BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
………/……… ………/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VIỆT TUẤN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG
BẰNG NGUỒN VỐN ODA TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ- NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
………/……… ………/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VIỆT TUẤN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG
BẰNG NGUỒN VỐN ODA TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ THỊ KIM TIÊN
THỪA THIÊN HUẾ- NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Học viên
NGUYỄN VIỆT TUẤN
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Học viện Hành chính
Quốc gia, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo tôi suốt thời gian học tập
tại học viện.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Đỗ Thị Kim Tiên đã dành rất nhiều
thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính
Quốc gia, Ban lãnh đạo Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung cùng
quý thầy cô trong khoa Sau Đại học đã tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và
hoàn thành tốt khóa học.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiết sót, rất
mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
Học viên
NGUYỄN VIỆT TUẤN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ
ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT
TRIỂN CHÍNH THỨC....................................................................................8
1.1. Tổng quan về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức ..........................................................................................................8
1.1.1. Một số khái niệm liên quan dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ
trợ phát triển chính thức .....................................................................................8
1.1.2. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức........... 12
1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức.................................................................................................................. 14
1.3.4. Các nguyên tắc quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức......................................................................................... 15
1.2.1. Xây dựng bộ máy quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức.............................................................................. 18
1.2.2. Ban hành chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch về các dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.............................. 20
1.2.3. Tổ chức thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức..................................................... 22
1.2.4. Kiểm tra, giám sát đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức.............................................................................. 25
1.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức........................................ 26
1.3.1. Đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công trình............................................ 27
1.3.2. Kiểm soát nguồn vốn đầu tư ................................................................... 27
1.3.3. Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng.............................. 28
1.3.4. Đảm bảo các yêu cầu phù hợp với cam kết quốc tế................................. 28
1.4. Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ
tẩng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................. 28
1.4.1. Chất lượng của các quy hoạch, kế hoạch đối với dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................ 28
1.4.2. Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức quản lý nhà nước đối với các
dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức......... 29
1.4.3. Năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiêp nhận thầu dự án
đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức................... 30
1.4.4. Cơ chế, chính sách của Nhà nước........................................................... 30
TÓM TẮT CHƯƠNG 1................................................................................... 35
Chương 2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
CHÍNH THỨC TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY.............................. 36
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình ..........................36
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 36
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội........................................................................ 38
2.2. Tình hình hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ
trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016 .................. 40
2.2.1. Tình hình thu hút, sử dụng và quản lý các dự án hỗ trợ phát triển chính
thức tại Quảng Bình giai đoạn 2011- 2016 ...................................................... 40
2.1.2. Hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016....................... 45
2.3. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ
trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016 2.3.1. Tổ
chức bộ máy quản lý đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ
trợ phát triển chính thức................................................................................... 48
2.3.2. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................ 52
2.3.3. Lập quy hoạch, kế hoạch về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức.............................................................................. 54
2.3.4. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................ 56
2.3.5. Giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện các dự án
đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ......... 66
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình..................... 68
2.4.1 Những kết quả đạt được .......................................................................... 68
2.4.2. Những hạn chế ....................................................................................... 70
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn phát triển chính thức ...................................................... 74
TÓM TẮT CHƯƠNG 2................................................................................... 85
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ
TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TẠI
TỈNH QUẢNG BÌNH..................................................................................... 86
3.1.Định hướng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 ...... 86
3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình đến năm 2020.. 86
3.1.2. Một số định hướng cơ bản trong quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng sử dụng về vốn hỗ trợ phát triển chính thức.................................... 90
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ chính thức ................................................... 93
3.2.1. Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức đúng đắn về nguồn vốn ODA
và trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức trong đầu tư
cơ sở hạ tầng.................................................................................................... 94
3.2.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút, quản lý và và sử dụng nguồn vốn
ODA đảm bảo tính khoa học, khả thi................................................................ 94
3.2.3. Bố trí vốn đối ứng cho từng dự án theo kế hoạch.................................... 97
3.2.4. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của Ban Quản lý dự án ....................98
3.2.5. Thực hiện phân công, phối hợp và phân định trách nhiệm quản lý cho các
cơ quan quản lý dự án.................................................................................... 100
3.2.6. Đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ xúc tiến đầu tư, quản lý và thực hiện
các dự án ODA hợp lý.................................................................................... 103
3.2.7. Xây dựng chính sách hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án ...... 106
3.3. Kiến nghị với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương........................... 107
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ....................................................................... 107
3.3.2. Kiến nghị với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ địa phương trong việc phát
triển quan hệ đối tác cung cấp ODA .............................................................. 109
3.3.3. Kiến nghị với Bộ Tài chính về việc ban hành “Cẩm nang hướng dẫn tài
chính đối với từng nhà tài trợ”....................................................................... 110
3.3.4. Kiến nghị với Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây Dựng, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn ưu tiên phân bổ nguồn vốn ODA cho lĩnh vực đầu tư cơ sở
hạ tầng tại tỉnh Quảng Bình ........................................................................... 110
TÓM TẮT CHƯƠNG 3................................................................................. 112
KẾT LUẬN......................................................................................................113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSHT Cơ sở hạ tầng
ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
QLNN Quản lý nhà nước
UBND Ủy ban nhân dân
WB Ngân hàng thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của Quảng Bình giai đoạn 2011
– 2016 .............................................................................................................. 38
Bảng 2.2. Tình hình dân số Quảng Bình từ 2011-2015..................................... 39
Bảng 2.3. Tổng hợp vốn ODA ký kết giai đoạn 2011- 2015............................ 41
Bảng 2.4. Danh mục các nhà tài trợ và lĩnh vực tài trợ giai đoạn 2011-2015....46
Bảng 2.5. Cơ cấu nguồn vốn của các nhà tài trợ thực hiện trong.....................43
giai đoạn 2011-2015......................................................................................... 43
Bảng 2.6. Giải ngân của các dự án ODA giai đoạn 2011-2015......................... 45
Bảng 2.7. Danh mục dự án ODA thu hút vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng tại
tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2016 ........................................................... 46
Bảng 2.8. Thống kê một số văn bản pháp quy về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình hiện nay ........................................ 54
Bảng 2.9. Danh mục các dự án trọng điểm về đầu tư cơ sở hạ tầng để xúc tiến
nguồn vốn ODA giai đoạn 2011- 2016............................................................. 56
Bảng 2.10: Tổng hợp vốn ODA ký kết và giải ngân từ năm 2011- 2015 .......... 61
Bảng 2.11: Tình hình giải ngân vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2006
2015..................................................................................................................65
Bảng 3.1: Dự kiến tổng nhu cầu đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2020 .......89
Bảng 3.2: Nhu cầu vốn ODA và đối ứng giai đoạn 2016-2020......................... 90
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý đối với các dự án CSHT bằng vốn ODA tại
tỉnh Quảng Bình............................................................................................... 51
Sơ đồ 2.2: Quy trình phê duyệt kế hoạch đấu thầu .............................................. 64
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, vì vậy, việc huy động vốn cho đầu
tư phát triển là hết sức cần thiết, trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
đóng một vai trò quan trọng. Trong những năm qua, các nhà tài trợ đã cung cấp
cho Việt Nam một nguồn tài chính đáng kể, góp phần thực hiện cải cách kinh tế
và hội nhập quốc tế. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được đánh
giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp Việt Nam thực hiện các chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, đồng thời là nguồn vốn bổ sung, đảm bảo chi cho đầu tư
phát triển, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước. Nhờ nguồn vốn lớn, với điều
kiện vay ưu đãi, Việt Nam có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, các công trình thủy lợi và hạ tầng xã
hội như giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng mới
hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nhân tố quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua.
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, Quảng Bình là một tỉnh đang
ra sức huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. So
với các tỉnh khác, Quảng Bình là một tỉnh nghèo, thuộc khu vực Bắc Trung Bộ,
thu ngân sách trên địa bàn thấp, nguồn vốn tích lũy cho đầu tư phát triển chủ yếu
từ ngân sách Trung ương. Vì lẽ đó, nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng đối
với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực xây
dựng cơ sở hạ tầng. Nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA
hoàn thành đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của địa phương. Mặc
dù vậy, về phía chính quyền địa phương, còn thiếu chính sách lựa chọn đầu tư
hợp lý cũng như các chính sách thực hiện hỗ trợ giải phóng mặt bằng, kiểm soát
các dự án đang triển khai còn kém hiệu quả... Điều đó dẫn đến việc thực hiện
các dự án còn nhiều bất cập, chính sách đền bù và thực hiện dự án còn chậm,
chưa đảm bảo tiến độ dự án, dẫn đến đầu tư kém hiệu quả và gây lãng phí nguồn
2
lực đất nước. Để khắc phục tình trạng này, tỉnh Quảng Bình cần có sự thay đổi,
điều chỉnh quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA theo hướng
hiệu quả hơn mới có thể mang lại sự phát triển bền vững. Nguyên nhân của
những hạn chế là gì và giải pháp nào để cải thiện tình hình, nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước, là lý do thúc đẩy tác giả luận văn chọn vấn đề: “Quản lý nhà
nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh
Quảng Bình" làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức tại một tỉnh, một địa phương cụ thể là đề tài ít được
nghiên cứu. Ở khía cạnh liên quan, vấn đề quản lý nhà nước đối với nguồn vốn
ODA, hay quản lý nhà nước đối với dự án nói chung cũng có một số công trình
đã đề cập. Cụ thể là:
- Sách:
+ Hà Thị Ngọc Oanh (2000), Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA những
hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
Trong sách này, tác giả đã đề cập đến những hiểu biết căn bản (khái niệm, đặc
điểm...) về nguồn vốn ODA và thực tiễn thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA trong
quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1995-2000.
+ Lưu Ngọc Trịnh (2002), Vốn vay ưu đãi ở Việt Nam những năm gần
đây thực trạng vấn đề và giải pháp - Trường hợp Nhật Bản, Nhà xuất bản Lao
động, Hà Nội. Trong sách này, tác giả đã đề cập đến thực trạng thu hút và sử
dụng nguồn vốn ODA trong những năm 2002 tại Việt Nam và đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong giai
đoạn này.
+ PGS.TS Trang Thị Tuyết (2011), Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh
tế, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật. Giáo trình gồm 4 chương. Trong
3
Chương III của giáo trình có đề cập đến khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguồn
vốn ODA.
- Bài báo và tạp chí:
+ Ủy ban Kinh tế Trung ương (2015), Báo cáo đánh giá 20 năm huy
động và sử dụng ODA của Việt Nam. Trong báo cáo, tác giả đã đề cập đến
những thành tựu và hạn chế của Việt Nam về huy động và sử dụng nguồn vốn
ODA trong 20 năm qua (giai đoạn 1995-2015).
+ Hồ Hữu Tiến (2009), Bàn về vấn đề quản lý vốn ODA ở Việt Nam, Tạp
chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng số 2(31).2009. Trong bài viết, tác
giả đã đề cập đến những thành công và bất cập trong quản lý vốn ODA ở Việt
Nam và đưa ra một số giải pháp khắc phục.
+ Nguyễn Mạnh Tiến (2015), Đánh giá về chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước trong huy động và sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ phát triển
(ODA trong phát triển kinh tế - xã hội, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của
Quốc hội, Hà Nội. Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến những đánh giá về hiệu
quả của chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong huy động và sử dụng
nguồn vốn ODA trong phát triển kinh tế- xã hội thời gian qua.
- Luận văn, luận án:
+ Luận văn Thạc sỹ “Đầu tư bằng nguồn vốn ODA vào tỉnh Quảng Bình
giai đoạn 2000 - 2020” (2013) của Hoàng Thị Kim Thoa phân tích thực trạng
đầu tư bằng nguồn vốn ODA vào tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2000 - 2020, đánh
giá kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân, đề xuất định hướng và giải
pháp nâng cao hiệu quả đầu tư bằng nguồn ODA vào tỉnh Quảng Bình giai đoạn
2013 - 2020.
+ Luận văn Thạc sỹ “Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tỉnh Yên Bái
giai đoạn 2006 - 2015: Thực trạng và giải pháp” (2011) của Ngô Đại Hoàng hệ
thống hóa những vấn đề lý luận về thu hút và sử dụng ODA; phân tích, đánh giá
4
thực trạng thu hút và sử dụng ODA của tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006 - 2015, đề
xuất phương hướng, giải pháp thu hút và sử dụng ODA tại tỉnh Yên Bái.
+ Luận văn Thạc sỹ “Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn ODA sau khi Việt nam gia nhập WTO” (2008) của Nguyễn Anh
Đức nghiên cứu tình hình thu thút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam,
đánh giá ảnh hưởng của WTO tới thu hút và sử dụng vốn ODA của Việt Nam và
đề xuất định hướng, giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng ODA có hiệu quả
trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO.
+ Luận án Tiến sỹ “Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn
Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” (2012) của Vũ Huy Phong;
Luận án tiến sỹ “Quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An bằng
nguồn vốn Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2005 – 2015” (2013) của Hồ Thị
Hồng Hạnh cho thấy các tỉnh đã có quy định về phân cấp rõ ràng, có những cơ
chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng. Mức độ phân cấp cho Giám đốc Sở
Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch UBND các Thành phố, thị xã, huyện tùy theo điều
kiện cụ thể của từng tỉnh. Việc phân cấp quản lý đều gắn với trình độ năng lực
cán bộ của từng cấp. Các nghiên cứu cũng chỉ ra những ưu điểm của việc áp
dụng phân cấp quản lý dự án đầu tư đã tạo điều kiện giành quyền tự quyết định
và tự chịu trách nhiệm cho các cấp ở cơ sở và các đơn vị chủ đầu tư
Qua nghiên cứu cho thấy, các công trình trên đây đã phần nào đề cập đến
những khía cạnh nhất định của công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu
tư nói chung. Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở việc đề cập đến công tác
QLNN đối với nguồn vốn ODA mà chưa đề cập đến vấn đề QLNN đối với dự
án đầu tư CSHT tại một địa phương cụ thể như tỉnh Quảng Bình. Có công trình
đề cập đến công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương cụ thể
là tỉnh Ninh Bình nhưng lại là sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước chứ không
phải đề cập trực tiếp vào vốn ODA. Chính vì vậy, nghiên cứu vấn đề: "Quản lý
nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh
5
Quảng Bình" tác giả luận văn sẽ kế thừa những công trình đi trước ở những khía
cạnh nhất định và giải quyết những vấn đề mà các công trình nghiên cứu còn để
ngỏ, chưa có điều kiện làm rõ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý các dự án đầu tư CSHT sử
dụng nguồn vốn ODA và thực tiễn của Quảng Bình, Luận văn đề xuất các giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cho tỉnh Quảng Bình.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với các dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các
dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh
Quảng Bình.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các dự
án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.
- Phạm vi nội dung của Luận văn: Quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).
- Phạm vi không gian: Tỉnh Quảng Bình.
- Phạm vi thời gian: Số liệu phân tích lấy từ năm 2011- 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm, chính sách của Đảng và
Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội,...
6
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: tham khảo các báo cáo đánh giá công tác giám
sát đầu tư của Hội động Nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư; các báo cáo
kiểm toán của Kiểm toán nhà nước trên địa bàn của tỉnh qua các năm, thu thập
tài liệu, thông tin...
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Các phương pháp này được dùng
trong đánh giá tình hình quản lý đầu tư công và chỉ ra các tồn tại cần hoàn thiện.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp chuyên gia, phỏng vấn sâu: ý kiến của các chuyên gia
trong ngành.
6. Những đóng góp của Luận văn
- Về lý luận: Nghiên cứu của luận văn đã đưa ra được một số khái niệm
và làm rõ sự cần thiết khách quan, bản chất, nội dung của QLNN đối với dự án
đầu tư xây dựng CSHT bằng nguồn vốn ODA.
- Về thực tiễn: Những nghiên cứu, đánh giá của luận văn góp phần hoàn
thiện chính sách, pháp luật của nhà nước, đem đến những kinh nghiệm, giải
pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn
ODA cho các tỉnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và
tỉnh Quảng Bình nói riêng.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được cấu trúc thành ba chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở
hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình
7
- Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức tại tỉnh Quảng Bình
8
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN
HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC
1.1. Tổng quan về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát
triển chính thức
1.1.1. Một số khái niệm liên quan dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức
1.1.1.1. Đầu tư
Đầu tư là sự bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng với các nguồn lực khác trong hiện
tại để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra, khai thác, sử dụng một tài sản)
nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai.
Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, của cải, công
nghệ, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ…), để tiến hành một hoạt
động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai.
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3, khái niệm đầu tư được hiểu là
"việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan".
1.1.1.2. Dự án đầu tư
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì: “Dự án đầu tư là một
tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp
trên cơ sở các nguồn lực nhất định”.
Ở Việt Nam, khái niệm Dự án đầu tư được trình bày trong Nghị định
52/1999 NĐ-CP ngày 08/07/1999 của Chính phủ Về việc ban hành quy chế
quản lý đầu tư và xây dựng. Theo đó: “ Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có
9
liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất
nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng
cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định”.
1.1.1.3. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng (Infrastructure) còn được gọi là kết cấu hạ tầng, là hệ thống
các công trình xây dựng làm nền tảng cho mọi hoạt động của đô thị, nông thôn.
Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm có 2 hệ thống, đó là hệ thống công trình hạ tầng kỹ
thuật và hệ thống công trình hạ tầng xã hội. Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật
được hiểu là gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng,
chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa
trang và công trình khác. Hệ thống công trình hạ tầng xã hội được hiểu gồm
công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây
xanh, công viên và công trình khác.
1.1.1.4. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ
vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt
được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng các
công trình xây dựng trong thời gian xác định.
1.1.1.5. Nguồn vốn đầu tư phát triển chính thức
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tên tiếng Anh "Official Development
Assistance, viết tắt là ODA. Năm 1972, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
(OECD) đã đưa ra khái niệm "ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập
với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang
phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và yếu tố
viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%".
a. Đặc điểm của nguồn vốn ODA
Về bản chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các
nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm phát triển. Trong một
10
phiên họp toàn thể của Đại hội đồng Liên hiệp quốc vào năm 1961, Liên hiệp
quốc đã kêu gọi các nước phát triển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp
phát triển bền vững về kinh tế và xã hội các nước đang phát triển.
Theo Ngân hàng thế giới (WB), ODA bao gồm các khoản viện trợ không
hoàn lại cộng với các khoản vay có thời hạn dài và lãi suất thấp so với thị
trường. Mức độ ưu đãi của một khoản vay được đo lường bằng yếu tố cho
không. Một khoản tài trợ không phải hoàn trả nếu có yếu tố cho không 100%,
gọi là viện trợ không hoàn lại. Một khoản vay ưu đãi được coi là ODA phải có
yếu tố cho không ít nhất là 25%.
Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
ban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ
Việt Nam thì ODA được định nghĩa như sau: "Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi
tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính
phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia
hoặc liên chính phủ".
Theo nghĩa khái quát, ODA được hiểu là các khoản viện trợ không hoàn
lại, viện trợ có hoàn lại hoặc các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn, lãi suất
thấp) của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ (NGO), các tổ chức phi
chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc (United Nations - UN),
các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB,…) dành cho Chính phủ một
nước (thường là nước đang và chậm phát triển) nhằm giúp nước đó phát triển
kinh tế - xã hội.
Đặc điểm của nguồn vốn ODA thể hiện trên các mặt sau đây:
- Một là, ODA là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, được cung cấp dưới dạng
tài chính hoặc hiện vật, có các mức độ ưu đãi từ không hoàn lại đến vốn vay ưu
đãi với lãi suất thấp.
- Hai là, ODA là giao dịch chính thức, tính chính thức của nó được thể hiện
11
ở chỗ giá trị của nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì phải được sự
chấp thuận và phê chuẩn của chính phủ quốc gia tiếp nhận. Sự đồng ý tiếp nhận
đó được thể hiện bằng văn bản, hiệp định, điều ước quốc tế ký kết với nhà tài
trợ.
- Ba là, ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng là thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Hoặc sử dụng để hỗ trợ các nước
gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh...
- Bốn là, ODA có thể được cung cấp để thực hiện các dự án hoặc hỗ trợ phi
dự án. Trong đó, phần lớn nguồn vốn ODA thường nhằm thực hiện hỗ trợ các
dự án dưới dạng hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật.
- Năm là, ODA cũng có thể có những ràng buộc hoặc không đi kèm những
điều kiện ràng buộc cho nước nhận hỗ trợ.
b. Những điều kiện ràng buộc cơ bản trong đầu tư bằng nguồn vốn ODA
Đối với nguồn vốn ODA, đi kèm với nó là luôn là những ràng buộc nhất
định về kinh tế, chính trị hoặc khu vực địa lý. Các nước viện trợ ODA đều có
chính sách riêng và những điều kiện ràng buộc đối với nước nhận viện trợ nhằm
tạo ảnh hưởng về chính trị hoặc thu lợi nhuận thông qua việc bán hàng hóa và
dịch vụ của mình cho nước nhận viện trợ, hoặc cả hai mục đích trên.
Nguồn vốn ODA thường gắn với các điều kiện kinh tế như nước nhận viện
trợ phải là thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu tư cho các nước viện trợ,
phải thực hiện các chính sách kinh tế phù hợp với nước viện trợ. Trên thực tế,
hầu hết các nước viện trợ đều ràng buộc các nước tiếp nhận sử dụng khoản viện
trợ ODA để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức
và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của
nước mình, Canada yêu cầu cao nhất là 65%, Thụy Sỹ và Hà Lan là hai nước có
yêu cầu thấp nhất với lần lượt là 1,7% và 2,2%. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp
viện trợ còn có những ràng buộc khác nhau và rất chặt chẽ đối với nước tiếp
nhận viện trợ; ví dụ như Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật Bản (hoàn lại
12
hoặc không hoàn lại) đều phải được thực hiện bằng đồng Yên Nhật, ưu tiên chọn
nhà thầu Nhật Bản hay phải sử dụng công nghệ, kỹ thuật Nhật Bản.
Các nước phát triển cũng sử dụng nguồn vốn ODA như một công cụ xác
định vị trí và ảnh hưởng của nước mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA.
Bởi nguồn vốn ODA từ khi ra đời đến nay luôn chứa đựng hai mục tiêu:
- Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở
những nước đang phát triển để giải quyết một số vấn đề mang tính toàn cầu như
sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trường sống, bình đẳng giới, phòng
chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc… đòi hỏi sự hợp tác của cả
cộng đồng quốc tế, không phân biệt nước giàu, nước nghèo
- Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của các nước viện trợ. Hoa
Kỳ là một trong những quốc gia thành công trong việc dùng nguồn vốn ODA
làm công cụ để thực hiện chính sách “gây ảnh hưởng chính trị trong thời gian
ngắn” tại các nước tiếp nhận viện trợ.
Chính vì vậy, khi nhận viện trợ ODA, các nước tiếp nhận phải xem xét kỹ
lưỡng các điều kiện của nhà cung cấp ODA, tuân thủ nguyên tắc quan hệ hỗ trợ
phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không
can thiệp vào công tác nội bộ của nhau, bình đẳng và hai bên cùng có lợi.
1.1.2. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức
Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA là tập hợp các đề
xuất có liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật,
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân trong thời gian xác
định. Đặc điểm của của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thể
hiện trên các phương diện sau đây:
- Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đòi hỏi một số
lượng nguồn lực như: vốn, lao động, vật tư, máy móc... lớn, các nguồn lực sẽ ứ
đọng thời gian dài trong suốt quá trình dự án. Vì vậy trong quá trình thực hiện
13
dự án, chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp
lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động , vật tư thiết bị phù hợp đảm
bảo công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chồng lãng phí nguồn lực.
- Sản phẩm của dự án đầu tư đầu cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA
thường là các tài sản cố định như: cầu, đường, trường học, bệnh viện... đó phần
lớn là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng
cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình, xã hội có ảnh hưởng lớn đến quá trình
thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư.
- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng
đối với tất cả người dân, bởi lẽ nó mang tính công cộng, tất cả mọi người sẽ sử
dụng các công trình công cộng này, vì thế chất lượng của các dự án đầu tư cơ sở
hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đều ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, các công
trình cơ sở hạ tầng còn là bộ mặt của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA triển khai có hiệu
quả và chất lượng sẽ thu hút được đối tác nước ngoài vào đầu tư, hỗ trợ, phát
triển không chỉ trong trung tâm đô thị mà còn đầu tư vào vùng sâu vùng xa
nhằm đưa đất nước phát triển.
- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thường diễn ra
trong thời gian dài, chịu nhiều biến động của thị trường, chính trị, xã hội...; liên
quan đến nhiều ngành và lĩnh vực; làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản
cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân và có trình độ
kỹ thuật cao.
- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA phải chịu những
điều kiện ràng buộc của các nhà tài trợ. Nước nhận tài trợ ODA phải chấp nhận
những điều kiện ràng buộc về kinh tế, chính trị... nếu muốn nhận được viện trợ
ODA từ nhà tài trợ. Ví dụ về điều kiện kinh tế thì các nước viện trợ đều ràng
buộc các nước tiếp nhận sử dụng khoản viện trợ ODA để mua hàng hóa và dịch
vụ của các quốc gia viện trợ khi thực hiện dự án, vốn ODA phải được thanh toán
14
bằng tiền của nước tài trợ, ưu tiên chọn nhà thầu của nước tài trợ hay bắt buộc
phải sử dụng công nghệ của nước tài trợ.
- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA khi hoàn thành sẽ
góp phần củng cố an ninh, tăng cường sức mạnh quốc phòng. Đảm bảo cuộc
sống cho người dân và sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội cho đất nước.
1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức
Đối với các quốc gia tiếp nhận vốn nguồn vốn ODA, để đảm bảo quản lý,
sử dụng có hiệu quả, cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định.
- Thứ nhất, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được xác định
là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, sử dụng để hỗ trợ thực hiện
các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế - xã hội.
- Thứ hai, Nhà nước phải thống nhất quản lý nguồn vốn ODA trên cơ sở
tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn
với trách nhiệm, đảm bảo sự phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và
phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản lý ngành, địa phương và
các đơn vị thực hiện.
- Thứ ba, hoạt động thu hút ODA cần phải đi đôi với việc nâng cao hiệu
quả sử dụng và bảo đảm khả năng trả nợ nước ngoài, phù hợp với năng lực tiếp
nhận và sử dụng ODA của các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện.
- Thứ tư, phải bảo đảm tính đồng bộ và nhất quán của các quy định về
quản lý và sử dụng ODA; bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên
quan; hài hòa quy trình thủ tục giữa Chính phủ và nhà tài trợ.
- Thứ năm, việc quản lý, sử dụng vốn ODA cần phải dựa vào các quy
định của pháp luật nước nhận viện trợ và điều ước quốc tế về ODA mà nước đó
là thành viên.
15
1.3.4. Các nguyên tắc quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và đạt hiệu quả cao vừa là mục tiêu, vừa là phương hướng, tiêu
chuẩn để đánh giá công tác quản lý về dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng
nguồn vốn ODA. Nội dung của nguyên tắc này là quản lý sao cho với một đồng
vốn đầu tư bỏ ra phải thu được lợi ích lớn nhất. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
phải được xem xét trên phạm vi toàn xã hội và trên tất cả các phương diện kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…
Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chính là sử dụng nguồn lực
công đầu tư cho hạ tầng kinh tế nhằm mục đích tạo điều kiện cho phát triển kinh
tế - xã hội. Vì vậy quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA cần
tiết kiệm và hiệu quả tránh lãng phí nguồn lực nhà nước. Nhà nước cần giảm thủ
tục hành chính, rút ngắn thời gian triển khai dự án, kiểm soát sử dụng vốn hiệu
quả... trong quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA.
- Nguyên tắc tập trung, dân chủ
Trong quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA,
nguyên tắc này thể hiện toàn bộ vốn đầu tư được tập trung quản lý theo một cơ
chế thống nhất của Nhà nước thông qua các tiêu chuẩn, định mức, các quy trình,
quy phạm về kỹ thuật nhất quán và rành mạch. Việc phân bổ vốn đầu tư phải
theo một chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể. Tính dân chủ là đảm bảo cho
mọi người cùng tham gia vào quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn ODA. Dân chủ đòi hỏi phải công khai cho mọi người biết, thực
hiện cơ chế giám sát cộng đồng, minh bạch, công khai các số liệu liên quan đến các
dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA.
Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA là đầu tư công, sử dụng nguồn lực công
để xây dựng công trình cho mục đích công (khác với khu vực tư nhân ). Thế nên
cần thực hiện nguyên tắc tập trung để các mục tiêu công không dẫm chân lên nhau
16
(thống nhất), nhưng để tránh tập trung dẫn đến quan liêu, lạm quyền, kém hiệu quả
thì trước khi quyết định các chính sách của nhà nước, của địa phương cần phải
được bàn bạc dân chủ, để đầu tư đúng mục đích, yêu cầu, đáp ứng được lợi ích
chung (hiệu quả).
- Nguyên tắc kết hợp hài hòa các loại lợi ích
Quản lý nhà nước về dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
ODA phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, tập thể và người lao động.
Nguyên tắc này được hiểu là lợi ích cần được hài hòa giữa các chủ thể tham gia
vào quá trình thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA: Cơ
quan chủ quản, chủ đầu tư, nhà thầu, địa phương thụ hưởng... Đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng vốn ODA là đầu tư công, sử dụng nguồn lực công để xây dựng công
trình cho mục đích công thế nên cần thực hiện nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi
ích giữa các chủ thể để tiến độ thực hiện dự án được đảm bảo theo kế hoạch cũng
như tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Ngược lại, nếu nguyên tắc kết hợp hài hòa
các lợi ích không được thực hiện tốt thì dẫn đến chậm trễ trong triển khai dự án,
hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Cụ thể, trong quá trình đấu thầu dự án cần phải hài hòa lợi ích giữa Nhà
nước ( chủ đầu tư) với những nhà thầu ( doanh nghiệp tư nhân tham gia dự án).
Cần thẩm định dự án thật chính xác, khách quan để đưa ra giá trúng thầu thật chính
xác để vừa đảm bảo lợi ích của các nhà thầu vừa tiết kiệm được nguồn vốn ODA,
vừa khả thi. Tránh mức bỏ thầu quá cao khiến Nhà nước bị mua hàng đắt, lợi ích
công bị vi phạm cũng tránh bỏ thầu quá thấp khiến lợi ích của các nhà thầu không
được đảm bảo, không có nguồn lực triển khai dự án, cần thời gian điều chỉnh lại...
gây chậm trể triển khai dự án dẫn đến không hiệu quả trong sử dụng vốn.
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với theo vùng và lãnh thổ
Kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ trong quản lý dự án
đầu tư cơ sở hạ tàng bằng nguồn vốn ODA được hiểu là quá trình hoạch định
chính sách, đến tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, giám sát phải đảm bảo có
17
sự cân nhắc về chiến lược phát triển ngành hợp lý trên các vùng lãnh thổ, các địa
phương. Sự kết hợp này nhằm tạo sự cơ cấu hợp lý, tránh lãng phí trong đầu tư
công (tránh tình trạng mỗi tỉnh một sân bay, bến cảng,..trường học, bệnh viện...).
Thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với theo vùng và lãnh thổ
nhằm phát huy lợi thế chung của các vùng, miền, hình thành cực tăng trưởng,
tạo ra những đầu tàu để tạo sự phát triển lan tỏa ra các tỉnh vệ tinh.
Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng
nguồn vốn ODA theo ngành trước hết bằng các quy định về tiêu chuẩn, định
mức kỹ thuật do các cơ quan quản lý chuyên ngành ban hành. Quản lý theo địa
phương, vùng là xây dựng đơn giá vật liệu, nhân công, ca máy cho từng địa
phương, phụ cấp lao động.. theo từng vùng lãnh thổ.
Ngoài ra, trong quản lý về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
ODA còn phải tuân thủ các nguyên tắc như phải thực hiện đúng trình tự đầu
tư và xây dựng; phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý
nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư xây
dựng.
1.2. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tẩng bằng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn
ODA là sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước đến các dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng sử dụng vốn ODA, bằng các công cụ quản lý (quy hoạch, kế
hoạch, chính sách và pháp luật), nhằm hướng các dự án hoạt động có hiệu
quả, đúng mục đích và yêu cầu mà Nhà nước đã hoạch định.
Các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm các cơ quan lập pháp, hành
pháp và tư pháp, từ trung ương đến địa phương, thực hiện nhiều hoạt động
cần thiết như hoạch định, ban hành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện
nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
18
Nội dung quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử
dụng vốn ODA bao gồm các hoạt đông cơ bản như: xây dựng bộ máy quản lý,
công cụ quản lý và tổ chức thực hiện, kiểm trra, giám sát các dự án đầu tư.
1.2.1. Xây dựng bộ máy quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Để quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, trước
hết Nhà nước phải xác định được chủ thể quản lý. Chủ thể đại diện cho lợi ích
công, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các dối tượng quản lý
được xác định trên nguyên tắc đặt công việc cần quản lý vào đúng nơi có khả
năng quản lý tốt nhất. Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức và cá
nhân đáp ứng được các điều kiện về nguồn lực, phù hợp về chuyên môn, trình
độ, nghiệp vụ, năng lực. Về mặt kỹ thuật, cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý
phải được thiết kế hợp lý, cơ chế phân công, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả,
nhằm đạt mục tiêu chung của nhà nước. Do tính chất các dự án đầu tư có sử
dụng vốn nước ngoài, theo hình thức ưu đãi có ràng buộc, việc xây dựng bộ
máy quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA vì thế đòi
hỏi những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn ODA hình thức tổ chức của bộ máy quản lý dự án được
áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế về ODA hoặc thỏa thuận với nhà
tài trợ. Trường hợp điều ước quốc tế về ODA hoặc thỏa thuận với nhà tài trợ
không có quy định cụ thể thì hình thức tổ chức quản lý dự án được thực hiện
theo quy định của Luật pháp nước sở tại. Trường hợp của Việt Nam, Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện,
Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quyết định
thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án
đầu tư xây dựng khu vực để thực hiện chức năng chủ đầu tư và nhiệm vụ quản
lý đồng thời nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốn vay
ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài... Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên
19
ngành, Ban quản lý đầu tư xây dựng khu vực là tổ chức sự nghiệp công lập; do
người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước thành lập là tổ chức
thành viên của doanh nghiệp. Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự
án khu vực có tư cách pháp nhân đầy đủ, được sử dụng con dấu riêng, được mở
tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định; thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức
quản lý thực hiện các dự án được giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và
người quyết định đầu tư về các hoạt động của mình; quản lý vận hành, khai thác
sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tư giao. Căn cứ số
lượng dự án cần quản lý, yêu cầu nhiệm vụ quản lý và điều kiện thực hiện cụ thể
thì cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu
vực có thể được sắp xếp theo trình tự quản lý đầu tư xây dựng của dự án hoặc
theo từng dự án.
Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực là đơn vị
quản lý trực tiếp các dự án từ khi có quyết định đến khi dự án kết thúc đưa vào
khai thác vận hành. Trong quá trình từ khi thực hiện dự án, Ban quản lý dự án sẽ
thực hiện các nội dung:
- Tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện dự án, ký kết các hợp đồng theo
quy định của pháp luật.
- Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán các hạng mục
công trình.
- Đàm phán, ký kết, giám sát thực hiện các hợp đồng và xử lý các vi phạm
hợp đồng.
- Kiến nghị với cơ quan chủ quản về cơ chế, chính sách bảo đảm việc thực
hiện dự án phù hợp với cam kết quốc tế.
- Thực hiện công tác đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
- Lập tiến độ và giám sát, kiểm tra đảm bảo cho dự án thực hiện đúng thời
hạn đã định.
20
- Quản lý và giải quyết những xung đột trong quá trình quản lý dự án.
- Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan cho các bên, quản lý hợp đồng
và tư vấn lập và thực hiện dự án, chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và độ tin cậy
của các thông tin, tài liệu cung cấp, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về dự án theo quy định
của pháp luật.
- Thực hiện giám sát, đánh giá dự án, quản lý khái thác dự án.
1.2.2. Ban hành chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch về các dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
1.2.2.1. Ban hành chính sách, pháp luật về quản lý các dự án đầu tư cơ sở
hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Việc thực hiện các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA liên
quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng, quản lý dự án đầu tư, quản lý nguồn vốn ODA. Về nguyên tắc, các thủ tục
hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạch cho hoạt động quản lý tối
ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi. Các quy định pháp
luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt
động của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đáp ứng đúng mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện các
văn bản hướng dẫn công tác quản lý đầu tư từ nguồn vốn ODA, cải thiện chính
sách và cơ chế để tư vấn, giám sát và quản lý dự án theo hướng minh bạch hơn,
xác định cụ thể trách nhiệm của từng khu vực và từng cấp, đồng thời với việc
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và khắc phục các dự án thiếu
hiệu quả, các khoản đầu tư không nằm trong quy hoạch tổng thể, thất thoát và
tham nhũng. Tuy nhiên nhìn chung các thủ tục hành chính và các quy định pháp
luật trong quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA ở nước
ta còn chậm, thiếu và không đồng bộ. Năng lực của các ban quản lý dự án thay
mặt cho chủ đầu tư còn những bất cập, điều này thể hiện gần như ở mọi công
đoạn từ chuẩn bị dự án đến thực hiện dự án do bị hạn chế rất nhiều bởi các quy
21
định, quy chế vận hành hệ thống. Việc thay đổi cơ chế vận hành cho phù hợp
với Luật xây dựng, Luật đầu tư... và những quy định kèm theo còn khá chậm
gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý đầu tư. Chính vì thế, năm 2014
Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật Xây dựng mới, Luật Đấu thầu mới,
Luật Đầu tư mới để thay thế các Luật cũ có nhiều bất cập trong tình hình mới.
1.2.2.2. Lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
ODA
Lập quy hoạch, kế hoạch là một hình thức định hướng thu hút và sử dụng
vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng. Quy hoạch xác định rõ quy mô, giới hạn
thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng trong một khoảng thời
gian nhất định của quốc gia. Quy hoạch cũng là cơ sở, tiền đề để xây dựng kế
hoạch, chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Quy
hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng dài hạn là 10
năm, trung hạn là 5 năm, ngắn hạn là kế hoạch từng năm cụ thể trên bình diện cả
nước, một vùng, hay một ngành như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông
v.v... Cơ sở để xây dựng kế hoạch vốn ODA cho đầu tư cơ sở hạ tầng dựa vào
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng ngành hạ tầng kỹ thuật
cụ thể; quy hoạch sử dụng vốn chung cho cả nước trong dài hạn hay trung hạn;
khả năng và cơ hội viện trợ của các nhà tài trợ trong khoảng thời gian đó. Hình
thức quy hoạch, kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA được thể hiện
bằng văn bản như bản quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA, các báo cáo (của
các hội nghị giữa nước tiếp nhận với nhà tài trợ), các biên bản thoả thuận, biên
bản ghi nhớ, các hiệp định được cam kết chính thức. Dựa trên cơ sở quy hoạch
kế hoạch đã lập ra, danh mục các chương trình, dự án vận động ODA được xây
dựng cho từng ngành, địa phương và từng nhà tài trợ.
Kế hoạch hóa đầu tư đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý các
dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Thực hiện tốt công tác này sẽ
là cơ sở quan trọng để các ngành, địa phương chủ động đẩy mạnh đầu tư có định
22
hướng, cân đối nguồn lực sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả, tránh được hiện
tượng đầu tư chồng chéo, thiếu đồng bộ, dàn trải, lãng phí nguồn lực.
1.2.3. Tổ chức thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
1.2.3.1. Lập dự án
Công tác lập dự án được các cấp có thẩm quyền kiểm soát chặt chẽ về
phạm vi, quy mô của từng dự án theo đúng mục tiêu của từng lĩnh vực và phù
hợp với quy hoạch được duyệt. Các dự án được lập phải nêu rõ nguồn vốn
ODA, vốn đối ứng và khả năng cân đối các nguồn vốn này. Ở cấp trung ương,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối tổng hợp danh mục cho phép lập dự
án. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp các danh mục dự án theo đề xuất từ các địa
phương, các chủ đầu tư sau đó xin ý kiến tham gia của các Bộ chuyên ngành: Bộ
Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Giao thông Vận tải… về sự cần thiết
lập dự án, quy mô, tổng mức, nguồn vốn và sự phù hợp với quy hoạch của dự
án. Sau đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trình Thủ tướng Chính Phủ. Sau
khi cân đối được tổng nguốn vốn sẽ đầu tư trong năm kế hoạch tiếp theo, Thủ
tướng Chính phủ trình Quốc Hội xin ý kiến trong kỳ hợp gần nhất. Sau khi có ý
kiến phê chuẩn của Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ sẽ giao cho Bộ Kế hoạch
và Đầu tư thông báo về các địa phương thông qua HĐND cấp tỉnh, UBND cấp
tỉnh sẽ ra quyết định đầu tư cho phép lập dự án.
1.2.3.2. Chuẩn bị vốn đối ứng
Vốn đối ứng là phần vốn trong nước tham gia vào từng chương trình, dự
án ODA theo cam kết giữa nước tiếp nhận và nhà tài trợ nước ngoài trên cơ sở
hiệp định, văn kiện dự án, quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền. Vốn đối
ứng là yêu cầu do nhà tài trợ đưa ra nhằm bảo đảm quyền sở hữu và trách nhiệm
của nước tiếp nhận trong dự án ODA. Nhà nước phải cân đối vốn đối ứng trong
tổng ngân sách nhà nước; bố trí vốn đối ứng cho từng ngành, địa phương; điều
chỉnh, bổ sung vốn đối ứng. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vốn đối ứng
23
thường được sử dụng để thực hiện công tác di dân, giải phóng mặt bằng, tái định
cư, xây dựng dự án chuẩn bị đầu tư và chi phí thẩm định thiết kế, duyệt tổng dự
toán, hoàn tất các thủ tục đầu tư, chi phí liên quan đến quá trình lựa chọn nhà
thầu...
1.2.3.3. Thẩm định, phê duyệt dự án
Thẩm định dự án đầu tư là việc kiểm tra lại các điều kiện quy định phải
đảm bảo của một dự án đầu tư trước khi quyết định đầu tư. Tất cả các dự án đầu
tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước,vốn ODA hay vốn vay ưu đãi để đầu tư phát
triển phải được thẩm định. Nội dung thẩm định dự án đầu tư tùy theo từng loại
dự án, đó là các điều kiện nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy hoạch phát triển
ngành, lãnh thổ; các điều kiện tài chính, giá cả, hiệu quả đầu tư; đảm bảo an toàn
về tài nguyên, môi trường; các vấn đề xã hội của dự án… Sau khi thẩm định dự
án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về nội dung thẩm định và
có tính khả thi cao thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định phê duyệt dự án
đầu tư.
Đối với các dự án do Hội đồng nhân dân quyết định chủ trương đầu tư thì
bước thẩm định, phê duyệt dự án thường qua các bước sau:
Trình ủy ban nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân tổ chức thẩm định các
nội dung:
- Sự cần thiết đầu tư.
- Đánh giá thực trạng của ngành, lĩnh vực thuộc mục tiêu và phạm vi của
chương trình; những vấn đề cấp bách cần được giải quyết trong chương trình.
- Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, kết quả, các chỉ tiêu chủ yếu trong
từng giai đoạn.
- Phạm vi và quy mô của chương trình.
- Các dự án thành phần thuộc chương trình cần thực hiện để đạt được mục
tiêu của chương trình, thứ tự ưu tiên và thời gian thực hiện các dự án thành phần.
24
- Dự kiến tổng mức vốn để thực hiện chương trình, phân bổ vốn theo mục
tiêu, dự án thành phần và thời gian thực hiện, nguồn vốn và phương án huy động vốn.
- Dự kiến thời gian và tiến độ thực hiện chương trình.
- Các giải pháp để thực hiện chương trình; cơ chế, chính sách áp dụng đối
với chương trình; khả năng lồng ghép, phối hợp với các chương trình khác.
- Yêu cầu hợp tác quốc tế (nếu có).
- Tổ chức thực hiện chương trình.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội chung của chương trình.
Sau khi thẩm định trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân xem xét quyết định đầu tư.
1.2.3.4. Quản lý hoạt động lựa chọn nhà thầu
Việc phân cấp về quản lý hoạt động đấu thầu được thực hiện như đối với
việc tổ chức thẩm định dự án. Cấp nào phê duyệt dự án thì cấp đó thẩm định kế
hoạch lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án.
1.2.3.5. Thanh toán vốn đầu tư
Thanh toán vốn đầu tư là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi có khối
lượng công việc hoàn thành được nghiệm thu. Thanh toán vốn đầu tư có thể
được thành toán theo tuần kỳ, tức là sau một thời gian thi công chủ đầu tư sẽ
thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền; có thể được thanh toán theo giai đoạn
quy ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý; có thể được thanh toán theo khối lượng
xây dựng cơ bản hoàn thành hay thanh toán theo công trình, hạng mục công
trình hoàn thành. Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào
điều kiện thực tế của từng giai đoạn, khả năng về vốn của chủ đầu tư và nhà
thầu. Vấn đề là phải kết hợp được hài hòa lợi ích của chủ đầu tư và nhà thầu.
Với nguyên tắc chung là kỳ hạn thanh toán càng ngắn mà đảm bảo có khối
lượng hoàn thành nghiệm thu thì càng có lợi cho cả 2 bên, vừa đảm bảo vốn cho
nhà thầu thi công vừa đảm bảo thúc đẩy tiến độ thi công công trình.
25
1.2.3.6. Quyết toán vốn đầu tư
Quyết toán vốn đầu tư hay quyết toán dự án hoàn thành của một dự án là
tổng kết, tổng hợp các khoản thu chi để làm rõ tình hình thực hiện dự án. Thực
chất quyết toán vốn đầu tư của một dự án, công trình, hạng mục công trình là
xác định giá trị của dự án, công trình, hạng mục công trình đó hay là xác định
vốn đầu tư được quyết toán. Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp
pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án, công trình, hạng
mục công trình vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng
hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán đã được phê duyệt, bảo đảm đúng quy
chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính – kế toán và những quy định hiện
hành của nhà nước có liên quan.
1.2.4. Kiểm tra, giám sát đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Kiểm tra, giám sát, đánh giá là một khâu quan trọng trong chu trình quản
lý dự án đầu tư. Kiểm tra, giám sát nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, những
nhân tố mới, tích cực để phát huy; đồng thời phát hiện những sai lệch của đối
tượng quản lý để uốn nắn kịp thời. Mặt khác, qua kiểm tra, giám sát có thể phát
hiện những điểm bất cập, bất hợp lý trong cơ chế quản lý, thậm chí ngay cả chủ
trương, quyết định đầu tư để kịp thời sửa đổi cho phù hợp. Kiểm tra, giám sát
bao gồm các hoạt động theo dõi thường xuyên, kiểm tra định kỳ theo kế hoạch
hoặc đột xuất trong quá trình thực hiện dự án; trên các lĩnh vực: tài chính, xây
dựng, thuế...
Hoạt động giám sát, đánh giá đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bao
gồm các chủ thể sau:
+ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước các
cấp thực hiện nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định của các Luật
liên quan đến đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA và pháp luật liên quan.
26
+ Người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư phải tổ chức việc
giám sát, đánh giá đầu tư thuộc phạm vi quản lý của mình.
+ Người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định việc tổ chức giám
sát, đánh giá đầu tư dự án đầu tư do mình quyết định đầu tư.
+ Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp, các tổ chức, cá nhân liên
quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan giám
sát, đánh giá đầu tư.
+ Tổ chức, cá nhân thực hiện giám sát đầu tư theo quyết định của cơ quan
có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về các nội dung báo cáo giám sát.
+ Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chịu sự giám sát của
cộng đồng. Việc giám sát, đánh giá đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA của
cộng đồng được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
1.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Mục tiêu quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn ODA là nhằm đảm bảo các nguồn lực đầu tư phù hợp với việc
tạo ra những cơ sở hạ tầng đảm bảo sử dụng an toàn hiệu quả cho người dân
thụ hưởng. Trên cơ sở các chương trình đầu tư công, các mục tiêu, nhiệm vụ và
giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu sẽ được xác định. Quá trình đầu tư và triển
khai dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chỉ có thể đảm bảo cho
ra đời những sản phẩm đầu tư tốt, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng khi nguồn
vốn đầu đầu tư được tính toán đủ để thực hiện dự án và không bị thất thoát
trong quá trình triển khai dự án. Để xác định mức độ phù hợp của nguồn vốn
đầu tư công và xác định chất lượng sản phẩm của dự án đầu tư, Nhà nước phải
thực hiện các hoạt động quản lý thông qua việc hoạch định chính sách, pháp
luật, tổ chức thẩm định dự án, theo dõi, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn đầu
tư. Hoạt động QLNN đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA
không chỉ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế mà còn là đòi hỏi tất yếu
27
trong mọi nhà nước khi tiến hành đầu tư dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng
nguồn vốn ODA (đầu tư công) mà không có một chủ thể nào khác có thể làm
thay. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn
ODA nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng công trình dự án, kiểm soát nguồn
vốn đầu tư, đảm bảo nhứng định hướng và cam kết quốc tế.
1.3.1. Đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công trình
Sản phẩm của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA
thường là: cầu đường, bệnh viện, trường học... thường có các tiêu chuẩn kỹ
thuật cao và sẽ được người dân sử dụng sau khi hoàn thành, thế nên đảm bảo
chất lượng công trình là một trong những nhiệm vụ quan trọng của dự án. Với
tư cách của tổ chức quyền lực đặc biệt, đại diện cho lợi ích công, Nhà nước có
đủ điều kiện về nguồn lực để kiểm tra, đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công
trình thông qua các hoạt động: thẩm định kỹ thuật trước khi phê duyệt dự án,
kiểm tra giám sát chất lượng công trình trong quá trình thực hiện dự án,
nghiệm thu công trình sau khi sự án hoàn thành...Nhà nước thực hiện phân
công, phân cấp cho các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chuyên môn thực hiện
nhiệm vụ thẩm định dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của các ngành và đảm bảo
sự sự phối hợp liên ngành, lĩnh vực để có kết luận chính xác đối với các dự án,
trước khi đưa vào sử dụng. Trên cơ sở đó sẽ đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật,
chất lượng công trình như ban đầu đề ra.
1.3.2. Kiểm soát nguồn vốn đầu tư
Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là hoạt động sử dụng nguồn
vốn đầu tư công để xây dựng, tạo ra hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân,
đóng vai trò hết sức quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một quốc
gia. Khác với vốn, tài sản của khu vực tư, tính trách nhiệm đối với tài sản công
luôn gặp phải những hạn chế. Quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư công
thường thông qua nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều quy trình. Trong mỗi quy trình
đều có thể tạo ra những kẽ hở, gây ra thất thoát, lãng phí vốn đầu tư. Đối với các
28
dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạn tầng sử dụng vốn ODA nhằm tạo ra các tài sản
cố định của nhà nước để phục vụ lợi ích của nhà nước nên có thể bị tư lợi ở bất
cứ khâu nào của quá trình sử dụng vốn. Vì vậy, hoạt động đầu tư này không thể
tách khỏi sự quản lý của nhà nước. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
cơ sở hạ tầng là cần thiết và tất yếu nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn đầu tư
của nhà nước có hiệu quả, khắc phục những hạn chế vốn có của kinh tế thị
trường đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.
1.3.3. Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng
Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA có thể thuộc nhóm dự án
đầu tư quan trọng, thuộc các công trình quốc gia hoặc các công trình địa
phương. Để tránh lãng phí trong đầu tư công, Nhà nước cần xây dựng quy
hoạch, kế hoạch định hướng. Đối với hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn ODA, Nhà nước quản lý nhằm định hướng hoạt động này đi đúng theo chủ
trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch, quy hoạch mà Đảng và Nhà nước vạch
ra trong từng thời ký, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội đúng hướng, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, đáp ứng đời sống của nhân dân và yêu cầu phát triển của
quốc gia
1.3.4. Đảm bảo các yêu cầu phù hợp với cam kết quốc tế
Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thường phải chịu
những điều kiện ràng buộc của các nhà tài trợ hoặc điều ước quốc tê về ODA mà
nước nhận tài trợ tham gia. Nước nhận tài trợ ODA phải chấp nhận những điều
kiện ràng buộc về kinh tế, chính trị... nếu muốn nhận được viện trợ ODA từ nhà
tài trợ. Thế nên cần có sự quản lý nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ cam
kết quốc tê với nhà tài trợ khi thực hiện dự án đầu tư.
1.4. Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ
sở hạ tẩng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
1.4.1. Chất lượng của các quy hoạch, kế hoạch đối với dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
29
Công tác quy hoạch có ảnh hưởng lớn và lâu dài đến hiệu quả của các dự
án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Để nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng thì công tác quy hoạch phải đi trước
một bước và phải xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế- xã hội một cách
bền vững. Quy hoạch phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
quy hoạch phát triển ngành. Nếu làm tốt công tác quy hoạch thì sẽ định hướng
cho đầu tư có hiệu quả cao, bền vững; ngược lại, nếu quy hoạch không có tính
khoa học, không dự báo tốt sự phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai và không
phù hợp với quy hoạch ngành và quy hoạch vùng... sẽ dẫn tới đầu tư kém hiệu
quả, dễ gây nên thất thoát, lãng phí nguồn lực đất nước.
Cùng với quy hoạch thì công tác kế hoạch đầu tư cũng là nhân tố ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong đầu tư dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế thì chất lượng công tác kế
hoạch hoá càng có ý nghĩa quan trọng. Xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn và
dài hạn khoa học để từ đó chủ động xây dựng kế hoạch huy động và phân bổ
nguồn vốn ODA hợp lý trong trung hạn và ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư, hạn chế lãng phí trong các dự án đầu tư. Ngược lại, nếu công
tác kế hoạch hoá không tốt sẽ dẫn tới tình trạng nhiều công trình có khối lượng
hoàn thành không được bố trí vốn trong khi đó có những công trình lại trong
tình trạng vốn đợi công trình hoặc có những khu vực dự án đầu tư dàn trải khong
trọng điểm gây lãng phí lớn trong việc sử dụng nguồn vốn ODA.
1.4.2. Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức quản lý nhà nước đối với các
dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức quản lý là yếu tố quan trọng
quyết định đến chất lượng quản lý dự án đầu tư. Quản lý dự án đầu tư là nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của các dự án đầu tư. Đặc điểm
của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là qua rất nhiều giai
đoạn khác nhau, do đó công tác quản lý dự án đầu tư cũng bao gồm nhiều giai
30
đoạn xuyên suốt quá trình đầu tư: Từ giai đoạn xem xét chủ trương đầu tư, công
tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc dự án bàn giao đưa
vào khai thác sử dụng. Ngoài ra, hoạt động đầu tư và triển khai dự án đầu tư liên
quan đến rất nhiều chủ thể quản lý khác nhau. Do đó quản lý dự án đầu tư là một
hoạt động phức tạp và chất lượng công tác quản lý ở mỗi giai đoạn đều ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn ODA đầu tư cho mỗi công trình, dự
án cơ sở hạ tầng. Nói cách khác trình độ, năng lực của cán bộ công chức quản lý
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn ODA.
1.4.3. Năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiêp nhận thầu dự
án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA một
phần nào được thể hiện rõ qua năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh
nghiệp nhận thầu. Với doanh nghiệp nhận thầu có năng lực, ý tức tôn trọng pháp
luật tốt thì tốc độ thực hiện dự án và tiêu chuẩn, kỹ thuật công trình sẽ được đảm
bảo. Ngược lại nếu năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiệp
nhận thầu kém thì sẽ dẫn đến tình trạng dự án sẽ bị đình trệ, thời gian thực hiện
dự án kéo dài, chất lượng công trình không được đảm bảo, gây thất thoát nguồn
vốn từ đó dẫn đến hiệu quả nguồn vốn trong đầu tư không cao, lãng phí nguồn
lực xã hôi.
1.4.4. Cơ chế, chính sách của Nhà nước
- Cơ chế, chính sách về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng và quản lý nguồn
vốn ODA
Cơ chế, chính sách quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng và quản lý nguồn vốn
ODA thể hiện qua các quy định của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm
quyền về các nội dung quản lý và các hình thức chế tài góp phần đảm bảo hiệu
qủa quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Nếu cơ chế quản lý
thống nhất, đồng bộ sẽ là nhân tố tạo ra sự phân công, phối hợp nhịp nhàng,
31
không mâu thuẫn hay giảm thiểu kẽ hở trong hoạt động quản lý đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA trong đầu tư. Nếu cơ chế
thường xuyên thay đổi hoặc chồng chéo, không phù hợp với thực tế sẽ dẫn tới
không có sự phối hợp tốt hoặc tạo ra nhiều kẽ hở trong quản lý, giảm hiệu quả
sử dụng vốn ODA trong các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng. Tại các quốc gia, xu
hướng tăng cường rà soát, loại bỏ các chính sách không phù hợp, sửa đổi, bổ sung
chính sách quản lý kinh tế nói chung, quản lý nhà nước về dự án đầu tư nói riêng là
việc làm luôn được các chính phủ quan tâm.
- Các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chính sách kinh tế vĩ mô như: Chính sách tài khoá (chủ yếu là chính
sách thuế và chính sách chi tiêu của Chính phủ), Chính sách tiền tệ (công cụ là
chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách
phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ; chính sách đầu thu hút đầu tư,
chính sách thu hút nguồn vốn ODA ... có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả quản
lý đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Các dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thường có thời gian thực hiện dài, sử
dụng nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực, vốn( thường là ngoại tệ)... thế nên các
chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ không ổn định sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả thực hiện dự án ( tỷ giá, giá cả vật tư biến động...)
Các chính sách này cùng với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội dài hạn của trung ương có vai trò định hướng mục tiêu, quy mô, nguồn
lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Nếu các chính sách đưa ra là
hợp lý, ổn định sẽ giúp hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn ODA được nâng cao với một cơ cấu đầu tư hợp lý, hài hoà; đảm bảo đủ
nguồn lực về tài chính, cũng như nhân lực, vật lực. Ngoài ra, trong quá trình
khai thác sử dụng các công trình khi hoàn thành, các chính sách kinh tế cũng có
tác động làm cho các công trình này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực,
nghĩa là hiệu quả sự dụng vốn ODA cao hay thấp.
32
1.5 Kinh nghiểm quản lý nhà nước về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức tại một số quốc gia.
Trên thế giới đã có nhiều nước thành công trong việc sử dụng vốn ODA
để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Trước đây Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây
là Thái Lan, Trung Quốc, In-đô-nê-xia, Philipin,…Đây là những nước mà kinh
nghiệm về quản lý nguồn vốn ODA của họ sẽ giúp tình hình của Việt Nam cải
thiện tốt hơn trong tương lai.
Một trong những nguyên nhân sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả là các
nước này xây dựng được một hệ thống quản lý ODA phù hợp theo mô hình quản
lý tập trung đi đôi với phân cấp trách nhiệm trên cơ sở khung thể chế pháp lý về
ODA không ngừng hoàn thiện.
Cụ thể, trong việc phân cấp quản lý ODA, Malaysia có sự phân định rõ
ràng về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý.
Giữa các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ và có chung một quan điểm
là tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các ban quản lý dự án để thực hiện các dự án
đúng tiến độ, áp dụng các thủ tục trình duyệt nhanh gọn nhằm giảm bớt phí cam
kết. Những hợp phần nào trong dự án khó thực hiện, Chính phủ Malaysia chủ
động đề nghị với nhà tài trợ hủy bỏ hợp phần đó.
Hiện nay, Malaysia áp dụng khá thành công công nghệ thông tin trong
công tác theo dõi, giám sát các cơ quan liên quan đến quản lý vốn ODA bằng
cách đưa toàn bộ các đề nghị thanh toán lên mạng. Nhờ cách quản lý minh bạch
như vậy, nên Malaysia trở thành một trong những “điểm sáng” về chống tham
nhũng.
Bên cạnh đó, việc phân cấp tốt trong quản lý tài chính cũng là một lý do
tạo nên sự thành công của Malaysia trong việc thu hút, quản lý và sử dụng
ODA. Những vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án tại Malaysia cũng
33
được giải quyết ngay tại các bang, do ban công tác phát triển bang và hội đồng
phát triển quận, huyện xử lý, chứ không phải trình lên tận Chính phủ, hay các bộ
chủ quản. Sự phân cấp này trong quá trình thực hiện dự án sẽ giúp cho tiến độ
dự án không bị ngưng trệ vì chờ phê duyệt. Các đơn vị này sẽ chịu trách nhiệm
trực tiếp với chủ dự án khi có bất cứ sai sót nào xảy ra trong quá trình thanh tra.
Phân chia quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng như vậy không những nâng cao
hiệu quả của đồng vốn ODA, mà còn giúp nâng cao trình độ quản lý của các cán
bộ ở cấp địa phương.
Ngoài ra, còn những nguyên nhân khác dẫn tới thành công trong quản lý
và sử dụng ODA ở Malaysia. Đó là:
- Sự phối hợp giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ trong trong hoạt động kiểm
tra, giám sát các dự án ODA, mà nội dung đánh giá tập trung chủ yếu vào việc
so sánh hiệu quả của dự án với kế hoạch, chính sách và chiến lược, nâng cao
công tác thực hiện và chú trọng vào kết quả.
- Có sự tham gia của khu vực tư nhân vào thực thi dự án đặc biệt trong các dự án
kết cấu hạ tầng, năng lượng và công nghiệp.
- Đặc biệt là văn hóa chịu trách nhiệm của các cán bộ quản lý ở Malaysia.
Tiếp theo có thể kể đến là Indonesia, Indonesia đã điều chỉnh về quy trình
thu hút, sử dụng và quản lý ODA như sau:
- Hàng năm các bộ, ngành chủ quản phải lập danh mục các dự án cần hỗ trợ
ODA, gửi đến Bộ Kế hoạch quốc gia (BAPPENAS) để tổng hợp. Bộ Kế hoạch
quốc gia thường có quan điểm độc lập với bộ chủ quản, dựa trên lợi ích tổng thể
của quốc gia để xem xét, thẩm định các dự án ODA. Đến nay, rất nhiều dự án bị
Bộ Kế hoạch quốc gia từ chối, đã thể hiện rõ tính độc lập, chủ quyền của
Indonesia trong quan hệ quốc tế. Ngay cả địa điểm ký các dự án ODA cũng thay
đổi. Nếu trước đây thường ký tại Hoa Kỳ (trụ sở của WB) hoặc Philippines (trụ
34
sở của ADB), thì đến nay hầu hết các dự án đều được ký tại Jakarta để tránh việc
đoàn đàm phán của Indonesia bị đối tác nước ngoài gây ảnh hưởng.( Đây phải
chăng là một bước tiến tao bạo bằng sự mạnh mẽ và quyết liệt trong suy nghĩ và
cách hành động của họ).
- Việc thuê các luật sư giỏi để tư vấn cho Chính phủ trong quá trình đàm phán,
thu hút và sử dụng ODA đang ngày càng trở thành xu hướng phổ biến ở
Indonesia, nhất là đối với các dự án ODA có sử dụng vốn vay lớn
- Chính phủ Indonesia tuyên bố nguyên tắc chỉ vay tiếp dự án mới khi đã thực
hiện xong dự án cũ, thể hiện rõ quyết tâm sử dụng thật sự hiệu quả và giải ngân
đúng tiến độ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng
nhấn mạnh nguyên tắc, vay ODA phải đảm bảo độ an toàn cao. Đối với các dự
án ODA có sử dụng vốn lớn, yêu cầu phải có chuyên gia tư vấn là điều kiện tiên
quyết nhằm đảm bảo tính hiệu quả của dự án.
- Bộ Tư pháp Indonesia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút, quản lý
và sử dụng các dự án ODA, vì Bộ Tư pháp là cơ quan đưa ra ý kiến về pháp lý
đối với các dự thảo Hiệp định vay vốn nước ngoài. Mục đích của cơ chế điều
phối này là tránh sự trùng lặp trong hoạt động hợp tác.
35
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại Chương 1, tác giả
đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài. Chương
1 đề cập đén những vấn đề tổng quan về dựa án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức; Nội dung QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn ODA; Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối
với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA và những nhân tố ảnh
hưởng đến QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA.
Trong đó, các khái niệm cơ bản về đầu tư, đầu tư xây dựng CSHT, ngồn vốn
ODA, bản chất, nội dung quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn ODA đã được làm rõ.
Ngoài việc nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước, luận văn còn và chỉ
rõ sự cần thiết phải thực hiện hoạt động QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở
hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là nhằm: Đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công
trình; Kiểm soát nguồn vốn đầu tư; Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội theo
định hướng; Đảm bảo các yêu cầu phù hợp với cam kết quốc tế. Cũng trong
nghiên cứu lý luận QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn
vốn ODA, luận văn đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN đối
với các dự án này, như: Chất lượng của quy hoạch, kế hoạch về dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; Trình độ, năng lực của
cán bộ, công chức quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; Năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật
của doanh nghiêp nhận thầu dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức và các cơ chế, chính sách của nhà nước. Đây là những kiến
thức cơ sở, nền tảng quan trọng định hướng cho tác giả nghiên cứu thực trạng
chương 2 và đề xuất phương hướng, giải pháp trong chương 3.
36
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT
TRIỂN CHÍNH THỨC TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Ảnh 2.1 : Bản đồ Vị trí địa lý tỉnh Quảng Bình
37
Quảng Bình là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, giới hạn trong toạ độ địa lý
18 051855 0'0
 vĩ độ bắc và 103 0010737 0'0
 kinh độ đông, phía Bắc giáp tỉnh
Hà Tĩnh; phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị; phía Đông giáp biển với bờ biển dài
116,04 km và có diện tích 20.000 km2
thềm lục địa; phía Tây giáp nước
CHDCND Lào với 201 km đường biên giới.
2.1.1.2. Địa hình, khí hậu
Quảng Bình có diện tích tự nhiên là 8.065 km2. Địa hình cấu tạo phức tạp,
bị chia cắt mạnh, hẹp về bề ngang, núi rừng sát biển, tạo thành độ dốc cao dần từ
Đông sang Tây. Đồng bằng nhỏ hẹp, chủ yếu tập trung theo hai bờ sông chính;
diện tích chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên. Khoảng 85% diện tích là
đồi núi, đá vôi. Dọc lãnh thổ đều có núi, trung du, đồng bằng và cuối cùng là bãi
cát ven biển. Mật độ sông ngòi dày, toàn tỉnh có 5 con sông chính: sông Gianh,
sông Roòn, sông Nhật Lệ, sông Lý Hoà, sông Dinh. Hầu hết các con sông bắt
nguồn từ đỉnh núi Trường Sơn đổ ra biển Đông, sông ngắn và do nhiều phụ lưu
hợp thành.
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu
chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới
điển hình ở phía Nam và có mùa Đông tương đối lạnh ở miền Bắc. Có hai mùa
rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm
80% tổng lượng mưa của cả năm nên thường gây lũ lụt trên diện rộng. Mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau với mùa khô hanh nắng gắt gắn với gió Tây
Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn nên thường xuyên gây hạn hán, cát bay, cát
chảy lấp đồng ruộng và dân cư. Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 24 - 250
C tăng
dần từ Bắc vào Nam, giảm dần từ Đông sang Tây.
2.1.1.3. Tài nguyên thiên nhiên
Quảng Bình có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú và đa dạng,
phục vụ tốt cho phát triển công nghiệp. Ngoài tài nguyên khoáng sản, tài nguyên
38
biển, rừng cũng là thế mạnh của tỉnh. Với bờ biển dài 116,04 km có vùng đặc
quyền lãnh hải khoảng 20.000km2và 631.649 ha đất rừng, chiếm 78,32% diện
tích tự nhiên, trong đó rừng sản xuất có 310.000 ha chiếm 38,44 diện tích tự
nhiên. Trữ lượng gỗ toàn tỉnh khoảng 32,3 triệu m3
. Tỷ lệ rừng che phủ năm
2012 đạt 70%, hàng năm có thể khai thác trên 30 ngàn m3
gỗ. Rừng có nhiều
loại gỗ quý, hiếm và nhiều loại song, mây, tre, lồ ô, nứa, lá nón... Đặc biệt, tỉnh
Quảng Bình sở hữu tài nguyên thiên nhiên Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng, di sản thiên nhiên thế giới với quần thể các hang động, núi đá vôi và rừng
đa dạng sinh học.
Quảng Bình được chia thành 7 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có
01 thành phố, 01 thị xã và 06 huyện. Cụ thể: thành phố Đồng Hới, Thị xã Ba
Đồn, 06 huyện là: Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy ( 04 huyện
giáp biển); Tuyên Hóa và Minh Hóa ( 02 huyện miền núi). Tỉnh Quảng Bình có
tổng cộng 159 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó: 16 phường, 7 thị trấn và 136
xã.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Đặc điểm kinh tế
Quảng Bình là tỉnh có tốc độ tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu
người tăng đều qua các năm. Trong những năm gần đây (2011-2016), tốc độ
tăng GDP trung bình là trên 6,5% (riêng năm 2011 đạt 8,6%). Thu nhập bình
quân đầu người năm 2011 đạt 18 triệu đồng/người/năm, đến năm 2016 đã đạt
28,7 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước chuyển dịch hợp
lý, giảm tỷ trọng các ngành nông lâm ngư nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công
nghiệp và dịch vụ. Năm 2010 ngành dịch vụ chỉ chiếm 40,76% cơ cấu ngành
kinh tế của tỉnh, đến năm 2014 ngành dịch vụ đã tăng lên 53,8%.
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của Quảng Bình
giai đoạn 2011 – 2016
39
TT Chỉ tiêu ĐVT
Năm
2011 2012 2013 2014 2015 2016
1 Tốc độ tăng GDP % 8,6 7,1 6,8 6,8 6,7 4,5
2 Thu nhập bình quân đầu
người
Trđ 18 20,6 22,5 24,8 27,3 28,7
3 Cơ cấu kinh tế theo
ngành
% 100 100 100 100 100 100
4 Nông, lâm, ngư nghiệp % 21,1 21,6 20,5 23,6 24,6 22,9
5
Công nghiệp, xây
dựng
% 37,7 36,4 36,4 22,6 24,8 21,8
6 Dịch vụ % 41,2 42 43,1 53,8 50,6 51,4
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình
2.1.2.2. Đặc điểm xã hội
- Vấn đề dân số và lao động
Dân số Quảng Bình đến năm 2015 là 872.925 người trên diện tích 8.065
km2
. Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai
nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã
Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem... sống tập trung ở hai huyện miền núi
Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ
Thuỷ. Dân cư phân bố không đều, 84,82% sống ở vùng nông thôn và 15,18%
sống ở thành thị.
Bảng 2.2. Tình hình dân số Quảng Bình từ 2011-2015
Đơn vị tính: Người
Chỉ Tiêu 2011 2012 2013 2014 2015
Tổng dân số 845.025 848.616 853.401 857.924 872.925
Phân theo giới tính
- Nam 423.340 424.533 426.868 429.079 436.907
40
- Nữ 421.685 424.083 426.533 428.845 436.018
Phân theo khu vực
- Thành thị 127.625 128.444 129.369 130.255 170.943
- Nông thôn 717.400 720.172 724.032 727.669 701.982
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình
- Văn hóa
Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hóa Bàu Tró, các di chỉ
thuộc nền văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn và Sa Huỳnh, nhiều di tích lịch sử như:
Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, Thành Khu Túc-
Chămpa, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong
hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương,
Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh, Hang Tám Cô...
Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều
lĩnh vực quân sự, văn hóa - xã hội như Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Tuy
Lộc hầu Đặng Đại Lược, lãnh Đức hầu Đặng Đại Độ, Sư bảo Nguyễn Đăng
Tuân, , đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng Thanh Đạt... Ngoài ra, Quảng Bình
là vùng giao thoa của hai nền văn hóa cổ Việt - Chămpa, thể hiện ở những di chỉ
có niên đại 5 nghìn năm đã khai quật được ở Bàu Tró, phía bắc Đồng Hới.
2.2. Tình hình hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016
2.2.1. Tình hình thu hút, sử dụng và quản lý các dự án hỗ trợ phát triển chính
thức tại Quảng Bình giai đoạn 2011- 2016
Từ năm 2011- 2015 toàn tỉnh Quảng Bình có 28 dự án ODA đang hoạt
động với tổng vốn: 346,94 triệu USD trong đó (vốn ODA: 276,53 triệu USD;
vốn đối ứng: 70,41 triệu USD) trong đó có 14 dự án kết thúc giai đoạn 2011-
2015; 14 dự án chuyển tiếp giai đoạn 2016-2020 (06 dự án khởi công mới năm
2015 chuyển tiếp sang 2016-2020) cụ thể được phân khai như sau:
41
- Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 13 dự án có tổng vốn ký kết 169,6
triệu USD (ODA: 135,46 triệu USD; đối ứng: 34,14 triệu USD) chiếm 48,88%
tổng vốn ODA trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015
- Giáo dục - Y tế: 13,04 triệu USD (ODA: 11,28 triệu USD; đối ứng:
1,76 triệu USD) chiếm 10,3% tổng vốn ODA trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-
2015
- Du lịch- Dịch vụ công cộng: 133,703 triệu USD (vốn ODA: 104,89 triệu
USD; vốn đối ứng: 28,81 triệu USD) chiếm 38,53% tổng vốn ODA giai đoạn
2011-2015.
- Điện: 24,3 triệu USD (ODA: 20,9 triệu USD; đối ứng: 3,4 triệu USD)
chiếm 7% tổng vốn ODA giai đoạn 2011-2015
- Giao thông: 6,3 triệu USD (ODA: 4,0 triệu USD; đối ứng: 2,3 triệu
USD) chiếm 1,8% tổng vốn ODA giai đoạn 2011-2015
Bảng 2.3. Tổng hợp vốn ODA ký kết giai đoạn 2011- 2015
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm
Tổng vốn ký kết theo hiệp định
(Triệu USD)
Tổng số Trong đó
ODA Đối ứng
2011 9,1 7,8 1,3
2012 34.2 26,4 7,8
2013 27,25 18,85 8,4
2014
2015 64,9 53,8 11,1
Tổng cộng 135.45 106.85 28,6
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình
42
Giai đoạn 2011-2015, trên địa bàn tỉnh có 11 nhà tài trợ có dự án thực hiện
tại tỉnh trong đó có 4 nhà tài trợ đa phương (ADB, WB, IFAD và UNFPA) và 7
nhà tài trợ song phương (Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nhật, Đan Mạch, Hungary,
Italia). Tỉ lệ nguồn vốn tài trợ từ WB và ADB chiếm chủ yếu trong tổng nguồn
vốn tài trợ cho khu vực này.
Bảng 2.4. Danh mục các nhà tài trợ và lĩnh vực tài trợ giai đoạn 2011-2015
Tên nhà tài trợ Lĩnh vực được hỗ trợ vốn
ODA
Số
lượng
dự án
Thời gian
Ngân hàng Phát triển
Châu Á (ADB)
Giáo dục 02 2007-2012
Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công
cộng
01 2007-2012
Nông nghiệp và phát triển
nông thôn kết hợp xóa đói
giảm nghèo
03 2007-2013
Ngân hàng Thế giới
(WB)
Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công
cộng
01 2007-2014
Công nghiệp- điện 01 2007-2013
Giáo dục- Y tế 02 2010-2016
Ngân hàng xuất nhập
khẩu Hàn Quốc
(KEXIMBANK)
Giáo dục 01 2010-2012
Pin mặt trời 01 2012-2015
Đan Mạch Du lịch- hạ tầng công cộng 01 2010-2015
Hunggary Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
01 2010-2015
Quỹ Dân số Liên hợp Y tế 01 2012-2016
43
Quốc (UNFPA)
Quỹ Phát triển nông
nghiệp liên hợp Quốc
(IFAD)
Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn kết hợp xóa đói
giảm nghèo
02 2013-2018
Cơ quan phát triển
quốc tế Nhật Bản
(JICA)
Nông nghiệp và PTNT; Giao
thông; Công nghiệp- điện
5 2010-2015
2012-2021
Ngân hàng tái thiết
Đức (KFW)
Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên 01 2008-2016
Cơ quan phát triển
Pháp (AFD)
Nông nghiệp 01 2008-2013
Italia Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
01 2014-2016
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình
Các dự án đang thực hiện giai đoạn 2011-2015, chủ yếu do WB tài trợ
(39,17%), tiếp theo ADB (14,7%), IFAD (11,07%), Hàn Quốc (7,37) còn lại là
các nhà tài trợ khác (Hungary, Đan Mạch, Pháp, Nhật Bản…)
Bảng 2.5. Cơ cấu nguồn vốn của các nhà tài trợ thực hiện trong
giai đoạn 2011-2015
TT Nhà tài trợ Lĩnh vực tài trợ Tổng vốn ký
kết
(Triệu USD)
Tỉ lệ
(%)
1 ADB 29,86 14,70
Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
26,66
Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công 2,28
44
cộng
Giáo dục 0,92
2 WB 79,564 39,17
Nông nghiệp và phát triển nông
thôn; xóa đói giảm nghèo
12,247
Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công
cộng
60,247
Công nghiệp- điện 7,07
Giáo dục- Y tê 7,02
3 UNFPA Giáo dục- Y tế 1,6 0,79
4 IFAD Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
22,491 11,07
5 JICA
(Nhật)
10,74 5,29
Giao thông 3,85
Công nghiệp điện 1,07
Nông nghiệp- Phát triển nông
thôn
5,82
6 AFD (Pháp) Nông nghiệp và phát triển
nông thôn
4,42 2,18
7 Hàn Quốc 14,962 7,37
Giáo dục đào tạo 2,962
Công nghiệp- điện 12,0
8 Hungary Nông nghiệp và PTNT 13,67 6,72
9 Đan Mạch Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công
cộng
10,67 5,25
10 Đức Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
14,65 7,21
45
11 Italia Nông nghiệp và phát triển
nông thôn
0,52 0,26
Tổng cộng 203,147 100
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình
Trong giai đoạn 2011-2015, các dự án ODA đã giải ngân được 131,73 triệu
USD trong đó đó ODA: 111,45 triệu USD, đối ứng: 20,28 triệu USD
Bảng 2.6. Giải ngân của các dự án ODA giai đoạn 2011-2015
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm
ODA giải ngân
Tổng số Trong đó
ODA Đối ứng
2011 29,34 25,0 4,34
2012 35,57 30,6 4,97
2013 31,69 27,59 4,10
2014 27,56 23,07 4,49
2015 7,57 5,19 2,38
Tổng cộng 131,73 111,45 20,28
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình
Tóm lại, trong giai đoạn 2011-2015 các các dự án ODA trên địa bàn tỉnh có
quy mô trung bình khoảng 8 triệu USD trong đó dự án cao nhất 60,247 triệu
USD, dự án thấp nhất dưới 1 triệu USD được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên
đầu tư của tỉnh: Nông nghiệp- Nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, giáo
dục- y tế, cơ sở hạ tầng, công nghiệp- điện và giao thông. Các dự án ODA sau
khi đầu tư hoàn thành đã góp phần quan trọng trong việc làm thay đổi bộ mặt hạ
tầng kinh tế xã hội của tỉnh.
2.1.2. Hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016
46
Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh nhưng cơ sở hạ tầng của tỉnh Quảng Bình còn nhiều yếu
kém, đặc biệt là CSHT giao thông nông thôn. Quảng Bình là một tỉnh có địa
hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, hẹp bề ngang và dốc, nghiêng từ Tây sang
Đông nên việc phát triển giao thông của tỉnh gặp nhiều khó khăn.
Nhận thức được tầm quan trọng của CSHT với sự nghiệp phát triển kinh
tế xã hội toàn tỉnh, trong những năm qua tỉnh Quảng Bình đã huy động mọi
nguồn lực cho phát triển CSHT, trong đó nguồn vốn ODA có một vai trò quan
trọng. Chính vì vậy, lĩnh vực xây dựng CSHT là lĩnh vực có tỷ trọng vốn ODA
cam kết lớn nhất, chiếm 50,32% với 202,297 triệu USD ( giai đoạn 2006-2015).
Bảng 2.7. Danh mục dự án ODA thu hút vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ
tầng tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2016
Đơn vị tính: Triệu USD
STT Tên dự án
Vốn phê
duyệt
Thời gian
thực hiện
1 Dự án cấp thoát nước thị trấn Nông trường Việt
Trung, huyện Bố Trạch
0,784 2008 – 2012
2 Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn
Ninh, huyện Quảng Ninh
0,975 2009 – 2013
3 Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn
Thủy, Mỹ Thủy
0.931 2011 – 2013
4 Dự án Vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới 78,5 2007 – 2014
5 Dự án Thủy Lợi Thượng Mỹ Trung 23,25 2008 – 2012
6 Dự án khắc phục hậu quả thiên tai năm 2005 6,478 2007 – 2012
7 Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa
Gianh
3,073 2008 – 2012
8 Dự án phát triển bền vững du lịch tiểu vùng
sông Mê Kong
5,85 2010 – 2013
47
STT Tên dự án
Vốn phê
duyệt
Thời gian
thực hiện
9 Dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch 12,5 2011- 2017
10 Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba Đồn 17,5 2011 – 2017
11 Dự án quản lý rủi ro thiên tai 5,667 2012 – 2014
12 Dự án Giao thông nông thôn III 5,27 2008 – 2013
13 Dự án đường ven biển Hải Ninh – Ngư Thủy
Lệ Thuỷ
4,5 2011 – 2013
14 Dự án cấp nước dân cư khu kinh tế Hòn La 19,5 2011 – 2016
15 Dự án xây dựng đường tỉnh lộ 22 Quảng Trạch 9,5 2012 – 2017
16 Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới 36,5 2013 – 2017
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình.
Dựa vào bảng trên, các chương trình, dự án ODA ở lĩnh vực cơ sở hạ tầng
thu hút tập trung chủ yếu vào xây dựng và củng cố hệ thống giao thông, hệ
thống cấp nước sinh hoạt, hệ thống thoát nước đô thị và một số dự án tập trung
vào việc củng cố cơ sở hạ tầng để đối phó thiên tai.
Đối với các địa phương khác thì giao thông là lĩnh vực thu hút được nhiều
vốn ODA nhất với các dự án quy mô lớn, nhưng tỉnh Quảng Bình lại không
nhận được nhiều vốn ODA trong lĩnh vực này và các dự án thường nhỏ lẻ. Tuy
nhiên không thể phủ nhận vai trò của các dự án giao thông sử dụng vốn ODA
với việc phát triển giao thông, đặc biệt là giao thông nông thôn. Các dự án giao
thông trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, tạo hệ thống đường
giao thống thôn tỉnh tương đối tốt. Các đường liên thôn, liên xã hầu như được bê
tông hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại kể cả trong mùa mưa lũ, điều
này khuyến khích giao thương hàng hóa, xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời
sống nhân dân.
48
Bên cạnh đó, Quảng Bình cũng quan tâm thu hút các nhà tài trợ tới việc
đầu tư các dự án cấp thoát nước và phát triển đô thị. Có thể kể đến những dự án
với vốn và quy mô lớn như: dự án vệ sinh môi trường thành phố Đông Hới thực
hiện trong giai đoạn 2007 - 2014 với giá trị cam kết cả 2 giai đoạn là 78,5 triệu
USD; dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch sử dụng vốn vay của
Hungary với vốn ODA cam kết là 12,5 triệu USD; dự án cấp thoát nước và vệ
sinh thị xã Ba Đồn với số vốn 17,5 triệu USD.
Ngoài ra, Quảng Bình là tỉnh thường xuyên gánh chịu hậu quả thiên tai
nên tỉnh cũng nhận được vốn ODA đầu tư vào các dự án củng cố cơ sở hạ tầng
ứng phó với thiên tai và ngày càng nhận được ưu tiên: dự án quản lý rủi ro thiên
tai, dự án thủy lợi Thượng MỹTrung với số vốn cam kết 23,25 triệu USD.
Trong giai đoạn 2011- 2016, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 16 dự án
đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA được triển khai, thực hiện. Trong đó,
có 03 dự án do Trung ương quản lý đó là Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An,
Vạn Ninh, Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy, Dự
án Giao thông nông thôn III do Bộ Giao thông Vận tải làm cơ quan chủ quản; 13
dự án còn lại do UBND tỉnh làm cơ quan chủ quan, giao cho các Sở ngành
chuyên môn, UBND các huyện làm chủ dự án; đối với những dự án có vốn đầu
tư lớn và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực UBND tỉnh trực tiếp làm chủ dự
an. Cụ thể: UBND tỉnh là chủ dự án 02 dự án đó là: Dự án vệ sinh môi trường
thành phố Đồng Hới và Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới; Sở Nông
Nghiệp và Phát triển Nông thôn là chủ dự án 03 dự án: Dự án Thủy lợi Thượng
Mỹ Trung, Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh và Dự án quản lý
rủi ro thiên tai; UBND huyện Quảng Trạch là chủ dự án 02 dự án: Dự án cấp
nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch và Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba
Đồn...
2.3. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016
49
2.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Theo quy định của Chính phủ Việt Nam, có 04 cấp tham gia vào quá trình
vận động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, bao gồm: Ban Quản lý dự án (
QLDA), Chủ dự án, Cơ quan chủ quản, Cơ quan quản lý nhà nước về ODA [1,
Tr 5].
- Ban QLDA: Là đơn vị giúp việc cho Chủ dự án trong việc quản lý thực
hiện chương trình, dự án ODA.
- Chủ dự án: Là đơn vị được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng
nguồn vốn ODA và nguồn vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án theo
nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, và quản lý, sử dụng công trình
sau khi chương trình, dự án kết thúc.
- Cơ quan chủ quản: Là các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực
thuộc Chính phủ, các cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị xã hội, các tổ
chức nghề nghiệp, các cơ quan trực thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao,
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương có chương trình, dự án.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về ODA: Gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Văn
phòng Chính phủ.
Nguồn vốn ODA với nhiều ưu đãi là nguồn vốn đầu tư quan trọng phục
vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương, tuy nhiên, nguồn vốn
ODA lại là vốn mà phải trả nợ trong tương lai. Do đó, UBND tỉnh triển khai và
chỉ đạo thực hiện quy định về quản lý, sử dụng vốn đầu tư dự án ODA trên địa
bàn với yêu cầu tránh tình trạng thất thoát, lãng phí, đầu tư không hiệu quả. Vai
trò quản lý của UBND tỉnh đối với các chương trình, dự án ODA được thể hiện
ở hai góc độ, bao gồm vai trò là cơ quan quản lý Nhà nước đối với các chương
50
trình, dự án ODA và vai trò là cơ quan chủ quản đối với các chương trình, dự án
ODA. Do đó, ở mỗi vai trò đều thể hiện quyền hạn và trách nhiệm nhất định.
Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh
Quảng Bình, UBND tỉnh là cơ quan chủ quản đối với tất cả các dự án chỉ trừ
một số ít dự án về giao thông là do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ quản như dự
án xây dựng giao thông nông thôn II, III. Các dự án ODA về cơ sở hạ tầng sử
dụng nguồn vốn ODA do Chính phủ phân bổ về tỉnh Quảng Bình, UBND tỉnh
Quảng Bình đều trực tiếp làm cơ quan chủ quản dự án nhằm thống nhất quản lý
nguồn vốn ODA trên địa bàn nói chung cũng như lĩnh vực cơ sơ hạ tầng nói
riêng.
Cơ quan chủ quản
Chủ dự án
Ban QLDA
UBND tỉnh
Sở chuyên
môn
UBND
huyện
Ban QLDA Ban QLDA
Ban QLDA
Dự án
ĐTCSHT sử
dụng vốn
ODA
Dự án
ĐTCSHT sử
dụng vốn
ODA
Dự án
ĐTCSHT sử
dụng vốn
ODA
51
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý đối với các dự án CSHT bằng vốn ODA
tại tỉnh Quảng Bình
Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện phân công theo nguyên tắc dự án đầu tư
có sở hạ tầng thuộc lĩnh vực nào giao cho sở phụ trách lĩnh vực đó làm chủ dự
án và triển khai trên địa bàn huyện nào do UBND huyện đó làm chủ dự án. Ví
dụ như Dự án thủy lợi Thượng Mỹ Trung, dự án neo đậu tránh trú bão tàu cá cửa
Gianh,…do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ dự án; các dự án
triển khai tại huyện Quảng Trạch như Dự án cấp nước sinh hoạt cho huyện
Quảng Trạch, dự án thoát nước và vệ sinh cho thị xã Ba Đồn do UBND huyện
Quảng Trạch làm chủ dự án (Thị xã Ba Đồn tách khỏi huyện Quảng Trạch năm
2015). Chủ dự án sẽ tiến hành thành lập Ban Quản lý dự án để thực hiện dự án
khi văn kiện về chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các Ban
Quản lý dự án này chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp của chủ dự án, có trách
nhiệm định kỳ hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến chủ dự án.
Định ký hàng quý, Chủ dự án có trách nhiệm báo cáo hoạt động của dự án do
mình phụ trách đến UBND tỉnh.
Tuy nhiên, đối với các dự án có quy mô nguồn vốn lớn, liên quan đến
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và triển khai trên nhiều địa bàn UBND tỉnh trực tiếp
làm chủ dự án và thành lập Ban Quản lý dự án trực thuộc UBND tỉnh. Các Ban
Quản lý dự án này chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của UBND tỉnh trong
mọi hoạt động của dự án và hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến
UBND tỉnh và nhà tài trợ. Ví dụ: Dự án vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới
với số vốn cam kết 78,5 triệu USD.
Tại tỉnh Quảng Bình, chủ dự án ODA có trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử
dụng nguồn vốn ODA và nguồn vốn đối ứng để thực hiện dự án theo nội dung
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, và quản lý, sử dụng công trình sau khi
chương trình, dự án kết thúc. Ngoài ra có nhiệm vụ: tổ chức bộ máy quản lý và
thực hiện chương trình dự án; ký kết các hợp đồng theo đúng quy định của pháp
52
luật; chịu trách nhiệm liên tục và toàn diện về quản lý sử dụng các nguồn vốn
đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa dự án vào khai thác sử
dụng, thu hồi và hoàn trả vốn vay ODA (trường hợp cho vay lại); thực hiện giám
sát, đánh giá dự án, quản lý khai thác chương trình, dự án...
Ban quản lý dự án có nhiệm vụ lập kế hoạch bao gồm: Xây dựng kế hoạch
tổng thể và kế hoạch chi tiết hàng năm thực hiện chương trình, dự án (kế hoạch
giải ngân, kế hoạch chi tiêu, kế hoạch đấu thầu...), trong đó xác định rõ các
nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời gian hoàn thành, mục tiêu chất lượng
và tiêu chí chấp nhận kết quả đối với từng hoạt động của chương trình, dự án để
làm cơ sở theo dõi, đánh giá.
2.3.2. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý dự án đầu tư cơ sở
hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng quốc tế, năm 1993 đến nay, Chính
phủ Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý cho các hoạt động
đầu tư bằng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và đã ban hành 05 nghị
định về quản lý và sử dụng ODA, cụ thể:
- Nghị định 20/CP (15/03/1994)
- Nghị định 87/CP (05/08/1997)
- Nghị định 17/2001/NĐ-CP (04/05/2001),
- Nghị định 131/2006/NĐ-CP (09/11/2006),
- Nghị định 38/2013/NĐ-CP (23/04/2013)
- Nghị định 16/2016/NĐ-CP (16/03/2016)
Hiện nay, công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA được thực hiện
theo Nghị định Nghị định 16/2016/NĐ-CP và đã ban hành Thông tư số
12/2016/TT-BKHĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định.
Quảng Bình cũng như các tỉnh, là chính quyền địa phương được Chính
phủ phân cấp quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA trên địa
bàn tỉnh. Các hoạt động quản lý phải phù hợp với quy định của Hiến pháp, pháp
53
luật và các văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn
của các Bộ, ngành liên quan,... Trong giai đoạn 2011-2016, tỉnh Quảng Bình đã
ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật quy định đến việc thu hút và sử
dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn như: Quyết định số 624/QĐ-UBND ngày
11/06/2015 về việc phê duyệt "Đề án vận động, thu hút các dự án ODA vào tỉnh
Quảng Bình đến 2020", đã đặt ra các mục tiêu và định hướng cho việc thu hút
ODA của tỉnh, tập trung ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, nông thôn kết hợp
với xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra tỉnh thực hiện theo các nội dung của Nghị
định 131/2006/NĐ-CP, Nghị định 38/2013/NĐ-CP, Nghị định 16/2016/NĐ-CP
và các Thông tư hướng dẫn. Nghị định hiện hành là Nghị định 16/2016/NĐ-CP
về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) có hiệu lực từ 02/05/2016.
Để hướng dẫn thực hiện các Nghị định của Chính phủ về quản lý và sử
dụng ODA, Bộ kế hoạch và Đầu tư ban hành thông tư chung hướng dẫn thực
hiện Nghị định về quản lý và sử dụng cụ thể là Thông tư số 12/2016/TT-
BKHĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 16/2016/NĐ-CP
ngày 16 tháng 3 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; Bộ Tài
chính ban hành thông tư hướng dẫn về quản lý tài chính đối với các chương
trình dự án ODA, hiện tại Bộ tài chính đã có thông tư hướng dẫn thực hiện một
số điều của Nghị định số 16/2016/NĐ-CP đó là Thông tư 111/2016/TT-BTC
Quy định về quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn
vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài của các nhà tài trợ nước ngoài; Bộ Ngoại
giao ban hành thông tư hướng dẫn ký kết các điều ước quốc tế.
Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA thì ngoài
các Nghị định về quản lý và sử dụng vốn ODA thì còn được điều chỉnh bởi các
văn bản pháp luật sau: Luật Xây dựng 2014 số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06
năm 2014, Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25 tháng 06 năm
54
2015, Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014, Luật Đầu tư
công số 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014... và các Nghị định liên
quan.
Bảng 2.8. Thống kê một số văn bản pháp quy về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình hiện nay
Các luật Nghị định Quyết định UBND tỉnh
Tên luật
Ngày ban
hành
Số
Ngày ban
hành
Số
Ngày ban
hành
Luật XD số
50/2014/QH13
18/06/2014
Luật NSNN số
83/2015/QH13
25/06/2015
Luật Đầu tư số
67/2014/QH13
26/01/2014
Luật Đấu thầu sô
43/2013/QH13
26/01/2013
16/2016 16/03/2016
69/2015 18/06/2015
624/2015 11/06/2015
Nguồn: Tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam năm 2016
2.3.3. Lập quy hoạch, kế hoạch về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức
-Đối với công tác quy hoạch
Công tác quy hoạch một hình thức định hướng thu hút và sử dụng vốn
ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng. Quy hoạch xác định rõ quy mô, giới hạn thu
hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng trong một khoảng thời gian
nhất định của quốc gia. Quy hoạch cũng là cơ sở, tiền đề để xây dựng kế hoạch,
55
chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Quy hoạch thu
hút và sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng dài hạn là 10 năm, trung
hạn là 5 năm, ngắn hạn là kế hoạch từng năm cụ thể trên bình diện cả nước, một
vùng, hay một ngành như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông v.v... Ở tỉnh
Quảng Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư được UBND tỉnh giao nhiệm vụ lập quy
hoạch về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA nói chung hay ODA dành cho đầu
tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Bản quy hoạch được lập dựa trên điều kiện tự nhiên;
điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh được Thủ tướng phê duyệt; cũng như đề án định hướng thu hút, quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA của Chính Phủ ban hành... Sau khi hoàn thành Sở Kế
hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh xem xét cho ý kiến và quyết định. Bản quy
hoạch sẽ giúp tỉnh dễ dàng hơn trong việc lập kế hoạch về thu hút và sử dụng
nguồn vốn ODA; cũng như lập danh sach các chương trình, dự án ODA cần
thiết cho sự phát triển kinh tê – xã hội của tỉnh giai đoạn tiếp theo.
- Lập kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA
Trên cơ sở "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và
các khoản vốn vay ưu đãi khác của nhà tài trợ" của Chính Phủ ban hành, tỉnh
Quảng Bình đã ban hành Quyết định số 624/QĐ-UBND ngày 11/06/2015 về
việc phê duyệt "Đề án vận động, thu hút các dự án ODA vào tỉnh Quảng Bình
đến năm 2020", đã đặt ra các mục tiêu và định hướng cho việc thu hút ODA của
tỉnh như sau: Tiến tới thu hút được nhiều hơn nữa nguồn vốn nước ngoài để góp
phần tăng trưởng kinh tế, tích cực đẩy nhanh xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời
sống nhân dân, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo
100% người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ xã hội và bảo vệ môi trường
bền vững; các doanh nghiệp được tiếp cận với các nguồn vốn nước ngoài với cơ
chế cho vay và lãi suất ưu đãi tiến tới xây dựng tỉnh Quảng Bình ngày càng phát
triển, văn minh và hiện đại
56
2.3.4. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đối với các dự án đầu tư cơ sở
hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
- Công tác lập danh mục chương trình, dự án
Tại tỉnh Quảng Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan được UBND tỉnh
giao nhiệm vụ làm đầu mối đảm nhận vận động, thu hút vốn ODA cho địa
phương nói chung và thu hút ODA cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng nói riêng. Hàng
năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu các sở, ban ngành, UBND các huyện, thị
xã, các cơ quan, đoàn thể trong toàn tỉnh căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh, của ngành mình mà tiến hành kiểm tra, rà soát và xây dựng
danh mục các dự án cần huy động nguồn vốn ODA. Trên cơ sở đó, Sở Kế hoạch
và Đầu tư tiến hành tổng hợp xây dựng danh mục các dự án vận động ODA của
tỉnh, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh mục chương trình, dự án yêu
cầu tài trợ của tỉnh Quảng Bình. Sau khi nhận được danh mục dự án vận động
ODA, Ủy ban nhân dân tỉnh đã xem xét, đánh giá và phê duyệt danh mục dự án
vận động ODA của tỉnh Quảng Bình và có công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đăng ký danh mục dự án vận động ODA tỉnh Quảng Bình. Dưới đây là danh
mục các dự án trọng trong những năm gần đây.
Bảng 2.9. Danh mục các dự án trọng điểm về đầu tư cơ sở hạ tầng để xúc
tiến nguồn vốn ODA giai đoạn 2011- 2016
Đơn vị tính: Triệu USD
TT Tên dự án
Tổng vốn
dự kiến
(triệu
USD)
Địa điểm
Cơ quan chịu
trách nhiệm
Dự kiến
nhà tài trợ
1
Dự án vệ sinh môi
trường thị trấn Ba
Đồn
10
Quảng
Trạch
UBND huyện
Quảng Trạch
Bỉ, Pháp,
Đan Mạch
57
2
Dự án phát triển hạ
tầng đô thị Đồng
Hới
50 Đồng Hới Sở Xây dựng
Nhật Bản,
ADB
3
Nâng cấp hệ thống
đường giao thông
20 Các huyện
Sở Giao thông
Vận tải
WB
4
Hệ thống cấp nước
sinh hoạt nông thôn
các xã ven biển
7 Các huyện UBND các huyện ADB; WB
5
Xây dựng hệ thống
thoát nước và xử lý
nước thải, chất thải
rắn các huyện
30 Các huyện UBND các huyện WB, ADB
6
Dự án cấp nước thị
trấn Hoàn Lão
2,5 Bố Trạch
Công ty TNHH 1
thành viên cấp
thoát nước
Nhật Bản
(JBIC)
7
Dự án cấp nước thị
trấn Lệ Ninh
2
Lệ Thuỷ-
Quảng
Ninh
Công ty TNHH 1
thành viên cấp
thoát nước
Quảng Bình
JBIC (Nhật
Bản)
8
Dự án đường giao
thông Quy Hậu- Văn
Thuỷ
2,5 Lệ Thuỷ
UBND huyện Lệ
Thuỷ
JBIC (Nhật
Bản)
9
Dự án cấp nước khu
dân cư Hòn La
2
Quảng
Trạch
UBND huyện
Quảng Trạch
JBIC (Nhật
Bản)
10
Dự án phát triển hạ
tầng nông thôn bền
vững
10 Các huyện Sở NN và PTNT ADB
58
11
Dự án đường ven
biển Bảo Ninh- Võ
Ninh
3
TP Đồng
Hới-
Quảng
Ninh
Sở Giao thông-
Vận tải
WB
12
Dự án đường ven
biển Hải Ninh- Ngư
Thuỷ Nam
3
Quảng
Ninh và
Lệ Thuỷ
Sở Giao thông-
Vận tải
WB
13
Dự án đường ven
biển Quảng Đông-
Quảng Phúc, Quảng
Trạch
2
Quảng
Trạch
UBND huyện
Quảng Trạch
JBIC (Nhật
Bản)
14
Dự án đường ven
biển Lý Trung Nhân,
Đức Trạch, Bố
Trạch
2 Bố Trạch
UBND huyện Bố
Trạch
WB; JBIC
(Nhật Bản)
15 Cầu Trùng Quán 2,5
Quảng
Ninh
UBND huyện
Quảng Ninh
JBIC (Nhật
Bản)
Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Quảng Bình
Trong giai đoạn 2011-2016, tỉnh Quảng Bình xây dựng được 15 dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng yêu cầu tài trợ vốn ODA, trung bình mỗi năm có khoảng 2,5 dự
án được xây dựng. Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục tài trợ
chính thức, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho tỉnh về danh
mục tài trợ chính thức. Sở Kế hoạch và Đầu tư thông báo và phối hợp với chủ
đầu tư các dự án nằm trong danh mục tài trợ chính thức của tỉnh tiến hành công
tác chuẩn bị dự án như ra quyết định về chủ dự án; chuẩn bị văn kiện, chương
trình dự án; lập kế hoạch vốn chuẩn bị chương trình, dự án; lập báo cáo nghiên
cứu tiền khả thi, báo cáo khả thi. Sở Kế hoạch và Đầu tư sau đó đã tiến hành
59
thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt chương trình, dự án và có công văn gửi
Bộ Kế hoạch và Đầu tư để trình Chính Phủ phê duyệt việc ký kết điều ước cụ
thể về ODA.
- Quyết định về chủ dự án
Đối với các chương trình, dự án do Bộ, Ngành trung ương quản lý, có sự
phối hợp với Quảng Bình để thực hiện trên địa bàn tỉnh và tỉnh được trực tiếp
thụ hưởng dưới dạng dự án thành phần, các Bộ chuyên ngành là cơ quan chủ
quản dự án, UBND tỉnh Quảng Bình tham gia vào dự án với tư cách là cơ quan
chủ quản thành phần. Cụ thể là dự án các dự án xây dựng giao thông nông thôn
II, III do Ngân hàng thế giới tài trợ, các dự án do JBIC tài trợ như Dự án
đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn Ninh, đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu,
Văn Thủy, Mỹ Thủy. Các dự án này do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ quản,
vai trò của tỉnh trong việc triển khai dự án không lớn, chủ yếu là giải phóng
mặt bằng và quản lý hành chính.
Đối với các dự án triển khai trên một lĩnh vực nào đó hoặc trên địa bàn
một huyện, tỉnh thực hiện phân công theo nguyên tắc, dự án thuộc lĩnh vực nào
thì giao cho sở phụ trách lĩnh vực đó làm chủ dự án và triển khai trên địa bàn
huyện nào thì do UBND huyện đó làm chủ dự án. Cụ thể, Dự án xây dựng
đường tỉnh lộ 22 Quảng Trạch ; Dự án đường ven biển Hải Ninh – Ngư Thủy
với tổng số vốn cam kết 14 triệu USD được Sở Giao thông Vận tải làm chủ dự
án. Dự án Thủy Lợi Thượng Mỹ Trung, Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá
Cửa Gianh với tổng số vốn cam kết 26,323 triệu USD được Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn làm chủ dự án. Dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng
Trạch, Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba Đồn với tổng số vốn cam kết 30
triệu USD được UBND huyện Quảng Trạch làm chủ dự án. Chủ dự án sẽ thành
lập Ban quản lý dự án để thực hiện các dự án và có trách nhiệm báo cáo tình
hình hoạt động của dự án do mình phụ trách đến UBND tỉnh. Việc thực hiện
phân công trách nhiệm như trên giúp giảm gánh nặng cho UBND tỉnh, vừa gắn
60
trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thụ hưởng dự án phải thực hiện dự án một
cách có hiệu quả.
Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có quy mô nguồn vốn lớn, liên
quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và triển khai trên nhiều địa bàn. Trong
giai đoạn 20011 - 2016, UBND tỉnh đã trực tiếp làm chủ dự án các dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng có quy mô lớn và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, địa bàn trên
toàn tỉnh; thành lập ban quản lý dự án trực thuộc UBND tỉnh. Các ban quản lý
dự án này chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của UBND tỉnh trong mọi
hoạt động của dự án, hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến
UBND tỉnh và nhà tài trợ. Cụ thể Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới với
số vốn 36,5 triệu USD, Dự án Vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới với số
vốn 78,5 triệu USD được UBND tỉnh Quảng Bình làm chủ dự án. Từ đây, tỉnh
có thể thống nhất quản lý các chương trình dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng
nguồn vốn ODA, tạo điều kiện cho các chương trình dự án dễ dàng được triển
khai thực hiện, ít vướng mắc trong các công tác giải phóng mặt bằng.
- Chuẩn bị vốn đối ứng
Vốn đối ứng là phần vốn trong nước tham gia vào từng chương trình, dự
án ODA theo cam kết giữa nước tiếp nhận và nhà tài trợ nước ngoài trên cơ sở
hiệp định, văn kiện dự án, quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền. Vốn đối
ứng là yêu cầu do nhà tài trợ đưa ra nhằm bảo đảm quyền sở hữu và trách nhiệm
của nước tiếp nhận trong dự án ODA. Nhà nước phải cân đối vốn đối ứng trong
tổng ngân sách nhà nước; bố trí vốn đối ứng cho từng ngành, địa phương; điều
chỉnh, bổ sung vốn đối ứng. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vốn đối ứng
thường được sử dụng để thực hiện công tác di dân, giải phóng mặt bằng, tái định
cư, xây dựng dự án chuẩn bị đầu tư và chi phí thẩm định thiết kế, duyệt tổng dự
toán, hoàn tất các thủ tục đầu tư, chi phí liên quan đến quá trình lựa chọn nhà
thầu...
61
Bảng 2.10: Tổng hợp vốn ODA ký kết và giải ngân từ năm 2011- 2015
ĐVT: Triệu USD
Năm
Tổng vốn ký kết theo hiệp định ODA giải ngân
Tổng số Trong đó Tổng số Trong đó
ODA Đối ứng ODA Đối ứng
2011 9,1 7,8 1,3 29,34 25,0 4,34
2012 34,2 26,4 7,8 35,57 30,6 4,97
2013 27,25 18,85 8,4 31,69 27,59 4,10
2014 27,56 23,07 4,49
2015 64,9 53,8 11,1 7,57 5,19 2,38
Tổng cộng 135,45 106,85 28,6 131,73 111,45 20,28
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình
Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Quảng Bình cần tới 20,28 triệu USD vốn
đối ứng cho tất cả các dự án ODA trong tỉnh, riêng đối với các dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng cần 9,8 triệu USD vốn đối ứng. Vậy trung bình mỗi năm Quảng Bình
cần bỏ ra 4 triệu USD vốn đối ứng cho các dự án ODA nói chung và 2 triệu
USD vốn đối ứng cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Nhìn qua vốn
đối ứng chỉ chiếm khoảng 20% vốn ODA được cấp, tuy nhiên với một tỉnh
nghèo như Quảng Bình với tổng thu Ngân sách Nhà nước năm 2016 là 3.067 tỷ
đồng ( tương đương 137 triệu USD) thường xuyên gặp lũ lụt, thiên tai thì số vốn
đối ứng bỏ ra cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là không
nhỏ.
- Thẩm định, phê duyệt dự án
Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục tài trợ chính thức, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư sẽ thông báo bằng văn bản cho tỉnh Quảng Bình về danh
mục tài trợ chính thức của tỉnh Quảng Bình và từ đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ
thông báo và phối hợp với chủ đầu tư các dự án nằm trong danh mục tài trợ
62
chính thức của tỉnh tiến hành công tác lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo
cáo khả thi. Trong giai đoạn 2011- 2016, tỉnh Quảng Bình thực hiện 15 dự án
đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Sở kế hoạch và đầu tư được UBND
tỉnh giao nhiệm vụ thẩm định các dự án thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả
thi, báo cáo khả thi do chủ đầu tư các dự án lập. Sở Kế hoạch và đầu tư phối hợp
với các Sở chuyên ngành như: Sở Giao thông Vận tải, Sở Xây dựng, Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn,... và Sở Tài chính tiến hành thẩm định các dự án
trên các điều kiện: phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ; các điều
kiện, giá cả, hiệu quả đầu tư; đảm bảo an toàn tài nguyên, môi trường; các vấn
đề xã hội của dự án... Trong quá trình thẩm định dự án thường gặp một số khó
khăn như: nhiều dự án liên quan đến nhiều ngành, lãnh thổ nên thời gian lấy ý
kiến của các cơ quan chuyên môn thường dài hơn so quy định; thủ tục hành
chính thẩm định còn chồng chéo, qua nhiều khâu nên tốn thời gian... Sau khi
thẩm định dự án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về nội dung
thẩm định và có tính khả thi cao thì Sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh
phê duyệt chương trình, dự án và có công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để
trình Chính Phủ phê duyệt việc ký kết điều ước cụ thể về ODA.
- Thực hiện dự án
Trong giai đoạn 2011- 2016, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 16 dự án
đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA được triển khai, thực hiện. Trong đó,
có 03 dự án do Trung ương quản lý đó là Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An,
Vạn Ninh, Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy, Dự
án Giao thông nông thôn III do Bộ Giao thông Vận tải làm cơ quan chủ quản; 13
dự án còn lại do UBND tỉnh làm cơ quan chủ quan, giao cho các Sở ngành
chuyên môn, UBND các huyện làm chủ dự án; đối với những dự án có vốn đầu
tư lớn và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực UBND tỉnh trực tiếp làm chủ dự
an. Cụ thể: UBND tỉnh là chủ dự án 02 dự án đó là: Dự án vệ sinh môi trường
thành phố Đồng Hới và Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới; Sở Nông
63
Nghiệp và Phát triển Nông thôn là chủ dự án 03 dự án: Dự án Thủy lợi Thượng
Mỹ Trung, Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh và Dự án quản lý
rủi ro thiên tai; UBND huyện Quảng Trạch là chủ dự án 02 dự án: Dự án cấp
nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch và Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba
Đồn...
Các chủ dự án trên địa bàn tỉnh Quảng Bình là các Sở ngành chuyên môn,
UBND huyện hoặc bản thân UBND tỉnh; có trách nhiệm: trực tiếp quản lý, sử
dụng nguồn vốn ODA và nguồn vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án
theo nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, và quản lý, sử dụng công
trình sau khi chương trình, dự án kết thúc. Có nhiệm vụ:
- Tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện chương trình dự án; ký kết các hợp
đồng theo đúng quy định của pháp luật;
- Chịu trách nhiệm liên tục và toàn diện về quản lý sử dụng các nguồn vốn
đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa chương trình, dự án vào
khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn vay ODA (trường hợp cho vay lại);
- Thực hiện giám sát, đánh giá dự án, quản lý khai thác chương trình, dự án...
Ngay sau khi văn kiện chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê
duyệt, Chủ dự án ban hành quyết định thành lập Ban quản lý dự án. Ban quản lý
dự án có nhiệm vụ lập kế hoạch bao gồm: Xây dựng kế hoạch tổng thể và kế
hoạch chi tiết hàng năm thực hiện chương trình, dự án (kế hoạch giải ngân, kế
hoạch chi tiêu, kế hoạch đấu thầu...), trong đó xác định rõ các nguồn lực sử
dụng, tiến độ thực hiện, thời gian hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí
chấp nhận kết quả đối với từng hoạt động của chương trình, dự án để làm cơ sở
theo dõi, đánh giá.
- Quản lý hoạt động lựa chọn nhà thầu
Tại tỉnh Quảng Bình, về quản lý hoạt động đấu thầu, Sở Kế hoạch và Đầu
tư được UBND tỉnh giao nhiệm vụ quản lý đối với những dự án do UBND tỉnh
làm cơ quan chủ quản dự án. Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định kế hoạch đấu
64
thầu của các dự án. Các chủ đầu tư thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả lựa
chọn nhà thầu. Khi có kết quả lựa chọn nhà thầu, các chủ đầu tư gửi quyết định
phê duyệt đến Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo kết quả đấu thầu, chỉ
thầu gửi UBND tỉnh báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Công tác báo cáo hoạt
động đấu thầu trong năm của tỉnh với Bộ Kế hoạch và Đầu tư được thực hiện
vào tháng 01 của năm sau.
Quy trình thẩm định kế hoạch đấu thầu đối với các dự án cấp tỉnh quản lý tại
Sơ đồ 2.2 sau:
Sơ đồ 2.2: Quy trình phê duyệt kế hoạch đấu thầu
- Tổ chức lựa chọn nhà thầu
- Đánh giá hồ sơ dự thầu
- Thẩm định và phê duyệt lựa chọn thầu
- Gửi quyết định chọn thầu đến Sở KH&ĐT
- Tổng hợp báo cáo kết quả đấu thầu
- Gửi báo cáo kết quả đấu thầu cho UBND tỉnh
- Xem xét báo cáo kết quả chọn thầu
- Báo cáo với Bộ KH& ĐT
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình
Công tác đấu thầu, chỉ định đầu tại tỉnh Quảng Bình được tuân thủ theo
đúng Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 23/11/2013; Nghị định số
63/2014/NĐ-CP ngày 25/06/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu; Thông tư số 15/2016/TT-BKH ngày
29/09/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Hướng dẫn lập hồ sơ mời sơ tuyển,
hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác
CHỦ ĐẦU TƯ
UBND TỈNH
SỞ KH&ĐT
65
công tư; Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch
Đầu tư về Quy định chi tiết về kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
Hoạt động đấu thầu, chỉ định thầu đã góp phần kiểm soát được quá trình đầu
tư trên địa bàn; lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, trình độ thi công; khuyến
khích sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu; khuyến khích các doanh nghiệp
trong và ngoài tỉnh thực hiện thi công các dự án trên địa bản tỉnh.
- Thanh toán vốn đầu tư (Giải ngân vốn)
Cam kết ODA mới chỉ là sự ủng hộ về mặt chính trị của cộng đồng quốc tế
các nhà tài trợ dành cho tỉnh, để các cam kết này thực sự có ý nghĩa tỉnh Quảng
Bình rất chú trọng đến việc giải ngân nguồn vốn này, đóng góp vào quá trình
phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh, thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát triển
giáo dục, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, giải
quyết các vấn đề xã hội và môi trường
Bảng 2.11: Tình hình giải ngân vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình
giai đoạn 2006 - 2015
Đơn vị tính: triệu USD
Năm
ODA ký kết
Kế hoạch giải
ngân ODA
ODA giải
ngân thực tế
Tỷ lệ ODA giải
ngân thực tế so
với kế hoạch
(%)
2006 66,412 15,943 9,663 60,6
2007 50,549 17,775 10,011 56,32
2008 17,741 27,994 19,043 68,02
2009 - 30,411 20,8 68,39
2010 11,884 28,756 22,751 79,11
2011 33,849 39,64 31,591 79,69
2012 17,729 53,879 39,969 74,18
2013 15,854 45,584 32,925 72,23
66
Năm
ODA ký kết
Kế hoạch giải
ngân ODA
ODA giải
ngân thực tế
Tỷ lệ ODA giải
ngân thực tế so
với kế hoạch
(%)
2014 16,883 50,439 37,955 75,25
2015 17,856 52,568 38,866 73,93
Tổng cộng 248,757 323,349 242,774 70,77
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhìn vào bảng cho thấy, trong giai đoạn 2006 - 2015, tổng vốn ODA mà
tỉnh Quảng Bình ký kết thực hiện tại tỉnh là 248,757 triệu USD, trong đó đã giải
ngân được 242,774 triệu USD đạt 70,77% so với kế hoạch giải ngân đề ra. Đây
cũng là một con số tương đối cao so với tình hình giải ngân vốn ODA của cả
nước trong giai đoạn này (trung bình 55 - 75%). Khối lượng giải ngân nguồn vốn
ODA có xu hướng tăng tương đối đều qua các năm, tỷ lệ thuận với khối lượng
nguồn vốn ODA ký kết và số lượng các dự án triển khai tại tỉnh; từng bước
hoành thành kế hoạch giải ngân đề ra. Một dấu hiệu tích cực là tốc độ tăng nguồn
vốn giải ngân thực tế, tỷ lệ giải ngân thực tế so với kế hoạch ngày càng được cải
thiện. Điều đó cho thấy khả năng tiếp nhận và quản lý thực hiện các chương
trình, dự án ODA của tỉnh Quảng Bình ngày một nâng cao. Đồng thời cho thấy
tỉnh Quảng Bình đã nhận tức được tầm quan trọng của việc giải ngân vốn ODA
cam kết và đốc thúc tiến hành chứ không chỉ là cam kết về con số.
2.3.5. Giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện các dự án
đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Đối với các dự án do các Bộ chuyên ngành làm cơ quan chủ quản dự án,
UBND tỉnh Quảng Bình tham gia vào dự án với tư cách là cơ quan chủ quản
thành phần.
Đối với các dự án UBND tỉnh giao cho các Sở ngành chuyên môn và
UBND huyện làm chủ dự án, Chủ dự án sẽ tiến hành thành lập Ban Quản lý dự
67
án để thực hiện dự án khi văn kiện về chương trình, dự án được cấp có thẩm
quyền phê duyệt. Các Ban Quản lý dự án này chịu sự điều hành, quản lý trực
tiếp của chủ dự án, có trách nhiệm định kỳ hàng tháng phải báo cáo hoạt động
của dự án đến chủ dự án. Định ký hàng quý, Chủ dự án có trách nhiệm báo cáo
hoạt động của dự án do mình phụ trách đến UBND tỉnh.
Đối với các dự án UBND tỉnh trực tiếp làm chủ dự án, UBND tỉnh thành
lập Ban Quản lý dự án trực thuộc UBND tỉnh. Các Ban Quản lý dự án này chịu
sự quản lý và điều hành trực tiếp của UBND tỉnh trong mọi hoạt động của dự án
và hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến UBND tỉnh và nhà tài trợ.
Trong quá trình quản lý, triển khai, thực hiện dự án đầu tư CSHT bằng
nguồn vốn ODA các chủ thể tham gia dự án thường vi phạm những vấn đề như:
đối với cơ quan chủ quản dự án thường chậm trong công tác giải phóng mặt
bằng, di dời hộ dân dẫn đến chậm triển khai dự án; một số nhà thầu thi công
không đảm bảo tiến độ thực hiện dự án cũng như chất lượng công trình đề ra...
Thế nên cần phải giám sát, đánh giá, xử lý vi phạm trong triển khai, thực hiện dự
án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA. Tại tỉnh Quảng Bình, Sở Kế hoạch và
Đầu tư được UBND tỉnh giao nhiệm vụ giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm đối
với hoạt động đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ
trì theo dõi, quản lý tình hình thực hiện chương trình, dự án trên địa bàn; kịp
thời đề xuất các phương án phục vụ việc ra quyết định của các cấp quản lý nhằm
đảm bảo chương trình, dự án được thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ, bảo
đảm chất lượng và trong khuôn khổ các nguồn lực đã được xác định. Sau khi dự
án kết thúc, UBND tình, chủ dự án, nhà tài trợ dự án và các nhà đánh giá độc lập
tiến hành đánh giá việc thực hiện chương trình, dự án nhằm xem xét các kết quả
đạt được và tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện, rút ra các kinh nghiệm cần thiết
làm cơ sở lập báo cáo kết thúc chương trình, dự án.
Hoạt động giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm đối với các dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình được triển khai thực hiện
68
theo Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/09/2015 của Chính phủ về giám sát
và đánh giá đầu tư; Thông tư số 22/2015/TT-BKH ngày 18/12/2015 của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư Quy định về mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư.
Trong giai đoạn 2011-2016, Sở Kế Hoạch và đầu tư đã tiến hành hoạt
động kiểm tra, giám sát, đánh giá thường xuyên đối với 16 dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh. Qua báo cáo của các chủ đầu tư và
kết quả thực hiện của các cơ quan giám sát cho thấy hầu hết các dự án triển khai
theo kế hoạch, phù hợp quy hoạch, theo đúng mục tiêu trong quyết định đầu tư;
không có dự án phê duyệt sai thẩm quyền; thủ tục đầu tư (phê duyệt thiết kế, dự
toán, đấu thầu, giải phóng mặt bằng, giải ngân, giám sát) đã được chủ đầu tư
hoàn thiện. Tuy nhiên bên cạnh đó phát hiện một số sai phạm như: Công tác đền
bù giải phóng mặt bằng còn chậm, bố trí vốn đối ứng không kịp thời, tiến trình
dự án diễn ra không như kế hoạch, chất lượng một số hạng mục không được
đảm bảo như tiêu chuẩn đề ra... . UBND tỉnh đã có chỉ đạo các ngành, đơn vị,
chủ đầu tư làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân làm ảnh hưởng đến công
tác triển khai thực hiện dự án. Thanh tra tỉnh đã tổ chức thanh tra tại các dự án vi
phạm và kết quả đã có một số cán bộ bị xử lý kỷ luật, điều chuyển công tác.
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình
2.4.1 Những kết quả đạt được
Thứ nhất, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tương đối
phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh
Các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại
tỉnh Quảng Bình không chỉ phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5
năm (gian đoạn 2006 – 2010; 2011- 2015, mà còn phù hợp với Chiến lược xóa
đói giảm nghèo, kết hợp xây dựng nông thôn mới được triển khai trên địa bàn
tỉnh. Các dự án ODA được xác định tại Nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh
69
tế- xã hội 5 năm 2006-2010, 2011- 2015 của tỉnh đều được triển khai, nhiều
công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng.
Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA cũng phù hợp với
mục tiêu ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, đô thị;
lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo; lĩnh
vực bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; lĩnh vực năng lượng và
công nghiệp... được nêu trong các văn bản chiến lược của tỉnh. Trong những
năm gần đây, thời tiết ngày càng diễn biến thất thường và khắc nghiệt, các dự án
đầu tư cơ sở hạ tầng ODA trong lĩnh vực phát triển đô thị và thoát nước nhằm
khắc phục biến đổi khí hậu tại các đô thị được đẩy mạnh hơn. Cụ thể đó là dự án
vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới, dự án phát triển hạ tầng đô thi Đồng
hới do ADB tài trợ.
Các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại
tỉnh Quảng Bình cũng rất phù hợp với mối quan tâm của các nhà tài trợ, thế nên
đây cũng là điểm thuận lợi giúp cho các nhà tài trợ dễ dàng hơn khi thông qua
quyết định tài trợ.
Thứ hai, các dự án đầu tư xây dựng CSHT bằng nguồn vốn ODA đảm bảo
chất lượng, góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh
Trong điều kiện Quảng Bình là tỉnh nghèo, kinh tế xã hội còn nhiều khó
khăn, thời gian qua, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA trong lĩnh vực
đầu tư cơ sở hạ tầng trên địa bàn đã có đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế
xã hội tỉnh, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần làm thay đổi
diện mạo của tỉnh theo hướng tích cực. Bên cạnh đó, thông qua các dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đã hỗ trợ cho tỉnh trong việc tăng cường
năng lực, tiếp cận và chuyển giao khoa học kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận phương
pháp quản lý hiện đại giúp cho tỉnh vươn lên ngang mức trung bình chung của
cả nước. Mặc dù tỷ trọng vốn không lớn (chiếm khoảng 6% GDP), tuy nhiên
đây là nguồn trợ lực đáng kể cho đầu tư phát triển của tỉnh làm động lực thúc
70
đẩy phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể các dự án: Vệ sinh Môi trường Thành phố
Đồng Hới, Dự án năng lượng nông thôn II, Dự án cấp nước và vệ sinh môi
trường nông thôn đã góp phần đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng của tỉnh. Nhìn
chung, các dự án được đầu tư không chỉ đáp ứng nhu cầu bức thiết về cơ sở hạ
tầng mà còn nâng cao năng lực quản lý của các cấp chính quyền địa phương, tạo
bước đi cơ bản trong thực hiện các chương trình lớn về xóa đói giảm nghèo, giải
quyết việc làm và nâng cao trách nhiệm của người dân đối với cộng đồng.
Những công trình hạ tầng kinh tế được đầu tư bằng nguồn vốn ODA như
hệ thống giao thông, điện, nước, thủy lợi, trạm y tế, trường học…đã có tác động
lan tỏa, kéo theo sự phát triển của các Khu công nghiệp, gia tăng trao đổi thương
mại giữa các vùng miền, nhờ vậy cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo
hướng tích cực, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ; tạo ra nhiều việc
làm, tăng nguồn thu cho địa phương cũng như cải thiện thu nhập của dân cư,
góp phần xóa đói giảm nghèo.
2.4.2. Những hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác QLNN đối với dự án đầu tư
CSHT bằng nguồn vốn ODA còn có những hạn chế, để lại những hệ quả nhất
định.
- Thứ nhất, lượng vốn ODA cam kết vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng còn thấp,
số lượng các dự án còn ít, quy mô các dự án còn nhỏ, hẹp và các nhà tài trợ
chưa đa dạng phong phú
Trong giai đoạn 2011 - 2015, tổng nguồn vốn ODA đầu tư vào cơ sở hạ
tầng tại tỉnh Quảng Bình được ký kết đạt 68,4 triệu USD, khối lượng nguồn vốn
cam kết tuy có tăng qua các năm nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với cả nước và
khá thấp so với các tỉnh trong khu vực và so với nhu cầu vốn đầu tư trong tỉnh
thì khối lượng vốn đó còn quá ít. Trong tổng số 16 chương trình, dự án ODA về
cơ sở hạ tầng được triển khai tại tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2016 thì có đến 8
dự án được chuyển tiếp từ các giai đoạn trước và chỉ có 8 dự án vận động mới.
71
Tính trung bình trong giai đoạn này, mỗi năm tỉnh Quảng Bình vận động chưa
được 2 chương trình, dự án về đầu tư cơ sở hạ tầng chứng tỏ số lượng dự án mà
tỉnh vận động được quá ít.Theo tính toán, hiện trên địa bàn tỉnh còn đến 5 huyện
khó khăn về giao thông nông thôn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản
xuất cũng như đi lại của người dân và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Vì vậy, cũng theo tính toán đến năm 2020, tỉnh Quảng Bình cần khoảng 35.000
tỷ đồng cho phát triển giao thông vận tải toàn tỉnh ( xây dựng cầu cống, đường
xá, bến xe, bến tàu...); trong đó vốn thực hiện xây dựng nâng cấp hệ thống
đường bộ khoảng 32.470 tỷ đồng, đường thuỷ khoảng 2.530 tỷ đồng. [2, Tr.6]
Không những hạn chế về mặt số lượng mà quy mô các chương trình, dự
án ODA về đầu tư cơ sở hạ tầng thu hút còn nhỏ, hẹp, thậm chí có dự án chỉ vài
trăm nghìn USD, ví dụ: Dự án cấp thoát nước thị trấn Nông trường Việt Trung,
huyện Bố Trạch với số vốn 0,784 triệu USD, Dự án đường liên xã Hiền, Xuân,
An, Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh với số vốn 0,975 triệu USD. Trong tổng số 16
chương trình, dự án thì có 03 chương trình, dự án có quy mô vốn cam kết dưới 1
triệu USD, chủ yếu là các dự án sửa chữa hạ tầng nhỏ do JIBC tài trợ.
Mặt khác, xét theo khía cạnh nhà tài trợ, ta thấy số lượng nhà tài trợ đầu
tư ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng vào tỉnh Quảng Bình còn ít, chưa đa dạng,
phong phú. Trong giai đoạn 2011 - 2016, tỉnh Quảng Bình chỉ thu hút được một
vài nhà tài trợ đầu tư vào tỉnh, vẫn chủ yếu tập trung vào các nhà tài trợ truyền
thống như WB, ADB,…,chưa thu hút được các nhà tài trợ mới cũng như chưa
phong phú về loại hình tài trợ, cách thức tài trợ. Điều này tiềm ẩn nhiều nguy cơ
rủi ro, vì nếu chỉ tập trung vào các nhà tài trợ lớn này, khi các nhà tài trợ này có
biến động, không tiếp tục tài trợ hoặc thay đổi chính sách tài trợ thì tác động rất
lớn đến vốn ODA đầu tư tại địa phương nói chung cũng như ODA về lĩnh vực
cơ sở hạ tầng nói riêng. Bên cạnh đó, trong 16 chương trình, dự án triển khai
trên địa bàn, chỉ có 03 dự án do các Bộ chuyên ngành làm chủ quản đó là dự án
Giao thông nông thôn III với số vốn 5,27 triệu USD, Dự án đường liên xã Hiền,
72
Xuân, An, Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh với số vốn 0,975 triệu USD, Dự án
đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy với số vốn 0,931 triệu
USD các dự án này đều là các dự án nhỏ, lẻ, thực hiện liên vùng trong khu vực
nên triển khai trên địa bàn tỉnh chứ tỉnh chưa chủ động thu hút, vận động được
các dự án có quy mô lớn do các Bộ làm chủ quản đầu tư vào địa phương, điều
này chứng tỏ tỉnh chưa khai thác được nguồn vốn ODA do các Bộ làm chủ quản,
trong khi nguồn vốn này tại các Bộ là rất lớn.
- Thứ hai, quyết định phân bổ vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng theo
lĩnh vực chưa hợp lý
Trong giai đoạn 2011-2016, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 16 dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đang được triển khai với số vốn cam kết
là 230,778 triệu USD. Trong đó lĩnh vực được cam kết nhiều vốn nhất đó là lĩnh
vực phát triển đô thị với số vốn cam kết 115 triệu USD với hai dự án lớn đó là :
Dự án Vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới ( 78,5 triệu USD), Dự án phát
triển hạ tầng đô thị Đồng Hới (36,5 triệu USD). Lĩnh vực được ưu tiên tiếp theo
là lĩnh vực xây dựng hệ thống cấp thoát nước, với vốn cam kết là 50,284 triệu
USD trong 4 dự án đang triển khai. Đối với các địa phương khác thì giao thông
là lĩnh vực thu hút được nhiều vốn ODA nhất với các dự án quy mô lớn, nhưng
tỉnh Quảng Bình lại không nhận được nhiều vốn ODA trong lĩnh vực này và các
dự án thường nhỏ lẻ, tổng số vốn cam kết chỉ là 16,676 triệu USD. Trong đó, có
những dự án chưa đến 1 triệu USD như: Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An,
Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh; Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn
Thủy, Mỹ Thủy.
- Thứ ba, tiến độ giải ngân các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn
vốn ODA chậm so với kế hoạch
Trong giai đoạn 2011 - 2016, tốc độ giải ngân của các dự án thấp, ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả các dự án ODA, trung bình chỉ giải ngân được
khoảng 30 - 40% kế hoạch giải ngân đề ra. Từ năm 20011 - 2016, tỉnh đã tích
73
cực chỉ đạo các ngành, địa phương và Ban Quản lý các dự án trong quá trình
thực hiện, đồng thời, tiến hành phê duyệt và giao kế hoạch sớm cho các dự án
nên tỷ lệ giải ngân ngày càng được cải thiện qua các năm, năm 2013 đạt 63,46
% thì năm 2014 đạt 76,69%, năm 2015 đạt 73,09%. Tuy nhiên, nhìn chung,
trong cả giai đoạn 2011 - 2016, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn ODA vẫn còn thấp,
tiến độ giải ngân các dự án hầu như đều chậm, không có dự án nào đạt kế hoạch
đề ra và hoàn thành đúng như kế hoạch đã cam kết. Việc giải ngân chậm tồn tại
nhiều tại các chương trình, dự án ODA của các nhà tài trợ song phương, bởi tồn
tại nhiều vướng mắc trong thủ tục, quy trình và không thể thống nhất giữa nhà
tài trợ với địa phương. Việc giải ngân thấp, tốc độ giải ngân chậm dẫn đến tình
trạng dự án không hoàn thành đúng tiến độ, công trình chậm đưa vào sử dụng,
không phát huy được hiệu quả tính toán ban đầu, không đáp ứng được nhu cầu
vào đúng thời điểm, nhiều khi dự án phải có những điều chỉnh về mục tiêu cũng
như quy mô thực hiện do điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, gây lãng phí nguồn
lực. Đồng thời, tỷ lệ giải ngân thấp, tốc độ giải ngân chậm làm giảm tính ưu đãi
và hiệu quả của vốn ODA.
- Thứ tư, nhiều chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng vốn
ODA còn hiện tượng thất thoát, lãng phí; chất lượng các công trình chưa cao.
Việc thực hiện một chương trình, dự án ODA có sự tham gia, phối hợp của
nhiều cấp, nhiều ngành, cả cơ quan ban ngành ở địa phương, ở trung ương. Điều
này dẫn đến hệ quả công tác quản lý chặt mà không chặt, bởi vì nhiều cơ quan,
đơn vị không xác định được trách nhiệm của mình hay hiện tượng “cha chung
không ai khóc” do không xác định rõ vai trò đầu mối, chủ trì và chịu trách
nhiệm vì thế nhiều chương trình, dự án có hiện tượng thất thoát, lãng phí. Đồng
thời tư tưởng vốn ODA là vốn cho không vẫn tồn tại trong một số cán bộ làm
công tác quản lý, sử dụng ODA nên còn gây ra tình trạng lãng phí, chưa hiệu quả.
Mặt khác, chất lượng các công trình cơ sở hạ tầng sử dụng vốn ODA chưa
cao, đặc biệt, trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, thủy lợi... .
74
Ví dụ như công trình đường giao thông nông thôn World Bank tài trợ, do thiết
kế mặt đường của các công trình không phù hợp với đặc điểm địa hình và khí
hậu địa phương nên trong quá trình xây dựng đã phải sửa đi, sửa lại nhiều lần
hoặc như Dự án vệ sinh môi trường, do quá trình đấu thầu thực hiện chưa tốt,
lựa chọn nhà thầu không đủ năng lực nên công trình chưa hoàn thành đã phát
sinh hư hỏng, những điều này gây tốn kém và làm giảm hiệu quả sử dụng các
công trình.
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ
tầng bằng nguồn vốn phát triển chính thức
Từ những phân tích ở trên, nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý
dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA gồm nguyên nhân khách quan và
nguyên nhân chủ quan. Cụ thể:
a. Nguyên nhân khách quan
- Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động thu
hút, quản lý và sử dụng vốn ODA chưa hoàn chỉnh và thiếu sự đồng bộ
Trong những năm gần đây, mặc dù Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều nỗ
lực hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tư công và quản lý, sử dụng
vốn ODA, tuy nhiên, một số quy định chưa phù hợp với thực tế quản lý và thiếu
đồng bộ. Trong khi hoạt động quản lý và sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực đầu
tư cơ sở hạ tầng chịu sự chi phối của nhiều văn bản, thuộc các lĩnh vực khác
nhau như: Quản lý đầu tư xây dựng công trình, đấu thầu, đền bù, di dân, giải
phóng mặt bằng,…mà các văn bản này có những nội dung không nhất quán với
Nghị định. Một số quy định của các đạo luật liên quan đến công quản lý nhà
nước đối với dự án đầu tư xây dựng CSHT bằng nguồn vốn ODA lại chưa đồng
bộ như: Luật đất đai, Luật thuế, Luật xây dựng, Luật đấu thầu, chính sách đền
bù và giải phóng mặt bằng. Điều đó đã ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân các dự
án ODA, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ODA.
Khung pháp lý là điều kiện cơ sở để có thể triển khai tốt các chương trình,
75
dự án, do đó, những bất cập trong hệ thống phát luật liên quan đến hoạt động thu
hút và sử dụng nguồn vốn ODA làm ảnh hưởng đến cả quá trình từ khâu thu hút,
thực hiện, quản lý và đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, dự án ODA.
Mặt khác, các quy định về quy trình, thủ tục quản lý và chính sách thuế cũng
đang là tạo ra những cản trở không nhỏ cho công tác quản lý nhà nước và triển
khai thực hiện dự án trên thực tế.
- Trong công tác quản lý vốn đầu tư và xây dựng: Khi lập kế hoạch và
phân bổ vốn hàng năm, việc phân chia vốn đầu tư xây dựng cơ bản do Sở Kế
hoạch và Đầu tư chủ trì, còn việc phân chia vốn hành chính sự nghiệp lại do Sở
Tài chính chủ trì. Trong khi, các dự án ODA nói chung và các dự án ODA về
đầu tư cơ sở hạ tầng chủ yếu là các dự án có nội dung chi hỗn hợp (vừa đầu tư
xây dựng cơ bản, vừa hành chính sự nghiệp) thì Chủ dự án phải làm việc với cả
hai cơ quan, mất nhiều thời gian và quy trình, thủ tục lại phức tạp. Thủ tục điều
chỉnh dự án phức tạp trong nhiều khâu, như việc trình duyệt lại (hoặc bổ sung)
thiết kế kỹ thuật và dự toán ngân sách mất nhiều thời gian do quy trình thủ tục
phức tạp, ví dụ chỉ thay đổi thiết kế hay tổng mức đầu tư dù rất nhỏ cũng phải
trình duyệt lại theo quy trình từ đầu, từ đó dẫn đến tiến độ giải ngân của dự án
chậm, làm cho các công trình đình trệ.
- Trong việc thực hiện Chính sách thuế: Do chính sách các dự án ODA
đều được hoàn thuế GTGT nên đã gây ra những ảnh hưởng đến tiến độ của dự
án. Việc hoàn thuế GTGT cho các dự án ODA mất khá nhiều thời gian, theo quy
định thì việc hoàn thuế là 03 ngày nhưng trên thực tế, công tác hoàn thuế của
các dự án thường mất đến 03 - 04 tháng do việc yêu cầu các thủ tục, giất tờ rất
phức tạp; khâu này cũng làm chậm tiến độ dự án. Ngoài ra, về khía cạnh quản lý
kinh tế, tác dụng phụ của việc áp dụng chính sách thuế GTGT cũng không
khuyến khích việc sử dụng tiền ODA mua hàng hóa trong nước vì thủ tục hoàn
thuế mất nhiều thời gian, trong khi mua hàng nước ngoài thì được miễn thuế
ngay từ khi nhập khẩu nên các dự án lựa chọn phương án mua hàng hóa nước
76
ngoài, điều này cũng làm cho khâu mua sắm hàng hóa, thiết bị phức tạp, tốn
nhiều thời gian, làm chậm tiến độ dự án.
- Thứ hai, có sự khác biệt về thủ tục giữa chính sách của Nhà nước Việt
Nam với các nhà tài trợ
Các nhà tài trợ khi tài trợ đều đưa ra các quy định tài trợ cụ thể, điều này
tác động đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam nói chung và của
tỉnh Quảng Bình nói riêng. Các chương trình, dự án ODA của các nhà tài trợ đa
phương thường có tiến độ giải ngân nhanh và gặp ít vướng mắc trong quá trình
triển khai thực hiện do quy trình, thủ tục các nhà trợ này đã tiếp cận ngày càng
gần với quy trình, thủ tục của Việt Nam; còn các chương trình, dự án ODA do
các nhà tài trợ song phương tài trợ thường gặp rát nhiều khó khăn trong việc
thống nhất thực hiện do sự khác biệt quá lớn về thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài
trợ. Ví dụ, có nhiều khoản ODA bị ràng buộc về phương thức mua sắm, đấu
thầu, dẫn đến việc việc sử dụng nguồn vốn ODA không đạt hiệu quả như mong
muốn. Cụ thể:
- Sự khác biệt trong thiết kế dự án:
Hầu hết tại các dự án ODA, các nhà tài trợ đều thuê chuyên gia tư vấn nước
ngoài thực hiện khâu thiết kế dự án. Các chuyên gia nước ngoài là các cán bộ có
nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực dự án nhưng lại thiếu hiểu biết về thực tế địa
phương và tập quán của người dân hưởng lợi nên dẫn đến những bất cập trong
khâu thiết kế dự án.
Do tâm lý muốn có nhiều kết quả đầu ra, một thực tế xảy ra là các chuyên
gia tư vấn thường có xu hướng mở rộng quy mô đầu tư các dự án, đưa ra những
hoạt động tư vấn chưa thật sát với điều kiện cụ thể, điều này dẫn đến tình trạng
đầu tư không đồng bộ, vượt quá nhu cầu cần thiết của người hưởng lợi hoặc
khập khiểng với hạ tầng kinh tế của đơn vị thụ hưởng.
Trong một số trường hợp, ý tưởng của các chuyên gia tư vấn không phù
hợp, nhiều dự án có thiết kế rất cồng kềnh, liên quan đến nhiều cơ quan và gồm
77
nhiều loại hoạt động không cần thiết, chồng chéo lẫn nhau hoặc các hoạt động
đó không triển khai được do thiết kế dự án khác với cơ cấu thể chế hiện hành ở
địa phương.
Ví dụ như Dự án giao thông nông thôn III, do các nhà tư vấn chưa tính đến
đặc điểm tự nhiên của tỉnh Quảng Bình là vùng mưa lũ nên thiết kế mặt đường
cấp phối là chủ yếu, dẫn đến việc mặt đường nhanh xuống cấp, hư hỏng.
Sự khác biệt trong thiết kế dự án làm dự án gặp khó khăn lúc triển khai,
hoặc phải sửa đi sửa lại, làm chậm tiến độ của dự án, gây lãng phí trong quá
trình thực hiện, mặt khác, còn làm chất lượng các công trình chưa cao.
- Về thủ tục mua sắm và đấu thầu
Ràng buộc của các nhà tài trợ trong thủ tục mua sắm và đấu thấu là một
nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA.
Đối với nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế như WB, ADB,…hình thức
mua sắm chủ yếu là đấu thầu cạnh trạnh quốc tế, do đó, viêc lựa chọn nhà cung
cấp và hàng hóa khá rộng rãi và có lợi thế về mặt chi phí và chất lượng. Tuy
nhiên, có một hạn chế về mua sắm của các dự án này là việc lựa chọn dịch vụ tư
vấn. Mức lương của các chuyên gia tư vấn rất cao và do nhà tài trợ đưa ra khi
thiết kế dự án.
Đối với các nguồn tài trợ của các quốc gia như Đức, Nhật Bản, Đan
Mạch…,việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế rõ nét, hình thức mua sắm chủ
yếu là đấu thấu hạn chế và các nhà cung cấp hàng hóa hầu hết là nhà sản xuất của
nước tài trợ. Bên cạnh đó, các nhà tài trợ còn can thiệp sâu vào việc đấu thấu của
dự án.
Việc các nhà tài trợ can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công tác mua sắm,
đấu thầu của dự án cũng làm cho cơ quan chủ quản tiếp nhận dự án không thể
toàn quyền quyết định việc mua sắm, đấu thầu đạt hiệu quả nhất, dẫn đến hiện
tượng thất thoát, lãng phí trong quá trình sử dụng nguồn vốn ODA.
- Thứ ba, tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, không nằm trong vùng
78
kinh tế trọng điểm ưu tiên phát triển của cả nước nên việc định hướng thu hút,
phân bổ vốn ODA cho Quảng Bình chưa được quan tâm
Trên thực tế, địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong việc chủ động kêu
gọi các nhà tài trợ quốc tế ký kết các dự án ODA trực tiếp với địa phương, hình
thức này chỉ áp dụng với các dự án địa phương tự đứng ra vay và cam kết trả nợ.
Tuy nhiên, với hình thức này, các tỉnh nghèo lại càng khó có khả năng thực hiện
vì không có ngân sách để trả nợ. Mà hiện nay, nguồn ODA của các tỉnh chủ yếu
thông qua Trung ương, các Bộ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư định hướng phân bổ
về địa phương. Trong khi đó, Quảng Bình không nằm trong vùng ưu tiên phát
triển của cả nước nên việc được ưu tiên phân bổ vốn ODA cho địa phương chưa
được quan tâm đúng mức và còn thấp so với nhu cầu của tỉnh.
b. Nguyên nhân chủ quan
- Thứ nhất, quyết định của chính quyền tỉnh chưa gắn với hiệu quả sử
dụng nguồn vốn ODA
Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ODA nói chung
và nguồn vốn ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng nói riêng vào tỉnh Quảng Bình
chỉ mới quan tâm nhiều đến số lượng mà chưa thực sự chú trọng đến hiệu quả sử
dụng nguồn vốn này. Thêm vào đó, một số cán bộ, kể cả lãnh đạo của cơ quan
chủ quản, của Ban Quản lý Dự án cho rằng nguồn vốn ODA là của “trời cho”
nên sử dụng còn nhiều lãng phí, dự án nào cũng nhập khẩu ô tô, máy móc thiết
bị hiện đại và chế độ quản lý tài chính không chặt chẽ, dẫn đến việc thất thoát,
lãng phí nguồn vốn này.
- Thứ hai, công tác quy hoạch còn chậm, kém hiệu quả
Công tác quy hoạch tổng thể của tỉnh cũng như quy hoạch xây dựng còn
chậm, nhất là quy hoạch tổng thể Phong Nha - Kẻ Bàng, quy hoạch tổng thể khu
kinh tế Hòn La, các quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch các vùng, điểm dân
cư, tuyến đường còn chậm. Chất lượng một số dự án quy hoạch chưa cao, tầm
nhìn còn hạn chế, có nhiều sai sót cần phải điều chỉnh nên cũng ảnh hưởng đến
79
việc đầu tư bằng nguồn vốn ODA. Ví dụ như Dự án cấp nước và vệ sinh môi
trường do thiết kế tuyến ống nước đi qua một số tuyến đường chưa có quy hoạch
nên không giải phóng được mặt bằng; Dự án cấp nước thị trấn NT Việt Trung đã
được cấp vốn nhưng do tiến độ điều chỉnh quy hoạch chung chậm nên sau 02
năm dự án chưa triển khai được. Việc xây dựng danh mục các chương trình, dự
án vận động ODA một mặt phải xuất phát từ chính nhu cầu của từng đơn vị, ban
ngành; mặt khác quan trọng hơn là các chương trình, dự án đó phải phù hợp với
quy hoạch, định hướng phát triển của từng ngành, lĩnh vực và nhất là phải phù
hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội toàn tỉnh trong những giai đoạn tới.
Khi bản thân công tác quy hoạch còn nhiều hạn chế, bất cập thì việc vận động
thu hút nguồn vốn ODA sẽ gặp nhiều khó khăn. Và đó là lý do nguồn vốn ODA
tỉnh Quảng Bình vận động thu hút trong những năm qua còn hạn chế.
- Thứ ba, công tác lập kế hoạch, xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án
thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA tại tỉnh còn thiếu tính khoa học
Trong hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, cần thiết
phải xây dựng các kế hoạch, đề án, làm căn cứ để cụ thể hóa các mục tiêu, các
chiến lược nhằm huy động nguồn lực này phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế,
xóa đói giảm nghèo của tỉnh là cần thiết. Tuy nhiên, các kế hoạc và đề án này
cũng còn một số hạn chế sau đây:
Trên cơ sở "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và
các khoản vốn vay ưu đãi khác của nhà tài trợ" của Chính Phủ ban hành, đến
năm 2015 tỉnh Quảng Bình có ban hành Quyết định số 624/QĐ-UBND ngày
11/06/2015 về việc phê duyệt "Đề án vận động, thu hút các dự án ODA vào tỉnh
Quảng Bình đến 2020", đã đặt ra các mục tiêu và định hướng cho việc thu hút
ODA của tỉnh, tập trung ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, nông thôn kết hợp
với xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, mục tiêu còn dàn trải, định hướng chung
chung, khó áp dụng.
- Các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh thu hút ODA của tỉnh còn chưa tập trung,
80
đang hướng theo cách cứ vận động, được lĩnh vực nào tốt lĩnh vực đó mà chưa
thực sự chủ động, thu hút theo định hướng phát triển của tỉnh.
- Đề án chưa xây dựng được khung logic xác định mối liên hệ giữa các mục
tiêu, mục đích với các chương trình ưu tiên phân bổ nguồn vốn, xác định cơ chế
thực hiện và đưa ra các chỉ số đánh giá kết quả
- Đề án cũng đã đề xuất hệ thống các chương trình, dự án ưu tiên thu hút
nguồn vốn ODA trong thời gian tới, tuy nhiên, các chương trình, dự án này được
xây dựng chưa thực sự dựa vào yêu cầu thực tế từ cộng đồng và bám sát các
mục tiêu của việc sử dụng vốn ODA.
- Đề án cũng chưa cho thấy có sự phối hợp giữa các ban, ngành trong quá
trình thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra.
Mặt khác, việc xây dựng các chương trình, dự án bộc lộ nhiều khiếm
khuyết như nội dung các dự án không được nghiên cứu kỹ, mới chỉ mang tính
chất liệt kê nhu cầu kèm theo một vài thông số cơ bản về dự án, chưa có sự
thống nhất và liên kết giữa các chương trình, dự án ODA. Bởi vì, hàng năm, việc
tiến hành đánh giá, rà soát các chương trình dự án đang triển khai, xác định nhu
cầu vốn, nghiên cứu và xây dựng danh mục vận động ODA thường là do các cơ
quan, đơn vị địa phương đảm nhận. Trong khi, trình độ chuyên môn và khả năng
xây dựng dự án của các cán bộ trong các cơ quan này chưa đáp ứng được yêu
cầu. Điều này sẽ dẫn tới tình trạng chất lượng các chương trình, dự án được xây
dựng sẽ không cao
Việc hạn chế trong công tác lập kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA
dẫn đến khối lượng vốn ODA cam kết vào tỉnh còn thấp, việc phân bổ vốn ODA
theo lĩnh vực đầu tư chưa hợp lý và còn làm chậm tiến độ các dự án, gây thất
thoát, lãng phí trong quá trình triển khai các dự án ODA trên địa bàn.
- Thứ tư, thiếu vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA
Khi vận động ký kết các dự án ODA, cũng như các địa phương khác, tỉnh
Quảng Bình cam kết với nhà trợ sẽ bố trí vốn đối ứng cho dự án theo tiến độ
81
thực hiện. Tuy nhiên, địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các
cam kết của mình về việc đảm bảo nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA.
Theo quy định, vốn đối ứng hiện nay được lấy từ các nguồn: Ngân sách do
Chính phủ cấp, ngân sách tỉnh và người dân tự đóng góp và UBND tỉnh (cơ
quan chủ quản dự án) bảo đảm cân đối vốn đối ứng để thực hiện dự án. Trong
khi tỉnh Quảng Bình là một tỉnh nghèo, thu ngân sách hàng năm chỉ đáp ứng
được 30 - 35% nhu cầu vốn đầu tư, hàng năm Trung ương phải trợ cấp đến 65 -
70%, nên tỉnh chưa tự cân đối được vốn đối ứng theo yêu cầu của nhà tài trợ
(vốn đối ứng chiếm 10 - 20% tổng vốn đầu tư của một dự án) mà phải chờ vào
vốn phân bổ của Trung ương, trong khi vốn Trung ương cấp phát hàng năm chỉ
cung cấp được khoảng 50% nhu cầu vốn đối ứng cho các dự án ODA hiện có
trên địa bàn tỉnh, việc này dẫn đến tình trạng thiếu vốn đối ứng, làm cho tiến độ
giải ngân của các dự án cũng bị giảm theo.
Trên thực tế, tại dự án nước sạch triển khai tại tỉnh, nhiều công trình nước
sạch đã hoàn thành nhưng người dân cũng không đủ tiền đóng góp mua đường
ống đưa nước vào nhà mình, hay như dự án thủy lợi, đường giao thông nông
thôn, cũng gặp khó khăn do địa phương không đảm bảo được nguồn vốn đối
ứng để giải phóng mặt bằng như đã cam kết; những điều này ảnh hưởng đến
hiệu quả của Dự án
Thêm vào đó, hiện nay, các nhà tài trợ khuyến khích áp dụng hình thức tài
trợ trước, nghĩa là dùng vốn của phía Việt Nam (ngân sách của Trung ương hay
ngân sách tỉnh) để ứng cho các hoạt động của Dự án và hoàn vốn nước ngoài
sau. Tuy nhiên, tỉnh Quảng Bình gặp nhiều khó khăn trong việc ứng vốn của
tỉnh tài trợ trước do tỉnh không có khả năng có đủ nguồn vốn để tạm ứng nên
việc triển khai cơ chế này ở Quảng Bình không được khả thi.
- Thứ năm, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Ban Quản lý dự án bộc
lộ nhiều yếu kém
Chất lượng và hoạt động của Ban Quản lý các dự án là một trong những
82
nhân tố quan trong quyết định đến hiệu quả của tất cả các khâu trong quá trình
triển khai các chương trình, dự án ODA. Tuy nhiên, trong thời gian qua, cơ cấu
tổ chức và hoạt động của các Ban quản lý dự án còn bộ lộ nhiều yếu kém, cụ
thể:
- Cơ cấu tổ chức hoạt động của các Ban Quản lý dự án trong thời gian dài
chưa được quy định cụ thể, nhất là những thay đổi liên quan đến hoạt động quản
lý đầu tư và xây dựng. Trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan quản lý cấp
tỉnh và Ban Quản lý dự án chưa được xác định một cách rõ ràng, minh bạch.
Bên cạnh đó, chưa quy định được cơ chế theo dõi, giám sát, không ban hành
được các quy định về chế độ thông tin, báo cáo để đảm bảo việc thực hiện
nghiêm túc những quy định của pháp luật về công tác quản lý, thực hiện các
chương trình, dự án.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy các dự án vận hành chưa thống nhất chung: có dự
án thành lập Ban quản lý dự án cấp tỉnh và cấp xã, có dự án thành lập Ban quản
lý dự án cấp tỉnh, cấp huyện, Ban tự quản cấp xã. Tùy thuộc mỗi dự án mà có
quy chế phân cấp quản lý khác nhau, có dự án không cấp, có dự án phân cấp quá
nhỏ, điều này gây khó khăn trong quá trình quản lý của các cấp chính quyền.
- Năng lực của các chủ đầu tư, đơn vị thực hiện, nhất là UBND các xã, Ban
quản lý dự án cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế nên có sai sót, vi phạm trong quá
trình thực hiện thủ tục đầu tư, đấu thầu và giám sát, nghiệm thu, thanh quyết
toán của các dự án.
- Thứ sáu, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kinh tế đối ngoại, xúc
tiến đầu tư và quản lý các chương trình, dự án ODA của tỉnh còn thiếu về số
lượng và yếu về năng lực chuyên môn
Năng lực của đội ngũ cán bộ tham gia công tác vận động thu hút và quản
lý sử dụng ODA giữ vai trò quyết định đến kết quả và hiệu quả vốn ODA. Tuy
nhiên với tỉnh Quảng Bình đội ngũ cán bộ này còn thiếu về số lượng và yếu về
năng lực chuyên môn, điều này được thể hiện ở một số điểm sau:
83
- Hiện nay các Sở, Ban ngành, huyện lỵ của tỉnh chưa đơn vị nào có đội
ngũ cán bộ làm công tác vận động thu hút và quản lý sử dụng vốn ODA riêng,
mặc dù vốn ODA có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi đơn vị.
Hàng năm việc tiến hành đánh giá, rà soát các chương trình dự án đang triển
khai, xác định nhu cầu vốn, nghiên cứu và xây dựng danh mục vận động ODA
thường là do bộ phận kế hoạch của các đơn vị kiêm đảm nhận. Điều này sẽ dẫn
tới tình trạng chất lượng các chương trình, dự án được xây dựng sẽ không cao
do thiếu đội ngũ cán bộ am hiểu về nguồn vốn ODA.
- Khả năng giao tiếp, đàm phán, giao dịch hợp tác quốc tế còn yếu do hạn
chế về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ...
- Trình độ của đội ngũ cán bộ này còn yếu kém, trong đó có nghiệp vụ về
xây dựng, giám sát, đánh giá thực hiện các chương trình dự án ODA. Hiện nay
các chương trình, dự án ODA được phân cấp mạnh mẽ cho địa phương, về tận
các huyện, xã, thôn của tỉnh. Cũng chính vì điều này mà các dự án ODA được
sử dụng không hiệu quả. Nguyên nhân là do trình độ của cán bộ các Ban Quản
lý dự án ở các huyện, xã, thôn còn rất hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai
các dự án chậm, chất lượng dự án thấp, thất thoát, lãng phí nguồn vốn ODA...
- Thứ bảy, sự phối hợp quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước chưa
hiệu quả
Công tác quản lý nhà nước đối với các chương trình, dự án ODA triển khai
trên địa bàn tỉnh hiện nay được giao cho Phòng Kinh tế đối ngoại, Sở Kế hoạch
và Đầu tư tham mưu và thực hiện. Tuy nhiên, phòng này hiện nay chỉ có 4 cán
bộ mà phụ trách cả công tác đầu mối thu hút, công tác theo dõi, quản lý vốn
ODA, FDI, NGO nên xảy ra tình trạng quá tải, không thể chuyên sâu và sát sao
trong quá trình phối hợp với các Ban quản lý dự án để tháo gỡ các vướng mắc
và theo dõi các hoạt động của dự án.
Thêm vào đó, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA triển
khai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, UBND tỉnh căn cứ vào quy mô và tính chất,
84
lĩnh vực của từng dự án và yêu cầu của nhà tài trợ để giao cơ quan làm chủ dự
án, có thể UBND tỉnh trực làm chủ dự án hoặc giao cho các Sở, ban, ngành, địa
phương làm chủ dự án và thành lập Ban Quản lý Dự án, do đó, có rất nhiều
phương thức thực hiện nên Sở Kế hoạch và Đầu tư cũng gặp rất nhiều khó khăn
trong quá trình thực hiện công tác quản lý Nhà nước mà chủ yếu dựa vào các
Báo cáo định kỳ do Ban Quản lý dự án thực hiện. Vì vậy, việc thực hiện công
tác quản lý nhà nước đối với các chương trình, dự án ODA vẫn chưa thực sự sát
sao, nhiều khâu còn bị buông lỏng.
Yếu kém của cơ quan quản lý thể hiện rõ nhất trong khâu thẩm định dự
án, công tác đền bù và giải phóng mặt bằng, quy trình, thủ trình tự dự án không
đồng bộ,… Trong khâu thẩm định dự án, thẩm định kỹ thuật, tài chính dự án chủ
yếu là thẩm định thông qua các giải trình dự án mà thiếu việc khảo sát thực tế,
nghiên cứu sâu về dự án. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn mất
nhiều thời gian làm triển khai dự án bị chậm tiến độ. Quy trình, thủ tục dự án
không đồng bộ, nhiều khi còn chồng chéo từ khâu chủ trương đến quá trình đấu
thầu, mua sắm, thực hiện, giải ngân. Chưa chủ động trong theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án ODA để kịp thời giải đáp, tháo gỡ các
vướng mắc cho các Ban Quản lý dự án.
Công tác cải cách hành chính nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc triển khai các dự án ODA đầu tư cơ sở
hạ tầng. Việc triển khai thực hiện có lúc, có nơi còn tình trạng nhũng nhiễu, gây
khó khăn, mặc dù tỉnh đã cố gắng ban hành quy trình xử lý hồ sơ theo "cơ chế
một cửa liên thông" theo mô hình mà nhiều địa phương trong cả nước đang áp
dụng, nhưng đến nay, các dự án vẫn phải thực hiện nhiều quy trình, thủ tục và
phải đi lại nhiều nơi, nhiều lần, gặp nhiều cơ quan khác nhau và nhiều khi các cơ
quan này đưa ra cách giải quyết không thống nhất làm cho các Ban Quản lý dự
án không biết nên giải quyết thế nào.
85
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong Chương 2 trên cơ sở nội dung QLNN đối với các dự án đầu tư
CSHT bằng nguồn vốn ODA tác giả đã nêu rõ thực trạng QLNN đối với các dự
án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Từ thực
trạng đã được trình bày, tác giả đánh giá hoạt động QLNN đối với các dự án đầu
tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình những mặt đạt được: các dự
án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tương đối phù hợp với kế hoạch
phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, đảm bảo chất lượng, góp phần hoàn thiện cơ sở
hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh. Ngoài ra, còn một số hạn chế đó là:
lượng vốn ODA cam kết vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng còn thấp, số lượng các dự
án còn ít, quy mô các dự án còn nhỏ, hẹp và các nhà tài trợ chưa đa dạng phong
phú; quyết định phân bổ vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng theo lĩnh vực chưa
hợp lý…
Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại hạn chế bao gồm nguyên nhân chủ
quan và nguyên nhân khách quan. Có thể kể đến đó là: hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật về hoạt động thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA chưa hoàn
chỉnh và thiếu sự đồng bộ; quyết định của chính quyền tỉnh chưa gắn với hiệu
quả sử dụng nguồn vốn ODA; tiến độ giải ngân các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn ODA chậm so với kế hoạch… Những nguyên nhân kể trên là cơ
sở đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với các
dựa án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA trong thời gian tới ở Chương 3.
86
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ
TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC
TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
3.1.Định hướng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình đến năm
2020
3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình đến năm 2020
3.1.1.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển
Ngày 11 tháng 12 năm 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình ban
hành Nghị Quyết số 117/2015/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội
5 năm của tỉnh giai đoạn 2016-2020. Trong đó nêu rõ các mục tiêu phát triển,
phương hướng phát triển, biện pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu của
nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, quan điểm phát triển của tỉnh trong thời gian tới là phát huy tối
đa lợi thế so sánh về vị trí địa kinh tế của tỉnh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng
cường hợp tác phát triển với các địa phương trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh
vùng Bắc Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; tháo gỡ mọi khó
khăn, cản trở, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, hấp dẫn, đặc thù để
thu hút nguồn lực từ bên ngoài nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế của
tỉnh với mức tăng trưởng cao, đưa tỉnh Quảng Bình trở thành tỉnh phát triển
trong khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Hình thành và phát triển
các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, tập trung vào hệ thống đô thị, các khu kinh
tế, khu công nghiệp, để tạo thành những hạt nhân lan tỏa thúc đẩy phát triển
kinh tế của các khu vực xung quanh. Tập trung phát triển mạnh công nghiệp,
dịch vụ, coi đó là khâu bứt phá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo
87
hướng hiện đại (công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp). Đẩy mạnh phát triển công
nghiệp phụ trợ, phát triển kinh tế biển và hình thành rõ nét những sản phẩm
công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn có khả năng cạnh tranh. Xây dựng thành phố
Đồng Hới là trung tâm chính trị, kinh tế xã hội của tỉnh, ngang tầm với các đô
thị trong vùng; nâng cấp thị trấn Hoàn Lão thành thị xã thuộc tỉnh. Phát triển
kinh tế kết hợp chặt chẽ với phát triển xã hội, trước hết nhằm tạo công ăn việc
làm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Đảm bảo phát triển bền vững về môi trường, đảm bảo cảnh quan cho phát triển
du lịch. Phát huy nhân tố con người, coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, coi đó là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội và thu
hút đầu tư vào địa bàn tỉnh. Gắn giáo dục, đào tạo với thị trường sức lao động.
Coi trọng giáo dục phổ cập để nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là ở vùng nông
thôn miền núi. Đẩy mạnh đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công chức, cán
bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
xã hội. Coi trọng công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà
nước, phát huy dân chủ và sức mạnh của các thành phần kinh tế, tạo môi trường
thân thiện với các nhà doanh nghiệp, các nhà đầu tư và nhân dân để phát huy
được sức mạnh tổng hợp. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố
quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội cụ thể trên từng vùng địa bàn miền
núi, ven biển và đồng bằng của tỉnh. Quan điểm này phải được xuyên suốt trong
việc xác định các định hướng ngành, trong xây dựng các dự án cũng như thiết
kế, xây dựng bất kỳ một công trình nào trên lãnh thổ.
Mục tiêu tổng quát của tỉnh trong giai đoạn 2016-2020 là đẩy mạnh thực
hiện các đột phá chiến lược, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực
cho đầu tư, phát triển kinh tế nhanh, bền vững; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp; chú trọng xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại; nâng cao chất lượng, hiệu
quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa công nghiệp trở thành ngành kinh tế
88
trọng điểm và du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; cải thiện đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường
quốc phòng - an ninh, quyết tâm phấn đấu đưa Quảng Bình phát triển nhanh và
bền vững. Các mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2016-2020 như sau:
Thứ nhất, về phát triển kinh tế:
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân hằng
năm đạt 8,5 - 9%;
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 4 -
4,5%/năm.
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 11 - 11,5%/năm;
- Giá trị sản xuất dịch vụ tăng bình quân 9 - 9,5%/năm;
- Đến năm 2020, cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn:
+ Nông, lâm nghiệp và thủy sản: 20%,
+ Công nghiệp - xây dựng: 28%,
+ Dịch vụ: 52%;
- Đến năm 2020:
+ Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 8.000 tỷ đồng.
+ Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (2016 - 2020) đạt 60.000 tỷ đồng;
+ Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đạt: 65 - 70 triệu đồng
(tương đương 3.000 - 3.200 USD);
+ Có 50% số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới (68 xã).
Thứ hai, về phát triển xã hội:
- Giải quyết việc làm hằng năm cho 3,1 - 3,2 vạn lao động;
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2 - 3%/năm;
- Tốc độ tăng dân số 0,6 - 0,65%/năm;
- Đến năm 2020:
+ 99,8% hộ dân được sử dụng điện lưới Quốc gia;
+ 90,6% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế;
89
+ Số giường bệnh bình quân trên 1 vạn dân đạt 25,5 giường;
+ Trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế;
+ 100% xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập trung học cơ sở (mức độ
III);
- 65% lao động qua đào tạo, trong đó, đào tạo nghề đạt 50%.
Thứ ba, về bảo vệ môi trường:
- Đến năm 2020: 97% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử
dụng nước sạch, hợp vệ sinh;
+ Tỷ lệ che phủ rừng đạt 69 - 70%
3.1.1.2. Dự báo nhu cầu và về vốn đầu tư
Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn
2016-2020 đề ra và tốc độ tăng trưởng kinh tế như đã dự báo, ước tính nhu cầu
đầu tư giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 100 - 101 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 2,1 - 2,2
lần giai đoạn 2011 – 2015 ( 47-48 nghìn tỷ đồng).
Bảng 3.1: Dự kiến tổng nhu cầu đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2020
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
2011 - 2015 2016 - 2020
Tổng số
Tỷ trọng
(%)
Tổng số
Tỷ trọng
(%)
Tổng nhu cầu đầu tư toàn XH 48.000 100 101.000 100
Phân theo nguồn vốn
1. Ngân sách Nhà nước 10.560 22 12.120 12
2. Vốn tín dụng 12.000 25 28.280 28
3. Vốn đầu tư của DN 960 2 3.030 3
4. Vốn KT tập thể, tư nhân, hỗn
hợp
9.360 19,5 21.210 21
90
5. Vốn đầu tư nhà ở dân cư 12.240 25,5 27.270 27
6. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.920 4 6.060 6
7. Vốn khác 960 2 3.030 3
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Bình
Theo dự kiến cơ cấu đầu tư, nguồn vốn tín dụng, trong đó chủ yếu là nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chiểm tỷ trọng tương đối cao trong tổng
nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội, trong giai đoạn 2011 - 2015 chiếm khoảng 25%,
dự kiến giai đoạn 2016 - 2020 tăng lên 28%. Cơ cấu đầu tư tập trung ưu tiên cho
các chương trình mục tiêu quan trọng, trong đó đầu tư cho ngành công nghiệp,
xây dựng chiếm 35 - 37%; giao thông bưu điện chiếm 23 - 25%; nông lâm ngư
chiếm 7%; giáo dục đào tạo, y tế văn hóa, TDTT chiếm 5 - 6%....
Tổng nhu cầu vốn ODA và đối ứng giai đoạn 2016-2020 là: 14.327.972
triệu VNĐ. Cụ thể như sau:
Bảng 3.2: Nhu cầu vốn ODA và đối ứng giai đoạn 2016-2020
ĐVT: Triệu đồng
Phân theo lĩnh
vực
Tổng cộng
Đối ứng
ODA
Tổng cộng NSTW NSĐP
Nông nghiệp 2.592.605 560.373 276.049 284.324 2.032.232
Giáo dục- Y tế 1042.263 172.384 110.100 62.284 869.879
Dịch vụ công cộng 8.050.995 1.245.540 611.664 633.876 6.805.455
Điện 189.147 22.803 19.210 3.593 166.344
Giao thông 2.343.762 281.815 199.312 82.503 2.061.947
Khác 109.200 4.200 2.940 1.260 105.000
Tổng cộng 14.327.972 2.287.115 1.219.275 1.067.840 12.040.857
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Bình
3.1.2. Một số định hướng cơ bản trong quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng sử dụng về vốn hỗ trợ phát triển chính thức
91
- Quan điểm và mục tiêu thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA đến năm 2020
Quan điểm về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào tỉnh Quảng Bình là
thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA vào mục tiêu tăng trưởng kinh
tế bền vững. Phát triển kinh tế, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều
kiện sống của nhân dân, đặc biệt là khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Tăng
cường đầu tư hạ tầng công cộng cho các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn,
đảm bảo cho người nghèo được tiếp cận các dịch vụ xã hội. Kết hợp phát triển
kinh tế, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường bền vững
và giảm nhẹ thiên tai.
Mục tiêu chung của việc sử dụng nguồn vốn ODA là góp phần tăng trưởng
kinh tế, tích cực đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân
dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cường cơ
sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh.
Mục tiêu cụ thể là thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế của địa phương,
thu hút được đa số dân cư hưởng lợi từ dự án, phù hợp về năng lực tài chính và
khả năng quản lý của các đơn vị thực hiện. Tập trung vào các dự án có hiệu quả
thiết thực về kinh tế - xã hội, góp phần tăng tích lũy và có tác dụng đột phá để
tạo đà đi lên cho tỉnh. Phấn đấu 100% người nghèo được tiếp cận với các dịch
vụ xã hội và bảo vệ môi trường bền vững.
- Định hướng thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình đến năm 2020
Trong giai đoạn từ năm 2016 - 2020, chủ trương thu hút và sử dụng ODA
đầu tư CSHT là tiếp tục tranh thủ thu hút đi đôi với việc nâng cao hiệu quả quản
lý và sử dụng nguồn vốn ODA; tập trung cải thiện tình hình giải ngân các
chương trình, dự án ODA đang hoạt động để sớm đưa vào khai thác, sử dụng;
đồng thời, xây dựng các chương trình, dự án ODA gối đầu cho thời kỳ sau nhằm
thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.
- Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT theo lĩnh
92
vực ưu tiên
Thu hút ODA vào lĩnh vực đầu tư CSHT, ưu tiên kêu gọi, thu hút các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng kiên cố, bền vững, đảm bảo theo hướng hiệu
quả, lâu dài và đồng bộ. Cụ thể là tập trung vào các ưu tiên như sau:
Về giao thông: Ưu tiên thu hút các dự án phát triển các tuyến đường giao
thông liên xã, đặc biệt là vùng miền núi, các tuyến đường huyện, một số tuyến
đường tỉnh lộ nối đường Quốc lộ I với đường Hồ Chí Minh nhánh Đông.
Về điện lưới: Thu hút nguồn vốn ODA để phát triển lưới điện và trạm phân
phối, nhất là cải tạo phát triển lưới điện nông thôn, điện lưới về các thôn bản
chưa có điện.
Về cấp thoát nước và phát triển đô thị: Ưu tiên thu hút ODA để hỗ trợ, xây
dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, hoàn
thiện hệ thống cấp nước sinh hoạt các thị trấn, cấp đủ nước sạch cho đô thị. Tiếp
tục thực hiện cải tạo và xây dựng mới hệ thống cấp nước sạch cho các vùng
nông thôn, đặc biệt là các xã chưa có nước sạch. Đồng thời, chú trọng đầu tư xây
dựng hệ thống thoát nước, nhà máy xử lý nước thải tại đô thị.
Cụ thể về quy hoạch vốn ODA vào xây dựng CSHT là tập trung thu hút
vốn vào: các dự án cấp nước, vệ sinh môi trường và phát triển đô thị, xây dựng
cơ sở hạ tầng thành phố Đồng Hới, xây dựng và nâng cấp các tuyến đường giao
thông tại các huyện, xây dựng các tuyến đường nối với CHDCND Lào như quốc
lộ 12A và quốc lộ 12C, các tuyến đường ven biển và các dự án phát triển hạ tầng
nông thôn bền vững.
- Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT theo nhà tài
trợ
Các nhà tài trợ có chính sách, quy mô tài trợ và các yêu cầu khác nhau
trong việc cung cấp ngồn vốn ODA dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng, do đó, tỉnh
Quảng Bình bám sát các đặc điểm trên để khai thác tối đa thế mạnh của từng nhà
tài trợ để thu hút và sử dụng hiệu quả ngồn vốn viện trợ, cụ thể như sau:
93
Đối với các tổ chức phát triển như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), tỉnh
Quảng Bình định hướng thu hút nguồn vốn ODA của các tổ chức này cho các
công trình CSHT kinh tế lớn, hạ tầng đô thị trọng điểm có nguồn vốn cam kết
lớn.
Đối với các nhà tài trợ song phương, tỉnh Quảng Bình tập trung vận động
viện trợ một số nước như Đức, Nhật, Hàn Quốc, Đan Mạch, Phần Lan ưu tiên
vào các lĩnh vực như hỗ trợ xây dựng CSHT có quy mô nhỏ ở khu vực nông
thôn miền núi gắn với xóa đói giảm nghèo; xây dựng phương án đồng tài trợ để
tăng quy mô và hiệu quả cho các dự án nhỏ và riêng lẻ; thực hiện các dự án hỗ
trợ kỹ thuật cho các dự án chuẩn bị đầu tư.
- Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT theo
phương thức viện trợ
Các phương thức viện trợ hiện nay rất đa dạng ( viện trợ không hoàn lại,
viện trợ hoàn lại và viện trợ hỗn hợp); do đó, căn cứ quy mô, tính chất và đặc
điểm của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng tỉnh Quảng Bình đã lựa chọn phương thức
viện trợ phù hợp nhất đối với nguồn vốn ODA dành cho đầu tư CSHT đó là
phương thức viện trợ hoàn lại để đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất.
- Đối với các khoản ODA vay có ưu đãi cao (lãi suất thấp): Ưu tiên thu hút
phát triển CSHT như xây dựng các công trình giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ
thống cấp thoát nước.
- Đối với các khoản vay ODA ít ưu đãi ( lãi suất cao, thời gian trả nợ và ân
hạn ngắn): Tập trung thu hút cho các chương trình, dự án có tính khả thi về mặt
kinh tế và có khả năng trả nợ như lưới điện nông thôn, bê tông hóa kênh mương.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ chính thức
Hầu hết các Dự án ODA có tốc độ giải ngân chậm là các dự án sử dụng
nguồn vốn ODA có vốn vay lớn, thực hiện trong lĩnh vực đầu tư CSHT. Các dự
94
án đầu tư CSHT nói chung và các dự án đầu tư CSHT sử dụng vốn ODA nói
riêng đều trải qua 4 khâu: Lập và thẩm định dự án; giải phóng mặt bằng, đền bù
và tái định cư; đấu thầu, thực hiện thi công và nghiệm thu, thanh quyết toán.
Thực tế cho thấy việc triển khai các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA đều
bị vướng mắc ở các khâu trên, dẫn đến chậm trễ trong tiến độ thực hiện và giải
ngân dự án. Để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải
ngân dự án, cần phải xem xét việc phân cấp, xác định rõ trách nhiệm của từng
cơ quan trong từng khâu thực hiện dự án và có những giải pháp cụ thể.
3.2.1. Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức đúng đắn về nguồn vốn
ODA và trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức trong
đầu tư cơ sở hạ tầng
Nguồn vốn ODA có đặc điểm nổi bật là tính ưu đãi nên khi tiếp nhận và
sử dụng nguồn vốn này, các cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương, trong
đó có Quảng Bình còn chưa cảm thấy gánh nặng nợ nần. Tuy nhiên, ODA vẫn là
nguồn vốn vay, nước tiếp nhận bắt buộc phải có trách nhiệm trả nợ. Do đó, nước
tiếp nhận cần thiết phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này vào phát triển kinh
tế - xã hội để có thể trả nợ trong tương lai.
Để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, trước hết phải xây dựng nhận
thức đúng đắn về nguồn vốn ODA của lãnh đạo chính quyền, cán bộ và người
dân liên quan đến hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ODA. Công tác tuyên
truyền, phổ biến phải làm rõ nguồn vốn ODA không phải là “cho không” mà cần
phải tận dụng, sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
3.2.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút, quản lý và và sử dụng nguồn
vốn ODA đảm bảo tính khoa học, khả thi
Công tác quy hoạch trong thời gian vừa qua là một trong những nguyên
nhân chính dẫn đến hoạt động thu hút, sử dụng vốn ODA nói chung hay nguồn
vốn ODA dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng còn kém hiệu quả. Vì vậy, trong thời
gian tới, tỉnh cần phải rà soát, điều chỉnh, phê chuẩn và công bố các quy hoạch
95
về hạ tầng trong những năm tới làm cơ sở để thu hút phát triển CSHT, tăng
cường triển khai quy hoạch ngành, xây dựng, phát triển đô thị, đảm bảo quy
hoạch xây dựng phải đi trước một bước làm cơ sở cho việc cấp phép xây dựng
và định hướng cho công tác đầu tư. Đồng thời, tiến hành xây dựng, phê duyệt
các quy hoạch còn thiếu và rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại các quy hoạch đã
được phê duyệt cho phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh
cũng như quy hoạch quốc gia. Bên cạnh đó, cần chú trọng việc lập kế hoạch thu
hút và sử dụng nguồn vốn ODA.
Trên cơ sở Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quốc
gia, UBND tỉnh cần nhanh chóng ban hành chiến lược thu hút và quản lý sử
dụng các nguồn vốn ODA tại tỉnh trong giai đoạn tới. Chiến lược này cần tập
trung vào việc sử dụng vốn ODA vào những mục tiêu rõ ràng, xác định các lĩnh
vực và dự án ưu tiên nhằm đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ. Trong chiến
lược thu hút và vận động nguồn vốn ODA của tỉnh, cần có danh mục các dự án
phát triển, các dự án ưu tiên cho từng lĩnh vực cụ thể nhằm giới thiệu với các
nhà trợ để các nhà tài trợ có căn cứ xem xét, quyết định việc tài trợ các dự án
thích hợp và cơ sở để các nhà tài trợ tin tưởng các dự án này nằm trong lĩnh vực
ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Chiến lược
cũng phải đề ra được định hướng vận động và các giải pháp cụ thể để thu hút
các nhà tài trợ. Đồng thời, nắm bắt được đặc điểm của từng nhà tài trợ để sắp
xếp những dự án phù hợp với từng nhà tài trợ riêng, từ đó, nâng cao được hiệu
quả của công tác thu hút vốn đầu tư. Quan trọng nhất của việc thực hiện công
tác quy hoạch, lập kế hoạch thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đó là đảm bảo
quá trình phân bổ nguồn vốn ODA hợp lý, đầu tư đúng lĩnh vực, đúng định
hướng, phù hợp với quy hoạch nhằm mang lại hiệu quả trong việc sử dụng
nguồn vốn ODA tại địa phương.
Song song với việc hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch, tỉnh Quảng
Bình cũng cần nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị và lập các dự án ODA.
96
Như đã phân tích ở trên, một số dự án ODA đầu tư CSHT tại tỉnh có thiết
kế chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương, nguyên nhân của tồn tại
này là do việc lựa chọn tư vấn trong nước chưa đủ năng lực đánh giá hết các
khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường, tài chính,…trong khi các chuyên gia tư
vấn nước ngoài được thuê lại sử dụng các chuẩn mực quốc tế, vừa không phù
hợp với thực tế địa phương, vừa có xu hướng đầu tư dàn trải và thiếu đồng bộ,
mặt khác, người hưởng lợi, đối tượng chính của dự án lại không được tham vấn
kỹ lưỡng trong quá trình thiết kế và xây dựng dự án, dẫn đến nhiều mục tiêu của
các dự án không thực hiện được trong quá trình triển khai. Để khắc phục tình
trạng này, tỉnh cần thực hiện một số nội dung như sau:
Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội
trong từng thời kỳ của quốc gia, của các Bộ, Ngành và địa phương, Quảng Bình
và các đơn vị thụ hưởng cần chủ động đề xuất các chương trình, dự án ODA,
tránh để tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào các nhà tài trợ và tư vấn nước ngoài.
Tăng cường sử dụng tư vấn trong nước để nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án
phù hợp với các điều kiện thực tế của tỉnh và nhằm giảm chi phí thuê tư vấn
nước ngoài.
Các chương trình, dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng trước hết phải xuất
phát từ chính nhu cầu của địa phương và các đơn vị thụ hưởng, được xây dựng
phù hợp với quy hoạch tổng thể, quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực
trong tỉnh. Việc chuẩn bị nội dung các chương trình, dự án ODA trong thời gian
tới nên được giao cho một bộ phận, cơ quan chuyên trách, trực thuộc UBND các
huyện, các sở ban ngành trong tỉnh, với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ,
am hiểu quy trình, thủ tục vận động thu hút và giải ngân nguồn vốn ODA, nắm
bắt được thực tế tình hình tại địa phương. Để nâng cao chất lượng công tác lập
dự án, cần phải có đội ngũ cán bộ kinh tế, cán bộ kỹ thuật lập dự án ở từng cấp,
từng ngành đảm bảo chuyên môn, nghiệp vụ. Vì thế, tỉnh cần có chính sách
tuyển chọn những người có năng lực và giàu kinh nghiệm, đã từng thực hiện các
97
dự án tương tự. Đồng thời, đòi hỏi các dự án ODA phải có mục tiêu và căn cứ
pháp lý rõ ràng. Trong quá trình lập dự án cần có sự nghiên cứu, đánh giá, phân
tích tỷ mỷ, dựa trên các luận cứ có tính khoa học về mọi khía cạnh của dự án:
khía cạnh kỹ thuật, khía cạnh tài chính, khía cạnh thị trường, khía cạnh kinh tế
xã hội khác. Đối với các dự án phức tạp có thể tuyển chọn các công ty tư vấn
trong nước và quốc tế thông qua đấu thầu tuyển chọn tư vấn. Công tác đánh giá
hồ sơ dự thầu và lựa chọn nhà thầu tư vấn cần phải được cải tiến theo hướng
minh bạch, công bằng và có tính chính xác cao. Trong quá trình lập dự án cần
chú ý đến các chỉ tiêu tài chính: giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ số lợi ích chi phí
(B/C), tỷ số hoàn vốn nội bộ (IRR)... và phân tích các lợi ích kinh tế xã hội của
dự án là cơ sở nhà tài trợ xem xét tính khả thi của dự án và ra quyết định tài trợ.
Nội dung các chương trình, dự án ODA sau khi được chuẩn bị cần có sự
tham gia đóng góp ý kiến của những người dân trong vùng dự án, các chuyên
gia đầu ngành trong tỉnh và các tổ chức tư vấn. Việc chuẩn bị tốt nội dung các
chương trình, dự án sẽ giúp cho công tác vận động thu hút dự án được tiến hành
một cách thuận lợi hơn và việc triển khai giải ngân nguồn vốn vận động sẽ được
tiến hành nhanh chóng, giúp tăng tỷ lệ giải ngân vốn ODA trên địa bàn tỉnh.
3.2.3. Bố trí vốn đối ứng cho từng dự án theo kế hoạch
Thiếu vốn đối ứng đang là nguyên nhân làm cho một loạt các dự án ODA
đầu tư cơ sở hạ tầng tại Quảng Bình chậm được triển khai, mà đây lại là yêu cầu
bắt buộc của các nhà tài trợ. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong mỗi chương
trình, dự án chủ yếu dùng để trang trải cho các chi phí để tiếp nhận nguồn vốn
này nhưng vốn đối ứng lại là một vấn đề khó đối với một tỉnh nghèo như Quảng
Bình.
Để giải quyết vấn đề này tỉnh Quảng Bình, trước hết, tỉnh cần bố trí đầy
đủ vốn đối ứng trong kế hoạch ngân sách của tỉnh. Để làm được điều này, tỉnh
phải chủ động làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính để bố trí và cân
đối nguồn vốn ODA cho các dự án và phân bổ nguồn vốn đối ứng này theo kế
98
hoạch ở các cấp tương ứng, không sử dụng nguồn vốn này vào các mục đích
khác. Việc bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải có kế hoạch bố trí vốn đối ứng tương ứng với kế hoạch giải ngân của
nguồn vốn ODA trong các chương trình, dự án.
- Phải rõ ràng, chi tiết việc nguồn của vốn đối ứng lấy từ đâu, bao nhiêu là
lấy từ ngân sách trung ương cấp, bao nhiêu là ngân sách tỉnh, bao nhiêu là đóng
góp địa phương, bao nhiêu là đóng góp của người hưởng lợi.
- Phải phù hợp và đảm bảo tiến độ với cam kết của nhà tài trợ nhưng cũng
phải phù hợp với thực tế của tỉnh, tránh tình trạng cứ cam kết nhưng đến khi
thực hiện lại vượt quá khả năng của địa phương.
- Phải tuân thủ cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước hiện hành và các Ban
quản lý Dự án có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn đúng mục đích và có hiệu
quả.
Việc bố trí vốn đối ứng đầy đủ vừa đảm bảo cho việc triển khai dự án đúng
tiến độ, vừa đảm bảo sự cam kết chặt chẽ của chính quyền địa phương đối với
việc tiếp nhận chương trình, dự án.
3.2.4. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của Ban Quản lý dự án
Các Ban quản lý dự án tại tỉnh Quảng Bình hiện nay là cơ quan được cơ
quan chủ quản dự án giao quản lý và thực hiện dự án. Ban quản lý dự án là cơ
quan trực tiếp quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA để triển khai các hoạt động
của dự án. Trên thực tế, hầu hết các Ban Quản lý dự án trong lĩnh vực đầu tư cơ
sở hạ tầng làm việc với phương thức kiêm nhiệm, với nguồn kinh phí hạn hẹp do
dự án trích ra hoặc do ngân sách Nhà nước, hoạt động của các Ban Quản lý dự
án kém hiệu quả. Để nâng cao năng lực sử dụng vốn ODA ở các Ban Quản lý dự
án trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, cần thực hiện các biện pháp sau:
- Gắn trách nhiệm của Ban Quản lý dự án với chất lượng và tiến độ của dự án.
Để tạo động lực khuyến khích cũng như gắn trách nhiệm của Ban Quản lý
dự án vào hoạt động của dự án đang triển khai cần phải có chế độ thưởng phạt rõ
99
ràng, cụ thể là dựa trên cơ sở khối lượng công việc và chất lượng công việc
được giao cần có những khen thưởng và khiển trách nếu thư không thực hiện
đúng như kế hoạch. Điều này đảm bảo tiến độ của dự án được thực hiện theo kế
hoạch đề ra và đảm bảo hiệu qủa sử dụng vốn của dự án.
- Xây dựng quy chế quản lý và hoạt động của Ban Quản lý dự án phù hợp
Ngay sau khi Ban Quản lý dự án thành lập, cần phải xây dựng quy chế hoạt
động phù hợp với đặc điểm của dự án, yêu cầu của nhà tài trợ và quy định của
Luật pháp Việt Nam hiện hành. Quy chế này cần phải nêu rõ chức năng và
nhiệm vụ của Ban quản lý Dự án, quy định nhiệm vụ cụ thể của từng chức danh
trong Ban Quản lý dự án, cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cán bộ, các phòng
ban trong ban…Việc xây dựng quy chế này hết sức quan trọng đối với hoạt
động của dự án, là cẩm nang, là kim chỉ nam trong điều hành các hoạt động của
dự án.
Xây dựng hệ thống biểu mẫu cụ thể hóa cho các công việc trong dự án, từ
công việc hành chính như quy trình tuyển dụng nhân sự, hợp đồng lao động, bản
mô tả công việc cho từng vị trí, nguyên tắc lưu trữ thông tin; đến các quy định
về tài chính như mức tiền lương cho từng vị trí, công tác phí, chứng từ, thủ tục
thanh toán…; quy định về chế độ báo cáo chuyên môn và tài chính.
- Tăng cường công tác lập kế hoạch hoạt động, ngân sách hàng năm
Thực tế hiện nay, công tác lập kế hoạch ngân sách hàng năm của các Dự án
chủ yếu dựa trên tình hình thực hiện của năm trước và ước tính nhu cầu thực
hiện của năm sau, không được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của người
ưởng lợi, ước tính các hoạt động cụ thể của dự án; dẫn đến phát sinh "khoản
thừa, khoản thiếu", một số hoạt động cần thiết không có ngân sách để thực hiện,
một số hoạt động có ngân sách nhưng không giải ngân được.
Chính vì vậy, các Ban Quản lý Dự án phải chủ động xây dựng kế hoạch
hàng năm của dự án mình dựa trên cơ sở các hoạt động nhu cầu thực tế của
người hưởng lợi, thiết kế các hoạt động phù hợp với tình hình thực tế, xuất phát
100
từ chính cộng đồng, người dân. Kế hoạch ngân sách của các dự án cũng phải
linh động để có thể điều chỉnh trong quá trình thực tiễn dự án.
- Nâng cao năng lực của Giám đốc Ban Quản lý dự án
Việc Bổ nhiệm Giám đốc dự án phải được xem xét kỹ càng, minh bạch bởi
Giám đốc dự án là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành
bại của các dự án.
Do đó, Giám đốc dự án phải là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực dự án
thực hiện, có kinh nghiệm về chuyên môn, có kinh nghiệm về quản lý tài chính;
hạn chế việc bố trí kiêm nhiệm chức danh Giám đốc cũng như các chức danh
khác trong các dự án để tập trung sức lực và thời gian giải quyết tốt các công
việc của dự án, đảm bảo dự án triển khai đúng tiến độ.
3.2.5. Thực hiện phân công, phối hợp và phân định trách nhiệm quản lý cho
các cơ quan quản lý dự án
Công tác quản lý các chương trình, dự án ODA nói chung hay dự án ODA
đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng không đơn giản chỉ một bộ phận hay một sở, ban,
ngành nào có thể làm được mà cần phải có sự phối hợp đồng bộ từ Bộ, sở, ban,
ngành, các địa phương và cả Ban Quản lý dự án. Để thực hiện tốt điều này, tỉnh
cần phân công, phối hợp và xác định trách nhiệm rành mạch cho các cơ quan
thực thi. Công cụ cần thiết là xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá dự
án ở tất cả các cấp quản lý.
- Xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá dự án ở tất cả các cấp
quản lý
Trên thực tế, hầu hết các dữ liệu về dự án ODA như văn kiện dự án, số tiền
dự án, thời gian thực hiện, kết quả thực hiện, bài học kinh nghiệm,…chỉ được
lưu tại các Ban Quản lý dự án, tại Sở Kế hoạch và Đầu tư không có đầy đủ mà
chỉ có được báo cáo hàng năm do các dự án gửi lên, trong đó chỉ nêu những
thông tin chung chung, chưa nêu chi tiết, cụ thể các hoạt động cũng như các
vướng mắc cần phải giải quyết. Do đó, trong thời gian tới, Sở Kế hoạch và Đầu
101
tư, là cơ quan đầu mối theo dõi việc triển khai các dự án ODA nói chung hay
các dự an ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng trên địa bàn tỉnh cần phải phối
hợp với các cơ quan chuyên trách của mỗi dự án để có được thông tin thống nhất
về thực trạng triển khai các dự án, các vướng mắc và phát sinh cần phải giải
quyết; từ đó xây dựng hệ thống dữ liệu và đánh giá mang tính thống nhất cho tất
cả các dự án ODA, đảm bảo đầy đủ các thông tin như: tên dự án, mục tiêu hoạt
động, số tiền tài trợ, nhà tài trợ, thời gian thực hiện, kế hoạch giải ngân, kế
hoạch vốn đối ứng, các hoạt động cụ thể theo thời gian, các chỉ tiêu cụ thể theo
từng hoạt động, các chỉ số đánh giá theo từng chỉ tiêu, hoạt động của nhà tư vấn,
hoạt động của nhà thầu, tác động của dự án đến kinh tế, xã hôi, môi trường,…
- Tăng cường quản lý, giám sát tài chính, kế toán tại các Ban Quản lý dự án
Cũng như ở Trung ương, Bộ Tài chính là cơ quan theo dõi, quản lý, giám
sát các hoạt động tài chính, kế toán trong việc sử dụng nguồn vốn ODA. Ở tỉnh,
UBND tỉnh đã giao cho Sở Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn, quản lý về
mặt tài chính đối với các dự án ODA. Tuy nhiên, do đặc thù của các dự án ODA
nói chung, dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng là phụ thuộc vào nhà tài
trợ, nên công tác quản lý tài chính đối với các Ban quản lý dự án tại tỉnh là chưa
thực sự được quan tâm đúng mức. Hàng năm, Sở Tài chính chỉ tham gia xét duyệt
kế hoạch ngân sách hoạt động hàng năm của dự án mà chưa có kế hoạch kiểm tra,
giám sát đối với các dự án ODA. Theo quy định, Sở Tài chính chịu trách nhiệm
hướng dẫn về mặt tài chính cho các dự án, tuy nhiên, hầu hết các dự án đều tự
xây dựng cơ chế, quy chế tài chính riêng cho mình theo yêu cầu của nhà tài trợ,
không tham vấn ý kiến của Sở Tài chính, sau đó, trình qua Sở Tài chính để
UBND tỉnh phê duyệt. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn khó xác định và dễ phát
sinh tham nhũng, lãng phí. Để khắc phục tình trạng trên, Sở Tài chính cần tăng
cường kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ đối với việc thực hiện công tác tài
chính, kế toán của các Ban Quản lý Dự án, để từ đó, tăng cường công tác quản
lý nhà nước đối với công tác tài chính, kế toán của các dự án, phát hiện ra các
102
sai phạm, có thể đề xuất các phương án xử lý kịp thời; Xây dựng quy trình
chuẩn hướng dẫn các Ban Quản lý dự án việc xây dựng chế độ tài chính cho các
Dự án dựa trên yêu cầu của từng nhà tài trợ, quy định của Bộ Tài chính và các
yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh để các Ban Quản lý dự án có căn cứ, cơ sở
xây dựng quy chế tài chính cho dự án mình; Tiến hành kiểm toán độc lập định
kỳ các dự án.
- Tăng cường công tác chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Dự án
Hầu hết các dự án ODA đều thành lập Ban Chỉ đạo Dự án với thành phần
là đại diện lãnh đạo các cơ quan liên quan nhằm tạo điều kiện hỗ trợ Dự án trong
các lĩnh vực cụ thể; tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động của Ban chỉ đạo Dự án
trong thời gian qua hầu chỉ mang tính hình thức, chủ yếu chỉ đạo trên giấy tờ,
không mang tính sát sao nên dẫn đến không hiệu quả.
Hoạt động phối hợp của các cơ quan liên quan đến dự án thông qua hoạt
động của Ban chỉ đạo dự án, thành phần là lãnh đạo các Sở, ban, ngành liên
quan đến việc thực hiện dự án chủ yếu mang tính hình thức, chỉ tham gia vào
các cuộc họp tổng kết hàng năm hay thông qua ngân sách hàng năm mà chưa
tham gia trực tiếp vào việc chỉ đạo thực hiện dự án, chính vì thể, trong quá trình
thực hiện dự án, nếu cần sự giúp đỡ của ngành nào cũng vẫn gặp một số khó
khăn. Do đó, trong thời gian tới, tỉnh cần chú trọng mạnh hơn nữa việc tham gia
vào dự án của các thành viên trong Ban chỉ đạo dự án để có những chỉ đạo, hỗ
trợ cần thiết trong quá trình thực hiện dự án.
- Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã
Hiện nay, cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các cấp chưa thực sự
thực hiện tốt, nhiều dự án có tình trạng là các văn bản, hướng dẫn của Ban Quản
lý dự án xuống đến cấp huyện, cấp xã nhiều khi không có tác dụng mà phải là
văn bản của UBND tỉnh, hoặc của các Sở, ngành chuyên môn thì việc thực hiện
các nội dung này mới được tiến hành. Bên cạnh đó, còn có hiện tượng là các dự
án thiết kế hệ thống từ cấp tỉnh xuống thẳng cấp xã, không qua chính quyền
103
huyện, khi Ban quản lý dự án cấp tỉnh triển khai các nội dung xuống xã thì cấp
xã không thực hiện vì xã chỉ chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ chính quyền huyện; các
tình trạng này dẫn đến việc triển khai mất nhiều thời gian, chậm tiến độ của dự án.
Do đó, việc thiết lập cơ chế trao đổi thông tin 02 chiều giữa UBND tỉnh,
các sở, ban, ngành liên quan với Ban Quản lý Dự án cấp tỉnh, chính quyền cấp
huyện, cấp xã thực hiện dự án sẽ tạo điều kiện cho dự án thực hiện một cách
suôn sẻ, giảm bớt các phát sinh trong quá trình thực hiện dự án, huy động được
các nguồn lực của địa phương trong quá trình thực hiện dự án.
- Xác định và nâng cao trách nhiệm thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA đầu
tư cơ sở hạ tầng tại Sở Kế hoạch và Đầu tư
Sở Kế hoạch và Đầu tư với vai trò là cơ quan đầu mối trong thu hút, vận
động và theo dõi các chương trình, dự án ODA nói chung và các dự án ODA
đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; cần phải
xây dựng các kế hoạch phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên trách của mỗi
dự án để có các thông tin thống nhất và cần thiết về thực trạng triển khai dự án,
các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình đó để có biện pháp phối hợp
giải quyết và tháo gỡ triệt để.
Sau khi hoàn thành các chương trình, dự án ODA, trên cơ sở báo cáo về
quá trình, kết quả thực hiện dự án, tính hiệu quả mà các chương trình, dự án
mang lại, UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chủ dự án, Ban Quản lý dự án và
Nhà tài trợ cần thiết cùng nhau tiến hành đánh giá tổng thể lại dự án để thấy
được những thuận lợi, thành công và những hạn chế của mỗi dự án, để từ đó, rút
kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo. Việc đánh giá phải dựa trên việc phân tích,
so sánh các số liệu, chỉ tiêu, thời gian thực hiện thực tế của các chương trình, dự
án so với kế hoạch ban đầu của dự án.
3.2.6. Đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ xúc tiến đầu tư, quản lý và thực hiện
các dự án ODA hợp lý
104
Con người được coi là yếu tố có vai trò quan trọng và quyết định đến kết
quả, hiệu quả của công tác vận động thu hút, quản lý sử dụng vốn ODA nói
chung hay nguồn vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Trong thời gian qua
lực lượng cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng
Bình đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chất lượng nhưng vẫn chưa đáp
ứng được nhu cầu. Trong những năm tiếp theo tỉnh Quảng Bình cần có những
chính sách thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn, có kỹ năng nghiệp vụ làm
công tác đối ngoại, quản lý thực hiện các chương trình dự án ODA nói chung dự
án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Các chính sách thu hút có thể được áp
dụng như hỗ trợ chế độ thu hút cán bộ, bố trí công việc phù hợp với chuyên môn
được đào tạo, chế độ lương bổng thích hợp, phân cấp đất, nhà…
Việc thu hút nguồn nhân lực có chất lượng đến với tỉnh Quảng Bình phải
được thực hiện theo hai hướng. Một mặt có những chính sách tăng cường thu
hút nhân lực từ bên ngoài đến với tỉnh, mặt khác tận dụng nguồn nhân lực đã
qua đào tạo tại địa phương. Xét về dài hạn thì việc huy động nguồn nhân lực đã
qua đào tạo tại địa phương sẽ có nhiều lợi thế hơn do chi phí thực hiện chính
sách thấp hơn, hiệu quả của chính sách thu hút sẽ cao do là người địa phương
nên các cán bộ sẽ nắm rõ tình hình thực tế tại địa phương, các giải pháp đưa ra
cũng sẽ thực tế và mang tính khả dụng hơn. Nhưng cũng không thể phủ nhận vai
trò của những chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý đến từ các địa phương
khác. Việc sử dụng kết hợp, hài hòa giữa nguồn nhân lực địa phương và bên
ngoài sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Bên cạnh việc có chính sách thu hút nguồn nhân lực, tỉnh Quảng Bình cần
tăng cường công tác đào tạo cán bộ làm công tác đối ngoại có trình độ chuyên
môn về kinh tế, về quản lý, có trình độ ngoại ngữ tin học, có đầy đủ bản lĩnh và
năng lực sẵn sàng hợp tác và làm việc trong các chương trình, dự án ODA.
Quảng Bình cần có nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác đào tạo cán
bộ, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
105
Công tác đào tạo phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các
ngành, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ công tác đào tạo.
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về ODA: Tạo điều kiện cho các cán bộ
làm công tác đối ngoại, quản lý ODA trên địa bàn học tập, tiếp thu công nghệ
tiên tiến, hiện đại, các kỹ thuật quản lý dự án của các nước và nhà tài trợ; từ đó,
xây dựng đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin
học, kỹ năng chia sẻ và làm việc nhóm để có thể làm việc với nhà tài trợ, quản
lý, theo dõi được việc thực hiện của các dự án.
- Đối với cơ quan thực hiện dự án ODA: Củng cố lại các Ban quản lý dự án
về cơ cấu tổ chức cũng như bổ sung các cán bộ có trình độ chuyên môn, kinh
nghiệm trong việc thực hiện Dự án; xây dựng quy chế hoạt động của từng Ban
Quản lý Dự án, phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cấp, các ngành và liên
đới trách nhiệm cho các cơ quan liên quan; xác định rõ mối quan hệ, nội dung và
trách nhiệm của từng chức danh trong bộ máy Ban Quản lý dự án trong từng giai
đoạn của Dự án; thực hiện đánh giá giữa kỳ chất lượng cán bộ dự án để kịp thời
thay đổi, bổ sung cán bộ đủ năng lực cho dự án.
Để giữ chân các cán bộ dự án, cần có chế độ đãi ngộ thích đáng như tăng
hệ số tiền lương cho cán bộ dự án và hướng bố trí, sử dụng số cán bộ dự án này
sau khi dự án kết thúc. Hàng năm, tỉnh bố trí cho các cán bộ của tỉnh cũng như
các Giám đốc dự án đi bồi dưỡng, nâng cao kiến thức quản lý, cập nhật các
thông tin, tình hình mới từ Chính phủ và nhà tài trợ để phục vụ tốt công tác quản
lý và điều hành dự án.
Song song với quá trình thu hút, đào tạo thì tỉnh cũng cần xây dựng quy
hoạch, bố trí sử dụng cán bộ đã qua đào tạo, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác
quản lý một cách phù hợp và khoa học, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Thời
gian qua việc không được bố trí hoặc bố trí công việc không phù hợp đã làm
giảm hiệu quả của những chính sách thu hút, đào tạo nguồn nhân lực gây lãng
phí. Bên cạnh đó việc thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn tham gia vào quá
106
trình quản lý, sử dụng vốn ODA cũng đã làm giảm hiệu quả của nguồn vốn này
đối với sự phát triển của địa phương.
3.2.7. Xây dựng chính sách hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án
Đổi mới hình thức và phương pháp tuyên truyền vận động, sử dụng tổng
hợp, đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, phát huy sức mạnh của các cơ quan
thông tin đại chúng, ưu thế vận động trực tiếp của các tổ chức chính trị - xã hội để
tuyên truyền về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, kết hợp giữa tuyên
truyền, vận động và đối thoại trực tiếp. Báo Quảng Bình, Đài Phát thanh và
Truyền hình Quảng Bình dành thời lượng phát sóng tuyên truyền về công tác bồi
thường, hỗ trợ tái định cư. Chính quyền các cấp, các cơ quan, ban, ngành, đoàn
thể có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, phân công, phân nhiệm cụ thể trong việc
tổ chức thực hiện; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có đủ kiến
thức cần thiết về pháp luật, làm nòng cốt trong công tác tuyên truyền, thực hiện
việc bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Xây dựng các cơ chế về chính sách hỗ trợ bồi thường một cách phù hợp và
đúng pháp luật như về đơn giá bồi thường: đất nông nghiệp, đất ở,... quy định
từng mức giá khác nhau; hỗ trợ nghề hướng nghiệp, giải quyết việc làm cho lao
động bị thu hồi đất; hỗ trợ về chính sách, cơ chế tái định cư, khuyến khích các hộ
nhận tiền bồi thường đất, nhận khoản hỗ trợ tự lo chỗ ở, mua nhà mới đối với
từng hộ dân...
Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đảm bảo nhu cầu giải phóng mặt bằng
đồng bộ từ đó thúc đẩy tiến trình thực hiện dự án; và tăng cường công tác kiểm
tra, giám sát trong việc thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng nhằm
kịp thời nắm bắt và bổ sung những bất cập, không phù hợp với thực tiễn; đẩy
mạnh phân cấp cho cấp huyện gắn với việc tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm
tra của các ngành chức năng nhằm phát huy được tính chủ động của cấp huyện,
đồng thời đảm bảo cơ chế, chính sách được áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh
107
Quảng Bình, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình, dự án ODA trên
địa bàn tỉnh.
3.3. Kiến nghị với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế, chính sách về ODA
Trong giai đoạn 2006 - 2015, Quốc hội và Chính phủ ban hành khá nhiều
văn bản có liên quan đến ODA như “Luật Đầu tư”, “Luật Đấu thầu”, “Luật Xây
dựng” và các “Nghị định về quản lý và sử dụng ODA”. Tuy nhiên, các quy định
pháp lý về ODA chưa đồng bộ, tính pháp lý chưa cao. Ngày 16/3/2016, Chính
phủ ban hành “Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lý sử dụng ODA và nguồn
vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ”, thay thế “Nghị đinh 38/2013/NĐ-CP ngày
23/4/2013”. Nghị định 16 có hiệu lực từ ngày 02/5/2016. Nghị định 16 đưa ra
những quy định để xây dựng một quy trình hoàn chỉnh từ khâu tiếp nhận, quản
lý, sử dụng đến giám sát, đánh giá vốn ODA, giảm bớt gánh nặng về thủ tục
hành chính cho cơ quan chủ quản, đẩy mạnh phân cấp, tinh giản thủ tục, quy
trình nhằm hài hòa với nhà tài trợ và đồng bộ các văn bản pháp quy hiện hành,
đặc biệt là “Luật Đầu tư”, “Luật Đầu tư công” và “Luật Đấu thầu”. Trên cơ sở
Nghị định mới ban hành và những vấn đề đang tồn tại trong hệ thống pháp quy
về quản lý và sử dụng vốn ODA, Chính phủ chỉ đạo Bộ, ngành rà soát lại các
văn bản ban hành để loại bỏ những văn bản lạc hậu, bổ sung, hoàn thiện những
văn bản có hiệu lực và ban hành các văn bản mới nếu thấy cần thiết theo hướng
giảm bớt các thủ tục hành chính, quy định rõ trách nhiệm của từng Bộ, ngành,
địa phương và từng cấp tham gia.
- Hoàn thiện và công bố quy hoạch tổng thể về chiến lược thu hút và sử
dụng vốn ODA giai đoạn 2016 - 2020 và những năm sau đó
Việc ban hành quy hoạch tổng thể về chiến lược thu hút và sử dụng vốn
ODA tạo điều kiện để hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ODA của Việt Nam có
hiệu quả.Trước hết, quy hoạch tổng thể là căn cứ đáng tin cậy thể hiện nhu cầu
108
về nguồn vốn ODA của Việt Nam để các nhà tài trợ có được căn cứ xem xét tính
hợp lý, tính hiệu quả và khả năng hoàn vốn của Việt Nam để quyết định xem có
nên tài trợ hay không.Quy hoạch tổng thể cũng là căn cứ quan trọng để kiểm tra
hiệu quả quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA đã đúng tiến độ, phù hợp với
thực tế và đảm bảo chất lượng sử dụng vốn ODA hay không. Hoàn thiện các
văn bản pháp luật liên quan đến quản lý Nhà nước về thu hút và sử dụng nguồn
vốn ODA.Quy hoạch tổng thể là cơ sở và tiền đề cần thiết để địa phương có
được định hướng cụ thể để xây dựng kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA phù
hợp của các ngành và địa phương, tăng tính chủ động trong việc vận động và sử
dụng nguồn vốn này của ngành và địa phương.
- Đẩy mạnh hơn tiến trình hài hòa thủ tục với nhà tài trợ
Hài hòa thủ tục với nhà tài trợ là việc đi tìm sự phù hợp, thống nhất giữa
các bên (Chính phủ, nhà tài trợ và đơn vị thực hiện) trong quá trình thực hiện
các chương trình, dự án ODA. Hiện nay, đã có 51 nhà tài trợ song phương và đa
phương và hơn 600 NGOs hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Mỗi nhà tài
trợ đều có chính sách và quy định tài trợ khác nhau. Nếu Chính phủ không tiến
hành hài hòa các quy trình và thủ tục thì việc thực hiện dự án gặp rất nhiều khó
khăn. Hài hòa quy trình và thủ tục làm thay đổi một số quy định pháp lý giữa
Chính phủ và nhà tài trợ, do đó cần được tiến hành từng bước với nội dung và
phạm vi phù hợp.
Thủ tục của Việt Nam và các nhà tài trợ đều tương đối phức tạp, qua
nhiều bước khác nhau và có những đặc điểm riêng. Không thể hài hòa hoàn toàn
các thủ tục bởi các nhà tài trợ thường chung các quy trình, thủ tục cho tất cả các
nước nhận viện trợ và Việt Nam cũng áp dụng thủ tục đối với các nguồn tài trợ
khác nhau. Vì vậy, sự hài hòa chỉ có thể thực hiện ở một số phương diện nhất
định và trong thực hiện hài hòa quy trình và thủ tục, nên lựa chọn những công
việc có tính khả thi cao và có ảnh hưởng lớn đến thực hiện dự án ODA như hài
109
hòa về kết cấu nội dung và hình thức văn kiện dự án, quy trình và thủ tục đấu
thầu, hệ thống biểu mẫu báo cáo định kỳ về tiến độ thực hiện dự án...
Để công tác hài hòa quy trình và thủ tục với các nhà tài trợ diễn ra có hiệu
quả, những nguyên tắc sau cần được thực hiện: (i) Chính phủ cần có kế hoạch,
chiến lược cụ thể, xây dựng các khung làm cơ sở tiến hành các hoạt động hài
hòa, (ii) Các quan niệm về hài hòa quy trình và thủ tục cần được chia sẻ và đạt
được nhận thức chung giữa Chính phủ và nhà tài trợ, (iii) Hài hòa quy trình và
thủ tục có thể được tiến hành giữa Chính phủ và nhà tài trợ song phương hoặc
giữa Chính phủ với một nhóm các nhà tài trợ.
Trong tiến trình hài hòa thủ tục với nhà tài trợ, Chính phủ cần chỉ đạo Bộ
KH&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao tăng cường đối thoại với các nhà tài trợ,
làm “cầu nối” giữa Chính phủ và nhà tài trợ để thực hiện việc hài hòa thủ tục
nhằm tạo điều kiện cho các dự án ODA được triển khai ngày một thuận lợi.
Hằng năm, thực hiện tổ chức các cuộc “Hội nghị vận động vốn”, “Hội nghị
nhóm tư vấn giữa kỳ” với sự tham gia của các các Bộ, ngành, UBND các tỉnh,
thành phố, các cơ quan chủ quản, BQLDA để lắng nge ý kiến, kiến nghị của các
bên thông qua trao đổi thông tin hai chiều; tạo điều kiện để chủ đầu tư và các
BQLDA nêu lên khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án, trên cơ
sở đó, lấy ý kiến, phối hợp, chia sẻ thông tin với các nhà tài trợ; từ đó, các bất
đồng quan điểm về mặt thủ tục từng bước được tháo gỡ.
3.3.2. Kiến nghị với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ địa phương trong việc phát
triển quan hệ đối tác cung cấp ODA
Bộ KH&ĐT với tư cách là cơ quan đầu mối đảm nhận công tác vận động,
thu hút và điều phối nguồn vốn ODA phải tăng cường vai trò cầu nối giữa các
địa phương với các nhà tài trợ, nhất là các địa phương không thuộc các vùng
kinh tế trọng điểm, có điều kiện khó khăn như tỉnh Quảng Bình. Bộ KH&ĐT
cần giúp địa phương xây dựng, củng cố và mở rộng các quan hệ đối tác viện trợ,
Bộ cần tích cực giới thiệu, hỗ trợ địa phương làm quen, tiếp cận và thiết lập mối
110
quan hệ với các nhà tài trợ tiềm năng và có chính sách viện trợ tương đồng với
những ưu tiên phát triển của địa phương; đẩy mạnh cung cấp các thông tin về
chiến lược, đặc điểm, nguyên tắc và định hướng ưu tiên cung cấp ODA của từng
nhà tài trợ trong từng thời kỳ nhằm tạo điều kiện cho địa phương phát huy được
vai trò chủ động trong vận động, thu hút ODA, đồng thời nâng cao năng lực huy
động vốn theo nhu cầu thực tế của địa phương.
3.3.3. Kiến nghị với Bộ Tài chính về việc ban hành “Cẩm nang hướng dẫn tài
chính đối với từng nhà tài trợ”
Hiện nay, mỗi nhà tài trợ có mỗi cuốn cẩm nang hướng dẫn tài chính
riêng và mỗi dự án đều căn cứ vào cẩm nang hướng dẫn đó xây dựng quy chế tài
chính phù hợp với yêu cầu của nhà tài trợ và Bộ Tài chính. Công việc này
thường mất nhiều thời gian và chi phí. Do đó, Bộ Tài chính cần tiến hành xây
dựng và ban hành cẩm nang chung hướng dẫn về tài chính đối với việc thực hiện
các chương trình, dự án ODA, trong đó nêu rõ quy định của từng nhà tài trợ đối
với quy chế tài chính - giải ngân cho từng hạng mục công việc. Cẩm nang này là
căn cứ cho đơn vị tiếp nhận triển khai thực hiện dự án theo đúng các yêu cầu và
quy định về tài chính của Chính phủ Việt Nam và nhà tài trợ.
3.3.4. Kiến nghị với Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây Dựng, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn ưu tiên phân bổ nguồn vốn ODA cho lĩnh vực đầu tư cơ
sở hạ tầng tại tỉnh Quảng Bình
Trong giai đoạn 2011-2016, trên địa bàn tỉnh có 16 dự án ODA về đầu tư
cơ sở hạ tầng đang được triển khai. Tuy nhiên, trong số 16 dự án đang được
triển khai đó chỉ có 03 dự án là do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ dự án, các dự
án này chỉ là các dự án nhỏ lẻ có vốn đầu tư thấp. Trong thời gian tới Tỉnh mong
muốn Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn quan tâm, ưu tiên, tạo điều kiện của các Bộ cho tỉnh được tham gia
vào các chương trình, dự án do Bộ quản lý nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực
111
đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của tỉnh đồng bộ,
hiện đại, đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
112
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Trên cơ sở thực trạng QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn
vốn ODA trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, luận văn đưa ra các phương hướng, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng
nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Trọng tâm của chương 3 là các giải pháp nhằm giải quyết những yếu kém,
hạn chế trong công tác QLNN đối với các dự án đầu tư xây dựng CSHT sử dụng
vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình những năm gần đây, hướng tới nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước đối với các dự án này. Các giải pháp cụ thể bao gồm: Tuyên
truyền, phổ biến nâng cao nhận thức đúng đắn về nguồn vốn ODA và trách
nhiệm quản lý, sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng; Xây dựng quy
hoạch, kế hoạch thu hút, quản lý và và sử dụng nguồn vốn ODA có tính khoa
học, khả thi; Bố trí vốn đối ứng cho từng dự án theo kế hoạch; Nâng cao năng
lực và trách nhiệm của Ban Quản lý dự án; Thực hiện phân công, phối hợp và
phân định trách nhiệm quản lý cho các cơ quan quản lý dự án; Đào tạo, bố trí và
sử dụng cán bộ xúc tiến đầu tư, quản lý và thực hiện các dự án ODA hợp lý;
Xây dựng chính sách hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án.
Ngoài ra, ở mức độ cụ thể, luận văn đã đưa ra một số kiến nghị đối với
Chính Phủ và các Bộ, ngành Trung Ương, góp phần nâng cao hoạt động QLNN
đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA.
113
KẾT LUẬN
Những năm qua, các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA đã đóng
vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nói
chung và kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình nói riêng. Các công trình cơ sở hạ
tầng, giao thông hoàn thành bằng nguồn vốn ODA đã góp phần hoàn thiện hệ
thống hạ tầng của tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống
của nhân dân. Từ những phân tích trong bài viết, chúng ta đã có cái nhìn bao
quát hơn về thực trạng QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn
ODA tại tỉnh Quảng Bình. Đồng thời cũng chỉ ra được phần nào những thành
tựu, kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quá trình QLNN
đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại Quảng Bình. Trên cơ
sở đó còn chỉ ra những nguyên nhân gây nên hạn chế và những phương hướng,
giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT
bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình.
Tác giả tin tưởng, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và sự
nỗ lực của chính quyền, nhân dân địa phương, trong thời gian tới, hoạt động
QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng
Bình sẽ đạt được những thành tựu lớn hơn nữa, góp phần to lớn hơn nữa vào sự
nghiệp phát triển của địa phương.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ KH & ĐT (2014), Báo cáo về tổng quan công tác vận động, thu hút,
quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi thời kỳ 1993-2014 và định
hướng trong thời gian tới.
2. Bộ Tài chính (2014), Số liệu công khai ngân sách Nhà nước,
http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583.
3. Chính phủ (2016), Nghị định 16/2016/NĐ-CP Ngày 16/03/2016 của
Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn
vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.
4. Chính phủ (2015), Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của
Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng.
5. Chính phủ (2013), Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/04/2013 của
Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và
nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ.
6. Chính phủ (2006), Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của
Chính phủ về việc Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức.
7. Hà Thị Ngọc Oanh (2000), Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA những
hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
8. Quốc hội (2014), Số: 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014, Luật Xây dựng.
10. Quốc hội (2014), Số: 49/2014/QH13 ngày 18/06/2014, Luật Đầu tư công
9. Quốc hội (2013), Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013
của Quốc Hội nước CHXH CN Việt Nam.
10. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ngày 28/11/2013 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
11. Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Bình, Báo cáo tình hình vận động và
thực hiện chương trình, dự án ODA tại tỉnh Quảng Bình ( 2011, 2012, 2012,
2013, 2014, 2015, 2016).
12. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 952/QĐ-TTg ngày 23
tháng 6 năm 2011 phê duyệt Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Quảng Bình đến năm 2020.
13. Lưu Ngọc Trịnh (2002), Vốn vay ưu đãi ở Việt Nam những năm gần
đây thực trạng vấn đề và giải pháp - Trường hợp Nhật Bản, Nhà xuất bản Lao
động, Hà Nội.
14. TS.Trịnh Ngọc Tuấn (2015), Kết quả thu hút và sử dụng vốn ODA
giai đoạn 2006-2015: Thực trạng và một vài kiến nghị, đề xuất, Vụ Kinh tế, Văn
phòng Quốc hội, Hà Nội.
15. Ủy ban Kinh tế Trung ương (2015), Báo cáo đánh giá 20 năm huy
động và sử dụng ODA của Việt Nam.
16. UBND tỉnh Quảng Bình (2010), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội tỉnh Quảng Bình giai thời kỳ 2011 – 2020.
17. UBND tỉnh Quảng Bình (2015), Báo cáo tình hình thu hút, quản lý và
sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2011-2015; định hướng thu hút
nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2016-2020 của tỉnh Quảng Bình
11/06/2015
18. UBND tỉnh Quảng Bình (2015), Quyết định số 540/QĐ-UBND về việc
phê duyệt Quy hoạch phát triển Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình đến năm
2020.

More Related Content

PDF
20210115 thuyet minh santory
PDF
DỰ ÁN CÔNG NGHỆ CAO Q-FARM
DOCX
Dự án sân golf, khu biệt thự nghĩ dưỡng 0918755356
DOCX
Dự án nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch sinh thái 0918755356
PDF
Thuyết minh dự án Nhà máy chế biến sữa tại Campuchia 0918755356
PDF
Thuyết minh dự án Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh 30.000 tấn/năm - w...
DOCX
Du an du lich sinh thai ket hop nong nghiep 0918755356
PDF
DỰ ÁN THÁC TẢN BA
20210115 thuyet minh santory
DỰ ÁN CÔNG NGHỆ CAO Q-FARM
Dự án sân golf, khu biệt thự nghĩ dưỡng 0918755356
Dự án nông nghiệp công nghệ cao kết hợp du lịch sinh thái 0918755356
Thuyết minh dự án Nhà máy chế biến sữa tại Campuchia 0918755356
Thuyết minh dự án Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh 30.000 tấn/năm - w...
Du an du lich sinh thai ket hop nong nghiep 0918755356
DỰ ÁN THÁC TẢN BA

What's hot (19)

PDF
Du an-nmsx-nuoc-yen
PDF
Thuyết minh dự án đầu tư Nhà máy nước đóng chai Cawaco tỉnh Cà Mau | lapduand...
PDF
Thuyết minh dự án đầu tư Khu vui chơi giải trí Worldneyland tỉnh Vũng Tàu | d...
PDF
CÔNG VIÊN CHUYÊN ĐỀ VỀ VẢO TỒN CÂY THUỐC QUÝ VÀ DƯỢC LIỆU CỦA VIỆT NAM KẾT HỢ...
DOCX
thuyết minh dự án đầu tư xây dựng khách sạn phú nhuận tiêu chuẩn 3 sao
DOCX
Dự án di dời mở rộng sản xuất tại khu công nghiệp0918755356
PDF
DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO VÀ DU LỊCH SINH THÁI PHƯỚC SƠN
PDF
Thuyết minh dự án đầu tư Nhà máy sơ chế sản xuất dược liệu và sản xuất thực p...
PDF
Luận văn: Cửa hàng xăng dầu Thạch Bàn, HAY
DOCX
Dự án năng lượng mặt trời 0918755356
PDF
Tư vấn lập dự án Xây dựng Khu sản xuất Nông nghiệp công nghệ cao trong nhà mà...
PDF
DỰ ÁN RÁC THẢI GIA LAI
DOCX
dự án đóng gói găng tay 0918755356
PDF
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện khí Đông Hải 1 - lập dự án.net
DOCX
Dự án khu dân cư 0918755356
PDF
Nhà máy tái chế và xử lý chất thải Phú Quốc - www.duanviet.com.vn - 0918755356
PDF
Thuyết minh dự án Chế biến Nam Dược tỉnh Quảng Ngãi 0918755356
PDF
Dự án Chăn nuôi heo Việt Thắng - An Giang | Dịch vụ lập dự án đầu tư - duanvi...
PDF
du an xay dung khu du lịch
Du an-nmsx-nuoc-yen
Thuyết minh dự án đầu tư Nhà máy nước đóng chai Cawaco tỉnh Cà Mau | lapduand...
Thuyết minh dự án đầu tư Khu vui chơi giải trí Worldneyland tỉnh Vũng Tàu | d...
CÔNG VIÊN CHUYÊN ĐỀ VỀ VẢO TỒN CÂY THUỐC QUÝ VÀ DƯỢC LIỆU CỦA VIỆT NAM KẾT HỢ...
thuyết minh dự án đầu tư xây dựng khách sạn phú nhuận tiêu chuẩn 3 sao
Dự án di dời mở rộng sản xuất tại khu công nghiệp0918755356
DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO VÀ DU LỊCH SINH THÁI PHƯỚC SƠN
Thuyết minh dự án đầu tư Nhà máy sơ chế sản xuất dược liệu và sản xuất thực p...
Luận văn: Cửa hàng xăng dầu Thạch Bàn, HAY
Dự án năng lượng mặt trời 0918755356
Tư vấn lập dự án Xây dựng Khu sản xuất Nông nghiệp công nghệ cao trong nhà mà...
DỰ ÁN RÁC THẢI GIA LAI
dự án đóng gói găng tay 0918755356
Dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện khí Đông Hải 1 - lập dự án.net
Dự án khu dân cư 0918755356
Nhà máy tái chế và xử lý chất thải Phú Quốc - www.duanviet.com.vn - 0918755356
Thuyết minh dự án Chế biến Nam Dược tỉnh Quảng Ngãi 0918755356
Dự án Chăn nuôi heo Việt Thắng - An Giang | Dịch vụ lập dự án đầu tư - duanvi...
du an xay dung khu du lịch
Ad

Similar to Đề tài: Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, HAY (20)

PDF
Đề tài: Đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn nhà nước tại Quảng Bình
PDF
Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng ngân sách tỉnh Bình Định, 9đ
PDF
Quản lý dự án đầu tư xây dựng vốn Nhà nước tại Quảng Ngãi, HAY
DOC
Quản Lý Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Bằng Vốn Ngân Sách Của Tỉnh Bình Định.doc
PDF
Luận văn: Xây dựng cơ sở hạ tầng từ vốn ngân sách tỉnh Phú Yên
DOC
Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ngân sách của tỉnh Bình Định.doc
DOC
Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách trên địa bàn Tỉn...
PDF
Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
PDF
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp tỉnh Quảng Bình
DOC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ ...
DOCX
Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Từ Ngân Hàng
PDF
Luận văn: Chi vốn đầu tư cho dự án xây dựng vốn Nhà nước, HAY
PDF
Quản lý xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách huyện Tiên Phước
PDF
Luận văn: Quản lý dự án xây dựng cơ bản tại huyện Tiên Phước
DOC
Hoàn thiện cơ chế quản lý chi vốn đầu tư phát triển cho các dự án đầu tư xây ...
DOC
Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Bằng Vốn Ngân Sách Nhà Nước ...
DOC
BÀI MẪU Khóa luận quản lý ngân sách nhà nước, HAY, 9 ĐIỂM
DOC
LV: Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
DOC
Luận Văn Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách ...
DOC
LV: công tác quản lý vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng hệ thống điện
Đề tài: Đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn nhà nước tại Quảng Bình
Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng ngân sách tỉnh Bình Định, 9đ
Quản lý dự án đầu tư xây dựng vốn Nhà nước tại Quảng Ngãi, HAY
Quản Lý Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Bằng Vốn Ngân Sách Của Tỉnh Bình Định.doc
Luận văn: Xây dựng cơ sở hạ tầng từ vốn ngân sách tỉnh Phú Yên
Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ngân sách của tỉnh Bình Định.doc
Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách trên địa bàn Tỉn...
Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp tỉnh Quảng Bình
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ ...
Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Từ Ngân Hàng
Luận văn: Chi vốn đầu tư cho dự án xây dựng vốn Nhà nước, HAY
Quản lý xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách huyện Tiên Phước
Luận văn: Quản lý dự án xây dựng cơ bản tại huyện Tiên Phước
Hoàn thiện cơ chế quản lý chi vốn đầu tư phát triển cho các dự án đầu tư xây ...
Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Bằng Vốn Ngân Sách Nhà Nước ...
BÀI MẪU Khóa luận quản lý ngân sách nhà nước, HAY, 9 ĐIỂM
LV: Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Luận Văn Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách ...
LV: công tác quản lý vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng hệ thống điện
Ad

More from Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864 (20)

DOC
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
DOC
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
DOC
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
DOC
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
DOC
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
DOC
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
DOC
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
DOC
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
DOC
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
DOC
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
DOC
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
DOC
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...

Recently uploaded (20)

PDF
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
PDF
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Tổng quan về Giao tiếp
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
DOCX
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
PDF
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
PDF
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
PPTX
Nhận thức chung về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
PDF
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
PDF
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
PPT
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
PPTX
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
DOCX
bao cao thuc tap nhan thuc_marketing_pary2
PDF
FULL TN LSĐ 2024 HUIT. LICH SU DANGGGGGG
PDF
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
PDF
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án
PDF
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
PPT
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
PPTX
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
PDF
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
PDF
Mua Hàng Cần Trở Thành Quản Lý Chuỗi Cung Ứng.pdf
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Tổng quan về Giao tiếp
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
Nhận thức chung về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
bao cao thuc tap nhan thuc_marketing_pary2
FULL TN LSĐ 2024 HUIT. LICH SU DANGGGGGG
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
Mua Hàng Cần Trở Thành Quản Lý Chuỗi Cung Ứng.pdf

Đề tài: Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, HAY

  • 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/……… ………/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN VIỆT TUẤN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN ODA TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG THỪA THIÊN HUẾ- NĂM 2017
  • 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/……… ………/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN VIỆT TUẤN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN ODA TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG MÃ SỐ: 60 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ THỊ KIM TIÊN THỪA THIÊN HUẾ- NĂM 2017
  • 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Học viên NGUYỄN VIỆT TUẤN
  • 4. LỜI CẢM ƠN Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Học viện Hành chính Quốc gia, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo tôi suốt thời gian học tập tại học viện. Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Đỗ Thị Kim Tiên đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Ban lãnh đạo Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung cùng quý thầy cô trong khoa Sau Đại học đã tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học. Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiết sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn. Học viên NGUYỄN VIỆT TUẤN
  • 5. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................1 Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC....................................................................................8 1.1. Tổng quan về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ..........................................................................................................8 1.1.1. Một số khái niệm liên quan dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức .....................................................................................8 1.1.2. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức........... 12 1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.................................................................................................................. 14 1.3.4. Các nguyên tắc quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức......................................................................................... 15 1.2.1. Xây dựng bộ máy quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.............................................................................. 18 1.2.2. Ban hành chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch về các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.............................. 20 1.2.3. Tổ chức thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức..................................................... 22 1.2.4. Kiểm tra, giám sát đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.............................................................................. 25 1.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức........................................ 26 1.3.1. Đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công trình............................................ 27 1.3.2. Kiểm soát nguồn vốn đầu tư ................................................................... 27 1.3.3. Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng.............................. 28 1.3.4. Đảm bảo các yêu cầu phù hợp với cam kết quốc tế................................. 28
  • 6. 1.4. Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tẩng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................. 28 1.4.1. Chất lượng của các quy hoạch, kế hoạch đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................ 28 1.4.2. Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức......... 29 1.4.3. Năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiêp nhận thầu dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức................... 30 1.4.4. Cơ chế, chính sách của Nhà nước........................................................... 30 TÓM TẮT CHƯƠNG 1................................................................................... 35 Chương 2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY.............................. 36 2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình ..........................36 2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 36 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội........................................................................ 38 2.2. Tình hình hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016 .................. 40 2.2.1. Tình hình thu hút, sử dụng và quản lý các dự án hỗ trợ phát triển chính thức tại Quảng Bình giai đoạn 2011- 2016 ...................................................... 40 2.1.2. Hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016....................... 45 2.3. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016 2.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức................................................................................... 48 2.3.2. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................ 52 2.3.3. Lập quy hoạch, kế hoạch về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.............................................................................. 54
  • 7. 2.3.4. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức............................................ 56 2.3.5. Giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ......... 66 2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình..................... 68 2.4.1 Những kết quả đạt được .......................................................................... 68 2.4.2. Những hạn chế ....................................................................................... 70 2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn phát triển chính thức ...................................................... 74 TÓM TẮT CHƯƠNG 2................................................................................... 85 Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH..................................................................................... 86 3.1.Định hướng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 ...... 86 3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình đến năm 2020.. 86 3.1.2. Một số định hướng cơ bản trong quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng về vốn hỗ trợ phát triển chính thức.................................... 90 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ chính thức ................................................... 93 3.2.1. Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức đúng đắn về nguồn vốn ODA và trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức trong đầu tư cơ sở hạ tầng.................................................................................................... 94 3.2.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút, quản lý và và sử dụng nguồn vốn ODA đảm bảo tính khoa học, khả thi................................................................ 94 3.2.3. Bố trí vốn đối ứng cho từng dự án theo kế hoạch.................................... 97 3.2.4. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của Ban Quản lý dự án ....................98
  • 8. 3.2.5. Thực hiện phân công, phối hợp và phân định trách nhiệm quản lý cho các cơ quan quản lý dự án.................................................................................... 100 3.2.6. Đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ xúc tiến đầu tư, quản lý và thực hiện các dự án ODA hợp lý.................................................................................... 103 3.2.7. Xây dựng chính sách hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án ...... 106 3.3. Kiến nghị với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương........................... 107 3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ....................................................................... 107 3.3.2. Kiến nghị với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ địa phương trong việc phát triển quan hệ đối tác cung cấp ODA .............................................................. 109 3.3.3. Kiến nghị với Bộ Tài chính về việc ban hành “Cẩm nang hướng dẫn tài chính đối với từng nhà tài trợ”....................................................................... 110 3.3.4. Kiến nghị với Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây Dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ưu tiên phân bổ nguồn vốn ODA cho lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng tại tỉnh Quảng Bình ........................................................................... 110 TÓM TẮT CHƯƠNG 3................................................................................. 112 KẾT LUẬN......................................................................................................113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  • 9. CÁC TỪ VIẾT TẮT CSHT Cơ sở hạ tầng ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển QLNN Quản lý nhà nước UBND Ủy ban nhân dân WB Ngân hàng thế giới
  • 10. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2016 .............................................................................................................. 38 Bảng 2.2. Tình hình dân số Quảng Bình từ 2011-2015..................................... 39 Bảng 2.3. Tổng hợp vốn ODA ký kết giai đoạn 2011- 2015............................ 41 Bảng 2.4. Danh mục các nhà tài trợ và lĩnh vực tài trợ giai đoạn 2011-2015....46 Bảng 2.5. Cơ cấu nguồn vốn của các nhà tài trợ thực hiện trong.....................43 giai đoạn 2011-2015......................................................................................... 43 Bảng 2.6. Giải ngân của các dự án ODA giai đoạn 2011-2015......................... 45 Bảng 2.7. Danh mục dự án ODA thu hút vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2016 ........................................................... 46 Bảng 2.8. Thống kê một số văn bản pháp quy về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình hiện nay ........................................ 54 Bảng 2.9. Danh mục các dự án trọng điểm về đầu tư cơ sở hạ tầng để xúc tiến nguồn vốn ODA giai đoạn 2011- 2016............................................................. 56 Bảng 2.10: Tổng hợp vốn ODA ký kết và giải ngân từ năm 2011- 2015 .......... 61 Bảng 2.11: Tình hình giải ngân vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2006 2015..................................................................................................................65 Bảng 3.1: Dự kiến tổng nhu cầu đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2020 .......89 Bảng 3.2: Nhu cầu vốn ODA và đối ứng giai đoạn 2016-2020......................... 90
  • 11. DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý đối với các dự án CSHT bằng vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình............................................................................................... 51 Sơ đồ 2.2: Quy trình phê duyệt kế hoạch đấu thầu .............................................. 64
  • 12. 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là quốc gia đang phát triển, vì vậy, việc huy động vốn cho đầu tư phát triển là hết sức cần thiết, trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đóng một vai trò quan trọng. Trong những năm qua, các nhà tài trợ đã cung cấp cho Việt Nam một nguồn tài chính đáng kể, góp phần thực hiện cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp Việt Nam thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là nguồn vốn bổ sung, đảm bảo chi cho đầu tư phát triển, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước. Nhờ nguồn vốn lớn, với điều kiện vay ưu đãi, Việt Nam có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, các công trình thủy lợi và hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua. Cùng với quá trình phát triển của đất nước, Quảng Bình là một tỉnh đang ra sức huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. So với các tỉnh khác, Quảng Bình là một tỉnh nghèo, thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, thu ngân sách trên địa bàn thấp, nguồn vốn tích lũy cho đầu tư phát triển chủ yếu từ ngân sách Trung ương. Vì lẽ đó, nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA hoàn thành đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của địa phương. Mặc dù vậy, về phía chính quyền địa phương, còn thiếu chính sách lựa chọn đầu tư hợp lý cũng như các chính sách thực hiện hỗ trợ giải phóng mặt bằng, kiểm soát các dự án đang triển khai còn kém hiệu quả... Điều đó dẫn đến việc thực hiện các dự án còn nhiều bất cập, chính sách đền bù và thực hiện dự án còn chậm, chưa đảm bảo tiến độ dự án, dẫn đến đầu tư kém hiệu quả và gây lãng phí nguồn
  • 13. 2 lực đất nước. Để khắc phục tình trạng này, tỉnh Quảng Bình cần có sự thay đổi, điều chỉnh quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA theo hướng hiệu quả hơn mới có thể mang lại sự phát triển bền vững. Nguyên nhân của những hạn chế là gì và giải pháp nào để cải thiện tình hình, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, là lý do thúc đẩy tác giả luận văn chọn vấn đề: “Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình" làm đề tài nghiên cứu. 2. Tình hình nghiên cứu Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại một tỉnh, một địa phương cụ thể là đề tài ít được nghiên cứu. Ở khía cạnh liên quan, vấn đề quản lý nhà nước đối với nguồn vốn ODA, hay quản lý nhà nước đối với dự án nói chung cũng có một số công trình đã đề cập. Cụ thể là: - Sách: + Hà Thị Ngọc Oanh (2000), Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA những hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. Trong sách này, tác giả đã đề cập đến những hiểu biết căn bản (khái niệm, đặc điểm...) về nguồn vốn ODA và thực tiễn thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1995-2000. + Lưu Ngọc Trịnh (2002), Vốn vay ưu đãi ở Việt Nam những năm gần đây thực trạng vấn đề và giải pháp - Trường hợp Nhật Bản, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. Trong sách này, tác giả đã đề cập đến thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong những năm 2002 tại Việt Nam và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong giai đoạn này. + PGS.TS Trang Thị Tuyết (2011), Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật. Giáo trình gồm 4 chương. Trong
  • 14. 3 Chương III của giáo trình có đề cập đến khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguồn vốn ODA. - Bài báo và tạp chí: + Ủy ban Kinh tế Trung ương (2015), Báo cáo đánh giá 20 năm huy động và sử dụng ODA của Việt Nam. Trong báo cáo, tác giả đã đề cập đến những thành tựu và hạn chế của Việt Nam về huy động và sử dụng nguồn vốn ODA trong 20 năm qua (giai đoạn 1995-2015). + Hồ Hữu Tiến (2009), Bàn về vấn đề quản lý vốn ODA ở Việt Nam, Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng số 2(31).2009. Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến những thành công và bất cập trong quản lý vốn ODA ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp khắc phục. + Nguyễn Mạnh Tiến (2015), Đánh giá về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong huy động và sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA trong phát triển kinh tế - xã hội, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội, Hà Nội. Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến những đánh giá về hiệu quả của chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong huy động và sử dụng nguồn vốn ODA trong phát triển kinh tế- xã hội thời gian qua. - Luận văn, luận án: + Luận văn Thạc sỹ “Đầu tư bằng nguồn vốn ODA vào tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2000 - 2020” (2013) của Hoàng Thị Kim Thoa phân tích thực trạng đầu tư bằng nguồn vốn ODA vào tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2000 - 2020, đánh giá kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân, đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư bằng nguồn ODA vào tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013 - 2020. + Luận văn Thạc sỹ “Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006 - 2015: Thực trạng và giải pháp” (2011) của Ngô Đại Hoàng hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thu hút và sử dụng ODA; phân tích, đánh giá
  • 15. 4 thực trạng thu hút và sử dụng ODA của tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006 - 2015, đề xuất phương hướng, giải pháp thu hút và sử dụng ODA tại tỉnh Yên Bái. + Luận văn Thạc sỹ “Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA sau khi Việt nam gia nhập WTO” (2008) của Nguyễn Anh Đức nghiên cứu tình hình thu thút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam, đánh giá ảnh hưởng của WTO tới thu hút và sử dụng vốn ODA của Việt Nam và đề xuất định hướng, giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng ODA có hiệu quả trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO. + Luận án Tiến sỹ “Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” (2012) của Vũ Huy Phong; Luận án tiến sỹ “Quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2005 – 2015” (2013) của Hồ Thị Hồng Hạnh cho thấy các tỉnh đã có quy định về phân cấp rõ ràng, có những cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng. Mức độ phân cấp cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chủ tịch UBND các Thành phố, thị xã, huyện tùy theo điều kiện cụ thể của từng tỉnh. Việc phân cấp quản lý đều gắn với trình độ năng lực cán bộ của từng cấp. Các nghiên cứu cũng chỉ ra những ưu điểm của việc áp dụng phân cấp quản lý dự án đầu tư đã tạo điều kiện giành quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm cho các cấp ở cơ sở và các đơn vị chủ đầu tư Qua nghiên cứu cho thấy, các công trình trên đây đã phần nào đề cập đến những khía cạnh nhất định của công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư nói chung. Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở việc đề cập đến công tác QLNN đối với nguồn vốn ODA mà chưa đề cập đến vấn đề QLNN đối với dự án đầu tư CSHT tại một địa phương cụ thể như tỉnh Quảng Bình. Có công trình đề cập đến công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương cụ thể là tỉnh Ninh Bình nhưng lại là sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước chứ không phải đề cập trực tiếp vào vốn ODA. Chính vì vậy, nghiên cứu vấn đề: "Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh
  • 16. 5 Quảng Bình" tác giả luận văn sẽ kế thừa những công trình đi trước ở những khía cạnh nhất định và giải quyết những vấn đề mà các công trình nghiên cứu còn để ngỏ, chưa có điều kiện làm rõ. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý các dự án đầu tư CSHT sử dụng nguồn vốn ODA và thực tiễn của Quảng Bình, Luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cho tỉnh Quảng Bình. Nhiệm vụ: - Nghiên cứu cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. - Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. - Phạm vi nội dung của Luận văn: Quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). - Phạm vi không gian: Tỉnh Quảng Bình. - Phạm vi thời gian: Số liệu phân tích lấy từ năm 2011- 2016. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội,...
  • 17. 6 Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp thống kê: tham khảo các báo cáo đánh giá công tác giám sát đầu tư của Hội động Nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư; các báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước trên địa bàn của tỉnh qua các năm, thu thập tài liệu, thông tin... - Phương pháp phân tích, tổng hợp: Các phương pháp này được dùng trong đánh giá tình hình quản lý đầu tư công và chỉ ra các tồn tại cần hoàn thiện. - Phương pháp so sánh, đối chiếu. - Phương pháp chuyên gia, phỏng vấn sâu: ý kiến của các chuyên gia trong ngành. 6. Những đóng góp của Luận văn - Về lý luận: Nghiên cứu của luận văn đã đưa ra được một số khái niệm và làm rõ sự cần thiết khách quan, bản chất, nội dung của QLNN đối với dự án đầu tư xây dựng CSHT bằng nguồn vốn ODA. - Về thực tiễn: Những nghiên cứu, đánh giá của luận văn góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật của nhà nước, đem đến những kinh nghiệm, giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA cho các tỉnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng. 7. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau: - Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình
  • 18. 7 - Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình
  • 19. 8 Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC 1.1. Tổng quan về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1.1.1. Một số khái niệm liên quan dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1.1.1.1. Đầu tư Đầu tư là sự bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra, khai thác, sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai. Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, của cải, công nghệ, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ…), để tiến hành một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai. Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3, khái niệm đầu tư được hiểu là "việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan". 1.1.1.2. Dự án đầu tư Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì: “Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định”. Ở Việt Nam, khái niệm Dự án đầu tư được trình bày trong Nghị định 52/1999 NĐ-CP ngày 08/07/1999 của Chính phủ Về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Theo đó: “ Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có
  • 20. 9 liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định”. 1.1.1.3. Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng (Infrastructure) còn được gọi là kết cấu hạ tầng, là hệ thống các công trình xây dựng làm nền tảng cho mọi hoạt động của đô thị, nông thôn. Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm có 2 hệ thống, đó là hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hệ thống công trình hạ tầng xã hội. Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật được hiểu là gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác. Hệ thống công trình hạ tầng xã hội được hiểu gồm công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên và công trình khác. 1.1.1.4. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng các công trình xây dựng trong thời gian xác định. 1.1.1.5. Nguồn vốn đầu tư phát triển chính thức Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tên tiếng Anh "Official Development Assistance, viết tắt là ODA. Năm 1972, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) đã đưa ra khái niệm "ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và yếu tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%". a. Đặc điểm của nguồn vốn ODA Về bản chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm phát triển. Trong một
  • 21. 10 phiên họp toàn thể của Đại hội đồng Liên hiệp quốc vào năm 1961, Liên hiệp quốc đã kêu gọi các nước phát triển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững về kinh tế và xã hội các nước đang phát triển. Theo Ngân hàng thế giới (WB), ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cộng với các khoản vay có thời hạn dài và lãi suất thấp so với thị trường. Mức độ ưu đãi của một khoản vay được đo lường bằng yếu tố cho không. Một khoản tài trợ không phải hoàn trả nếu có yếu tố cho không 100%, gọi là viện trợ không hoàn lại. Một khoản vay ưu đãi được coi là ODA phải có yếu tố cho không ít nhất là 25%. Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam thì ODA được định nghĩa như sau: "Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ". Theo nghĩa khái quát, ODA được hiểu là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn, lãi suất thấp) của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ (NGO), các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc (United Nations - UN), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB,…) dành cho Chính phủ một nước (thường là nước đang và chậm phát triển) nhằm giúp nước đó phát triển kinh tế - xã hội. Đặc điểm của nguồn vốn ODA thể hiện trên các mặt sau đây: - Một là, ODA là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, được cung cấp dưới dạng tài chính hoặc hiện vật, có các mức độ ưu đãi từ không hoàn lại đến vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp. - Hai là, ODA là giao dịch chính thức, tính chính thức của nó được thể hiện
  • 22. 11 ở chỗ giá trị của nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì phải được sự chấp thuận và phê chuẩn của chính phủ quốc gia tiếp nhận. Sự đồng ý tiếp nhận đó được thể hiện bằng văn bản, hiệp định, điều ước quốc tế ký kết với nhà tài trợ. - Ba là, ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Hoặc sử dụng để hỗ trợ các nước gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh... - Bốn là, ODA có thể được cung cấp để thực hiện các dự án hoặc hỗ trợ phi dự án. Trong đó, phần lớn nguồn vốn ODA thường nhằm thực hiện hỗ trợ các dự án dưới dạng hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật. - Năm là, ODA cũng có thể có những ràng buộc hoặc không đi kèm những điều kiện ràng buộc cho nước nhận hỗ trợ. b. Những điều kiện ràng buộc cơ bản trong đầu tư bằng nguồn vốn ODA Đối với nguồn vốn ODA, đi kèm với nó là luôn là những ràng buộc nhất định về kinh tế, chính trị hoặc khu vực địa lý. Các nước viện trợ ODA đều có chính sách riêng và những điều kiện ràng buộc đối với nước nhận viện trợ nhằm tạo ảnh hưởng về chính trị hoặc thu lợi nhuận thông qua việc bán hàng hóa và dịch vụ của mình cho nước nhận viện trợ, hoặc cả hai mục đích trên. Nguồn vốn ODA thường gắn với các điều kiện kinh tế như nước nhận viện trợ phải là thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu tư cho các nước viện trợ, phải thực hiện các chính sách kinh tế phù hợp với nước viện trợ. Trên thực tế, hầu hết các nước viện trợ đều ràng buộc các nước tiếp nhận sử dụng khoản viện trợ ODA để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình, Canada yêu cầu cao nhất là 65%, Thụy Sỹ và Hà Lan là hai nước có yêu cầu thấp nhất với lần lượt là 1,7% và 2,2%. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ còn có những ràng buộc khác nhau và rất chặt chẽ đối với nước tiếp nhận viện trợ; ví dụ như Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật Bản (hoàn lại
  • 23. 12 hoặc không hoàn lại) đều phải được thực hiện bằng đồng Yên Nhật, ưu tiên chọn nhà thầu Nhật Bản hay phải sử dụng công nghệ, kỹ thuật Nhật Bản. Các nước phát triển cũng sử dụng nguồn vốn ODA như một công cụ xác định vị trí và ảnh hưởng của nước mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA. Bởi nguồn vốn ODA từ khi ra đời đến nay luôn chứa đựng hai mục tiêu: - Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở những nước đang phát triển để giải quyết một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trường sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc… đòi hỏi sự hợp tác của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt nước giàu, nước nghèo - Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của các nước viện trợ. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia thành công trong việc dùng nguồn vốn ODA làm công cụ để thực hiện chính sách “gây ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn” tại các nước tiếp nhận viện trợ. Chính vì vậy, khi nhận viện trợ ODA, các nước tiếp nhận phải xem xét kỹ lưỡng các điều kiện của nhà cung cấp ODA, tuân thủ nguyên tắc quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công tác nội bộ của nhau, bình đẳng và hai bên cùng có lợi. 1.1.2. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân trong thời gian xác định. Đặc điểm của của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thể hiện trên các phương diện sau đây: - Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đòi hỏi một số lượng nguồn lực như: vốn, lao động, vật tư, máy móc... lớn, các nguồn lực sẽ ứ đọng thời gian dài trong suốt quá trình dự án. Vì vậy trong quá trình thực hiện
  • 24. 13 dự án, chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động , vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chồng lãng phí nguồn lực. - Sản phẩm của dự án đầu tư đầu cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thường là các tài sản cố định như: cầu, đường, trường học, bệnh viện... đó phần lớn là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình, xã hội có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư. - Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng đối với tất cả người dân, bởi lẽ nó mang tính công cộng, tất cả mọi người sẽ sử dụng các công trình công cộng này, vì thế chất lượng của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đều ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, các công trình cơ sở hạ tầng còn là bộ mặt của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA triển khai có hiệu quả và chất lượng sẽ thu hút được đối tác nước ngoài vào đầu tư, hỗ trợ, phát triển không chỉ trong trung tâm đô thị mà còn đầu tư vào vùng sâu vùng xa nhằm đưa đất nước phát triển. - Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thường diễn ra trong thời gian dài, chịu nhiều biến động của thị trường, chính trị, xã hội...; liên quan đến nhiều ngành và lĩnh vực; làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân và có trình độ kỹ thuật cao. - Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA phải chịu những điều kiện ràng buộc của các nhà tài trợ. Nước nhận tài trợ ODA phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc về kinh tế, chính trị... nếu muốn nhận được viện trợ ODA từ nhà tài trợ. Ví dụ về điều kiện kinh tế thì các nước viện trợ đều ràng buộc các nước tiếp nhận sử dụng khoản viện trợ ODA để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ khi thực hiện dự án, vốn ODA phải được thanh toán
  • 25. 14 bằng tiền của nước tài trợ, ưu tiên chọn nhà thầu của nước tài trợ hay bắt buộc phải sử dụng công nghệ của nước tài trợ. - Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA khi hoàn thành sẽ góp phần củng cố an ninh, tăng cường sức mạnh quốc phòng. Đảm bảo cuộc sống cho người dân và sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội cho đất nước. 1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Đối với các quốc gia tiếp nhận vốn nguồn vốn ODA, để đảm bảo quản lý, sử dụng có hiệu quả, cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. - Thứ nhất, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được xác định là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, sử dụng để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế - xã hội. - Thứ hai, Nhà nước phải thống nhất quản lý nguồn vốn ODA trên cơ sở tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đảm bảo sự phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản lý ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện. - Thứ ba, hoạt động thu hút ODA cần phải đi đôi với việc nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảm khả năng trả nợ nước ngoài, phù hợp với năng lực tiếp nhận và sử dụng ODA của các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện. - Thứ tư, phải bảo đảm tính đồng bộ và nhất quán của các quy định về quản lý và sử dụng ODA; bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên quan; hài hòa quy trình thủ tục giữa Chính phủ và nhà tài trợ. - Thứ năm, việc quản lý, sử dụng vốn ODA cần phải dựa vào các quy định của pháp luật nước nhận viện trợ và điều ước quốc tế về ODA mà nước đó là thành viên.
  • 26. 15 1.3.4. Các nguyên tắc quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức - Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và đạt hiệu quả cao vừa là mục tiêu, vừa là phương hướng, tiêu chuẩn để đánh giá công tác quản lý về dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Nội dung của nguyên tắc này là quản lý sao cho với một đồng vốn đầu tư bỏ ra phải thu được lợi ích lớn nhất. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả phải được xem xét trên phạm vi toàn xã hội và trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chính là sử dụng nguồn lực công đầu tư cho hạ tầng kinh tế nhằm mục đích tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA cần tiết kiệm và hiệu quả tránh lãng phí nguồn lực nhà nước. Nhà nước cần giảm thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian triển khai dự án, kiểm soát sử dụng vốn hiệu quả... trong quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. - Nguyên tắc tập trung, dân chủ Trong quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, nguyên tắc này thể hiện toàn bộ vốn đầu tư được tập trung quản lý theo một cơ chế thống nhất của Nhà nước thông qua các tiêu chuẩn, định mức, các quy trình, quy phạm về kỹ thuật nhất quán và rành mạch. Việc phân bổ vốn đầu tư phải theo một chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể. Tính dân chủ là đảm bảo cho mọi người cùng tham gia vào quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Dân chủ đòi hỏi phải công khai cho mọi người biết, thực hiện cơ chế giám sát cộng đồng, minh bạch, công khai các số liệu liên quan đến các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA. Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA là đầu tư công, sử dụng nguồn lực công để xây dựng công trình cho mục đích công (khác với khu vực tư nhân ). Thế nên cần thực hiện nguyên tắc tập trung để các mục tiêu công không dẫm chân lên nhau
  • 27. 16 (thống nhất), nhưng để tránh tập trung dẫn đến quan liêu, lạm quyền, kém hiệu quả thì trước khi quyết định các chính sách của nhà nước, của địa phương cần phải được bàn bạc dân chủ, để đầu tư đúng mục đích, yêu cầu, đáp ứng được lợi ích chung (hiệu quả). - Nguyên tắc kết hợp hài hòa các loại lợi ích Quản lý nhà nước về dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, tập thể và người lao động. Nguyên tắc này được hiểu là lợi ích cần được hài hòa giữa các chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA: Cơ quan chủ quản, chủ đầu tư, nhà thầu, địa phương thụ hưởng... Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA là đầu tư công, sử dụng nguồn lực công để xây dựng công trình cho mục đích công thế nên cần thực hiện nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích giữa các chủ thể để tiến độ thực hiện dự án được đảm bảo theo kế hoạch cũng như tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Ngược lại, nếu nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích không được thực hiện tốt thì dẫn đến chậm trễ trong triển khai dự án, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Cụ thể, trong quá trình đấu thầu dự án cần phải hài hòa lợi ích giữa Nhà nước ( chủ đầu tư) với những nhà thầu ( doanh nghiệp tư nhân tham gia dự án). Cần thẩm định dự án thật chính xác, khách quan để đưa ra giá trúng thầu thật chính xác để vừa đảm bảo lợi ích của các nhà thầu vừa tiết kiệm được nguồn vốn ODA, vừa khả thi. Tránh mức bỏ thầu quá cao khiến Nhà nước bị mua hàng đắt, lợi ích công bị vi phạm cũng tránh bỏ thầu quá thấp khiến lợi ích của các nhà thầu không được đảm bảo, không có nguồn lực triển khai dự án, cần thời gian điều chỉnh lại... gây chậm trể triển khai dự án dẫn đến không hiệu quả trong sử dụng vốn. - Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với theo vùng và lãnh thổ Kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ trong quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tàng bằng nguồn vốn ODA được hiểu là quá trình hoạch định chính sách, đến tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, giám sát phải đảm bảo có
  • 28. 17 sự cân nhắc về chiến lược phát triển ngành hợp lý trên các vùng lãnh thổ, các địa phương. Sự kết hợp này nhằm tạo sự cơ cấu hợp lý, tránh lãng phí trong đầu tư công (tránh tình trạng mỗi tỉnh một sân bay, bến cảng,..trường học, bệnh viện...). Thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với theo vùng và lãnh thổ nhằm phát huy lợi thế chung của các vùng, miền, hình thành cực tăng trưởng, tạo ra những đầu tàu để tạo sự phát triển lan tỏa ra các tỉnh vệ tinh. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA theo ngành trước hết bằng các quy định về tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật do các cơ quan quản lý chuyên ngành ban hành. Quản lý theo địa phương, vùng là xây dựng đơn giá vật liệu, nhân công, ca máy cho từng địa phương, phụ cấp lao động.. theo từng vùng lãnh thổ. Ngoài ra, trong quản lý về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA còn phải tuân thủ các nguyên tắc như phải thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng; phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư xây dựng. 1.2. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tẩng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA là sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước đến các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng vốn ODA, bằng các công cụ quản lý (quy hoạch, kế hoạch, chính sách và pháp luật), nhằm hướng các dự án hoạt động có hiệu quả, đúng mục đích và yêu cầu mà Nhà nước đã hoạch định. Các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, từ trung ương đến địa phương, thực hiện nhiều hoạt động cần thiết như hoạch định, ban hành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
  • 29. 18 Nội dung quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng vốn ODA bao gồm các hoạt đông cơ bản như: xây dựng bộ máy quản lý, công cụ quản lý và tổ chức thực hiện, kiểm trra, giám sát các dự án đầu tư. 1.2.1. Xây dựng bộ máy quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Để quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, trước hết Nhà nước phải xác định được chủ thể quản lý. Chủ thể đại diện cho lợi ích công, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các dối tượng quản lý được xác định trên nguyên tắc đặt công việc cần quản lý vào đúng nơi có khả năng quản lý tốt nhất. Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức và cá nhân đáp ứng được các điều kiện về nguồn lực, phù hợp về chuyên môn, trình độ, nghiệp vụ, năng lực. Về mặt kỹ thuật, cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý phải được thiết kế hợp lý, cơ chế phân công, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, nhằm đạt mục tiêu chung của nhà nước. Do tính chất các dự án đầu tư có sử dụng vốn nước ngoài, theo hình thức ưu đãi có ràng buộc, việc xây dựng bộ máy quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA vì thế đòi hỏi những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA hình thức tổ chức của bộ máy quản lý dự án được áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế về ODA hoặc thỏa thuận với nhà tài trợ. Trường hợp điều ước quốc tế về ODA hoặc thỏa thuận với nhà tài trợ không có quy định cụ thể thì hình thức tổ chức quản lý dự án được thực hiện theo quy định của Luật pháp nước sở tại. Trường hợp của Việt Nam, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực để thực hiện chức năng chủ đầu tư và nhiệm vụ quản lý đồng thời nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài... Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên
  • 30. 19 ngành, Ban quản lý đầu tư xây dựng khu vực là tổ chức sự nghiệp công lập; do người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước thành lập là tổ chức thành viên của doanh nghiệp. Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực có tư cách pháp nhân đầy đủ, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án được giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của mình; quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tư giao. Căn cứ số lượng dự án cần quản lý, yêu cầu nhiệm vụ quản lý và điều kiện thực hiện cụ thể thì cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực có thể được sắp xếp theo trình tự quản lý đầu tư xây dựng của dự án hoặc theo từng dự án. Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực là đơn vị quản lý trực tiếp các dự án từ khi có quyết định đến khi dự án kết thúc đưa vào khai thác vận hành. Trong quá trình từ khi thực hiện dự án, Ban quản lý dự án sẽ thực hiện các nội dung: - Tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện dự án, ký kết các hợp đồng theo quy định của pháp luật. - Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán các hạng mục công trình. - Đàm phán, ký kết, giám sát thực hiện các hợp đồng và xử lý các vi phạm hợp đồng. - Kiến nghị với cơ quan chủ quản về cơ chế, chính sách bảo đảm việc thực hiện dự án phù hợp với cam kết quốc tế. - Thực hiện công tác đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu. - Lập tiến độ và giám sát, kiểm tra đảm bảo cho dự án thực hiện đúng thời hạn đã định.
  • 31. 20 - Quản lý và giải quyết những xung đột trong quá trình quản lý dự án. - Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan cho các bên, quản lý hợp đồng và tư vấn lập và thực hiện dự án, chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và độ tin cậy của các thông tin, tài liệu cung cấp, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về dự án theo quy định của pháp luật. - Thực hiện giám sát, đánh giá dự án, quản lý khái thác dự án. 1.2.2. Ban hành chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch về các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1.2.2.1. Ban hành chính sách, pháp luật về quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Việc thực hiện các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, quản lý dự án đầu tư, quản lý nguồn vốn ODA. Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạch cho hoạt động quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi. Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện các văn bản hướng dẫn công tác quản lý đầu tư từ nguồn vốn ODA, cải thiện chính sách và cơ chế để tư vấn, giám sát và quản lý dự án theo hướng minh bạch hơn, xác định cụ thể trách nhiệm của từng khu vực và từng cấp, đồng thời với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và khắc phục các dự án thiếu hiệu quả, các khoản đầu tư không nằm trong quy hoạch tổng thể, thất thoát và tham nhũng. Tuy nhiên nhìn chung các thủ tục hành chính và các quy định pháp luật trong quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA ở nước ta còn chậm, thiếu và không đồng bộ. Năng lực của các ban quản lý dự án thay mặt cho chủ đầu tư còn những bất cập, điều này thể hiện gần như ở mọi công đoạn từ chuẩn bị dự án đến thực hiện dự án do bị hạn chế rất nhiều bởi các quy
  • 32. 21 định, quy chế vận hành hệ thống. Việc thay đổi cơ chế vận hành cho phù hợp với Luật xây dựng, Luật đầu tư... và những quy định kèm theo còn khá chậm gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý đầu tư. Chính vì thế, năm 2014 Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật Xây dựng mới, Luật Đấu thầu mới, Luật Đầu tư mới để thay thế các Luật cũ có nhiều bất cập trong tình hình mới. 1.2.2.2. Lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA Lập quy hoạch, kế hoạch là một hình thức định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng. Quy hoạch xác định rõ quy mô, giới hạn thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng trong một khoảng thời gian nhất định của quốc gia. Quy hoạch cũng là cơ sở, tiền đề để xây dựng kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng dài hạn là 10 năm, trung hạn là 5 năm, ngắn hạn là kế hoạch từng năm cụ thể trên bình diện cả nước, một vùng, hay một ngành như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông v.v... Cơ sở để xây dựng kế hoạch vốn ODA cho đầu tư cơ sở hạ tầng dựa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng ngành hạ tầng kỹ thuật cụ thể; quy hoạch sử dụng vốn chung cho cả nước trong dài hạn hay trung hạn; khả năng và cơ hội viện trợ của các nhà tài trợ trong khoảng thời gian đó. Hình thức quy hoạch, kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA được thể hiện bằng văn bản như bản quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA, các báo cáo (của các hội nghị giữa nước tiếp nhận với nhà tài trợ), các biên bản thoả thuận, biên bản ghi nhớ, các hiệp định được cam kết chính thức. Dựa trên cơ sở quy hoạch kế hoạch đã lập ra, danh mục các chương trình, dự án vận động ODA được xây dựng cho từng ngành, địa phương và từng nhà tài trợ. Kế hoạch hóa đầu tư đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Thực hiện tốt công tác này sẽ là cơ sở quan trọng để các ngành, địa phương chủ động đẩy mạnh đầu tư có định
  • 33. 22 hướng, cân đối nguồn lực sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả, tránh được hiện tượng đầu tư chồng chéo, thiếu đồng bộ, dàn trải, lãng phí nguồn lực. 1.2.3. Tổ chức thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1.2.3.1. Lập dự án Công tác lập dự án được các cấp có thẩm quyền kiểm soát chặt chẽ về phạm vi, quy mô của từng dự án theo đúng mục tiêu của từng lĩnh vực và phù hợp với quy hoạch được duyệt. Các dự án được lập phải nêu rõ nguồn vốn ODA, vốn đối ứng và khả năng cân đối các nguồn vốn này. Ở cấp trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối tổng hợp danh mục cho phép lập dự án. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp các danh mục dự án theo đề xuất từ các địa phương, các chủ đầu tư sau đó xin ý kiến tham gia của các Bộ chuyên ngành: Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Giao thông Vận tải… về sự cần thiết lập dự án, quy mô, tổng mức, nguồn vốn và sự phù hợp với quy hoạch của dự án. Sau đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trình Thủ tướng Chính Phủ. Sau khi cân đối được tổng nguốn vốn sẽ đầu tư trong năm kế hoạch tiếp theo, Thủ tướng Chính phủ trình Quốc Hội xin ý kiến trong kỳ hợp gần nhất. Sau khi có ý kiến phê chuẩn của Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ sẽ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo về các địa phương thông qua HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh sẽ ra quyết định đầu tư cho phép lập dự án. 1.2.3.2. Chuẩn bị vốn đối ứng Vốn đối ứng là phần vốn trong nước tham gia vào từng chương trình, dự án ODA theo cam kết giữa nước tiếp nhận và nhà tài trợ nước ngoài trên cơ sở hiệp định, văn kiện dự án, quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền. Vốn đối ứng là yêu cầu do nhà tài trợ đưa ra nhằm bảo đảm quyền sở hữu và trách nhiệm của nước tiếp nhận trong dự án ODA. Nhà nước phải cân đối vốn đối ứng trong tổng ngân sách nhà nước; bố trí vốn đối ứng cho từng ngành, địa phương; điều chỉnh, bổ sung vốn đối ứng. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vốn đối ứng
  • 34. 23 thường được sử dụng để thực hiện công tác di dân, giải phóng mặt bằng, tái định cư, xây dựng dự án chuẩn bị đầu tư và chi phí thẩm định thiết kế, duyệt tổng dự toán, hoàn tất các thủ tục đầu tư, chi phí liên quan đến quá trình lựa chọn nhà thầu... 1.2.3.3. Thẩm định, phê duyệt dự án Thẩm định dự án đầu tư là việc kiểm tra lại các điều kiện quy định phải đảm bảo của một dự án đầu tư trước khi quyết định đầu tư. Tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước,vốn ODA hay vốn vay ưu đãi để đầu tư phát triển phải được thẩm định. Nội dung thẩm định dự án đầu tư tùy theo từng loại dự án, đó là các điều kiện nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ; các điều kiện tài chính, giá cả, hiệu quả đầu tư; đảm bảo an toàn về tài nguyên, môi trường; các vấn đề xã hội của dự án… Sau khi thẩm định dự án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về nội dung thẩm định và có tính khả thi cao thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định phê duyệt dự án đầu tư. Đối với các dự án do Hội đồng nhân dân quyết định chủ trương đầu tư thì bước thẩm định, phê duyệt dự án thường qua các bước sau: Trình ủy ban nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân tổ chức thẩm định các nội dung: - Sự cần thiết đầu tư. - Đánh giá thực trạng của ngành, lĩnh vực thuộc mục tiêu và phạm vi của chương trình; những vấn đề cấp bách cần được giải quyết trong chương trình. - Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, kết quả, các chỉ tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn. - Phạm vi và quy mô của chương trình. - Các dự án thành phần thuộc chương trình cần thực hiện để đạt được mục tiêu của chương trình, thứ tự ưu tiên và thời gian thực hiện các dự án thành phần.
  • 35. 24 - Dự kiến tổng mức vốn để thực hiện chương trình, phân bổ vốn theo mục tiêu, dự án thành phần và thời gian thực hiện, nguồn vốn và phương án huy động vốn. - Dự kiến thời gian và tiến độ thực hiện chương trình. - Các giải pháp để thực hiện chương trình; cơ chế, chính sách áp dụng đối với chương trình; khả năng lồng ghép, phối hợp với các chương trình khác. - Yêu cầu hợp tác quốc tế (nếu có). - Tổ chức thực hiện chương trình. - Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội chung của chương trình. Sau khi thẩm định trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân xem xét quyết định đầu tư. 1.2.3.4. Quản lý hoạt động lựa chọn nhà thầu Việc phân cấp về quản lý hoạt động đấu thầu được thực hiện như đối với việc tổ chức thẩm định dự án. Cấp nào phê duyệt dự án thì cấp đó thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án. 1.2.3.5. Thanh toán vốn đầu tư Thanh toán vốn đầu tư là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi có khối lượng công việc hoàn thành được nghiệm thu. Thanh toán vốn đầu tư có thể được thành toán theo tuần kỳ, tức là sau một thời gian thi công chủ đầu tư sẽ thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền; có thể được thanh toán theo giai đoạn quy ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý; có thể được thanh toán theo khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành hay thanh toán theo công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng giai đoạn, khả năng về vốn của chủ đầu tư và nhà thầu. Vấn đề là phải kết hợp được hài hòa lợi ích của chủ đầu tư và nhà thầu. Với nguyên tắc chung là kỳ hạn thanh toán càng ngắn mà đảm bảo có khối lượng hoàn thành nghiệm thu thì càng có lợi cho cả 2 bên, vừa đảm bảo vốn cho nhà thầu thi công vừa đảm bảo thúc đẩy tiến độ thi công công trình.
  • 36. 25 1.2.3.6. Quyết toán vốn đầu tư Quyết toán vốn đầu tư hay quyết toán dự án hoàn thành của một dự án là tổng kết, tổng hợp các khoản thu chi để làm rõ tình hình thực hiện dự án. Thực chất quyết toán vốn đầu tư của một dự án, công trình, hạng mục công trình là xác định giá trị của dự án, công trình, hạng mục công trình đó hay là xác định vốn đầu tư được quyết toán. Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án, công trình, hạng mục công trình vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán đã được phê duyệt, bảo đảm đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính – kế toán và những quy định hiện hành của nhà nước có liên quan. 1.2.4. Kiểm tra, giám sát đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Kiểm tra, giám sát, đánh giá là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý dự án đầu tư. Kiểm tra, giám sát nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, những nhân tố mới, tích cực để phát huy; đồng thời phát hiện những sai lệch của đối tượng quản lý để uốn nắn kịp thời. Mặt khác, qua kiểm tra, giám sát có thể phát hiện những điểm bất cập, bất hợp lý trong cơ chế quản lý, thậm chí ngay cả chủ trương, quyết định đầu tư để kịp thời sửa đổi cho phù hợp. Kiểm tra, giám sát bao gồm các hoạt động theo dõi thường xuyên, kiểm tra định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất trong quá trình thực hiện dự án; trên các lĩnh vực: tài chính, xây dựng, thuế... Hoạt động giám sát, đánh giá đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bao gồm các chủ thể sau: + Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước các cấp thực hiện nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định của các Luật liên quan đến đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA và pháp luật liên quan.
  • 37. 26 + Người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư phải tổ chức việc giám sát, đánh giá đầu tư thuộc phạm vi quản lý của mình. + Người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định việc tổ chức giám sát, đánh giá đầu tư dự án đầu tư do mình quyết định đầu tư. + Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp, các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan giám sát, đánh giá đầu tư. + Tổ chức, cá nhân thực hiện giám sát đầu tư theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về các nội dung báo cáo giám sát. + Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chịu sự giám sát của cộng đồng. Việc giám sát, đánh giá đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA của cộng đồng được thực hiện theo quy định của Chính phủ. 1.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là nhằm đảm bảo các nguồn lực đầu tư phù hợp với việc tạo ra những cơ sở hạ tầng đảm bảo sử dụng an toàn hiệu quả cho người dân thụ hưởng. Trên cơ sở các chương trình đầu tư công, các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu sẽ được xác định. Quá trình đầu tư và triển khai dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chỉ có thể đảm bảo cho ra đời những sản phẩm đầu tư tốt, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng khi nguồn vốn đầu đầu tư được tính toán đủ để thực hiện dự án và không bị thất thoát trong quá trình triển khai dự án. Để xác định mức độ phù hợp của nguồn vốn đầu tư công và xác định chất lượng sản phẩm của dự án đầu tư, Nhà nước phải thực hiện các hoạt động quản lý thông qua việc hoạch định chính sách, pháp luật, tổ chức thẩm định dự án, theo dõi, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư. Hoạt động QLNN đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA không chỉ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế mà còn là đòi hỏi tất yếu
  • 38. 27 trong mọi nhà nước khi tiến hành đầu tư dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA (đầu tư công) mà không có một chủ thể nào khác có thể làm thay. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng công trình dự án, kiểm soát nguồn vốn đầu tư, đảm bảo nhứng định hướng và cam kết quốc tế. 1.3.1. Đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công trình Sản phẩm của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA thường là: cầu đường, bệnh viện, trường học... thường có các tiêu chuẩn kỹ thuật cao và sẽ được người dân sử dụng sau khi hoàn thành, thế nên đảm bảo chất lượng công trình là một trong những nhiệm vụ quan trọng của dự án. Với tư cách của tổ chức quyền lực đặc biệt, đại diện cho lợi ích công, Nhà nước có đủ điều kiện về nguồn lực để kiểm tra, đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công trình thông qua các hoạt động: thẩm định kỹ thuật trước khi phê duyệt dự án, kiểm tra giám sát chất lượng công trình trong quá trình thực hiện dự án, nghiệm thu công trình sau khi sự án hoàn thành...Nhà nước thực hiện phân công, phân cấp cho các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chuyên môn thực hiện nhiệm vụ thẩm định dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của các ngành và đảm bảo sự sự phối hợp liên ngành, lĩnh vực để có kết luận chính xác đối với các dự án, trước khi đưa vào sử dụng. Trên cơ sở đó sẽ đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng công trình như ban đầu đề ra. 1.3.2. Kiểm soát nguồn vốn đầu tư Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là hoạt động sử dụng nguồn vốn đầu tư công để xây dựng, tạo ra hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hết sức quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Khác với vốn, tài sản của khu vực tư, tính trách nhiệm đối với tài sản công luôn gặp phải những hạn chế. Quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư công thường thông qua nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều quy trình. Trong mỗi quy trình đều có thể tạo ra những kẽ hở, gây ra thất thoát, lãng phí vốn đầu tư. Đối với các
  • 39. 28 dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạn tầng sử dụng vốn ODA nhằm tạo ra các tài sản cố định của nhà nước để phục vụ lợi ích của nhà nước nên có thể bị tư lợi ở bất cứ khâu nào của quá trình sử dụng vốn. Vì vậy, hoạt động đầu tư này không thể tách khỏi sự quản lý của nhà nước. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng là cần thiết và tất yếu nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn đầu tư của nhà nước có hiệu quả, khắc phục những hạn chế vốn có của kinh tế thị trường đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra. 1.3.3. Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ODA có thể thuộc nhóm dự án đầu tư quan trọng, thuộc các công trình quốc gia hoặc các công trình địa phương. Để tránh lãng phí trong đầu tư công, Nhà nước cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch định hướng. Đối với hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, Nhà nước quản lý nhằm định hướng hoạt động này đi đúng theo chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch, quy hoạch mà Đảng và Nhà nước vạch ra trong từng thời ký, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội đúng hướng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đáp ứng đời sống của nhân dân và yêu cầu phát triển của quốc gia 1.3.4. Đảm bảo các yêu cầu phù hợp với cam kết quốc tế Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thường phải chịu những điều kiện ràng buộc của các nhà tài trợ hoặc điều ước quốc tê về ODA mà nước nhận tài trợ tham gia. Nước nhận tài trợ ODA phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc về kinh tế, chính trị... nếu muốn nhận được viện trợ ODA từ nhà tài trợ. Thế nên cần có sự quản lý nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ cam kết quốc tê với nhà tài trợ khi thực hiện dự án đầu tư. 1.4. Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tẩng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1.4.1. Chất lượng của các quy hoạch, kế hoạch đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
  • 40. 29 Công tác quy hoạch có ảnh hưởng lớn và lâu dài đến hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng thì công tác quy hoạch phải đi trước một bước và phải xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế- xã hội một cách bền vững. Quy hoạch phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành. Nếu làm tốt công tác quy hoạch thì sẽ định hướng cho đầu tư có hiệu quả cao, bền vững; ngược lại, nếu quy hoạch không có tính khoa học, không dự báo tốt sự phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai và không phù hợp với quy hoạch ngành và quy hoạch vùng... sẽ dẫn tới đầu tư kém hiệu quả, dễ gây nên thất thoát, lãng phí nguồn lực đất nước. Cùng với quy hoạch thì công tác kế hoạch đầu tư cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong đầu tư dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong điều kiện nguồn lực hạn chế thì chất lượng công tác kế hoạch hoá càng có ý nghĩa quan trọng. Xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn và dài hạn khoa học để từ đó chủ động xây dựng kế hoạch huy động và phân bổ nguồn vốn ODA hợp lý trong trung hạn và ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, hạn chế lãng phí trong các dự án đầu tư. Ngược lại, nếu công tác kế hoạch hoá không tốt sẽ dẫn tới tình trạng nhiều công trình có khối lượng hoàn thành không được bố trí vốn trong khi đó có những công trình lại trong tình trạng vốn đợi công trình hoặc có những khu vực dự án đầu tư dàn trải khong trọng điểm gây lãng phí lớn trong việc sử dụng nguồn vốn ODA. 1.4.2. Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức quản lý là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng quản lý dự án đầu tư. Quản lý dự án đầu tư là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của các dự án đầu tư. Đặc điểm của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là qua rất nhiều giai đoạn khác nhau, do đó công tác quản lý dự án đầu tư cũng bao gồm nhiều giai
  • 41. 30 đoạn xuyên suốt quá trình đầu tư: Từ giai đoạn xem xét chủ trương đầu tư, công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc dự án bàn giao đưa vào khai thác sử dụng. Ngoài ra, hoạt động đầu tư và triển khai dự án đầu tư liên quan đến rất nhiều chủ thể quản lý khác nhau. Do đó quản lý dự án đầu tư là một hoạt động phức tạp và chất lượng công tác quản lý ở mỗi giai đoạn đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn ODA đầu tư cho mỗi công trình, dự án cơ sở hạ tầng. Nói cách khác trình độ, năng lực của cán bộ công chức quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. 1.4.3. Năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiêp nhận thầu dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA một phần nào được thể hiện rõ qua năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiệp nhận thầu. Với doanh nghiệp nhận thầu có năng lực, ý tức tôn trọng pháp luật tốt thì tốc độ thực hiện dự án và tiêu chuẩn, kỹ thuật công trình sẽ được đảm bảo. Ngược lại nếu năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiệp nhận thầu kém thì sẽ dẫn đến tình trạng dự án sẽ bị đình trệ, thời gian thực hiện dự án kéo dài, chất lượng công trình không được đảm bảo, gây thất thoát nguồn vốn từ đó dẫn đến hiệu quả nguồn vốn trong đầu tư không cao, lãng phí nguồn lực xã hôi. 1.4.4. Cơ chế, chính sách của Nhà nước - Cơ chế, chính sách về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng và quản lý nguồn vốn ODA Cơ chế, chính sách quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng và quản lý nguồn vốn ODA thể hiện qua các quy định của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền về các nội dung quản lý và các hình thức chế tài góp phần đảm bảo hiệu qủa quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Nếu cơ chế quản lý thống nhất, đồng bộ sẽ là nhân tố tạo ra sự phân công, phối hợp nhịp nhàng,
  • 42. 31 không mâu thuẫn hay giảm thiểu kẽ hở trong hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA trong đầu tư. Nếu cơ chế thường xuyên thay đổi hoặc chồng chéo, không phù hợp với thực tế sẽ dẫn tới không có sự phối hợp tốt hoặc tạo ra nhiều kẽ hở trong quản lý, giảm hiệu quả sử dụng vốn ODA trong các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng. Tại các quốc gia, xu hướng tăng cường rà soát, loại bỏ các chính sách không phù hợp, sửa đổi, bổ sung chính sách quản lý kinh tế nói chung, quản lý nhà nước về dự án đầu tư nói riêng là việc làm luôn được các chính phủ quan tâm. - Các chính sách kinh tế vĩ mô Các chính sách kinh tế vĩ mô như: Chính sách tài khoá (chủ yếu là chính sách thuế và chính sách chi tiêu của Chính phủ), Chính sách tiền tệ (công cụ là chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ; chính sách đầu thu hút đầu tư, chính sách thu hút nguồn vốn ODA ... có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả quản lý đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA thường có thời gian thực hiện dài, sử dụng nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực, vốn( thường là ngoại tệ)... thế nên các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ không ổn định sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực hiện dự án ( tỷ giá, giá cả vật tư biến động...) Các chính sách này cùng với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn của trung ương có vai trò định hướng mục tiêu, quy mô, nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Nếu các chính sách đưa ra là hợp lý, ổn định sẽ giúp hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA được nâng cao với một cơ cấu đầu tư hợp lý, hài hoà; đảm bảo đủ nguồn lực về tài chính, cũng như nhân lực, vật lực. Ngoài ra, trong quá trình khai thác sử dụng các công trình khi hoàn thành, các chính sách kinh tế cũng có tác động làm cho các công trình này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực, nghĩa là hiệu quả sự dụng vốn ODA cao hay thấp.
  • 43. 32 1.5 Kinh nghiểm quản lý nhà nước về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại một số quốc gia. Trên thế giới đã có nhiều nước thành công trong việc sử dụng vốn ODA để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Trước đây Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây là Thái Lan, Trung Quốc, In-đô-nê-xia, Philipin,…Đây là những nước mà kinh nghiệm về quản lý nguồn vốn ODA của họ sẽ giúp tình hình của Việt Nam cải thiện tốt hơn trong tương lai. Một trong những nguyên nhân sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả là các nước này xây dựng được một hệ thống quản lý ODA phù hợp theo mô hình quản lý tập trung đi đôi với phân cấp trách nhiệm trên cơ sở khung thể chế pháp lý về ODA không ngừng hoàn thiện. Cụ thể, trong việc phân cấp quản lý ODA, Malaysia có sự phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý. Giữa các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ và có chung một quan điểm là tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các ban quản lý dự án để thực hiện các dự án đúng tiến độ, áp dụng các thủ tục trình duyệt nhanh gọn nhằm giảm bớt phí cam kết. Những hợp phần nào trong dự án khó thực hiện, Chính phủ Malaysia chủ động đề nghị với nhà tài trợ hủy bỏ hợp phần đó. Hiện nay, Malaysia áp dụng khá thành công công nghệ thông tin trong công tác theo dõi, giám sát các cơ quan liên quan đến quản lý vốn ODA bằng cách đưa toàn bộ các đề nghị thanh toán lên mạng. Nhờ cách quản lý minh bạch như vậy, nên Malaysia trở thành một trong những “điểm sáng” về chống tham nhũng. Bên cạnh đó, việc phân cấp tốt trong quản lý tài chính cũng là một lý do tạo nên sự thành công của Malaysia trong việc thu hút, quản lý và sử dụng ODA. Những vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án tại Malaysia cũng
  • 44. 33 được giải quyết ngay tại các bang, do ban công tác phát triển bang và hội đồng phát triển quận, huyện xử lý, chứ không phải trình lên tận Chính phủ, hay các bộ chủ quản. Sự phân cấp này trong quá trình thực hiện dự án sẽ giúp cho tiến độ dự án không bị ngưng trệ vì chờ phê duyệt. Các đơn vị này sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp với chủ dự án khi có bất cứ sai sót nào xảy ra trong quá trình thanh tra. Phân chia quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng như vậy không những nâng cao hiệu quả của đồng vốn ODA, mà còn giúp nâng cao trình độ quản lý của các cán bộ ở cấp địa phương. Ngoài ra, còn những nguyên nhân khác dẫn tới thành công trong quản lý và sử dụng ODA ở Malaysia. Đó là: - Sự phối hợp giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ trong trong hoạt động kiểm tra, giám sát các dự án ODA, mà nội dung đánh giá tập trung chủ yếu vào việc so sánh hiệu quả của dự án với kế hoạch, chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện và chú trọng vào kết quả. - Có sự tham gia của khu vực tư nhân vào thực thi dự án đặc biệt trong các dự án kết cấu hạ tầng, năng lượng và công nghiệp. - Đặc biệt là văn hóa chịu trách nhiệm của các cán bộ quản lý ở Malaysia. Tiếp theo có thể kể đến là Indonesia, Indonesia đã điều chỉnh về quy trình thu hút, sử dụng và quản lý ODA như sau: - Hàng năm các bộ, ngành chủ quản phải lập danh mục các dự án cần hỗ trợ ODA, gửi đến Bộ Kế hoạch quốc gia (BAPPENAS) để tổng hợp. Bộ Kế hoạch quốc gia thường có quan điểm độc lập với bộ chủ quản, dựa trên lợi ích tổng thể của quốc gia để xem xét, thẩm định các dự án ODA. Đến nay, rất nhiều dự án bị Bộ Kế hoạch quốc gia từ chối, đã thể hiện rõ tính độc lập, chủ quyền của Indonesia trong quan hệ quốc tế. Ngay cả địa điểm ký các dự án ODA cũng thay đổi. Nếu trước đây thường ký tại Hoa Kỳ (trụ sở của WB) hoặc Philippines (trụ
  • 45. 34 sở của ADB), thì đến nay hầu hết các dự án đều được ký tại Jakarta để tránh việc đoàn đàm phán của Indonesia bị đối tác nước ngoài gây ảnh hưởng.( Đây phải chăng là một bước tiến tao bạo bằng sự mạnh mẽ và quyết liệt trong suy nghĩ và cách hành động của họ). - Việc thuê các luật sư giỏi để tư vấn cho Chính phủ trong quá trình đàm phán, thu hút và sử dụng ODA đang ngày càng trở thành xu hướng phổ biến ở Indonesia, nhất là đối với các dự án ODA có sử dụng vốn vay lớn - Chính phủ Indonesia tuyên bố nguyên tắc chỉ vay tiếp dự án mới khi đã thực hiện xong dự án cũ, thể hiện rõ quyết tâm sử dụng thật sự hiệu quả và giải ngân đúng tiến độ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng nhấn mạnh nguyên tắc, vay ODA phải đảm bảo độ an toàn cao. Đối với các dự án ODA có sử dụng vốn lớn, yêu cầu phải có chuyên gia tư vấn là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo tính hiệu quả của dự án. - Bộ Tư pháp Indonesia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút, quản lý và sử dụng các dự án ODA, vì Bộ Tư pháp là cơ quan đưa ra ý kiến về pháp lý đối với các dự thảo Hiệp định vay vốn nước ngoài. Mục đích của cơ chế điều phối này là tránh sự trùng lặp trong hoạt động hợp tác.
  • 46. 35 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Trong nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại Chương 1, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài. Chương 1 đề cập đén những vấn đề tổng quan về dựa án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; Nội dung QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA; Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA và những nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Trong đó, các khái niệm cơ bản về đầu tư, đầu tư xây dựng CSHT, ngồn vốn ODA, bản chất, nội dung quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đã được làm rõ. Ngoài việc nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước, luận văn còn và chỉ rõ sự cần thiết phải thực hiện hoạt động QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là nhằm: Đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng công trình; Kiểm soát nguồn vốn đầu tư; Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng; Đảm bảo các yêu cầu phù hợp với cam kết quốc tế. Cũng trong nghiên cứu lý luận QLNN đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA, luận văn đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN đối với các dự án này, như: Chất lượng của quy hoạch, kế hoạch về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; Năng lực và ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiêp nhận thầu dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và các cơ chế, chính sách của nhà nước. Đây là những kiến thức cơ sở, nền tảng quan trọng định hướng cho tác giả nghiên cứu thực trạng chương 2 và đề xuất phương hướng, giải pháp trong chương 3.
  • 47. 36 Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY 2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Ảnh 2.1 : Bản đồ Vị trí địa lý tỉnh Quảng Bình
  • 48. 37 Quảng Bình là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, giới hạn trong toạ độ địa lý 18 051855 0'0  vĩ độ bắc và 103 0010737 0'0  kinh độ đông, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị; phía Đông giáp biển với bờ biển dài 116,04 km và có diện tích 20.000 km2 thềm lục địa; phía Tây giáp nước CHDCND Lào với 201 km đường biên giới. 2.1.1.2. Địa hình, khí hậu Quảng Bình có diện tích tự nhiên là 8.065 km2. Địa hình cấu tạo phức tạp, bị chia cắt mạnh, hẹp về bề ngang, núi rừng sát biển, tạo thành độ dốc cao dần từ Đông sang Tây. Đồng bằng nhỏ hẹp, chủ yếu tập trung theo hai bờ sông chính; diện tích chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên. Khoảng 85% diện tích là đồi núi, đá vôi. Dọc lãnh thổ đều có núi, trung du, đồng bằng và cuối cùng là bãi cát ven biển. Mật độ sông ngòi dày, toàn tỉnh có 5 con sông chính: sông Gianh, sông Roòn, sông Nhật Lệ, sông Lý Hoà, sông Dinh. Hầu hết các con sông bắt nguồn từ đỉnh núi Trường Sơn đổ ra biển Đông, sông ngắn và do nhiều phụ lưu hợp thành. Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa Đông tương đối lạnh ở miền Bắc. Có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm 80% tổng lượng mưa của cả năm nên thường gây lũ lụt trên diện rộng. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau với mùa khô hanh nắng gắt gắn với gió Tây Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn nên thường xuyên gây hạn hán, cát bay, cát chảy lấp đồng ruộng và dân cư. Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 24 - 250 C tăng dần từ Bắc vào Nam, giảm dần từ Đông sang Tây. 2.1.1.3. Tài nguyên thiên nhiên Quảng Bình có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú và đa dạng, phục vụ tốt cho phát triển công nghiệp. Ngoài tài nguyên khoáng sản, tài nguyên
  • 49. 38 biển, rừng cũng là thế mạnh của tỉnh. Với bờ biển dài 116,04 km có vùng đặc quyền lãnh hải khoảng 20.000km2và 631.649 ha đất rừng, chiếm 78,32% diện tích tự nhiên, trong đó rừng sản xuất có 310.000 ha chiếm 38,44 diện tích tự nhiên. Trữ lượng gỗ toàn tỉnh khoảng 32,3 triệu m3 . Tỷ lệ rừng che phủ năm 2012 đạt 70%, hàng năm có thể khai thác trên 30 ngàn m3 gỗ. Rừng có nhiều loại gỗ quý, hiếm và nhiều loại song, mây, tre, lồ ô, nứa, lá nón... Đặc biệt, tỉnh Quảng Bình sở hữu tài nguyên thiên nhiên Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, di sản thiên nhiên thế giới với quần thể các hang động, núi đá vôi và rừng đa dạng sinh học. Quảng Bình được chia thành 7 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 01 thành phố, 01 thị xã và 06 huyện. Cụ thể: thành phố Đồng Hới, Thị xã Ba Đồn, 06 huyện là: Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy ( 04 huyện giáp biển); Tuyên Hóa và Minh Hóa ( 02 huyện miền núi). Tỉnh Quảng Bình có tổng cộng 159 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó: 16 phường, 7 thị trấn và 136 xã. 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 2.1.2.1. Đặc điểm kinh tế Quảng Bình là tỉnh có tốc độ tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu người tăng đều qua các năm. Trong những năm gần đây (2011-2016), tốc độ tăng GDP trung bình là trên 6,5% (riêng năm 2011 đạt 8,6%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 18 triệu đồng/người/năm, đến năm 2016 đã đạt 28,7 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước chuyển dịch hợp lý, giảm tỷ trọng các ngành nông lâm ngư nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ. Năm 2010 ngành dịch vụ chỉ chiếm 40,76% cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh, đến năm 2014 ngành dịch vụ đã tăng lên 53,8%. Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2016
  • 50. 39 TT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2011 2012 2013 2014 2015 2016 1 Tốc độ tăng GDP % 8,6 7,1 6,8 6,8 6,7 4,5 2 Thu nhập bình quân đầu người Trđ 18 20,6 22,5 24,8 27,3 28,7 3 Cơ cấu kinh tế theo ngành % 100 100 100 100 100 100 4 Nông, lâm, ngư nghiệp % 21,1 21,6 20,5 23,6 24,6 22,9 5 Công nghiệp, xây dựng % 37,7 36,4 36,4 22,6 24,8 21,8 6 Dịch vụ % 41,2 42 43,1 53,8 50,6 51,4 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình 2.1.2.2. Đặc điểm xã hội - Vấn đề dân số và lao động Dân số Quảng Bình đến năm 2015 là 872.925 người trên diện tích 8.065 km2 . Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem... sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ. Dân cư phân bố không đều, 84,82% sống ở vùng nông thôn và 15,18% sống ở thành thị. Bảng 2.2. Tình hình dân số Quảng Bình từ 2011-2015 Đơn vị tính: Người Chỉ Tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 Tổng dân số 845.025 848.616 853.401 857.924 872.925 Phân theo giới tính - Nam 423.340 424.533 426.868 429.079 436.907
  • 51. 40 - Nữ 421.685 424.083 426.533 428.845 436.018 Phân theo khu vực - Thành thị 127.625 128.444 129.369 130.255 170.943 - Nông thôn 717.400 720.172 724.032 727.669 701.982 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình - Văn hóa Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hóa Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn và Sa Huỳnh, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, Thành Khu Túc- Chămpa, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh, Hang Tám Cô... Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hóa - xã hội như Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Tuy Lộc hầu Đặng Đại Lược, lãnh Đức hầu Đặng Đại Độ, Sư bảo Nguyễn Đăng Tuân, , đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng Thanh Đạt... Ngoài ra, Quảng Bình là vùng giao thoa của hai nền văn hóa cổ Việt - Chămpa, thể hiện ở những di chỉ có niên đại 5 nghìn năm đã khai quật được ở Bàu Tró, phía bắc Đồng Hới. 2.2. Tình hình hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016 2.2.1. Tình hình thu hút, sử dụng và quản lý các dự án hỗ trợ phát triển chính thức tại Quảng Bình giai đoạn 2011- 2016 Từ năm 2011- 2015 toàn tỉnh Quảng Bình có 28 dự án ODA đang hoạt động với tổng vốn: 346,94 triệu USD trong đó (vốn ODA: 276,53 triệu USD; vốn đối ứng: 70,41 triệu USD) trong đó có 14 dự án kết thúc giai đoạn 2011- 2015; 14 dự án chuyển tiếp giai đoạn 2016-2020 (06 dự án khởi công mới năm 2015 chuyển tiếp sang 2016-2020) cụ thể được phân khai như sau:
  • 52. 41 - Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 13 dự án có tổng vốn ký kết 169,6 triệu USD (ODA: 135,46 triệu USD; đối ứng: 34,14 triệu USD) chiếm 48,88% tổng vốn ODA trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 - Giáo dục - Y tế: 13,04 triệu USD (ODA: 11,28 triệu USD; đối ứng: 1,76 triệu USD) chiếm 10,3% tổng vốn ODA trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011- 2015 - Du lịch- Dịch vụ công cộng: 133,703 triệu USD (vốn ODA: 104,89 triệu USD; vốn đối ứng: 28,81 triệu USD) chiếm 38,53% tổng vốn ODA giai đoạn 2011-2015. - Điện: 24,3 triệu USD (ODA: 20,9 triệu USD; đối ứng: 3,4 triệu USD) chiếm 7% tổng vốn ODA giai đoạn 2011-2015 - Giao thông: 6,3 triệu USD (ODA: 4,0 triệu USD; đối ứng: 2,3 triệu USD) chiếm 1,8% tổng vốn ODA giai đoạn 2011-2015 Bảng 2.3. Tổng hợp vốn ODA ký kết giai đoạn 2011- 2015 Đơn vị tính: Triệu USD Năm Tổng vốn ký kết theo hiệp định (Triệu USD) Tổng số Trong đó ODA Đối ứng 2011 9,1 7,8 1,3 2012 34.2 26,4 7,8 2013 27,25 18,85 8,4 2014 2015 64,9 53,8 11,1 Tổng cộng 135.45 106.85 28,6 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình
  • 53. 42 Giai đoạn 2011-2015, trên địa bàn tỉnh có 11 nhà tài trợ có dự án thực hiện tại tỉnh trong đó có 4 nhà tài trợ đa phương (ADB, WB, IFAD và UNFPA) và 7 nhà tài trợ song phương (Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nhật, Đan Mạch, Hungary, Italia). Tỉ lệ nguồn vốn tài trợ từ WB và ADB chiếm chủ yếu trong tổng nguồn vốn tài trợ cho khu vực này. Bảng 2.4. Danh mục các nhà tài trợ và lĩnh vực tài trợ giai đoạn 2011-2015 Tên nhà tài trợ Lĩnh vực được hỗ trợ vốn ODA Số lượng dự án Thời gian Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Giáo dục 02 2007-2012 Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công cộng 01 2007-2012 Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo 03 2007-2013 Ngân hàng Thế giới (WB) Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công cộng 01 2007-2014 Công nghiệp- điện 01 2007-2013 Giáo dục- Y tế 02 2010-2016 Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIMBANK) Giáo dục 01 2010-2012 Pin mặt trời 01 2012-2015 Đan Mạch Du lịch- hạ tầng công cộng 01 2010-2015 Hunggary Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 01 2010-2015 Quỹ Dân số Liên hợp Y tế 01 2012-2016
  • 54. 43 Quốc (UNFPA) Quỹ Phát triển nông nghiệp liên hợp Quốc (IFAD) Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo 02 2013-2018 Cơ quan phát triển quốc tế Nhật Bản (JICA) Nông nghiệp và PTNT; Giao thông; Công nghiệp- điện 5 2010-2015 2012-2021 Ngân hàng tái thiết Đức (KFW) Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên 01 2008-2016 Cơ quan phát triển Pháp (AFD) Nông nghiệp 01 2008-2013 Italia Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 01 2014-2016 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình Các dự án đang thực hiện giai đoạn 2011-2015, chủ yếu do WB tài trợ (39,17%), tiếp theo ADB (14,7%), IFAD (11,07%), Hàn Quốc (7,37) còn lại là các nhà tài trợ khác (Hungary, Đan Mạch, Pháp, Nhật Bản…) Bảng 2.5. Cơ cấu nguồn vốn của các nhà tài trợ thực hiện trong giai đoạn 2011-2015 TT Nhà tài trợ Lĩnh vực tài trợ Tổng vốn ký kết (Triệu USD) Tỉ lệ (%) 1 ADB 29,86 14,70 Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 26,66 Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công 2,28
  • 55. 44 cộng Giáo dục 0,92 2 WB 79,564 39,17 Nông nghiệp và phát triển nông thôn; xóa đói giảm nghèo 12,247 Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công cộng 60,247 Công nghiệp- điện 7,07 Giáo dục- Y tê 7,02 3 UNFPA Giáo dục- Y tế 1,6 0,79 4 IFAD Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 22,491 11,07 5 JICA (Nhật) 10,74 5,29 Giao thông 3,85 Công nghiệp điện 1,07 Nông nghiệp- Phát triển nông thôn 5,82 6 AFD (Pháp) Nông nghiệp và phát triển nông thôn 4,42 2,18 7 Hàn Quốc 14,962 7,37 Giáo dục đào tạo 2,962 Công nghiệp- điện 12,0 8 Hungary Nông nghiệp và PTNT 13,67 6,72 9 Đan Mạch Du lịch- Dịch vụ hạ tầng công cộng 10,67 5,25 10 Đức Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 14,65 7,21
  • 56. 45 11 Italia Nông nghiệp và phát triển nông thôn 0,52 0,26 Tổng cộng 203,147 100 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình Trong giai đoạn 2011-2015, các dự án ODA đã giải ngân được 131,73 triệu USD trong đó đó ODA: 111,45 triệu USD, đối ứng: 20,28 triệu USD Bảng 2.6. Giải ngân của các dự án ODA giai đoạn 2011-2015 Đơn vị tính: Triệu USD Năm ODA giải ngân Tổng số Trong đó ODA Đối ứng 2011 29,34 25,0 4,34 2012 35,57 30,6 4,97 2013 31,69 27,59 4,10 2014 27,56 23,07 4,49 2015 7,57 5,19 2,38 Tổng cộng 131,73 111,45 20,28 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình Tóm lại, trong giai đoạn 2011-2015 các các dự án ODA trên địa bàn tỉnh có quy mô trung bình khoảng 8 triệu USD trong đó dự án cao nhất 60,247 triệu USD, dự án thấp nhất dưới 1 triệu USD được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên đầu tư của tỉnh: Nông nghiệp- Nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, giáo dục- y tế, cơ sở hạ tầng, công nghiệp- điện và giao thông. Các dự án ODA sau khi đầu tư hoàn thành đã góp phần quan trọng trong việc làm thay đổi bộ mặt hạ tầng kinh tế xã hội của tỉnh. 2.1.2. Hoạt động của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016
  • 57. 46 Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhưng cơ sở hạ tầng của tỉnh Quảng Bình còn nhiều yếu kém, đặc biệt là CSHT giao thông nông thôn. Quảng Bình là một tỉnh có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, hẹp bề ngang và dốc, nghiêng từ Tây sang Đông nên việc phát triển giao thông của tỉnh gặp nhiều khó khăn. Nhận thức được tầm quan trọng của CSHT với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội toàn tỉnh, trong những năm qua tỉnh Quảng Bình đã huy động mọi nguồn lực cho phát triển CSHT, trong đó nguồn vốn ODA có một vai trò quan trọng. Chính vì vậy, lĩnh vực xây dựng CSHT là lĩnh vực có tỷ trọng vốn ODA cam kết lớn nhất, chiếm 50,32% với 202,297 triệu USD ( giai đoạn 2006-2015). Bảng 2.7. Danh mục dự án ODA thu hút vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011 – 2016 Đơn vị tính: Triệu USD STT Tên dự án Vốn phê duyệt Thời gian thực hiện 1 Dự án cấp thoát nước thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch 0,784 2008 – 2012 2 Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh 0,975 2009 – 2013 3 Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy 0.931 2011 – 2013 4 Dự án Vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới 78,5 2007 – 2014 5 Dự án Thủy Lợi Thượng Mỹ Trung 23,25 2008 – 2012 6 Dự án khắc phục hậu quả thiên tai năm 2005 6,478 2007 – 2012 7 Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh 3,073 2008 – 2012 8 Dự án phát triển bền vững du lịch tiểu vùng sông Mê Kong 5,85 2010 – 2013
  • 58. 47 STT Tên dự án Vốn phê duyệt Thời gian thực hiện 9 Dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch 12,5 2011- 2017 10 Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba Đồn 17,5 2011 – 2017 11 Dự án quản lý rủi ro thiên tai 5,667 2012 – 2014 12 Dự án Giao thông nông thôn III 5,27 2008 – 2013 13 Dự án đường ven biển Hải Ninh – Ngư Thủy Lệ Thuỷ 4,5 2011 – 2013 14 Dự án cấp nước dân cư khu kinh tế Hòn La 19,5 2011 – 2016 15 Dự án xây dựng đường tỉnh lộ 22 Quảng Trạch 9,5 2012 – 2017 16 Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới 36,5 2013 – 2017 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình. Dựa vào bảng trên, các chương trình, dự án ODA ở lĩnh vực cơ sở hạ tầng thu hút tập trung chủ yếu vào xây dựng và củng cố hệ thống giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, hệ thống thoát nước đô thị và một số dự án tập trung vào việc củng cố cơ sở hạ tầng để đối phó thiên tai. Đối với các địa phương khác thì giao thông là lĩnh vực thu hút được nhiều vốn ODA nhất với các dự án quy mô lớn, nhưng tỉnh Quảng Bình lại không nhận được nhiều vốn ODA trong lĩnh vực này và các dự án thường nhỏ lẻ. Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò của các dự án giao thông sử dụng vốn ODA với việc phát triển giao thông, đặc biệt là giao thông nông thôn. Các dự án giao thông trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, tạo hệ thống đường giao thống thôn tỉnh tương đối tốt. Các đường liên thôn, liên xã hầu như được bê tông hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại kể cả trong mùa mưa lũ, điều này khuyến khích giao thương hàng hóa, xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống nhân dân.
  • 59. 48 Bên cạnh đó, Quảng Bình cũng quan tâm thu hút các nhà tài trợ tới việc đầu tư các dự án cấp thoát nước và phát triển đô thị. Có thể kể đến những dự án với vốn và quy mô lớn như: dự án vệ sinh môi trường thành phố Đông Hới thực hiện trong giai đoạn 2007 - 2014 với giá trị cam kết cả 2 giai đoạn là 78,5 triệu USD; dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch sử dụng vốn vay của Hungary với vốn ODA cam kết là 12,5 triệu USD; dự án cấp thoát nước và vệ sinh thị xã Ba Đồn với số vốn 17,5 triệu USD. Ngoài ra, Quảng Bình là tỉnh thường xuyên gánh chịu hậu quả thiên tai nên tỉnh cũng nhận được vốn ODA đầu tư vào các dự án củng cố cơ sở hạ tầng ứng phó với thiên tai và ngày càng nhận được ưu tiên: dự án quản lý rủi ro thiên tai, dự án thủy lợi Thượng MỹTrung với số vốn cam kết 23,25 triệu USD. Trong giai đoạn 2011- 2016, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 16 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA được triển khai, thực hiện. Trong đó, có 03 dự án do Trung ương quản lý đó là Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn Ninh, Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy, Dự án Giao thông nông thôn III do Bộ Giao thông Vận tải làm cơ quan chủ quản; 13 dự án còn lại do UBND tỉnh làm cơ quan chủ quan, giao cho các Sở ngành chuyên môn, UBND các huyện làm chủ dự án; đối với những dự án có vốn đầu tư lớn và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực UBND tỉnh trực tiếp làm chủ dự an. Cụ thể: UBND tỉnh là chủ dự án 02 dự án đó là: Dự án vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới và Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới; Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn là chủ dự án 03 dự án: Dự án Thủy lợi Thượng Mỹ Trung, Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh và Dự án quản lý rủi ro thiên tai; UBND huyện Quảng Trạch là chủ dự án 02 dự án: Dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch và Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba Đồn... 2.3. Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2016
  • 60. 49 2.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Theo quy định của Chính phủ Việt Nam, có 04 cấp tham gia vào quá trình vận động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, bao gồm: Ban Quản lý dự án ( QLDA), Chủ dự án, Cơ quan chủ quản, Cơ quan quản lý nhà nước về ODA [1, Tr 5]. - Ban QLDA: Là đơn vị giúp việc cho Chủ dự án trong việc quản lý thực hiện chương trình, dự án ODA. - Chủ dự án: Là đơn vị được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA và nguồn vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án theo nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, và quản lý, sử dụng công trình sau khi chương trình, dự án kết thúc. - Cơ quan chủ quản: Là các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức nghề nghiệp, các cơ quan trực thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chương trình, dự án. - Các cơ quan quản lý nhà nước về ODA: Gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ. Nguồn vốn ODA với nhiều ưu đãi là nguồn vốn đầu tư quan trọng phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương, tuy nhiên, nguồn vốn ODA lại là vốn mà phải trả nợ trong tương lai. Do đó, UBND tỉnh triển khai và chỉ đạo thực hiện quy định về quản lý, sử dụng vốn đầu tư dự án ODA trên địa bàn với yêu cầu tránh tình trạng thất thoát, lãng phí, đầu tư không hiệu quả. Vai trò quản lý của UBND tỉnh đối với các chương trình, dự án ODA được thể hiện ở hai góc độ, bao gồm vai trò là cơ quan quản lý Nhà nước đối với các chương
  • 61. 50 trình, dự án ODA và vai trò là cơ quan chủ quản đối với các chương trình, dự án ODA. Do đó, ở mỗi vai trò đều thể hiện quyền hạn và trách nhiệm nhất định. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình, UBND tỉnh là cơ quan chủ quản đối với tất cả các dự án chỉ trừ một số ít dự án về giao thông là do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ quản như dự án xây dựng giao thông nông thôn II, III. Các dự án ODA về cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA do Chính phủ phân bổ về tỉnh Quảng Bình, UBND tỉnh Quảng Bình đều trực tiếp làm cơ quan chủ quản dự án nhằm thống nhất quản lý nguồn vốn ODA trên địa bàn nói chung cũng như lĩnh vực cơ sơ hạ tầng nói riêng. Cơ quan chủ quản Chủ dự án Ban QLDA UBND tỉnh Sở chuyên môn UBND huyện Ban QLDA Ban QLDA Ban QLDA Dự án ĐTCSHT sử dụng vốn ODA Dự án ĐTCSHT sử dụng vốn ODA Dự án ĐTCSHT sử dụng vốn ODA
  • 62. 51 Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý đối với các dự án CSHT bằng vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện phân công theo nguyên tắc dự án đầu tư có sở hạ tầng thuộc lĩnh vực nào giao cho sở phụ trách lĩnh vực đó làm chủ dự án và triển khai trên địa bàn huyện nào do UBND huyện đó làm chủ dự án. Ví dụ như Dự án thủy lợi Thượng Mỹ Trung, dự án neo đậu tránh trú bão tàu cá cửa Gianh,…do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ dự án; các dự án triển khai tại huyện Quảng Trạch như Dự án cấp nước sinh hoạt cho huyện Quảng Trạch, dự án thoát nước và vệ sinh cho thị xã Ba Đồn do UBND huyện Quảng Trạch làm chủ dự án (Thị xã Ba Đồn tách khỏi huyện Quảng Trạch năm 2015). Chủ dự án sẽ tiến hành thành lập Ban Quản lý dự án để thực hiện dự án khi văn kiện về chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các Ban Quản lý dự án này chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp của chủ dự án, có trách nhiệm định kỳ hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến chủ dự án. Định ký hàng quý, Chủ dự án có trách nhiệm báo cáo hoạt động của dự án do mình phụ trách đến UBND tỉnh. Tuy nhiên, đối với các dự án có quy mô nguồn vốn lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và triển khai trên nhiều địa bàn UBND tỉnh trực tiếp làm chủ dự án và thành lập Ban Quản lý dự án trực thuộc UBND tỉnh. Các Ban Quản lý dự án này chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của UBND tỉnh trong mọi hoạt động của dự án và hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến UBND tỉnh và nhà tài trợ. Ví dụ: Dự án vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới với số vốn cam kết 78,5 triệu USD. Tại tỉnh Quảng Bình, chủ dự án ODA có trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA và nguồn vốn đối ứng để thực hiện dự án theo nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, và quản lý, sử dụng công trình sau khi chương trình, dự án kết thúc. Ngoài ra có nhiệm vụ: tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện chương trình dự án; ký kết các hợp đồng theo đúng quy định của pháp
  • 63. 52 luật; chịu trách nhiệm liên tục và toàn diện về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa dự án vào khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn vay ODA (trường hợp cho vay lại); thực hiện giám sát, đánh giá dự án, quản lý khai thác chương trình, dự án... Ban quản lý dự án có nhiệm vụ lập kế hoạch bao gồm: Xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết hàng năm thực hiện chương trình, dự án (kế hoạch giải ngân, kế hoạch chi tiêu, kế hoạch đấu thầu...), trong đó xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời gian hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả đối với từng hoạt động của chương trình, dự án để làm cơ sở theo dõi, đánh giá. 2.3.2. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng quốc tế, năm 1993 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý cho các hoạt động đầu tư bằng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và đã ban hành 05 nghị định về quản lý và sử dụng ODA, cụ thể: - Nghị định 20/CP (15/03/1994) - Nghị định 87/CP (05/08/1997) - Nghị định 17/2001/NĐ-CP (04/05/2001), - Nghị định 131/2006/NĐ-CP (09/11/2006), - Nghị định 38/2013/NĐ-CP (23/04/2013) - Nghị định 16/2016/NĐ-CP (16/03/2016) Hiện nay, công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA được thực hiện theo Nghị định Nghị định 16/2016/NĐ-CP và đã ban hành Thông tư số 12/2016/TT-BKHĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định. Quảng Bình cũng như các tỉnh, là chính quyền địa phương được Chính phủ phân cấp quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động quản lý phải phù hợp với quy định của Hiến pháp, pháp
  • 64. 53 luật và các văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan,... Trong giai đoạn 2011-2016, tỉnh Quảng Bình đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật quy định đến việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn như: Quyết định số 624/QĐ-UBND ngày 11/06/2015 về việc phê duyệt "Đề án vận động, thu hút các dự án ODA vào tỉnh Quảng Bình đến 2020", đã đặt ra các mục tiêu và định hướng cho việc thu hút ODA của tỉnh, tập trung ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra tỉnh thực hiện theo các nội dung của Nghị định 131/2006/NĐ-CP, Nghị định 38/2013/NĐ-CP, Nghị định 16/2016/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn. Nghị định hiện hành là Nghị định 16/2016/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có hiệu lực từ 02/05/2016. Để hướng dẫn thực hiện các Nghị định của Chính phủ về quản lý và sử dụng ODA, Bộ kế hoạch và Đầu tư ban hành thông tư chung hướng dẫn thực hiện Nghị định về quản lý và sử dụng cụ thể là Thông tư số 12/2016/TT- BKHĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn về quản lý tài chính đối với các chương trình dự án ODA, hiện tại Bộ tài chính đã có thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 16/2016/NĐ-CP đó là Thông tư 111/2016/TT-BTC Quy định về quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài của các nhà tài trợ nước ngoài; Bộ Ngoại giao ban hành thông tư hướng dẫn ký kết các điều ước quốc tế. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA thì ngoài các Nghị định về quản lý và sử dụng vốn ODA thì còn được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật sau: Luật Xây dựng 2014 số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014, Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25 tháng 06 năm
  • 65. 54 2015, Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014... và các Nghị định liên quan. Bảng 2.8. Thống kê một số văn bản pháp quy về quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình hiện nay Các luật Nghị định Quyết định UBND tỉnh Tên luật Ngày ban hành Số Ngày ban hành Số Ngày ban hành Luật XD số 50/2014/QH13 18/06/2014 Luật NSNN số 83/2015/QH13 25/06/2015 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 26/01/2014 Luật Đấu thầu sô 43/2013/QH13 26/01/2013 16/2016 16/03/2016 69/2015 18/06/2015 624/2015 11/06/2015 Nguồn: Tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam năm 2016 2.3.3. Lập quy hoạch, kế hoạch về dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức -Đối với công tác quy hoạch Công tác quy hoạch một hình thức định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng. Quy hoạch xác định rõ quy mô, giới hạn thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng trong một khoảng thời gian nhất định của quốc gia. Quy hoạch cũng là cơ sở, tiền đề để xây dựng kế hoạch,
  • 66. 55 chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng dài hạn là 10 năm, trung hạn là 5 năm, ngắn hạn là kế hoạch từng năm cụ thể trên bình diện cả nước, một vùng, hay một ngành như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông v.v... Ở tỉnh Quảng Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư được UBND tỉnh giao nhiệm vụ lập quy hoạch về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA nói chung hay ODA dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Bản quy hoạch được lập dựa trên điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh được Thủ tướng phê duyệt; cũng như đề án định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của Chính Phủ ban hành... Sau khi hoàn thành Sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh xem xét cho ý kiến và quyết định. Bản quy hoạch sẽ giúp tỉnh dễ dàng hơn trong việc lập kế hoạch về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA; cũng như lập danh sach các chương trình, dự án ODA cần thiết cho sự phát triển kinh tê – xã hội của tỉnh giai đoạn tiếp theo. - Lập kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA Trên cơ sở "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác của nhà tài trợ" của Chính Phủ ban hành, tỉnh Quảng Bình đã ban hành Quyết định số 624/QĐ-UBND ngày 11/06/2015 về việc phê duyệt "Đề án vận động, thu hút các dự án ODA vào tỉnh Quảng Bình đến năm 2020", đã đặt ra các mục tiêu và định hướng cho việc thu hút ODA của tỉnh như sau: Tiến tới thu hút được nhiều hơn nữa nguồn vốn nước ngoài để góp phần tăng trưởng kinh tế, tích cực đẩy nhanh xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo 100% người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ xã hội và bảo vệ môi trường bền vững; các doanh nghiệp được tiếp cận với các nguồn vốn nước ngoài với cơ chế cho vay và lãi suất ưu đãi tiến tới xây dựng tỉnh Quảng Bình ngày càng phát triển, văn minh và hiện đại
  • 67. 56 2.3.4. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức - Công tác lập danh mục chương trình, dự án Tại tỉnh Quảng Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan được UBND tỉnh giao nhiệm vụ làm đầu mối đảm nhận vận động, thu hút vốn ODA cho địa phương nói chung và thu hút ODA cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng nói riêng. Hàng năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu các sở, ban ngành, UBND các huyện, thị xã, các cơ quan, đoàn thể trong toàn tỉnh căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của ngành mình mà tiến hành kiểm tra, rà soát và xây dựng danh mục các dự án cần huy động nguồn vốn ODA. Trên cơ sở đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư tiến hành tổng hợp xây dựng danh mục các dự án vận động ODA của tỉnh, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh mục chương trình, dự án yêu cầu tài trợ của tỉnh Quảng Bình. Sau khi nhận được danh mục dự án vận động ODA, Ủy ban nhân dân tỉnh đã xem xét, đánh giá và phê duyệt danh mục dự án vận động ODA của tỉnh Quảng Bình và có công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đăng ký danh mục dự án vận động ODA tỉnh Quảng Bình. Dưới đây là danh mục các dự án trọng trong những năm gần đây. Bảng 2.9. Danh mục các dự án trọng điểm về đầu tư cơ sở hạ tầng để xúc tiến nguồn vốn ODA giai đoạn 2011- 2016 Đơn vị tính: Triệu USD TT Tên dự án Tổng vốn dự kiến (triệu USD) Địa điểm Cơ quan chịu trách nhiệm Dự kiến nhà tài trợ 1 Dự án vệ sinh môi trường thị trấn Ba Đồn 10 Quảng Trạch UBND huyện Quảng Trạch Bỉ, Pháp, Đan Mạch
  • 68. 57 2 Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới 50 Đồng Hới Sở Xây dựng Nhật Bản, ADB 3 Nâng cấp hệ thống đường giao thông 20 Các huyện Sở Giao thông Vận tải WB 4 Hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn các xã ven biển 7 Các huyện UBND các huyện ADB; WB 5 Xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, chất thải rắn các huyện 30 Các huyện UBND các huyện WB, ADB 6 Dự án cấp nước thị trấn Hoàn Lão 2,5 Bố Trạch Công ty TNHH 1 thành viên cấp thoát nước Nhật Bản (JBIC) 7 Dự án cấp nước thị trấn Lệ Ninh 2 Lệ Thuỷ- Quảng Ninh Công ty TNHH 1 thành viên cấp thoát nước Quảng Bình JBIC (Nhật Bản) 8 Dự án đường giao thông Quy Hậu- Văn Thuỷ 2,5 Lệ Thuỷ UBND huyện Lệ Thuỷ JBIC (Nhật Bản) 9 Dự án cấp nước khu dân cư Hòn La 2 Quảng Trạch UBND huyện Quảng Trạch JBIC (Nhật Bản) 10 Dự án phát triển hạ tầng nông thôn bền vững 10 Các huyện Sở NN và PTNT ADB
  • 69. 58 11 Dự án đường ven biển Bảo Ninh- Võ Ninh 3 TP Đồng Hới- Quảng Ninh Sở Giao thông- Vận tải WB 12 Dự án đường ven biển Hải Ninh- Ngư Thuỷ Nam 3 Quảng Ninh và Lệ Thuỷ Sở Giao thông- Vận tải WB 13 Dự án đường ven biển Quảng Đông- Quảng Phúc, Quảng Trạch 2 Quảng Trạch UBND huyện Quảng Trạch JBIC (Nhật Bản) 14 Dự án đường ven biển Lý Trung Nhân, Đức Trạch, Bố Trạch 2 Bố Trạch UBND huyện Bố Trạch WB; JBIC (Nhật Bản) 15 Cầu Trùng Quán 2,5 Quảng Ninh UBND huyện Quảng Ninh JBIC (Nhật Bản) Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Quảng Bình Trong giai đoạn 2011-2016, tỉnh Quảng Bình xây dựng được 15 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng yêu cầu tài trợ vốn ODA, trung bình mỗi năm có khoảng 2,5 dự án được xây dựng. Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục tài trợ chính thức, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho tỉnh về danh mục tài trợ chính thức. Sở Kế hoạch và Đầu tư thông báo và phối hợp với chủ đầu tư các dự án nằm trong danh mục tài trợ chính thức của tỉnh tiến hành công tác chuẩn bị dự án như ra quyết định về chủ dự án; chuẩn bị văn kiện, chương trình dự án; lập kế hoạch vốn chuẩn bị chương trình, dự án; lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo khả thi. Sở Kế hoạch và Đầu tư sau đó đã tiến hành
  • 70. 59 thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt chương trình, dự án và có công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để trình Chính Phủ phê duyệt việc ký kết điều ước cụ thể về ODA. - Quyết định về chủ dự án Đối với các chương trình, dự án do Bộ, Ngành trung ương quản lý, có sự phối hợp với Quảng Bình để thực hiện trên địa bàn tỉnh và tỉnh được trực tiếp thụ hưởng dưới dạng dự án thành phần, các Bộ chuyên ngành là cơ quan chủ quản dự án, UBND tỉnh Quảng Bình tham gia vào dự án với tư cách là cơ quan chủ quản thành phần. Cụ thể là dự án các dự án xây dựng giao thông nông thôn II, III do Ngân hàng thế giới tài trợ, các dự án do JBIC tài trợ như Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn Ninh, đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy. Các dự án này do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ quản, vai trò của tỉnh trong việc triển khai dự án không lớn, chủ yếu là giải phóng mặt bằng và quản lý hành chính. Đối với các dự án triển khai trên một lĩnh vực nào đó hoặc trên địa bàn một huyện, tỉnh thực hiện phân công theo nguyên tắc, dự án thuộc lĩnh vực nào thì giao cho sở phụ trách lĩnh vực đó làm chủ dự án và triển khai trên địa bàn huyện nào thì do UBND huyện đó làm chủ dự án. Cụ thể, Dự án xây dựng đường tỉnh lộ 22 Quảng Trạch ; Dự án đường ven biển Hải Ninh – Ngư Thủy với tổng số vốn cam kết 14 triệu USD được Sở Giao thông Vận tải làm chủ dự án. Dự án Thủy Lợi Thượng Mỹ Trung, Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh với tổng số vốn cam kết 26,323 triệu USD được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ dự án. Dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch, Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba Đồn với tổng số vốn cam kết 30 triệu USD được UBND huyện Quảng Trạch làm chủ dự án. Chủ dự án sẽ thành lập Ban quản lý dự án để thực hiện các dự án và có trách nhiệm báo cáo tình hình hoạt động của dự án do mình phụ trách đến UBND tỉnh. Việc thực hiện phân công trách nhiệm như trên giúp giảm gánh nặng cho UBND tỉnh, vừa gắn
  • 71. 60 trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thụ hưởng dự án phải thực hiện dự án một cách có hiệu quả. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có quy mô nguồn vốn lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và triển khai trên nhiều địa bàn. Trong giai đoạn 20011 - 2016, UBND tỉnh đã trực tiếp làm chủ dự án các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có quy mô lớn và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, địa bàn trên toàn tỉnh; thành lập ban quản lý dự án trực thuộc UBND tỉnh. Các ban quản lý dự án này chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của UBND tỉnh trong mọi hoạt động của dự án, hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến UBND tỉnh và nhà tài trợ. Cụ thể Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới với số vốn 36,5 triệu USD, Dự án Vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới với số vốn 78,5 triệu USD được UBND tỉnh Quảng Bình làm chủ dự án. Từ đây, tỉnh có thể thống nhất quản lý các chương trình dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, tạo điều kiện cho các chương trình dự án dễ dàng được triển khai thực hiện, ít vướng mắc trong các công tác giải phóng mặt bằng. - Chuẩn bị vốn đối ứng Vốn đối ứng là phần vốn trong nước tham gia vào từng chương trình, dự án ODA theo cam kết giữa nước tiếp nhận và nhà tài trợ nước ngoài trên cơ sở hiệp định, văn kiện dự án, quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền. Vốn đối ứng là yêu cầu do nhà tài trợ đưa ra nhằm bảo đảm quyền sở hữu và trách nhiệm của nước tiếp nhận trong dự án ODA. Nhà nước phải cân đối vốn đối ứng trong tổng ngân sách nhà nước; bố trí vốn đối ứng cho từng ngành, địa phương; điều chỉnh, bổ sung vốn đối ứng. Đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vốn đối ứng thường được sử dụng để thực hiện công tác di dân, giải phóng mặt bằng, tái định cư, xây dựng dự án chuẩn bị đầu tư và chi phí thẩm định thiết kế, duyệt tổng dự toán, hoàn tất các thủ tục đầu tư, chi phí liên quan đến quá trình lựa chọn nhà thầu...
  • 72. 61 Bảng 2.10: Tổng hợp vốn ODA ký kết và giải ngân từ năm 2011- 2015 ĐVT: Triệu USD Năm Tổng vốn ký kết theo hiệp định ODA giải ngân Tổng số Trong đó Tổng số Trong đó ODA Đối ứng ODA Đối ứng 2011 9,1 7,8 1,3 29,34 25,0 4,34 2012 34,2 26,4 7,8 35,57 30,6 4,97 2013 27,25 18,85 8,4 31,69 27,59 4,10 2014 27,56 23,07 4,49 2015 64,9 53,8 11,1 7,57 5,19 2,38 Tổng cộng 135,45 106,85 28,6 131,73 111,45 20,28 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Quảng Bình cần tới 20,28 triệu USD vốn đối ứng cho tất cả các dự án ODA trong tỉnh, riêng đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cần 9,8 triệu USD vốn đối ứng. Vậy trung bình mỗi năm Quảng Bình cần bỏ ra 4 triệu USD vốn đối ứng cho các dự án ODA nói chung và 2 triệu USD vốn đối ứng cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Nhìn qua vốn đối ứng chỉ chiếm khoảng 20% vốn ODA được cấp, tuy nhiên với một tỉnh nghèo như Quảng Bình với tổng thu Ngân sách Nhà nước năm 2016 là 3.067 tỷ đồng ( tương đương 137 triệu USD) thường xuyên gặp lũ lụt, thiên tai thì số vốn đối ứng bỏ ra cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA là không nhỏ. - Thẩm định, phê duyệt dự án Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục tài trợ chính thức, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ thông báo bằng văn bản cho tỉnh Quảng Bình về danh mục tài trợ chính thức của tỉnh Quảng Bình và từ đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ thông báo và phối hợp với chủ đầu tư các dự án nằm trong danh mục tài trợ
  • 73. 62 chính thức của tỉnh tiến hành công tác lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo khả thi. Trong giai đoạn 2011- 2016, tỉnh Quảng Bình thực hiện 15 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA. Sở kế hoạch và đầu tư được UBND tỉnh giao nhiệm vụ thẩm định các dự án thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo khả thi do chủ đầu tư các dự án lập. Sở Kế hoạch và đầu tư phối hợp với các Sở chuyên ngành như: Sở Giao thông Vận tải, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,... và Sở Tài chính tiến hành thẩm định các dự án trên các điều kiện: phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ; các điều kiện, giá cả, hiệu quả đầu tư; đảm bảo an toàn tài nguyên, môi trường; các vấn đề xã hội của dự án... Trong quá trình thẩm định dự án thường gặp một số khó khăn như: nhiều dự án liên quan đến nhiều ngành, lãnh thổ nên thời gian lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn thường dài hơn so quy định; thủ tục hành chính thẩm định còn chồng chéo, qua nhiều khâu nên tốn thời gian... Sau khi thẩm định dự án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về nội dung thẩm định và có tính khả thi cao thì Sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh phê duyệt chương trình, dự án và có công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để trình Chính Phủ phê duyệt việc ký kết điều ước cụ thể về ODA. - Thực hiện dự án Trong giai đoạn 2011- 2016, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 16 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA được triển khai, thực hiện. Trong đó, có 03 dự án do Trung ương quản lý đó là Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn Ninh, Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy, Dự án Giao thông nông thôn III do Bộ Giao thông Vận tải làm cơ quan chủ quản; 13 dự án còn lại do UBND tỉnh làm cơ quan chủ quan, giao cho các Sở ngành chuyên môn, UBND các huyện làm chủ dự án; đối với những dự án có vốn đầu tư lớn và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực UBND tỉnh trực tiếp làm chủ dự an. Cụ thể: UBND tỉnh là chủ dự án 02 dự án đó là: Dự án vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới và Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới; Sở Nông
  • 74. 63 Nghiệp và Phát triển Nông thôn là chủ dự án 03 dự án: Dự án Thủy lợi Thượng Mỹ Trung, Dự án khu neo đậu tránh trú bão tàu cá Cửa Gianh và Dự án quản lý rủi ro thiên tai; UBND huyện Quảng Trạch là chủ dự án 02 dự án: Dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch và Dự án thoát nước và vệ sinh thị xã Ba Đồn... Các chủ dự án trên địa bàn tỉnh Quảng Bình là các Sở ngành chuyên môn, UBND huyện hoặc bản thân UBND tỉnh; có trách nhiệm: trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA và nguồn vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án theo nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, và quản lý, sử dụng công trình sau khi chương trình, dự án kết thúc. Có nhiệm vụ: - Tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện chương trình dự án; ký kết các hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật; - Chịu trách nhiệm liên tục và toàn diện về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa chương trình, dự án vào khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn vay ODA (trường hợp cho vay lại); - Thực hiện giám sát, đánh giá dự án, quản lý khai thác chương trình, dự án... Ngay sau khi văn kiện chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Chủ dự án ban hành quyết định thành lập Ban quản lý dự án. Ban quản lý dự án có nhiệm vụ lập kế hoạch bao gồm: Xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết hàng năm thực hiện chương trình, dự án (kế hoạch giải ngân, kế hoạch chi tiêu, kế hoạch đấu thầu...), trong đó xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời gian hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả đối với từng hoạt động của chương trình, dự án để làm cơ sở theo dõi, đánh giá. - Quản lý hoạt động lựa chọn nhà thầu Tại tỉnh Quảng Bình, về quản lý hoạt động đấu thầu, Sở Kế hoạch và Đầu tư được UBND tỉnh giao nhiệm vụ quản lý đối với những dự án do UBND tỉnh làm cơ quan chủ quản dự án. Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định kế hoạch đấu
  • 75. 64 thầu của các dự án. Các chủ đầu tư thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu. Khi có kết quả lựa chọn nhà thầu, các chủ đầu tư gửi quyết định phê duyệt đến Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo kết quả đấu thầu, chỉ thầu gửi UBND tỉnh báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Công tác báo cáo hoạt động đấu thầu trong năm của tỉnh với Bộ Kế hoạch và Đầu tư được thực hiện vào tháng 01 của năm sau. Quy trình thẩm định kế hoạch đấu thầu đối với các dự án cấp tỉnh quản lý tại Sơ đồ 2.2 sau: Sơ đồ 2.2: Quy trình phê duyệt kế hoạch đấu thầu - Tổ chức lựa chọn nhà thầu - Đánh giá hồ sơ dự thầu - Thẩm định và phê duyệt lựa chọn thầu - Gửi quyết định chọn thầu đến Sở KH&ĐT - Tổng hợp báo cáo kết quả đấu thầu - Gửi báo cáo kết quả đấu thầu cho UBND tỉnh - Xem xét báo cáo kết quả chọn thầu - Báo cáo với Bộ KH& ĐT Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình Công tác đấu thầu, chỉ định đầu tại tỉnh Quảng Bình được tuân thủ theo đúng Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 23/11/2013; Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 25/06/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu; Thông tư số 15/2016/TT-BKH ngày 29/09/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Hướng dẫn lập hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác CHỦ ĐẦU TƯ UBND TỈNH SỞ KH&ĐT
  • 76. 65 công tư; Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch Đầu tư về Quy định chi tiết về kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Hoạt động đấu thầu, chỉ định thầu đã góp phần kiểm soát được quá trình đầu tư trên địa bàn; lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, trình độ thi công; khuyến khích sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu; khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh thực hiện thi công các dự án trên địa bản tỉnh. - Thanh toán vốn đầu tư (Giải ngân vốn) Cam kết ODA mới chỉ là sự ủng hộ về mặt chính trị của cộng đồng quốc tế các nhà tài trợ dành cho tỉnh, để các cam kết này thực sự có ý nghĩa tỉnh Quảng Bình rất chú trọng đến việc giải ngân nguồn vốn này, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh, thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Bảng 2.11: Tình hình giải ngân vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2006 - 2015 Đơn vị tính: triệu USD Năm ODA ký kết Kế hoạch giải ngân ODA ODA giải ngân thực tế Tỷ lệ ODA giải ngân thực tế so với kế hoạch (%) 2006 66,412 15,943 9,663 60,6 2007 50,549 17,775 10,011 56,32 2008 17,741 27,994 19,043 68,02 2009 - 30,411 20,8 68,39 2010 11,884 28,756 22,751 79,11 2011 33,849 39,64 31,591 79,69 2012 17,729 53,879 39,969 74,18 2013 15,854 45,584 32,925 72,23
  • 77. 66 Năm ODA ký kết Kế hoạch giải ngân ODA ODA giải ngân thực tế Tỷ lệ ODA giải ngân thực tế so với kế hoạch (%) 2014 16,883 50,439 37,955 75,25 2015 17,856 52,568 38,866 73,93 Tổng cộng 248,757 323,349 242,774 70,77 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nhìn vào bảng cho thấy, trong giai đoạn 2006 - 2015, tổng vốn ODA mà tỉnh Quảng Bình ký kết thực hiện tại tỉnh là 248,757 triệu USD, trong đó đã giải ngân được 242,774 triệu USD đạt 70,77% so với kế hoạch giải ngân đề ra. Đây cũng là một con số tương đối cao so với tình hình giải ngân vốn ODA của cả nước trong giai đoạn này (trung bình 55 - 75%). Khối lượng giải ngân nguồn vốn ODA có xu hướng tăng tương đối đều qua các năm, tỷ lệ thuận với khối lượng nguồn vốn ODA ký kết và số lượng các dự án triển khai tại tỉnh; từng bước hoành thành kế hoạch giải ngân đề ra. Một dấu hiệu tích cực là tốc độ tăng nguồn vốn giải ngân thực tế, tỷ lệ giải ngân thực tế so với kế hoạch ngày càng được cải thiện. Điều đó cho thấy khả năng tiếp nhận và quản lý thực hiện các chương trình, dự án ODA của tỉnh Quảng Bình ngày một nâng cao. Đồng thời cho thấy tỉnh Quảng Bình đã nhận tức được tầm quan trọng của việc giải ngân vốn ODA cam kết và đốc thúc tiến hành chứ không chỉ là cam kết về con số. 2.3.5. Giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức Đối với các dự án do các Bộ chuyên ngành làm cơ quan chủ quản dự án, UBND tỉnh Quảng Bình tham gia vào dự án với tư cách là cơ quan chủ quản thành phần. Đối với các dự án UBND tỉnh giao cho các Sở ngành chuyên môn và UBND huyện làm chủ dự án, Chủ dự án sẽ tiến hành thành lập Ban Quản lý dự
  • 78. 67 án để thực hiện dự án khi văn kiện về chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các Ban Quản lý dự án này chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp của chủ dự án, có trách nhiệm định kỳ hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến chủ dự án. Định ký hàng quý, Chủ dự án có trách nhiệm báo cáo hoạt động của dự án do mình phụ trách đến UBND tỉnh. Đối với các dự án UBND tỉnh trực tiếp làm chủ dự án, UBND tỉnh thành lập Ban Quản lý dự án trực thuộc UBND tỉnh. Các Ban Quản lý dự án này chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của UBND tỉnh trong mọi hoạt động của dự án và hàng tháng phải báo cáo hoạt động của dự án đến UBND tỉnh và nhà tài trợ. Trong quá trình quản lý, triển khai, thực hiện dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA các chủ thể tham gia dự án thường vi phạm những vấn đề như: đối với cơ quan chủ quản dự án thường chậm trong công tác giải phóng mặt bằng, di dời hộ dân dẫn đến chậm triển khai dự án; một số nhà thầu thi công không đảm bảo tiến độ thực hiện dự án cũng như chất lượng công trình đề ra... Thế nên cần phải giám sát, đánh giá, xử lý vi phạm trong triển khai, thực hiện dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA. Tại tỉnh Quảng Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư được UBND tỉnh giao nhiệm vụ giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm đối với hoạt động đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì theo dõi, quản lý tình hình thực hiện chương trình, dự án trên địa bàn; kịp thời đề xuất các phương án phục vụ việc ra quyết định của các cấp quản lý nhằm đảm bảo chương trình, dự án được thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng và trong khuôn khổ các nguồn lực đã được xác định. Sau khi dự án kết thúc, UBND tình, chủ dự án, nhà tài trợ dự án và các nhà đánh giá độc lập tiến hành đánh giá việc thực hiện chương trình, dự án nhằm xem xét các kết quả đạt được và tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện, rút ra các kinh nghiệm cần thiết làm cơ sở lập báo cáo kết thúc chương trình, dự án. Hoạt động giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình được triển khai thực hiện
  • 79. 68 theo Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/09/2015 của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư; Thông tư số 22/2015/TT-BKH ngày 18/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Quy định về mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư. Trong giai đoạn 2011-2016, Sở Kế Hoạch và đầu tư đã tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá thường xuyên đối với 16 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh. Qua báo cáo của các chủ đầu tư và kết quả thực hiện của các cơ quan giám sát cho thấy hầu hết các dự án triển khai theo kế hoạch, phù hợp quy hoạch, theo đúng mục tiêu trong quyết định đầu tư; không có dự án phê duyệt sai thẩm quyền; thủ tục đầu tư (phê duyệt thiết kế, dự toán, đấu thầu, giải phóng mặt bằng, giải ngân, giám sát) đã được chủ đầu tư hoàn thiện. Tuy nhiên bên cạnh đó phát hiện một số sai phạm như: Công tác đền bù giải phóng mặt bằng còn chậm, bố trí vốn đối ứng không kịp thời, tiến trình dự án diễn ra không như kế hoạch, chất lượng một số hạng mục không được đảm bảo như tiêu chuẩn đề ra... . UBND tỉnh đã có chỉ đạo các ngành, đơn vị, chủ đầu tư làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân làm ảnh hưởng đến công tác triển khai thực hiện dự án. Thanh tra tỉnh đã tổ chức thanh tra tại các dự án vi phạm và kết quả đã có một số cán bộ bị xử lý kỷ luật, điều chuyển công tác. 2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình 2.4.1 Những kết quả đạt được Thứ nhất, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tương đối phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình không chỉ phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (gian đoạn 2006 – 2010; 2011- 2015, mà còn phù hợp với Chiến lược xóa đói giảm nghèo, kết hợp xây dựng nông thôn mới được triển khai trên địa bàn tỉnh. Các dự án ODA được xác định tại Nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh
  • 80. 69 tế- xã hội 5 năm 2006-2010, 2011- 2015 của tỉnh đều được triển khai, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng. Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA cũng phù hợp với mục tiêu ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, đô thị; lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo; lĩnh vực bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; lĩnh vực năng lượng và công nghiệp... được nêu trong các văn bản chiến lược của tỉnh. Trong những năm gần đây, thời tiết ngày càng diễn biến thất thường và khắc nghiệt, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ODA trong lĩnh vực phát triển đô thị và thoát nước nhằm khắc phục biến đổi khí hậu tại các đô thị được đẩy mạnh hơn. Cụ thể đó là dự án vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới, dự án phát triển hạ tầng đô thi Đồng hới do ADB tài trợ. Các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình cũng rất phù hợp với mối quan tâm của các nhà tài trợ, thế nên đây cũng là điểm thuận lợi giúp cho các nhà tài trợ dễ dàng hơn khi thông qua quyết định tài trợ. Thứ hai, các dự án đầu tư xây dựng CSHT bằng nguồn vốn ODA đảm bảo chất lượng, góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Trong điều kiện Quảng Bình là tỉnh nghèo, kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, thời gian qua, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng trên địa bàn đã có đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế xã hội tỉnh, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần làm thay đổi diện mạo của tỉnh theo hướng tích cực. Bên cạnh đó, thông qua các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đã hỗ trợ cho tỉnh trong việc tăng cường năng lực, tiếp cận và chuyển giao khoa học kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận phương pháp quản lý hiện đại giúp cho tỉnh vươn lên ngang mức trung bình chung của cả nước. Mặc dù tỷ trọng vốn không lớn (chiếm khoảng 6% GDP), tuy nhiên đây là nguồn trợ lực đáng kể cho đầu tư phát triển của tỉnh làm động lực thúc
  • 81. 70 đẩy phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể các dự án: Vệ sinh Môi trường Thành phố Đồng Hới, Dự án năng lượng nông thôn II, Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đã góp phần đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng của tỉnh. Nhìn chung, các dự án được đầu tư không chỉ đáp ứng nhu cầu bức thiết về cơ sở hạ tầng mà còn nâng cao năng lực quản lý của các cấp chính quyền địa phương, tạo bước đi cơ bản trong thực hiện các chương trình lớn về xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao trách nhiệm của người dân đối với cộng đồng. Những công trình hạ tầng kinh tế được đầu tư bằng nguồn vốn ODA như hệ thống giao thông, điện, nước, thủy lợi, trạm y tế, trường học…đã có tác động lan tỏa, kéo theo sự phát triển của các Khu công nghiệp, gia tăng trao đổi thương mại giữa các vùng miền, nhờ vậy cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ; tạo ra nhiều việc làm, tăng nguồn thu cho địa phương cũng như cải thiện thu nhập của dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo. 2.4.2. Những hạn chế Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác QLNN đối với dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA còn có những hạn chế, để lại những hệ quả nhất định. - Thứ nhất, lượng vốn ODA cam kết vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng còn thấp, số lượng các dự án còn ít, quy mô các dự án còn nhỏ, hẹp và các nhà tài trợ chưa đa dạng phong phú Trong giai đoạn 2011 - 2015, tổng nguồn vốn ODA đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại tỉnh Quảng Bình được ký kết đạt 68,4 triệu USD, khối lượng nguồn vốn cam kết tuy có tăng qua các năm nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với cả nước và khá thấp so với các tỉnh trong khu vực và so với nhu cầu vốn đầu tư trong tỉnh thì khối lượng vốn đó còn quá ít. Trong tổng số 16 chương trình, dự án ODA về cơ sở hạ tầng được triển khai tại tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2016 thì có đến 8 dự án được chuyển tiếp từ các giai đoạn trước và chỉ có 8 dự án vận động mới.
  • 82. 71 Tính trung bình trong giai đoạn này, mỗi năm tỉnh Quảng Bình vận động chưa được 2 chương trình, dự án về đầu tư cơ sở hạ tầng chứng tỏ số lượng dự án mà tỉnh vận động được quá ít.Theo tính toán, hiện trên địa bàn tỉnh còn đến 5 huyện khó khăn về giao thông nông thôn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất cũng như đi lại của người dân và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Vì vậy, cũng theo tính toán đến năm 2020, tỉnh Quảng Bình cần khoảng 35.000 tỷ đồng cho phát triển giao thông vận tải toàn tỉnh ( xây dựng cầu cống, đường xá, bến xe, bến tàu...); trong đó vốn thực hiện xây dựng nâng cấp hệ thống đường bộ khoảng 32.470 tỷ đồng, đường thuỷ khoảng 2.530 tỷ đồng. [2, Tr.6] Không những hạn chế về mặt số lượng mà quy mô các chương trình, dự án ODA về đầu tư cơ sở hạ tầng thu hút còn nhỏ, hẹp, thậm chí có dự án chỉ vài trăm nghìn USD, ví dụ: Dự án cấp thoát nước thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch với số vốn 0,784 triệu USD, Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh với số vốn 0,975 triệu USD. Trong tổng số 16 chương trình, dự án thì có 03 chương trình, dự án có quy mô vốn cam kết dưới 1 triệu USD, chủ yếu là các dự án sửa chữa hạ tầng nhỏ do JIBC tài trợ. Mặt khác, xét theo khía cạnh nhà tài trợ, ta thấy số lượng nhà tài trợ đầu tư ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng vào tỉnh Quảng Bình còn ít, chưa đa dạng, phong phú. Trong giai đoạn 2011 - 2016, tỉnh Quảng Bình chỉ thu hút được một vài nhà tài trợ đầu tư vào tỉnh, vẫn chủ yếu tập trung vào các nhà tài trợ truyền thống như WB, ADB,…,chưa thu hút được các nhà tài trợ mới cũng như chưa phong phú về loại hình tài trợ, cách thức tài trợ. Điều này tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, vì nếu chỉ tập trung vào các nhà tài trợ lớn này, khi các nhà tài trợ này có biến động, không tiếp tục tài trợ hoặc thay đổi chính sách tài trợ thì tác động rất lớn đến vốn ODA đầu tư tại địa phương nói chung cũng như ODA về lĩnh vực cơ sở hạ tầng nói riêng. Bên cạnh đó, trong 16 chương trình, dự án triển khai trên địa bàn, chỉ có 03 dự án do các Bộ chuyên ngành làm chủ quản đó là dự án Giao thông nông thôn III với số vốn 5,27 triệu USD, Dự án đường liên xã Hiền,
  • 83. 72 Xuân, An, Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh với số vốn 0,975 triệu USD, Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy với số vốn 0,931 triệu USD các dự án này đều là các dự án nhỏ, lẻ, thực hiện liên vùng trong khu vực nên triển khai trên địa bàn tỉnh chứ tỉnh chưa chủ động thu hút, vận động được các dự án có quy mô lớn do các Bộ làm chủ quản đầu tư vào địa phương, điều này chứng tỏ tỉnh chưa khai thác được nguồn vốn ODA do các Bộ làm chủ quản, trong khi nguồn vốn này tại các Bộ là rất lớn. - Thứ hai, quyết định phân bổ vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng theo lĩnh vực chưa hợp lý Trong giai đoạn 2011-2016, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 16 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA đang được triển khai với số vốn cam kết là 230,778 triệu USD. Trong đó lĩnh vực được cam kết nhiều vốn nhất đó là lĩnh vực phát triển đô thị với số vốn cam kết 115 triệu USD với hai dự án lớn đó là : Dự án Vệ sinh môi trường thành phố Đồng Hới ( 78,5 triệu USD), Dự án phát triển hạ tầng đô thị Đồng Hới (36,5 triệu USD). Lĩnh vực được ưu tiên tiếp theo là lĩnh vực xây dựng hệ thống cấp thoát nước, với vốn cam kết là 50,284 triệu USD trong 4 dự án đang triển khai. Đối với các địa phương khác thì giao thông là lĩnh vực thu hút được nhiều vốn ODA nhất với các dự án quy mô lớn, nhưng tỉnh Quảng Bình lại không nhận được nhiều vốn ODA trong lĩnh vực này và các dự án thường nhỏ lẻ, tổng số vốn cam kết chỉ là 16,676 triệu USD. Trong đó, có những dự án chưa đến 1 triệu USD như: Dự án đường liên xã Hiền, Xuân, An, Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh; Dự án đường từ Kiến Giang đi Quy Hậu, Văn Thủy, Mỹ Thủy. - Thứ ba, tiến độ giải ngân các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chậm so với kế hoạch Trong giai đoạn 2011 - 2016, tốc độ giải ngân của các dự án thấp, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả các dự án ODA, trung bình chỉ giải ngân được khoảng 30 - 40% kế hoạch giải ngân đề ra. Từ năm 20011 - 2016, tỉnh đã tích
  • 84. 73 cực chỉ đạo các ngành, địa phương và Ban Quản lý các dự án trong quá trình thực hiện, đồng thời, tiến hành phê duyệt và giao kế hoạch sớm cho các dự án nên tỷ lệ giải ngân ngày càng được cải thiện qua các năm, năm 2013 đạt 63,46 % thì năm 2014 đạt 76,69%, năm 2015 đạt 73,09%. Tuy nhiên, nhìn chung, trong cả giai đoạn 2011 - 2016, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn ODA vẫn còn thấp, tiến độ giải ngân các dự án hầu như đều chậm, không có dự án nào đạt kế hoạch đề ra và hoàn thành đúng như kế hoạch đã cam kết. Việc giải ngân chậm tồn tại nhiều tại các chương trình, dự án ODA của các nhà tài trợ song phương, bởi tồn tại nhiều vướng mắc trong thủ tục, quy trình và không thể thống nhất giữa nhà tài trợ với địa phương. Việc giải ngân thấp, tốc độ giải ngân chậm dẫn đến tình trạng dự án không hoàn thành đúng tiến độ, công trình chậm đưa vào sử dụng, không phát huy được hiệu quả tính toán ban đầu, không đáp ứng được nhu cầu vào đúng thời điểm, nhiều khi dự án phải có những điều chỉnh về mục tiêu cũng như quy mô thực hiện do điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, gây lãng phí nguồn lực. Đồng thời, tỷ lệ giải ngân thấp, tốc độ giải ngân chậm làm giảm tính ưu đãi và hiệu quả của vốn ODA. - Thứ tư, nhiều chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng vốn ODA còn hiện tượng thất thoát, lãng phí; chất lượng các công trình chưa cao. Việc thực hiện một chương trình, dự án ODA có sự tham gia, phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, cả cơ quan ban ngành ở địa phương, ở trung ương. Điều này dẫn đến hệ quả công tác quản lý chặt mà không chặt, bởi vì nhiều cơ quan, đơn vị không xác định được trách nhiệm của mình hay hiện tượng “cha chung không ai khóc” do không xác định rõ vai trò đầu mối, chủ trì và chịu trách nhiệm vì thế nhiều chương trình, dự án có hiện tượng thất thoát, lãng phí. Đồng thời tư tưởng vốn ODA là vốn cho không vẫn tồn tại trong một số cán bộ làm công tác quản lý, sử dụng ODA nên còn gây ra tình trạng lãng phí, chưa hiệu quả. Mặt khác, chất lượng các công trình cơ sở hạ tầng sử dụng vốn ODA chưa cao, đặc biệt, trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, thủy lợi... .
  • 85. 74 Ví dụ như công trình đường giao thông nông thôn World Bank tài trợ, do thiết kế mặt đường của các công trình không phù hợp với đặc điểm địa hình và khí hậu địa phương nên trong quá trình xây dựng đã phải sửa đi, sửa lại nhiều lần hoặc như Dự án vệ sinh môi trường, do quá trình đấu thầu thực hiện chưa tốt, lựa chọn nhà thầu không đủ năng lực nên công trình chưa hoàn thành đã phát sinh hư hỏng, những điều này gây tốn kém và làm giảm hiệu quả sử dụng các công trình. 2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn phát triển chính thức Từ những phân tích ở trên, nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA gồm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Cụ thể: a. Nguyên nhân khách quan - Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA chưa hoàn chỉnh và thiếu sự đồng bộ Trong những năm gần đây, mặc dù Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tư công và quản lý, sử dụng vốn ODA, tuy nhiên, một số quy định chưa phù hợp với thực tế quản lý và thiếu đồng bộ. Trong khi hoạt động quản lý và sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng chịu sự chi phối của nhiều văn bản, thuộc các lĩnh vực khác nhau như: Quản lý đầu tư xây dựng công trình, đấu thầu, đền bù, di dân, giải phóng mặt bằng,…mà các văn bản này có những nội dung không nhất quán với Nghị định. Một số quy định của các đạo luật liên quan đến công quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng CSHT bằng nguồn vốn ODA lại chưa đồng bộ như: Luật đất đai, Luật thuế, Luật xây dựng, Luật đấu thầu, chính sách đền bù và giải phóng mặt bằng. Điều đó đã ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân các dự án ODA, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ODA. Khung pháp lý là điều kiện cơ sở để có thể triển khai tốt các chương trình,
  • 86. 75 dự án, do đó, những bất cập trong hệ thống phát luật liên quan đến hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA làm ảnh hưởng đến cả quá trình từ khâu thu hút, thực hiện, quản lý và đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, dự án ODA. Mặt khác, các quy định về quy trình, thủ tục quản lý và chính sách thuế cũng đang là tạo ra những cản trở không nhỏ cho công tác quản lý nhà nước và triển khai thực hiện dự án trên thực tế. - Trong công tác quản lý vốn đầu tư và xây dựng: Khi lập kế hoạch và phân bổ vốn hàng năm, việc phân chia vốn đầu tư xây dựng cơ bản do Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, còn việc phân chia vốn hành chính sự nghiệp lại do Sở Tài chính chủ trì. Trong khi, các dự án ODA nói chung và các dự án ODA về đầu tư cơ sở hạ tầng chủ yếu là các dự án có nội dung chi hỗn hợp (vừa đầu tư xây dựng cơ bản, vừa hành chính sự nghiệp) thì Chủ dự án phải làm việc với cả hai cơ quan, mất nhiều thời gian và quy trình, thủ tục lại phức tạp. Thủ tục điều chỉnh dự án phức tạp trong nhiều khâu, như việc trình duyệt lại (hoặc bổ sung) thiết kế kỹ thuật và dự toán ngân sách mất nhiều thời gian do quy trình thủ tục phức tạp, ví dụ chỉ thay đổi thiết kế hay tổng mức đầu tư dù rất nhỏ cũng phải trình duyệt lại theo quy trình từ đầu, từ đó dẫn đến tiến độ giải ngân của dự án chậm, làm cho các công trình đình trệ. - Trong việc thực hiện Chính sách thuế: Do chính sách các dự án ODA đều được hoàn thuế GTGT nên đã gây ra những ảnh hưởng đến tiến độ của dự án. Việc hoàn thuế GTGT cho các dự án ODA mất khá nhiều thời gian, theo quy định thì việc hoàn thuế là 03 ngày nhưng trên thực tế, công tác hoàn thuế của các dự án thường mất đến 03 - 04 tháng do việc yêu cầu các thủ tục, giất tờ rất phức tạp; khâu này cũng làm chậm tiến độ dự án. Ngoài ra, về khía cạnh quản lý kinh tế, tác dụng phụ của việc áp dụng chính sách thuế GTGT cũng không khuyến khích việc sử dụng tiền ODA mua hàng hóa trong nước vì thủ tục hoàn thuế mất nhiều thời gian, trong khi mua hàng nước ngoài thì được miễn thuế ngay từ khi nhập khẩu nên các dự án lựa chọn phương án mua hàng hóa nước
  • 87. 76 ngoài, điều này cũng làm cho khâu mua sắm hàng hóa, thiết bị phức tạp, tốn nhiều thời gian, làm chậm tiến độ dự án. - Thứ hai, có sự khác biệt về thủ tục giữa chính sách của Nhà nước Việt Nam với các nhà tài trợ Các nhà tài trợ khi tài trợ đều đưa ra các quy định tài trợ cụ thể, điều này tác động đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam nói chung và của tỉnh Quảng Bình nói riêng. Các chương trình, dự án ODA của các nhà tài trợ đa phương thường có tiến độ giải ngân nhanh và gặp ít vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện do quy trình, thủ tục các nhà trợ này đã tiếp cận ngày càng gần với quy trình, thủ tục của Việt Nam; còn các chương trình, dự án ODA do các nhà tài trợ song phương tài trợ thường gặp rát nhiều khó khăn trong việc thống nhất thực hiện do sự khác biệt quá lớn về thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ. Ví dụ, có nhiều khoản ODA bị ràng buộc về phương thức mua sắm, đấu thầu, dẫn đến việc việc sử dụng nguồn vốn ODA không đạt hiệu quả như mong muốn. Cụ thể: - Sự khác biệt trong thiết kế dự án: Hầu hết tại các dự án ODA, các nhà tài trợ đều thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài thực hiện khâu thiết kế dự án. Các chuyên gia nước ngoài là các cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực dự án nhưng lại thiếu hiểu biết về thực tế địa phương và tập quán của người dân hưởng lợi nên dẫn đến những bất cập trong khâu thiết kế dự án. Do tâm lý muốn có nhiều kết quả đầu ra, một thực tế xảy ra là các chuyên gia tư vấn thường có xu hướng mở rộng quy mô đầu tư các dự án, đưa ra những hoạt động tư vấn chưa thật sát với điều kiện cụ thể, điều này dẫn đến tình trạng đầu tư không đồng bộ, vượt quá nhu cầu cần thiết của người hưởng lợi hoặc khập khiểng với hạ tầng kinh tế của đơn vị thụ hưởng. Trong một số trường hợp, ý tưởng của các chuyên gia tư vấn không phù hợp, nhiều dự án có thiết kế rất cồng kềnh, liên quan đến nhiều cơ quan và gồm
  • 88. 77 nhiều loại hoạt động không cần thiết, chồng chéo lẫn nhau hoặc các hoạt động đó không triển khai được do thiết kế dự án khác với cơ cấu thể chế hiện hành ở địa phương. Ví dụ như Dự án giao thông nông thôn III, do các nhà tư vấn chưa tính đến đặc điểm tự nhiên của tỉnh Quảng Bình là vùng mưa lũ nên thiết kế mặt đường cấp phối là chủ yếu, dẫn đến việc mặt đường nhanh xuống cấp, hư hỏng. Sự khác biệt trong thiết kế dự án làm dự án gặp khó khăn lúc triển khai, hoặc phải sửa đi sửa lại, làm chậm tiến độ của dự án, gây lãng phí trong quá trình thực hiện, mặt khác, còn làm chất lượng các công trình chưa cao. - Về thủ tục mua sắm và đấu thầu Ràng buộc của các nhà tài trợ trong thủ tục mua sắm và đấu thấu là một nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA. Đối với nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế như WB, ADB,…hình thức mua sắm chủ yếu là đấu thầu cạnh trạnh quốc tế, do đó, viêc lựa chọn nhà cung cấp và hàng hóa khá rộng rãi và có lợi thế về mặt chi phí và chất lượng. Tuy nhiên, có một hạn chế về mua sắm của các dự án này là việc lựa chọn dịch vụ tư vấn. Mức lương của các chuyên gia tư vấn rất cao và do nhà tài trợ đưa ra khi thiết kế dự án. Đối với các nguồn tài trợ của các quốc gia như Đức, Nhật Bản, Đan Mạch…,việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế rõ nét, hình thức mua sắm chủ yếu là đấu thấu hạn chế và các nhà cung cấp hàng hóa hầu hết là nhà sản xuất của nước tài trợ. Bên cạnh đó, các nhà tài trợ còn can thiệp sâu vào việc đấu thấu của dự án. Việc các nhà tài trợ can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công tác mua sắm, đấu thầu của dự án cũng làm cho cơ quan chủ quản tiếp nhận dự án không thể toàn quyền quyết định việc mua sắm, đấu thầu đạt hiệu quả nhất, dẫn đến hiện tượng thất thoát, lãng phí trong quá trình sử dụng nguồn vốn ODA. - Thứ ba, tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, không nằm trong vùng
  • 89. 78 kinh tế trọng điểm ưu tiên phát triển của cả nước nên việc định hướng thu hút, phân bổ vốn ODA cho Quảng Bình chưa được quan tâm Trên thực tế, địa phương gặp rất nhiều khó khăn trong việc chủ động kêu gọi các nhà tài trợ quốc tế ký kết các dự án ODA trực tiếp với địa phương, hình thức này chỉ áp dụng với các dự án địa phương tự đứng ra vay và cam kết trả nợ. Tuy nhiên, với hình thức này, các tỉnh nghèo lại càng khó có khả năng thực hiện vì không có ngân sách để trả nợ. Mà hiện nay, nguồn ODA của các tỉnh chủ yếu thông qua Trung ương, các Bộ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư định hướng phân bổ về địa phương. Trong khi đó, Quảng Bình không nằm trong vùng ưu tiên phát triển của cả nước nên việc được ưu tiên phân bổ vốn ODA cho địa phương chưa được quan tâm đúng mức và còn thấp so với nhu cầu của tỉnh. b. Nguyên nhân chủ quan - Thứ nhất, quyết định của chính quyền tỉnh chưa gắn với hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ODA nói chung và nguồn vốn ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng nói riêng vào tỉnh Quảng Bình chỉ mới quan tâm nhiều đến số lượng mà chưa thực sự chú trọng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. Thêm vào đó, một số cán bộ, kể cả lãnh đạo của cơ quan chủ quản, của Ban Quản lý Dự án cho rằng nguồn vốn ODA là của “trời cho” nên sử dụng còn nhiều lãng phí, dự án nào cũng nhập khẩu ô tô, máy móc thiết bị hiện đại và chế độ quản lý tài chính không chặt chẽ, dẫn đến việc thất thoát, lãng phí nguồn vốn này. - Thứ hai, công tác quy hoạch còn chậm, kém hiệu quả Công tác quy hoạch tổng thể của tỉnh cũng như quy hoạch xây dựng còn chậm, nhất là quy hoạch tổng thể Phong Nha - Kẻ Bàng, quy hoạch tổng thể khu kinh tế Hòn La, các quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch các vùng, điểm dân cư, tuyến đường còn chậm. Chất lượng một số dự án quy hoạch chưa cao, tầm nhìn còn hạn chế, có nhiều sai sót cần phải điều chỉnh nên cũng ảnh hưởng đến
  • 90. 79 việc đầu tư bằng nguồn vốn ODA. Ví dụ như Dự án cấp nước và vệ sinh môi trường do thiết kế tuyến ống nước đi qua một số tuyến đường chưa có quy hoạch nên không giải phóng được mặt bằng; Dự án cấp nước thị trấn NT Việt Trung đã được cấp vốn nhưng do tiến độ điều chỉnh quy hoạch chung chậm nên sau 02 năm dự án chưa triển khai được. Việc xây dựng danh mục các chương trình, dự án vận động ODA một mặt phải xuất phát từ chính nhu cầu của từng đơn vị, ban ngành; mặt khác quan trọng hơn là các chương trình, dự án đó phải phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển của từng ngành, lĩnh vực và nhất là phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội toàn tỉnh trong những giai đoạn tới. Khi bản thân công tác quy hoạch còn nhiều hạn chế, bất cập thì việc vận động thu hút nguồn vốn ODA sẽ gặp nhiều khó khăn. Và đó là lý do nguồn vốn ODA tỉnh Quảng Bình vận động thu hút trong những năm qua còn hạn chế. - Thứ ba, công tác lập kế hoạch, xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA tại tỉnh còn thiếu tính khoa học Trong hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA, cần thiết phải xây dựng các kế hoạch, đề án, làm căn cứ để cụ thể hóa các mục tiêu, các chiến lược nhằm huy động nguồn lực này phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo của tỉnh là cần thiết. Tuy nhiên, các kế hoạc và đề án này cũng còn một số hạn chế sau đây: Trên cơ sở "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác của nhà tài trợ" của Chính Phủ ban hành, đến năm 2015 tỉnh Quảng Bình có ban hành Quyết định số 624/QĐ-UBND ngày 11/06/2015 về việc phê duyệt "Đề án vận động, thu hút các dự án ODA vào tỉnh Quảng Bình đến 2020", đã đặt ra các mục tiêu và định hướng cho việc thu hút ODA của tỉnh, tập trung ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, mục tiêu còn dàn trải, định hướng chung chung, khó áp dụng. - Các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh thu hút ODA của tỉnh còn chưa tập trung,
  • 91. 80 đang hướng theo cách cứ vận động, được lĩnh vực nào tốt lĩnh vực đó mà chưa thực sự chủ động, thu hút theo định hướng phát triển của tỉnh. - Đề án chưa xây dựng được khung logic xác định mối liên hệ giữa các mục tiêu, mục đích với các chương trình ưu tiên phân bổ nguồn vốn, xác định cơ chế thực hiện và đưa ra các chỉ số đánh giá kết quả - Đề án cũng đã đề xuất hệ thống các chương trình, dự án ưu tiên thu hút nguồn vốn ODA trong thời gian tới, tuy nhiên, các chương trình, dự án này được xây dựng chưa thực sự dựa vào yêu cầu thực tế từ cộng đồng và bám sát các mục tiêu của việc sử dụng vốn ODA. - Đề án cũng chưa cho thấy có sự phối hợp giữa các ban, ngành trong quá trình thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra. Mặt khác, việc xây dựng các chương trình, dự án bộc lộ nhiều khiếm khuyết như nội dung các dự án không được nghiên cứu kỹ, mới chỉ mang tính chất liệt kê nhu cầu kèm theo một vài thông số cơ bản về dự án, chưa có sự thống nhất và liên kết giữa các chương trình, dự án ODA. Bởi vì, hàng năm, việc tiến hành đánh giá, rà soát các chương trình dự án đang triển khai, xác định nhu cầu vốn, nghiên cứu và xây dựng danh mục vận động ODA thường là do các cơ quan, đơn vị địa phương đảm nhận. Trong khi, trình độ chuyên môn và khả năng xây dựng dự án của các cán bộ trong các cơ quan này chưa đáp ứng được yêu cầu. Điều này sẽ dẫn tới tình trạng chất lượng các chương trình, dự án được xây dựng sẽ không cao Việc hạn chế trong công tác lập kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA dẫn đến khối lượng vốn ODA cam kết vào tỉnh còn thấp, việc phân bổ vốn ODA theo lĩnh vực đầu tư chưa hợp lý và còn làm chậm tiến độ các dự án, gây thất thoát, lãng phí trong quá trình triển khai các dự án ODA trên địa bàn. - Thứ tư, thiếu vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA Khi vận động ký kết các dự án ODA, cũng như các địa phương khác, tỉnh Quảng Bình cam kết với nhà trợ sẽ bố trí vốn đối ứng cho dự án theo tiến độ
  • 92. 81 thực hiện. Tuy nhiên, địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các cam kết của mình về việc đảm bảo nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA. Theo quy định, vốn đối ứng hiện nay được lấy từ các nguồn: Ngân sách do Chính phủ cấp, ngân sách tỉnh và người dân tự đóng góp và UBND tỉnh (cơ quan chủ quản dự án) bảo đảm cân đối vốn đối ứng để thực hiện dự án. Trong khi tỉnh Quảng Bình là một tỉnh nghèo, thu ngân sách hàng năm chỉ đáp ứng được 30 - 35% nhu cầu vốn đầu tư, hàng năm Trung ương phải trợ cấp đến 65 - 70%, nên tỉnh chưa tự cân đối được vốn đối ứng theo yêu cầu của nhà tài trợ (vốn đối ứng chiếm 10 - 20% tổng vốn đầu tư của một dự án) mà phải chờ vào vốn phân bổ của Trung ương, trong khi vốn Trung ương cấp phát hàng năm chỉ cung cấp được khoảng 50% nhu cầu vốn đối ứng cho các dự án ODA hiện có trên địa bàn tỉnh, việc này dẫn đến tình trạng thiếu vốn đối ứng, làm cho tiến độ giải ngân của các dự án cũng bị giảm theo. Trên thực tế, tại dự án nước sạch triển khai tại tỉnh, nhiều công trình nước sạch đã hoàn thành nhưng người dân cũng không đủ tiền đóng góp mua đường ống đưa nước vào nhà mình, hay như dự án thủy lợi, đường giao thông nông thôn, cũng gặp khó khăn do địa phương không đảm bảo được nguồn vốn đối ứng để giải phóng mặt bằng như đã cam kết; những điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của Dự án Thêm vào đó, hiện nay, các nhà tài trợ khuyến khích áp dụng hình thức tài trợ trước, nghĩa là dùng vốn của phía Việt Nam (ngân sách của Trung ương hay ngân sách tỉnh) để ứng cho các hoạt động của Dự án và hoàn vốn nước ngoài sau. Tuy nhiên, tỉnh Quảng Bình gặp nhiều khó khăn trong việc ứng vốn của tỉnh tài trợ trước do tỉnh không có khả năng có đủ nguồn vốn để tạm ứng nên việc triển khai cơ chế này ở Quảng Bình không được khả thi. - Thứ năm, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Ban Quản lý dự án bộc lộ nhiều yếu kém Chất lượng và hoạt động của Ban Quản lý các dự án là một trong những
  • 93. 82 nhân tố quan trong quyết định đến hiệu quả của tất cả các khâu trong quá trình triển khai các chương trình, dự án ODA. Tuy nhiên, trong thời gian qua, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Ban quản lý dự án còn bộ lộ nhiều yếu kém, cụ thể: - Cơ cấu tổ chức hoạt động của các Ban Quản lý dự án trong thời gian dài chưa được quy định cụ thể, nhất là những thay đổi liên quan đến hoạt động quản lý đầu tư và xây dựng. Trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan quản lý cấp tỉnh và Ban Quản lý dự án chưa được xác định một cách rõ ràng, minh bạch. Bên cạnh đó, chưa quy định được cơ chế theo dõi, giám sát, không ban hành được các quy định về chế độ thông tin, báo cáo để đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc những quy định của pháp luật về công tác quản lý, thực hiện các chương trình, dự án. - Cơ cấu tổ chức bộ máy các dự án vận hành chưa thống nhất chung: có dự án thành lập Ban quản lý dự án cấp tỉnh và cấp xã, có dự án thành lập Ban quản lý dự án cấp tỉnh, cấp huyện, Ban tự quản cấp xã. Tùy thuộc mỗi dự án mà có quy chế phân cấp quản lý khác nhau, có dự án không cấp, có dự án phân cấp quá nhỏ, điều này gây khó khăn trong quá trình quản lý của các cấp chính quyền. - Năng lực của các chủ đầu tư, đơn vị thực hiện, nhất là UBND các xã, Ban quản lý dự án cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế nên có sai sót, vi phạm trong quá trình thực hiện thủ tục đầu tư, đấu thầu và giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán của các dự án. - Thứ sáu, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư và quản lý các chương trình, dự án ODA của tỉnh còn thiếu về số lượng và yếu về năng lực chuyên môn Năng lực của đội ngũ cán bộ tham gia công tác vận động thu hút và quản lý sử dụng ODA giữ vai trò quyết định đến kết quả và hiệu quả vốn ODA. Tuy nhiên với tỉnh Quảng Bình đội ngũ cán bộ này còn thiếu về số lượng và yếu về năng lực chuyên môn, điều này được thể hiện ở một số điểm sau:
  • 94. 83 - Hiện nay các Sở, Ban ngành, huyện lỵ của tỉnh chưa đơn vị nào có đội ngũ cán bộ làm công tác vận động thu hút và quản lý sử dụng vốn ODA riêng, mặc dù vốn ODA có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi đơn vị. Hàng năm việc tiến hành đánh giá, rà soát các chương trình dự án đang triển khai, xác định nhu cầu vốn, nghiên cứu và xây dựng danh mục vận động ODA thường là do bộ phận kế hoạch của các đơn vị kiêm đảm nhận. Điều này sẽ dẫn tới tình trạng chất lượng các chương trình, dự án được xây dựng sẽ không cao do thiếu đội ngũ cán bộ am hiểu về nguồn vốn ODA. - Khả năng giao tiếp, đàm phán, giao dịch hợp tác quốc tế còn yếu do hạn chế về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ... - Trình độ của đội ngũ cán bộ này còn yếu kém, trong đó có nghiệp vụ về xây dựng, giám sát, đánh giá thực hiện các chương trình dự án ODA. Hiện nay các chương trình, dự án ODA được phân cấp mạnh mẽ cho địa phương, về tận các huyện, xã, thôn của tỉnh. Cũng chính vì điều này mà các dự án ODA được sử dụng không hiệu quả. Nguyên nhân là do trình độ của cán bộ các Ban Quản lý dự án ở các huyện, xã, thôn còn rất hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án chậm, chất lượng dự án thấp, thất thoát, lãng phí nguồn vốn ODA... - Thứ bảy, sự phối hợp quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước chưa hiệu quả Công tác quản lý nhà nước đối với các chương trình, dự án ODA triển khai trên địa bàn tỉnh hiện nay được giao cho Phòng Kinh tế đối ngoại, Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu và thực hiện. Tuy nhiên, phòng này hiện nay chỉ có 4 cán bộ mà phụ trách cả công tác đầu mối thu hút, công tác theo dõi, quản lý vốn ODA, FDI, NGO nên xảy ra tình trạng quá tải, không thể chuyên sâu và sát sao trong quá trình phối hợp với các Ban quản lý dự án để tháo gỡ các vướng mắc và theo dõi các hoạt động của dự án. Thêm vào đó, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, UBND tỉnh căn cứ vào quy mô và tính chất,
  • 95. 84 lĩnh vực của từng dự án và yêu cầu của nhà tài trợ để giao cơ quan làm chủ dự án, có thể UBND tỉnh trực làm chủ dự án hoặc giao cho các Sở, ban, ngành, địa phương làm chủ dự án và thành lập Ban Quản lý Dự án, do đó, có rất nhiều phương thức thực hiện nên Sở Kế hoạch và Đầu tư cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện công tác quản lý Nhà nước mà chủ yếu dựa vào các Báo cáo định kỳ do Ban Quản lý dự án thực hiện. Vì vậy, việc thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các chương trình, dự án ODA vẫn chưa thực sự sát sao, nhiều khâu còn bị buông lỏng. Yếu kém của cơ quan quản lý thể hiện rõ nhất trong khâu thẩm định dự án, công tác đền bù và giải phóng mặt bằng, quy trình, thủ trình tự dự án không đồng bộ,… Trong khâu thẩm định dự án, thẩm định kỹ thuật, tài chính dự án chủ yếu là thẩm định thông qua các giải trình dự án mà thiếu việc khảo sát thực tế, nghiên cứu sâu về dự án. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn mất nhiều thời gian làm triển khai dự án bị chậm tiến độ. Quy trình, thủ tục dự án không đồng bộ, nhiều khi còn chồng chéo từ khâu chủ trương đến quá trình đấu thầu, mua sắm, thực hiện, giải ngân. Chưa chủ động trong theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án ODA để kịp thời giải đáp, tháo gỡ các vướng mắc cho các Ban Quản lý dự án. Công tác cải cách hành chính nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc triển khai các dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng. Việc triển khai thực hiện có lúc, có nơi còn tình trạng nhũng nhiễu, gây khó khăn, mặc dù tỉnh đã cố gắng ban hành quy trình xử lý hồ sơ theo "cơ chế một cửa liên thông" theo mô hình mà nhiều địa phương trong cả nước đang áp dụng, nhưng đến nay, các dự án vẫn phải thực hiện nhiều quy trình, thủ tục và phải đi lại nhiều nơi, nhiều lần, gặp nhiều cơ quan khác nhau và nhiều khi các cơ quan này đưa ra cách giải quyết không thống nhất làm cho các Ban Quản lý dự án không biết nên giải quyết thế nào.
  • 96. 85 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Trong Chương 2 trên cơ sở nội dung QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tác giả đã nêu rõ thực trạng QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Từ thực trạng đã được trình bày, tác giả đánh giá hoạt động QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình những mặt đạt được: các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA tương đối phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, đảm bảo chất lượng, góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh. Ngoài ra, còn một số hạn chế đó là: lượng vốn ODA cam kết vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng còn thấp, số lượng các dự án còn ít, quy mô các dự án còn nhỏ, hẹp và các nhà tài trợ chưa đa dạng phong phú; quyết định phân bổ vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng theo lĩnh vực chưa hợp lý… Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại hạn chế bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Có thể kể đến đó là: hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA chưa hoàn chỉnh và thiếu sự đồng bộ; quyết định của chính quyền tỉnh chưa gắn với hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA; tiến độ giải ngân các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ODA chậm so với kế hoạch… Những nguyên nhân kể trên là cơ sở đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với các dựa án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA trong thời gian tới ở Chương 3.
  • 97. 86 Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH 3.1.Định hướng quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 3.1.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 3.1.1.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển Ngày 11 tháng 12 năm 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình ban hành Nghị Quyết số 117/2015/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm của tỉnh giai đoạn 2016-2020. Trong đó nêu rõ các mục tiêu phát triển, phương hướng phát triển, biện pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu của nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020. Theo đó, quan điểm phát triển của tỉnh trong thời gian tới là phát huy tối đa lợi thế so sánh về vị trí địa kinh tế của tỉnh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường hợp tác phát triển với các địa phương trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; tháo gỡ mọi khó khăn, cản trở, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, hấp dẫn, đặc thù để thu hút nguồn lực từ bên ngoài nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế của tỉnh với mức tăng trưởng cao, đưa tỉnh Quảng Bình trở thành tỉnh phát triển trong khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Hình thành và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, tập trung vào hệ thống đô thị, các khu kinh tế, khu công nghiệp, để tạo thành những hạt nhân lan tỏa thúc đẩy phát triển kinh tế của các khu vực xung quanh. Tập trung phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ, coi đó là khâu bứt phá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo
  • 98. 87 hướng hiện đại (công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp). Đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ, phát triển kinh tế biển và hình thành rõ nét những sản phẩm công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn có khả năng cạnh tranh. Xây dựng thành phố Đồng Hới là trung tâm chính trị, kinh tế xã hội của tỉnh, ngang tầm với các đô thị trong vùng; nâng cấp thị trấn Hoàn Lão thành thị xã thuộc tỉnh. Phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với phát triển xã hội, trước hết nhằm tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Đảm bảo phát triển bền vững về môi trường, đảm bảo cảnh quan cho phát triển du lịch. Phát huy nhân tố con người, coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, coi đó là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư vào địa bàn tỉnh. Gắn giáo dục, đào tạo với thị trường sức lao động. Coi trọng giáo dục phổ cập để nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là ở vùng nông thôn miền núi. Đẩy mạnh đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Coi trọng công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy dân chủ và sức mạnh của các thành phần kinh tế, tạo môi trường thân thiện với các nhà doanh nghiệp, các nhà đầu tư và nhân dân để phát huy được sức mạnh tổng hợp. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội cụ thể trên từng vùng địa bàn miền núi, ven biển và đồng bằng của tỉnh. Quan điểm này phải được xuyên suốt trong việc xác định các định hướng ngành, trong xây dựng các dự án cũng như thiết kế, xây dựng bất kỳ một công trình nào trên lãnh thổ. Mục tiêu tổng quát của tỉnh trong giai đoạn 2016-2020 là đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư, phát triển kinh tế nhanh, bền vững; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp; chú trọng xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại; nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa công nghiệp trở thành ngành kinh tế
  • 99. 88 trọng điểm và du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường quốc phòng - an ninh, quyết tâm phấn đấu đưa Quảng Bình phát triển nhanh và bền vững. Các mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2016-2020 như sau: Thứ nhất, về phát triển kinh tế: - Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân hằng năm đạt 8,5 - 9%; - Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 4 - 4,5%/năm. - Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 11 - 11,5%/năm; - Giá trị sản xuất dịch vụ tăng bình quân 9 - 9,5%/năm; - Đến năm 2020, cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn: + Nông, lâm nghiệp và thủy sản: 20%, + Công nghiệp - xây dựng: 28%, + Dịch vụ: 52%; - Đến năm 2020: + Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 8.000 tỷ đồng. + Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (2016 - 2020) đạt 60.000 tỷ đồng; + Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đạt: 65 - 70 triệu đồng (tương đương 3.000 - 3.200 USD); + Có 50% số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới (68 xã). Thứ hai, về phát triển xã hội: - Giải quyết việc làm hằng năm cho 3,1 - 3,2 vạn lao động; - Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2 - 3%/năm; - Tốc độ tăng dân số 0,6 - 0,65%/năm; - Đến năm 2020: + 99,8% hộ dân được sử dụng điện lưới Quốc gia; + 90,6% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế;
  • 100. 89 + Số giường bệnh bình quân trên 1 vạn dân đạt 25,5 giường; + Trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế; + 100% xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập trung học cơ sở (mức độ III); - 65% lao động qua đào tạo, trong đó, đào tạo nghề đạt 50%. Thứ ba, về bảo vệ môi trường: - Đến năm 2020: 97% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; + Tỷ lệ che phủ rừng đạt 69 - 70% 3.1.1.2. Dự báo nhu cầu và về vốn đầu tư Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2016-2020 đề ra và tốc độ tăng trưởng kinh tế như đã dự báo, ước tính nhu cầu đầu tư giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 100 - 101 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 2,1 - 2,2 lần giai đoạn 2011 – 2015 ( 47-48 nghìn tỷ đồng). Bảng 3.1: Dự kiến tổng nhu cầu đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2020 Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu 2011 - 2015 2016 - 2020 Tổng số Tỷ trọng (%) Tổng số Tỷ trọng (%) Tổng nhu cầu đầu tư toàn XH 48.000 100 101.000 100 Phân theo nguồn vốn 1. Ngân sách Nhà nước 10.560 22 12.120 12 2. Vốn tín dụng 12.000 25 28.280 28 3. Vốn đầu tư của DN 960 2 3.030 3 4. Vốn KT tập thể, tư nhân, hỗn hợp 9.360 19,5 21.210 21
  • 101. 90 5. Vốn đầu tư nhà ở dân cư 12.240 25,5 27.270 27 6. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.920 4 6.060 6 7. Vốn khác 960 2 3.030 3 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Bình Theo dự kiến cơ cấu đầu tư, nguồn vốn tín dụng, trong đó chủ yếu là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chiểm tỷ trọng tương đối cao trong tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội, trong giai đoạn 2011 - 2015 chiếm khoảng 25%, dự kiến giai đoạn 2016 - 2020 tăng lên 28%. Cơ cấu đầu tư tập trung ưu tiên cho các chương trình mục tiêu quan trọng, trong đó đầu tư cho ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 35 - 37%; giao thông bưu điện chiếm 23 - 25%; nông lâm ngư chiếm 7%; giáo dục đào tạo, y tế văn hóa, TDTT chiếm 5 - 6%.... Tổng nhu cầu vốn ODA và đối ứng giai đoạn 2016-2020 là: 14.327.972 triệu VNĐ. Cụ thể như sau: Bảng 3.2: Nhu cầu vốn ODA và đối ứng giai đoạn 2016-2020 ĐVT: Triệu đồng Phân theo lĩnh vực Tổng cộng Đối ứng ODA Tổng cộng NSTW NSĐP Nông nghiệp 2.592.605 560.373 276.049 284.324 2.032.232 Giáo dục- Y tế 1042.263 172.384 110.100 62.284 869.879 Dịch vụ công cộng 8.050.995 1.245.540 611.664 633.876 6.805.455 Điện 189.147 22.803 19.210 3.593 166.344 Giao thông 2.343.762 281.815 199.312 82.503 2.061.947 Khác 109.200 4.200 2.940 1.260 105.000 Tổng cộng 14.327.972 2.287.115 1.219.275 1.067.840 12.040.857 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Bình 3.1.2. Một số định hướng cơ bản trong quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng về vốn hỗ trợ phát triển chính thức
  • 102. 91 - Quan điểm và mục tiêu thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA đến năm 2020 Quan điểm về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào tỉnh Quảng Bình là thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững. Phát triển kinh tế, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống của nhân dân, đặc biệt là khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Tăng cường đầu tư hạ tầng công cộng cho các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, đảm bảo cho người nghèo được tiếp cận các dịch vụ xã hội. Kết hợp phát triển kinh tế, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường bền vững và giảm nhẹ thiên tai. Mục tiêu chung của việc sử dụng nguồn vốn ODA là góp phần tăng trưởng kinh tế, tích cực đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Mục tiêu cụ thể là thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế của địa phương, thu hút được đa số dân cư hưởng lợi từ dự án, phù hợp về năng lực tài chính và khả năng quản lý của các đơn vị thực hiện. Tập trung vào các dự án có hiệu quả thiết thực về kinh tế - xã hội, góp phần tăng tích lũy và có tác dụng đột phá để tạo đà đi lên cho tỉnh. Phấn đấu 100% người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ xã hội và bảo vệ môi trường bền vững. - Định hướng thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 Trong giai đoạn từ năm 2016 - 2020, chủ trương thu hút và sử dụng ODA đầu tư CSHT là tiếp tục tranh thủ thu hút đi đôi với việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA; tập trung cải thiện tình hình giải ngân các chương trình, dự án ODA đang hoạt động để sớm đưa vào khai thác, sử dụng; đồng thời, xây dựng các chương trình, dự án ODA gối đầu cho thời kỳ sau nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. - Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT theo lĩnh
  • 103. 92 vực ưu tiên Thu hút ODA vào lĩnh vực đầu tư CSHT, ưu tiên kêu gọi, thu hút các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng kiên cố, bền vững, đảm bảo theo hướng hiệu quả, lâu dài và đồng bộ. Cụ thể là tập trung vào các ưu tiên như sau: Về giao thông: Ưu tiên thu hút các dự án phát triển các tuyến đường giao thông liên xã, đặc biệt là vùng miền núi, các tuyến đường huyện, một số tuyến đường tỉnh lộ nối đường Quốc lộ I với đường Hồ Chí Minh nhánh Đông. Về điện lưới: Thu hút nguồn vốn ODA để phát triển lưới điện và trạm phân phối, nhất là cải tạo phát triển lưới điện nông thôn, điện lưới về các thôn bản chưa có điện. Về cấp thoát nước và phát triển đô thị: Ưu tiên thu hút ODA để hỗ trợ, xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, hoàn thiện hệ thống cấp nước sinh hoạt các thị trấn, cấp đủ nước sạch cho đô thị. Tiếp tục thực hiện cải tạo và xây dựng mới hệ thống cấp nước sạch cho các vùng nông thôn, đặc biệt là các xã chưa có nước sạch. Đồng thời, chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước, nhà máy xử lý nước thải tại đô thị. Cụ thể về quy hoạch vốn ODA vào xây dựng CSHT là tập trung thu hút vốn vào: các dự án cấp nước, vệ sinh môi trường và phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố Đồng Hới, xây dựng và nâng cấp các tuyến đường giao thông tại các huyện, xây dựng các tuyến đường nối với CHDCND Lào như quốc lộ 12A và quốc lộ 12C, các tuyến đường ven biển và các dự án phát triển hạ tầng nông thôn bền vững. - Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT theo nhà tài trợ Các nhà tài trợ có chính sách, quy mô tài trợ và các yêu cầu khác nhau trong việc cung cấp ngồn vốn ODA dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng, do đó, tỉnh Quảng Bình bám sát các đặc điểm trên để khai thác tối đa thế mạnh của từng nhà tài trợ để thu hút và sử dụng hiệu quả ngồn vốn viện trợ, cụ thể như sau:
  • 104. 93 Đối với các tổ chức phát triển như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), tỉnh Quảng Bình định hướng thu hút nguồn vốn ODA của các tổ chức này cho các công trình CSHT kinh tế lớn, hạ tầng đô thị trọng điểm có nguồn vốn cam kết lớn. Đối với các nhà tài trợ song phương, tỉnh Quảng Bình tập trung vận động viện trợ một số nước như Đức, Nhật, Hàn Quốc, Đan Mạch, Phần Lan ưu tiên vào các lĩnh vực như hỗ trợ xây dựng CSHT có quy mô nhỏ ở khu vực nông thôn miền núi gắn với xóa đói giảm nghèo; xây dựng phương án đồng tài trợ để tăng quy mô và hiệu quả cho các dự án nhỏ và riêng lẻ; thực hiện các dự án hỗ trợ kỹ thuật cho các dự án chuẩn bị đầu tư. - Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư CSHT theo phương thức viện trợ Các phương thức viện trợ hiện nay rất đa dạng ( viện trợ không hoàn lại, viện trợ hoàn lại và viện trợ hỗn hợp); do đó, căn cứ quy mô, tính chất và đặc điểm của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng tỉnh Quảng Bình đã lựa chọn phương thức viện trợ phù hợp nhất đối với nguồn vốn ODA dành cho đầu tư CSHT đó là phương thức viện trợ hoàn lại để đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất. - Đối với các khoản ODA vay có ưu đãi cao (lãi suất thấp): Ưu tiên thu hút phát triển CSHT như xây dựng các công trình giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống cấp thoát nước. - Đối với các khoản vay ODA ít ưu đãi ( lãi suất cao, thời gian trả nợ và ân hạn ngắn): Tập trung thu hút cho các chương trình, dự án có tính khả thi về mặt kinh tế và có khả năng trả nợ như lưới điện nông thôn, bê tông hóa kênh mương. 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn hỗ trợ chính thức Hầu hết các Dự án ODA có tốc độ giải ngân chậm là các dự án sử dụng nguồn vốn ODA có vốn vay lớn, thực hiện trong lĩnh vực đầu tư CSHT. Các dự
  • 105. 94 án đầu tư CSHT nói chung và các dự án đầu tư CSHT sử dụng vốn ODA nói riêng đều trải qua 4 khâu: Lập và thẩm định dự án; giải phóng mặt bằng, đền bù và tái định cư; đấu thầu, thực hiện thi công và nghiệm thu, thanh quyết toán. Thực tế cho thấy việc triển khai các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA đều bị vướng mắc ở các khâu trên, dẫn đến chậm trễ trong tiến độ thực hiện và giải ngân dự án. Để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân dự án, cần phải xem xét việc phân cấp, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong từng khâu thực hiện dự án và có những giải pháp cụ thể. 3.2.1. Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức đúng đắn về nguồn vốn ODA và trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức trong đầu tư cơ sở hạ tầng Nguồn vốn ODA có đặc điểm nổi bật là tính ưu đãi nên khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn này, các cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương, trong đó có Quảng Bình còn chưa cảm thấy gánh nặng nợ nần. Tuy nhiên, ODA vẫn là nguồn vốn vay, nước tiếp nhận bắt buộc phải có trách nhiệm trả nợ. Do đó, nước tiếp nhận cần thiết phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này vào phát triển kinh tế - xã hội để có thể trả nợ trong tương lai. Để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, trước hết phải xây dựng nhận thức đúng đắn về nguồn vốn ODA của lãnh đạo chính quyền, cán bộ và người dân liên quan đến hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ODA. Công tác tuyên truyền, phổ biến phải làm rõ nguồn vốn ODA không phải là “cho không” mà cần phải tận dụng, sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. 3.2.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút, quản lý và và sử dụng nguồn vốn ODA đảm bảo tính khoa học, khả thi Công tác quy hoạch trong thời gian vừa qua là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hoạt động thu hút, sử dụng vốn ODA nói chung hay nguồn vốn ODA dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng còn kém hiệu quả. Vì vậy, trong thời gian tới, tỉnh cần phải rà soát, điều chỉnh, phê chuẩn và công bố các quy hoạch
  • 106. 95 về hạ tầng trong những năm tới làm cơ sở để thu hút phát triển CSHT, tăng cường triển khai quy hoạch ngành, xây dựng, phát triển đô thị, đảm bảo quy hoạch xây dựng phải đi trước một bước làm cơ sở cho việc cấp phép xây dựng và định hướng cho công tác đầu tư. Đồng thời, tiến hành xây dựng, phê duyệt các quy hoạch còn thiếu và rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại các quy hoạch đã được phê duyệt cho phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như quy hoạch quốc gia. Bên cạnh đó, cần chú trọng việc lập kế hoạch thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA. Trên cơ sở Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quốc gia, UBND tỉnh cần nhanh chóng ban hành chiến lược thu hút và quản lý sử dụng các nguồn vốn ODA tại tỉnh trong giai đoạn tới. Chiến lược này cần tập trung vào việc sử dụng vốn ODA vào những mục tiêu rõ ràng, xác định các lĩnh vực và dự án ưu tiên nhằm đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ. Trong chiến lược thu hút và vận động nguồn vốn ODA của tỉnh, cần có danh mục các dự án phát triển, các dự án ưu tiên cho từng lĩnh vực cụ thể nhằm giới thiệu với các nhà trợ để các nhà tài trợ có căn cứ xem xét, quyết định việc tài trợ các dự án thích hợp và cơ sở để các nhà tài trợ tin tưởng các dự án này nằm trong lĩnh vực ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Chiến lược cũng phải đề ra được định hướng vận động và các giải pháp cụ thể để thu hút các nhà tài trợ. Đồng thời, nắm bắt được đặc điểm của từng nhà tài trợ để sắp xếp những dự án phù hợp với từng nhà tài trợ riêng, từ đó, nâng cao được hiệu quả của công tác thu hút vốn đầu tư. Quan trọng nhất của việc thực hiện công tác quy hoạch, lập kế hoạch thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA đó là đảm bảo quá trình phân bổ nguồn vốn ODA hợp lý, đầu tư đúng lĩnh vực, đúng định hướng, phù hợp với quy hoạch nhằm mang lại hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn ODA tại địa phương. Song song với việc hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch, tỉnh Quảng Bình cũng cần nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị và lập các dự án ODA.
  • 107. 96 Như đã phân tích ở trên, một số dự án ODA đầu tư CSHT tại tỉnh có thiết kế chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương, nguyên nhân của tồn tại này là do việc lựa chọn tư vấn trong nước chưa đủ năng lực đánh giá hết các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường, tài chính,…trong khi các chuyên gia tư vấn nước ngoài được thuê lại sử dụng các chuẩn mực quốc tế, vừa không phù hợp với thực tế địa phương, vừa có xu hướng đầu tư dàn trải và thiếu đồng bộ, mặt khác, người hưởng lợi, đối tượng chính của dự án lại không được tham vấn kỹ lưỡng trong quá trình thiết kế và xây dựng dự án, dẫn đến nhiều mục tiêu của các dự án không thực hiện được trong quá trình triển khai. Để khắc phục tình trạng này, tỉnh cần thực hiện một số nội dung như sau: Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ của quốc gia, của các Bộ, Ngành và địa phương, Quảng Bình và các đơn vị thụ hưởng cần chủ động đề xuất các chương trình, dự án ODA, tránh để tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào các nhà tài trợ và tư vấn nước ngoài. Tăng cường sử dụng tư vấn trong nước để nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án phù hợp với các điều kiện thực tế của tỉnh và nhằm giảm chi phí thuê tư vấn nước ngoài. Các chương trình, dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng trước hết phải xuất phát từ chính nhu cầu của địa phương và các đơn vị thụ hưởng, được xây dựng phù hợp với quy hoạch tổng thể, quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực trong tỉnh. Việc chuẩn bị nội dung các chương trình, dự án ODA trong thời gian tới nên được giao cho một bộ phận, cơ quan chuyên trách, trực thuộc UBND các huyện, các sở ban ngành trong tỉnh, với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ, am hiểu quy trình, thủ tục vận động thu hút và giải ngân nguồn vốn ODA, nắm bắt được thực tế tình hình tại địa phương. Để nâng cao chất lượng công tác lập dự án, cần phải có đội ngũ cán bộ kinh tế, cán bộ kỹ thuật lập dự án ở từng cấp, từng ngành đảm bảo chuyên môn, nghiệp vụ. Vì thế, tỉnh cần có chính sách tuyển chọn những người có năng lực và giàu kinh nghiệm, đã từng thực hiện các
  • 108. 97 dự án tương tự. Đồng thời, đòi hỏi các dự án ODA phải có mục tiêu và căn cứ pháp lý rõ ràng. Trong quá trình lập dự án cần có sự nghiên cứu, đánh giá, phân tích tỷ mỷ, dựa trên các luận cứ có tính khoa học về mọi khía cạnh của dự án: khía cạnh kỹ thuật, khía cạnh tài chính, khía cạnh thị trường, khía cạnh kinh tế xã hội khác. Đối với các dự án phức tạp có thể tuyển chọn các công ty tư vấn trong nước và quốc tế thông qua đấu thầu tuyển chọn tư vấn. Công tác đánh giá hồ sơ dự thầu và lựa chọn nhà thầu tư vấn cần phải được cải tiến theo hướng minh bạch, công bằng và có tính chính xác cao. Trong quá trình lập dự án cần chú ý đến các chỉ tiêu tài chính: giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ số lợi ích chi phí (B/C), tỷ số hoàn vốn nội bộ (IRR)... và phân tích các lợi ích kinh tế xã hội của dự án là cơ sở nhà tài trợ xem xét tính khả thi của dự án và ra quyết định tài trợ. Nội dung các chương trình, dự án ODA sau khi được chuẩn bị cần có sự tham gia đóng góp ý kiến của những người dân trong vùng dự án, các chuyên gia đầu ngành trong tỉnh và các tổ chức tư vấn. Việc chuẩn bị tốt nội dung các chương trình, dự án sẽ giúp cho công tác vận động thu hút dự án được tiến hành một cách thuận lợi hơn và việc triển khai giải ngân nguồn vốn vận động sẽ được tiến hành nhanh chóng, giúp tăng tỷ lệ giải ngân vốn ODA trên địa bàn tỉnh. 3.2.3. Bố trí vốn đối ứng cho từng dự án theo kế hoạch Thiếu vốn đối ứng đang là nguyên nhân làm cho một loạt các dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng tại Quảng Bình chậm được triển khai, mà đây lại là yêu cầu bắt buộc của các nhà tài trợ. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong mỗi chương trình, dự án chủ yếu dùng để trang trải cho các chi phí để tiếp nhận nguồn vốn này nhưng vốn đối ứng lại là một vấn đề khó đối với một tỉnh nghèo như Quảng Bình. Để giải quyết vấn đề này tỉnh Quảng Bình, trước hết, tỉnh cần bố trí đầy đủ vốn đối ứng trong kế hoạch ngân sách của tỉnh. Để làm được điều này, tỉnh phải chủ động làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính để bố trí và cân đối nguồn vốn ODA cho các dự án và phân bổ nguồn vốn đối ứng này theo kế
  • 109. 98 hoạch ở các cấp tương ứng, không sử dụng nguồn vốn này vào các mục đích khác. Việc bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA đảm bảo các yêu cầu sau: - Phải có kế hoạch bố trí vốn đối ứng tương ứng với kế hoạch giải ngân của nguồn vốn ODA trong các chương trình, dự án. - Phải rõ ràng, chi tiết việc nguồn của vốn đối ứng lấy từ đâu, bao nhiêu là lấy từ ngân sách trung ương cấp, bao nhiêu là ngân sách tỉnh, bao nhiêu là đóng góp địa phương, bao nhiêu là đóng góp của người hưởng lợi. - Phải phù hợp và đảm bảo tiến độ với cam kết của nhà tài trợ nhưng cũng phải phù hợp với thực tế của tỉnh, tránh tình trạng cứ cam kết nhưng đến khi thực hiện lại vượt quá khả năng của địa phương. - Phải tuân thủ cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước hiện hành và các Ban quản lý Dự án có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn đúng mục đích và có hiệu quả. Việc bố trí vốn đối ứng đầy đủ vừa đảm bảo cho việc triển khai dự án đúng tiến độ, vừa đảm bảo sự cam kết chặt chẽ của chính quyền địa phương đối với việc tiếp nhận chương trình, dự án. 3.2.4. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của Ban Quản lý dự án Các Ban quản lý dự án tại tỉnh Quảng Bình hiện nay là cơ quan được cơ quan chủ quản dự án giao quản lý và thực hiện dự án. Ban quản lý dự án là cơ quan trực tiếp quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA để triển khai các hoạt động của dự án. Trên thực tế, hầu hết các Ban Quản lý dự án trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng làm việc với phương thức kiêm nhiệm, với nguồn kinh phí hạn hẹp do dự án trích ra hoặc do ngân sách Nhà nước, hoạt động của các Ban Quản lý dự án kém hiệu quả. Để nâng cao năng lực sử dụng vốn ODA ở các Ban Quản lý dự án trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, cần thực hiện các biện pháp sau: - Gắn trách nhiệm của Ban Quản lý dự án với chất lượng và tiến độ của dự án. Để tạo động lực khuyến khích cũng như gắn trách nhiệm của Ban Quản lý dự án vào hoạt động của dự án đang triển khai cần phải có chế độ thưởng phạt rõ
  • 110. 99 ràng, cụ thể là dựa trên cơ sở khối lượng công việc và chất lượng công việc được giao cần có những khen thưởng và khiển trách nếu thư không thực hiện đúng như kế hoạch. Điều này đảm bảo tiến độ của dự án được thực hiện theo kế hoạch đề ra và đảm bảo hiệu qủa sử dụng vốn của dự án. - Xây dựng quy chế quản lý và hoạt động của Ban Quản lý dự án phù hợp Ngay sau khi Ban Quản lý dự án thành lập, cần phải xây dựng quy chế hoạt động phù hợp với đặc điểm của dự án, yêu cầu của nhà tài trợ và quy định của Luật pháp Việt Nam hiện hành. Quy chế này cần phải nêu rõ chức năng và nhiệm vụ của Ban quản lý Dự án, quy định nhiệm vụ cụ thể của từng chức danh trong Ban Quản lý dự án, cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cán bộ, các phòng ban trong ban…Việc xây dựng quy chế này hết sức quan trọng đối với hoạt động của dự án, là cẩm nang, là kim chỉ nam trong điều hành các hoạt động của dự án. Xây dựng hệ thống biểu mẫu cụ thể hóa cho các công việc trong dự án, từ công việc hành chính như quy trình tuyển dụng nhân sự, hợp đồng lao động, bản mô tả công việc cho từng vị trí, nguyên tắc lưu trữ thông tin; đến các quy định về tài chính như mức tiền lương cho từng vị trí, công tác phí, chứng từ, thủ tục thanh toán…; quy định về chế độ báo cáo chuyên môn và tài chính. - Tăng cường công tác lập kế hoạch hoạt động, ngân sách hàng năm Thực tế hiện nay, công tác lập kế hoạch ngân sách hàng năm của các Dự án chủ yếu dựa trên tình hình thực hiện của năm trước và ước tính nhu cầu thực hiện của năm sau, không được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của người ưởng lợi, ước tính các hoạt động cụ thể của dự án; dẫn đến phát sinh "khoản thừa, khoản thiếu", một số hoạt động cần thiết không có ngân sách để thực hiện, một số hoạt động có ngân sách nhưng không giải ngân được. Chính vì vậy, các Ban Quản lý Dự án phải chủ động xây dựng kế hoạch hàng năm của dự án mình dựa trên cơ sở các hoạt động nhu cầu thực tế của người hưởng lợi, thiết kế các hoạt động phù hợp với tình hình thực tế, xuất phát
  • 111. 100 từ chính cộng đồng, người dân. Kế hoạch ngân sách của các dự án cũng phải linh động để có thể điều chỉnh trong quá trình thực tiễn dự án. - Nâng cao năng lực của Giám đốc Ban Quản lý dự án Việc Bổ nhiệm Giám đốc dự án phải được xem xét kỹ càng, minh bạch bởi Giám đốc dự án là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của các dự án. Do đó, Giám đốc dự án phải là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực dự án thực hiện, có kinh nghiệm về chuyên môn, có kinh nghiệm về quản lý tài chính; hạn chế việc bố trí kiêm nhiệm chức danh Giám đốc cũng như các chức danh khác trong các dự án để tập trung sức lực và thời gian giải quyết tốt các công việc của dự án, đảm bảo dự án triển khai đúng tiến độ. 3.2.5. Thực hiện phân công, phối hợp và phân định trách nhiệm quản lý cho các cơ quan quản lý dự án Công tác quản lý các chương trình, dự án ODA nói chung hay dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng không đơn giản chỉ một bộ phận hay một sở, ban, ngành nào có thể làm được mà cần phải có sự phối hợp đồng bộ từ Bộ, sở, ban, ngành, các địa phương và cả Ban Quản lý dự án. Để thực hiện tốt điều này, tỉnh cần phân công, phối hợp và xác định trách nhiệm rành mạch cho các cơ quan thực thi. Công cụ cần thiết là xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá dự án ở tất cả các cấp quản lý. - Xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá dự án ở tất cả các cấp quản lý Trên thực tế, hầu hết các dữ liệu về dự án ODA như văn kiện dự án, số tiền dự án, thời gian thực hiện, kết quả thực hiện, bài học kinh nghiệm,…chỉ được lưu tại các Ban Quản lý dự án, tại Sở Kế hoạch và Đầu tư không có đầy đủ mà chỉ có được báo cáo hàng năm do các dự án gửi lên, trong đó chỉ nêu những thông tin chung chung, chưa nêu chi tiết, cụ thể các hoạt động cũng như các vướng mắc cần phải giải quyết. Do đó, trong thời gian tới, Sở Kế hoạch và Đầu
  • 112. 101 tư, là cơ quan đầu mối theo dõi việc triển khai các dự án ODA nói chung hay các dự an ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng trên địa bàn tỉnh cần phải phối hợp với các cơ quan chuyên trách của mỗi dự án để có được thông tin thống nhất về thực trạng triển khai các dự án, các vướng mắc và phát sinh cần phải giải quyết; từ đó xây dựng hệ thống dữ liệu và đánh giá mang tính thống nhất cho tất cả các dự án ODA, đảm bảo đầy đủ các thông tin như: tên dự án, mục tiêu hoạt động, số tiền tài trợ, nhà tài trợ, thời gian thực hiện, kế hoạch giải ngân, kế hoạch vốn đối ứng, các hoạt động cụ thể theo thời gian, các chỉ tiêu cụ thể theo từng hoạt động, các chỉ số đánh giá theo từng chỉ tiêu, hoạt động của nhà tư vấn, hoạt động của nhà thầu, tác động của dự án đến kinh tế, xã hôi, môi trường,… - Tăng cường quản lý, giám sát tài chính, kế toán tại các Ban Quản lý dự án Cũng như ở Trung ương, Bộ Tài chính là cơ quan theo dõi, quản lý, giám sát các hoạt động tài chính, kế toán trong việc sử dụng nguồn vốn ODA. Ở tỉnh, UBND tỉnh đã giao cho Sở Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn, quản lý về mặt tài chính đối với các dự án ODA. Tuy nhiên, do đặc thù của các dự án ODA nói chung, dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng là phụ thuộc vào nhà tài trợ, nên công tác quản lý tài chính đối với các Ban quản lý dự án tại tỉnh là chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Hàng năm, Sở Tài chính chỉ tham gia xét duyệt kế hoạch ngân sách hoạt động hàng năm của dự án mà chưa có kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với các dự án ODA. Theo quy định, Sở Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn về mặt tài chính cho các dự án, tuy nhiên, hầu hết các dự án đều tự xây dựng cơ chế, quy chế tài chính riêng cho mình theo yêu cầu của nhà tài trợ, không tham vấn ý kiến của Sở Tài chính, sau đó, trình qua Sở Tài chính để UBND tỉnh phê duyệt. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn khó xác định và dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí. Để khắc phục tình trạng trên, Sở Tài chính cần tăng cường kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ đối với việc thực hiện công tác tài chính, kế toán của các Ban Quản lý Dự án, để từ đó, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với công tác tài chính, kế toán của các dự án, phát hiện ra các
  • 113. 102 sai phạm, có thể đề xuất các phương án xử lý kịp thời; Xây dựng quy trình chuẩn hướng dẫn các Ban Quản lý dự án việc xây dựng chế độ tài chính cho các Dự án dựa trên yêu cầu của từng nhà tài trợ, quy định của Bộ Tài chính và các yêu cầu của Ủy ban nhân dân tỉnh để các Ban Quản lý dự án có căn cứ, cơ sở xây dựng quy chế tài chính cho dự án mình; Tiến hành kiểm toán độc lập định kỳ các dự án. - Tăng cường công tác chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Dự án Hầu hết các dự án ODA đều thành lập Ban Chỉ đạo Dự án với thành phần là đại diện lãnh đạo các cơ quan liên quan nhằm tạo điều kiện hỗ trợ Dự án trong các lĩnh vực cụ thể; tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động của Ban chỉ đạo Dự án trong thời gian qua hầu chỉ mang tính hình thức, chủ yếu chỉ đạo trên giấy tờ, không mang tính sát sao nên dẫn đến không hiệu quả. Hoạt động phối hợp của các cơ quan liên quan đến dự án thông qua hoạt động của Ban chỉ đạo dự án, thành phần là lãnh đạo các Sở, ban, ngành liên quan đến việc thực hiện dự án chủ yếu mang tính hình thức, chỉ tham gia vào các cuộc họp tổng kết hàng năm hay thông qua ngân sách hàng năm mà chưa tham gia trực tiếp vào việc chỉ đạo thực hiện dự án, chính vì thể, trong quá trình thực hiện dự án, nếu cần sự giúp đỡ của ngành nào cũng vẫn gặp một số khó khăn. Do đó, trong thời gian tới, tỉnh cần chú trọng mạnh hơn nữa việc tham gia vào dự án của các thành viên trong Ban chỉ đạo dự án để có những chỉ đạo, hỗ trợ cần thiết trong quá trình thực hiện dự án. - Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã Hiện nay, cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các cấp chưa thực sự thực hiện tốt, nhiều dự án có tình trạng là các văn bản, hướng dẫn của Ban Quản lý dự án xuống đến cấp huyện, cấp xã nhiều khi không có tác dụng mà phải là văn bản của UBND tỉnh, hoặc của các Sở, ngành chuyên môn thì việc thực hiện các nội dung này mới được tiến hành. Bên cạnh đó, còn có hiện tượng là các dự án thiết kế hệ thống từ cấp tỉnh xuống thẳng cấp xã, không qua chính quyền
  • 114. 103 huyện, khi Ban quản lý dự án cấp tỉnh triển khai các nội dung xuống xã thì cấp xã không thực hiện vì xã chỉ chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ chính quyền huyện; các tình trạng này dẫn đến việc triển khai mất nhiều thời gian, chậm tiến độ của dự án. Do đó, việc thiết lập cơ chế trao đổi thông tin 02 chiều giữa UBND tỉnh, các sở, ban, ngành liên quan với Ban Quản lý Dự án cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện, cấp xã thực hiện dự án sẽ tạo điều kiện cho dự án thực hiện một cách suôn sẻ, giảm bớt các phát sinh trong quá trình thực hiện dự án, huy động được các nguồn lực của địa phương trong quá trình thực hiện dự án. - Xác định và nâng cao trách nhiệm thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Sở Kế hoạch và Đầu tư với vai trò là cơ quan đầu mối trong thu hút, vận động và theo dõi các chương trình, dự án ODA nói chung và các dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; cần phải xây dựng các kế hoạch phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên trách của mỗi dự án để có các thông tin thống nhất và cần thiết về thực trạng triển khai dự án, các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình đó để có biện pháp phối hợp giải quyết và tháo gỡ triệt để. Sau khi hoàn thành các chương trình, dự án ODA, trên cơ sở báo cáo về quá trình, kết quả thực hiện dự án, tính hiệu quả mà các chương trình, dự án mang lại, UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chủ dự án, Ban Quản lý dự án và Nhà tài trợ cần thiết cùng nhau tiến hành đánh giá tổng thể lại dự án để thấy được những thuận lợi, thành công và những hạn chế của mỗi dự án, để từ đó, rút kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo. Việc đánh giá phải dựa trên việc phân tích, so sánh các số liệu, chỉ tiêu, thời gian thực hiện thực tế của các chương trình, dự án so với kế hoạch ban đầu của dự án. 3.2.6. Đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ xúc tiến đầu tư, quản lý và thực hiện các dự án ODA hợp lý
  • 115. 104 Con người được coi là yếu tố có vai trò quan trọng và quyết định đến kết quả, hiệu quả của công tác vận động thu hút, quản lý sử dụng vốn ODA nói chung hay nguồn vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Trong thời gian qua lực lượng cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Bình đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chất lượng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Trong những năm tiếp theo tỉnh Quảng Bình cần có những chính sách thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn, có kỹ năng nghiệp vụ làm công tác đối ngoại, quản lý thực hiện các chương trình dự án ODA nói chung dự án ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nói riêng. Các chính sách thu hút có thể được áp dụng như hỗ trợ chế độ thu hút cán bộ, bố trí công việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo, chế độ lương bổng thích hợp, phân cấp đất, nhà… Việc thu hút nguồn nhân lực có chất lượng đến với tỉnh Quảng Bình phải được thực hiện theo hai hướng. Một mặt có những chính sách tăng cường thu hút nhân lực từ bên ngoài đến với tỉnh, mặt khác tận dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo tại địa phương. Xét về dài hạn thì việc huy động nguồn nhân lực đã qua đào tạo tại địa phương sẽ có nhiều lợi thế hơn do chi phí thực hiện chính sách thấp hơn, hiệu quả của chính sách thu hút sẽ cao do là người địa phương nên các cán bộ sẽ nắm rõ tình hình thực tế tại địa phương, các giải pháp đưa ra cũng sẽ thực tế và mang tính khả dụng hơn. Nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò của những chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý đến từ các địa phương khác. Việc sử dụng kết hợp, hài hòa giữa nguồn nhân lực địa phương và bên ngoài sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Bên cạnh việc có chính sách thu hút nguồn nhân lực, tỉnh Quảng Bình cần tăng cường công tác đào tạo cán bộ làm công tác đối ngoại có trình độ chuyên môn về kinh tế, về quản lý, có trình độ ngoại ngữ tin học, có đầy đủ bản lĩnh và năng lực sẵn sàng hợp tác và làm việc trong các chương trình, dự án ODA. Quảng Bình cần có nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác đào tạo cán bộ, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
  • 116. 105 Công tác đào tạo phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ công tác đào tạo. - Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về ODA: Tạo điều kiện cho các cán bộ làm công tác đối ngoại, quản lý ODA trên địa bàn học tập, tiếp thu công nghệ tiên tiến, hiện đại, các kỹ thuật quản lý dự án của các nước và nhà tài trợ; từ đó, xây dựng đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học, kỹ năng chia sẻ và làm việc nhóm để có thể làm việc với nhà tài trợ, quản lý, theo dõi được việc thực hiện của các dự án. - Đối với cơ quan thực hiện dự án ODA: Củng cố lại các Ban quản lý dự án về cơ cấu tổ chức cũng như bổ sung các cán bộ có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong việc thực hiện Dự án; xây dựng quy chế hoạt động của từng Ban Quản lý Dự án, phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cấp, các ngành và liên đới trách nhiệm cho các cơ quan liên quan; xác định rõ mối quan hệ, nội dung và trách nhiệm của từng chức danh trong bộ máy Ban Quản lý dự án trong từng giai đoạn của Dự án; thực hiện đánh giá giữa kỳ chất lượng cán bộ dự án để kịp thời thay đổi, bổ sung cán bộ đủ năng lực cho dự án. Để giữ chân các cán bộ dự án, cần có chế độ đãi ngộ thích đáng như tăng hệ số tiền lương cho cán bộ dự án và hướng bố trí, sử dụng số cán bộ dự án này sau khi dự án kết thúc. Hàng năm, tỉnh bố trí cho các cán bộ của tỉnh cũng như các Giám đốc dự án đi bồi dưỡng, nâng cao kiến thức quản lý, cập nhật các thông tin, tình hình mới từ Chính phủ và nhà tài trợ để phục vụ tốt công tác quản lý và điều hành dự án. Song song với quá trình thu hút, đào tạo thì tỉnh cũng cần xây dựng quy hoạch, bố trí sử dụng cán bộ đã qua đào tạo, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý một cách phù hợp và khoa học, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Thời gian qua việc không được bố trí hoặc bố trí công việc không phù hợp đã làm giảm hiệu quả của những chính sách thu hút, đào tạo nguồn nhân lực gây lãng phí. Bên cạnh đó việc thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn tham gia vào quá
  • 117. 106 trình quản lý, sử dụng vốn ODA cũng đã làm giảm hiệu quả của nguồn vốn này đối với sự phát triển của địa phương. 3.2.7. Xây dựng chính sách hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Đổi mới hình thức và phương pháp tuyên truyền vận động, sử dụng tổng hợp, đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, phát huy sức mạnh của các cơ quan thông tin đại chúng, ưu thế vận động trực tiếp của các tổ chức chính trị - xã hội để tuyên truyền về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, kết hợp giữa tuyên truyền, vận động và đối thoại trực tiếp. Báo Quảng Bình, Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình dành thời lượng phát sóng tuyên truyền về công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Chính quyền các cấp, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, phân công, phân nhiệm cụ thể trong việc tổ chức thực hiện; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có đủ kiến thức cần thiết về pháp luật, làm nòng cốt trong công tác tuyên truyền, thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng. Xây dựng các cơ chế về chính sách hỗ trợ bồi thường một cách phù hợp và đúng pháp luật như về đơn giá bồi thường: đất nông nghiệp, đất ở,... quy định từng mức giá khác nhau; hỗ trợ nghề hướng nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất; hỗ trợ về chính sách, cơ chế tái định cư, khuyến khích các hộ nhận tiền bồi thường đất, nhận khoản hỗ trợ tự lo chỗ ở, mua nhà mới đối với từng hộ dân... Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đảm bảo nhu cầu giải phóng mặt bằng đồng bộ từ đó thúc đẩy tiến trình thực hiện dự án; và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng nhằm kịp thời nắm bắt và bổ sung những bất cập, không phù hợp với thực tiễn; đẩy mạnh phân cấp cho cấp huyện gắn với việc tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra của các ngành chức năng nhằm phát huy được tính chủ động của cấp huyện, đồng thời đảm bảo cơ chế, chính sách được áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh
  • 118. 107 Quảng Bình, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình, dự án ODA trên địa bàn tỉnh. 3.3. Kiến nghị với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương 3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ - Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế, chính sách về ODA Trong giai đoạn 2006 - 2015, Quốc hội và Chính phủ ban hành khá nhiều văn bản có liên quan đến ODA như “Luật Đầu tư”, “Luật Đấu thầu”, “Luật Xây dựng” và các “Nghị định về quản lý và sử dụng ODA”. Tuy nhiên, các quy định pháp lý về ODA chưa đồng bộ, tính pháp lý chưa cao. Ngày 16/3/2016, Chính phủ ban hành “Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lý sử dụng ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ”, thay thế “Nghị đinh 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013”. Nghị định 16 có hiệu lực từ ngày 02/5/2016. Nghị định 16 đưa ra những quy định để xây dựng một quy trình hoàn chỉnh từ khâu tiếp nhận, quản lý, sử dụng đến giám sát, đánh giá vốn ODA, giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính cho cơ quan chủ quản, đẩy mạnh phân cấp, tinh giản thủ tục, quy trình nhằm hài hòa với nhà tài trợ và đồng bộ các văn bản pháp quy hiện hành, đặc biệt là “Luật Đầu tư”, “Luật Đầu tư công” và “Luật Đấu thầu”. Trên cơ sở Nghị định mới ban hành và những vấn đề đang tồn tại trong hệ thống pháp quy về quản lý và sử dụng vốn ODA, Chính phủ chỉ đạo Bộ, ngành rà soát lại các văn bản ban hành để loại bỏ những văn bản lạc hậu, bổ sung, hoàn thiện những văn bản có hiệu lực và ban hành các văn bản mới nếu thấy cần thiết theo hướng giảm bớt các thủ tục hành chính, quy định rõ trách nhiệm của từng Bộ, ngành, địa phương và từng cấp tham gia. - Hoàn thiện và công bố quy hoạch tổng thể về chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA giai đoạn 2016 - 2020 và những năm sau đó Việc ban hành quy hoạch tổng thể về chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA tạo điều kiện để hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ODA của Việt Nam có hiệu quả.Trước hết, quy hoạch tổng thể là căn cứ đáng tin cậy thể hiện nhu cầu
  • 119. 108 về nguồn vốn ODA của Việt Nam để các nhà tài trợ có được căn cứ xem xét tính hợp lý, tính hiệu quả và khả năng hoàn vốn của Việt Nam để quyết định xem có nên tài trợ hay không.Quy hoạch tổng thể cũng là căn cứ quan trọng để kiểm tra hiệu quả quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA đã đúng tiến độ, phù hợp với thực tế và đảm bảo chất lượng sử dụng vốn ODA hay không. Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý Nhà nước về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA.Quy hoạch tổng thể là cơ sở và tiền đề cần thiết để địa phương có được định hướng cụ thể để xây dựng kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA phù hợp của các ngành và địa phương, tăng tính chủ động trong việc vận động và sử dụng nguồn vốn này của ngành và địa phương. - Đẩy mạnh hơn tiến trình hài hòa thủ tục với nhà tài trợ Hài hòa thủ tục với nhà tài trợ là việc đi tìm sự phù hợp, thống nhất giữa các bên (Chính phủ, nhà tài trợ và đơn vị thực hiện) trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án ODA. Hiện nay, đã có 51 nhà tài trợ song phương và đa phương và hơn 600 NGOs hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Mỗi nhà tài trợ đều có chính sách và quy định tài trợ khác nhau. Nếu Chính phủ không tiến hành hài hòa các quy trình và thủ tục thì việc thực hiện dự án gặp rất nhiều khó khăn. Hài hòa quy trình và thủ tục làm thay đổi một số quy định pháp lý giữa Chính phủ và nhà tài trợ, do đó cần được tiến hành từng bước với nội dung và phạm vi phù hợp. Thủ tục của Việt Nam và các nhà tài trợ đều tương đối phức tạp, qua nhiều bước khác nhau và có những đặc điểm riêng. Không thể hài hòa hoàn toàn các thủ tục bởi các nhà tài trợ thường chung các quy trình, thủ tục cho tất cả các nước nhận viện trợ và Việt Nam cũng áp dụng thủ tục đối với các nguồn tài trợ khác nhau. Vì vậy, sự hài hòa chỉ có thể thực hiện ở một số phương diện nhất định và trong thực hiện hài hòa quy trình và thủ tục, nên lựa chọn những công việc có tính khả thi cao và có ảnh hưởng lớn đến thực hiện dự án ODA như hài
  • 120. 109 hòa về kết cấu nội dung và hình thức văn kiện dự án, quy trình và thủ tục đấu thầu, hệ thống biểu mẫu báo cáo định kỳ về tiến độ thực hiện dự án... Để công tác hài hòa quy trình và thủ tục với các nhà tài trợ diễn ra có hiệu quả, những nguyên tắc sau cần được thực hiện: (i) Chính phủ cần có kế hoạch, chiến lược cụ thể, xây dựng các khung làm cơ sở tiến hành các hoạt động hài hòa, (ii) Các quan niệm về hài hòa quy trình và thủ tục cần được chia sẻ và đạt được nhận thức chung giữa Chính phủ và nhà tài trợ, (iii) Hài hòa quy trình và thủ tục có thể được tiến hành giữa Chính phủ và nhà tài trợ song phương hoặc giữa Chính phủ với một nhóm các nhà tài trợ. Trong tiến trình hài hòa thủ tục với nhà tài trợ, Chính phủ cần chỉ đạo Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao tăng cường đối thoại với các nhà tài trợ, làm “cầu nối” giữa Chính phủ và nhà tài trợ để thực hiện việc hài hòa thủ tục nhằm tạo điều kiện cho các dự án ODA được triển khai ngày một thuận lợi. Hằng năm, thực hiện tổ chức các cuộc “Hội nghị vận động vốn”, “Hội nghị nhóm tư vấn giữa kỳ” với sự tham gia của các các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, các cơ quan chủ quản, BQLDA để lắng nge ý kiến, kiến nghị của các bên thông qua trao đổi thông tin hai chiều; tạo điều kiện để chủ đầu tư và các BQLDA nêu lên khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án, trên cơ sở đó, lấy ý kiến, phối hợp, chia sẻ thông tin với các nhà tài trợ; từ đó, các bất đồng quan điểm về mặt thủ tục từng bước được tháo gỡ. 3.3.2. Kiến nghị với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ địa phương trong việc phát triển quan hệ đối tác cung cấp ODA Bộ KH&ĐT với tư cách là cơ quan đầu mối đảm nhận công tác vận động, thu hút và điều phối nguồn vốn ODA phải tăng cường vai trò cầu nối giữa các địa phương với các nhà tài trợ, nhất là các địa phương không thuộc các vùng kinh tế trọng điểm, có điều kiện khó khăn như tỉnh Quảng Bình. Bộ KH&ĐT cần giúp địa phương xây dựng, củng cố và mở rộng các quan hệ đối tác viện trợ, Bộ cần tích cực giới thiệu, hỗ trợ địa phương làm quen, tiếp cận và thiết lập mối
  • 121. 110 quan hệ với các nhà tài trợ tiềm năng và có chính sách viện trợ tương đồng với những ưu tiên phát triển của địa phương; đẩy mạnh cung cấp các thông tin về chiến lược, đặc điểm, nguyên tắc và định hướng ưu tiên cung cấp ODA của từng nhà tài trợ trong từng thời kỳ nhằm tạo điều kiện cho địa phương phát huy được vai trò chủ động trong vận động, thu hút ODA, đồng thời nâng cao năng lực huy động vốn theo nhu cầu thực tế của địa phương. 3.3.3. Kiến nghị với Bộ Tài chính về việc ban hành “Cẩm nang hướng dẫn tài chính đối với từng nhà tài trợ” Hiện nay, mỗi nhà tài trợ có mỗi cuốn cẩm nang hướng dẫn tài chính riêng và mỗi dự án đều căn cứ vào cẩm nang hướng dẫn đó xây dựng quy chế tài chính phù hợp với yêu cầu của nhà tài trợ và Bộ Tài chính. Công việc này thường mất nhiều thời gian và chi phí. Do đó, Bộ Tài chính cần tiến hành xây dựng và ban hành cẩm nang chung hướng dẫn về tài chính đối với việc thực hiện các chương trình, dự án ODA, trong đó nêu rõ quy định của từng nhà tài trợ đối với quy chế tài chính - giải ngân cho từng hạng mục công việc. Cẩm nang này là căn cứ cho đơn vị tiếp nhận triển khai thực hiện dự án theo đúng các yêu cầu và quy định về tài chính của Chính phủ Việt Nam và nhà tài trợ. 3.3.4. Kiến nghị với Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây Dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ưu tiên phân bổ nguồn vốn ODA cho lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng tại tỉnh Quảng Bình Trong giai đoạn 2011-2016, trên địa bàn tỉnh có 16 dự án ODA về đầu tư cơ sở hạ tầng đang được triển khai. Tuy nhiên, trong số 16 dự án đang được triển khai đó chỉ có 03 dự án là do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ dự án, các dự án này chỉ là các dự án nhỏ lẻ có vốn đầu tư thấp. Trong thời gian tới Tỉnh mong muốn Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quan tâm, ưu tiên, tạo điều kiện của các Bộ cho tỉnh được tham gia vào các chương trình, dự án do Bộ quản lý nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực
  • 122. 111 đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của tỉnh đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
  • 123. 112 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 Trên cơ sở thực trạng QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, luận văn đưa ra các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Trọng tâm của chương 3 là các giải pháp nhằm giải quyết những yếu kém, hạn chế trong công tác QLNN đối với các dự án đầu tư xây dựng CSHT sử dụng vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình những năm gần đây, hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án này. Các giải pháp cụ thể bao gồm: Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức đúng đắn về nguồn vốn ODA và trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn ODA trong đầu tư cơ sở hạ tầng; Xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút, quản lý và và sử dụng nguồn vốn ODA có tính khoa học, khả thi; Bố trí vốn đối ứng cho từng dự án theo kế hoạch; Nâng cao năng lực và trách nhiệm của Ban Quản lý dự án; Thực hiện phân công, phối hợp và phân định trách nhiệm quản lý cho các cơ quan quản lý dự án; Đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ xúc tiến đầu tư, quản lý và thực hiện các dự án ODA hợp lý; Xây dựng chính sách hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án. Ngoài ra, ở mức độ cụ thể, luận văn đã đưa ra một số kiến nghị đối với Chính Phủ và các Bộ, ngành Trung Ương, góp phần nâng cao hoạt động QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA.
  • 124. 113 KẾT LUẬN Những năm qua, các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA đã đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung và kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình nói riêng. Các công trình cơ sở hạ tầng, giao thông hoàn thành bằng nguồn vốn ODA đã góp phần hoàn thiện hệ thống hạ tầng của tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân. Từ những phân tích trong bài viết, chúng ta đã có cái nhìn bao quát hơn về thực trạng QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình. Đồng thời cũng chỉ ra được phần nào những thành tựu, kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quá trình QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại Quảng Bình. Trên cơ sở đó còn chỉ ra những nguyên nhân gây nên hạn chế và những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình. Tác giả tin tưởng, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và sự nỗ lực của chính quyền, nhân dân địa phương, trong thời gian tới, hoạt động QLNN đối với các dự án đầu tư CSHT bằng nguồn vốn ODA tại tỉnh Quảng Bình sẽ đạt được những thành tựu lớn hơn nữa, góp phần to lớn hơn nữa vào sự nghiệp phát triển của địa phương.
  • 125. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ KH & ĐT (2014), Báo cáo về tổng quan công tác vận động, thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi thời kỳ 1993-2014 và định hướng trong thời gian tới. 2. Bộ Tài chính (2014), Số liệu công khai ngân sách Nhà nước, http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583. 3. Chính phủ (2016), Nghị định 16/2016/NĐ-CP Ngày 16/03/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài. 4. Chính phủ (2015), Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng. 5. Chính phủ (2013), Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/04/2013 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ. 6. Chính phủ (2006), Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức. 7. Hà Thị Ngọc Oanh (2000), Hỗ trợ phát triển chính thức - ODA những hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. 8. Quốc hội (2014), Số: 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014, Luật Xây dựng. 10. Quốc hội (2014), Số: 49/2014/QH13 ngày 18/06/2014, Luật Đầu tư công 9. Quốc hội (2013), Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc Hội nước CHXH CN Việt Nam. 10. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28/11/2013 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 11. Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Bình, Báo cáo tình hình vận động và thực hiện chương trình, dự án ODA tại tỉnh Quảng Bình ( 2011, 2012, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016).
  • 126. 12. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 952/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2011 phê duyệt Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình đến năm 2020. 13. Lưu Ngọc Trịnh (2002), Vốn vay ưu đãi ở Việt Nam những năm gần đây thực trạng vấn đề và giải pháp - Trường hợp Nhật Bản, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. 14. TS.Trịnh Ngọc Tuấn (2015), Kết quả thu hút và sử dụng vốn ODA giai đoạn 2006-2015: Thực trạng và một vài kiến nghị, đề xuất, Vụ Kinh tế, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội. 15. Ủy ban Kinh tế Trung ương (2015), Báo cáo đánh giá 20 năm huy động và sử dụng ODA của Việt Nam. 16. UBND tỉnh Quảng Bình (2010), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình giai thời kỳ 2011 – 2020. 17. UBND tỉnh Quảng Bình (2015), Báo cáo tình hình thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2011-2015; định hướng thu hút nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2016-2020 của tỉnh Quảng Bình 11/06/2015 18. UBND tỉnh Quảng Bình (2015), Quyết định số 540/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình đến năm 2020.