hiểu là, sự phân loại ở đây chỉ có tính chất tương đối, chủ yếu là để tiện làm việc. Chúng tôi cũng xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ xuất bản từ đầu năm 2010 đến 9 – 2012. 3. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 3.1 Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của báo Cần Thơ, bao gồm những đặc trưng có tính chất phổ biến cũng như những đặc trưng riêng là mục tiêu mà luận văn hướng đến. Về phương diện thứ nhất, như đã nói, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất, các đặc trưng ngôn ngữ thuộc kiểu này có thể thể hiện
  • 9. 4 trên nhiều cấp độ ngôn ngữ. Kết quả của luận văn này góp phần làm rõ thêm một số đặc trưng chung của báo chí hiện đại. Về phương diện thứ 2, ở đây, chúng tôi không hoàn toàn dùng thủ pháp đối lập có không mà đặc biệt chú ý đến độ đậm nhạt của các phương tiện ngôn ngữ. Xin lưu ý, một số từ ngữ của từ ngữ địa phương Nam Bộ lúc đầu chỉ xuất hiện ở trong vùng sau đó được một số báo chí địa phương sử dụng và lâu dần, nó hoàn toàn nhập vào hệ thống tiếng Việt toàn dân. Và đến lúc nào đó, người sử dụng quên mất gốc gác của nó, đó là các trường hợp sau: chìm xuồng, trùm mền, rút ruột, quyết liệt, nở nồi, chiên, xào, .v.v… Nói rộng ra, lớp từ ngữ trong phong cách báo chí nói chung, báo Cần Thơ nói riêng chúng thể hiện bộ mặt ngôn từ mà ở đó người ta có thể nhận ra xu hướng phát triển từ vựng. Đương nhiên, báo Cần Thơ không tránh khỏi tình trạng du nhập khá nhiều từ vựng hoặc mô phỏng hoặc dịch nghĩa hoặc dùng nguyên dạng. Bên cạnh đó, do nhiều lý do khác nhau, các từ ngữ địa phương cũng tràn vào trang báo. Luận văn bên cạnh hướng tới các ngữ liệu trung tâm, cũng không bỏ sót các ngữ liệu thuộc ngoại vi, mặc dầu về mặt sử dụng tính tích cực và tiêu cực không như nhau. 3.2 Phương pháp nghiên cứu Ngoài các thủ pháp nghiên cứu mà bất kỳ một khảo sát nào cũng vận dụng như nhận diện, sưu tập, phân loại, miêu tả, luận văn này chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: thống kê các đối tượng ( từ ngữ, câu, văn bản các thể loại, v.v. ) và phân loại theo chủ điểm nghiên cứu, từ đó tìm ra các quy luật, các mối liên hệ giữa các đối tượng.
  • 10. 5 - Phương pháp đối chiếu, so sánh: so sánh, đối chiếu các đơn vị cùng loại; so sánh, đối chiếu cứ liệu ngôn ngữ trên báo Cần Thơ với một số báo khác để tìm ra những tương đồng và khác biệt; từ đó các kết luận có được vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát. - Phương pháp phân tích cú pháp- ngữ nghĩa: là phương pháp đặc trưng để nghiên cứu ngữ nghĩa, cấu trúc của các đối tượng đã thống kê ( các yếu tố được đặt trong hệ thống và xem xét trên nhiều bình diện). - Phương pháp mô hình hóa: để trình bày một cách có hệ thống; mô hình các thể loại văn bản, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả quan hệ của các đối tượng khảo sát ( qua các sơ đồ, bảng biểu). Trong quá trình nghiên cứu, các thủ pháp, phương pháp được vận dụng, kết hợp; tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sử dụng chủ yếu một phương pháp thích hợp. 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Lịch sử nghiên cứu phong cách học diễn ra trong một thời gian khá lâu dài. Trong “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” của Hữu Đạt (2000), tác giả chia ra hai giai đoạn trong lịch sử nghiên cứu phong cách học: giai đoạn trước Ch.Bally và giai đoạn sau Ch.Bally. Giai đoạn truớc Ch.Bally: trước khi các lý thuyết về ngôn ngữ học đại cương của F.de.Saussuse ra đời, việc nghiên cứu phong cách học chưa có tính hệ thống, chưa phải là một bộ môn khoa học thực sự vì nó chưa có được những phương pháp nghiên cứu cụ thể. Thậm chí, ngay cả những đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của nó vẫn còn là một vấn đề rất mơ hồ. Có thể nói rằng, trong nhiều thế kỷ hình thành và phát triển của ngôn ngữ học thế giới, phong cách học chưa hề xác lập được cho mình một chỗ đứng với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập. Phải đợi đến thế kỷ thứ XX sau khi F.de.Saussuse tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại trong ngôn ngữ học
  • 11. 6 với công trình lý thuyết về ngôn ngữ học đại cương, phong cách học mới có những điều kiện để trở thành một bộ môn khoa học độc lập thật sự với đầy đủ ý nghĩa của nó. Tiếp đến là giai đoạn sau Ch.Bally. Chính nhờ một hệ thống các khái niệm được từng bước hoàn chỉnh và một hệ thống các phương pháp nghiên cứu được định hình, phong cách học bắt đầu có cơ sở để xây dựng cho mình những cách thức làm việc, phương pháp luận và nội dung nghiên cứu. Từ đây, phong cách học trở thành ngành học mới đáp ứng những tiêu chuẩn cần có của một môn khoa học thật sự. Người ta gọi phong cách học từ giai đoạn này trở về sau là giai đoạn phát triển của phong cách học hiện đại. Người đặt nền móng đầu tiên cho phong cách học hiện đại chính là một trong các học trò xuất sắc nhất của Saussuse: Ch.Bally, đánh dấu một chặng đường mới của lịch sử nghiên cứu phong cách học. Phương pháp nghiên cứu của ông là đẳng nhất hóa các sự kiện ngôn ngữ. Ông chú ý nhiều tới “tính biểu cảm, gợi cảm” ở các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ và đặc biệt quan tâm tới sự phối hợp các sự kiện lời nói để tạo nên hệ thống các phương tiện này. Có thể nói Ch.Bally trở thành người mở đầu của nền phong cách học hiện đại chính là do cách tiếp cận rất mới của ông về các đối tượng nghiên cứu cũng như xây dựng phong cách nghiên cứu để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra. Sau Ch.Bally, việc nghiên cứu phong cách học vẫn được tiếp tục ở Pháp và phát triển ở nhiều nước như Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc. Trên đây là nội dung về lịch sử nghiên cứu phong cách học trên thế giới mà Hữu Đạt đã trình bày trong công trình nghiên cứu của mình. Còn truyền thống phong cách học ở Việt Nam cũng có một tiến trình phát triển riêng. Trước những năm 60, bộ môn phong cách học ở Việt Nam chưa xuất hiện. Trong khi đó trên bình diện thực tế, ta gặp không ít những lời hay ý đẹp nói
  • 12. 7 đến ý thức rèn luyện phong cách nói năng, giao tiếp, biểu hiện nét đẹp của truyền thống văn hóa Việt Nam rất cần được nghiên cứu từ góc độ phong cách học. Từ sau năm 1960, môn phong cách học tiếng Việt được hình thành ở Việt Nam (1964). Lúc đầu nó được gọi với cái tên “tu từ học”. Có thể xem đây là bộ môn kế thừa những kết quả ban đầu của việc vận dụng các lý thuyết về phong cách học của thế giới (chủ yếu của Liên Xô cũ) vào nghiên cứu thực tiễn Việt Nam. Trong công trình của mình, Hữu Đạt nêu ra những khái niệm cơ bản trong nghiên cứu phong cách học, bao gồm: khái niệm phong cách và phong cách học, phân biệt các hiện tượng đúng và hiện tượng chuẩn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt (chuẩn ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp,…). Đặc biệt tác giả đề cập đến cơ sở phân chia các phong cách chức năng. Theo tác giả, tiếng Việt được chia làm 6 loại phong cách chức năng, mỗi loại lại chia ra ở hai hình thức nói và viết. Cụ thể: phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật. Ở “Phong cách học tiếng Việt” của tác giả Đinh Trọng Lạc (1997) và “Phong cách học tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 1997) và Nguyễn Thái Hòa thì phân chia ra: i) các phong cách chức năng gồm: các phong cách chức năng của hoạt động lời nói và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và ii) trên cơ sở đối lập với ngôn ngữ phi nghệ thuật. Các phong cách chức năng của hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm: phong cách hành chính, phong cách khoa học, phong cách báo, phong cách chính luận và phong cách sinh hoạt. “Phong cách học tiếng Việt” của nhóm tác giả Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyễn Thái Hòa – Võ Bình (1982) thì chia ra các phong cách chức
  • 13. 8 năng tiếng Việt làm hai loại đó là i) phong cách khẩu ngữ và ii) phong cách văn hóa. Trong phong cách văn hóa lại chia ra: phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí – tin tức, phong cách hành chính công vụ, phong cách cổ động, phong cách nghệ thuật. Phong cách học văn bản của Đinh Trọng Lạc (1994) cũng là một công trình có giá trị trong việc luận bàn về vấn đề phong cách học xét từ góc độ văn bản. Mục đíchcủa giáo trình này là nêu lên sự cần thiết phải mở rộng phạm vi nghiên cứu phong cách học, đồng thời đi sâu vào những vấn đề mà sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản đã đặt ra cho bộ phận này. Khi vượt qua giới hạn của câu – mà ngữ pháp truyền thống cho là loại đơn vị ngữ pháp thuộc bậc cao nhất – để đi đến những đơn vị quy mô và kích thước lớn hơn những văn bản, thì ngôn ngữ học văn bản đã thật sự làm một cuộc cách mạng, vì nó đã được ngôn ngữ học nâng lên một tầm khoa học bao quát hết đối tượng của mình. Trong lĩnh vực phương ngữ học, “Phương ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Thị Châu ( 2004 ) được xem là một công cụ thiết thực cho người nghiên cứu ngôn ngữ học. Giáo trình thật sự là một cẩm nang bổ ích giúp người nghiên cứu bổ sung nền tảng kiến thức ngôn ngữ học nói chung, phương ngữ học nói riêng. Những vấn đề trong giáo trình được trình bày một cách mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu xoay quanh khái niệm phương ngữ học, đặc trưng phương ngữ cũng như bước đường diễn tiến của các phương ngữ, được xem xét trong thế đối lập giữa các phương ngữ với nhau cũng như giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân. Đặc biệt hơn cả, qua công trình nghiên cứu này, người nghiên cứu luận văn hiểu thêm cái hay cái đẹp của tâm hồn quê hương mỗi vùng miền chất chứa đằng sau ngôn từ mỗi phương ngữ, bởi lẽ “phương ngữ là biểu hiện vật chất cụ thể” cho vốn văn hóa của người dân
  • 14. 9 bản xứ. Trên cơ sở lý luận mà giáo trình cung cấp, người viết ứng dụng vào việc xem xét lý giải các văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ để thấy được bản sắc địa phương miền Tây thông qua các tác phẩm báo chí. Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí, các sách tham khảo nghiệp vụ, chuyên ngành báo chí, từ lý luận chung đến từng thể loại riêng thuộc phong cách báo chí. Từ nền kiến thức này, người nghiên cứu có một cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể, vừa khách quan vừa chủ quan về vấn đề mình quyết định nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu dạng này như: “Đi tìm bản sắc tiếng Việt” của Trịnh Sâm (2011), Nhà xuất bản Tuổi trẻ. “Ngôn ngữbáo chí”, Vũ Quang Hào ( 2007 ), Nhà xuất bản Thông tấn. “ Ngôn ngữ báochí – Những vấn đề cơ bản”, Nguyễn Đức Dân (2007), Nhà xuất bản Giáo dục. “Tác phẩm báo chí ” của Trần Thế Thiệt ( 1995), Khoa báo chí – Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội. “Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí” của Nguyễn Trọng Báu (2002), Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện báo chí và tuyên truyền, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. “Công việc của ngườiviết báo” của Hữu Thọ (1997), Nhà xuất bản Giáo dục. “Cácthể ký báochí” của Đức Dũng ( 1996 ), Nhà xuất bản Văn hóa Thể thao. “Công tác biên tập”, Claudia Mast ( 2003 ), Nhà xuất bản thông tấn. … Bên cạnh những công trình về phong cách, về ngôn ngữ báo chí và một số nghiên cứu về phương ngữ trong đó có phương ngữ Nam bộ nói trên,
  • 15. 10 khoảng 20 năm gần đây, trên cơ sở tiếng Việt, trào lưu phân tích diễn ngôn nói chung, phân tích diễn ngôn báo chí nói riêng cũng đạt được một số kết quả khả quan. Đặc điểm chung của trào lưu này là bên cạnh cách hình dung mỗi diễn ngôn là một chỉnh thể, việc phân tích cấu trúc của nó, bao gồm cả cấu trúc nội dung và cấu trúc hình thức, việc gắn diễn ngôn với quá trình hành chức với ngữ cảnh (ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp). Nói một cách khái quát, những yếu tố như quan hệ giữa diễn ngôn với hiện thực, diễn ngôn với người sử dụng, đã đặt ra nhiều vấn đề lý thú và bổ ích. Luận văn này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình đi trước, bao gồm một số lĩnh vực vừa nêu trên, mạnh dạn triển khai việc tìm hiểu đặc trưng trên nhật báo Cần Thơ một cách toàn diện và có hệ thống. 5. Đóng góp của luận văn 5.1 Luận văn không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết phức tạp của truyền thông học và ngôn ngữ báo chí. Bởi đây là những vấn đề mà thành tựu nghiên cứu trên cứ liệu tiếng Việt là rất lớn. Vả lại là một công việc quá sức đối với người nghiên cứu. Tại đây, thông qua những nhận xét, đúc kết cụ thể, luận văn muốn làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về vai trò và chức năng của phương ngữ ( nhất là phương ngữ Nam bộ từ Ninh Thuận trở vào), một phương ngữ tương đối thuần nhất về mặt ngôn ngữ lại được số người sử dụng nhiều nhất đối với những phạm vi giao tiếp trên địa bàn, trong đó có giao tiếp bằng báo chí. 5.2 Là một người công tác trong ngành báo chí, khi tiến hành đề tài này, người viết trước hết xem đây là cơ hội để học tập, nâng cao trình độ về mặt lý thuyết cũng như khả năng xử lý thực tiễn và thông qua những đúc kết, những nhận xét cụ thể, hy vọng góp sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao những công việc báo chí có tính chất bếp núc và gợi ra một số gợi ý tương đối với những ai quan tâm đến đề tài.
  • 16. 11 6. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn chia làm 2 chương chính: Chương 1: Giới thiệu về cơ sở lý thuyết chung, mang tính khái quát, bao gồm: vùng đất và con người Cần Thơ, lịch sử báo Cần Thơ, đặc điểm chung của ngôn ngữ báo chí, cách phân chia và nhận diện các thể loại thuộc phong cách báo chí, đặc biệt là vai trò của phương ngữ trong giao tiếp xã hội cũng như trong việc tạo bản sắc văn hóa vùng, miền cho từng địa phương. Đây có thể coi là phần lý thuyết, tiền đề làm xuất phát điểm mà luận văn dựa vào để tiếp tục khảo sát những vấn đề cụ thể ở chương tiếp theo. Chương 2: Ngôn ngữ nhật báo Cần Thơ Trình bày những kết quả nghiên cứu cụ thể trên cả hai bình diện ngôn ngữ và lời nói trong đó đặc biệt chú ý là các nhân tố làm nét riêng về mặt ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ.
  • 17. 12 Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG Trước khi đi vào khảo sát những đặc trưng ngôn ngữ của báo in Cần Thơ không thể không đề cập đến một số tri thức nền liên quan đến đề tài. Ở chương này luận văn lần lượt đề cập đến các vấn đề sau đây: - Tổng quan về vùng đất Cần Thơ - Phong cách ngôn ngữ báo chí - Chức năng ngôn ngữ báo chí - Đặc điểm ngôn ngữ báo chí - Lý thuyết về giao tiếp của Roman Jakobsonvà việc nhận diện các phong cách và thể loại - Nhận diện một số thể loại trong báo chí, màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ 1.1. Cần Thơ 1.1.1. Vùng đất, con người “Cần Thơ gạo trắng nước trong Ai đi đến đó lòng không muốn về” Đó là câu ca dao quen thuộc ngợi ca xứ sở Tây Đô tươi đẹp. Với diện tích 1.389,59 km2 nằm bên bờ phải sông Hậu, Cần Thơ hiền hòa với những luồng gió mát thổi vào từ hai con sông là sông Hậu và sông Cần Thơ. Mỗi năm hai mùa mưa nắng cho Cần Thơ nhiều cây xanh trái ngọt, tạo nên đặc trưng của một xứ sở miệt vườn. Thiên nhiên ưu đãi, Cần Thơ trù phú nhiều sản vật. Đất đai màu mỡ, người dân nơi đây yên tâm chăm lo sản xuất, xây dựng cuộc sống ấm no giàu đẹp. Sự ưu đãi của thiên nhiên ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách của con người Cần Thơ. Người Cần Thơ chân chất thật thà, hiền hòa, chí tình chí nghĩa. Trong đối nhân xử thế, tình người luôn được xem làm trọng. Vì lẽ đó, ai một lần đến Cần Thơ đều lưu luyến trước tình đất tình người của đất Tây Đô.
  • 18. 13 1.1.2. Báo CầnThơ Phát huy truyền thống, thành tích báo chí Cách mạng trong các thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ ngày tái lập tỉnh Cần Thơ (1992), báo Cần Thơ được tách ra từ báo Hậu Giang cũ, trong hoàn cảnh mới vẫn tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng, từng bước trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng tờ báo, tạo bước đi lên vững chắc. Sau 7 năm (1992- 1999), phấn đấu xây dựng và phát triển, báo Cần Thơ luôn giữ vững tôn chỉ mục đích tờ báo của cơ quan ngôn luận của đảng bộ và diễn đàn của nhân dân địa phương. Báo Cần Thơ bám sát sự chỉ đạo và định hướng tuyên truyền của Đảng, các quy định của nhà nước, không ngừng cải tiến nội dung, cách tân hình thức, thông tin kịp thời các sự kiện chính trị quan trọng, phản ánh trung thực, sinh động mọi lĩnh vực đời sống xã hội, những tiềm lực của quê hương đất nước trong những năm đổi mới. Từ chỗ kế thừa báo Hậu Giang (cũ) định kỳ xuất bản 2 số/ tuần, 8 trang/ khổ 30 x40 cm, đến tháng 4 năm 1996, báo Cần Thơ tăng lên 3 số/ tuần, tháng 8 năm 1997 cả 3 kỳ báo trong tuần tăng từ 8 trang lên 12 trang và từ tháng 1 năm 1999 tăng thêm kỳ chủ nhật, 16 trang in 4 màu. Số lượng ấn bản phát hành ngày càng tăng lên. Hiện nay báo Cần Thơ là món ăn tinh thần không chỉ của cán bộ, công nhân viên chức mà còn của nhân dân địa phương. Cùng với việc chăm lo xây dựng phát triển đội ngũ, báo Cần Thơ từng bước đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng tốt nhất việc chuyển tải thông tin, đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước đến với đông đảo bạn đọc. Đi đôi với việc tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng các kỳ báo Cần Thơ, kể từ ngày 01-01-2001, báo Cần Thơ trở thành nhật báo.
  • 19. 14 1.2. Phong cáchngôn ngữ báo chí 1.2.1. Các quan điểm khác nhau về phong cáchngôn ngữ báo chí Như chúng ta đã biết, phong cách học trên thế giới đã có lịch sử từ rất lâu đời, nhưng ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu này còn khá mới mẻ, bắt đầu từ những thập niên 60 của thế kỷ trước. Chưa có một công trình nghiên cứu phong cách học thật sự xét một cách toàn diện các cấp độ ngôn ngữ. Các nhà nghiên cứu còn tranh luận với nhau nhiều vấn đề thuộc phong cách học. Thậm chí, riêng bản thân một nhà ngôn ngữ học cũng có sự thay đổi quan điểm theo thời gian. Do đó việc phân chia các phong cách chức năng của tiếng Việt còn là một vấn đề rối rắm, chưa thống nhất. So với các phong cách khác, về mặt lí luận và nhận thức, phong cách báo chí được nhìn nhận như một phong cách độc lập là khá muộn. Các tài liệu như Tu từ học tiếng Việt hiện đại (Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, 1975) hay Phong cách học tiếng Việt (Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình, 1982) không đề cập đến phong cách báo chí. Mãi đến 1982, Nguyễn Thái Hòa mới đề cập trong cuốn Phong cách học tiếng Việt. Như vậy, đến thập niên 80 của thế kỉ XX, phong cách chức năng báo chí tiếng Việt mới được nhìn nhận như một phong cách độc lập, mặc dù báo chí tiếng Việt đã có từ năm 1865, năm Gia Định Báo ra đời. Nhóm tác giả Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyễn Thái Hòa – Vũ Bình (1982) chia tiếng Việt toàn dân ra hai thế đối lập là phong cách khẩu ngữ và phong cách văn hóa (văn học). Trong phong cách văn hóa lại bao gồm các phong cách chức năng: phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí - tin tức, phong cách hành chính - công vụ, phong cách cổ động và phong cách nghệ thuật. Trong cả hai công trình nghiên cứu của mình năm 1991 và năm 1997, tác giả Đinh Trọng Lạc đều quan niệm các phong cách chức năng tiếng Việt
  • 20. 15 bao gồm hai loại là phong cách chức năng của hoạt động lời nói và phong cách hoạt động nghệ thuật đối lập với phong cách ngôn ngữ phi nghệ thuật. Các phong cách chức năng của hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm: phong cách hành chính, phong cách khoa học, phong cách báo, phong cách chính luận và phong cách sinh hoạt. Xét từ phương diện truyền thông tác giả Vũ Quang Hào cho rằng không có sự phân biệt một phong cách báo chí riêng biệt, trong thế đối lập với các phong cách chức năng khác của hệ thống tiếng Việt. Theo ông, báo chí thường sử dụng ba phong cách chủ yếu là: phong cách chính luận, phong cách khoa học và phong cách hành chính. Quan niệm của tác giả Hữu Đạt (2000) trong công trình nghiên cứu “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” thì đứng từ một góc độ khác để phân chia các phong cách chức năng tiếng Việt. Hữu Đạt chia tiếng Việt ra làm sáu phong cách chức năng theo cách nhìn từ trong ra ngoài, bao gồm: phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học - nghệ thuật. Trong đó, mỗi phong cách lại có hai dạng nói và viết. Song song đó, cũng từ công trình nghiên cứu này, theo cách nhìn từ ngoài vào Hữu Đạt lại phân chia tiếng Việt thành hai thế đối lập, bao gồm: phong cách khẩu ngữ toàn dân và phong cách văn chương (còn gọi là phong cách gọt giũa). Trong phong cách văn chương lại phân ra các phong cách: phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật. Có sự khác biệt đáng chú ý trong hai cách phân chia vừa nêu trên. Ở cách phân chia thứ nhất, nói và viết chỉ coi là các dạng biểu hiện của phong cách chức năng. Tuy nhiên, ở cách phân chia thứ hai, nói và viết được quan niệm là chính phong cách chức năng. Tuy khác nhau, nhưng mỗi quan niệm
  • 21. 16 đều có những hạt nhân hợp lý của mình. Vấn đề quan trọng ở đây là sự phân biệt giữa một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là hình thức thể hiện của ngôn ngữ và một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là chức năng. Nhìn chung, từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở về sau, ở hầu hết các công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đều có sự phân biệt phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí xét trong thế đối lập với các phong cách chức năng ngôn ngữ khác. Phong cách ngôn ngữ báo bao gồm các kiểu và thể loại văn bản phục vụ cho mục đích trao đổi thông tin giữa cơ quan báo chí với bạn đọc, nhằm thực hiện chức năng tác động, chức năng giáo dục và thẩm mỹ, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà chức năng này hay chức năng kia nổi trội. 1.2.2. Chuẩnngôn ngữ và chuẩn phong cáchngôn ngữ báo chí 1.2.2.1. Chuẩn ngôn ngữ Có nhiều quan niệm khác nhau về chuẩn ngôn ngữ. Hoàng Tuệ quan niệm về chuẩn ngôn ngữ như sau: “ Chuẩn mựcnói một cách khái quátlà cái đúng. Đó là cái đúng có tính chất chung, tính chất bình thường được mọi ngườitrong cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận ở một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ. Cái đúng cũng đượcxác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định thuộc các phạm vi phátâm, chữ viết, dùng từ, cấu tạo từ mới và đặt câu”. [94, tr.21] Hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa cũng đồng ý với quan niệm trên về chuẩn ngôn ngữ. Riêng tác giả Hữu Đạt quan niệm chuẩn ngôn ngữ trước hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ. Tác giả Cù Đình Tú ( 1982) thì quan niệm chuẩn mực ngôn ngữ là hệ thống các phương tiện liên kết biểu hiện tốt nhất, hợp lý nhất, được mọi người
  • 22. 17 thừa nhận, sử dụng để phục vụ cho sự giao tiếp xã hội trong thời kỳ nhất định. Cù Đình Tú còn nhấn mạnh, hệ thống các phương tiện ngôn ngữ bao giờ cũng tồn tại dưới dạng các biến thể. Mỗi biến thể tương ứng với một chức năng giao tiếp nhất định, đúng trong phạm vi giao tiếp này nhưng có thể sai trong phạm vi giao tiếp khác. Cái được công nhận là chuẩn mực trong phong cách chức năng ngôn ngữ này chưa hẳn đã được chấp nhận ở phong cách chức năng ngôn ngữ kia. [93, tr.62]. Tác giả Cù Đình Tú này cũng đề cập, đối với các biến thể ngôn ngữ, chuẩn mực ngôn ngữ chỉ thừa nhận hoặc phủ định chứ không giải quyết vấn đề lựa chọn biến thể để sử dụng trong các phong cách chức năng ngôn ngữ. Song song với khái niệm chuẩn mực trong ngôn ngữ, người ta thường nhắc đến hiện tượng lệch chuẩn. Đó là những hiện tượng ngôn ngữ không phù hợp với thói quen sử dụng ngôn ngữ và đi khỏi cảm thức ngôn ngữ của cộng đồng [93, tr.21]. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, một số hiện tượng ngôn ngữ mới nảy sinh, ban đầu, chúng được coi là lệch chuẩn, nhưng được cộng đồng sử dụng thường xuyên và chấp nhận, dần dần những hiện tượng đó sẽ tham gia vào chuẩn. Ta thường bắt gặp hiện tượng lệch chuẩn trong các sáng tác văn chương, trong tác phẩm báo. Đặc biệt, báo chí là lĩnh vực tiên phong trong việc sử dụng các hiện tượng lệch chuẩn trong ngôn ngữ. Có thể phân chia các cấp độ của chuẩn ngôn ngữ gồm: i) chuẩn ngữ âm, ii) chuẩn từ vựng, iii) chuẩn chính tả iiii) chuẩn ngữ pháp. Chúng tôi lần lượt xem xét từng cấp độ của chuẩn ngôn ngữ như sau: i) Chuẩn ngữ âm: Chuẩn ngữ âm được đặt ra khi có hai hay nhiều biến thể phát âm cho cùng một từ. Hiện tượng được coi là chuẩn là hiện tượng
  • 23. 18 được dùng chung cho toàn quốc gia, cho mọi lĩnh vực giao tiếp, mọi phong cách chức năng. Hiện tượng chuẩn bao giờ cũng mang tính hợp lý, được cộng đồng chấp nhận và được sử dụng chính thức trong ngôn ngữ hành chính, pháp luật, mang tính nhà nước. Mặc dù vậy, chuẩn không phải là quy ước mang tính hành chính thuần túy. Tính quy ước này là kết quả cuối cùng của quy ước mang tính xã hội. Nó liên quan đến tính hệ thống, áp lực của cấu trúc tiếng Việt và chịu thử thách qua thời gian. Nói một cách khái quát, tiếng Việt không có chuẩn ngữ âm, ( tức không có giọng của vùng nào có đầy đủ các thế đối lập được thể hiện trong hệ thống ngữ âm), chuẩn mà chúng ta nhắc ở đây là chuẩn trên chữ viết. ii) Chuẩn chính tả: Nếu chuẩn ngữ âm được xây dựng trên việc lựa chọn các biến thể ngữ âm, chuẩn từ vựng đươc xây dựng dựa trên sự lựa chọn một đơn vị từ vựng trong loạt từ có nghĩa khác nhau mà người sử dụng dễ nhầm lẫn là một thì chuẩn chính tả là những quy định cụ thể về cách viết, cách phiên âm cho từng âm cụ thể. iii) Chuẩn từ vựng: Cần thiết để xác lập các chuẩn từ vựng, tránh nhầm lẫn các biến thể ngữ âm của cùng một từ hay các từ hoàn toàn khác nghĩa nhau, đảm bảo cho việc sử dụng từ đạt được sự chính xác và đúng đắn. So với chuẩn ngữ âm và chuẩn từ vựng, chuẩn chính tả ngoài tính dân tộc còn có tính quốc tế. Chuẩn chính tả và chuẩn ngữ âm có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một. Chuẩn chính tả là một hiện tượng phức tạp. Một mặt là do hệ thống chữ cái tiếng Việt vốn được mượn từ hệ thống chữ cái tiếng Latin dùng để ghi âm, mặt khác, mối quan hệ giữa âm và chữ vốn là mối quan hệ không ổn định trong lịch sử. Sự thay đổi tương đốinhanh cách phát âm một số phụ âm đã tạo nên những khó khăn nhất định trong việc phân biệt chính tả. Do đó, xây dựng
  • 24. 19 chuẩn chính tả đã và đang là vấn đề đặt ra. [21, tr.26]. iiii) Chuẩn ngữ pháp: Là toàn bộ những quy tắc quy định cho việc tổ chức câu trong quá trình giao tiếp. Bộ quy tắc này ở mỗi ngôn ngữ đều có những nét riêng ngoài những nét chung mang tính phổ quát. 1.2.2.2. Chuẩn phong cách ngôn ngữbáo chí Bên cạnh khái niệm chuẩn ngôn ngữ, chuẩn phong cáchcũng là vấn đề thời sự được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Trong nhiệm vụ của mình, phong cách học một mặt phải chỉ ra khả năng và hiệu lực biểu đạt của từng loại phương tiện ngôn ngữ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, mặt khác phải chỉ ra ở một phong cách chức năng nhất định thì sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như thế nào là hợp lý, là có hiệu lực. Do đó phong cách học có mối quan hệ mật thiết với vấn đề xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ trong đó có chuẩn mực phong cách. Theo tác giả Cù Đình Tú ( 1994), chuẩn mực phong cách là toàn bộ những quy ước, chỉ dẫn về tính hợp lý, tính đúng chỗ của việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với yêu cầu của mỗi phong cách chức năng ngôn ngữ. Nhắc đến chuẩn mực phong cách là nói đến màu sắc phong cách. Màu sắc phong cách là khái niệm gắn với phong cách chức năng ngôn ngữ, được thể hiện qua những đặc trưng chung về việc dùng từ, đặt câu ở từng phong cách chức năng cụ thể. Màu sắc phong cách là cái có tính chất ổn định tương đối và có tính chất thông dụng, là tập hợp những đặc điểm mang tính khác biệt của phong cách chức năng này với phong cách chức năng kia nên nó mang tính khách quan và có tính quy luật trong quá trình sử dụng, không phụ thuộc vào ý đồ chủ quan của người nói. Muốn phân tích đặc điểm ngôn ngữ của mỗi lời nói ra xem nó thuộc về phong cách chức năng nào, ta cần phải đặt nó trong quan hệ và hoàn cảnh
  • 25. 20 giao tiếp nhất định. 1.3. Lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson và việc nhận diện phong cách và thể loại Để đạt được hiệu quả giao tiếp thì quá trình giao tiếp phải đảm bảo các điều kiện là người nói và người nghe phải cùng một ngôn ngữ; đồng thời có sự tương xứng về hiểu biết trong lĩnh vực giao tiếp; có tập quán ngôn ngữ, thói quen sử dụng các quy tắc ngôn ngữ đang được dùng làm công cụ giao tiếp; có sự gần nhau về tâm lý và mức độ quan tâm với vấn đề đặt ra. Người nói ( viết) và người nghe ( đọc) nằm trong mối quan hệ truyền tin và tác động. Trong đó người viết là người cung cấp thông tin, là người tác động và thuyết phục. Người đọc, nghe, là người nhận tin và chịu sự tác động, thuyết phục. Đây là cơ sở làm xuất hiện phong cách báo chí- chính luận. Liên quan đến vấn đề đang bàn, mô hình 6 yếu tố và tương ứng với nó là 6 chức năng của Roman Jakobson (1960) không chỉ có ý nghĩa trong việc nhận thức bản chất của ngôn ngữ thơ ca mà còn có thể xem xét để nhận diện các phong cách chức năng và thể loại. Theo Roman Jakobson, mọi giao tiếp đều có 6 yếu tố sau: Quy chiếu Người gửi Thông điệp Người nhận Tiếp xúc Mã Và tương ứng với 6 yếu tố này, chúng ta có 6 chức năng ngôn ngữ khác nhau: chức năng biểu hiện (gắn với người gửi), chức năng thi ca (gắn với thông điệp), chức năng tác động (gắn với người nhận), chức năng nhận thức (gắn với quy chiếu), chức năng siêu ngôn ngữ (gắn với mã) và chức năng đưa đẩy (gắn với yếu tố tiếp xúc). Xem hình sau:
  • 26. 21 Nhận thức Biểu hiện Thi ca Tác động Đưa đẩy Siêu ngôn ngữ Theo tác giả, có thể lưỡng phân thành hai nhóm giao tiếp lớn. Đó là giao tiếp nghệ thuật và giao tiếp phi nghệ thuật. Trong giao tiếp nghệ thuật, ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là mục đích. Nó là một tấm kiếng mờ đục bởi vì cùng một lúc, nó phóng chiếu trục kết hợp lên trục đồng thời. Còn ngôn ngữ phi nghệ thuật là một tấm kiếng trong suốt, ngôn ngữ thuần tuý chỉ là phương tiện. Và cũng trên sự suy tưởng này, Roman Jakobson cho rằng mọi loại hình giao tiếp đều có 6 yếu tố và 6 chức năng như vừa đề cập ở trên. Vấn đề là ở chỗ, khi chúng ta nhận diện và phân loại một loại hình giao tiếp nào, một phong cách nào là dựa vào chức năng chủ đạo, chi phối các chức năng khác. Chẳng hạn, đối với phong cách nghệ thuật, chức năng thi ca nổi trội, chi phối và biến cải tất cả các chức năng khác. Phong cách khoa học và hành chính, chức năng nhận thức là chức năng nổi trội, chi phối và biến cải tất cả các chức năng khác. Cách kiến giải của tác giả có thể coi như là một phát kiến độc đáo, rất phù hợp với ngôn ngữ học hiện đại. Việc vận dụng mô hình của Roman Jakobson vào giao tiếp báo chí có phức tạp hơn. Nếu tính đến đặc điểm của thời đại và quan điểm maxit thì chức năng tác động mang tính định hướng của phong cách báo chí là chức năng nổi trội, chi phối và biến cải tất cả các chức năng khác. Còn nếu nhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin thì chức năng nhận thức sẽ được thay thế. Chức năng biểu hiện, gắn liền với người gửi. Ở đây có thể gắn với ban biên tập, chính kiến của một tờ báo. Nó là chức năng bộc lộ tính tình thái. Đối với những nhà báo có tài, thông qua các sự kiện mà họ trình bày, miêu tả, nó
  • 27. 22 có thể mang dấu ấn cá nhân. Đối với phương Tây, chức năng biểu hiện còn được bộc lộ qua việc nhìn nhận, đánh giá sự kiện, thậm chí còn thể hiện trong cách thức đưa tin. Chức năng thi ca, hay còn gọi là chất nghệ thuật của báo chí: gắn liền với văn bản. Mặc dù đây không phải là chức năng chính, tuy nhiên tính hấp dẫn, gợi mở như đã đề cập ở trên, không thể thiếu trong ngôn ngữ báo chí. Có thể ngôn ngữ báo chí không cho phép xuất hiện các hình tượng nghệ thuật nhưng thông qua so sánh, đối chiếu, sử dụng các ẩn dụ, một văn bản báo chí hay, đặc sắc thường vươn tới một mức độ nghệ thuật nhất định. Chức năng tác động, gắn liền với người đọc. Như đã sơ lược phân tích ở trên, đây có thể là chức năng quan yếu. Giao tiếp báo chí không chỉ cung cấp thuần tuý thông tin mà thông qua thông tin để nhằm tác động đến người nghe/người đọc, kêu gọi ở họ một sự cộng hưởng. Đây là cái mà báo chí maxit gọi là định hướng dư luận, giúp cho người đọc từ suy nghĩ đúng dẫn đến hành động đúng. Ngày nay, tính tác động của báo chí còn được thể hiện qua sự tương tác giữa công chúng với nhà báo, giữa công chúng với toà soạn báo. Nói cách khác, trang báo ngày nay không còn là độc quyền của các kí giả. Chức năng nhận thức, gắn liền với quy chiếu, tức là hiện thực được các văn bản báo chí đề cập đến. Chức năng này có liên quan đến một vấn đề khá tế nhị, đó là tính khách quan hay chủ quan trong việc chọn lựa các sự kiện. Báo chí phương Tây chủ trương trình bày sự kiện một cách lạnh lùng, để tự sự kiện nói lên, người viết không bình luận. Nói cách khác, ở đây, phần bình luận, đánh giá không xuất hiện trên bề mặt văn bản một cách tường minh mà dành do độc giả. Quan niệm này ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức ngôn ngữ của văn bản báo chí. Chẳng hạn trước một sự kiện, có nên sử dụng thủ pháp dẫn hay không dẫn và nếu có dẫn thì dẫn trực tiếp hay gián tiếp đều ít nhiều
  • 28. 23 có liên quan đến tính khách quan/chủ quan của sự kiện được đề cập. Còn theo quan điểm maxit thì không có chủ nghĩa khách quan tuyệt đối. Trong hàng loạt sự kiện xảy ra trong ngày, chọn yếu tố nào, không chọn yếu tố nào, chúng xuất hiện ở đâu, ở trang nào, mục nào, thể loại nào, và cách thức tổ chức văn bản, tất cả đều không tránh khỏi chủ quan. Cho dù lí giải nó theo hướng nào thì chức năng nhận thức cũng là chức năng quan trọng. Nó gắn kết rất mật thiết với các chức năng khác, mà trước hết là với chức năng tác động. Chức năng siêu ngôn ngữ, theo lí thuyết, gắn liền với mã ngôn ngữ, với tri thức nền, tức sự kiện. Để thực hiện một giao tiếp tốt, nhất là giao tiếp báo chí, giữa người viết báo với bạn đọc phải có cùng một mã chung, một tri thức nền chung. Đây là một yêu cầu có tính chất lí tưởng. Nhiều khi trong thực tiễn giao tiếp, ở một số thể loại nhất định, phải sử dụng ngôn ngữ để giải thích, thuyết minh về một sự kiện hay thuật ngữ nào đó. Đối với phong cách báo chí, có thể coi đây là chức năng thứ yếu nhưng rõ ràng không thể thiếu được. Chức năng đưa đẩy, gắn liền với yếu tố tiếp xúc. Cụ thể ở đây có sự cộng hưởng, sự phản hồi, sự tiếp xúc giữa nhà báo với công chúng. Đây là cuộc tiếp xúc có tính cách gián tiếp, không phải là giao tiếp mặt đối mặt nhưng nếu ai đó xem thường nó thì khó lòng nói được rằng cuộc giao tiếp đó là thành công. Tuy người đọc không xuất hiện trực tiếp nhưng khi cầm bút, nhà báo bao giờ cũng phải trả lời cho được đối tượng người đọc mà văn bản nhắm tới là ai, thành phần xã hội của họ thế nào, nhu cầu thẩm mĩ của họ ra sao. Liên quan đến vấn đề đang bàn, nếu chúng ta chú ý quan sát, mỗi một tờ báo, mỗi một cơ quan thông tấn thường có một số lượng độc giả rất đặc thù.
  • 29. 24 Như vậy, giao tiếp báo chí một mặt cũng có những đặc điểm chung của mọi loại hình giao tiếp, mặt khác lại bao chứa những đặc điểm riêng. Các đặc điểm riêng này, nói như Roman Jakobson, là tính chất nổi trội và chi phối của chức năng tác động, một chức năng rất quan trọng trong việc nhìn nhận sự kiện, tính khách quan và chủ quan, cũng như vai trò định hướng báo chí theo quan điểm maxit. 1.4. Chức năng của phong cáchngôn ngữ báo chí Theo Đinh Trọng Lạc ( 1994), phong cách báo là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo. Nói cụ thể hơn đó là vai của nhà báo, người đưa tin, người cổ động, bạn đọc,… tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự. Chức năng của ngôn ngữ được hiện thực hóa trong phong cách báo chí gồm các chức năng giao tiếp lý trí và chức năng tác động. Chức năng giao tiếp lý trí được hiểu cụ thể là thông báo, chức năng tác động là gây ra những biến đổi có ảnh hưởng tới nguyện vọng, nhu cầu của người nghe, người đọc. Theo quan điểm của Hữu Đạt, phong cách ngôn ngữ báo chí có nhiều chức năng gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ báo như: chức năng thông báo, chức năng hướng dẫn dư luận, chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, v.v… Sau đây, chúng ta lần lượt xem xét các chức năng đó: a. Chức năng thông báo: Báo chí ra đời trước hết là do nhu cầu thông tin. Xã hội càng phát triển, nhu cầu thông tin của con người càng lớn, báo chí trở thành một công cụ đắc lực khắc phục tình trạng đói thông tin của con người. Như vậy, nói tới đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí trước hết phải đề cập đến chức năng thông báo. Đó là chức năng đầu tiên của ngôn ngữ báo chí. Ngôn ngữ phải đảm bảo tính khách quan, trung thực trong việc phản
  • 30. 25 ánh thông tin nhằm đưa đến những thông tin lành mạnh, có ích giúp cho con người mở rộng sự hiểu biết và phát triển theo khuynh hướng toàn diện. Khi thực hiện chức năng thông báo, ngôn ngữ tham gia giao tiếp phải mang tính lý trí, gạt ra ngoài những cảm xúc cá nhân. b. Chức năng hướng dẫn dư luận: Chức năng hướng dẫn và tác động luôn luôn đi kèm với chức năng thông báo. Ngôn ngữ báo chí luôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ to lớn là hướng dẫn dư luận và tác động đến dư luận làm cho người đọc hiểu được bản chất của sự thật, để phân biệt rõ đâu là chân lý, đâu là ngụy biện. Từ đó, giúp bạn đọc định hướng rõ ràng, ủng hộ hay phản đối vấn đề mà báo chí đặt ra. c. Chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng: Sự thu hút của ngôn ngữ báo chí tạo ra khả năng tập hợp và tổ chức quần chúng rất lớn. Có thể nói, trong những điều kiện lịch sử nhất định, báo chí đã góp phần tạo ra những sức mạnh tinh thần to lớn đến mức chuyển hóa thành sức mạnh vật chất. Khi thực hiện chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, ngôn ngữ báo thiên về cách dùng các câu mệnh lệnh, kêu gọi. d. Tính chiến đấu mạnh mẽ: Đúng như Lê nin khẳng định, mỗi tờ báo thường là đại diện cho tiếng nói của các nhóm người hay các tập đoàn người. Trên thực tế, không phải lúc nào quyền lợi của các tập đoàn người trong xã hội cũng thống nhất với nhau. Khi đó báo chí hoạt động với tư cách là công cụ đắc lực, trực tiếp nhất phục vụ cho cuộc đấu tranh tư tưởng, chính trị của giai cấp mình. Tính chiến đấu của báo chí được hình thành từ những cách lập luận đanh thép, từ các phương pháp sử dụng từ ngữ nhằm châm biếm, công kích, tiến tới phủ định đối phương. Nhiều người cho rằng, chỉ trong xã hội có giai cấp ngôn ngữ báo chí mới có tính chiến đấu. Không phải như vậy, tính chiến đấu của ngôn ngữ báo
  • 31. 26 chí vẫn luôn là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình tạo nên sự ổn định và phát triển của xã hội trên mặt trận chính trị tư tưởng. Đây chính là cuộc đấu tranh trong nội bộ nhân dân giữa các luồng tư tưởng đối lập nhau: đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và lạc hậu, giữa tích cực và tiêu cực. Tính chiến đấu của ngôn ngữ báo chí thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau. e. Tính thẩm mỹvà giáo dục: Báo chí muốn trở thành món ăn tinh thần thực sự của đông đảo bạn đọc thì ngôn ngữ của nó phải được chọn lọc, mang vẻ đẹp của ngôn từ, đảm bảo nguyên tắc về thẩm mỹ. Người viết phải biết lựa chọn từ ngữ và tìm tòi những kiểu kết hợp từ làm sao cho sáng tạo, vừa đạt được mục đích của mình vừa giữ được tính thẩm mỹ. Thực hiện được tính thẩm mỹ trong ngôn ngữ báo chí đồng nghĩa với việc đã thực hiện được tính giáo dục của báo chí. Tuy nhiên, tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí thường không hiện lên bề mặt của văn bản mà ẩn chìm sau những lớp ngôn ngữ, thực chất là ý nghĩa loại suy từ nghĩa thông báo và nghĩa tác động. f. Tính hấp dẫn và thuyết phục: Đây là một trong các yếu tố quyết định sự sinh tồn của báo chí. Về nội dung, ngôn ngữ báo chí phải luôn luôn mới, đa dạng và phong phú. Trong đó, yêu cầu đưa tin nhanh, xác thực, cập nhật và phản ánh được nhiều hướng dư luận khác nhau. Về mặt hình thức, ngôn ngữ được sử dụng phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc. Do đó, sự hấp dẫn về mặt hình thức của bài báo phải bao gồm một tổng thể hình thức: từ cách trình bày đến các hình ảnh phụ họa, các biện pháp sử dụng ngôn ngữ, trong đó có việc lựa chọn từ ngữ. Chẳng hạn là việc sử dụng từ độc đáo; kiến tạo những kết hợp từ độc đáo, bất ngờ; sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách sáng tạo và có hiệu quả; sử dụng tốt các biện pháp chơi chữ dựa trên đặc điểm ngôn ngữ dân tộc.
  • 32. 27 Theo Hoàng Trọng Phiến (1998), những hiện tượng bất thường trong sử dụng ngôn ngữ có thể được xem như biện pháp hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí, tuy nhiên, đó là những hiện tượng mang tính sáng tạo và có mục đích, đồng thời phải tính đến những thói quen và cách tri giác của người bản ngữ. g. Tính ngắn gọn và biểu cảm: Nói tới ngôn ngữ báo chí là nói tới đặc điểm phong cách mang tính ngắn gọn; tuy nhiên, ít nhiều gắn với cảm xúc chủ quan. Ta thấy, ở loại văn bản tin được xem là ít có yếu tố biểu cảm nhất của phong cách báo chí thì mỗi bản tin đều bao gồm 2 nét nghĩa là: phần tin lý trí, là phần tin chính mang nội dung phản ánh hiện thực; phần tin bổ sung là phần tin biểu cảm thái độ, quan điểm của người viết. Tính ngắn gọn của báo là yêu cầu mang tính tất yếu xuất phát từ chức năng cơ bản của báo chí là thông tin nhanh. Đặc điểm này thể hiện ở việc sử dụng các cấu trúc cú pháp ít thành phần, ở việc ít mở rộng các thành phần định ngữ trong câu, rất ít khi gặp các loại câu trùng điệp, nhiều tầng lớp. Đồng thời, ngôn ngữ trong phong cách báo chí phải có tính biểu cảm. Đặc trưng này xuất hiện đáp ứng các chức năng của báo chí là chức năng tác động, tổ chức và tập hợp quần chúng. Bởi vì báo chí cuối cùng vẫn phải tác động vào lòng người, tạo nên niềm tin và hy vọng ở người đọc. Tùy theo quan điểm của các tác giả mà chức năng này hay chức năng kia của phong cách ngôn ngữ báo chí được xem là đặc trưng nổi trội. Nhưng có thể nói rằng, xuất phát từ những đặc trưng nêu trên mà ngôn ngữ báo chí có những đặc điểm khác biệt so với các phong cách chức năng ngôn ngữ khác.
  • 33. 28 1.5. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí 1.5.1. Ngônngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện Ngôn ngữ của báo chí là ngôn ngữ mang tính sự kiện. Đặc điểm này gắn liền với tính thời sự của báo chí. Trong một trang báo bất kì, có thể dễ dàng nhặt ra được hàng loạt các sự kiện đi liền với nhau. Thông tin mà độc giả muốn tìm hiểu là sự kiện chứ không phải là cái gì khác. Ngôn ngữ báo chí không mang tính định tính mà mang tính định lượng. Thông tin nén chặt trong một khối lượng chữ được quy định nghiêm ngặt. Do đó, mô hình 5W+H được sử dụng rất nhiều và nói đến sự kiện là nói đến mô hình này. Nói rộng hơn, đối với việc biểu đạt, ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ bằng một hình thức tối thiểu phải chuyển tải một thông tin tối đa. Trong đó, ngay cả mặt hình thức cũng phục vụ cho việc chỉ báo thông tin, tìm kiếm thông tin thông qua các phân đoạn, thông qua việc khai thác các hình thức chữ viết, đặc biệt là các tiêu điểm thông báo. 1.5.2. Ngônngữ báo chí là ngôn ngữ của sự tương tác Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ báo chí là sự tương tác: tương tác giữa sự kiện xảy ra và quan điểm của người viết, toà soạn; tương tác giữa bài báo và bạn đọc, và xa hơn nữa là kết quả thu được từ bài báo: tương tác giữa công luận với sự kiện được nêu ra. Đặc trưng của báo chí là tính cộng đồng. Mỗi một sự kiện được lên khuôn đều có hàng vạn người đọc, thuộc mọi thành phần và tầng lớp xã hội. Do đó, người viết phải viết với tư tưởng là viết cho đông đảo độc giả chứ không phải chỉ phục vụ một nhóm nhỏ cục bộ nào đó. Vì vậy, trong nhiều bài báo, người viết không sử dụng đại từ nhân xưng “tôi” mà dùng “chúng tôi”, hoặc có thể mời gọi bạn đọc tham gia vào vấn đề một cách tường minh như “quý độc giả”, “bạn đọc”; hoặc kín đáo hơn là “chúng ta”.
  • 34. 29 Do vậy, ngôn ngữ được sử dụng phải là ngôn ngữ của cộng đồng, nhất là trên bình diện từ vựng. Tất nhiên, phải có cân nhắc, lựa chọn cẩn thận. Có như vậy, ngôn ngữ báo chí mới thực sự là tiếng nói của cả cộng đồng. Chẳng hạn, về mặt từ ngữ, bên cạnh các từ vốn có như “lâm tặc”, “không tặc”, “hải tặc”, “đạo tặc” dựa trên ngôn ngữ của cộng đồng, trên báo chí gần đây xuất hiện rất nhiều từ ngữ dựa vào mô hình kết hợp này như “sa tặc”, “cát tặc”, “tin tặc”, “đất tặc”, “đinh tặc”, “nhớt tặc”, “tình tặc”, “mông tặc”, “tôm tặc”, thậm chí là “cà phê tặc”. Đưa vào tác phẩm lời ăn tiếng nói của quần chúng là một cách làm hay, vừa tăng tính cộng đồng, vừa làm giảm vẻ xơ cứng, chính trị hoá mà một thời báo chí tiếng Việt đã mắc phải. 1.5.3. Ngônngữ báo chí là ngôn ngữ của sự hấp dẫn Ngôn ngữ báo chí về cơ bản không phải là ngôn ngữ nghệ thuật, nhưng điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ báo chí lúc nào cũng phải khoác cái áo nghiêm nghị, không có nghĩa là ngôn ngữ báo chí không được phép hấp dẫn. Công chúng chỉ tiếp nhận thông tin mà người viết truyền đạt nếu thông tin đó được thể hiện bằng một ngôn ngữ dễ đọc, hấp dẫn. Đặc điểm này thể hiện rõ nét nhất là ở tiêu đề, rồi đến dẫn đề. Người viết phải biết kết hợp giữa tính khách quan của sự kiện và tính hấp dẫn của ngôn ngữ miêu tả sự kiện đó để lôi cuốn, hấp dẫn độc giả. Cần tránh cả hai thaí cực: chỉ đặt trọng tâm vào việc lôi kéo độc giả mà quên đi nội dung của thông tin, dẫn đến việc ngôn ngữ rất hấp dẫn, gợi cảm nhưng nội dung chỉ là con số không; hoặc chỉ chú ý đến nội dung thông tin, không dụng công trong lựa chọn câu chữ dẫn đến việc thông tin thì ngồn ngộn nhưng chẳng mấy ai đọc vì hàn lâm quá, khô cứng quá trong diễn đạt. Trong thông tin trên báo chí, ai cũng biết rằng tin tiêu cực thường thu hút độc giả nhiều hơn.
  • 35. 30 So với các đặc điểm ngôn ngữ sự kiện, ngôn ngữ tương tác thì ngôn ngữ hấp dẫn bị chi phối bởi tâm lí công nghiệp nhiều nhất. Việc đưa thông tin chính xác, khách quan, bằng hình thức ngắn gọn cô đúc đã phần nào thể hiện được sự lôi cuốn, hấp dẫn. Tuy nhiên, tính hấp dẫn trước hết là về mặt ngôn từ, tùy theo thể loại mà sử dụng từ vựng, kết cấu câu thích hợp. Tính hấp dẫn còn thể hiện ở mặt hình thức, các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ như màu sắc, hình ảnh minh hoạ, các box tóm tắt. Nhìn một cách khái quát, tính hấp dẫn của ngôn ngữ báo chí có thể xuất phát từ các hình thức ngôn từ biểu đạt mà cũng có thể từ ngay chính nội dung vấn đề được trình bày trong văn bản. Như vậy, ngôn ngữ báo chí là một biến thể chức năng, nói như ngữ pháp chức năng hệ thống, nó là một kiểu ngữ vực mà trường diễn ngôn là những chủ đề trong đời sống trong và ngoài nước. Mục đích diễn ngôn là định hướng dư luận, còn phương thức diễn ngôn được thể hiện trên ba kênh: kênh viết, kênh nói và kênh hình. 1.6. Một số thể loại báo chí tiêu biểu Thể loại báo chí hình thành là do nhu cầu khách quan của cuộc sống, của con người và của chính thực tế báo chí. Các nhà kinh điển về báo chí như Lê-nin, Hồ Chí Minh cũng cho rằng một tờ báo hay một nhà báo sử dụng được nhiều thể loại báo chí thì tờ báo đó sẽ càng có tác dụng, sẽ phong phú, hấp dẫn và lôi cuốn bạn đọc nhiều hơn. Trong quá trình phát triển lâu dài của báo chí, các thể loại đã được hình thành phù hợp với nội dung, mục đích và tôn chỉ của nó. Các hình thức tổ chức tư liệu, phương thức phản ánh các sự kiện, hiện tượng, quá trình của đời sống xã hội đã đáp ứng hoạt động, nhiệm vụ của nhà báo và các cơ quan báo chí. Các hình thức, phương thức này đều có tính chất, đặc điểm nhất định mà mọi người quen gọi là thể loại.
  • 36. 31 Tác giả Đinh Hường nêu định nghĩa về thể loại báo chí như sau: “ Thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của các bài báo, được phân chia theo hình thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác nhau để chuyển tải nội dung mang tính chính trị, tư tưởng nhất định”. Ở luận văn này, chúng tôi tán thành quan điểm của Đức Dũng ( 1996) phân chia hệ thống thể loại báo chí ở nước ta thành 3 loại thể: nhóm thông tấn báo chí, nhóm chính luận báo chí và ký báo chí. Đức Dũng lý giải, hệ thống thể loại báo chí được hình thành bởi 3 loại thể nêu trên có đặc điểm bao trùm là thông tin thời sự, với tư cách là hạt nhân của thông tin báo chí. - Loại thể thông tấn báo chí gồm: tin, phỏng vấn, tường thuật, điều tra. Cả bốn thể loại này có chung 1 đặc điểm là thiên về thông tin sự kiện, lấy việc thông tin sự kiện là mục đích tối thượng trong quá trình phản ánh hiện thực. Sự kiện được thông tin trong các thể loại này có nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào tầm quan trọng của chúng nhưng dù ở cấp độ nào cũng phải đáp ứng yêu cầu thời sự và tính xác thực, cặn kẽ, tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất. Tất cả các chi tiết, dữ kiện được đưa ra trong những thể loại này đều phải chịu áp lực rất lớn của tính thời sự và tính chính xác với mục đích rõ ràng là nhằm cung cấp các sự kiện cho công chúng. Trong thể loại thông tấn báo chí, tin được coi là thể loại hạt nhân vì nó có khả năng thông tin một cách nhanh nhất, sớm nhất, dưới một hình thức chặt chẽ nhất về những sự việc, sự kiện vừa mới xảy ra, đang xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra. Với những khả năng đó, tin không chỉ được coi là thể loại hạt nhân của loại thể thông tấn báo chí mà còn là hạt nhân của toàn bộ hệ thống thể loại báo chí.
  • 37. 32 - Loại thể chính luận báochí gồm xã luận, bìnhluận, chuyên luận. Đặc điểm nổi bật của nhóm loại thể này là khả năng bàn luận, giải thích, bình giá các sự kiện. Có thể nói, mô hình luận cứ- luận chứng- luận điểm là mô hình chung cho cả 3 thể loại thuộc loại thể chính luận báo chí. - Loại thể ký báo chí có phần sinh động hơn so với 2 nhóm loại thể trước không chỉ bởi ở hình thức kết cấu mà ngay cả trong phạm vi nội dung được phản ánh. Trong số các thể loại của ký báo chí, phóng sự được xếp ở vị trí đầu tiên và được coi như thể loại đóng vai trò hạt nhân của toàn bộ loại thể. Việc phân chia các thể loại báo chí thành 3 nhóm trên chỉ có tính tương đối. Trong mỗi loại thể đều thể hiện những đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống, đều là sự kết hợp ít nhiều giữa các khả năng thông tin sự kiện, thông tin lý lẽ và thông tin thẩm mỹ dưới đặc điểm bao trùm là thông tin xác thực, thông tin thời sự. Ở đây ta bàn đến một số thể loại tiêu biểu thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí: - Tin tức: bao gồm tin vắn, tin dài, tin tổng hợp, tin tường thuật, tin trong nước, tin thế giới, tin có tiêu đề, tin không có tiêu đề. Trong thể loại này, luận văn tập trung chú ý nhiều nhất là tin địa phương bởi vì nó có nhiều khả năng thể hiện được đặc trưng ngôn ngữ ít nhất là lời ăn tiếng nói của Nam Bộ. Đương nhiên, thể loại tin tức khó xuất hiện các yếu tố ngôn ngữ địa phương, tuy nhiên không phải là không có. - Phóng sự: như chúng ta biết, phóng sự hình thành từ những tình huống có vấn đề. Đối với một tờ báo địa phương, phóng sự thường gắn liền với những vấn đề nóng hổi của cuộc sống trên một địa bàn địa phương cụ thể. - Phỏng vấn: về phỏng vấn, nếu như ở một số tờ báo lớn ở trung ương, phỏng vấn thường rơi vào hai trường hợp: i) các chính khách, chính trị gia và ii) một số nhân vật nổi tiếng về các lĩnh vực nào đó ( văn hóa, văn nghệ, thể
  • 38. 33 thao). Thuộc nhóm trước, chủ đề thường liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách, định hướng xã hội của lãnh đạo và nhóm thứ 2 trao đổi về lĩnh vực chuyên môn nào đó ví dụ như phỏng vấn huấn luyện viên, vận động viên, bác sĩ, v.v. về một số vấn đề chuyên môn mà xã hội quan tâm, thì ở các báo địa phương, phỏng vấn thuộc loại i). Cần nói ngay, phỏng vấn báo in thường có một khâu chuẩn bị trước mặc dầu có thể được biên tập, tỉa tót cẩn thận nhưng do đề cập đến những vấn đề địa phương nên cũng có khả năng thể hiện đặc trưng ngôn ngữ riêng của một vùng đất. - Phản ánh, ghi nhanh: Ngoài 3 thể loại rất phổ biến vừa đề cập, khi sưu tập ngữ liệu trên mặt báo Cần Thơ, chúng tôi còn chú ý đến các thể loại sau đây: về phản ánh: thực ra cách gọi tên này không thật nghiêm ngặt, nó thể hiện cách thức cung cấp thông tin, so với phóng sự thì phản ánh đáp ứng được yêu cầu kịp thời, sốt dẻo nhưng về mặt quy mô, không thể nào bằng được phóng sự. Do vậy, có thể nói được cái phản ánh là dạng thô của phóng sự, là các sự kiện ban đầu làm xuất phát điểm của phóng sự. Giữa phản ánh và phóng sự có đặc điểm chung là đều xuất phát từ những tình huống có vấn đề. Còn ghi nhanh, như tên gọi, đó là một nhát cắt của sự kiện, một khoảnh khắc của sự kiện, mà người phóng viên nắm bắt được. Và do vậy, nó không đòi hỏi phải nêu nguyên nhân, đó cũng là một dạng thông tin ở dạng thô. - Cuối cùng, còn có một thể loại cũng khá quan trọng, đó là ký nhân vật và ký sự kiện mà các tòa soạn thường tập trung ở mục là gương điển hình. Có thể nói, đây là thể loại tập trung nhiều đặc điểm ngôn ngữ nhất. 1.7. Màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ 1.7.1. Màusắc địa phương Tiếng Việt có nhiều phương ngữ. Cũng như một con người có nhiều dáng vẻ khác nhau, tùy nơi, tùy lúc, tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa thống nhất, vừa đa dạng. Tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ, cái làm
  • 39. 34 nên đặc điểm của tiếng Việt với một lịch sử lâu dài, còn mặt biểu hiện khi thì nó là ngôn ngữ văn học trau chuốt và tế nhị, khi thì nó là tiếng địa phương đậm đà màu sắc quê hương của từng vùng. Các tiếng địa phương không hề cản trở quá trình giao tiếp. Phương ngữ học khi nghiên cứu một phương ngữ thì chỉ chú trọng đến những điểm khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân. Nó nghiên cứu sự khác nhau để tìm cho ra qui luật đi đến sự thống nhất, đây là một yêu cầu có thực trong xã hội hiện tại. Ngôn ngữ toàn dân là một hiện tượng lịch sử, văn hóa, đó là các hình thức trau chuốt có ý thức của cách nói năng mà ta phải học tập mới có được chứ không phải có tự nhiên, cho nên miêu tả tiếng nói tự nhiên thì dứt khoát là miêu tả một phương ngữ cụ thể. Khi việc miêu tả chỉ thu hẹp vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng, trừ một vài từ chỉ trỏ, một vài hư từ có nghĩa là không liên quan đến cấu trúc. Và chính sự thống nhất của mọi phương ngữ về mặt ngữ pháp là đảm bảo cơ bản tính thống nhất của tiếng Việt. Sang đến mặt từ vựng cũng thế. Giữa các phương ngữ không hề có sự khác nhau về cốt lõi của hệ thống từ vựng tức là về cấu tạo từ, vị trí của các yếu tố, các kiểu láy âm, sự khác nhau chỉ thu gọn ở các từ, các biểu hiện bên ngoài của từ vựng học. Có thể nói, then chốt quy định sự phân chia các phương ngữ là ngữ âm chứ không phải là từ vựng. Đặc điểm đối lập ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ đó là ta có thể nghiên cứu ngôn ngữ toàn dân như một tồn tại khách quan, cụ thể là như một vật mà không cần phải đặt trong một trạng thái đối lập với các đối tượng khác. Trái lại ta nghiên cứu một phương ngữ như một ngôn ngữ, tức không đặt nó đối lập với các phương ngữ khác, không xem nó là một biến thể của ngôn ngữ toàn dân, thì công trình đó dù là miêu tả hay lịch sử cũng không phải là công trình phương ngữ học. Như vậy sự khác nhau giữa định nghĩa
  • 40. 35 của một phương ngữ với định nghĩa của một ngôn ngữ không phải ở chỗ ngôn ngữ có nhiều người nói hơn phương ngữ mà là ở chỗ ngôn ngữ là một khái niệm độc lập không tồn tại trên sự đối lập, so sánh, còn phương ngữ là một khái niệm xây dựng trên sự đối lập. Chính đặc điểm này quy định phương thức làm việc của nhà phương ngữ học. Tuy nhiên, ngay cả những công trình phương ngữ học nổi tiếng cũng ít khi chú ý đến phương ngữ là một khái niệm xây dựng trên sự đối lập. Bên cạnh ngôn ngữ được xét đến, có ngôn ngữ toàn dân. Do đó, trong việc nghiên cứu một phương ngữ của tiếng Việt, cách tiếp cận chỉ có thể là cách tiếp cận so sánh đối lập. Ngay dù ta có miêu tả đơn thuần, không nói gì đến lịch sử cả ta cũng phải làm thao tác so sách đối lập, vì phương ngữ học không nghiên cứu phương ngữ như một vật cho nó và tự nó mà như một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình phát triển. Phương ngữ là kết quả của một sự biến đổi trong đó bắt đầu có sự chuyển mã ở một khía cạnh nào đấy trong khi hệ thống các mã vẫn gần như nguyên vẹn. Sự ra đời của các phương ngữ trong lòng ngôn ngữ toàn dân là kết quả của những sự tác động: - Tác động từ bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ: đó là ngôn ngữ thay đổi ở trong hoạt động giao tiếp với tính cách một tập hợp những tập quán nói năng. Đây là mặt ngôn ngữ học của vấn đề. - Sự tác động của những nhân tố bên ngoài ngôn ngữ. Trước tiên, sự phân bố tách biệt khác nhau về địa lý. - Tác động của những yếu tố xã hội: khi nghiên cứu một phương ngữ trong thế so sánh đối lập với các phương ngữ khác cũng như ngôn ngữ toàn dân, cái khó không phải là tìm ra cho được sự khác nhau. Điều đó thuộc về mặt hiện tượng nên rất dễ thấy. Cái khó là tìm cho được bản chất của sự khác nhau này. Nói khác đi, ta phải giải thích được sự khác nhau này do đâu mà có,
  • 41. 36 nó sẽ gây những ảnh hưởng gì trong phương ngữ đã chọn, nó sẽ mất đi hay sẽ phát triển, nó là tích cực hay tiêu cực đối với lịch sử của ngôn ngữ. Chính điều này đòi hỏi một cách tiếp cận là tìm mối quan hệ giữa mặt biến đổi và mặt bất biến của ngôn ngữ. Phương ngữ Nam Bộ là một trong 3 vùng ngôn ngữ lớn của tiếng Việt. Trải dài từ đèo Hải Vân đến cực Nam của Tổ quốc, hầu như không có một biến thể nào khác ngoài phương ngữ Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ gìn giữ bản sắc văn hóa vùng miền, đồng thời góp phần đi đến xây dựng và phát triển một hệ thống ngôn ngữ toàn dân thống nhất. 1.7.2. Màusắc địa phương Nam Bộ Trước khi tìm hiểu màu sắc địa phương được biểu hiện trên nhật báo Cần Thơ, chúng tôi nhắc đến lý luận về màu sắc phong cách chức năng của ngôn ngữ báo chí. Theo thói quen sử dụng của truyền thống, mỗi đơn vị ngôn ngữ thường gắn với một hoặc nhiều phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định. Màu sắc phong cách là giá trị phong cách chức năng của đơn vị ngôn ngữ. Về mặt nguồn gốc nảy sinh thì đó là kết quả của ưu tiên sử dụng theo truyền thống. Về mặt nội dung bổ sung thì nó gợi sự liên tưởng đến phong cách chức năng ngôn ngữ mà đơn vị ngôn ngữ thường được sử dụng. Khái niệm đa phong cách hay đơn phong cách là kết quả được rút ra từ khả năng sử dụng tự do hay hạn chế trong phong cách chức năng ngôn ngữ của đơn vị ngôn ngữ. Đơn vị có màu sắc đa phong cách là đơn vị được dùng tự do, dùng chung cho mọi phong cách chức năng ngôn ngữ. Đơn vị ngôn ngữ có màu sắc đơn phong cách là đơn vị chỉ được dùng hạn chế, dùng riêng cho một phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định. Dựa vào kết quả phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ, Cù Đình Tú chia các đơn vị đơn phong cách gồm: đơn vị có màu sắc phong cách khẩu ngữ; đơn vị có màu sắc phong cách gọt giũa;
  • 42. 37 đơn vị có màu sắc phong cách văn chương. Tác giả Cù Đình Tú khảo sát đặc điểm tu từ của từ địa phương dựa trên cơ sở phân loại theo quan điểm ngữ pháp học, từ vựng học. Tiếng Viêt có nhiều phương ngữ nên việc sử dụng phương ngữ trong phong cách ngôn ngữ báo chí không phải là không có. Từ địa phương được dùng chủ yếu trong phong cách ngôn ngữ tự nhiên ở các địa phương, mang màu sắc phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Qua thực tế sử dụng, có thể thấy được hiệu quả từ việc dùng từ địa phương, đó là dùng từ địa phương để bổ sung cho từ toàn dân trong trường hợp vốn từ toàn dân thiếu phương tiện miêu tả thật trúng đối tượng tác giả định biểu hiện; dùng từ địa phương để nhấn mạnh vào tính chất riêng biệt về khu vực, địa bàn của hiện tượng hoặc nhân vật được miêu tả; dùng từ địa phương để tạo sự hòa hợp giữa tác giả và nhân vật địa phương. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp phục vụ đắc lực cho hoạt động giao tiếp của con người mà còn giúp ta hiểu được các giá trị văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Ở đề tài luận văn này, chúng tôi xuất phát từ mục tiêu chung tìm hiểu các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí đồng thời hướng đến mục tiêu riêng là tìm hiểu sắc thái địa phương Nam Bộ được biểu hiện trên các văn bản nhật báo Cần Thơ. Đó là hệ thống từ vựng chỉ địa danh, sản vật, các hoạt động văn hóa gắn với đặc trưng vùng miền, đồng thời đó cũng là những lời ăn tiếng nói của người dân địa phương thông qua những lời dẫn trực tiếp, mang hơi hướm của người dân miệt ruộng vườn,… Trong nhận thức của chúng tôi, màu sắc ngôn ngữ địa phương là một tập hợp bao gồm nhiều yếu tố từ ngữ âm, từ vựng, đến một số mô thức biểu đạt có nét riêng gắn liền với một vùng đất nhất định. Và nét riêng này không được hình thành trên thế đốilập có không mà được biểu hiện bởi độ đậm nhạt. Nói khác, màu sắc phương ngữ được thể hiện cụ thể qua một số sắc thái nổi bật chứ không phải là chỉ có ở trong phương ngữ đó. Điều này là hoàn
  • 43. 38 toàn phù hợp với tình hình giao tiếp của tiếng Việt- một ngôn ngữ thống nhất ở mức độ cao và thống nhất trong thế đa dạng. Cũng cần nói thêm theo một cách hình dung phổ biến, phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ là rất gần nhau, đặc biệt là ở Nam Bộ hầu như không có sự khác biệt nhiều giữa các tỉnh. Do vậy, những đặc điểm về ngôn ngữ trên báo Cần Thơ có thể là đặc điểm chung cho cả vùng Nam Bộ. 1.8. Tiểu kết Bên trên, luận văn lần lượt trình bày một số cơ sở lý luận liên quan đến những vấn đề thuộc về ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ. Trong nhận thức của chúng tôi, đây là những nội dung rất quan trọng, là tiền đề giúp cho chúng ta tìm hiểu sâu hơn những vấn đề chi tiết ở chương 2. Ở tiểu mục thứ nhất, việc giới thiệu vùng đất Cần Thơ và lịch sử Báo Cần Thơ nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về một vùng đất có ít nhiều khác biệt so với các vùng khác trên đất nước và quá trình phát triển của Báo Cần Thơ từ khi tách tỉnh, từ báo ra 3 số một tuần đến nhật báo. Điều này cho thấy con đường lớn mạnh của Báo Cần Thơ, đối tượng khảo sát chính của luận văn. Ở tiểu mục thứ 2, chúng tôi mạnh dạn giới thiệu một số quan điểm khác nhau về việc nhận diện phong cách báo chí. Điều này cho thấy rằng, mặc dù thực tế báo chí quốc ngữ ra đời rất sớm nhưng về mặt nghiên cứu, việc nhìn nhận nó như một phong cách độc lập lại là một quá trình không đơn giản. Ở tiểu mục tiếp theo, việc xác lập tính chuẩn mực của ngôn ngữ nói chung, và chuẩn mực của phong cách báo chí nói riêng là hướng đến việc làm rõ thêm một số cách diễn đạt điển hình, mặc dầu ranh giới giữa chúng chỉ có ý nghĩa tương đối. Ở đây, rõ ràng lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson là chiếc chìa khóa giúp cho chúng ta lý giải một cách khoa học và xác đáng về tính tương đối này, nhờ vào chức năng nổi trội. Đương nhiên, một vấn đề
  • 44. 39 khác, cũng không thể không đề cập đến, đó là chức năng của phong cách báo chí cũng như đặc điểm của ngôn ngữ báo chí nhìn từ lý thuyết vừa nêu. Và như chúng ta đều biết, không phải tất cả các loại diễn ngôn xuất hiện trên báo đều thuộc phong cách này. Do vậy, cũng cần thiết khi đề cập đến vấn đề nhận diện thể loại. Nhìn chung, vấn đề thể loại của báo chí khá phức tạp. Như lý giải từ đầu, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu đi trước, luận văn này chỉ khảo sát các thể loại sau: - Tin tức - Phóng sự - Phản ánh - Ghi nhanh - Gương điển hình Cuối cùng, một vấn đề cũng khá quan trọng nếu không nói là quan trọng nhất tạo nên diện mạo riêng của tờ báo địa phương nói chung, Báo Cần Thơ nói riêng là màu sắc địa phương, cụ thể là màu sắc địa phương Nam Bộ.
  • 45. 40 Chương 2 : NGÔN NGỮ NHẬT BÁO CẦN THƠ Sau khi đã xác lập một số tiền đề lý thuyết về ngôn ngữ báo chí cũng như một số tri thức hữu quan, đến đây luận văn đi vào xem xét một số vấn đề cụ thể. Trước hết, chúng tôi áp dụng lý thuyết 5W + 1H, một lý thuyết đã được thử thách qua thời gian, để xem xét cấu trúc của tiêu đề. Cùng với cách tiếp cận tương tự, dẫn đề sẽ được khảo sát bằng các mô hình đề thuyết của F.Danes. Bên cạnh đó, việc quan sát đặc điểm ngôn ngữ của đoạn văn và văn bản và màu sắc địa phương cũng được xem xét trong chương này. 2.1. Tiêu đề Theo quan điểm phổ biến, văn bản là một chỉnh thể bao gồm đầy đủ các phần: tiêu đề, mở đầu, triển khai và kết luận. Riêng đối với một văn bản báo chí, thường có kết cấu gồm các phần chính sau: tiêu đề, dẫn đề, mở đầu, triển khai và kết luận. Tiêu đề và dẫn đề thường được xếp vào loại tóm tắt còn các phần còn lại thì được gộp chung vào loại triển khai. Tuy nhiên, trong các thể loại báo chí khác nhau, sự xuất hiện của chúng cũng hết sức phức tạp và đa dạng. Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ, chúng tôi xem xét những đặc điểm ngôn ngữ được thể hiện ở tiêu đề, bộ phận được xem là dấu hiệu hình thức đầu tiên đập vào mắt độc giả. Nhìn chung, tin tức chính là xương sống của mỗi số báo ra hàng ngày. Thống kê 300 số báo ngẫu nhiên từ năm 2010 đến 2012, kết quả thể loại tin tức chiếm tỷ lệ 65 % tổng thể loại báo chí. Bảng thống kê cho thấy: Thể loại Tổng số % Tin 3020 66 Bài phản ánh 1160 25 Phóng sự điều tra, Ký sự, bình luận 130 3 Phỏng vấn 50 1 Sổ tay 100 2 Một số thể loại khác 110 3 Tổng cộng 4570 100
  • 46. 41 Từ kết quả khảo sát, chúng tôi thấy được vị trí trung tâm của tin tức trong mỗi số báo. Đây cũng là đặc trưng của báo chí nói chung, báo Cần Thơ nói riêng, đáp ứng nhu cầu thông tin thời sự cấp thiết cho đông đảo bạn đọc. Từ lí do đó, khi nghiên cứu tiêu đề văn bản báo chí, luận văn bắt đầu từ việc xem xét thể loại tin tức. Thể loại tin tức bao gồm tin tức trong nước và tin thế giới. Tin tức trong nước gồm mảng tin chung trong nước và mảng tin riêng tại địa phương Cần Thơ và ĐBSCL. Mảng tin tức trong nước chủ yếu lấy từ nguồn tin thông tấn xã, tin thế giới thường được dịch từ các trang web điện tử. Hai mảng tin tức này không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn. Như vậy, đối tượng chính của mục này là tin tức địa phương. Báo Cần Thơ là một tờ báo Đảng ở địa phương, là cơ quan ngôn luận của Thành ủy Thành phố, ngôn ngữ được sử dụng ở thể loại tin tức thường là lớp từ ngữ đa phong cách, mang sắc thái trung hòa. Với tư cách là một yếu tố đại diện, tiêu đề văn bản tin tức cũng chịu ảnh hưởng của đặc điểm này. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng một mặt tiêu đề văn bản vừa mang những đặc điểm của phong cách báo chí, nhưng mặt khác lại có những nét riêng của thể loại. Sau đây, luận văn sẽ khảo sát sự phân bố của các yếu tố thông tin trên cơ sở tìm hiểu cấu tạo của tiêu đề, dạng thức các mô hình như 5W + 1H ở tiêu đề, mối quan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề và các biện pháp nghệ thuật sử dụng ở tiêu đề. 2.1.1. Cấutạo của tiêu đề 2.1.1.1Từngữ Luận văn khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin tức địa phương TP Cần Thơ và ĐBSCL, cho thấy tỉ lệ là 99,5% tiêu đề có xuất hiện động từ. Đây là lớp từ chỉ hoạt động, diễn biến của chủ thể hoặc sự kiện được đề cập. Trong 1.500 tiêu đề chỉ có 8 trường hợp không xuất hiện động từ ở tiêu đề.
  • 47. 42 Đặc biệt, khi khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin, luận văn phát hiện một cấu trúc khá độc đáo của tiêu đề thuộc thể loại tin ở nhật báo Cần Thơ, chiếm tỉ lệ 1.100/1.500 tiêu đề (73,33%). Đó là kiểu tiêu đề được cấu tạo bắt đầu bằng một động từ hay một cụm động từ phối hợp với các yếu tố còn lại của cấu trúc thông tin theo mô hình 5W + 1H. Các yếu tố còn lại đó có thể là con người, những thông tin lý giải nguyên nhân, kết quả, thời gian, địa điểm của chủ thể hoặc sự kiện được nói đến. Mô hình: TĐ = Động từ + Chủ thể, sự kiện VD1: Triển lãm sách mừng Quốc khánh 2-9 CT, 14-8-2012 VD2: Khánh thànhđưa vào sử dụng côngtrình nâng cấp mở rộng đường Lê Bình CT, 8-6-2012 Lớp từ ngữ sử dụng ở kiểu tiêu đề này thường là lớp từ đa phong cách, mang sắc thái trung hòa. Bên cạnh đó, chúng ta thường bắt gặp trên nhật báo Cần Thơ lớp từ ngữ chính trị- xã hội, mang tính thời đại, như: tăng cường, tập trung, đẩymạnh, toàn diện, nâng cao, giám sát, thực hiện, tổ chức, pháttriển, bổ nhiệm, hưởng ứng, xây dựng, kế hoạch, .v.v… VD3: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu CT, 12- 2-2012
  • 48. 43 Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, luận văn còn phát hiện bên cạnh tỉ lệ lớn cấu trúc tiêu đề bắt đầu bằng động từ, cụm động từ, thì tiêu đề trên văn bản tin tức của nhật báo Cần Thơ còn được bắt đầu bằng tính từ, cụm tính từ nhằm nhấn mạnh đặc trưng, tính chất của chủ thể, sự kiện được đề cập. Kết quả khảo sát cho thấy một tỉ lệ khiêm tốn là 33/1.500 ( 2,2%) nhưng điều thú vị là những kiểu tiêu đề cấu tạo bằng tính từ, cụm tính từ thường sử dụng lớp từ đơn phong cách với nhiều sắc thái đa dạng thể hiện sự trang trọng hoặc phủ định, phê phán, bình giá. Kiểu tiêu đề này nhằm nhấn mạnh đến giá trị thẩm mỹ thông qua yếu tố cảm xúc chủ quan của tác giả, gây ấn tượng mạnh đối với độc giả khi tiếp xúc với yếu tố đầu tiên của văn bản báo chí, đó là tiêu đề. VD4: Cố ý gây thương tích lãnh 4,5 năm tù CT, 14-6-2011 VD5: TP Cần Thơ: Long trọng tổ chức lễ giao nhận quân, tiễn 900 thanh niên nhập ngũ CT, 8-4-2012 Xét các ví dụ tiếp theo sau đây: VD6: Khánh thànhgiaiđoạn 1 khu nghỉdưỡng sinh tháiTây Đô CT, 12-7-2012 VD7: Binhanfishcotrả 90 tỉ đồng tiền nợ cá cho nông dân CT, 5-6-2012 VD8: Phátthưởng và trao học bổng cho 146 học sinh- sinh viên CT, 16-7-2012
  • 49. 44 Trong 2 ví dụ đầu, khu nghỉ dưỡng sinh thái Tây Đô, Binhanfishco thuộc loại danh từ chung riêng, còn ở ví dụ sau học sinh- sinh viên thuộc loại danh từ chung. Qua khảo sát có thể thấy lớp danh từ xuất hiện trong cấu trúc tiêu đề văn bản tin trên nhật báo Cần Thơ thường trùng với yếu tố Who và What trong mô hình 5W + 1H của báo chí. Tiêu đề văn bản tin tức trên nhật báo Cần Thơ thường được bắt đầu bằng động từ hay tính từ nên kiểu tiêu đề có cấu tạo là một cụm động từ, cụm danh từ hay cụm tính từ cũng phổ biến. Khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin tức, kết quả có 735/1.500 (chiếm tỉ lệ 49%) có cấu tạo là cụm động từ, danh từ, tính từ. VD9: Trốn không thoát CT, 26-8-2012 VD10: Khởi tố tổng giám đốc công ty trốn thuế CT, 18-6-2012 Tiêu đề trên là một kiểu tiêu đề có cấu tạo là cụm động từ. Còn khi khảo sát ở các thể loại phỏng vấn, phóng sự, bài phản ánh, gương điển hình, với 1.500 tiêu đề văn bản được khảo sát, kết quả là 967/1.500 tiêu đề (64,5%) được cấu tạo là cụm động từ, cụm danh từ và cụm tính từ. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả khảo sát tiêu đề trên văn bản tin tức. Chúng ta nhận thấy rằng, ở thể loại tin tức, xu hướng hiện nay là thể hiện phần lớn các yếu tố 5W + 1H ở tiêu đề, đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh chóng của độc giả. Bên cạnh kiểu cấu trúc tiêu đề là cụm động từ, danh từ, tính từ, tiêu đề văn bản tin tức trên nhật báo Cần Thơ cũng có kiểu cấu tạo là câu trần thuật. Liên quan đến vấn đề này, chúng ta đi vào khảo sát các kiểu câu ở tiêu đề.
  • 50. 45 2.1.1.2. Câu Xét VD11: Đối tượng đánh bạcra đầu thú CT, 5-7-2011 VD12: Đất sử dụng ổn định, vì sao bị tranh chấp... CT, 2-6-2011 Ví dụ thứ nhất ở tiểu mục này chính là câu đơn, ví dụ tiếp sau đó chính là câu ghép. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện nên đòi hỏi tính cô đọng, ngắn gọn, hàm súc. Do vậy, ngôn ngữ sử dụng ở tiêu đề cũng không nằm ngoài đặc trưng của phong cách. Khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin ở nhật báo Cần Thơ, cho kết quả thống kê các kiểu câu xét theo cấu tạo như sau: có 570 ngữ và 930 câu, trong đó, có 642 câu đơn và số còn lại là 42 câu ghép. Kiểu câu Số lượng Tỉ lệ % Câu đơn 642 69 Câu ghép 288 31 Tổng số 930 100 Có thể thấy, bên cạnh các kiểu cấu tạo là một ngữ cố định, cụm động từ, cụm danh từ và cụm tính từ thì kiểu câu xét về mặt cấu tạo ở tiêu đề chủ yếu là câu đơn. Điều này cũng dễ lý giải, vì ngôn ngữ báo chí đòi hỏi phải ngắn gọn, đơn giản, đồng thời phải thực hiện được vai trò điểm chỉ báo thông tin của tiêu đề. Những tiêu đề có cấu tạo là câu ghép thường bắt gặp ở những thể loại bài phản ánh, phóng sự, điều tra. Ở văn bản tin tức, tiêu đề hiếm khi có cấu tạo phức tạp, do đặc trưng của thể loại quy định, đó là thể loại báo chí ít hàm chứa yếu tố chủ quan của người viết mà chỉ thuần trình bày những sự kiện khách quan. Do đó, kiểu câu đơn với mục đíchtrần thuật được chuộng sử dụng ở thể loại tin tức.
  • 51. 46 Còn xem xét cấu tạo câu ở tiêu đề xét theo mục đích nói, luận văn thấy rằng các kiểu câu sử dụng ở tiêu đề của các văn bản báo chí rất đa dạng, với nhiều kiểu câu khác nhau như câu trần thuật, câu phủ định, câu cầu khiến, câu cảm thán. Tuy nhiên, có sự khác biệt ở các tiêu đề văn bản của thể loại tin tức so với các thể loại báo chí khác. Có nghĩa là, ở tiêu đề văn bản tin tức, chúng ta nhận thấy hầu hết tiêu đề có cấu tạo là câu trần thuật, mang sắc thái khách quan, sử dụng lớp từ đa phong cách. Ngược lại, ở các văn bản báo chí thuộc các thể loại như bài phản ánh, phỏng vấn, gương điển hình, phóng sự, chúng ta nhận thấy có sự phong phú, đa dạng trong cách đặt tiêu đề. Bên cạnh những cấu tạo tiêu đề là ngữ cố định, như cụm động từ, tính từ, tiêu đề ở các thể loại này thường xuyên sử dụng các kiểu câu nghi vấn, câu phủ định, câu cảm thán, vừa tạo giá trị tác động, vừa tạo giá trị thẩm mỹ cho độc giả. VD13: Bao giờ "Xóm đèn dầu" có điện, nước sạch sử dụng ? CT, 14-3-2011 VD14: Lắng ngheđểhiểu học trò hơn ! CT, 12-5-2011 VD15: Đâu phảinghèolà trở thành tội phạm! CT, 5-3-2012 Trên đây là các kiểu câu nghi vấn, câu cảm thán, câu phủ định được sử dụng ở tiêu đề. Thông qua các tiêu đề này, chúng ta nhận thấy yếu tố chủ quan của tác giả thông qua những từ ngữ biểu cảm, nhằm tạo tác động mạnh mẽ đến bạn đọc. Bên cạnh việc xem xét cấu tạo của tiêu đề, luận văn nhận thấy số từ có một vai trò rất quan trọng. Khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin, chúng tôi nhận
  • 52. 47 thấy tần suất của số từ xuất hiện ở tiêu đề cũng là trường hợp phổ biến, với kết quả thống kê là 653/1.500 ( tỉ lệ 43,5%). Số từ phân bố ở nhiều vị trí trong cấu trúc của tiêu đề thuộc thể loại tin tức nói riêng. Số từ bao gồm nhiều ý nghĩa như: số từ chỉ thời gian, số từ chỉ số lượng con người, số từ chỉ giá trị của sự vật, hiện tượng cụ thể, hoặc số từ chỉ số thứ tự. Tùy theo những cảnh huống khác nhau, số từ được chọn lựa để đặt ở tiêu đề, trước hết thể hiện sự nhấn mạnh đến một nội dung được biểu hiện cụ thể qua con số. Thông qua cách sử dụng số từ ở tiêu đề, bạn đọc dễ dàng tri nhận con số hơn chữ viết, do đó thông tin cần truyền đạt đạt hiệu quả. VD16: Xử phạthành chính 23,8 triệu đồng đối với các trường hợp bạo lực gia đình CT,11-5-2011 VD17: 2050 lao động có việc làm CT, 6-8-2011 Đối với trường hợp ở ví dụ thứ nhất trong tiểu mục này, số tiền 23,8 triệu đồng là yếu tố đầu tiên đập vào mắt người đọc, tạo giá trị tác động mạnh mẽ đối với mọi người nói chung và những người có liên quan, đặc biệt là những người chuyên hành hung, bạo lực với người thân trong gia đình và những người là nạn nhân của bạo lực gia đình. Ở ví dụ thứ hai, con số 2050 lao động được đưa lên làm tiêu đề là một thông tin đáng mừng về tình hình lao động của địa phương, bởi lẽ trong xã hội hiện đại, vấn đề việc làm là một vấn đề khó khăn đối với nhiều người. Ngoài ra, luận văn khảo sát 1.500 tiêu đề văn bản tin trên nhật báo Cần Thơ, kết quả thống kê cho thấy sự phân bố đa dạng của dấu câu xuất hiện ở
  • 53. 48 tiêu đề. Chúng tôi nhận thấy có đầy đủ các loại dấu câu xuất hiện ở tiêu đề, gồm dấu chấm cảm, dấu chấm hỏi, dấu chấm lửng, dấu hai chấm, v.v… Chúng ta xét các ví dụ sau: VD18: Lao đaovì… sâu biển CT, 11-6- 2012 VD19: “ Khátnước sạch” ở miệt rừng U Minh CT, 8-4-2012 VD20: Lòng vị tha!... CT, 24-5-2012 VD21: Nghĩa vợ chồng… CT, 12-3-2012 VD22: Xăm mình-Vui ít, khổ nhiều CT, 26-12-2011 VD23: Cà Mau: Bấtcẩn, 1 người bị điện giật bỏng nặng CT, 15-4-2012 VD24: Bao giờ “ Xóm đèn dầu” có điện, nước sạch sử dụng? CT, 16-5-2012
  • 54. 49 Dấu câu tham gia vào cấu tạo tiêu đề góp phần nhấn mạnh ý nghĩa bổ sung bên cạnh ý nghĩa cơ bản của thông tin. Việc sử dụng dấu câu ở tiêu đề hoàn toàn phụ thuộc vào dụng ý chủ quan của tác giả bài báo. 2.1.2. Sựphân bố 5W + 1H ở đơn đề Do nhiều lý do khác nhau, các văn bản báo chí nói chung, văn bản tin tức nói riêng thường phải tuân thủ theo nguyên tắc bằng một hình thức tối thiểu, đồng thời phải chuyển tải được một thông tin tối đa. Cho nên có thể nói, tính ngắn gọn, hàm súc là một đặc điểm chung dễ thấy ở ngôn ngữ báo chí nói chung, báo chí Cần Thơ cũng không vượt qua thông lệ này. Như đã nói, tin tức là một thể loại tiêu biểu nhất cho ngôn ngữ báo chí. Tính chất tiêu biểu không chỉ ở cấp độ từ vựng, cú pháp mà cả ở tổ chức văn bản. Xét về mặt thông tin, từ lâu, giới báo chí học đã khái quát thành công thức 5W + 1H với các yếu tố là Who ( Ai), What ( Cái gì), Why (Tại sao) When ( Khi nào), Where (Ở đâu), và How ( Như thế nào). Nói cụ thể, tiêu đề văn bản là yếu tố đầu tiên đập vào mắt người đọc, nó có giá trị khiêu gợi, kích thích người đọc khám phá phần nội dung cơ bản bên cạnh phần nội dung bổ sung của bản tin. Và tiêu đề cũng là yếu tố được chọn lựa, cân nhắc rất cẩn thận từ phía người tạo lập văn bản. Ngôn ngữ của tiêu đề văn bản lệ thuộc vào phong cách và thể loại mà nó là yếu tố đại diện. Luận văn sẽ dùng công thức này để xem xét sự phân bố của chúng trong tiêu đề báo chí nói chung, chưa tính đến sự phân bố trong đặc điểm thể loại. Chúng tôi khảo sát 1.500 bản tin ngẫu nhiên, kết quả thống kê là 90% bản tin có tiêu đề, 10% còn lại không có tiêu đề. Trong loại những bản tin không có tiêu đề này, câu mở đầu thay thế cho tiêu đề và đóng vai trò là điểm chỉ báo thông tin. Chúng tôi phân chia những trường hợp văn bản tin tức không có tiêu đề với các dạng sau:
  • 55. 50 - Dấu hiệu thay thế về mặt hình thức: đó là trường hợp của tin vắn, được đóng khung riêng ở những vị trí nhất định trên trang báo, như sát mép phải của trang báo hay phần dưới cùng của chân trang báo. Tin vắn thường được xếp trong một hệ thống cùng loại. Ngoài ra, trong quá trình nhận diện, chúng tôi thấy rằng mặc dù không có tiêu đề nhưng trong nhiều trường hợp tin vắn được bắt đầu bằng một từ hay một cụm từ, câu, đóng vai trò chỉ báo thông tin nằm ở vị trí đầu bản tin hoặc nằm tách biệt bên ngoài bản tin, chỉ không gian, thời gian, địa điểm, chủ thể hay sự kiện được đề cập. - Dấu hiệu về mặt nội dung:Nhìn chung, tin vắn đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, tức thời, sơ lược vấn đề của độc giả. Đối tượng khảo sát của luận văn là những văn bản có tiêu đề, loại văn bản không có tiêu đề chỉ mang tính chất tham khảo. Nhìn chung, cùng với sự phát triển của tâm lí công nghiệp, nói cụ thể, tiêu đề của báo chí là thông tin một cách nhanh gọn tùy theo nhu cầu của độc giả. Đặc điểm này chung cho tất cả thể loại báo chí, nhưng nổi rõ nhất là ở tin tức. 2.1.2.1. Tiêu đềchứa 1 yếu tố VD25: Trốn không thoát CT, 08-4-11 Hiếm bắt gặp kiểu tiêu đề chứa 1 yếu tố ở cấu trúc tiêu đề của văn bản tin tức. Một yếu tố thường gặp là cụm danh ngữ hoặc là cụm động ngữ, tính ngữ, và hiếm khi xuất hiện ở văn bản tin tức. 2.1.2.2. Tiêu đềchứa 2 yếu tố VD26: Trường Đại học Cần Thơ khaigiảng năm học mới CT, 08-4-11
  • 56. 51 Kiểu tiêu đề chứa 2 yếu tố thông dụng hơn cả vì nó đáp ứng nhu cầu thông tin ban đầu của độc giả, đó là chủ thể và vận động của chủ thể. Chủ thể ở đây có thể là người, là vật, là sự kiện và hoạt động, trạng thái, tính chất của chủ thể. Như vậy có thể thấy, kiểu tiêu đề chứa 2 yếu tố xuất hiện trội hơn cả trên nhật báo Cần Thơ. Tiếp đến là kiểu tiêu đề chứa 3 yếu tố, 4 yếu tố và sau cùng là 1 yếu tố. Kiểu tiêu đề chứa 5 yếu tố hoặc đầy đủ các yếu tố trong cấu trúc 5W + 1H không xuất hiện trường hợp nào trong tổng số các tiêu đề đã xét. 2.1.2.3. Tiêu đềchứa 3 yếu tố VD27: Đoàn công tác Ban dân nguyện làm việc tại TP Cần Thơ CT, 17-4-11 2.1.2.4. Tiêu đềchứa 4 yếu tố VD28: Hội nhà báoTP Cần Thơ tổ chức chuyến đi thực tế cho hội viên CT, 16-6-2011 Xét 1.500 tiêu đề ngẫu nhiên trên báo Cần Thơ, thông qua phương pháp thống kê ngôn ngữ học, ta có bảng sau: Số lượng yếu tố xuất hiện ở tiêu đề Tổng số Tỉ lệ% 1 yếu tố 165 11 2 yếu tố 645 43 3 yếu tố 435 29 4 yếu tố 255 17 5,6 yếu tố 0 0 Cộng 1.500 100
  • 57. 52 Ta thấy tiêu đề chứa 2, 3 yếu tố là kiểu tiêu đề thích hợp cho hầu hết các thể loại văn bản báo chí. Bởi vì các yếu tố vừa nhắc đáp ứng được nhu cầu thông tin tức thời của người đọc và coi như chúng là những thông tin hạt nhân. Kiểu tiêu đề chỉ chứa 1 yếu tố xuất hiện ở tần số thấp, chủ thể được đề cập đến trong bài báo thường ẩn. Thông thường kiểu tiêu đề này được kết cấu bằng 1 cụm từ, nêu nguyên nhân, cách thức, phương tiện hoặc hiệu quả đạt được, nhằm mục đích nhấn mạnh hoạt động của chủ thể và nó cũng lệ thuộc vào yếu tố thể loại, không xuất hiện ở thể loại tin tức. Trên cơ sở xem xét cấu trúc tiêu đề, luận văn khảo sát tần suất xuất hiện của từng yếu tố trong cấu trúc 5W + 1H. Ta có bảng sau: Các yếu tố Tần số xuất hiện Tỉ lệ % Who 293 19,5 What 555 37 Where 202 13,5 When 45 3 Why 120 8 How 285 19 Cộng 1.500 100 Yếu tố bắt buộc phải có Who, Whats, How, Why; trong khi yếu tố không bắt buộc phải có là Where với When. Nhìn vào bảng, ta thấy yếu tố What xuất hiện trội hơn cả các yếu tố khác. Điều này cũng dễ lý giải, vì hầu hết các cấu trúc tiêu đề đều thấy xuất hiện chủ thể, ở đây thường là sự kiện, cũng có thể là vật. What thực chất bao gồm 2 đối tượng vật và sự kiện. Thứ đến là Who, điều này cũng có thể giải thích được vì đó là chủ thể quan sát sự kiện, và How lí giải nguyên nhân. Những thông tin trên báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp đều xoay quanh cuộc
  • 58. 53 sống con người. Con người là đối tượng chính của thông tin báo chí. Thống kê cũng cho thấy, yếu tố không gian và thời gian có tần suất thấp, điều này có thể lý giải được vì hai yếu tố này nhờ vào 1 sự giả định hoặc do tính chất liên văn bản cho nên nó không nhất thiết lúc nào cũng xuất hiện trên tiêu đề. 2.1.3. Mốiquan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề Tiểu mục trước xem xét tiêu đề dưới dạng đơn đề, tiểu mục tiếp theo sẽ xem xét mối quan hệ về mặt nội dung trong hệ thống đa đề. Ở tiểu mục trước, với cách tiếp cận sự phân bố của 5W + 1H chủ yếu là ở tiêu đề đơn tức có nghĩa là tương ứng với một văn bản chúng ta chỉ có một tiêu đề duy nhất phần nào cho thấy sự phân bố thông tin tần suất xuất hiện của chúng cũng như vai trò gợi mở của các thông tin hạt nhân cũng như thông tin vệ tinh. Tuy nhiên trong hoạt động giao tiếp, cấu tạo của tiêu đề rất phức tạp. Nhiều khi chúng làm thành một hệ thống. Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, ít nhất là có 3 trường hợp sau: i. Thượng đề và đề ii. Đề và hạ đề iii. Thượng đề, đề và hạ đề. Tiểu mục tiếp theo luận văn sẽ xem xét mối quan hệ về mặt nội dung giữa các tiêu đề trong hệ thống đa đề. Luận văn khảo sát 1.500 tiêu đề của đầy đủ các thể loại báo chí thuộc đối tượng khảo sát của luận văn, kết quả tìm được là có 513/1.500 tiêu đề có cấu trúc đa đề. Từ góc độ chức năng, có thể nói thượng đề là chủ đề bao trùm còn đề là phần thuyết minh hay nói về chủ đề bao trùm đó. Hạ đề là phần giải thích, bổ sung ý nghĩa thông tin cho chủ đề nêu ở thượng đề. Trong kết cấu tiêu đề, 3 phần này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ thông tin cho nhau.
  • 59. 54 2.1.3.1. Môhình 1 Tiêu đề = Thượng đề + Đề VD29: Thượng đề: Xã Thạnh Thắng, huyện Vĩnh Thạnh: Điểm sáng trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc CT, 13-2-2011 2.1.3.2. Môhình 2 Tiêu đề = Hạ đề + Đề VD30: Đề: Bế mạc liên hoan Những bàica đi cùng năm tháng Hạ đề: Đoàn trường Đại học Cần thơ đứng nhấttoàn đoàn CT, 24-2012 2.1.3.3. Môhình 3 Tiêu đề = Thượng đề + Đề + Hạ đề VD31: Thượng đề: Hôm nayngày6-9-2011 Đề: TP Cần thơ tiễn 900 thanh niên ưu tú lên đường nhập ngũ Hạ đề: Tổ chức hội trại tòng quân 5 quận, huyện CT, 6-9-2011 Sau khi khảo sát 1.500 tiêu đề các văn bản báo chí thuộc các thể loại nằm trong phạm vi nghiên cứu, luận văn nhận thấy hai mô hình 1 và 2 xuất hiện phổ biến trên các tiêu đề văn bản báo Cần Thơ. Còn kiểu mô hình thứ 3 xuất hiện hạn chế hơn. Các yếu tố thượng đề, đề và hạ đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Như đã nói, thượng đề nêu cái chủ đề bao trùm của toàn văn bản.
  • 60. 55 Việc xuất hiện đầy đủ các loại đề liên quan đến sự kiện và độ dài văn bản. Quan sát trên báo Nhân dân thì những sự kiện như Ngàygiải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, Ngày quốc tế lao động,… thì thấy xuất hiện cả hệ thống tiêu đề đầy đủ 3 yếu tố. Tương tự như vậy, trên nhật báo Cần Thơ, chỉ có những sự kiện lớn mới đầy đủ 3 thành phần, còn mô hình đơn đề là phổ biến, tiếp đến là mô hình thượng đề và đề, sau cùng là mô hình đề và hạ đề. Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy thượng đề trên nhật báo Cần Thơ thường nêu các đối tượng sau: - Thời gian - Địa điểm - Nhân vật - Sự kiện Luận văn khái quát mô hình đa đề như sau: Mô hình 1: Thượng đề + Đề Đa đề Mô hình 2: Đề + Hạ đề Mô hình 3: Thượng đề + Đề + Hạ đề 2.1.4. Mộtsố thủ pháp nghệ thuật sử dụng ở tiêu đề Bên cạnh ý nghĩa về mặt ngôn tử, các thủ pháp nghệ thuật góp phần đáng kể trong việc tạo hiệu quả thông tin cho tiêu đề. Chúng ta bắt gặp đa dạng các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng ở tiêu đề, kíchthích trí tò mò của độc giả. Sau đây là một số thủ pháp nghệ thuật thường được sử dụng ở tiêu đề nhật báo Cần Thơ. * Thủ pháp đối VD32: Những cái chết làm nên sự sống CT,6-8-2011
  • 61. 56 VD33: Điểm mạnh của phái yếu CT,24-4-2012 * Thành ngữ VD34: "Nhàn cư vi bất thiện" CT,4-4-2011 VD35: "Nhất nghệtinh, nhấtthân vinh" CT,21-6-2012 * Ẩn dụ, hoán dụ VD36: Giúp "cần câu" để thoát nghèo... CT,12-4-2012 VD37: Thiếu nhi "khát” sân chơi CT,23-5-2012 VD38: Áo xanh tình nguyện CT,12-2-2011 2.2. Dẫn đề Xét văn bản trong tính chỉnh thể, dẫn đề đảm nhiệm vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống các thành phần cấu thành văn bản. Dẫn đề nằm ở vị trí sau tiêu đề, có chức năng dẫn dắt độc giả đi vào tác phẩm. Theo cấu trúc thông tin, dẫn đề thường đóng vai trò là thông tin hạt nhân của văn bản, phần thân của văn bản đóng vai trò là những thông tin vệ tinh, phát triển ý cho chủ đề nêu ở dẫn đề.
  • 62. 57 Đặt dẫn đề trong mối quan hệ của một chỉnh thể thống nhất là văn bản, trước hết xét mối quan hệ giữa dẫn đề và tiêu đề, có rất nhiều vấn đề lý thú cần được bàn luận. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của luận văn có hạn nên người viết không bàn đến ở đây. Tiếp theo là mối quan hệ giữa dẫn đề và các phần còn lại của văn bản, người viết sẽ đi sâu vào tìm hiểu khi tiến hành khảo sát toàn văn bản báo chí. Ở phạm vi hẹp, trước hết, xét dẫn đề trên cơ sở khảo sát bản thân dẫn đề. Những cơ sở lý thuyết về khái niệm dẫn đề cũng như chức năng của dẫn đề, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước bàn luận đến. Ở đây, người viết vận dụng những cơ sở lý thuyết tìm hiểu được để nhận diện và tìm ra đặc trưng của dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ. 2.2.1. Mô hình dẫn đề theo lý thuyết của F. Danes Từ sự bất cập của hướng phân tích văn bản cũng như các đơn vị thấp hơn theo cấu trúc chủ vị, giới nghiên cứu ngôn ngữ học đã chấp nhận và vận dụng cấu trúc Đề ( theme, topic) – Thuyết ( rheme, comment) của ngữ pháp chức năng hệ thống. Có rất nhiều lý thuyết về đề - thuyết trong cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt, trong đó nổi bật hơn cả là Cao Xuân Hạo. Ông là người đầu tiên áp dụng một cách triệt để quan hệ đề – thuyết vào việc phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt. Ông cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề. Cho nên việc áp dụng cấu trúc chủ vị vào việc phân tích câu và các đơn vị trên câu không phải là giải pháp thỏa đáng. Trong công trình Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng ( 1991) ông cho rằng phân tích câu theo quan hệ đề thuyết là phù hợp với loại hình tiếng Việt. Câu được hiểu là đơn vị thông báo một mệnh đề hay phản ánh một nhận định được cấu trúc hóa thành hai phần đề, thuyết, trong đó
  • 63. 58 “ đề là điểm xuất phát, là cái cơ sở, cái điểm tựa làm bàn đạp cho đà triển khai của câu” ở phần thuyết. Còn về quan niệm đề – thuyết của F. Danes chính là lý thuyết về mô thức phát triển đề. Theo đó phát triển đề là sự lựa chọn và sắp xếp đề, sự liên hoàn và phân cấp qua lại của chúng, cũng như mối quan hệ của chúng với các siêu đề của các đơn vị văn bản cao hơn (như đoạn, chương…) với toàn bộ văn bản và với ngữ cảnh tình huống. Theo quan điểm của ông thì phát triển đề có thể được xem như bộ khung của toàn bộ văn bản. Trên cơ sở lý thuyết của F. Danes có thể xác lập các mô hình phát triển đề sau đây: - Mô hình phát triển đề tuyến tính đơn - Mô hình phát triển đề cố định - Mô hình phát triển đề phái sinh - Mô hình thuyết tách Dựa trên quan niệm của F. Danes có thể thấy các phát ngôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Phát ngôn mở đầu luôn là chỗ dựa cho các phát ngôn sau, và tiếp đến phát ngôn sau lại làm chỗ dựa cho phát ngôn kế tiếp. Dẫn đề có độ dài tương đối ngắn. Trung bình mỗi dẫn đề từ 2 đến 3 câu. Tuy nhiên có những dẫn đề gồm 1 câu hoặc rất nhiều câu, tùy theo mỗi văn bản báo chí cũng như dụng ý của phóng viên. Đây là xét về mặt hình thức. Ở đây, chúng tôi dựa trên cơ sở lý thuyết về các mô thức phát triển đề ứng dụng vào việc thống kê, khảo sát và miêu tả dẫn đề trên các văn bản nhật báo Cần Thơ, nhằm mục đích tìm ra đặc trưng cơ bản của đối tượng này. 2.2.1.1. Môhình phát triển đề tuyến tính đơn Đặc điểm của mô hình này là phần thuyết của phát ngôn trước sẽ trở thành phần đề của phát ngôn sau
  • 64. 59 T1 R1 T2 R2 T3 R3 Trong đó, T2=R1, T3=R2. Mô hình này có thể cụ thể hoá bằng văn bản là một dẫn đề như sau: VD39: Thời gian qua, BộChỉ huyQuân sự TP Cần Thơ đã tổ chức nhiều hoạt động chăm lo cho các gia đình chính sách, như: xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình đồng đội;khám bệnh, cấp thuốc miễn phí; thăm hỏi, tặng quà khi lễ, Tết... Các hoạt động trên không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang (LLVT) TP mà còn góp phần vun đắp tình quân dân ngày càng gắn bó... CT, 21-7-2011 Xét ví dụ trên chúng ta thấy các hoạt động trên thay thế cho nhiều hoạt động chăm lo cho các gia đình chính sách, như: xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đồng đội,… Như vậy, có thể thấy quá trình phát triển đề theo lý thuyết của F. Danes chính là việc lặp lại phần thuyết của câu mở đầu ở câu tiếp sau. Và quá trình cứ tiếp tục diễn ra như vậy, tạo mối quan hệ móc xích liên hoàn với nhau. 2.2.1.2. Môhình phát triển đề cố định Mô hình này có cấu trúc như sau: T1 R1 T1 R2 T1 R3….
  • 65. 60 Trong mô hình này, thành phần đề của các câu kế tiếp nhau không thay đổi, sự thay đổi chỉ diễn ra ở phần thuyết. Mô hình phát triển đề này có hai loại chuỗi đề. Chuỗi đồng nhất gồm một chuỗi các thành tố ngôn ngữ cùng quy chiếu từ cùng một thực thể (hoặc một sự kiện). VD40: Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Bên cạnh vai trò “nội tướng” trong gia đình, phụ nữ còn tham gia phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho gia đình, đóng góp trên nhiều lĩnh vực của xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh góc nhìn người phụ nữ hoàn thiện phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, một số người quên rằng cũng như nam giới, phụ nữ cần có nhu cầu được rèn luyện sức khỏe, vui chơi giải trí, học tập để tiến bộ... Bên cạnh nhiều đấng mày râu biết quan tâm chia sẻ việc nhà với vợ thì cũng còn không ít phụ nữ hàng ngày phải gánh vác “hàng núi” công việc có tên, lẫn không tên trong gia đình, không có được cuộc sống “hạnh phúc” theo đúng nghĩa... CT, 15-7-2011 Trong mô hình phát triển đề cố định, có một số trường hợp đề không được lặp lại hoàn toàn mà chỉ lặp lại một phần ở các câu tiếp theo. Xét trường hợp sau: VD41: Nhiều hộ dân ở khu vực 1, phường Ba Láng, quận Cái Răng bức xúc phản ánh tình trạng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn (TNHH) TríHưng, tọa lạc tại khu vực này, chuyên sản xuất nhựa tái sinh, trong thời gian dài trực tiếp xả nước thải xuống rạch Bà Vượt, khiến cho nguồn nước nơi đây bị ô nhiễm và có mùi hôi thối, gây ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sức khỏe của
  • 66. 61 các hộ dân. Tình trạng nàyđã kéo dàinhiều năm nay, người dân cũng đã nhiều lần phản ánh,nhưng tình trạng trên chưa được cải thiện. CT, 12 -7- 2011 Chuỗi tương đồng là một chuỗi các thành tố ngôn ngữ có quy chiếu không đồng nhất với nhau, nhưng lại cùng nằm trong cùng một nhóm hoặc nằm trong các nhóm có quan hệ với nhau được nhận ra thông qua trường liên tưởng. Mô hình phát triển đề cố định theo chuỗi tương đồng: T1 R1 T2 R2 T3 R3…. VD42: Từ sự tận tụy, hết mình của các cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, công tác giáo dục trẻ vị thành niên (VTN) trên địa bàn ngàycàng đivào chiều sâu, đạt nhiều hiệu quả thiết thực. Điều đáng quýlà Hội đã vận động được gia đình cùng tham gia, kết hợp với các ban ngànhđoàn thểphường chăm lo cho con em mình được tốt hơn. Hoạt động ý nghĩa này của Hội LHPN phường Trà Nóc đã được UBND quận tuyên dương vào tháng 6-2011. CT, 11- 7- 2011 2.2.1.3. Môhình phát triển Đề phái sinh Mô hình này có cấu trúc như sau: T T1–R1 T3–R3 T2–R2
  • 67. 62 Ở đây gồm một đề lớn ở câu đầu tiên. Phần đề ở những câu tiếp theo là sự phát triển thông tin của đề lớn đó. Chẳng hạn: VD43: Khi đọc tiểu thuyết “Không gia đình” của văn hào Hector Malot, tôi đã không cầm được nước mắt vì cảm thương cho cậu bé Rémi bị cha mẹ bỏ rơi, sống vất vưởng nhờ vào tình thương của những người xa lạ. Với những đứa trẻ mà tôi có dịp gặp gỡ, cuộc đời buồn không kém gì những chuyện buồn trong tiểu thuyết. Không có một mái ấm để tựa nương, các em luôn khát khao về một gia đình có cha, có mẹ… CT, 25-6-2011 2.2.1.4. Môhình Thuyết tách Đặc điểm của mô hình này là phần Thuyết của phát ngôn trước được triển khai bằng nhiều cấu trúc nòng cốt t - r theo mô hình: T1 R1 t1 – r1 t2 – r2 t3 – r3 …. VD44: Người xưa có câu “Ớt nào mà ớt chẳng cay - Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng”, ý nói ghen tuông là đặc tính cố hữu trong tình yêu - hôn nhân, mà đặc biệt là đối với phụ nữ. Thế nhưng “ghen” cũng có năm bảy đường. Có những người vì ghen tuông mà tan nhà nát cửa. Nhưng cũng có những cặp vợ chồng khi lòng người “nổi sóng”, những người trong cuộc đã khéo kềm chế, lèo lái cho con thuyền hạnh phúc vững vàng vượt qua sóng gió... CT, 22- 4- 2011 Qua khảo sát 1.500 dẫn đề trên ngữ liệu báo Cần Thơ, người viết nhận thấy có sự xuất hiện đầy đủ các mô hình dẫn đề theo lý thuyết của F. Danes,
  • 68. 63 tuy nhiên tần số xuất hiện của các mô hình là khác nhau. Kết quả khảo sát được thể hiện qua bảng sau: Loại đề Số liệu Tỉ lệ % Đề tuyến tính đơn 585 39 Đề cố định 383 25,5 Đề phái sinh 142 9,5 Đề thuyết tách 68 4,5 Ngoại lệ 322 21,5 Cộng 1.500 100 Dựa trên kết quả khảo sát tìm được, ta thấy dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ có đặc trưng riêng. Đó là việc chuộng mô hình phát triển đề tuyến tính đơn và đề cố định. Ở mô hình phát triển đề tuyến tính đơn, tác giả đưa vấn đề cần bàn đến trong bài báo ở phần thuyết của câu mở đầu, tiếp đến nhắc lại phần thuyết đó ở câu tiếp theo. Sử dụng kiểu mô hình này, thông qua quan sát nguồn ngữ liệu là dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ, tạo hiệu quả truyền tải thông tin nhanh chóng cho người đọc. Đóng vai trò là cửa ngõ đi vào mỗi tác phẩm báo chí, dẫn đề theo mô hình phát triển đề tuyến tính đơn cuốn hút người đọc tiếp tục tìm hiểu nội dung bài báo sau phần dẫn đề. Loại dẫn đề theo mô hình này thường bắt gặp ở các dạng bài gọi chung là bài phản ánh trên nhật báo Cần Thơ. Tiếp đến là mô hình phát triển đề cố định. Kiểu mô hình này chiếm tỉ lệ khoảng ¼ ( 25,5% trong tổng số 1.500 dẫn đề) các kiểu mô hình theo quan niệm của F. Danes. Có thể thấy kiểu mô thức này xuất hiện khá thường xuyên ở dẫn đề nhật báo Cần Thơ, đặc biệt là ở dạng bài viết về gương điển hình. Đối tượng của dạng bài này có thể là một con người cụ thể, một tập thể, một mô hình làm ăn sáng tạo, v.v… đạt hiệu quả xuất sắc đáng được biểu dương và nhân rộng, học tập. Đây cũng là điểm đặc thù của một tờ báo Đảng ở địa phương. Bên cạnh những thông tin thời sự nóng hổi diễn ra tại địa phương
  • 69. 64 hay vùng miền, các phóng viên của tờ báo luôn tìm tòi trên từng cây số những gương điển hình tiêu biểu, tìm ra những mặt tốt, mặt tích cực của cuộc sống để khen ngợi. Đó cũng nhằm định hướng dư luận, hướng đến xây dựng quê hương thêm giàu đẹp, cuộc sống thanh bình. Trên đây chúng tôi bàn về đặc trưng của dẫn đề. Trở lại mô hình phát triển đề cố định. Với dạng bài viết về gương điển hình, từ tiêu đề, dẫn đề cho đến kết thúc văn bản báo, đối tượng được nêu gương luôn được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm mục đích khắc họa đậm nét hình tượng nhân vật trong lòng độc giả. Chính vì vậy phần dẫn đề cũng không ngoại lệ. Và trong tư duy thông thường của con người, vấn đề gì quan trọng, người ta thường đặt nó ở phần đề. Điều này lý giải vì sao trong những bài viết về gương điển hình, ta bắt gặp hiện tượng tác giả sử dụng thủ pháp lặp thường xuyên. Hai mô hình đề phái sinh và đề thuyết tách có tần số xuất hiện kém hơn các mô hình đề khác. Việc sử dụng mô hình nào trong việc triển khai dẫn đề phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể kể đến yếu tố cá nhân của phóng viên, yếu tố thể loại, yếu tố tư duy và ngôn ngữ vùng miền. Tuy nhiên, đi sâu vào vấn đề này, người viết chưa có đủ các cơ sở lý luận cũng như nguồn ngữ liệu minh chứng nên tạm gác lại. Chỉ có điều, việc nêu ra kết quả thống kê về các mô thức đề theo lý thuyết của F. Danes cũng cho ta được ấn tượng về việc triển khai đề trên nhật báo Cần Thơ. Có một vấn đề quan trọng nữa trong phần nghiên cứu các mô thức phát triển đề theo F. Danes cần được bàn luận đến. Đó là những trường hợp ngoại lệ, tức là có nhiều trường hợp, ( khoảng 21,5% trong tổng số 1.500 dẫn đề được khảo sát), không thuộc mô hình nào trong 4 mô hình được đưa ra. Như chúng ta đã biết, dẫn đề có độ dài tương đối ngắn, trung bình từ 2 đến 3 câu. Đề áp dụng các mô thức của F. Danes vào dẫn đề, với độ dài như vậy là phù hợp, xét về mặt hình thức. Tuy nhiên, có những trường hợp dẫn đề chỉ gồm 1
  • 70. 65 câu hoặc rất nhiều câu. Ở trường hợp dẫn đề chỉ gồm một câu thì nhất định không thể áp dụng các mô hình phát triển đề. Ở trường hợp dẫn đề gồm quá nhiều câu thì ta lại gặp khó trong việc xác định đề của dẫn đề, đề không phát triển theo trật tự các mô hình đã nêu. Những trường hợp trên được xếp vào trường hợp ngoại lệ. Theo số liệu thống kê, ta thấy tần số các trường hợp ngoại lệ khá cao ( 21,5 % trong tổng số 1.500 dẫn đề). Con số này cũng có một ý nghĩa nhất định nào đó. Có thể là do dụng ý sáng tạo của phóng viên, bởi lẽ quá trình sử dụng ngôn ngữ là một quá trình sáng tạo, đặc biệt đối tượng phục vụ của báo chí lại là đông đảo bạn đọc gần xa, thuộc mọi tầng lớp, mọi trình độ và lứa tuổi. Ý nghĩa khác cũng có thể là do ảnh hưởng của đặc trưng thể loại và nhiều yếu tố khác chi phối đến việc tạo dẫn đề. Vấn đề này sẽ được tìm hiểu ở hoàn cảnh khác, do phạm vi nghiên cứu của luận văn không cho phép. 2.2.2. Mô hình dẫn đề theo T- R- I Dựa vào lý thuyết phân tích diễn ngôn, ta có thể khảo sát dẫn đề trên cơ sở xem xét sự phân bố của các yếu tố nội dung trong văn bản, bao gồm 3 yếu tố: Đề: kí hiệu là T ( theme), là chủ đề chính của văn bản, là cái được nêu lên hoặc đề cập trong văn bản, thường nằm bên trái của phát ngôn/ văn bản. Thuyết: kí hiệu là R ( rheme), nói về cái đề, là cái giải thích và thuyết minh cho đề, thường nằm bên phải phát ngôn/ văn bản. Thành phần giải thích: kí hiệu là I ( interpretation), nó có thể giải thích cho T hoặc R, cũng có thể giải thích cho cả hai thành phần trên. Thành phần này có thể do một hoặc nhiều phát ngôn đảm nhiệm. Khảo sát dẫn đề theo 3 yếu tố T- R- I, dựa trên nguồn ngữ liệu là 1.500 dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ, tìm ra tỉ lệ của từng mô hình dẫn đề, bằng cách đảo trật tự của ba thành tố. Lần lượt ta có 3 mô hình sau:
  • 71. 66 2.2.2.1. Môhình dẫn đề theo T- R- I Qua khảo sát nguồn ngữ liệu, thấy rằng kiểu dẫn đề này có tần số xuất hiện cao hơn hẳn so với các mô hình khác. Ở đây phần đề và phần thuyết của dẫn đề được nêu lên đầu tiên. Phần còn lại chính là thành phần giải thích cho đề và thuyết đã nêu trước đó. Đứng từ góc độ kết cấu của đoạn văn thì dẫn đề thuộc mô hình này giống việc triển khai đoạn văn theo lối diễn dịch. Xét từ góc độ cấu trúc thông tin trong một văn bản báo chí thì mô hình này tương ứng mô hình hình tháp ngược. Các yếu tố thông tin quan trọng được đặt lên hàng đầu. Những yếu tố giải thích, chứng minh, bổ sung nội dung cho thông tin quan trọng được triển khai tiếp sau đó nhằm làm rõ vấn đề. Về phía người biên tập trong tòa soạn, khi muốn cắt bớt thông tin của phóng viên để vừa với khuôn báo thì biên tập viên sẽ thao tác cắt từ dưới lên. Thao tác này không làm ảnh hưởng đến nội dung quan trọng của bài báo cũng như ý đồ của tác giả. Kiểu dẫn đề này đáp ứng tâm lí công nghiệp của độc giả thời nay. Thông thường độc giả khi cầm một tờ báo thường đọc lướt qua các tiêu đề và dẫn đề ấn tượng, xét cả hình thức trình bày cũng như ngôn ngữ sử dụng. Chính vì vậy, với những tiêu đề hấp dẫn, những dẫn đề được trình bày với hình thức bắt mắt và ngôn ngữ cô đúc, ngắn gọn nhưng chứa nhiều hàm ý dễ thu hút sự quan tâm của độc giả. Thông tin hạt nhân được đưa lên đầu dẫn đề sẽ giúp độc giả tiếp cận vấn đề chính một cách nhanh chóng và giúp độc giả dễ dàng đi đến quyết định có tiếp tục đọc bài báo đó hay không và đọc đến đâu. Vì lẽ đó mà mô hình dẫn đề này được ưu tiên lựa chọn trong hầu hết thể loại báo. Hai thành phần T và R có thể được tạo thành từ cấu trúc t- r nhỏ hơn, còn I có thể được tạo thành từ chuỗi cấu trúc t- r. Xét các ví dụ sau:
  • 72. 67 VD45: Mỗi năm, TP Cần Thơ xảy ra khoảng 30 trường hợp trẻ em bị xâm hại được pháthiện và xử lý. Trẻ em có nguy cơ bị xâm hại tình dục (XHTD) cao, đặc biệt ở các vùng xa ven trung tâm thành phố, những khu dân cư có nhiều công trình đang xây dựng. Bên cạnh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm xâm hạitrẻ em của địa phương, thì việc trang bị những kiến thức và kỹ năng an toàn cho các em là hết sức cần thiết, giúp các em biết cách tự bảo vệ bản thân, phòng tránh được nguy cơ bị xâm hại. CT, 17-7-2011 Trong đó: “ThànhphốCần Thơ”:T “ Khoảng 30 trường hợp trẻ em bị xâm hại bị… xử lý”: R “ Trẻ em có nguycơ…. Phòng tránh được nguycơ bị xâm hại”: I 2.2.2.2. Môhình dẫn đề theo I- T- R Nếu như mô hình dẫn đề theo T- R- I giống kết cấu đoạn văn triển khai theo lối diễn dịch thì mô hình được khảo sát ở đây lại giống kết cấu đoạn văn triển khai theo lối quy nạp. Có nghĩa là những thông tin mang tính chất giải thích, chứng minh, biện luận cho thông tin chính được đặt ở đầu dẫn đề, còn những thông tin cơ bản đóng vai trò đề, thuyết chính của dẫn đề thì phân bố ở vị trí cuối dẫn đề. Trong công tác biên tập, khi muốn gọt dũa dẫn đề, biên tập viên thường cắt từ trên xuống, vừa thực hiện được mục đích biên tập, vừa giữ được thông tin cốt lõi của dẫn đề. Khi sử dụng kiểu dẫn đề này, phóng viên luôn phải xác định khả năng sử dụng ngôn ngữ của mình. Bởi lẽ, những thông tin cơ bản, điều mà phóng viên muốn truyền đến người đọc, nằm ở vị trí cuối dẫn đề. Có nghĩa là, phải trải qua một quá trình dẫn dắt thì người đọc mới đến đích thông tin, tức thông điệp của phóng viên. Vậy làm sao giữ chân độc giả là trọng trách của tác giả
  • 73. 68 bài báo mà phần dẫn đề đóng vai trò vô cùng quan trọng. Cho nên, triển khai dẫn đề với thành phần giải thích đầu tiên rồi mới đến phần đề và thuyết của vấn đề thì thực sự đây không phải là điều dễ. Chúng ta xét ví dụ sau: VD46: Theo thống kê từ năm 2008 đến năm 2010, trên địa bàn thành phố xảy ra 49 vụ cháy, 1 vụ nổ, làm chết 9 người và 8 người bị thương, thiệt hại tài sản trên 26 tỉ 940 triệu đồng. Địa bàn xảy ra cháy tập trung chủ yếu là khu vực nội ô và các cơ sở công nghiệp. Đây là một thách thức không nhỏ của địa phương, đốivới việc vừa đảm bảotốc độ tăng trưởng kinh tế, xã hội, phảivừa đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. CT, 15- 7- 2011 Trong đó: “ Theo thống kê… cơ sở công nghiệp”:I “ Đây là thách thức không nhỏ của địa phương”:T “ vừa đảm bảotốc độ tăng trưởng kinh tế…. trên địa bàn”:R 2.2.2.3. Môhình dẫn đề theo T- I- R Đứng từ góc độ phóng viên cũng như biên tập viên, mô hình này gây khó trong quá trình biên tập. Bởi lẽ thông tin hạt nhân, thông tin cốt lõi không phân bố tập trung mà rải ra khắp tiêu đề, khi muốn cắt gọt câu chữ, biên tập viên phải cân nhắc nhiều lựa chọn. Về phía độc giả, do thông tin ở dẫn đề thuộc mô hình này thiên về giải thích nên độc giả phải đi tìm chủ đề chính của dẫn đề. Điều này gây khó cho độc giả trong quá trình tiếp nhận thông tin. Muốn viết tốt dẫn đề này đòi hỏi phóng viên phải có một trình độ sử dụng ngôn ngữ nhất định.
  • 74. 69 VD47: Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Bên cạnh vai trò “nội tướng” trong gia đình, phụ nữcòn tham gia pháttriển kinh tế, nâng caothu nhập cho gia đình, đóng góp trên nhiều lĩnh vực của xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh góc nhìn người phụ nữ hoàn thiện phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, một số người quên rằng cũng như nam giới, phụ nữ cần có nhu cầu được rèn luyện sức khỏe, vui chơi giải trí, học tập để tiến bộ... Bên cạnh nhiều đấng mày râu biết quan tâm chia sẻ việc nhà với vợ thì cũng còn không ít phụ nữ hàng ngày phải gánh vác “hàng núi” công việc có tên, lẫn không tên trong gia đình, không có được cuộc sống “hạnh phúc” theo đúng nghĩa... CT, 15- 7- 2011 Trong đó: “ Xã hội ngàycàng pháttriển… và ngoàixã hội”: T “ Bên cạnh vai trò “nội tướng” trong gia đình… để tiến bộ”: I “ Bên cạnh nhiều đấng màyrâu… theo đúng nghĩa…”:R Xét ví dụ trên chúng ta thấy dẫn đề có dung lượng tương đối lớn. Muốn tìm được chủ đề của dẫn đề trên, chúng ta phải trải qua quá trình suy luận, khái quát. Đồng thời, chúng ta nhận thấy kiểu dẫn đề theo mô hình trên có nhiều nét rườm, làm giảm hiệu quả thông tin của dẫn đề. Ngoài 3 mô hình vừa nêu trên, khảo sát dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ, luận văn còn thấy xuất hiện mô hình dẫn đề chỉ có hai yếu tố T – R và không có thành phần giải thích. Qua khảo sát 1.500 dẫn đề theo các yếu tố T, R, I, lần lượt theo các mô hình đã miêu tả trên, ta có bảng tỉ lệ sau:
  • 75. 70 Mô hình Số liệu Tỉ lệ % T-R-I 675 45 I-T-R 487 32,5 T-I-R 225 15 T-R 113 7,5 Cộng 1.500 100% Từ bảng thống kê chúng ta thấy mô hình T- R- I có tần số xuất hiện cao nhất, tiếp đến là mô hình I- T- R, mô hình T- I- R và sau cùng là mô hình T - R. Kết quả khảo sát phù hợp với phần biện giải đã nêu ra ở trên. Quá trình khảo sát dẫn đề theo các mô hình trên cũng cho ta nhiều nhận xét lí thú. Mô hình T- R- I chiếm tỉ lệ cao vì nó thuận theo logic ngữ nghĩa thông thường: giới thiệu nhân vật hoặc vấn đề cần bàn luận trước rồi mới giải thích, diễn giải vấn đề. Về mặt hình thức, dẫn đề cũng như tiêu đề được tách riêng ra phần thân văn bản báo. Bên cạnh đó dẫn đề cũng được in với co chữ, kiểu chữ và màu sắc chữ khác hẳn so với các phần còn lại. Ở nhật báo Cần Thơ, dẫn đề thường được in kiểu chữ đứng đậm, đôi khi nghiêng đậm. Qua đó ít nhiều thấy được vị trí của dẫn đề trong văn bản báo, xét tính hệ thống của văn bản. Khảo sát 1.500 dẫn đề từ nguồn ngữ liệu báo Cần Thơ cho ta nhận diện được một số đặc trưng sau: có nhiều dẫn đề bắt đầu bằng cụm từ “ nói đến”, “ nhắc đến”. Đây là dấu hiệu cho những bài báo viết về gương điển hình nhân vật hay tập thể có thành tích nổi bật. Tiếp theo là dẫn đề bắt đầu bằng cụm từ “ thời gian qua”. Mô thức này được bắt gặp thường xuyên, được bắt gặp ở các bài báo tổng kết một quá trình thực hiện một chương trình hay chủ trương, chính sách nào đó của địa phương, Đảng và Nhà nước,… Kiểu dẫn đề này nhằm nhấn mạnh thông tin thời sự ở thì hiện tại.
  • 76. 71 Ở dẫn đề, đôikhi ta bắt gặp cái tôi của tác giả xuất hiện một cách trực tiếp. Ngoài ba mô hình đã liệt kê, khi khảo sát dẫn đề, ta bắt gặp một vài trường hợp ngoại lệ. Do số lượng dẫn đề được khảo sát chỉ là con số nhỏ cho nên người viết luận văn chưa thể rút ra thành nhận xét khái quát. Tuy nhiên cũng liệt kê ra đây một vài trường hợp ngoại lệ điển hình. Có trường hợp bắt đầu dẫn đề là phần giải thích, tiếp đó là thành phần đề, thuyết, và sau cùng lại là thành phần giải thích. Thiết nghĩ có thể có một hay một số mô hình phái sinh của dẫn đề để có thể có đầy đủ hơn nữa cơ sở lý thuyết để khảo sát bộ phận dẫn đề một cách toàn diện, tổng thể. Ngoài ra, có trường hợp ngoại lệ là dẫn đề chỉ gồm thành phần đề thuyết mà không có thành phần giải thích. Có thể kể thêm trường hợp ngoại lệ là dẫn đề, xét về mặt ý nghĩa chỉ nêu phần đề mà không nêu phần thuyết, nêu dẫn chứng nhưng không giải thích, muốn tìm hiểu cái thuyết, người đọc phải tự mình suy ngẫm. Thêm nữa là có trường hợp có loại dẫn đề chứa nhiều chủ đề, thường được tạo nên bởi thủ pháp đối lập. Xét văn bản trong cấu trúc thông tin, dẫn đề thường đóng vai trò hạt nhân của văn bản. Chính vì vậy sai sót ở dẫn đề dễ dẫn đến sự thất bại trong hiệu quả truyền tải thông tin của nhà báo đến bạn đọc. Khảo sát dẫn đề nhật báo Cần Thơ, bên cạnh đặc trưng cô đọng, hàm súc của dẫn đề, đôi khi độc giả cũng bắt gặp ít nhiều hạt sạn ở dẫn đề. Đây cũng là thực tế của nhiều tờ báo chứ không riêng gì báo Cần Thơ, mặc dù cả tập thể tòa soạn luôn nỗ lực đáp ứng mong mỏi của bạn đọc. Những lỗi về lô gic, ngữ nghĩa, dấu câu hoặc lỗi về việc lặp lại một mô tip từ ngữ nào đó ở dẫn đề dễ tạo hiệu ứng không tốt từ phía độc giả, giảm hiệu quả thông tin của bài báo và giảm chất lượng tờ báo.
  • 77. 72 2.2.3. Mô hình dẫn đề theo cấu trúc 5W + 1H Trong quá trình tạo lập văn bản, đặc biệt là văn bản báo chí, các yếu tố trong cấu trúc 5W + 1H là những yếu tố cơ bản. Mỗi văn bản chứa càng nhiều các yếu tố trong cấu trúc trên càng đầy đủ ý nghĩa. Tuy nhiên, việc xuất hiện đầy đủ hay vắng mặt một hay nhiều yếu tố trong cấu trúc 5W + 1H cũng còn tùy thuộc vào các thể loại báo chí. Còn bên trong các bộ phận cấu thành văn bản báo chí thì tùy thuộc vào chức năng của từng bộ phận. Khảo sát 1.500 dẫn đề ta được bảng thống kê tỉ lệ các mô hình như sau: Kiểu mô hình Số liệu Tỉ lệ % 3 yếu tố 277 18,5 4 yếu tố 728 48,5 5 yếu tố 367 24,5 6 yếu tố 128 8,5 Cộng 1.500 100 Qua bảng thống kê ta thấy kiểu mô hình dẫn đề gồm 4 yếu tố có tần số xuất hiện cao nhất. Tiếp đến là mô hình dẫn đề gồm 5 yếu tố, 3 yếu tố và sau cùng là kiểu mô hình chứa đầy đủ các yếu tố. Như các phần diễn giải trên đã nhắc đến độ dài của dẫn đề, mặc dù có độ dài tương đối ngắn nhưng nội dung thông tin được nén chặt. Dẫn đề tuy ngắn gọn, cô đọng nhưng hàm súc, lời ít mà ý nhiều. Chính vì vậy, việc xuất hiện nhiều yếu tố thông tin ở phần dẫn đề là điều dễ hiểu. Qua thống kê, kiểu mô hình chứa đầy đủ các yếu tố trong cấu trúc 5W + 1H tương đối thấp ( 8,5%). Theo quan sát nguồn ngữ liệu, hai yếu tố Where và When không xuất hiện thường trực ở dẫn đề. Thông qua ngữ cảnh độc giả có thể đoán định được không gian, thời gian của sự tình. Hoặc có thể hai yếu tố đó được nhắc đến ở phần thân bài báo. Qua quan sát ngữ liệu, ta thấy có sự nhập nhằng giữa các yếu tố Who, What và Where. Có khi đề là Where mà cũng chính là What.
  • 78. 73 VD48: Thành phố Cần Thơ đang nỗ lực đầu tư phát triển để trở thành đô thị trung tâm vùng ĐBSCL. Trong cáctiêu chí pháttriển của một đô thị hiện đại, thì hệ thống cây xanh ở khu đô thị, khu dân cư (KDC) cần đảm bảo độ che phủ cũng nhưcân bằng sinh thái, tạo vẻ mỹ quan đô thị và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc đầu tư pháttriển hệ thống cây xanh tại các KDC mới ở thành phố lại thiếu đồng bộ… CT, 18-6-2011 Who ở dẫn đề có thể là “ cái tôi” của phóng viên. VD49: Để xây dựng một gia đình êm ấm, hạnh phúc rất cần sự yêu thương, hòa hợp và vun đắp tình cảm của cả người vợ lẫn người chồng. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của những cặp đôi hạnh phúc mà chúng tôi đã gặp, thì “bí quyết” lại phụ thuộc phần nhiều ở vai trò của người vợ - người dựng xây tổ ấm bằng chính tình yêu, sự tinh tế và khéo léo dung hòa các mối quan hệ trong gia đình... CT, 17-6-20111 Đôi khi câu trả lời cho yếu tố Why không được nêu tường minh ra câu chữ; tuy nhiên dựa trên câu chữ ta có thể nhận ra ý nghĩa hàm ngôn của nó. Dẫn đề chứa 3 yếu tố thường mang tính khái quát, nêu nhận định chung, đôi khi đó cũng là những lí lẽ đời thường, ứng với tất cả mọi người chứ không nhằm chỉ một đối tượng cụ thể nào. VD50: Câu nói đó không hẳn đúng trong mọi trường hợp nhưng phần nào được đúc kết từ thực trạng xảy ra ở nhiều gia đình. Chính cuộc sống quá nhàn rỗi, ít lao động, thiếu thông tin, không có mục tiêu phấn đấu đã khiến một số người “nhàncư” mất phương hướng, từ đó dẫn đến những suy nghĩ,
  • 79. 74 hành động lệch lạc, sai trái, đôi khi gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với bản thân, gia đình và những người xung quanh. Tuy điều đơn giản trên luôn được nhiều người từng trải cảnh báo, nhắc nhở, nhưng thực tế có không ít gia đình xào xáo, thậm chí hạnh phúcđổvỡ vì sự lầm đường lạc lối của một vài thành viên “nhàn cư”... CT, 03-6-2011 Dẫn đề chứa 4 yếu tố thể hiện tính cân đối của một dẫn đề: nêu những yếu tố nòng cốtcủa cấu trúc thông tin chuẩn mực. Những yếu tố khuyết sẽ được trình bày ở phần thân bài báo. VD51: Qua nắm tình hình, vào tháng 9-2010, Công an quận Cái Răng nhận được thông tin về trường hợp sử dụng giấy chứng nhận kết quả thi đại học năm 2010 giả vào Trường Đại học Tây Đô của các thí sinh Cao Thị Nhi (sinh năm 1992, ở xã Phú Hữu, huyện Châu Thành) và Huỳnh Hoài Nhân (sinh năm 1991, ởthị trấn Kinh Cùng, huyện PhụngHiệp, tỉnh Hậu Giang). Saukhi xác minh, thu thập chứng cứ, Công an quận Cái Răng báo cáo với lãnh đạo Công an thành phố, Thủ trưởng Phòng An ninh điều tra (ANĐT) Công an TP Cần Thơ chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ tiến hành điều tra, xác minh làm rõ đường dây làm giả giấy chứng nhận kết quả thi đại học. CT, 18-6-2011 Dẫn đề chứa đầy đủ các yếu tố thường ở dạng bài có độ dài tương đối lớn như phóng sự, phản ánh,… Ví dụ ở một bài viết về sự kiện pháp luật, tranh chấp đất đai, tác giả muốn trình bày sơ lược vụ việc cho người đọc hiểu. Phần thân bài báo là việc tường trình lần lượt các chi tiết liên quan đến sự kiện.
  • 80. 75 VD52: Hằng năm, khoảng tháng 5 và tháng 6 (âm lịch), nhiều người dân tại các vùng lũ ở ĐBSCL mua cá giống để thả trên chân ruộng lúa nên sức mua nhiều loại cá giống tăng, nhấtlà các loại cá trắng. Năm nay, do đầu ra và giá nhiều loại cá thịt ở mức cao đã khuyến khích người dân phát triển nuôi cá, làm giá nhiều loại cá giống tăng và nhiều loại hiện đã có dấu hiệu khan hàng ... CT,12-3-2011 Chủ thể Who ở dẫn đề có thể là một người, cũng có thể là một tổ chức, cơ quan, đoàn thể,.. VD53: Những năm qua, lực lượng vũ trang (LLVT) TP Cần Thơ luôn giữ vai trò là lực lượng xung kích trong công tác phòng chống lụt bão (PCLB) và tìm kiếm cứu nạn (TKCN). Khi các vụ thiên tai, sự cố xảy ra trên địa bàn, các cơ quan, đơn vị LLVT thành phố đều điều động lực lượng và phương tiện đến ứng cứu, khắc phụckịp thời, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân thànhphố đánh giá cao. CT, 21-7-2011 Trong một số bài báo, dẫn đề thiếu yếu tố When hoặc Where, dù vậy người đọc vẫn mặc nhiên hiểu Where hoặc When là gì. Nếu tác giả không nêu Where thì mặc nhiên là trong xã hội ngày nay, tương ứng với mọi người, trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ riêng địa danh hay nơi chốn nào. Còn đối với yếu tố When, thường thì thời gian không xác định chính xác mà dùng những từ chỉ chung chung như hiện nay, gần đây,… Thời gian chính xác là ngày, giờ, tháng, năm,… thường xuất hiện ở các bản tin. Khi khảo sát dẫn đề theo cấu trúc 5W + 1H ta cũng bắt gặp một số hạt sạn về dấu câu, cách dùng từ ngữ,… Ở trường hợp viết hoa sau dấu 3 chấm với từ
  • 81. 76 “qua đó”, “ từ đó”,… lẽ ra phải viết hoa vì đã hết câu nhưng lại không được viết hoa. Có trường hợp dẫn đề sử dụng dấu ba chấm không phù hợp. VD54: Đã từ lâu, tiệm Thúy Nga (tại số 151/72B) đường Trần Hoàng Na, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ đã trở thành địa chỉ khá quen thuộc với nhiều chị em. Tiệm không lúc nào vắng khách. Ai tới đây cũng muốn được cô chủ tiệm là chị Nga (tên thật là Võ Thị Cẩm Hồng, sinh năm 1975)giúp làm đẹp... CT, 11- 7- 2011 Có trường hợp dẫn đề dùng dư từ ngữ. VD55: Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Bên cạnh vai trò “nội tướng” trong gia đình, phụ nữ còn tham gia phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho gia đình, đóng góp trên nhiều lĩnh vực của xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh góc nhìn ngườiphụ nữ hoàn thiện phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, một số người quên rằng cũng nhưnam giới, phụ nữ cần có nhu cầu được rèn luyện sức khỏe, vui chơi giải trí, học tập để tiến bộ... Bên cạnh nhiều đấng mày râu biết quan tâm chia sẻ việc nhà với vợ thì cũng còn không ít phụ nữ hàng ngày phải gánh vác “hàng núi” công việc có tên, lẫn không tên trong gia đình, không có được cuộc sống “hạnh phúc” theo đúng nghĩa... CT,15-7-2011 Có những dẫn đề quá dài nhưng chỉ chứa rất ít yếu tố thông tin. Lẽ ra có thể rút gọn, cô đọng dẫn đề. Phần lý giải dành cho thân bài báo. Như vậy, dấn đề đóng vai trò là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc văn bản báo chí. Với một ngòi bút chuyên nghiệp, việc đầu tư cho dẫn đề là một công đọan vô cùng quan trọng. Điều đòi hỏi đầu tiên của dẫn đề chính là
  • 82. 77 yếu tố cô đọng nhưng hàm súc của dẫn đề. Đặc biệt tránh hiện tượng lặp từ, lặp ngữ, lặp ý ở dẫn đề. Bên cạnh đó, sự đồng nhất giữa nội diên và ngoại hàm của đối tượng được nhắc đến ở dẫn đề cũng là một lưu ý cần thiết. Ngắn gọn là yếu tố hàng đầu của dẫn đề. Dẫn đề đi thẳng vào vấn đề, vừa tạo tính thời sự hấp dẫn của thông tin, vừa lôi cuốn người đọc. Có điều dễ nhận ra là dẫn đề của các tác phẩm báo trên nhật báo Cần Thơ hạn chế sử dụng các phương tiện liên kết bằng từ nối, quan hệ từ. Bên cạnh những dẫn đề thật sự mang bản chất, chức năng của dẫn đề thì người viết còn bắt gặp ở ngữ liệu báo Cần Thơ những dẫn đề giả. Tuy nhiên, khi khảo sát toàn bộ văn bản thì ta dễ nhận ra được sự sáo rỗng trong những kiểu dẫn đề như thế. Có hay chăng những dẫn đề giả này thực hiện chức năng đưa đường, dẫn dắt bạn đọc vào nội dung văn bản báo. Trong mỗi số báo ra hàng ngày, thư ký tòa soạn lựa chọn những bài đinh, đặc biệt là những bài viết có dẫn đề hay, hấp dẫn đưa ra trang nhất, trang bìa nhằm tạo ấn tượng về mặt hình thức đối với độc giả. Điều này thêm một lần chứng tỏ vai trò quan trọng của dẫn đề đối với cấu trúc văn bản báo trong các thể loại báo chí. Mặc dù được quy định bởi phong cách ngôn ngữ báo chí nhất định nhưng ngôn ngữ được sử dụng ở dẫn đề nói riêng cũng vô cùng phong phú và hấp dẫn. Bằng sự sáng tạo của ngòi bút phóng viên, nhiều kiểu dẫn đề hấp dẫn được tạo ra. Đó là sự kết hợp của các thủ pháp nghệ thuật, là sự ví von của ngôn từ, cốt làm sao thực hiện được chức năng dẫn dắt, hấp dẫn độc giả. Qua khảo sát dẫn đề, người viết thấy rằng cái tôi của tác giả bài báo đôi khi xuất hiện ở dẫn đề. Cái tôi ở đây như một nhân chứng thuyết phục độ tin cậy của độc giả đối với tác phẩm báo. Trong những loại dẫn đề có xuất hiện cái tôi, ta thường thấy đi kèm là các yếu tố cảm xúc cá nhân của phóng viên về con người, sự vật, hiện tượng,… Đó có thể là sự yêu mến, xúc động, hay sự giận
  • 83. 78 dữ, lời trách cứ, lên án,… tất cả đều nhằm hướng đến làm tăng giá trị tác động cho vấn đề được nói đến. Trong nhiều trường hợp khảo sát bản thân dẫn đề cũng như toàn bộ văn bản báo, người viết luận văn nhận ra dẫn đề cũng chính là phần kết của văn bản. Như vậy, trong trường hợp này tác giả bài viết đã sử dụng kết cấu liên hoàn trong cấu trúc văn bản báo. Có một điều đáng lưu ý ở dẫn đề trên nhật báo Cần Thơ, ở các bài viết về gương nhân vật điển hình, thường bắt chước kiểu mào đầu giống hệt nhau. Không thể phủ nhận trong nhiều trường hợp kiểu dẫn đề đi thẳng vào khắc họa nhân vật dễ tạo ấn tượng tích cực cho độc giả. Tuy nhiên sự lặp đi lặp lại của một kiểu cấu trúc dẫn đề làm người đọc nhàm chán là điều không thể tránh khỏi. 2.3. Đoạnvăn Ở cấp độ ngôn ngữ trên câu, đoạn văn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cấu thành văn bản. Hình thức nhận diện đoạn văn đó là bắt đầu bằng việc viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng. Đoạn tiếp theo lại lặp lại hình thức như vậy. Có rất nhiều lý thuyết đã được đưa ra làm cơ sở lý luận, thậm chí có những lý thuyết về đoạn văn còn đang được bàn luận. Tuy nhiên ở đây người viết chỉ xét mối quan hệ của đoạn văn trong cấu trúc của chính nó và trong mối quan hệ với các bộ phận còn lại của văn bản báo chí. Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, câu là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất và không có cấp độ ngôn ngữ trên câu. Trên cơ sở đó khi khảo sát đoạn văn ta bắt gặp những câu thể hiện chủ đề của cả đoạn, các câu còn lại đảm nhiệm vai trò chứng minh, giải thích, bổ sung thông tin cho chủ đề đã nêu. Dựa trên lý thuyết về câu chủ đề trong đoạn văn, khảo sát 1.500 đoạn văn ngẫu nhiên trên nhật báo Cần Thơ, ta có bảng thống kê sau:
  • 84. 79 Mô hình Số liệu Tỉ lệ % Diễn dịch 735 49 Quy nạp 240 16 Song hành 75 5 Tổng hợp 270 18 Không xác định 180 12 Tổng cộng 1.500 100 Qua kết quả khảo sát ta thấy đoạn văn trong nhật báo Cần Thơ sử dụng mô hình diễn dịch là phổ biến ( 49% trong tổng số 1.500 đoạn văn). Như chúng ta đã biết, đoạn văn triển khai theo lối diễn dịch là đoạn văn có câu chủ đề được nêu đầu đoạn văn. Câu chủ đề gánh vác gánh nặng chữ nghĩa cho toàn đoạn. Các câu còn lại trong đoạn văn đều phục vụ cho câu chủ đề. 2.3.1. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch Sau đây chúng ta xem xét một ví dụ về đoạn văn được triển khai theo mô hình diễn dịch. VD56: Chị Đặng ThịNga, CTVDSkhu vực Phú Thạnh, phườngTân Phú,quận Cái Răng, có thâm niên gần 15 năm gắn bó với công tác dân số. Những năm đầu khi mới tham gia công tác, con còn nhỏ, chồng đi dạy học, công việc đồng áng nhiều nên chồng chị than phiền khi thấy vợ mình tham gia công tác dân số. ChịNga vừa khéo léo khuyên nhủ chồng, đồng thời thu xếp việc nhà, dành thờigian đi công tác. Lúc ấy trong ấp toàn cầu khỉ, đường sá đi lại rất khó khăn, chị phảichèo xuống đến từng nhà vận động. Có hôm, cầu nhỏ, chị té lên té xuống, mình mẩy đầysình bùn, vậy mà đến nhà gặp đối tượng để vận động thực hiện KHHGĐ thì bị mấy bà cụ đuổi thẳng. Mấy bà cụ còn nói: “con tôi, tôi cho đẻ sạch ruột, cháu tôi, tôi nuôi, can gì đến cô mà cô vận
  • 85. 80 động”. Chị Nga buồn lắm nhưng vẫn cố gượng cười chào họ ra về. Trên đường về, chị Nga tủi thân, ứa nước mắt. Nhưng buồn thì buồn, chị không bỏ cuộc. Chị tìm cách gặp riêng các chị để vận động. Chị còn dẫn chứng các trường hợp chị em trong xóm nhờ thực hiện BPTT mà chỉ sanh hai con, kinh tế khá giả, sức khỏe lại đảm bảo. Một lần, hai lần, các chị dần hiểu ra, nghe theo. Cứ thế số lượng chị em thực hiện BPTT ngày càng nhiều. Đến nay, các chị còn tự giác đến nhà chị Nga nhận baocao su, thuốc ngừa thai về sử dụng. CT, 11-7-2011 Ở đoạn văn trên, câu chủ đề “ChịĐặng ThịNga, CTVDS khu vực Phú Thạnh, phường Tân Phú, quận CáiRăng, có thâm niên gần 15 năm gắn bó với công tác dân số” nằm ở đầu đoạn văn. Các câu còn lại trong đoạn triển khai các ý phục vụ thông tin cho chủ đề chị Nga là một cộng tác viên dân số có thâm niên gắn bó với công tác dân số. Thông tin nêu ở câu chủ đề là thông tin hạt nhân, thông tin ở các câu còn lại là thông tin vệ tinh xoay quanh thông tin hạt nhân. Như đã biết, mô hình triển khai đoạn văn theo lối diễn dịch ở dẫn đề chiếm tỉ lệ cao; đại bộ phận đều đạt tỉ lệ trội. Nhưng trong đoạn văn cũng trội nhưng không quá cách biệt như ở dẫn đề. Xét một ví dụ khác: VD57: Từ đầu năm đến nay, số ca mắc sốt xuất huyết (SXH) tại huyện Cờ Đỏ tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Điều đáng lo ngại là số ca bệnh nặng cũng tăng hai lần, trong đó có 2 trường hợp tử vong. Huyện Cờ Đỏ đang tập trung nguồn lực, kinh phíđể phòng chống, dập dịch SXH, góp phần bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. CT, 26- 11- 2011
  • 86. 81 Ở đoạn văn trên, câu chủ đề nằm ở vị trí đầu đoạn. Các câu còn lại triển khai chủ đề theo hướng giải thích, liệt kê nhằm làm rõ chủ đề đã nêu trước đó. Về mặt tri nhận, kiểu đoạn văn kết cấu theo mô hình diễn dịch phản ánh cơ chế của tư duy, vì báo chí muốn cung cấp thông tin nhanh gọn, đáp ứng tính thời sự của sự kiện. Mô hình này phù hợp với độc giả, phục vụ cho tâm lý công nghiệp của độc giả trong xã hội hiện đại. Đối với người đọc, mô hình này phục vụ đắc lực cho việc tìm kiếm thông tin bằng một thời gian ngắn nhất mà tìm được thông tin tối đa. Chỉ cần đọc lướt thông tin hạt nhân là biết được thông tin nói gì, có thời gian thì đọc tiếp, không có thời gian thì chỉ cần đọc thông tin hạt nhân là đủ. Còn đối với người tạo lập văn bản thì đoạn văn triển khai theo mô hình diễn dịch rất thuận tiện, dễ dàng trong cách triển khai thông tin. Có thể coi đây là mô hình mà hạt nhân diễn dịch ở đầu, hạt nhân vệ tinh là những gạch đầu dòng, triển khai ngắn dài tùy theo chủ đích của người viết. Đối với người biên tập, do yêu cầu phải xử lý văn bản thật nhanh nên tùy theo không gian trang báo, có thể biên tập một cách máy móc là cắt từ dưới lên. Điều này có thể hiểu thông tin phân bố xung quanh thông tin hạt nhân càng xa chừng nào thì quan hệ ngữ nghĩa của nó càng mờ nhạt. Với 3 đặc điểm trên chúng ta có thể hiểu được vì sao mô hình kim tự tháp đảo mặc dầu đã được ra đời khá lâu nhưng đến nay báo chí hiện đại vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của nó. Công bằng mà nói, không phải tất cả tổ chức văn bản trên báo Cần Thơ đều đạt yêu cầu này, nhiều khi do trình độ, do cách triển khai mà nhiều đoạn văn không đáp ứng được yêu cầu vừa nhắc. VD58: Trước đâyvợ chồng chị Ngọc - anh Khen sống ở phường Tân An, Ninh Kiều. Năm 1987, cha mẹchồng già yếu, người em út của anh Khen công tác ở xa nên anh chị dọn về gần nhà cha mẹ ruột của anh Khen (nay thuộc phường Phú Thứ, quận Cái Răng), để tiện việc chăm sóc cho cha mẹ. Năm đó, con
  • 87. 82 trai đầu lòng của anh chị mới được 5 tuổi. Chị Ngọc nhớ lại: “Lúc bấy giờ kinh tế gia đình rất khó khăn, thu nhập chủ yếu là nhờ vào hoa lợi từ mấy công vườn tạp. Hàng ngày, tôi mang trái cây, rau cải ra chợ bán và phải mang con theo vì ông bà đã già yếu, ông xã tôi thì lo vườn tược, đi soi cá bống kiếm thêm thức ăn hàng ngày, hoàn cảnh túng thiếu vô cùng...”. Anh Khen tiếp lời vợ: “Thời gian đó, cha tôi bệnh nặng nằm một chỗ, việc chăm sóc cha đều do vợ tôi gánh vác. Ai cũng khen vợ tôi phụng dưỡng cha mẹ chồng rất chu đáo cho đến khi cha mẹ tôi qua đời”. Dù cuộc sống chật vật, anh chị luôn động viên nhau cố gắng vượt qua khó khăn, cùng lo cải tạo vườn tược và chăn nuôi heo. Trong quá trình cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn trái, chị tranh thủ trồng xen rau màu để “lấy ngắn nuôi dài”. Năm 1990 chị sinh thêm con gái, tuy việc chăm sóc, dạy dỗ 2 con nhỏ vất vả nhưng chị luôn đảm đang cùng chồng làm lụng, chăn nuôiđể pháttriển kinh tế gia đình. Năm 2006, khikinh tế gia đình dần ổn định, vườn cây ăn trái cho thu nhập khoảng 40 triệu đồng/năm, chịbắtđầu tham gia công tác phụ nữ ở khu vực, được hội viên tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng. Trong công tác, chị Ngọc luôn gần gũi, quan tâm giúp đỡ hội viên, nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ và nhận được nhiều giấy khen. CT,17-6-2011 Trong đoạn văn trên, chúng ta thấy những khó khăn vất vả của hai vợ chồng chị Ngọc và sự cố gắng của bản thân chị Ngọc trong công tác xã hội. Tuy nhiên, khi đọc hết đoạn văn, chúng ta không tìm thấy câu chủ đề của đoạn, nhiều thông tin được nhắc đến trong đoạn văn nhưng không tìm thấy một thông tin hạt nhân. Như chúng ta biết, mỗi đoạn văn thường chỉ nêu một chủ đề. Tuy nhiên trong vài trường hợp ngoại lệ, một chủ đề được thể hiện ở nhiều đoạn văn. Giữa các đoạn văn có mối liên hệ cơ bản về mặt ý nghĩa.
  • 88. 83 Có những đoạn văn khi đọc ta không xác định được chủ đề, các chi tiết trong đoạn văn hay nói đúng hơn trong toàn đoạn văn chứng minh, dẫn chứng cho chủ đề ở đoạn trước đó. Trong đoạn ta thấy ngồn ngộn chi tiết, dẫn chứng nhưng không xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào. Tuy nhiên thông qua các chi tiết, dẫn chứng, người đọc có thể tìm được chủ đề của đoạn. Trong quá trình tạo lập văn bản, giữa các đoạn văn ta thường bắt gặp thủ pháp liên kết hồi chỉ, tạo logich về mặt ý nghĩa, giúp văn bản hình thành một chỉnh thể chặt chẽ, thống nhất. Nói về liên kết ở đoạn văn, qua quá trình khảo sát, người viết nhận thấy có sự xuất hiện của các phép liên kết sau: liên kết về mặt hình thức (dùng phương tiện liên kết, từ liên kết, phép liên kết ); liên kết về mặt nội dung (liên kết về mặt ý nghĩa như nhắc lại đối tượng, chủ đề, nhấn mạnh, bổ sung thông tin,…). 2.3.2. Mô hình đoạn văn theo cấu trúc quy nạp Như chúng ta biết, mô hình đoạn văn triển khai theo kết cấu quy nạp là mô hình có tính chất tổng kết và nhìn chung đó là mô hình diễn dịch đảo. Tuy về mặt lý thuyết đó là nét gần gũi với diễn dịch nhưng về mặt triển khai lại không đơn giản, vì nó liên quan đến hai khái niệm là trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn. Điều này cũng ảnh hưởng đến người đọc, người tạo lập và cả biên tập. Đối với người đọc, để nắm được chủ đề của đoạn, người đọc phải đọc hết đoạn văn. Đối với người tạo lập văn bản, khi triển khai đoạn văn theo mô hình diễn dịch đòi hỏi người tạo lập văn bản phải có khả năng tổng kết, khái quát vấn đề. Còn đối với biên tập viên, muốn biên tập ngắn gọn thông tin đòi hỏi phải có khả năng bao quát vấn đề để giữ được những thông tin cốt lõi đồng thời làm nổi bật thêm chủ đề của cả đoạn. Và nói chung, để viết được mô hình này đòi hỏi người viết phải có kinh nghiệm nghề nghiệp lâu dài.
  • 89. 84 VD59: Từ thực tế trên, Ban ATGT TP Cần Thơ đã kết hợp với Cục đường thủy nội địa Việt Nam, Ban ATGT quận Thốt Nốt, Ô Môn và huyện Phong Điền tổ chức trao cặp phaocứu sinh và áo phaocho 350 học sinh thường đi học bằng đò dọc, đò ngang,ở các trường: Tiểu học lộ Vòng Cung, Tiểu học Nhơn Ái II (thuộc huyện Phong Điền) và các Trường tiểu học, THCS ở quận Ô Môn, Thốt Nốt. Mỗi cặp phao cứu sinh và áo phao trị giá từ 70.000 đồng đến 200.000 đồng,trích từ nguồn ngân sách Cụcđường thủy nội địa Việt Nam và Ban ATGT TP Cần Thơ. Đây là việc làm rất ý nghĩa nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe cho học sinh và tạo thói quen để học sinh ý thức mặc áo phao mỗi khi tham gia giao thông trên tuyến đường thủy nội địa. CT,17-6-2011 Bên cạnh hai mô hình phổ biến là diễn dịch và quy nạp thì trong quá trình khảo sát đoạn văn, luận văn còn bắt gặp một số kiểu kết cấu khác như mô hình đoạn văn theo kết cấu song hành, móc xích. Tuy nhiên, những mô hình vừa kể chỉ xuất hiện ở tần suất rất thấp trên nhật báo Cần Thơ. Ngoài ra, luận văn còn bắt gặp nhiều đoạn văn không có chủ đề. 2.4. Văn bản Trên đây luận văn đã khảo sát các bộ phận cấu thành một văn bản báo chí. Tiếp theo, luận văn mở rộng tầm khảo sát mang tính toàn diện, xét trên qui mô toàn văn bản báo chí. Xem xét văn bản dựa trên sự xuất hiện và phân bố của thông tin hạt nhân và các thông tin vệ tinh, trên cơ sở đó tìm ra đặc trưng của văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ. Thông tin hạt nhân là thông tin quan trọng nhất, là thông tin có chức năng bao quát toàn văn bản. Thông tin vệ tinh là thông tin có chức năng làm sáng tỏ cho thông tin hạt nhân.
  • 90. 85 Luận văn chọn 1.500 văn bản thuộc thể loại tin tức làm đối tượng khảo sát để tìm ra đặc trưng tổ chức văn bản của nhật báo Cần Thơ. Kết quả khảo sát cho thấy, văn bản thuộc thể loại tin tức thường cấu tạo theo hai mô hình: - Mô hình gồm hai thành phần: Ở mô hình văn bản có hai thành phần lại chia làm hai loại là: + Mô hình có phần mở đầu, phần triển khai và phần kết luận nhập làm một. + Mô hình có phần mở đầu và triển khai nhập làm một và phần kết luận - Mô hình có đầy đủ ba thành phần gồm phần mở đầu, phần triển khai và phần kết luận. 2.4.1. Mô hình 1 Khảo sát 500 văn bản thuộc thể loại tin tức, mô hình văn bản bao gồm 2 thành phần chiếm tỉ lệ 675/1.500 ( 45%). Trong đó, mô hình này lại chia làm 2 loại: - Mô hình văn bản có phần mở, phần triển khai và kết luận nhập làm một chiếm tỉ lệ 510/1.500 ( 34%) - Mô hình văn bản có phần mở, phần triên khai nhập làm một và phần kết luận chiếm tỉ lệ 165/ 1.500 (11%) Nhìn chung, mô hình văn bản gồm hai thành phần có độ dài tương đốingắn, thường triển khai một chủ đề nêu ở tiêu đề. VD60: Theo Ban Chỉhuy Phòng chống Lụt bão - Tìm kiếm Cứu nạn (PCLB-TKCN) TP Cần Thơ, hiện nay, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa xuất hiện nhiều và kéo dài trong tháng 9-2012 nên đợt triều cường đầu tháng 10 này có khả năng lên cao, với mức xấp xỉ hoặc cao hơn báo động III (1,90m). Mực nước dâng cao sẽ gây ngập lụt ở diện rộng, có thể gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và cơ sở vật chất ở các địa phương.
  • 91. 86 Đợt triều cường giữa tháng 9-2012 đã làm 1.050ha lúa thu đông bị đổ ngã, ngập trong nước ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch và năng suất. Để hạn chế thiệt hạitrong đợt triều cường đầu tháng 10 này, Ban Chỉ huy PCLB-TKCN TP Cần Thơ đề nghịUBND các quận, huyện, Ban Chỉ huy PCLB-TKCN các cấp khẩn trương thực hiện kiểm tra, gia cố, tôn cao các tuyến bờ bao ngăn lũ để bảo vệ lúa thu đông, các cồn trên sông Hậu; củng cố các tổ xung kích để tuần tra, canh gác, kịp thời pháthiện và ứng cứu khi bờ baobị vỡ. Đồng thời, Ban Chỉ huy PCLB-TKCN các cấp phải túc trực 24/24 giờ trong đợt triều cường lên cao để nắm bắt diễn biến của mưa lũ, kịp thời đề xuất biện pháp ứng phó với thiên tai; thông báo tình hình mực nước và vận động nông dân chuẩn bị sẵn máy bơm động cơ để kịp thời bơm nước ra khỏi ruộng lúa, vườn cây ăn trái, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do triều cường gây ra... CT,29-9-2012 VD61: Sở Y tế vừa có Công văn số 1636/SYT-NVY triển khai thực hiện mức thu đối với một số dịch vụ khám, chữa bệnh năm 2012 theo quy định của UBND TP Cần Thơ ban hành và bắt đầu thực hiện từ ngày1-8-2012. Theođó, Giám đốc các cơ sở khám, chữa bệnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện các chế độ miễn giảm viện phí cho người bệnh đúng theo quy định; chấn chỉnh tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ, nhân viên y tế, nâng cao chất lượng điều trị, chăm sóc người bệnh... Sở Y tế cũng đề nghị Bảo hiểm xã hội thành phốphối hợp và hỗ trợ các cơ sở khám, chữa bệnh trong việc thực hiện mức thu viện phí theo quy định mới ban hành. Theo chỉ đạocủa UBND thành phố, Giám đốc Sở Y tế chịu trách nhiệm trước UBND thành phố nếu để xảy ra tiêu cực hoặc phản ánh về thái độ phục vụ của nhân viên ngành y tế thuộc địa bàn quản lý. CT, 13-7-2012
  • 92. 87 2.4.2. Mô hình 2 Tương tự, kết quả khảo sát 1.500 văn bản tin tức thì mô hình văn bản bao gồm 3 thành phần là phần mở đầu, phần triển khai và phần kết luận chiếm tỉ lệ 825/1.500% ( 55%). Những văn bản được cấu tạo theo mô hình này thường có độ dài lớn, nêu lên những sự kiện lớn, có giá trị tác động mạnh mẽ trong cộng đồng xã hội. Trong quá trình khảo sát, luận văn nhận thấy dù ở mô hình nào thì thông tin hạt nhân cũng tập trung ở tiêu đề ( bao gồm thượng đề, đề và hạ đề), những thông tin vệ tinh lần lượt được triển khai theo trình tự không gian, thời gian, diễn biến của sự kiện trong bản tin. VD62: Ngày 26-9-2012, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống đã có buổi làm việc với Sở Công thương TP Cần Thơ và Ban quản lý các khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ về tình hình hoạt động 9 tháng đầu năm và việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2012. Theo Sở Công thương, 9 tháng đầu năm 2012tình hình kinh tế thành phố vẫn còn nhiều khó khăn. Doanh nghiệp còn khó tiếp cận các nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi, tình hình sản xuất không ổn định, hàng hóa xuấtkhẩu gặp khó về thị trường tiêu thụ và giá giảm thấp nên kết quả các chỉ tiêu 9 tháng so với kế hoạch 2012 đạtthấp, song so với cùng kỳ năm trước có tăng. Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện là 17.239 tỉ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng hóa và doanh thu dịch vụ ngoại tệ ước thực hiện 937 triệu USD, đạt 62,46% so với kế hoạch năm, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình lưu chuyển hàng hóa trên thị trường tương đối ổn định, công tác dự trữ hàng hóa và tổ chức các điểm bán lẻ bình ổn giá được tổ chức tốt, không có tình trạng khan hiếm hàng, tăng giá đột biến. Báo cáo của Ban quản lý các khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ cũng cho thấy, tình hình sản xuất công nghiệp trong 9 tháng đầu năm gặp nhiều khó
  • 93. 88 khăn, có 9 doanh nghiệp trong các khu chế xuất và công nghiệp đã phải ngưng hoạt động, 2 doanh nghiệp bị vỡ nợ và có nhiều doanh nghiệp đang hoạt động không có lợi nhuận… Dù các khu chế xuất và công nghiệp thu hút được 14 dự án, nhưng tổng vốn đăng ký của các dự án nàychỉ bằng phânnửa vốn của các dự án đăng ký trong cùng kỳ năm trước. Phátbiểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống đã nhấn mạnh, trong 3 tháng còn lại của năm 2012 ngành công thương thành phốcần phải nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra trong năm. Trước tình hình khó khăn của sản xuất công nghiệp và doanh nghiệp nói chung, Ban quảnlý các khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ và Sở Công thương thành phốphảitiếp tục quan tâm và có các hành động cụ thể giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ và thu hút nhà đầu tư đến làm ăn tại thành phố. Đặc biệt, Sở Công thương thành phốcần phảităng cường công tác kiểm tra, quản lý thị trường và bình ổn giá trong những tháng cuối năm… CT,26-9-2012 VD63: Ngày29-9-2012, SởTưpháp TP Cần Thơ tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ về công chứng và các nghiệp vụ về khoa học kỹ thuật hình sự có liên quan đến lĩnh vực công chứng cho các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn thành phố. Trong thời gian tập huấn các công chứng viên, cán bộ và nhân viên hành nghềcông chứng được học tập theo 5 chuyên đề với các nội dung như:Những kinh nghiệm thực tiễn về hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh... hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng góp vốn; giao dịch thừa kế; hợp đồng ủy quyền đối với các dự án tái định cư, khu dân cư; các nghiệp vụ về lĩnh vực khoa học kỹ thuật hình sự có liên quan đến nghiệp vụ công chứng…
  • 94. 89 Đợt tập huấn nàynhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực công chứng, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của những người đang làm việc tại các tổ chức hành nghề công chứng. Theo kế hoạch, lớp tập huấn sẽ kết thúc vào ngày 7-10-2012. CT, 29-9-2012 Hầu hết văn bản ở mô hình thứ hai đều có độ dài lớn hơn so với mô hình thứ nhất. Có thể thấy, tin tức là xương sống của tờ báo, là thể loại hạt nhân trong các thể loại báo chí. Do vậy, việc tìm hiểu tổ chức văn bản ở thể loại tin tức phần nào thấy được đặc trưng chung trong việc cấu thành các văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ. Do quy định về độ dài ngắn cũng như quy mô thông tin, đặc điểm thể loại nên bên cạnh những đặc điểm chung, các thể loại văn bản báo chí khác như phóng sự, ghi nhanh, phỏng vấn có một số điểm khác so với thể loại tin tức. Trước hết về độ dài, văn bản tin tức thường có độ dài ngắn. Cấu tạo tiêu đề thường đơn giản, bao gồm thượng đề, đề và hạ đề, nhưng không phải văn bản nào cũng xuất hiện đồng thời các bộ phận trên. Đối với thể loại phỏng vấn, phóng sự, bên cạnh tiêu đề còncó các tiêu đề bộ phận, đóng vai trò là những thông tin hạt nhân phụ bên cạnh thông tin hạt nhân chính được nêu ra ở tiêu đề chính và dẫn đề. VD64: Tiêu đề Thông tin tiền hạt nhân Đừng để nhà cổ đồng bằng bị maimột! Những ngôiđình, chùa, miếu, mạo, nhà ở… cổ xưa ở ĐBSCL mangnhữngdấu ấn văn hóa, lịch sử, kinh tế – xã hội Dẫn đề Thông tin hạt nhân trong suốt quá trình hơn 300 năm hình thành và pháttriển vùng đất này, lưu dấu bản sắc rất riêng của cư dân vùng sông nước miền Tây. Tuynhiên, dưới tác
  • 95. 90 động của thời gian và con người, những ngôi nhà cổ nàyđang bị xuống cấp nghiêm trọng, có nguycơ bị mai một. Dấu ấn lịch sử trăm năm của đồng bằng ( tiêu đề bộ phận) Căn cứ LuậtDi sản văn hóa năm 2001, Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtDi sản văn hóa và Nghịđịnh số 98/2010/NĐ-CPngày21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ, nhữngngôinhà có niên đạitừ 80 đến 100 năm tuổi được Thông tin vệ tinh 1 đưa vào danh sách lập hồ sơ bảo tồn, bảo tàng;những ngôinhà có niên đạitừ 100 năm trở lên, được xếp hạng là nhà Phần cổ và có kế hoạch bảo vệ. Những nhà cổ có gắn với yếu tố, tiêu chí đặcthù khác phát như: lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ triển thuậtthì sẽ được xếp hạng ditích theo dẫn đề đúng luậtDi sản văn hóa. … Thông tin vệ tinh 2 Thôi rồi, nhà cổ... ( tiêu đề bộ phận) Những ngôinhà cổ ĐBSCL bềthế và mang đậm giá trị kiến trúc, lịch sử là vậy nên trùng tu, tôn tạo di tích là điều phảilàm. Tuy nhiên, công việc này hiện nay còn nhiều điều bất cập. Hậu quả là tháng năm cứ đi qua, những ngôinhà cổ dần bị mai một, biến dạng, thậm chí nhiều ngôi nhà đã biến mất .… CT, 29-5-2011
  • 96. 91 Qua ví dụ trên, xét về mặt cấu trúc thông tin ta có thể chia văn bản làm 2 phần cơ bản là phần nêu thông tin hạt nhân và phần nêu các thông tin vệ tinh, thực hiện chức năng phát triển thông tin hạt nhân trong văn bản. Ở đây thông tin hạt nhân chính là tiêu đề và đề dẫn của văn bản. Các thông tin vệ tinh chính là những nội dung nằm ở tiêu đề bộ phận của văn bản. Ở phần cơ sở lý luận của luận văn ta đã từng nhắc đến tính thông tin và tính thời sự của một văn bản báo chí. Và hai đặc trưng này của văn bản báo chí có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc hình thành nên cấu trúc thông tin hoàn chỉnh của một thông tin báo chí. Qua khảo sát ngữ liệu ta thấy một thông tin báo chí cơ bản thường bao gồm đầy đủ các phần: tiêu đề, đề dẫn, tiêu đề bộ phận, phần thân văn bản và tiểu kết. Tuy nhiên, tùy theo thể loại báo chí mà có hay không sự xuất hiện đầy đủ các thành phần. Đồng thời, điều quan trọng mà người viết nhận diện được trong một cấu trúc thông tin ở các thể loại báo chí trên nhật báo Cần Thơ là bộ phận tiêu đề kết hợp với dẫn đề thường nêu chủ đề của toàn văn bản, đóng vai trò là thông tin hạt nhân của văn bản. Dù văn bản được trình bày theo kết cấu nào thì các nội dung trong phần còn lại của văn bản luôn đóng vai trò là phần phát triển thông tin hạt nhân, giữ chức năng của những thông tin vệ tinh xoay quanh thông tin hạt nhân đã nêu trước đó. Điều này đáp ứng đúng yêu cầu của đặc trưng văn bản báo chí, phù hợp với thị hiếu của đông đảo độc giả hiện đại là nhanh, gọn, lẹ, vừa đáp ứng yêu cầu của phóng viên và biên tập viên tòa soạn: cái gì quan trọng nói trước, thông tin phụ, có ý nghĩa giải thích, bổ sung thông tin thì nói sau. Ở những văn bản không có phần dẫn đề, phần mở đầu của văn bản báo đóng vai trò là thông tin hạt nhân. Nội dung ở phần mở đầu có thể là việc trình bày lại một sự kiện hay một lời phát biểu của lãnh đạo. Phần thân còn lại của văn bản là việc triển khai, chứng minh, giải thích cho vấn đề đã nêu ra trước đó.
  • 97. 92 Trong quá trình khảo sát văn bản, người viết bắt gặp những trường hợp văn bản có cấu trúc thông tin khác thường. Có nghĩa là những thông tin giữ vai trò thông tin vệ tinh được nêu đầu tiên. Phần tiểu kết của văn bản chính là thông tin hạt nhân của văn bản. Những bài viết có cấu trúc này thì thông tin hạt nhân ở cuối văn bản thường là những bài học được rút ra từ sự kiện đã nêu. Ở đó gián tiếp xuất hiện cái tôi của tác giả với những lời khuyên, lời khuyến cáo, răn đe, nêu đạo lý đời thường về sự việc đáng tiếc đã xảy ra. Phần thân văn bản báo thường bao gồm nhiều đoạn văn cấu thành, trong đó được đánh dấu bằng những tiêu đề bộ phận. Tuy nhiên có những trường hợp ngoại lệ, việc phân chia các đoạn thuộc những chủ đề thông tin khác nhau không được đánh dấu bằng tiêu đề bộ phận mà được đánh dấu về mặt hình thức, có thể là dấu hoa thị ở giữa các đoạn thuộc các chủ đề khác nhau. Thể loại phóng sự thường có cấu trúc thông tin hoàn chỉnh, xét cả về mặt hình thức lẫn nội dung. Trên nhật báo Cần Thơ, thể loại phóng sự thường bao gồm một loạt bài nhiều kỳ nhằm thể hiện cùng một chủ đề, được trình bày đều đặn ở các số báo ra liên tiếp của tờ nhật báo. Tính chất liên văn bản này không chỉ thể hiện ở thể loại phóng sự mà còn được thể hiện ở một số thể loại khác như điều tra, bút ký, bình luận, v.v… Phần kết của văn bản cũng nằm trong chỉnh thể văn bản giúp văn bản trở thành một chỉnh thể thống nhất, chặt chẽ. Mạch lạc văn bản được trình bày theo nhiều kiểu khác nhau, có thể kể: mạch lạc theo trình tự thời gian, trình tự không gian, cũng có khi kết hợp cả hai, mạch lạc theo đặc điểm của nhân vật hoặc theo một trong các yếu tố của cấu trúc thông tin 5W + 1H. Như chúng ta đã nói, thể loại văn bản chi phối đến cấu trúc văn bản. Qua khảo sát ta thấy, thể loại sự kiện và lời bình có cấu trúc văn bản theo kết
  • 98. 93 cấu quy nạp: từ chi tiết, sự kiện đơn lẻ đi đến nhận xét, tổng kết mang tầm khái quát, mang tính vĩ mô, đa chiều, toàn diện. Còn kết cấu của thể loại sự kiện và lời bình thường không thấy sự xuất hiện của bộ phận dẫn đề. Đoạn mở đầu văn bản đảm đương chức năng của đoạn dẫn đề, nêu sự kiện thời sự vừa mới diễn ra, mang tính có vấn đề. Chủ đề của thể loại này không thể đọc lên được trên ý nghĩa hiển ngôn mà phải được rút ra từ sự tổng hợp các dẫn chứng và lý lẽ. 2.5. Màu sắc địa phương Nam Bộ Bên trên luận văn đã trình bày lần lượt về mặt hình thức các cấp độ ngôn ngữ cấu thành một văn bản báo chí, từ đó tìm ra các yếu tố chi phối ngôn ngữ văn bản báo chí cũng như tìm ra một số đặc trưng về mặt hình thức cũng như nội dung của ngôn ngữ báo chí trên nhật báo Cần Thơ. Tiếp theo ở phần cuối này, người viết muốn đi sâu khai thác hệ thống từ vựng có nét riêng bao gồm nhiều tiểu hệ thống như địa danh, từ ngữ chỉ sản vật, đặc sản địa phương, các biến thể ngữ âm so với hệ thống ngữ âm toàn dân… Xét theo tính hệ thống, có thể phân chia các cấp bậc ngôn ngữ như sau: từ ngữ địa phương gồm từ biến thể ngữ âm và từ không biến thể ngữ âm; từ không biến thể ngữ âm gồm từ biến thể ngữ nghĩa ( gồm đồng nghĩa và khác nghĩa) và từ không biến thể ngữ nghĩa ( gồm biến thể hình thức- cú pháp và không biến thể hình thức). Đặc biệt, tiểu mục không biến thể hình thức bao gồm từ phổ thông; đặc phương ngữ; thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ; từ ngữ chỉ sản vật địa phương; nhân xưng; danh xưng ( gồm địa danh và nhân danh). Nhìn chung, ngôn ngữ báo chí có khuynh hướng sử dụng vốn ngôn ngữ toàn dân, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đông đảo bạn đọc chứ không giới hạn đối tượng vùng miền nào, dù báo Cần Thơ là một tờ báo Đảng của địa phương. Song, trong quá trình tạo lập văn bản, đội ngũ phóng viên, qua lời ăn tiếng nói của mình đề cập đến những vấn đề cụ thể của địa phương dù
  • 99. 94 vô tình hay cố ý đều ít nhiều có sử dụng hệ thống phương ngữ. Cần lưu ý rằng, đối với văn bản tin tức, dù là tin tức địa phương, màu sắc riêng được thể hiện rất mờ nhạt. Như vậy, đặc trưng phương ngữ chỉ được thể hiện ở một số thể loại còn lại. Nói cụ thể, bên cạnh sự xuất hiện của phương ngữ trong trích dẫn trực tiếp lời nói của người dân địa phương ta còn thấy màu sắc Nam Bộ được thể hiện ở từng địa danh, ở những sản vật địa phương, ở tính cách con người miền Nam xuất hiện ngồn ngộn trong từng số báo ra hàng ngày. Như vậy, trong nhận thức của chúng tôi, màu sắc được hiểu là những nét đặc thù và màu sắc địa phương Nam Bộ là những đặc điểm riêng được thể hiện trong ngôn từ rõ nhất là từ vựng và một số kiểu biểu đạt khác. Và như đã phân giải, do tính chất thuần nhất của phương ngữ Nam Bộ, nên những đặc điểm kể ra sau đây cũng là nét riêng của cả lời ăn tiếng nói Nam Bộ chứ không chỉ riêng ở Cần Thơ. Và cũng như đã nói, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất, những quan sát bên dưới của luận văn chủ yếu căn cứ vào độ đậm nhạt, phổ biến, không phổ biến, chứ không được hình thành từ thế đối lập có không. Ví dụ từ mần, thoạt nhìn từ mần dễ tưởng là đặc sản của Nam Bộ, nhưng qua tra cứu, hiện nay từ này vẫn còn được sử dụng ở một số phương ngữ miền Trung, tuy rất hạn chế. Trong khi đó, ở phương ngữ đang xét, mần được sử dụng khá rộng rãi. Và như vậy mần được coi là đặc trưng của Nam Bộ. 2.5.1. Từbiến thể ngữ âm So với tiếng Việt toàn dân, do nhiều lý do trong và ngoài ngôn ngữ, hệ thống ngữ âm phương ngữ Nam Bộ nói chung, Cần Thơ nói riêng có một số cách phát âm là chệch đi, ví dụ, bịnh- bệnh, chưn- chân, chánh- chính, mơi- mai, thúi- thối, gởi- gửi… Tuy số lượng loại từ này không nhiều nhưng chính chúng là phương tiện tạo ra nét riêng không chỉ trong lời dẫn mà cả trong ngôn ngữ miêu tả.
  • 100. 95 VD65: Về từ thúi- thối Ông Nguyễn Văn Hai, ngườidân ở ấp Thạnh Lợi A, cho biết: "Nhà tui có 6 người, ai cũng bị viêm mũi dị ứng vì mùi hôi của rác, nhưng khổ hơn là cây nước nhà tôi đã bị nhiễm bẩn, nước nấu chín uống vẫn có mùi thúi của phân rác"… Tình trạng bãi rác Tân Long gây ô nhiễm nguồn nước không thể khắc phụcđược, do đây là bãi rác lộ thiên rộng đến 20 ha. Mỗi khi trời mưa, nước mưa thấm qua rác, bãi rác còn có 3/7 ô chứa rác chưa trải địa (trải nhựa để chống thấm), nên lượng nước mưa thấm qua rác không chỉ chảy ra con sông phía sau mà nguy hiểm hơn là ngấm vào tầng nước ngầm, làm cho nguồn nước trong các cây nước của nhà dân có mùi hôi thúi. CT, 16-09-2012 2.5.2. Từngữ địa phương Xét một cách nghiêm ngặt, hệ thống từ ngữ địa phương là một tập hợp bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau trong đó có cả từ ngữ biến thể ngữ âm (liên quan đến mặt hình thức của từ) cả những từ chỉ sản vật, đặc sản chỉ có ở Nam Bộ (liên quan đến những sở chỉ khác nhau) và cả những cách xưng hô mang tính đậm nhạt phổ biến. Nhưng ở đây, để tiện làm rõ màu sắc địa phương thông qua nhật báo Cần Thơ, luận văn tách riêng từng nhóm mặc dầu chúng tôi biết là sự phân loại này chỉ có ý nghĩa tương đối. Và nếu như một khảo sát nghiêm ngặt hơn, dứt khoát phải dựa vào ba đỉnh của tam giác ngữ nghĩa từ. Với cách hình dung đó, tại tiểu mục này, luận văn chỉ tập trung khảo sát loại cùng một sự vật, một hiện tượng, mà được gọi bằng những tên khác nhau ở những vùng khác nhau: cá lóc- cá tràu/ cá quả/ cá chuối; bắp- ngô, bông- hoa, heo- lợn, khoai- sắn,… So với các vùng khác, thì cách gọi tên này ít nhiều mang dấu ấn của một vùng đất. Hãy quan sát các ví dụ sau: VD66:
  • 101. 96 Mỗi năm, đầu mùa lũ, ông Nguyễn Văn Tuấn, ở thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh đều thả nuôi cá lóc trong ao gần nhà và mua lưới bén giăng cá mồi ngoài tự nhiên làm thức ăn cho cá, vừa tiết kiệm tiền thức ăn cho cá, ông lại có thu nhập tăng thêm nhờ bán lượng cá mồi đánh bắt được... Và sau mùa lũ, gia đình ông có một khoản thu nhập lớn khi thu hoạch cá lóc nuôi. Ông Nguyễn Văn Tuấnbộc bạch:“Năm nay, gia đình tôi thả nuôi 2.500 con cá lóc. Mấy ngày nay, gia đình tôi giăng trên 10 tay lưới (mỗi tay dài 80m) nhưng mỗi ngày chỉ được vài ký cá, chưa đủ làm mồi cho đàn cá lóc đang nuôinói chi đem bán kiếm thêm thu nhập nhưmùa lũ trước. Tôi hy vọng tới đây nước lũ sẽ về nhiều hơn, đánh bắt nhiều cá để không phải tốn thêm tiền mua thức ăn cho cá lóc nuôi...”. CT, 13-09-2012 VD67: Ở xứ Cái Sơn, ông Hai Thảo được nhiều người biết đến bởi có nhiều kinh nghiệm trong canh tác màu. Dẫn chúng tôi tham quan hơn 1 mẫu đất trồng bắp nếp đang cho trái, hứa hẹn vụ mùa bội thu, ông Hai Thảo khoe: “Năm rồi tôi trúng đậm cây ớt sừng vàng Châu Phi và dưa hấu, trừ chi phí, bỏ túi trên 100 triệu đồng. Năm nay, thấy bà con ở đây trồng 2 loại cây này nhiều quá sợ bị dội hàng, tôi chuyển sang trồng cây bắp nếp, mè. Còn hơn nửa tháng nữa mới thu hoạch nhưng thương lái đã bỏ cọc, nếu suôn sẻ vụ mùa này kiếm lời cũng kha khá”. Canh tác hơn 1 ha đất trồng lúa, 5 công vườn nhưng nhiều năm nay, ông Hai Thảovẫn trung thành với cây màu nhướt, dưa hấu, bí hồ lô, cà phổi,... Bởi theo ông Hai Thảo, trồng màu thời gian thu hoạch ngắn nhưng hiệu quả kinh tế cao. CT, 09-04-2012 Tuy nhiên cũng cần thấy rằng hiện nay tiếng Việt có một sự tiếp xúc rất rộng rãi giữa các phương ngữ, điều này thể hiện sự di dân, sự xáo trộn về mặt
  • 102. 97 dân số. Và điều này được thể hiện trong ngôn ngữ. Theo quan sát của chúng tôi, trên báo Cần Thơ cũng có. VD68: Trước đâyvợ chồng chị Ngọc - anh Khen sống ở phường Tân An, Ninh Kiều. Năm 1987, cha mẹ chồng già yếu, người em út của anh Khen công tác ở xa nên anh chị dọn về gần nhà cha mẹ ruột của anh Khen (nay thuộc phường Phú Thứ, quận CáiRăng), đểtiện việc chăm sóc cho bố mẹ. Năm đó, con trai đầu lòng của anh chị mới được 5 tuổi. ChịNgọc nhớ lại: “Lúcbấy giờ kinh tế gia đình rất khó khăn, thu nhập chủ yếu là nhờ vào hoa lợi từ mấy công vườn tạp. Hàng ngày, tôi mang trái cây, rau cải ra chợ bán và phải mang con theo vì ông bà đã già yếu, ông xã tôi thì lo vườn tược, đi soi cá bống kiếm thêm thức ăn hàng ngày, hoàn cảnh túng thiếu vô cùng...”. Anh Khen tiếp lời vợ: “Thờigian đó, cha tôi bệnh nặng nằm một chỗ, việc chăm sóc cha đều do vợ tôi gánh vác. Ai cũng khen vợ tôi phụng dưỡng cha mẹchồng rất chu đáo cho đến khi cha mẹ tôi qua đời”. Dù cuộc sống chật vật, anh chị luôn động viên nhau cố gắng vượt qua khó khăn, cùng lo cải tạo vườn tược và chăn nuôi heo. Trong quá trình cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn trái, chị tranh thủ trồng xen rau màu để “lấy ngắn nuôi dài”. Năm 1990 chị sinh thêm con gái, tuy việc chăm sóc, dạy dỗ 2 con nhỏvất vả nhưng chị luôn đảm đang cùng chồng làm lụng, chăn nuôiđể pháttriển kinh tế gia đình. Năm 2006, khi kinh tế gia đình dần ổn định, vườn cây ăn trái cho thu nhập khoảng 40 triệu đồng/năm, chị bắt đầu tham gia công tác phụ nữ ở khu vực, được hội viên tín nhiệm bầu làm Chihội trưởng. Trong công tác, chị Ngọc luôn gần gũi, quan tâm giúp đỡ hội viên, nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ và nhận được nhiều giấy khen. CT,27-6-2011
  • 103. 98 2.5.3. Từngữ xưng hô Bên cạnh hệ thống đại từ, kiểu như ổng, chỉ, bả, dưỡng, dĩ, có thể nói xu hướng xưng hô ngoại hóa là nét riêng của Nam Bộ. Nói cụ thể, người ta gọi dì, cậu phổ biến hơn cô, chú. Và có thể kể thêm cách xưng hô bằng thứ như anh Hai, chị Sáu, cậu Tám cũng có thể coi là nét riêng. Theo quan sát của chúng tôi, các từ ngữ vừa nêu xuất hiện nhiều ở lời dẫn trực tiếp. VD69: Ở thời buổi đất đaingàycàng đắt đỏ, vậy mà ông Lý Văn Tăng (TưTăng), 70 tuổi, ở khu vực Thuận An 4, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ, bán 5 công đấttrị giá gần 350 triệu đồng để bắc cầu cho bà con đi lại thuận tiện. Tiền bán đất không đủ, ông lấy hết số tiền gởi tiết kiệm dưỡng già, rồi vay mượn thêm của người thân, không để chuyện tiền nong ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Không chỉ là người đi đầu trong công tác từ thiện - xã hội, lão nông Tư Tăng còn làm nhiều người cảm phục bởi nếp sống chuẩn mực, chan hòa, luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác. CT, 20-12-2010 VD70: Chúng tôi gặp Lê Huỳnh NhấtSinh khi em đang ở Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ. Sinh ra tại ấp Mỹ Thới 2, xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, từ nhỏ Sinh đã thiếu sự chăm sóc của mẹ. Khi Sinh được 9 tuổi, mẹ của Sinh qua đời vì bệnh nặng. Sau đó 2 năm, ba Sinh bước thêm bước nữa. Từ một gia đình khá giả, gia đình của Sinh lâm vào cảnh nợ nần, 3 anh chị của Sinh không được học hành đến nơi đến chốn. Không khí gia đình càng không vui vẻ khi chị Hai, chị Tư của Sinh rời quê lên TP Hồ Chí Minh để làm thuê, làm mướn. CT,16-11-2010
  • 104. 99 Có thể nói được là dựa vào khảo sát 100 lời dẫn trực tiếp, chúng tôi ghi nhận có đến hơn 70% phát ngôn có chứa màu sắc địa phương. Màu sắc địa phương này đa dạng và phong phú. Có khi đó chỉ là những từ nhấn nhá đệm lót, nghen, hông, hén. VD71: Vươn lên từ nghèo khó, vợ chồng ông Đào Phấn không chỉ được bà con lối xóm quýmến ở tính cần cù lao động mà còn là tấm gương vượt khó làm giàu. “Ở xứ này, mấy chục năm trước, khó tay nào cắt lúa mướn qua Đào Phấn à nghen!” - ông Thạch Đông, thường nói thế mỗi khi nhắcđến ông bạn già của mình. CT, 20-01-2012 Hoặc là cách nói có sức gợi tả rất lớn, chảng bànhki, rẻ nhưbèo,… VD72: Những ngườiphu xẻ đá ở Hòn Sóc nói, vì không có ruộng đấtnên họ phảiđeo theo nghề đá, tiền công hiện nay rẻ như bèo. “Nhiều người thấy thợ xẻ đá cuối ngày làm việc lãnh tiền công 100.000 đồng- 200.000 đồng/ngày/người thì cho rằng nghề đá mau giàu. CT,22-4-2011 Có khi đó là những từ ngữ đưa đẩy, mình ên, ta nói,… VD73: Biết vợ, con cần mình anh Tùng không cho phép mình dừng lại. Anh tiếp tục hành trình tìm hạnh phúc. Con rạch Bằng Lăng những năm 90 tôm cá cạn dần, ốc hến cũng ít, do bị ô nhiễm. Anh “lên bờ” học nghề đan bội, thúng, nia và nghề mộc. Chị Đức nói gọn lỏn nhưng không dấu vẻ tự hào: “Không có đôi chân nhưng đôi tay ảnh nhanh lắm, nhìn là học được ngay. Nghềđan với mộc nàyđâu có ai dạy, ảnh học lóm mình ên đó chớ. Đâu phải ai lành lặn cũng làm được như ảnh”. CT, 30-7-2012
  • 105. 100 Còn những lời tường thuật, những lời miêu tả ( ngôn ngữ phóng sự, ghi nhanh của người tạo lập văn bản) thì tần suất xuất hiện của chúng rất thấp. Quan sát phóng sự dài 1200 âm tiết, chúng tôi ghi nhận chỉ 3, 4 từ màu sắc địa phương. Tuy nhiên, sức gợi tả, sức biểu cảm của chúng là hết sức lớn. VD74: Những người thợ xẻ đá ở Hòn Sóc luôn miệng than, đổ mồ hôi, đổ máu làm việc cực khổ, công xá rẻ mạt nên chẳng tích lũy được. Nhưng ông Nguyễn Quốc Đoàn nói, một ngàythợ đá thu nhập 100.000 đồng- 200.000 đồng mà không tích cóp, dành dụm được tiền là vô lý. “Lâu nay ở các bãi đá vẫn tồn tại dai dẳng nhiều tệ nạn, tình hình trật tự trị an rất phức tạp. Chồng suốt ngàyquần quậtngoàibãiđá kiếm tiền, chiều về nhậu nhẹt say sưa, trong khi vợ ở nhà tụ tập đánh bàiăn tiền... Hầu như tháng nào công an xã cũng xử lý vài vụ cờ bạc, đánh ghen, nhậu say gây rối. Cứ như vậy thì làm sao mà khá lên cho được”, ông Đoàn nói. Theo Sở Xây dựng tỉnh Kiên Giang, hiện nay quanh núi Hòn Sóc có đến 10 doanh nghiệp được cấp phép khai thác đá, trữ lượng cho phép khai thác lên đến hơn 25.000.000m3.Đó là chưa kể hơn chục bãi đá khai thác tự phát của cư dân địa phương. Bà Võ Ngọc Thứ, Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội Kiên Giang, cho biết dù khai thác đá là một nghềhết sức nguyhiểm nhưng tình trạng bảo hộ lao động ở các mỏ đá rất kém. “Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có hơn 3.000 lao động làm việc ở các mỏ đá, nhưng 10 người làm nghề khai thác đá thì hết 9 người không thèm trang bị bảo hộ lao động, dù các cơ quan hữu trách thường đến kiểm tra, nhắc nhở”, bà Thứ nói. Những người thợ đá ở Hòn Sóc, dụng cụ hành nghềchỉ là vài chiếc đụclớn nhỏ bằng thép và chiếc búa, nón vải, chân trần, lâu lâu mới thấy một người mang được đôi găng taybảo hộ lao động. Mỗi nhát đục chạm vào phiến đá, vụn đá bắn ra xung quanh ràorào, nhưng chẳng thấyphu đá nào mang kính bảo vệ mắt.
  • 106. 101 “Ở đây, chuyện đập búa vào tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như cơm bữa, riết rồi thợ nào cũng quen”, ông Châu Kha nói. Theo ông Nguyễn Quốc Đoàn, từ trước đến nay khi xảy ra tai nạn nghiêm trọng, phu đá bị thương tật nặng hoặcmạng vong, nếu các chủ mỏ đá, bãi đá có thông báo thì UBND xã mới biết. “Nếu chủ mỏ ém nhẹm tai nạn để tự thỏa thuận bồi thường với nạn nhân thìUBND xã và các cơ quan hữu trách cũng mù tịt. Những tai nạn nhỏ như đá bắn vào mắt, đập búa giập tay, chân, đá lăn đè gâythương tích xảy ra hà rằm... nhưng UBND xã vô phương thống kê vì không ai báo cáo”, ông Đoàn nói. Ông Nguyễn Thiện Tấn, Thanhtra sở LĐ-TB&XH Kiên Giang, cho biết khi kiểm tra an toàn lao động thì thợ đá nói trang bị bảo hộ lao động cồng kềnh, vướng víu và nóng bức, làm việc giảm năng suất nên họ không sử dụng; còn chủ mỏ đá thì trả lời lửng lơ: có trang bị bảo hộ nhưng phu đá không chịu sử dụng, rốt cuộc các cơ quan hữu trách chẳng phạt vạ được ai. 2.5.4. Địa danh Nhìn chung, địa danh trong tiếng Việt có hai xu hướng, một là thuần Việt, thường là những từ đơn, từ xưa, từ cổ xuất hiện rất nhiều ở phía Bắc. Xu hướng thứ hai là thể hiện bằng các từ Hán Việt, thể hiện khát vọng hòa bình no ấm, hạnh phúc của nhân dân. Bên cạnh đó, địa danh trong tiếng Việt còn ghi dấu ấn Nam tiến của dân tộc. Khá nhiều địa danh của vùng biển phía Bắc được đặt tên cho vùng biển của Trung Bộ. Địa danh Nam Trung Bộ và Nam Bộ có gốc gác từ miền Trung. Chẳng hạn dọc theo bờ biển Việt Nam có rất nhiều địa danh được lặp đi lặp lại, ví dụ như Cửa Đại, Tư Hiền, Đập Đá hay Cầu Đá. Nhìn chung Nam Bộ cũng có những đặc điểm này, bên cạnh đó nó cũng có những nét riêng. Thứ nhất, địa danh của Nam Bộ mang nhiều yếu tố địa hình. VD75: Xẻo, vàm, dòng
  • 107. 102 Ngày30-8-2012, tạiNgã ba Vàm Nhon, huyện Thới Lai đã diễn ra lễ khánh thành và thông xe tuyến đường vào trung tâm xã Định Môn- Trường Thành. CT, 30-8-2012 VD76: Trưa chủ nhật2-10, chúng tôi thuê xe ôm mới đến được khu vực đê bao bị bể hôm 27-9 ở xã Ô Long Vĩ, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang - vì cách đó gần 10 cây số chỗ ấp Mỹ Quí, xã Mỹ Phú, một chiếc xe cạp đấtđang đóng cừ tràm hộ đê làm tắt đường ô tô. CT, 05-10-2011 VD77: Hằng ngày, bên chái nhà đơn sơ, cũ kỹ ở ấp Thới Hiệp B, xã Xuân Thắng, huyện Cờ Đỏ (TP Cần Thơ), em Trần Thị Thoại Nhi, học sinh lớp 11B5, Trường THPT Thới Lai, lặng lẽ ngồi bên mẹ phụ chuốt từng cọng dừa để bó chổi bán. CT, 23-2-2012 Bên cạnh đó, khoảng 20, 30 năm gần đây, ở vùng Nam Bộ xuất hiện cách đặt những địa danh mới thường theo các con số, ví dụ xã 18, xã 1000, Bốn Tổng Một Ngàn. VD78: Dự án Tuyến giao thông Bốn Tổng - Một Ngàn (BT-MN)điqua địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Thới Lai đang tất bật thi công để khánh thành giai đoạn 1 vào giữa tháng 5-2010 và hoàn thành toàn bộ dự án nối liền với tỉnh Hậu Giang vào đầu quíI/2010. Con đường mới thênh thang, haibên là những cánh đồng lúa trĩu hạt đang mở ra một tương lai tươi sáng cho vùng đất ngoại thành.. CT, 6-3-2012
  • 108. 103 Chưa bàn đến cách đặt tên ở nhóm 3, nó có bảo đảm được tính dân tộc hay không, nó có thể hiện được khát vọng của nhân dân hay không, hay đó chỉ là những con số hoàn toàn lạnh lùng máy móc, tuy nhiên sự xuất hiện của 3 nhóm địa danh vừa kể trên rõ ràng là tạo được nét riêng, người vùng khác dễ nhận diện đó chỉ có thể là vùng đất Nam Bộ. 2.5.5. Sảnvật địa phương Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, nhìn chung hầu như địa phương nào cũng có những sản vật. Sản vật được chia làm 2 nhóm, một nhóm là nhân tạo ví dụ như đường phổi, đường phèn, bạch nha, kẹo gương ở Trung Bộ… hay bánh pía, bánhkhọt, lẩu mắm, đường Thốt Nốt,… và nhóm sản vật tự nhiên như sầu riêng, măng cụt, bưởi năm roi, bòng bong, chôm chôm, cá kèo, cá thòi lòi, ba khía, mắm ruột, dưa gang muối,…ở miền Nam. VD79: Từ những ngàyđầu tháng 8 đến nay, vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu tái diễn nạn khai thác trái phép cá kèo giống, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, làm hủy diệt, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản thiên nhiên. CT,4-8-2012 VD80: Ông Lê Văn Cung, cơ sở bán cây giống ở Phú Phụng, huyện Chợ Lách cho rằng, điều khá bất ngờdiễn ra từ đầu năm đến nay là xoài giống các loại tiêu thụ rất mạnh, có thời điểm khan hiếm. Chỉ riêng thị trường An Giang, cơ sở của ông đã tiêu thụ trên 200 ngàn cây giống, trong đó xoài Đài Loan chiếm 150 ngàn cây. Kế đến là mít siêu sớm tiêu thụ 50 ngàn cây, cam và quýt 20 ngàn cây, sầu riêng 15 ngàn cây, vú sữa Lò Rèn và vú sữa tím 7 ngàn cây... Một điều tất yếu kèm theo là giá của những chủng loại cây giống này tăng đáng kể: xoài Đài Loan từ 10.000 - 12.000 đồng/cây đã tăng lên 15.000
  • 109. 104 đồng/cây. Vú sữa Lò Rèn từ 12.000đồng/câytăng lên 19.000 đồng/cây. Xoài tứ quý từ 10.000đồng/câytăng lên 12.000 đồng/cây. CT,18-6-2012 Hiển nhiên, tất cả những hệ thống từ vựng chỉ sản vật, đặc sản của địa phương một mặt tô đậm nét riêng của bài phóng sự, bài ghi nhanh, mặt khác tạo ra được một tri thức nền rất gần gũi với công chúng địa phương và chính điều này sẽ giúp cho công chúng địa phương dễ nhận thức ra vấn đề và bài viết dễ tạo ấn tượng ở họ. Là vùng đồng bằng phù sa màu mỡ nên miền Tây có nhiều cây trái tốt tươi. Qua những tác phẩm báo chí ngợi ca mùa vụ bội thu của người dân miền Tây, chúng tôi bắt gặp nào sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,… Miền Tây có mùa nước lũ. Nước lũ đem phù sa về bồiđắp cho ruộng vườn, vừa đem nguồn lợi thủy sản phong phú ban tặng cho người dân. Đến hẹn lại lên, mỗi khi vào mùa nước lũ, chúng tôi bắt gặp những bài viết về mùa thu hoạch của người dân sống bằng nghề đánh bắt, những lo toan, những hạnh phúc của người dân mùa nước nổi trong cuộc sống đời thường. Thậm chí chúng tôi bắt gặp trên từng trang viết những món ăn mang đậm hương sắc miền Tây mà không nơi nào có được như cá linh nấu canh bông điên điển, tép rong chiên bánh,… VD81: Đặc biệt năm nào mực nước lên cao, năm đó bà con lao động nghèosẽ có công ăn việc làm như đánh bắt, nhổbông súng, háibông điên điển và khai thác các loài đặc sản như rắn, lươn, cua, rùa, ếch... tạo cho sinh hoạt đồng quê trở nên rộn ràng tất bật. CT, 25-8-2012 Nói đến Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều người nghĩ ngay đến vườn cò Bằng Lăng,vườn chim Tam Nông ( Đồng Tháp). Hàng trăm hàng ngàn chủng loại chim cò, có những loại thuộc về sáchđỏ thế giới cũng sinh sôi nảy
  • 110. 105 nở trù phú ở miệt đồng bằng phù sa màu mỡ. Có thể liệt kê tên một số loài chim cò miệt miền Tây như: cồng cộc, bồ nông, diệc, diệc lửa, diệc mốc, trích cồ, cúm núm, bìm bịp, vạc, cò quắm, cò ngà, cò cá, cò ruồi, cò đúm, cò sen, cò nhạn,… VD82: Vốn yêu thích thiên nhiên, ông Nguyễn Ngọc Thuyền không xua đuổi hay săn bắt chúng mà tìm cách tạo điều kiện để cò tụ họp về đông đảo hơn. Ông nói: “Đất có lành, chim mới đậu. Bảo vệ cò, tức là góp phần bảo vệ thiên nhiên. Từ đó, tôi quyết tâm xây dựng khu đấtnày thành vườn cò”. Đến nay, vườn cò Bằng Lăngcó trên 300.000 con, với gần 20 chủng loại: cò quắm, cò ngà, cò cá, cò ruồi, cò ma, cò xanh, cò rằn, cò rán, cò lép, cò đúm, cò sen, cò nhạn... Trung bình mỗi năm cò đẻ ba đợt, mỗi đợt có khoảng 100.000 ổ, mỗi ổ từ 2-4 trứng. CT,28-8-2012 Miền đất phù sa màu mỡ là vậy, tuy nhiên ta vẫn bắt gặp đề tài về những vùng đất nhiễm phèn mặn ở xứ sở này. VD83: Dẫn chúng tôi ra cánh đồng lúa sắp đến ngàythu hoạch, ông Tư Thuận nâng niu từng bông lúa trĩu hạt, bày tỏ: "Suốt cuộc đời mình, tôi luôn có một tình cảm đặcbiệt dành chonông thôn với những ngườinông dân Nam bộ chất phác, nhân hậu. Cũng vì cái tình này mà bất chấp sự ngăn cản của vợ con, bạn bè, thayvì mở phòng mạch tư, mở nhà thuốc thì tôi quyết tâm bán hết nhà cửa gom góp tiền lương hưu và của cải dành dụm mấy mươi năm để đầu tư khai hoang, phục hóa mảnh đất 41 ha phèn mặn. CT,2-9-2012 Cây lúa không đâm chồi được, đôi bàn tay người nông dân chai sần, cuộc đời người nông dân triền miên khốn khó. Những phóng sự về cuộc đời,
  • 111. 106 về một địa phương nghèo khó được sự hỗ trợ quan tâm của chính quyền địa phương về chính sách thoát nghèo cho người dân cũng phản ánh trên nhật báo Cần Thơ. Nói một cách khái quát mảng hiện thực trù phú của Nam Bộ là một đối tượng miêu tả. Trước hết là để phản ánh những sự kiện, nhưng thông qua đó, nó cũng khắc họa được chân dung, màu sắc của một vùng đất. Ở đây, xét về lựa chọn ngôn từ, từ phía người tạo lập văn bản, cũng như nhận hiểu văn bản, xuất phát từ tri thức nền, các mảng hiện thực vừa đề cập một mặt là các thông tin sự kiện, mặt khác nó lại chính là thông tin tình thái để đưa đường lối chính sách của Đảng, nhà nước địa phương đến quần chúng. 2.5.6. Thànhngữ, quán ngữ, tục ngữ Thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ nhất là hai loại sau thường là những đơn vị văn hóa- ngôn ngữ, đúc kết kinh nghiệm sống của nhân dân, ở Nam Bộ nói chung, Cần Thơ nói riêng. Bên cạnh cái hệ thống quán ngữ, thành ngữ, tục ngữ được sử dụng chung trong tiếng Việt toàn dân, ở đây còn có xuất hiện một số hệ thống riêng. Hệ thống này bao gồm một số đơn vị khó lòng giải thích được tính lý do, thí dụ như hết biết, nói nàongay, thiệt tình,… Còn phần lớn những đơn vị thể hiện khá rõ cách trải nghiệm của người dân địa phương, ví dụ như sặc rằn, nước chưn,… Đặc biệt là mảng tục ngữ, quán ngữ, thành ngữ liên quan đến sông nước, xuất hiện cũng rất là nhiều. Ở đây cũng có đặc điểm như vừa phân tích ở bên trên cả hai trường hợp là trong lời dẫn trực tiếp và trong lời miêu tả. Bên cạnh đó, việc sử dụng các đơn vị này đúng nơi, đúng chỗ nói rộng ra là đúng ngữ cảnh cũng tạo ra nét riêng cho văn bản diễn ngôn. VD84: Cứ thế, từng bước, từng bước đầy khập khiễng và nhọc nhằn, do không có thăng bằng nên hễ giơ ghế lên là đầu trút xuống đất: u đầu, chảy máu không biết bao nhiêu lần. Rồi chị đứng sau lưng anh, nắm vai anh để làm
  • 112. 107 điểm tựa. Từng bước chân nhọc nhằn của anh Tùng, có chị dõi theo. Nhờ vậy mà anh đã rời chiếc xe lăn, tự di chuyển, lo sinh hoạt hằng ngày. Với anh Tùng, mỗiniềm vui trong đời đều có hình bóng người vợ một đời tần tảo. Chị là đôi chân để anh bước. Chịlà hạnh phúc để anh tìm. Và cũng chính chị đã vì anh, cùng anh sau bao ngày “gừng cay muối mặn”. CT, 30-7-2012 2.5.7. Mộtsó biểu thức diễn đạt Biểu thức diễn đạt được hiểu là một ngữ đoạn mà xét từng yếu tố không có yếu tố nào là mang dấu ấn địa phương nhưng trong tương tác với ngữ cảnh thì chúng ta cảm nhận được cách nói địa phương. Sau đây là một vài nhận xét về sự thể hiện cá tính của người Nam Bộ trên báo Cần Thơ. VD85: Mới tờ mờ sáng mà tiếng đục đá đã vang lên trên các bãi xẻ đá dọc theo con đường nhựa từ thị trấn Hòn Đấtchạy vào núi Hòn Sóc. Những người phu đá da đen cháy vì phơi nắng giólâu ngày cắm cúi căng dây làm chuẩn đưa búa đập lên những cây đục bằng thép. Theo từng nhát búa, cây đục cắm sâu vào những thớđá xanh, chậm rãi tách phiến đá to đùng ra thành từng thanh dài theo kích thước đã định sẵn. CT,22-4-2011 VD86: Những người thợ đá ở Hòn Sóc, dụng cụ hành nghề chỉ là vài chiếc đục lớn nhỏ bằng thép và chiếc búa, nón vải, chân trần, lâu lâu mới thấy một người mang được đôi găng tay bảo hộ lao động. Mỗi nhát đục chạm vào phiến đá, vụn đá bắn ra xung quanh ràorào, nhưng chẳng thấy phu đá nào mang kính bảo vệ mắt. “Ở đây, chuyện đập búa vào tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như cơm bữa, riết rồi thợ nào cũng quen”, ông Châu Kha nói. CT,22-4-2011
  • 113. 108 VD87: Theo ông Nguyễn Quốc Đoàn, từ trước đến nay khi xảy ra tai nạn nghiêm trọng, phu đá bị thương tật nặng hoặcmạng vong, nếu các chủ mỏ đá, bãi đá có thông báothì UBND xã mới biết. “Nếu chủ mỏ ém nhẹm tai nạn để tự thỏa thuận bồi thường với nạn nhân thì UBND xã và các cơ quan hữu trách cũng mù tịt. Những tai nạn nhỏnhư đá bắn vào mắt, đập búa giập tay, chân, đá lăn đè gây thương tích xảy ra hà rằm... nhưng UBND xã vô phương thống kê vì không ai báo cáo”, ông Đoàn nói. CT,22-4-2011 Ý chí vượt khó vươn lên thoát nghèo, thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn là một trong những nét tính cách điển hình của người dân Nam Bộ. Rất nhiều hình ảnh con người miền Tây Nam Bộ được ngợi ca khi từ trong gian khó họ trăn trở tìm phương thức vực dậy cuộc sống gia đình và thậm chí cả một vùng quê. Nghề nuôi cá tra, nghề dệt thảm lục bình, nghề trồng lúa một tép, nghề trồng dưa hấu thỏi vàng,… tất cả những nghề đó đều được phát triển và đem lại lợi nhuận đáng kể cho người dân vốn dĩ có hai bàn tay trắng. Những thành công của những cá nhân điển hình phần nào chứng minh cho chúng ta thấy người miền Tây chất phác thật thà là vậy nhưng khi gặp hoàn cảnh nghiệt ngã cũng dùng hết sức mình vượt qua khốn khó, chinh phục thử thách. Khi nhắc đến tính cách người Nam Bộ là người ta nghĩ ngay đến nét tính cách đầu đội trời chân đạp đất, cương trực thẳng thắn, chí nghĩa chí tình,… Nét đẹp trong tính cách Nam Bộ đã được ngợi ca rất nhiều và từng đi vào sách sử hay trong những bài thơ, câu hát. Trên nhật báo Cần Thơ, ta cũng dễ dàng bắt gặp những nét tính cách đẹp đẽ ấy. Như có lần luận văn đã từng đề cập đến, những bài viết về gương điển hình có tần số xuất hiện cao. Những nhân vật được nêu gương là những con người chân chất hiền lành, thuộc nhiều đối tượng, tầng lớp khác nhau nhưng có điểm chung là đều xuất phát từ
  • 114. 109 cái tâm nhân ái mà hết lòng giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống. Đó có thể là một lão nông hiến đất làm đường, xây cầu; đó cũng có thể là một chị y tá ở trạm y tế đi quyên góp tiền mua xe cứu thương; hay đó là một cụ bà đã mấy mươi năm hiến máu cứu người; v.v Quả nhiên, trong Tiếng Việt, ngôn ngữ nào cũng dùng so sánh nhưng cách so sánh rất phổ biến: như cơm bữa, như nước rong, như nước đứng, như nước nhảy, rõ ràng là dễ tạo cách cảm nhận về một vùng sông nước. VD88: Những ngườiphu xẻ đá ở Hòn Sóc nói, vì không có ruộng đấtnên họ phảiđeo theo nghề đá, tiền công hiện nay rẻ như bèo. CT, 24-4-2012 VD89: Mỗi nhátđụcchạm vào phiến đá, vụn đá bắn ra xung quanh rào rào, nhưng chẳng thấyphu đá nào mang kính bảo vệ mắt. “Ở đây, chuyện đập búa vào tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như cơm bữa, riết rồi thợ nào cũng quen”, ông Châu Kha nói. CT, 24-4-2012 Cũng cần lưu ý, cách diễn đạt khuếch tán nghĩa theo hướng mở rộng hoặc giảm thiểu là đặc điểm chung của tiếng Việt. Tuy nhiên, tần suất xuất hiện của các biểu thức này trong tiếng Nam Bộ là rất cao. Thí dụ như đỏ lét, đỏ lòm, đỏ hổi, xanh mét, tái nhợt, đen thui,… Rõ ràng là các biểu thức này có sức miêu tả rất lớn, đặc biệt trong các phóng sự và ghi nhanh. VD90: Những ngườiphu đá da đen cháy vì phơi nắng giólâu ngàycắm cúi căng dây làm chuẩn đưa búa đập lên những cây đục bằng thép. CT,22-4-2012
  • 115. 110 2.6. Tiểu kết Trên đây chúng tôi đã đi vào khảo sát các cấp độ ngôn ngữ cũng như các bộ phận cấu thành một văn bản báo chí hoàn chỉnh, từ tiêu đề, dẫn đề, đoạn văn, văn bản cho đến màu sắc địa phương. Một số mô hình, một số thống kê để khảo sát các đơn vị ngôn ngữ như trên cho thấy rằng đặc điểm chung có tính chất nổi bật tại đây khó lòng tìm thấy những nét riêng trên những đơn vị có tính chất vĩ mô mặc dầu ở các cấp độ như là từ vựng, ngữ âm. Nếu chịu khó quan sát có thể nhận diện ra những khác biệt. Bên cạnh đó, luận văn tập trung chú ý đến những lớp từ địa phương xuất hiện ở nhiều thể loại báo chí tiêu biểu theo quan niệm của chúng tôi, qua đó một số đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ trên báo Cần Thơ được thể hiện.
  • 116. 111 KẾT LUẬN Trước đây, ở một số cơ sở đào tạo đã có một số đề tài về ngôn ngữ báo chí địa phương được thực hiện. Đây là đề tài thoạt nhìn dễ tưởng rất đơn giản nhưng khi bắt tay vào thực hiện, người viết gặp phải những trở ngại rất lớn. Với đề tài của chúng tôi, tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ dù được hiểu là ngữ liệu được sưu tập là trên nhật báo Cần Thơ, việc chỉ ra được những nét riêng dựa vào tiêu chí độ đậm- nhạt quả cũng rất khó khăn. Đối chiếu với những mục tiêu đặt ra ở phần dẫn nhập, đến đây luận văn xin khái quát một số kết quả chính: 1. Bên cạnh việc xác lập các đặc điểm về con người, vùng đất và báo chí Cần Thơ, trên cơ sở kế thừa các công trình lý luận đi trước, luận văn đã làm rõ thêm một số đặc điểm về chức năng, ngôn ngữ của báo chí, bên cạnh đó, có việc vận dụng lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson vào việc nhận diện các phong cách và thể loại trong đó có phong cách và thể loại báo chí. Hiển nhiên, khi đi tìm đặc trưng riêng, luận văn không dựa vào thế đối lập có – không mà chủ yếu dựa vào sự quan sát căn cứ vào độ đậm nhạt của một số đặc trưng. 2. Đóng vai trò là cầu nối thông tin giữa phóng viên với độc giả, ngôn ngữ báo chí chịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí. Bên cạnh những đặc trưng thuộc phong cách thể loại, các văn bản trên nhật báo Cần Thơ còn biểu hiện những nét đặc trưng mang đậm sắc thái địa phương Nam Bộ, từ mặt hình thức đến nội dung, qua cách dùng từ đặt câu cũng như những đề tài được phản ánh trên báo. 3. Tiêu đề trên nhật báo Cần Thơ đa dạng về mặt cấu tạo với nhiều cấu trúc cả định danh và thông báo, trong đó đáng chú ý là các cấu trúc thông tin khác nhau như cấu trúc 5W + 1H, cấu trúc đơn đề và đa đề, và việc có hay không có thượng đề, hạ đề sẽ chi phối cấu trúc tiêu điểm của chúng. Nằm ở vị trí cửa ngõ, là nhãn mác của mỗi bài báo nên việc đặt tiêu đề cho mỗi bài báo
  • 117. 112 rất được phóng viên quan tâm. Điều này thể hiện ở sự sinh động, đa dạng của tiêu đề thuộc các thể loại báo chí khác nhau. 4. Dẫn đề thường có độ dài tương đối ngắn nhưng lại chứa đựng nhiều nội dung thông tin. Lời ít mà ý nhiều là đặc trưng dành để nói về dẫn đề. Trên nhật báo Cần Thơ, trên cơ sở các mô hình của lý thuyết F. Danes cũng như các mô hình triển khai theo các yếu T, R, I và theo các yếu tố thuộc cấu trúc 5W + 1H, dẫn đề được xem xét từ nhiều khía cạnh và tìm ra tỉ lệ trội của sự xuất hiện một số mô hình. 5. Mỗi văn bản thường được cấu thành từ nhiều đoạn văn khác nhau. Mỗi đoạn văn phục vụ cho một chủ đề. Cũng có khi một chủ đề được triển khai bởi nhiều đoạn văn. Giữa các đoạn văn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt hình thức và cả về mặt nội dung, dù trực tiếp hay gián tiếp. Trên số liệu thống kê, luận văn đã chỉ ra được tần suất nổi trội của mô hình diễn dịch tức mô hình kim tự tháp đảo nói theo báo chí học cũng như đặc điểm 4 mô hình khác với các số liệu minh họa cụ thể. 6. Xét cấu trúc văn bản lý tưởng, với đầy đủ các bộ phận cấu thành, một tác phẩm báo chí bao gồm: tiêu đề, dẫn đề, phần mở đầu, phần triển khai và phần kết luận, trong đó tiêu đề, dẫn đề thường đóng vai trò thông tin hạt nhân, các phần còn lại của văn bản là các thông tin vệ tinh xoay quanh thông tin hạt nhân. Trong hoạt động hành chức, mô hình lý tưởng này được vận dụng một cách khá linh hoạt tùy thuộc vào các thể loại cụ thể. Trên cứ liệu 500 văn bản thuộc thể loại tin tức, luận văn đã khái quát được một số mô hình phổ biến và đây là mô hình xuất hiện nhiều nhất trên nhật báo Cần Thơ. 7. Tiếp cận từ góc độ dưới câu, thông qua một số lớp từ ngữ như biến thể ngữ âm, từ địa phương, địa danh, xưng hô,… luận văn bước đầu đã xác lập được một số đặc trưng của ngôn ngữ- văn hóa Nam Bộ được thể hiện trên nhật báo Cần Thơ. Đây là một vấn đề khá lý thú, nhưng do giới hạn của đề tài, luận văn chưa có dịp khảo sát kỹ hơn như lẽ ra phải có.
  • 118. 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Albert Pierre (2003), Lịch sử báochí, Nxb Thế giới. 2. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2000), Lịch sử báoĐảng bộ các tỉnh và thành phố( sơ thảo), Nxb Chính trị Quốc gia. 3. Diệp Quang Ban (2005), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 4. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục. 5. Phạm Thế Bảo ( 2008), Viết một bài báo khoa học nhưthế nào, Nxb Lao động xã hội. 6. Nguyễn Trọng Báu (2002) Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí, Học viện Quốc gia TP Hồ Chí Minh Phân viện báo chí và tuyên truyền, Nxb Khoa học xã hội. 7. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữhọc tiếng Việt, Nxb Hà Nội. 8. Trường Chinh ( 1963), Tăng cường công tác báo chí của chúng ta, Nxb Sự thật. 9. Hồng Chương ( 1985), Báo chí Vìệt Nam, Nxb Sự thật. 10. Hồng Chương (1987), Tìm hiểu lịch sử báochí Việt Nam, Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin. 11. Claudia Mast (2003a), Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản (bản tiếng Việt), Nxb Thông tấn, Hà Nội. 12. Claudia Mast (2003b), Truyền thông đại chúng - Công tác biên tập (bản tiếng Việt), Nxb Thông tấn, Hà Nội. 13. Trần Văn Cơ ( 2007), Ngôn ngữhọc tri nhận ( Ghi chép và suy nghĩ), Nxb Khoa học xã hội.
  • 119. 114 14. David Nunan (1999), Dẫn nhập phântích diễn ngôn (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch), Nxb Giáo dục. 15. Nguyễn Đức Dân ( 2003), Nỗi oan thì, là, mà, Nxb Trẻ. 16. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục. 17. Đức Dũng (2000), Các thể ký báo chí, Nxb Văn hóa thông tin. 18. Hoàng Dũng- Bùi Mạnh Hùng (2007), Giáo trình dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Đại học Sư phạm TP HCM. 19. Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội. 20. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin. 21. Hà Minh Đức (chủ biên, 1998), Báo chí- Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 22. Hà Minh Đức ( 2000), Cơ sở lý luận báo chí: Đặc tính chung và phong cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 23. Gérault Fabienne (2006), Sapô– Chiếc mũ không che khuấtbàibáo (Vũ Kim Hải, Đinh Thuận biên soạn), Nxb Thông tấn. 24. Bằng Giang ( 1997), Tiếng Việt phong phú, Nxb Văn hóa. 25. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 26. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữhọc, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 27. Grabennhicốp ( 2003), Báo chí trong kinh tế thị trường (Lê Tâm Hằng, Ngữ Phan, Đới Thị Kim Thoa dịch), Nxb Thông tấn. 28. Hải Hà, Hà Phương (biên soạn, 2006), Để người khác làm theo ý bạn, Nxb Thông tấn.
  • 120. 115 29. M.A.K.Halliday ( 1994), Dẫn luận ngữ pháp chứcnăng (Hoàng Văn Vân dịch, 2001), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 30. Vũ Quang Hào (2007), Ngôn ngữ báochí, Nxb Thông tấn. 31. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Nxb Trẻ. 32. Cao Xuân Hạo (2006a), Tiếng Việt, mấyvấn đề ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, Nxb Khoa học xã hội. 33. Cao Xuân Hạo (2006b), Tiếng Việt sơ thảo ngữpháp chức năng, Nxb Giáo dục. 34. Z.S.Harris ( 2001), Các phương pháp của ngôn ngữhọc cấu trúc, Nxb Giáo dục. 35. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục. 36. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ( 1995), Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí, Nxb Quân đội nhân dân. 37. Phạm Thành Hưng ( 2007), Thuậtngữbáo chí- truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 38. Đinh Văn Hường ( 2006a), Tổ chức và hoạt động của tòa soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 39. Đinh Văn Hường ( 2006b), Các thể loại báochí thông tấn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 40. Jean- Luc Martin- Lagardette ( 2003), Hướng dẫn cách viết báo, Nxb Thông tấn. 41. Nguyễn Văn Khang ( 2003), Kế hoạch hóa ngôn ngữ, Nxb Khoa học xã hội. 42. Nguyễn Văn Khang ( 2007), Từ ngoạilai trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
  • 121. 116 43. Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 1991), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 44. Đinh Trọng Lạc (1994), Phong cách học văn bản, Nxb Giáo dục. 45. Đinh Trọng Lạc (1997), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 46. Đinh Trọng Lạc (2008), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 47. Trần Thị Ngọc Lang (chủ biên, 2005), Một số vấn đề về phương ngữxã hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 48. Lưu Vân Lăng (1998), Ngôn ngữhọc và tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 49. Loic Hervouet (1999), Viết cho độc giả (Lê Hồng Quang dịch), Hội nhà báo Việt Nam. 50. Nguyễn Thị Lương ( 2009), Câu tiếng Việt, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội. 51. Lê Minh, Đinh Thuận (biên soạn, 2006), Dọc đường tác nghiệp, Nxb Thông tấn. 52. Sơn Nam (biên khảo, 2005), Nói về miền Nam, cá tính miền Nam, thuần phong mỹ tục Việt Nam, Nxb Trẻ. 53. Lê Kiều Nga (2009), Tìm hiểu ngôn ngữ truyền hình, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh. 54. Trần Thanh Nguyện (2004), Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh. 55. Nhiều tác giả (1984), Ngôn ngữ học: khuynh hướng – lĩnh vực – khái niệm, tập 1, 2,3, Nxb Khoa học Xã hội.
  • 122. 117 56. Nhiều tác giả ( 1995), Biên tập ngôn ngữ và báo chí, Nxb Quân đội nhân dân. 57. Nhiều tác giả (1999), Tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Hội Ngôn ngữ học TPHCM – Viện Ngôn ngữ học Việt Nam – Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia TP HCM. 58. Nhiều tác giả ( 2001), Một góc nhìn của trí thức, Nxb Trẻ. 59. Nhiều tác giả, Hội Khoa học và lịch sử TP Hồ Chí Minh (2004) Nam Bộ Đất và Người (3), Nxb Trẻ. 60. Nhiều tác giả ( 2005), Nghềbáo, Nxb Kim Đồng. 61. Nhiều tác giả ( 2006), Kỹ năng viết bài, Nxb Thông tấn. 62. Phân Viện Báo chí và Tuyên truyền, Tác phẩm báochí (3), Nxb Giáo dục Hà Nội. 63. Philippe Gaillard (2003), Nghềlàm báo, Nxb Thông tấn, Hà Nội. 64. Hoàng Minh Phương ( 2000), Phương pháp thựchiện phóng sự báochí, Nxb TP Hồ Chí Minh. 65. Hoàng Phê (chủ biên) , Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội. 66. Trần Hữu Quang ( 2006), Xã hội học báo chí, Thời báo kinh tế Sài Gòn. 67. Trần Quang ( 2001), Làm báo Lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 68. Trần Quang ( 2005), Kỹ thuậtviết tin, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 69. Nguyễn Thanh Quang (2003), Đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh. 70. Đào Duy Quát, Nguyễn Duy Hùng, Lê Phúc Nguyên,…(biên soạn, 2009), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, Nxb Chính trị Quốc gia.
  • 123. 118 71. Lê Minh Quốc (2000), Hỏi đáp báo chí Việt Nam, Nxb Trẻ. 72. Vũ Đình Quý ( 2006), Phóng viên thường trú, Nxb TP Hồ Chí Minh. 73. Tạp chí Xưa và Nay (1996), Nam Bộ xưa và nay, Nxb TP Hồ Chí Minh. 74. Ferdinand de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữhọc đại cương, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội. 75. Trịnh Sâm (2000), Tiêu đề văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 76. Trịnh Sâm (2008), “Đặc điểm ngôn ngữ báo chí nhìn từ hoạt động báo chí ở thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 12(158),tr.11-15. 77. Trịnh Sâm (2011), Đi tìm bản sắc tiếng Việt, Nxb Trẻ. 78. Trịnh Sâm (2012), “Về một số mô hình của dẫn đề báo chí tiếng Việt”, Tạp chí từ điển học và bách khoa thư, số 2 (16), tháng 3-2012. 79. Dương Xuân Sơn (1996), Báo chí nước ngoài, Nxb Văn hóa Thông tin. 80. Dương Xuân Sơn ( 2004), Các thể loại báo chí chính luận nghệthuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 81. Dương Xuân Sơn (biên soạn, 2009), Giáo trình báochí truyền hình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 82. Lý Sinh Sự (2007), Hãyviết tiểu phẩm đi, Nxb Thông tấn. 83. Leonard Rayteel- Ron Taylor (1993), Bước về nghềbáo, Nxb TP Hồ Chí Minh. 84. Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận tiếng Việt từ lý thuyết đại cương 85. Hữu Thọ (2000a), Công việc của người viết báo, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 86. Hữu Thọ ( 2000b), Bình luận báochí thời kỳ đổi mới: Một số vấn đề công tác tư tưởng-văn hóa, Nxb Giáo dục.
  • 124. 119 87. Hữu Thọ ( 2002), Theo bước chân đổi mới: Bình luận báochí, Nxb Chính trị Quốc gia. 88. Trần Ngọc Thêm (2006), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 89. Vũ Văn Tiến ( 2006), Viết báothời sinh viên, Nxb Lý luận chính trị. 90. Trần Đình Thu (2003), Tìm hiểu nghềbáo, Nxb Trẻ. 91. Đoàn Thiện Thuật ( 2007), Ngữ âm tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 92. Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ (1975), Tu từ học tiếng Việt hiện đại, ĐHSP Việt Bắc. 93. Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 94. Hoàng Tuệ (2001), Tuyển tập ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia TP HCM. 95. Hoàng Văn Vân ( 2005), Ngữpháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức năng hệthống, Nxb Khoa học xã hội. Tiếng Anh 96. Aamidor A. (2006), Real feature writing: story shapes and writing strategies from the real world of journalism, Routledge 97. Ahmad Shahzad (2005), Art of modern journalism, Anmol Publications 98. Aitchison Jean & Lewis Diana M. (2003), New media language, Routledge 99. Akmajian Adrian (2001), Linguistics: an introduction to languageand communication, MIT Press 100. Bell A. (1991), Thelanguageof News media, Oxford, Blackwell
  • 125. 120 101. Bell Allan (1994) , Telling Stories. In GraddolDavid, Boyd-Barrett, Media texts, authors and readers: a reader, Multilingual Matters 102. Bhatia V.K (2004), Worlds of written discourse,Continuum London New York 103. Bliss Edward (1991), Now the News: TheStory of Broadcast Journalism, Columbia University Press 104. Boczkowski Pablo J. (2005), Digitizing the news: innovation in online newspapers, MIT Press 105. Bryan Wright (2005), Writing for the Web. In Quinn Stephen, Filak Vincent F. (2005), Convergent journalism: an introduction, 69 – 80, Elsevier 106. Charnley M. V. (1965), Reporting, Rinehard & Winston 107. Christie Frances, Martin J. R. (2005), Genre and institutions: social processes in the workplace and school, Continuum International Publishing Group 108. Daněv F. (1974), “Funtional sentence perspective” and “Text connectedness”. In Text and Discoure Connectedness… John Benjamins Publshing Company, p 106-127 109. Pavlik John Vernon (2001), Journalism and new media, Columbia University Press 110. Shrivastava K. M. (1987), News Reporting and Editing, Sterling Publishers Private Limited 111. Smith Jeanette (1995), The new publicity kit, John Wiley and Sons 112. Sojka Petr , Kopeček Ivan, Pala Karel (2004), Text, speech and dialogue:7th internationalconference, Springer 113. Swales J.M. (1990), Genre Analysis: English in Academic and Research Setting, Cambridge, Cambridge University
  • 126. 121 114. Swales J.M. (2004), Research genres: Explorations and applications, Cambridge, Cambridge University 115. Thor Clas, Antwi Ransford & Oliver Willie (2005), Use Media To Teach Media, NSJ Southern Africa Media Training Trust 116. Whitaker Wayne R., Ramsey Janet E. and Smith Ronald D. (2004), Mediawriting:print, broadcast, and publicrelations, Routledge 117. Zaidi S.M and Muniruddin Qur. (2005), History Of Journalism, Anmol Publications PVT. Ltd
  • 127. 122 PHỤ LỤC 1. TIÊU ĐỀ 1. Bắt 2 đốitượng cướp giật tài sản 2. Tử hình kẻ giết người, cướp tài sản/ Hạ Đề: Giết người, lãnh án tù chung thân 3. Khánh thành giai đoạn 1 khu nghỉ dưỡng sinh thái Tây Đô 4. Tổng thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh/ Tập trung rà soát dứt điểm các vụ việc khiếu nại tồn đọng, kéo dài 5. Tăng cường giáo dục văn hóa học đường cho học sinh/ Tặng 20 suất học bổng “tiếp sức đến trường” cho học sinh nghèo 6. Binhanfishco trả 90 tỉ đồng tiền nợ cá cho nông dân 7. Hội thảo một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo TP Cần thơ 8. Đoàn công tác Ban dân nguyện làm việc tại TP Cần Thơ 9. Thư viện TP Cần Thơ/ Tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 10. Triển lãm sách mừng Quốc khánh 2-9 11. Công ty Cổ phần dược Hậu Giang/Trên 23,7 tỉ đồng giúp cho bệnh nhân nghèo, đồng bào bị thiên tai 12. Lãnh đạo TP tiếp và làm việc với Tập đoàn VK Vương quốc Bỉ/ Làm việc với công ty TNHH Citelum Việt Nam 13. Khởi công xây dựng chợ chuyên doanh lúa gạo Thốt Nốt 14. TP Cần Thơ/ Nhiều trường học khánh thành và khai giảng năm học mới 2012- 2013 15. Sản xuất côngnghiệp của TP ước tăng 3,3%
  • 128. 123 16. Bế giảng khóa bồidưỡng kỹ năng dạy tiếng Hàn và giới thiệu văn hóa, pháp luật Hàn Quốc 17. TP Cần Thơ/ Long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 67 năm cách mạng tháng Tám và quốc khánh 18. Cố ý gây thương tích lãnh 4,5 năm tù 19. Khánh thành đưa vào sử dụng công trình nâng cấp mở rộng đường lê Bình 20. Hội nhà báo TP Cần Thơ tổ chức chuyến đi thực tế cho hội viên 21. Bế mạc liên hoan Những bài ca đi cùng năm tháng/ Đoàn trường Đại học Cần thơ đứng nhất toàn đoàn 22. Duy trì hoạt động truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình 23. Công ân TP Cần thơ/ Triển khai kế hoạch cao điểm đảm bảo trật tự tháng an toàn giao thông 24. Phát thưởng và trao học bổng cho 146 học sinh- sinh viên 25. Khảo sát vị trí dự kiến di dời chợ Hưng Lợi 26. Bắt quả tang đối tượng vận chuyển ma túy 27. Trốn không thoát 28. Tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố giảm/ Tước 6.290 giấy phép lái xe 29. Phó Chủ tich UBND TP Cần thơ Đào Anh Dũng/ Khẩn trương công bố quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới ra dân 30. Cục thuế TP Cần Thơ đối thoại với doanh nghiệp 31. TP Cần Thơ/ Long trọng tổ chức lễ giao nhận quân, tiễn 900 thanh niên nhập ngũ 32. TP Cần Thơ/ Doanh nghiệp xuất khẩu gạo đạt lợi nhuận thấp 33. Hôm nay, ngày 7-9-2012/ Đại hội đại biểu Hội cựu chiến binh TP Cần Thơ lần thứ V, nhiệm Kỳ 2012-17
  • 129. 124 34. Tăng cường các giải pháp để hạn chế số ca mắc và tử vong vì bệnh tay chân miệng, sốtxuất huyết 35. Lãnh đạo thành phố tham quan nhà máy xử lý rác thải tỉnh Vĩnh Logn 36. Hôm nay ngày 6-9-2012/ TP Cần thơ tiễn 900 thanh niên ưu tú lên đường nhập ngũ/ Hạ đề: Tổ chức hội trại tòng quân 5 quận, huyện 37. Nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước 38. Khai trương Trugn tâm cơ hội số APEC tại TP Cần Thơ 39. Các trường đồng loạt khai giảng năm học mới 40. Khai mạc hội diễn văn nghệ quần chúng công nhân viên chức lao động TP Cần Thơ 41. Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy/ Các cấp, các ngành cần xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện tốt các Kết luận và nghị quyết trung ương 5 42. Bắt đầu kiểm tra hồ sơ vận động viên Hội khỏe Phù đổng toàn quốc lần thứ VIII 43. Thới Lai và Bình Thủy/ bàn giao nhà tình nghĩa cho các hộ chính sách 44. 4.500 bạn trẻ sẽ hưởng ứng Chương trình hành trình xe đạp vui nhộn Revive Fun Bike 45. Tuổi trẻ Cảnh sát nhân dân TP Cần thơ hành quân về nguồn/ Khám bệnh và cấp phát thuốc miễn phí cho 200 thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn 46. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam khảo sát tình hình đội ngũ nữ cán bộ tại cần Thơ 47. 32 cơ quan, doanh nghiệp nợ hơn 22,4 tỉ đồng tiền bảo hiểm xã hội 48. Cà Mau/ Miễn phí xét nghiệm tôm giống cho hộ nghèo và cận nghèo 49. Đồng bằng Sông Cửu Long/ Đào tạo nghề cho khoảng 117.300 người
  • 130. 125 50. Hội thảo Biến đổi khí hậu: hiểu biết và hành động 51. 150 cán bộ y tế sinh hoạt chuyên đề về Helicobacter pylori 52. Các công trình phục vụ Hội khỏe phù đổng/ Hạ đề:Khán đài A sân vận động Cần Thơ kịp hoàn thành cho ngày khai mạc HKPĐ 53. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: hải sản giảm giá từ 10 đến 40%/ Hạ đề: 294 tỉ đồng đầu tư khu nuôi tôm công nghiệp Hà Tiên 54. Thượng đề: Huyện Thới Lai/ Đề: Đầu tư 7 tỉ đồng xây dựng đường giao thông nông thôn 55. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục truyền thống yêu nước cho đoàn viên thanh niên 56. Khánh thành cầu Lấp Vò sông Thốt Nốt 57. Khởi công xây dựng tường kè sông chợ Trà Nóc 58. Triển khai kế hoạch phòng chống đại dịch cúm 59. bệnh sốtxuất huyết và tay chân miệng đều tăng 60. Thượng đề: Thới Lai/ Đề: Tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 06 về Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở 61. Đề xuất phương án xây dựng Di tích Lịch sử- văn hóa Lộ vòng cung 62. Đề: Khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho bà connghèo, gia đình chính sách/ Hạ đề: Cà Mau: Chitrên 147 tỉ dồng cho gia đình chính sách 63. Thượng đề: Bình Thủy/ Đề: Tổ chức tập huấn đại biểu HĐND cấp phường 64. Thượng đề: Phong Điền/ Đề: Kết thúc đợt kiểm tra công tác cải cách hành chính tại các xã, thị trấn 65. Tuyển chọn tổ chức, các nhân chủ trì đề tài/ dự án khoa học công nghệ cấp thành phố 2013 66. Chương trình đạp xe xuyên miền Tây kết thúc chặng 5
  • 131. 126 67. Lãnh đạo TP Cần Thơ tiếp ngái thị trưởng Thành phố Riverside Hoa Kỳ 68. Thượng đề: Hội chữ Thâp đỏ TP Cần Thơ/ Đề: Triển khai sửa chữa 30 căn nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách 69. Ra mắt trang tra cứu điểm thi chính thức kết quả tuyển sinh đại học năm 2012 70. Thượng đề: Vụ đưa và nhận hối lộ tại sở Tư pháp TP Cần Thơ/ Đề: Bị cáo Phạm Thanh Dũng tù chung thân, 8 bị cáo còn lại từ 10 đến 20 năm tù 71. Thượng đề: An Giang/ Đề; 275 doanh nghiệp đăng ký mới, thu hút 32 dự án đầu tư 72. Thượng đề: Bến Tre/ Đề: Giá dừa khô tăng trở lại 73. Giá cá tra giống tăng 74. Thượng đề: An Giang/ Đề: Phát vay 15.373 tỉ đồng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. 75. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới 76. Giới thiệu hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá 77. Phát hiện sai phạm về kinh tế trên 3,5 tỉ đồng 78. Thượng đề: Doanh nghiệp ĐBSCL/ Đề: Tái cấu trúc, nhạy bén tiếp cận thị trường 79. Thượng đề: Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Nguyên Thanh Sơn/ Đề: Quy hoạch phải đảm bảo sự phát triển của TP Cần Thơ và vùng ĐBSCL 80. Tập trung liên kết vùng và xây dựng sản phẩm du lịch 81. Đề: Lãnh đạo TP thăm, động viên các đội tuyển dự Hội khỏe Phù Đổng/ Triển khai kế hoạch sẵn sàng bảo vệ Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc
  • 132. 127 82. Phát triển Khoa học xã hội và nhân văn phải gắn liền với phát triển kiinh tế- xã hội của TP 83. Thượng đề: TP Cần Thơ/ Đề: 6 tháng chỉ cấp mới 1 giấy chứng nhận FDI 84. Tặng tập, quà cho học sinh và hộ nghèo ở xã Thới Hưng và xã Vĩnh Viễn 85. Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh 86. Thượng đề: Bộ Chỉ huy quân sự TP CầnTho/ Đề: Tíchcực chăm lo cho đối tượng chính sách 87. Thượng đề: Quận Ninh Kiều/ Đề: Thương mại, dịch vụ chiếm vai trò chủ đạo 88. Tập trung giải quyết các vấn đề về an toàn giao thông và xây dựng cơ bản 89. Thượng đề: Phiên tòa xét xử vụ đánh cờ bạc tỉ ở Sóc Trăng/ Đề: Đề nghị tổng mức án trên 50 năm tù cho 6 bị cáo 90. Một xe gắn máy bị cháy rụi 91. Làm rõ vụ ngư phủ ở Cà Mau chết tại Malaysia 92. Đầu thú sau một năm lẩn trốn 93. Tạm giữ đối tượng cướp giật tài sản 94. Mua bán trái phép chất ma túy, sa lưới 95. Bắt giam đốitượng bán lô nền khống, gạt tiền người dân 96. Đề: Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm học 2012 cụm thi Cần Thơ kết thúc an toàn, tốt đẹp/ Hạ Đề: Dự kiến đầu tháng 8-2012 sẽ công bố kết quả thi đại học 97. Đề: Các cấp Hội liên hiệp phụ nữ thành phố/ Hạ đề: Tích cực giới thiệu nguồn cán bộ nữ cho các cấp ủy đề bạt, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo
  • 133. 128 98. Thượng đề: Ban QLDA Năng lực tài chính nhằm giảm thiểu BLGĐ TP Cần Thơ/ Đề: Hỗ trợ và xử lý 55 vụ bạo lực gia đình 99. Thượng đề: 6 tháng đầu năm 2012/ Đề: Kinh tế- xã hội quận Cái Răng tiếp tục phát triển 100. Trao huy hiệu cao tuổi Đảng cho 222 đảng viên 101. 220 cán bộ Hội Nông dân cơ sở được bồi dưỡng nghiệp vụ chính trị 102. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu 103. Cải táng 4 hài cốtliệt sĩ thuộc Tiểu đoàn 309, Trung đoàn 1, Quân khu 9 101. Thu ngân sách nhà nước đạt trên 2.400 tỉ đồng 102. Thượng đề: TP Cần Thơ/ Đề: Không phát hiện chất cấm thuộc nhóm beeta- agonist trong thịt heo 103. Công khai cơ sở vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm nhiều lần trên phương tiện thông tin đại chúng 104. Triển khai công tác tuyển chọn900 thanh niên nhập ngũ 105. Thượng đề: Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Phó Bí thu thành ủy, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ/ Đề: Quận Nih Kiều cần tập trung thực hiện tốt công tác chỉnh trang đô thị 106. Quản lý chặt cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nuôi trồng thủy sản 107. Giảm mật độ nhà cao tầng tại dự án khu dân cư Mỹ Hưng 108. Thượng đề: Quận Ninh Kiều/ Đề: Hơn 250 triệu đồng lắp đặt thùng rác công cộng 109. Thượng đề: Tiền Giang/ Đề: Cần hơn 158 tỉ đồng phát triển vùng sản xuất rau, thanh long an toàn 110. Đề: 7000 chỗ trọ miễn phí cho thí sinh thi đại học 2012/ Hạ đề: Trường Đại học Tây Đô: hỗ trợ 35 triệu đồng cho chương trình tiếp sức mùa thi
  • 134. 129 111. Triển khai các luật có hiệu lực từ 2013 112. Khánh thành đường vào trung tâm xã Định Môn- Trường Thành 113. Bắt quả tang một đốitượng vận chuyển trái phép chất ma túy 114. Đổi mới căn bản và toàn diện để nâng cao chất lượng giáo dục 115. Thượng đề: TP Cần Thơ/ Đề: Chuẩn bị nguồn hàng bình ổn trị giá trên 637 tỉ đồng 116. 162 công trình đăng ký chào mừng kỷ niệm 10 năm thành phố trực thuộc trung ương 117. Cấp mới đăng ký kinh doanh cho 576 doanh nghiệp, thu hút 6 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 118. Ốc bươu vàng giá tăng 500 đồng/ kg 119. Thượng đề: An Giang/ Đề: Giá cá tra nguyên liệu tăng, người nuôi cá có lợi 120. Thượng đề: TP CT/ Đề: Tổng vốn huy động đạt 30.900 tỉ đồng 121. Tập huấn điều tra, giám sát và thu mẫu dịch bệnh môi trường nuôi tôm 122. Thuonwjg đề: ĐBSCL/ Đề: Mở rộng dienj tíchvùng mía nguyên liệu 60.000 ha 123. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự 124. Phát triển bền vững mô hình xã hội hóa công tác giống ở ĐBSCL 125. Tăng cường phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội 126. Trang bị phương tiện cứu hộ, cứu nạn, giúp ngư dân yên tâm sản xuất trên biển 127. Thượng đề: Bạc liêu/ Đề: Giá lúa tăng cao nhưng nông dân không có lúa để bán 128. Đẩy mạnh tuyên truyền đợt sinh hoạt kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết TƯ 4
  • 135. 130 129. Tập trung các giải pháp, đảm bao hiệu quả việc làm bền vững 130. Trường Đại học Cần Thơ khai giảng năm học mới 131. Tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào dân tộc Khmer đón lễ Đôn- ta vui tươi, phấn khởi 132. Thượng đề: Đại hội Hội Nông dân quận Ô Môn, nhiệm kỳ 2012-2017/ Đề: Đổimới puhwong thức hoạt động, góp phần nâng cao đời sốn nông dân 133. Tặng căn nhà nhân ái cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn 134. Tập trung chỉnh trang đô thị, đê Ninh kiều xứng đáng là quận Trung tâm của TP Cần Thơ 135. Thống nhất điều chỉnh quy hoạch đất xây dựng nút giao quốc lộ 91 và 91B 136. Giám sát việc thực hiện nghị quyết về xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị 137. Tăng cường liên kết, phốihợp, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề gắn với giải quyết việc làm 138. Hội thảo giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vi mô đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh vượt qua bốicảnh khủng hoảng kinh tế 139. Thượng đề: Trường ĐH CT/ Dề: Công bố điêm chuân trúng tuyển nguyện vọng 2 140. Dự kiến đầu tháng 11 sẽ tổ chức hội thảo trước đối thoại về phòng chống tham nhũng 141. Đoàn doanh nghiệp Nhật bản giới thiệu công nghệ xử lý chất thải trong bệnh viện 142. Hội thảo về tiếp tục đổimới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 143. Y tế công- tư phối hợp trong quản lý bệnh lao
  • 136. 131 144. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng 145. Thượng đề: Bình Thủy/ Đề: Triển khai quy trình cải cách thủ tục hành chính trong Đảng 146. Chi hơn 809 triệu đồng cho công tác chăm sóc nạn nhân chất độc da cam 147. Thượng đề: Trường Cao đẳng y tế Cần Thơ/ Đề: 804 thí sinh trúng tuyển nguyện vọng 2 bậc cao đẳng 148. VIB mở rộng dịch vụ thu tiền điện 149. VIPBank nhận giải thưởng về tỷ lệ điện chuẩn Thanh toán quốc tế 150. Thượng đề: Trà vinh/ Đề: Tổ chức hội thảo nuôi nghêu theo tiêu chuẩn MSC 151. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: Thí điểm nuôi thương phẩm cá trê Phú Quốc 152. TP Cần Thơ tìm giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu 153. Thượng đề: Ninh Kiều/ Đề: Hoàn thành đại hội các chi bộ cơ sở 154. Họp bàn xử lý việc kinh doanh trên vỉa hè khu vực Sân vận động Cần Thơ 155. Ổn định trật tự, hỗ trợ đơn vị thi công dự án khu đô thị tái định cư Cửu Long 156. Nhân rộng đề án tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam. 157. Thượng đề: Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Phương Châu/ Đề: Cấp cứu thành công một trường hợp nhau bong non thể nặng 158. Nhiều hoạt động hỗ trợ thiếu nhi nghèo vui Tết Trung thu 159. Thượng đề: hội sinh viên trường ĐHTĐ/ Đề: Nhiều công trình, phần việc giúp các địa phương khu vực ĐBSCL xây dựng nông thôn mới/ Hạ
  • 137. 132 đề: Quận đoàn Ninh Kiều khai giảng lớp tập huấn chuyên môn công tác đoàn 160. Trường phổ thông Việt Mỹ khai giảng năm học mới và khánh thành Trường Mầm non 161. Chung kết cuộc thi Người dẫn chương trình truyền hình VTV Cần Thơ 162. Bắt và vận động đầu thú 39 đối tượng bị truy nẵ trong đợt cao điểm 163. Thượng đề: An giang/ Đề: Giá cá tra nguyên liệu tăng, người nuôi cá có lợi 164. 2050 lao động có việc làm 165. 478 lao động nhận quyết định hưởng bảo hiểm thất nghiệp 166. Thượng đề: Cờ Đỏ/đề: Dạy nghề ngắn hạn cho gần 700 lao động nông thôn 167. Cục thuế TP CT tổ chức tuần lễ lắng nghe ý kiến người nộp thuế 168. Trồng dừa xiêm dây “siêu trái” cho thu nhập cao 169. Giao lưu với nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển 170. Xử lý thành công quả bom nặng hơn 125 kg 171. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: thành lập đoàn kiểm tra toàn diện 4 tuyến dân cư vượt lũ ở Tân Hiệp 172. Thượng đề: Tiền Giang/ Đề: Giá tăng, nghề nuôi cá điêu hồng lồng bè hồi phục trở lại 173. Khai trương khách sạn Hậu Giang 174. Nông dân Cà Mau gấp rút thu hoạch các trà lúa hè thu 175. Đường Hoa Cần Thơ- xuân Quý Tỵ năm 2013 sẽ tổ chức trên trục đường Võ Văn Tần- Nguyễn Thái Học 176. Tham dự hội giảng giáo viên dạy nghề toàn quốc năm 2012 177. Thượng đề: Sở giao thông vận tải TP Cần Thơ/ Đề: Giải ngân hơn 226,5 tỉ đồng vốn xây dựng cơ bản giao thông
  • 138. 133 178. Trung tâm phát triển quỹ đất TP Cần Thơ nộp ngân sách 174 tỉ đồng 179. Thượng đề: Kiên Giang/ Đề: Khu dân cư lấn biển Phú Cường triển khai xây dựng nhà phố 180. Thượng đề: Tiền Giang/ Đề: Phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 quảng trường trung tâm 181. Khẩn trương lắp đặt dải phân cách khu vực cầu Cái Răng và cầu Đầu Sấu 182. Lãnh đạo TP làm việc với GIZ về chương trình quản lý nước thải 183. Trộm cắp xe gắn máy, bị bắt 184. Thượng đề: Trà Vinh/ Đề: Đầu tư 72,5 tỉ đồng sửa chữa, gia cố các tuyến dê biển, bờ bao 185. Thượng đề: Quận Ninh Kiều/ Đề: Phát động tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2012 186. Triển khai kế hoạch tổ chức lễ phát động phong trào vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân 187. Thượng đề: Phiên chợ hàng Việt về nông thôn tại huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp/ Đề: Thu hút 13.260 lượt người đến tham quan, mua sắm 188. Quan tâm giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật, không để xảy ra các điểm nóng 189. Phát động cuộc thi thiết kế bài giảng điện từ E- Learning 190. Xử phạt hành chính 23,8 triệu đồng đối với các trường hợp bạo lực gia đình 191. Tổ chức cuộc thi tìm hiểu luật phòng chống tác hại của thuốc lá 192. Lãnh đạo thành phố kiểm tra tình hình thu gom rác thải 193. Tăng cường giáo dục chính trị, kỷ luật quân đội cho cán bộ, chiến sĩ 194. Đề: Khánh thành trường THPT Giai Xuân và khai giảng năm học mới/ Hạ đề: bàn giao 2 phòng học ngoại ngữ tương tác trị giá 1 tỉ đồng
  • 139. 134 195. Thượng đề: Cầu lông: / Đề: Hà Nội giành 2 HCV 196. Thượng đề: Cờ Đỏ/Hạ đề: Hỗ trợ thiết thực nạn nhân chất độc da cam 197. Hội Cần Thơ Nối vn. Thăm và tặng quà cho các hoàn cảnh khó khăn 198. Thêm một số công trình xây dựng cơ bản đưa vào sử dụng 199. Cái Răng tập trung xây dựng giao thông nông thôn 200. Đối tượng mua bán tiền giả “ sa lưới” 2. ĐOẠN VĂN 1. Để khắc phục phần nào tình trạng ô nhiễm trên, trong năm 2010, chính quyền địa phương đã phối hợp với người dân tiến hành dọn dẹp cỏ trên con rạch, vận động một số hộ dân nạo vét rạch để khơi thông dòng chảy. Tuy nhiên, do lượng nước thải hôi hám hàng ngày vẫn đổ xuống con rạch nên mùi hôi dưới lòng rạch vẫn bốc lên. Ông Nguyễn Văn Dũng, Trưởng khu vực1, phường Ba Láng, cho biết: “Tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm và bốc mùi hôi thối đổ ra từ Công ty TNHH Trí Hưng và mùi hôi bốc lên từ khối lượng lớn bọc dơ tập kết tại công ty trong thời gian dài khiến nhiều hộ dân nơi đây rất bức xúc. Tôi đã nhiều lần phản ánh đến phường, nhưng đến nay công ty vẫn chưa có biện pháp khắc phục. Theo quy định, đáng lẽ khi được cấp phép hoạt động, công ty phải có hệ thống thu gom nước thải, lắng lọc, xử lý đạt tiêu chuẩn rồi mới thải ra môi trường. Chúng tôi yêu cầu các cơ quan chức năng sớm có biện pháp giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường ở nơi đây, trả lại môi trường sống trong sạch cho bà con”. CT,12-7-2011 2. Chị Đặng Thị Nga, CTVDS khu vực Phú Thạnh, phường Tân Phú, quận Cái Răng, có thâm niên gần 15 năm gắn bó với công tác dân số. Những năm đầu khi mới tham gia công tác, con còn nhỏ, chồng đi dạy học, công việc đồng áng nhiều nên chồng chị than phiền khi thấy vợ mình tham gia công tác dân số. Chị Nga vừa khéo léo khuyên nhủ chồng, đồng thời thu xếp việc nhà,
  • 140. 135 dành thời gian đi công tác. Lúc ấy trong ấp toàn cầu khỉ, đường sá đi lại rất khó khăn, chị phải chèo xuống đến từng nhà vận động. Có hôm, cầu nhỏ, chị té lên té xuống, mình mẩy đầy sình bùn, vậy mà đến nhà gặp đối tượng để vận động thực hiện KHHGĐ thì bị mấy bà cụ đuổithẳng. Mấy bà cụ cònnói: “con tôi, tôi cho đẻ sạch ruột, cháu tôi, tôi nuôi, can gì đến cô mà cô vận động”. Chị Nga buồn lắm nhưng vẫn cố gượng cười chào họ ra về. Trên đường về, chị Nga tủi thân, ứa nước mắt. Nhưng buồn thì buồn, chị không bỏ cuộc. Chị tìm cách gặp riêng các chị để vận động. Chị còn dẫn chứng các trường hợp chị em trong xóm nhờ thực hiện BPTT mà chỉ sanh hai con, kinh tế khá giả, sức khỏe lại đảm bảo. Một lần, hai lần, các chị dần hiểu ra, nghe theo. Cứ thế số lượng chị em thực hiện BPTT ngày càng nhiều. Đến nay, các chị còn tự giác đến nhà chị Nga nhận bao cao su, thuốc ngừa thai về sử dụng. CT,11-7- 2011 3. Khi quyết định gắn bó cuộc đời với người chồng hơn mình 15 tuổi, chẳng giàu có mà cũng chẳng nổi trội về ngoại hình, cô N.T.M. (quận Bình Thủy) cũng đương đầu với bao điều tiếng từ những người chung quanh, nhất là những bạn bè, thanh niên trai trẻ từng “để ý” cô. Cô cũng chẳng hiểu sao khi gặp “ông ấy” cô cảm thấy thật gần gũi, thân thiết, nói chuyện rất hạp nhau, rồi yêu nhau lúc nào không biết. Theo cô, thời gian đầu về chung sống, do tuổi tác chênh lệch nhau nên sở thích trong sinh hoạt, cuộc sống cũng khác nhau, đôi khi cũng xảy ra việc này, việc khác nhưng hai vợ chồng cùng cố gắng tự điều chỉnh cho phù hợp. Cô thì bớt cái tính trẻ con, hay giận hờn, ham vui với bạn bè; còn ông xã cô cũng cố gắng “trẻ hóa”, chiều theo sở thích, cách trang trí nhà cửa, thói quen ăn uống, kể cả “gu” nghe nhạc, phim ảnh của vợ. Với tình yêu và trách nhiệm, vợ chồng cô ra sức vun đắp cho tổ ấm của mình ngày càng sung túc. Dù bận việc làm ăn, nhưng chồng cô luôn dành thời gian phụ tiếp vợ chăm sóc các con, thậm chí thân thiết với hai con hơn cả vợ. Cô cười
  • 141. 136 bảo: “Bây giờ gặp lại, bạn bè lại bảo là mình có phước...”. Tương tự, trường hợp vợ chồng chú K. (quận Ninh Kiều) cũng chênh nhau đến 18 tuổi. Có lúc, sự so sánh, bàn tán của bạn bè, hàng xóm cũng là nguyên nhân gây nên sóng gió trong gia đình. Chú K. dí dỏm kể: “Nhiều khi hai vợ chồng cùng đi ra ngoài, mọi người không biết cứ tưởng nhầm là “cha con”, hoặc thường nghe cách xưng hô tréo ngoe: một đằng là em, một đằng là chú... Ban đầu cũng thấy hơi tự ái nhưng rồi chú cũng thông cảm vì người ta không biết. Quan trọng là mình sống sao cho thật hạnh phúc để mọi người nhìn vào thấy vợ chồng xứng đôi”. CT,8-7-2011 4. Không chỉ lợi dụng chủ xe sơ hở để trộm, băng nhóm này còn thực hiện nhiều vụ lấy xe máy khá liều lĩnh. Khoảng 1 giờ đêm một ngày tháng 2-2011, Khanh và Đức Anh đi bộ tìm tài sản để trộm. Khi đến gần hẻm 17, đường Trần Hoàng Na, thấy một thanh niên đang đứng tiểu bên đường, chiếc xe máy dựng kế bên, chìa khóa để sẵn trên xe, hai đối tượng lập tức nhảy lên xe nổ máy chạy đến bán cho Hiển với giá 1 triệu đồng. 1 giờ đêm một ngày đầu năm 2011, Khanh và đối tượng tên Huy đi bộ tìm tài sản để trộm. Khi đến chợ Tầm Vu thấy một người thanh niên nhậu say nằm ngủ trên sạp ở chợ, xe gắn máy dựng gần bên, hai đối tượng dẫn xe đi một đoạn và bứt dây điện ổ khóa rồi nổ máy chạy đến bán cho Hiển với giá 500 ngàn đồng... CT,2-7-2011 5. Sau khi nghe hướng dẫn, phân công nhiệm vụ, một nhóm tình nguyện viên nhanh chóng len lỏi vào dòng người tham dự lễ ra quân chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè để phát tờ bướm tuyên truyền, một nhóm tỏa đi vận động các hộ dân trên hai bên đường Ba Tháng Hai ký cam kết không lấn chiếm lòng đường, nhóm còn lại thì đứng chốt cùng lực lượng cảnh sát giao thông phân luồng tại các điểm giao thông quan trọng trên địa bàn quận. Đoàn viên Lý
  • 142. 137 Phúc Vinh, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, cầm xấp tờ bướm tuyên truyền Luật Giao thông đường bộ đến phát cho từng sinh viên. Vinh giải thích: “Lực lượng sinh viên tình nguyện tham gia hỗ trợ cho kỳ thi đại học, cao đẳng rất đông và thường xuyên tham gia giao thông. Các bạn cần hiểu rõ Luật Giao thông đường bộ thì mới hỗ trợ tốt cho các phụ huynh, thí sinh; đồng thời tiếp sức với các lực lượng để đảm bảo cho giao thông được thông suốt, an toàn...”. CT,1-7-2011 6. Rời xã Thạnh Quới, chúng tôi đến tuyến đường bê-tông dài 1.350 m (đi qua hai ấp Lân Quới 1 và Qui Long) ở bờ Bắc Cái Sắn của xã Thạnh Mỹ. Ông Hồ Văn Phú, Trưởng Khối vận xã Thạnh Mỹ chia sẻ: “Công trình được thực hiện theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” với kinh phí đầu tư trên 200 triệu đồng. Chúng tôi dựa vào các cụ cao niên, các chức sắc tôn giáo để phối hợp vận động nhân dân. Về phía Đảng ủy xã, đích thân đồng chí Bí thư Đảng ủy trực tiếp đến gặp gỡ, chủ trì các cuộc họp dân để triển khai chủ trương, kế hoạch và ghi nhận ý kiến đóng góp của nhân dân”. Anh Nguyễn Lê Dũng, ở ấp Lân Quới 1, cho biết: “ Khi nghe các cụ cao tuổi trong ấp đến vận động làm đường, tôi rất tâm đắc với chủ trương này. Dù phải đi mượn thêm mới đủ 2,8 triệu đồng để đóng góp nhưng tôi rất sẵn sàng”. Theo ông Hồ Văn Phú, cũng nhờ các vị chức sắc tôn giáo nhiệt tình ủng hộ, đứng ra vận động những người có kinh nghiệm trực tiếp xây dựng đường, nên giá thành xây dựng giảm hơn nhiều so với mức dự kiến. Khi thực hiện công trình, bà con cũng đã đề nghị xã mua 2 máy trộn hồ và máy dầm đá trị giá gần 20 triệu đồng để tự xây dựng tuyến đường. Các phương tiện này sau đó dùng để thực hiện các công trình khác của địa phương. Đồng thời, bên cạnh sắm thêm các dụng cụ làm đường, địa phương còn tận dụng lực lượng nhân công tại chỗ, nên giá thành xây dựng mỗi mét tới từ 360.000 đồng giảm còn 220.000 đồng, thậm chí sau này chỉ còn 190.000 đồng. Xã cũng đã thành lập Ban giám sát
  • 143. 138 gồm 7 người để giám sát thi công mỗi ngày, đảm bảo đúng thời gian và kỹ thuật. Chị Lê Thị Cẩm Vân, ấp Lân Quới 1, cho biết: “Những ngày làm đường, bà con người thì góp công, người góp phương tiện, trên dưới đồng lòng nên công trình sớm hoàn thành”. Ngoài đóng góp tiền xây dựng tuyến đường, bà con còn đóng góp trên 1.000 ngày công lao động và hiến đất, hoa màu trị giá hàng trăm triệu đồng. Công trình xây dựng đường giao thông Bắc Cái Sắn của xã Thạnh Mỹ cũng được UBND thành phố tặng bằng khen mô hình “Dân vận khéo” năm 2010. Ông Hồ Văn Phú, Trưởng Khối vận xã Thạnh Mỹ cho biết thêm, trong năm 2010, xã Thạnh Mỹ còn xây thêm 2 cây cầu trị giá 77 triệu đồng và trên 200 ngày công lao động; còn từ đầu năm 2011 đến nay, xã đã vận động bà con xây mới 3 cầu bê-tông, trị giá trên 213 triệu đồng và gần 300 ngày công lao động... CT, 27-6-2011 7. Trước đây vợ chồng chị Ngọc - anh Khen sống ở phường Tân An, Ninh Kiều. Năm 1987, cha mẹ chồng già yếu, người em út của anh Khen công tác ở xa nên anh chị dọn về gần nhà cha mẹ ruột của anh Khen (nay thuộc phường Phú Thứ, quận Cái Răng), để tiện việc chăm sóc cho cha mẹ. Năm đó, con trai đầu lòng của anh chị mới được 5 tuổi. Chị Ngọc nhớ lại: “Lúc bấy giờ kinh tế gia đình rất khó khăn, thu nhập chủ yếu là nhờ vào hoa lợi từ mấy công vườn tạp. Hàng ngày, tôi mang trái cây, rau cải ra chợ bán và phải mang con theo vì ông bà đã già yếu, ông xã tôi thì lo vườn tược, đi soi cá bống kiếm thêm thức ăn hàng ngày, hoàn cảnh túng thiếu vô cùng...”. Anh Khen tiếp lời vợ: “Thời gian đó, cha tôi bệnh nặng nằm một chỗ, việc chăm sóc cha đều do vợ tôi gánh vác. Ai cũng khen vợ tôi phụng dưỡng cha mẹ chồng rất chu đáo cho đến khi cha mẹ tôi qua đời”. Dù cuộc sống chật vật, anh chị luôn động viên nhau cố gắng vượt qua khó khăn, cùng lo cải tạo vườn tược và chăn nuôi heo. Trong quá trình cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn trái, chị tranh thủ trồng
  • 144. 139 xen rau màu để “lấy ngắn nuôi dài”. Năm 1990 chị sinh thêm con gái, tuy việc chăm sóc, dạy dỗ 2 con nhỏ vất vả nhưng chị luôn đảm đang cùng chồng làm lụng, chăn nuôi để phát triển kinh tế gia đình. Năm 2006, khi kinh tế gia đình dần ổn định, vườn cây ăn trái cho thu nhập khoảng 40 triệu đồng/năm, chị bắt đầu tham gia công tác phụ nữ ở khu vực, được hội viên tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng. Trong công tác, chị Ngọc luôn gần gũi, quan tâm giúp đỡ hội viên, nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ và nhận được nhiều giấy khen. CT,17-6-2011 8. Từ thực tế trên, Ban ATGT TP Cần Thơ đã kết hợp với Cục đường thủy nội địa Việt Nam, Ban ATGT quận Thốt Nốt, Ô Môn và huyện Phong Điền tổ chức trao cặp phao cứu sinh và áo phao cho 350 học sinh thường đi học bằng đò dọc, đò ngang, ở các trường: Tiểu học lộ Vòng Cung, Tiểu học Nhơn Ái II (thuộc huyện Phong Điền) và các Trường tiểu học, THCS ở quận Ô Môn, Thốt Nốt. Mỗi cặp phao cứu sinh và áo phao trị giá từ 70.000 đồng đến 200.000 đồng, trích từ nguồn ngân sách Cục đường thủy nội địa Việt Nam và Ban ATGT TP Cần Thơ. Đây là việc làm rất ý nghĩa nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe cho học sinh và tạo thói quen để học sinh ý thức mặc áo phao mỗi khi tham gia giao thông trên tuyến đường thủy nội địa. CT,17-6-2011 9. Chị Thanh xuất thân trong một gia đình nghèo, đông anh em ở quận Ninh Kiều. Cha mất sớm, vì hoàn cảnh khó khăn, chị nghỉ học đi làm phụng dưỡng mẹ. Các chị lập gia đình, mỗi người một nơi, ai cũng nghèo nên không giúp được gì cho nhau. Năm 1986, chị lập gia đình với anh Tô Văn Hóa, bạn gần nhà, làm nghề chạy xe ôm. Từ khi có chồng, chị Thanh nghỉ làm ở xưởng bánh kẹo, lo việc nội trợ, chăm sóc chồng con, mẹ già. Để đỡ đần kinh tế với chồng, chị Thanh mày mò học sửa quần áo. Được người quen cho chiếc bàn máy may cũ, chị nhận đồ khách về sửa. Làm cẩn thận, giá rẻ nên chị được
  • 145. 140 nhiều mối gởi hàng làm. Đêm nào chị cũng thức đến khuya sửa đồ, dọn dẹp nhà cửa. Mỗi tối đặt mình xuống giường, điều đầu tiên chị nghĩ là bài toán chợ búa cho cả nhà vào ngày tới trong khoảng 30.000 đồng rồi mới yên tâm chợp mắt. Khoảng 4 giờ sáng chị đã thức, giúp mẹ làm vệ sinh, nấu cháo trắng cho mọi người ăn sáng rồi bắt tay vào những công việc thường nhật. CT,12-6-2011 3. TỪ ĐỊA PHƯƠNG 1. Chuyện về nghề "phá núi" ở Hòn Sóc Hòn Sóc, một trong bốn ngọn núi ở huyện Hòn Đất (tỉnh Kiên 07/2011 Giang), rộng 117 ha nhưng có đến hơn 95 ha đang bị hàng chục doanh nghiệp thẳng tay nổ mìn để khai thác đá. Dưới chân Hòn Sóc thuộc địa bàn xã Thổ Sơn, nghề xẻ đá đang phát đạt với hàng ngàn lao động, nhưng chẳng ai màng đến chuyện hiểm nguy. Mới tờ mờ sáng mà tiếng đục đá đã vang lên trên các bãi xẻ đá dọc theo con đường nhựa từ thị trấn Hòn Đất chạy vào núi Hòn Sóc. Những người phu đá da đen cháy vì phơi nắng gió lâu ngày cắm cúi căng dây làm chuẩn đưa búa đập lên những cây đục bằng thép. Theo từng nhát búa, cây đục cắm sâu vào những thớ đá xanh, chậm rãi tách phiến đá to đùng ra thành từng thanh dài theo kích thước đã định sẵn. Ông Châu Kha, một thợ đục đá có thâm niên hơn 20 năm làm nghề, quê ở huyện Tri Tôn (tỉnh An Giang), nói: “Thợ xẻ đá làm ăn sản phẩm, đục được một thanh đá 4 cạnh từ 15 cm đến 20cm, cứ đo chiều dài, mỗi mét chủ bãi trả công 5.500 đồng”. Ông Kha kể, hồi mới có các công trường khai thác đá ở Hòn Sóc, các chủ doanh nghiệp phải chạy qua miệt Thất Sơn (tỉnh An Giang) thuê thợ xẻ đá về làm, trả công cán rất hậu hỉ, bởi lúc đó cư dân địa phương chẳng ai biết nghề. Lâu ngày, người Hòn Sóc thấy người Thất Sơn làm ăn được nên đến các bãi xẻ đá học nghề, tới nay thì tay nghề ngang ngửa nhau. Nhưng theo ông
  • 146. 141 Nguyễn Quốc Đoàn, Chủ tịch UBND xã Thổ Sơn, dưới chân Hòn Sóc hiện nay ở các bãi xẻ đá đang có hơn 1.000 lao động làm việc, trong đó chỉ có chừng 40% là lao động của địa phương, số còn lại là dân Thất Sơn qua tạm trú làm nghề. “Từ một phiến đá lớn xẻ ra những thanh đá nhỏ không phải dễ ăn. Thợ xẻ đá chuyên nghiệp chỉ cần liếc qua khối đá là xác định được mạch đá, từ đó dễ dàng căng mực, đục chẻ ra từng thanh. Người giỏi, mỗi ngày có thể đục được 50m, kiếm được hơn 200.000 đồng. Nhưng dân mới vô nghề không xác định được mạch đá, cả ngày đục chưa được 10m, còn làm bể vụn tảng đá, bị chủ bắt đền”, ông Kha nói. Những người phu xẻ đá ở Hòn Sóc nói, vì không có ruộng đất nên họ phải đeo theo nghề đá, tiền công hiện nay rẻ như bèo. “Nhiều người thấy thợ xẻ đá cuối ngày làm việc lãnh tiền công 100.000 đồng- 200.000 đồng/ngày/người thì cho rằng nghề đá mau giàu. Nhưng họ đâu biết để chẻ được một thanh đá người thợ phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”, nhiều khi búa đập vào tay bật máu tươi, tiền công chỉ có 5.500 đồng/mét trong khi chủ bãi bán ra thị trường giá 50.000 đồng- 70.000 đồng/mét”, anh Minh, thợ xẻ đá ở ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn, nói. Chỉ tay về phía những túp lều tạm bợ, xập xệ nằm rải rác quanh chân Hòn Sóc, anh Minh cho biết đó là nơi tạm trú của những tốp phu đá từ Thất Sơn qua làm ăn. Do hiện nay đội quân xẻ đá đông đúc nên tiền công của các chủ bãi ngày càng rẻ, nhưng những người phu đá vẫn cắn răng làm việc. “Bất kể ngày nắng hay mưa, hễ chủ bãi kêu là thợ phải xách búa, xách đục ra làm việc. Nếu không làm thì sẽ có người khác nhảy vô thế chỗ ngay tức khắc, coi như mất việc”, ông Kha nói. Những người thợ xẻ đá ở Hòn Sóc luôn miệng than, đổ mồ hôi, đổ máu làm việc cực khổ, công xá rẻ mạt nên chẳng tích lũy được. Nhưng ông Nguyễn Quốc Đoàn nói, một ngày thợ đá thu nhập 100.000 đồng- 200.000 đồng mà không tích cóp, dành dụm được tiền là vô lý. “Lâu nay ở các bãi đá vẫn tồn tại
  • 147. 142 dai dẳng nhiều tệ nạn, tình hình trật tự trị an rất phức tạp. Chồng suốt ngày quần quật ngoài bãi đá kiếm tiền, chiều về nhậu nhẹt say sưa, trong khi vợ ở nhà tụ tập đánh bài ăn tiền... Hầu như tháng nào công an xã cũng xử lý vài vụ cờ bạc, đánh ghen, nhậu say gây rối. Cứ như vậy thì làm sao mà khá lên cho được”, ông Đoàn nói. Theo Sở Xây dựng tỉnh Kiên Giang, hiện nay quanh núi Hòn Sóc có đến 10 doanh nghiệp được cấp phép khai thác đá, trữ lượng cho phép khai thác lên đến hơn 25.000.000m3. Đó là chưa kể hơn chục bãi đá khai thác tự phát của cư dân địa phương. Bà Võ Ngọc Thứ, Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội Kiên Giang, cho biết dù khai thác đá là một nghề hết sức nguy hiểm nhưng tình trạng bảo hộ lao động ở các mỏ đá rất kém. “Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có hơn 3.000 lao động làm việc ở các mỏ đá, nhưng 10 người làm nghề khai thác đá thì hết 9 người không thèm trang bị bảo hộ lao động, dù các cơ quan hữu trách thường đến kiểm tra, nhắc nhở”, bà Thứ nói. Những người thợ đá ở Hòn Sóc, dụng cụ hành nghề chỉ là vài chiếc đục lớn nhỏ bằng thép và chiếc búa, nón vải, chân trần, lâu lâu mới thấy một người mang được đôi găng tay bảo hộ lao động. Mỗi nhát đục chạm vào phiến đá, vụn đá bắn ra xung quanh rào rào, nhưng chẳng thấy phu đá nào mang kính bảo vệ mắt. “Ở đây, chuyện đập búa vào tay, đá vụn văng vào mắt xảy ra như cơm bữa, riết rồi thợ nào cũng quen”, ông Châu Kha nói. Theo ông Nguyễn Quốc Đoàn, từ trước đến nay khi xảy ra tai nạn nghiêm trọng, phu đá bị thương tật nặng hoặc mạng vong, nếu các chủ mỏ đá, bãi đá có thông báo thì UBND xã mới biết. “Nếu chủ mỏ ém nhẹm tai nạn để tự thỏa thuận bồi thường với nạn nhân thì UBND xã và các cơ quan hữu trách cũng mù tịt. Những tai nạn nhỏ như đá bắn vào mắt, đập búa giập tay, chân, đá lăn đè gây thương tích xảy ra hà rằm... nhưng UBND xã vô phương thống kê vì không ai báo cáo”, ông Đoàn nói. Ông Nguyễn Thiện Tấn, Thanh tra sở LĐ-TB&XH Kiên Giang, cho biết
  • 148. 143 khi kiểm tra an toàn lao động thì thợ đá nói trang bị bảo hộ lao động cồng kềnh, vướng víu và nóng bức, làm việc giảm năng suất nên họ không sử dụng; còn chủ mỏ đá thì trả lời lửng lơ: có trang bị bảo hộ nhưng phu đá không chịu sử dụng, rốt cuộc các cơ quan hữu trách chẳng phạt vạ được ai. Những người phu đá ở Hòn Sóc không ai quên được những tai nạn kinh hoàng ập xuống đầu thợ đá. Ngày 14-10-2010, ông Trịnh Phúc ở ấp Bến Đá bị đá đè chết tại mỏ Chín Hải. Tháng 5-2010, ông Nguyễn Văn Quy ở ấp Hòn Sóc bị băng chuyền tải đá nghiến mất một cánh tay. Tháng 3-2010, ông Đặng Đồng Khởi ở ấp Bến Đá cũng thiệt mạng trong khi khai thác đá. Ông Đoàn nói, từ năm 2005 đến nay, ở các mỏ đá quanh chân núi Hòn Sóc năm nào cũng xảy ra nhiều vụ tai nạn chết người. “Người ta khai thác đá thì lấy dần dần từ trên ngọn xuống chân núi, còn mấy ông thợ đá ở Hòn Sóc cứ moi từ dưới chân núi lên, nên sụp mỏ, đá đè chết người là chuyện tất yếu phải xảy ra. Vụ tai nạn chết người kinh hoàng nhất xảy ra năm 2008, do khai thác sai quy trình nên nguyên một khối núi đổ ụp xuống đầu công nhân đang làm việc làm 4 người chết tại chỗ, trong đó có hai cha con ông chủ mỏ đá”, ông Đoàn cho biết. Theo bà Võ Ngọc Thứ, hiện nay tình hình an toàn lao động ở các mỏ đá rất lộn xộn, người không có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn cũng ào ào đi khai thác đá, nên đã xuất hiện tình trạng các chủ mỏ đá đi thuê bằng cấp của các kỹ sư địa chất để qua mặt các cơ quan hữu trách khi bị kiểm tra, giống như tiệm thuốc tây thuê bằng của dược sĩ. Dù các cơ quan hữu trách của tỉnh Kiên Giang đã làm hết cách yêu cầu phu đá sử dụng bảo hộ lao động để tự bảo vệ thân thể, tính mạng nhưng hàng ngàn thợ đá ở Hòn Sóc và các mỏ đá khác vẫn “vô tư”, ngày ngày nón vải chân trần lăn xả vào đá núi để đổi lấy chén cơm manh áo. “Trời kêu ai nấy dạ, thương tật, chết chóc do đá gây ra cũng là cái nghiệp chướng của nghề phá sơn lâm”, ông Châu Kha nói.
  • 149. 144 CT, 22-4-2011 2. Sức mạnh tình yêu Tôi từng nghe câu nói: “Có sức mạnh tình yêu, người ta có thể làm nên những điều kỳ diệu”, và khi được làm quen với người thương binh ¼ Trần Thanh Tùng ở khu vực Thới Bình, phường Phước Thới, quận Ô Môn, tôi mới thấu hiểu hết ý nghĩa. Có tình yêu Tổ quốc, anh sẵn sàng xông pha trận mạc, không màng mạng sống; có tình yêu với người bạn đời, anh vượt qua nghịch cảnh, xây đắp gia đình hạnh phúc. Đó chính là sức mạnh của tình yêu. Trên con rạch Bằng Lăng (thuộc khu vực Thới Bình, phường Phước Thới, quận Ô Môn) sau cơn mưa chiều, tôi gặp anh đang bơi xuồng gỡ mấy tay lưới giăng cá đối. Anh nói rằng, dạo này kinh rạch ít cá tôm, chỉ đủ cho bữa cơm chiều và không quên mời tôi ở lại “ăn ba hột”. Tỉ mẩn cột xuồng vào cây bần dưới bến, anh lấy hai chiếc ghế đặt lên bờ rồi khẽ khàng lấy tay đặt mình lên ghế, di chuyển một cách nhanh nhẹn. Gương mặt người đàn ông đã 46 tuổi nhưng vẫn trẻ trung, hay cười khiến tôi có cảm giác thân thiện ngay từ cái nhìn đầu tiên. Cuộc trò chuyện của tôi và anh Tùng bắt đầu từ công việc giăng lưới, cắm câu mấy chục năm qua của anh trên dòng Bằng Lăng này. Nghe vợ định nấu nồi bánh canh đãi khách, anh Tùng nói tôi ngồi uống trà chờ anh chốc lát. Không thể tin là người thương binh đôi chân đã cụt gần đến háng vẫn thoăn thoắt trèo cây dừa cao hàng chục thước hái dừa cho vợ làm bánh. Đôi tay anh bám chặt thân dừa, đôi chân còn sót lại chưa đầy gang tay vẫn cố quờ quạng bám lấy thân dừa. Sự mất mát ấy tính ra đã 26 năm rồi nhưng trong vô thức, dường như anh vẫn chưa chấp nhận mình đã mất đôi chân từng vạn dặm trèo núi băng rừng trên đất nước Chùa Tháp. * * *
  • 150. 145 Trời chiều lại đổ mưa, càng lúc càng nặng hạt và tạt vào căn bếp trống huơ. Anh Tùng hớp từng ngụm trà nóng, kể cho tôi nghe về 18 tháng ngắn ngủi được làm lính của mình. Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy tuy đã lùi xa nhưng anh Tùng nhớ rành rọt như một ký ức đẹp, khó phai. Năm 1985, Trần Thanh Tùng tình nguyện nhập ngũ, khi ấy anh vừa tròn 18 tuổi. Sau 5 tháng huấn luyện ở Đồng Dù, anh lên đường cùng đoàn quân tình nguyện Việt Nam sang làm nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia. Trở thành lính công binh, đơn vị đóng quân ở tỉnh Pôsát, nhiệm vụ của anh Tùng cùng đồng đội là lội suối băng rừng, trèo đèo vượt núi trên khắp đất nước Chùa Tháp để rà phá, tháo gỡ bom mìn, trả lại sự bình yên, giúp người dân nước bạn an tâm cày cấy và mở đường cho bộ đội tiến công tiêu diệt bọn Pôn-pốt. 13 tháng dạn dày ngược xuôi, anh Tùng đã thấu tỏ những cực khổ, gian nan mà cũng lắm tự hào của đời lính. Cái cảm giác ở tuổi ngấp nghé đôi mươi được cống hiến cho sự nghiệp quốc tế vĩ đại cứ thôi thúc anh tỉ mẩn tìm gỡ bom mìn. Nhưng rồi một ngày của mùa khô năm 1986, trong một lần mở đường cho bộ đội tiến công vào khu vực Tam giác, gần biên giới Thái Lan, anh giẫm phải mìn. Phút giây kinh hoàng xảy ra trong nháy mắt nhưng làm thay đổi cuộc đời anh, đôi chân anh vĩnh viễn nằm lại nơi rừng sâu. Bất giác nhìn xuống cơ thể mình, anh Tùng nói: “Lúc đó, tôi chỉ biết la một tiếng thất thanh rồi lịm đi...”. Sau một thời gian điều trị và an dưỡng, anh Tùng trở về quê nhà, về lại dòng sông bến nước Bằng Lăng trên chiếc xe lăn. Anh trở thành thương binh ¼, vĩnh viễn mất 95% sức lao động. 18 tháng quân trường ngắn ngủi nhưng đến bây giờ, anh Tùng vẫn yêu đời lính, bởi tình cảm tốt đẹp mà đồng đội dành cho nhau. Những đêm dừng chân, những giờ giải lao, đồng đội lại kể cho nhau nghe về gia đình, làng quê, chuyện người yêu ở quê nhà hẹn “hoàn thành nghĩa vụ quốc tế về mới tính chuyện cưới xin”... Anh Tùng vẫn thường kể cho đồng đội nghe về dòng
  • 151. 146 Bằng Lăng quê nhà đầy ắp cá tôm, kể về cha mẹ đang chờ ở quê nhà và câu nói của 6 đứa em thơ: “Anh Hai đi bộ đội oai thiệt!”, trong niềm mong nhớ, tự hào... Vừa lùa mấy con gà tre vào chuồng, anh Tùng vừa kể: “Qua Campuchia, tôi bị sốt rét rừng tới ba lần đó chớ, nhưng được các anh chị quân y chăm sóc tận tình lắm, nhất là đồng đội luôn yêu thương, quan tâm nhau như thể anh em ruột. Tình cảm đó đến giờ tôi chưa phút nào quên”. Ngay như trong lần đạp mìn phá cụt chân, anh được đồng đội hết lòng chăm lo, an ủi và nhiều người đã rơi nước mắt với nỗi đau thể xác của anh. Cũng từ đó mà những tháng ngày trải đời lính, anh thấu hiểu sâu sắc hai từ “đồng đội”. * * * Nghe chuyện anh kể, thấy chuyện anh làm, tôi trầm trồ thán phục, nhưng anh cười ý nhị: “Không có vợ tôi chắc tôi đầu hàng số phận rồi”. Những ngày giải ngũ về quê, anh Tùng gắn chặt trên chiếc xe lăn, sống khép kín, mặc cảm. Thấy bạn bè cùng trang lứa có vợ đẹp con ngoan, làm lụng chăm lo cuộc sống gia đình, anh chạnh lòng. Rồi trong những lần được bạn đẩy xe lăn lên chợ Ô Môn chơi, như một duyên tiền định, anh gặp chị Nguyễn Thị Đức – người đã nguyện cùng anh đắp xây hạnh phúc. Khi ấy anh vừa tròn 22 tuổi. Được sự động viên của chị Đức, anh Tùng đóng ghế tập đi. Anh đặt một ghế lên trước rồi dùng sức của đôi tay nâng cơ thể lên ghế, sau đó chuyển cái thứ hai lên trước... Cứ thế, từng bước, từng bước đầy khập khiễng và nhọc nhằn, do không có thăng bằng nên hễ giơ ghế lên là đầu trút xuống đất: u đầu, chảy máu không biết bao nhiêu lần. Rồi chị đứng sau lưng anh, nắm vai anh để làm điểm tựa. Từng bước chân nhọc nhằn của anh Tùng, có chị dõi theo. Nhờ vậy mà anh đã rời chiếc xe lăn, tự di chuyển, lo sinh hoạt hằng ngày. Với anh Tùng, mỗi niềm vui trong đời đều có hình bóng người vợ một đời tần tảo.
  • 152. 147 Chị là đôi chân để anh bước. Chị là hạnh phúc để anh tìm. Và cũng chính chị đã vì anh, cùng anh sau bao ngày “gừng cay muối mặn”. Vợ chồng lập nghiệp, vốn liếng duy nhất là nền nhà chưa đầy nửa công đất. Vốn là người con của sông nước, giỏi bơi lội từ nhỏ nhưng giờ anh không thể lội vì đầu cứ cắm xuống vì do không chân để giữ thăng bằng. Chị lại làm trụ đứng để anh ôm eo mà tập. Bà con đi qua lại cười mà ngán ngại, với lời nhận xét: “Hai đứa này gan thiệt, sống nhờ tình yêu!”. Vậy rồi anh cũng có thể bơi hàng trăm mét trên sông, nhanh nhẹn và chính xác như bao người khác. Anh sắm xuồng câu, ngày ngày bơi dọc tuyến rạch Bằng Lăng, giăng lưới, cắm câu, đặt lọp nuôi sống gia đình, dầu mưa, dầu nắng. Biết vợ, con cần mình anh Tùng không cho phép mình dừng lại. Anh tiếp tục hành trình tìm hạnh phúc. Con rạch Bằng Lăng những năm 90 tôm cá cạn dần, ốc hến cũng ít, do bị ô nhiễm. Anh “lên bờ” học nghề đan bội, thúng, nia và nghề mộc. Chị Đức nói gọn lỏn nhưng không dấu vẻ tự hào: “Không có đôi chân nhưng đôi tay ảnh nhanh lắm, nhìn là học được ngay. Nghề đan với mộc này đâu có ai dạy, ảnh học lóm không đó chớ. Đâu phải ai lành lặn cũng làm được như ảnh”. Chẳng vậy, anh còn nuôi thêm gà thịt, gà kiểng và trồng mai vàng để giúp gia đình có thêm thu nhập. Chị Đức cũng bỏ nghề vạn chài, tìm lên khu công nghiệp Trà Nóc xin làm công nhân. Cuộc sống gia đình tuy thiếu thốn nhưng đầy ắp tiếng cười. Tôi nhớ hoài câu nói của anh: “Cuộc đời nếu cánh cửa này đóng thì vẫn có cánh cửa khác mở. Hãy cố gắng thực hiện ước mơ, đừng buông xuôi!”. Gian nan bước qua từng khúc quanh của đời người nhưng niềm động viên của anh chị chính là hai đứa con. Con trai lớn của anh là Trần Quốc Hận, sau khi học nghề đã làm tài xế cho một công ty và đã kết hôn. Còn cô con gái Trần Thị Cẩm Hồng sắp vào lớp 9, học sinh khá của Trường THCS Lê Lợi (quận Ô Môn). Chị Đức khoe, vợ chồng rất vui và chờ đợi vì sắp lên chức ông bà nội.
  • 153. 148 Mấy tháng nay anh Tùng bị cao huyết áp, người hay mệt mỏi nên chị Đức và các con khuyên anh ở nhà nghỉ ngơi. Đành vậy! Nhưng việc nội trợ từ bếp núc, giặt giũ, quét dọn nhà cửa, anh Tùng làm rất ngăn nắp, sạch sẽ. 26 năm sống không có đôi chân nhưng anh có đôi tay vạn dặm. Chính đôi tay này đã nâng đỡ đời anh. Chính đôi tay ấy đã dắt dìu gia đình đến bến bờ hạnh phúc. Và đôi tay ấy đã nâng cánh những ước mơ của mái ấm này. Ông Đào Văn Thắm, Trưởng Khu vực Thới Bình, nói rằng: “Nghị lực của anh Tùng lớn lắm, đúng với câu “thương binh tàn nhưng không phế”. Nhất là anh đã xây dựng được một mái ấm hạnh phúc, con cái thảo hiền. Tấm gương vượt khó của anh thật xứng đáng để người dân khu vực chúng tôi học tập”. Cuộc sống gia đìnhanh bây giờ tuy không dư dả nhưng đã ổn định, không còn lo cái ăn cái mặc như ngày nào. Với anh, đó là hạnh phúc! Thứ hạnh phúc mà người thương binh ấy đã phải truân chuyên, vất vả lắm để mưu cầu. Chia tay vợ chồng anh Tùng trong căn nhà nhỏ bên rạch Bằng Lăng khi trời đã nhá nhem tối, chia tay những con người nhỏ bé mà nghị lực thật lớn lao, ra về trên con đường đá lởm chởm, dằn xốc của khu vực Thới Bình, bất giác tôi hình dung con đường vợ chồng anh Tùng, chị Đức đã đi qua... CT,30-7-2012 4. VĂN BẢN TIN TỨC 1. TP Cần Thơ thông qua kế hoạch xúc tiến đầu tư - thương mại - du lịch năm 2013 Thứ sáu, 21/09/2012 22 giờ 00 GMT+7 (CT)- Ngày 21-9-2012, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống đã có buổi làm việc với Trung tâm Xúc tiến Đầu tư-Thương mại-Du lịch TP Cần Thơ cùng các sở, ngành hữu quan thành phố về kế hoạch xúc tiến đầu tư- thương mại- du lịch năm 2013. Theo Trung tâm Xúc tiến Đầu tư-Thương mại-Du lịch TP Cần Thơ, năm 2013 trung tâm sẽ tập trung đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào các dự án phát triển cơ sở
  • 154. 149 hạ tầng và công nghiệp tại thành phố; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ở nội địa và xuất khẩu, xúc tiến phát triển các loại hình du lịch thế mạnh của TP Cần Thơ. Theo kế hoạch, trung tâm sẽ có các hoạt động xúc tiến, tăng cường hợp tác đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu các mặt hàng giữa TP Cần Thơ với các nước như: Hàn Quốc, Hà Lan. Mặt khác, có các hoạt động hội chợ triển lãm thương mại tại Campuchia, Lào và các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn và khu công nghiệp trên địa bàn thành phố… Kết nối với các địa phương trong các hoạt động xúc tiến du lịch và hỗ trợ phát triển du lịch thành phố. Tại cuộc họp, các sở ngành thành phố đã cơ bản thống nhất với kế hoạch này. Trong đó trọng tâm đẩy mạnh kêu gọi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, công nghiệp và du lịch tại thành phố, đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống đã yêu cầu Trung tâm Xúc tiến Đầu tư-Thương mại-Du lịch TP Cần Thơ tiếp thu các ý kiến đóng góp và hoàn thiện bản kế hoạch để trình UBND thành phố phê duyệt. KHÁNH TRUNG 2. Tăng cường tập huấn nghiệp vụ về công tác đốingoại nhân dân Thứ bảy, 22/09/2012 08 giờ 19 GMT+7 (CT) – Ngày 21-9-2012, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) phối hợp với Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị TP Cần Thơ tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác đối ngoại nhân dân năm 2012. 80 cán bộ, công chức, viên chức phụ trách công tác đối ngoại đang công tác tại các sở, ban, ngành, đoàn thể, cán bộ các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn thành phố, các đơn vị sự nghiệp đang thực hiện các chương trình dự án có nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã tham gia lớp tập huấn.
  • 155. 150 Trong 1 buổi tập huấn, các học viên được học tập, quán triệt các nội dung về công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; báo cáo tổng quan về công tác phi chính phủ nước ngoài, định hướng công tác phi chính phủ nước ngoài những năm tới; các quy định pháp lý có liên quan;… Trước đó, chiều ngày 20-9-2012, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị TP Cần Thơ cũng đã tổ chức buổi tập huấn về nâng cao năng lực cho cán bộ vận động và tổ chức thực hiện dự án phi chính phủ nước ngoài. Hơn 30 cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các Sở, ban, ngành, đoàn thể, các đơn vị sự nghiệp đang thực hiện các chương trình dự án có nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tham dự lớp được trang bị các nội dung về kỹ năng viết dự án; giao tiếp đàm phán và kinh nghiệm vận động viện trợ các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. H. VÂN 3. Mạnh dạn cải cách thủ tục hành chính phù hợp thực tiễn, đúng quy định pháp luật Thứ sáu, 21/09/2012 21 giờ 59 GMT+7 (CT)- Đó là ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, trong buổi làm việc với Sở Nội vụ về công tác thực hiện cải cách hành chính (CCHC) 9 tháng đầu năm 2012 và triển khai nhiệm vụ trong những tháng cuối năm. Trong 9 thánh đầu năm 2012, các ngành, các cấp tập trung chỉ đạo việc xây dựng và triển khai công tác CCHC. Đến nay đã có 9/9 quận, huyện; 18/22 sở, ngành đã ban hành chương trình tổng thể CCHC trong 10 năm và 64/85 đơn vị ban hành kế hoạch CCHC năm 2012. Tất cả các sở, ngành, UBND các cấp đều thực hiện tốt việc niêm yết, công khai thủ tục hành chính (TTHC). 9 tháng qua, mô hình Một cửa liên thông tại các sở, ban ngành TP Cần Thơ tiếp nhận và giải quyết 565 hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp mới, với tổng
  • 156. 151 vốn gần 4.997 tỉ đồng; mô hình Một cửa ứng dụng công nghệ thông tin tại 9/9 quận, huyện đi vào hoạt động nề nếp, tiếp nhận trên 42.500 hồ sơ, trong đó giải quyết đúng hẹn đạt tỷ lệ 96%,... Mô hình Một cửa liên thông, Một cửa hiện đại từ phường lên quận từng bước được nhân rộng... Ngoài ra, các TTHC được sở, ngành và UBND các quận, huyện rút ngắn thời gian giải quyết, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân… Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ biểu dương và ghi nhận những nỗ lực mà Sở Nội vụ đã thực hiện qua công tác kiểm tra, hỗ trợ các sở, ngành, các địa phương thực hiện có hiệu quả chương trình CCHC. Trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức tiếp cận và giải quyết TTHC cho cán bộ cấp cơ sở, tăng cường công tác thanh, kiểm tra tại các đơn vị, địa phương thực hiện CCHC; hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương, mạnh dạn thay đổi TTHC phù hợp thực tiễn, đúng quy định pháp luật... H.V 4. Khởi công Tổ máy số 2 Công trình Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I Thứ sáu, 21/09/2012 21 giờ 44 GMT+7 (CT)- Sáng 21-9-2012, tại TP Cần Thơ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phối hợp với Nhà thầu liên danh Daelim (Hàn Quốc) –Sojitz (Nhật Bản) tổ chức lễ khởi công xây dựng Tổ máy số 2 công trình Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I (phường Phước Thới, quận Ô Môn). Đến dự có Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành Ủy Cần Thơ; Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Nguyễn Thanh Sơn cùng Công sứ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và lãnh đạo các sở, ngành hữu quan TP Cần Thơ.
  • 157. 152 Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I được thiết kế gồm 2 tổ máy, tháng 7-2009, Tổ máy số 1 với công suất 330MW vận hành thương mại. Theo EVN, Tổ máy 2 do liên danh nhà thầu Daelim-Sojitz thực hiện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư (vay vốn ODA từ JICA). Tổ máy số 2 cũng có công suất 330MW, với tổng mức đầu tư 9.722 tỉ đồng. Đây là nhà máy nhiệt điện ngưng hơi truyền thống sử dụng 2 loại nhiên liệu là dầu FO và khí thiên nhiên, hoặc hỗn hợp dầu FO/khí thiên nhiên. Dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng vào năm 2015 sau 36 tháng xây dựng. Phát biểu tại lễ khởi công, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang đánh giá cao sự nỗ lực của EVN trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển mạng lưới điện theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011- 2020 và định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện cho miền Nam trong các năm tới, cũng như đảm bảo cung ứng điện năng phục vụ phát triển kinh tế cả nước. Để Tổ máy số 2 thực hiện đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng công trình, Thứ trưởng đề nghị các ban, ngành Trung ương và địa phương hết sức quan tâm hỗ trợ chủ đầu tư thực hiện dự án. Chủ đầu tư, đơn vị tư vấn (Công ty Tư vấn Điện lực Tokyo), liên danh nhà thầu… tiếp tục phát huy năng lực và kinh nghiệm của mình để hoàn thành dự án đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình và an toàn trong quá trình thi công dự án. Thứ Trưởng gởi lời cảm ơn Chính phủ Nhật Bản và JICA đã tạo điều kiện, hỗ trợ Việt Nam vay vốn ODA và hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ trong thời gian tới. Tin, ảnh: THU HOÀI 5. Các sở, ngành cần phối hợp chặt chẽ trong thực hiện công tác tài chính Thứ năm, 20/09/2012 22 giờ 20 GMT+7 (CT)- Đó là chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống trong cuộc họp về tình hình thực hiện công tác 9 tháng năm 2012 và kế hoạch
  • 158. 153 công tác quý IV/2012 của ngành tài chính (Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Cục Hải quan TP Cần Thơ và Cục thuế thành phố) sáng 20-9. Trong 9 tháng qua, các đơn vị thuộc Cục Hải quan thành phố đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật. Thời gian qua, công tác thu ngân sách trên địa bàn còn nhiều khó khăn, tính đến giữa tháng 9-2012 tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 4.341 tỉ đồng, đạt 50,72% dự toán HĐND thành phố giao. Theo Sở Tài chính, do giá nguyên nhiên liệu tăng cao, DN khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, lượng hàng tồn kho lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN kém hiệu quả, đây là những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến việc thu ngân sách nhà nước của thành phố thời gian qua. Ngoài ra, một số dự án đầu tư đang ngừng hoặc chậm triển khai như: Nhà máy Nhiệt điện Long Phú, khu kinh tế Định An… cũng ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu ngân sách của thành phố… Tại buổi họp, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống ghi nhận những nỗ lực của các sở, ngành trong việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đề ra. Tuy nhiên, do khó khăn chung của nền kinh tế, thành phố cũng bị ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch triển khai vốn. Đồng chí đề nghị trong quý IV, các sở, ngành thành phố cần phối hợp chặt chẽ để điều hành thực hiện nhiệm vụ- tài chính - ngân sách nhà nước tốt hơn. Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các sở, ngành, UBND quận, huyện tăng cường quản lý thu chi ngân sách nhà nước, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả; Cục thuế tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế các DN, tổ chức, cá nhân thu đúng, thu đủ các khoản thuế, phí…Về phía thành phố sẽ đề xuất những giải pháp cụ thể hỗ trợ các DN trên địa bàn tháo gỡ khó khăn, nhanh chóng ổn định sản xuất… THU HOÀI
  • 159. 154 6. TP CẦN THƠ Hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2012 Thứ năm, 20/09/2012 22 giờ 12 GMT+7 (CT)- UBND TP Cần Thơ vừa ban hành kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạchhơn năm 2012. Chủ đề của Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2012 là "Nơi sinh sống của chúng ta... Hành tinh của chúng ta... Trách nhiệm của chúng ta", được phát động và hưởng ứng trên phạm vi toàn cầu. Qua đó, TP Cần Thơ hưởng ứng chiến dịch này bằng các việc làm như: đẩy mạnh phong trào bảo vệ môi trường tại nơi ở, cơ quan, trường học, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các khu dân cư, các khu vực công cộng; thu gom, xử lý rác thải, nạo vét kênh, cống, rãnh thoát nước; các ngành chức năng tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm những hành vi gây ô nhiễm môi trường; tổ chức treo băng rôn, áp phích, khẩu hiệu về chủ đề môi trường tại các đường phố chính; phát động phong trào bảo vệ môi trường tại các cơ sở với chủ đề: Ngày chủ nhật xanh, Ngày thứ bảy tình nguyện, Ngày không sử dụng túi nilon; biểu dương, khen thưởng những cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có thành tích trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững... Đợt hưởng ứng này nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức cán bộ công chức và cộng đồng về bảo vệ môi trường, có ý thức chấp hành tốt Luật bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật. Phát động toàn dân tham gia phong trào bảo vệ môi trường, phòng ngừa và thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố bằng các hành động thiết thực để hưởng ứng Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn năm 2012. H.V 7. Làm việc tại TP Cần Thơ, Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và xã hội Phạm Thị Hải Chuyền: Quan tâm chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, gắn với nhu cầu xã hội và doanh nghiệp Thứ năm, 20/09/2012 22 giờ 11 GMT+7
  • 160. 155 (CT)- Ngày 20-9-2012, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) Phạm Thị Hải Chuyền đã có buổi làm việc với Trung tâm Chỉnh hình và phục hồi chức năng (CH&PHCN) Cần Thơ. Theo báo cáo của Trung tâm CH&PHCN Cần Thơ, Trung tâm hiện có 35 cán bộ, công chức viên chức, với chức năng khám, điều trị bệnh, chỉnh hình – phục hồi chức năng vận động, vận động trị liệu… Mỗi năm, Trung tâm cung cấp khoảng 700 dụng cụ chỉnh hình; khám và điều trị phục hồi chức năng khoảng 3.000 lượt người. Trong điều kiện cơ sở vật chất hư hỏng, xuống cấp, trang thiết bị máy móc quá hạn sử dụng, phải sửa chữa tạm thời, đội ngũ chưa đồng bộ, tuyển dụng nhân sự khó khăn… nhưng trung tâm vẫn hạ quyết tâm vượt khó, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, quan hệ tốt với các đối tác và địa phương… Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Phạm Thị Hải Chuyền đánh giá cao những đóng góp của tập thể cán bộ, công chức viên chức, đã nỗ lực khắc phục khó khăn, tận tụy chăm sóc, phục vụ điều trị cho bệnh nhân cũng như chia sẻ những khó khăn trong hoạt động của Trung tâm thời gian qua. Bộ trưởng nhấn mạnh, để góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, trung tâm được tiếp tục đầu tư thành trung tâm cấp khu vực, nhưng không đầu tư dàn trải mà có cân nhắc chọn lọc theo từng hạng mục cần thiết, với kế hoạch cụ thể, đồng bộ; song song với đào tạo đội ngũ cán bộ vững vàng về chuyên môn, đáp ứng tốt nhất nhu cầu điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân. Trong thời gian chờ đợi triển khai kế hoạch đầu tư nâng cấp, Trung tâm cố gắng vượt khó, để tiếp tục phục vụ tốt hơn nữa cho bệnh nhân. Chiều cùng ngày, tập thể cán bộ công chức Sở LĐ-TB&XH TP Cần Thơ đón tiếp Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH đến làm việc về hoạt động của ngành 9 tháng năm 2012 và phương hướng những tháng cuối năm 2012. Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, đã đến dự.
  • 161. 156 9 tháng qua, ngành đã kịp thời triển khai các công tác trọng tâm và đạt nhiều kết quả khích lệ trên các lĩnh vực, như: Giải quyết việc làm cho 39.600 lao động, đạt trên 80% kế hoạch; đào tạo nghề trên 32.500 lao động (trên 4.500 lao động học nghề theo Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn); triển khai xây dựng 3.000 căn nhà Đại đoàn kết và 9 mô hình giảm nghèo bền vững ở các quận, huyện; trợ cấp thường xuyên cho 7.400 đối tượng chính sách, người có công, xây dựng 91 căn và sửa chữa 64 căn nhà tình nghĩa; trợ cấp thường xuyên cho 104.283 lượt đối tượng bảo trợ xã hội; triển khai hiệu quả các hoạt động bảo vệ chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới… Trong những tháng cuối năm, ngành dồn sức thực hiện các công tác trọng tâm, đảm bảo hoàn thành kế hoạch, góp phần phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội thành phố. Ghi nhận và biểu dương những kết quả ngành LĐ-TB&XH thành phố đạt được thời gian qua, nhiều công tác có khả năng đạt và vượt chỉ tiêu vào cuối năm 2012. Bộ trưởng lưu ý, thời gian tới, ngành LĐ-TB&XH thành phố cần quan tâm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện chính sách nhà ở đối với người có công; có kế hoạch rà soát nhu cầu học nghề, đào tạo nghề có địa chỉ, nghề trọng điểm, gắn với nhu cầu xã hội và doanh nghiệp; tập trung đầu tư hoàn chỉnh một số trung tâm dạy nghề để đưa vào hoạt động, hạn chế đầu tư dàn trải. Đồng thời, quan tâm việc thực hiện chế độ, chính sách của các doanh nghiệp giải thể, đối với số lao động mất việc cũng như hỗ trợ việc làm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động; đẩy mạnh phòng, chống tệ nạn xã hội; làm tốt công tác thanh tra, hạn chế phát sinh tiêu cực trong thực hiện chế độ, chính sáchcho các đốitượng quản lý; tích cực chăm lo cho người nghèo, hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững. ANH PHƯƠNG
  • 162. 157 8. Tập trung giải ngân vốn các công trình, dự án sử dụng vốn hỗ trợ từ Trung ương Thứ năm, 20/09/2012 22 giờ 05 GMT+7 (CT)- Chiều 20-9, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ do đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ làm Trưởng Đoàn đã có buổi làm việc với UBND TP Cần Thơ cùng các sở, ngành hữu quan thành phố và địa phương về tình hình triển khai thực hiện các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, vốn chương trình mục tiêu quốc gia năm 2012. Theo đánh giá của các sở, ngành chức năng, Trung ương quan tâm hỗ trợ các nguồn vốn cho thành phố, nhưng vốn bố trí cònthấp so với nhu cầu. Công tác bố trí vốn cho các Chương trình mục tiêu quốc gia còn chậm (Trung ương giao giữa tháng 5-2012, thành phố giao giữa tháng 6-2012) đã ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn. Năm 2012, TP Cần Thơ có 22 dự án thuộc các lĩnh vực y tế, giáo dục, xây dựng đường giao thông, thủy lợi… có sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ, với tổng số tiền hơn 577,6 tỉ đồng. Theo số liệu Kho bạc Nhà nước Cần Thơ, đến cuối tháng 8-2012 mới giải ngân được hơn 440,9 tỉ đồng vốn Trái phiếu Chính phủ, đạt 76,33% kế hoạch. Ngoài ra, 21 dự án sử dụng nguồn vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, với tổng số tiền 231,89 tỉ đồng, tính đến cuối tháng 8-2012, các dự án này đã giải ngân được 145,38 tỉ đồng, đạt 62,59% kế hoạch. Năm 2012, thành phố được Trung ương phân bổ vốn cho 11/16 Chương trình mục tiêu quốc gia, với tổng số vốn 126,874 tỉ đồng, trong đó vốn sự nghiệp 101,574 tỉ đồng, vốn đầu tư phát triển 25,3 tỉ đồng; đến ngày 31-8-2012 đã giải ngân được hơn 11,24 tỉ đồng, đạt 11,07% kế hoạch, chủ yếu là vốn sự nghiệp, cònvốn đầu tư phát triển chưa giải ngân. Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ yêu cầu UBND thành phố cần chỉ đạo các sở, ngành chức năng và địa phương
  • 163. 158 đang làm chủ đầu tư và quản lý các dự án có sử dụng vốn hỗ trợ từ Trung ương, vốn Trái phiếu Chính phủ phải tập trung quyết liệt cho công tác giải ngân vốn trong các tháng còn lại của năm 2012. Đồng thời, thành phố cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm tiến độ và chất lượng các công trình, có biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Mặt khác, cần chỉnh sửa hoàn thiện báo cáo và tổng hợp các kiến nghị để Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ xem xét và kiến nghị về Trung ương. KHÁNH TRUNG 9. Phê duyệt "Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao TP Cần Thơ giai đoạn 2012-2020" Thứ năm, 20/09/2012 09 giờ 42 GMT+7 (CT)- UBND TP Cần Thơ vừa ra Quyết định số 2231/QĐ-UBND ngày 13-9- 2012 về việc phê duyệt "Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao TP Cần Thơ giai đoạn 2012-2020". Đề án có tổng mức đầu tư là 338 tỉ đồng, phân kỳ đầu tư qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 2012-2015, từng bước hình thành nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trọng tâm là các khu nông nghiệp công nghệ cao, hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp; phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 10-15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố. Giai đoạn 2016-2020, TP Cần Thơ đẩy mạnh phát triển toàn diện nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao gồm: hệ thống các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; các khu công nghiệp, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hệ thống thủy lợi phục vụ nông nghiệp công nghệ cao. Song song đó, ứng dụng trên diện rộng công nghệ cao trong nông nghiệp để sản xuất các sản phẩm hàng hóa có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 30-35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP
  • 164. 159 Cần Thơ với vai trò là chủ đầu tư có trách nhiệm phối hợp với các sở, ban, ngành và các quận, huyện để triển khai thực hiện Đề án. Song song đó, tập trung vào các giải pháp cụ thể như: huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học và công nghệ, tiếp cận thị trường, đào tạo nguồn nhân lực... nhằm góp phần xây dựng nền nông nghiệp thành phố phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững. MỸ THANH 10. Nhiều hoạt động văn hóa- thể thao đặc sắc mừng Xuân Quý Tỵ- mừng Đảng quang vinh Thứ năm, 20/09/2012 09 giờ 36 GMT+7 * Góp ý thiết kế đường hoa “Cần Thơ xưa và nay” (CT)- Chiều ngày 19-9-2012, đồng chí Lê Hùng Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ, Trưởng Ban Tổ chức các ngày lễ, kỷ niệm TP Cần Thơ, chủ trì cuộc họp để thông qua kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa - thể thao chào mừng năm mới 2013 và mừng Xuân Quý Tỵ-mừng Đảng quang vinh. Dự kiến nội dung tổ chức các hoạt động mừng Xuân Quý Tỵ 2013- mừng Đảng quang vinh, bao gồm 12 hoạt động lớn, với 31 loại hình hoạt động. Trong đó, các thành viên dành nhiều thời gian thảo luận các chương trình văn nghệ mừng Xuân Quý Tỵ 2013- Mừng Đảng quang vinh (diễn trong đêm giao thừa) và thống nhất địa điểm tổ chức tại công viên sông Hậu. Các thành viên cũng thảo luận về việc tổ chức tuyên dương công dân tiêu biểu của thành phố trên các lĩnh vực trong đêm giao thừa. Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, đồng chí Lê Hùng Dũng yêu cầu các thành viên Ban Tổ chức, các Tiểu ban chuyên môn và các đơn vị liên quan tích cực tham gia với tinh thần trách nhiệm cao nhất, góp phần tổ chức thành công các hoạt động văn hóa- thể thao mừng Xuân- mừng Đảng.
  • 165. 160 * Ngày 19-9-2012, Ban Tổ chức các ngày lễ, kỷ niệm TP Cần Thơ tổ chức cuộc họp lấy ý kiến đóng góp thiết kế đường hoa nghệ thuật với chủ đề: "Cần Thơ xưa và nay", nhằm phục vụ nhân dân và du khách vui đón Tết Nguyên đán 2013. Đồng chí Lê Hùng Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ và lãnh đạo các sở, ban, ngành của thành phố đến dự. Tại cuộc họp, đại diện tổ tư vấn đã giới thiệu về ý tưởng thiết kế đường hoa nghệ thuật, hệ thống đèn màu trang trí trên các tuyến đường chính trong nội ô thành phố trên cơ sở chỉnh sửa, bổ sung các ý kiến đóng góp từ cuộc họp trước đó. Sau khi nghe đại diện các sở, ban ngành góp ý, đường hoa nghệ thuật được chia thành nhiều đoạn, tương ứng với các nội dung: "Cần Thơ vào xuân", "Cần Thơ xưa", "Cần Thơ nay" và "Hướng đến tương lai". Đường hoa "Cần Thơ xưa và nay" kéo dài trên trục đường Võ Văn Tần – Nguyễn Thái Học, với tổng chiều dài 451m. Đường hoa nghệ thuật là một không gian văn hóa đa dạng gồm các công trình nghệ thuật sắp đặt trưng bày hoa, cây kiểng, cây xanh… nhằm giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc, các loại hình nghệ thuật tiêu biểu; đồng thời, phản ánh những thành tựu về kinh tế – xã hội của TP Cần Thơ. Các đại biểu cũng đã thống nhất trang trí cổng chào, hệ thống đèn màu trang trí trên các tuyến đường chính trong nội ô thành phố, nhằm tạo cảnh quan đẹp phục vụ bà con vui Xuân, đón Tết. P.LAM - QUỐC THÁI 11. Lãnh đạo TP Cần Thơ tiếp đoàn đại biểu tỉnh Champasak, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thứ năm, 20/09/2012 09 giờ 13 GMT+7 (CT)- Ngày 19-9-2012, đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Champasak, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào do đồng chí Sỏn-Xay Sy-Phăn-Đon Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư, Tỉnh trưởng tỉnh Champasak đã đến thăm và làm việc với lãnh đạo TP Cần Thơ. Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí
  • 166. 161 thư Thành ủy Cần Thơ, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cùng đại diện các sở, ban, ngành thành phố tiếp Đoàn. Tại buổilàm việc, đồng chí Sỏn-Xay Sy-Phăn-Đon bày tỏ sự vui mừng và niềm vinh dự khi được đến thăm và làm việc với lãnh đạo TP Cần Thơ. Đồng chí cũng trình bày tóm tắt những hoạt động kỷ niệm trang trọng, sôi nổi của tỉnh nhân kỷ niệm "Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào 2012"; đồng thời nhấn mạnh: sự hỗ trợ giúp đỡ chí tình, nhiều mặt của Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần to lớn cho sự phát triển của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung và tỉnh Champasak nói riêng. Trên tinh thần hợp tác toàn diện, đồng chí bày tỏ mong muốn giữa TP Cần Thơ và tỉnh Champasak sẽ tiếp tục tăng cường mối quan hệ hữu nghị hợp tác ngày càng bền chặt… Nhân buổi gặp mặt, 2 bên cũng đã thảo luận với nhau về phương hướng và những vấn đề hợp tác trong thời gian tới, như: chương trình đào tạo nhân lực; phát triển nông nghiệp,… Phát biểu tại buổi tiếp Đoàn, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ khẳng định mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết, gắn bó hợp tác nhiều mặt giữa TP Cần Thơ và tỉnh Champasak trong thời gian qua. Thay mặt lãnh đạo TP Cần Thơ, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn gửi lời chúc sức khỏe đến các đồng chí lãnh đạo tỉnh Champasak và mong rằng mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết giữa 2 địa phương ngày càng phát triển bền vững.