UỶ BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH
CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
(GIAI ĐOẠN 2011 – 2014)
Mã số đề tài: SV2014 – 16
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội
Chủ nhiệm đề tài: HUỲNH THIỆU PHONG
Thành viên tham gia: LÊ TRUNG KIÊN
Giáo viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH
Tp. Hồ Chí Minh, 8/2015
UỶ BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH
CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
(GIAI ĐOẠN 2011 – 2014)
Mã số đề tài: SV2014 – 16
Xác nhận của Khoa
(ký, họ tên)
Giáo viên hướng dẫn
(ký, họ tên)
Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên)
TS. HOÀNG THÚY HÀ TS. NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH HUỲNH THIỆU PHONG
Tp. Hồ Chí Minh, 8/2015
LỜI CAM ĐOAN
Nhóm tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
chúng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong công trình là
trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 8 năm 2015
Thay mặt nhóm tác giả đề tài
Chủ nhiệm đề tài
Huỳnh Thiệu Phong
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động không thể thiếu của sinh viên. Bên cạnh
việc tiếp thu kiến thức chuyên ngành thì đây được xem như một phương pháp học tập
hiệu quả. Ban lãnh đạo trường Đại học Sài Gòn, Ban lãnh đạo khoa Quan hệ Quốc tế
đã có những hoạt động thiết thực trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học
trong sinh viên. Đối với nhóm tác giả đề tài, chúng tôi may mắn nhận được sự cổ vũ,
ủng hộ hết mình của tập thể giảng viên khoa Quan hệ Quốc tế. Đó chính là nguồn
động lực lớn lao để chúng tôi hoàn thành công trình này.
Do vậy, với sự biết ơn sâu sắc nhất của mình, nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn
chân thành nhất của mình đến:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Sài Gòn, Ban lãnh đạo khoa Quan hệ Quốc tế
đã tạo mọi điều kiện cho nhóm tác giả có cơ hội thực hiện niềm đam mê nghiên cứu
khoa học của mình.
Mặt khác, tác giả cũng vô cùng biết ơn sự giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Nguyễn
Đăng Khánh – giảng viên của khoa Quan hệ Quốc tế, đồng thời cũng là người hướng
dẫn khoa học của tôi. Thầy đã tận tinh chỉ bảo, cung cấp những kiến thức khoa học bổ
ích, định hướng và hỗ trợ hết mình cho chúng tôi để có thể hoàn thành công trình này.
Ngoài ra, nhóm tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các tác giả của các công
trình mà tôi có sử dụng dùng làm nguồn tài liệu tham khảo để hoàn thành đề tài này.
Cuối cùng, nhóm tác giả xin bày tỏ sự biết ơn của mình đến với tất cả bạn bè,
người thân và quý thầy cô trong khoa Quan hệ Quốc tế đã ủng hộ, động viên nhóm
trong suốt thời gian nghiên cứu.
Cuối cùng, với khả năng và trình độ là hữu hạn, chúng tôi rất mong nhận được
những đóng góp của Hội đồng Khoa học, độc giả về nội dung, phương pháp nghiên
cứu đề tài để chúng tôi có thể rút kinh nghiệm và hoàn thiện đề tài tốt hơn.
Chú nhiệm đề tài
Huỳnh Thiệu Phong
MỤC LỤC
Trang
DẪN NHẬP …………………………………………………………………………1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH CÁC NHU CẦU
LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT
NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
1.1. Một số vấn đề liên quan .................................................................................. 7
1.1.1. Nhu cầu du lịch và động cơ du lịch ................................................................ 7
1.1.2. Loại hình du lịch ............................................................................................. 13
1.1.3. Sản phẩm du lịch ............................................................................................ 18
1.2. Đặc điểm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học ....................................... 23
1.2.1. Khái quát chung .............................................................................................. 23
1.2.2. Đặc điểm của chương trình đào tạo ................................................................ 27
1.2.3. Sinh viên ngành Việt Nam học Đại học Sài Gòn ........................................... 31
1.3. Xác định nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam học
......................................................................................................................... 32
1.3.1. Về giá cả ......................................................................................................... 32
1.3.2. Về chương trình du lịch................................................................................... 33
1.3.3. Về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ sung
khác ................................................................................................................. 33
1.3.4. Về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành .............................. 33
Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................... 34
Chương 2: KHẢO SÁT VIỆC LỰA CHỌN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA
SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
2.1. Xác định một số vấn đề liên quan đến việc khảo sát ...................................... 35
2.1.1. Đối tượng khảo sát ......................................................................................... 35
2.1.2. Nội dung khảo sát .......................................................................................... 36
2.2. Kết quả điều tra – phân tích và đánh giá ........................................................ 37
2.2.1. Kết quả điều tra ............................................................................................. 37
2.2.2. Phân tích và đánh giá .................................................................................... 38
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 69
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THIẾT KẾ CÁC SẢN PHẨM DU
LỊCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
3.1. Cơ sở của sự định hướng: Đánh giá việc lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên
bằng mô hình TOWS.................................................................................................. 70
3.2. Những định hướng và đề xuất giải pháp cụ thể trong việc thiết kế các sản phẩm du
lịch cho sinh viên........................................................................................................ 73
3.2.1. Định hướng thiết kế các sản phẩm du lịch ....................................................... 73
3.2.2. Đề xuất một số giải pháp trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu
cầu của sinh viên ngành Việt Nam học ...................................................................... 81
3.3. Thử nghiệm thiết kế một số sản phẩm du lịch cho sinh viên ngành Việt Nam học
............. ...................................................................................................................... 84
3.3.1. Quy trình thiết kế ............................................................................................. 84
3.3.2. Xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp cho các nhóm đối tượng sinh viên
ngành Việt Nam học .................................................................................................. 85
3.3.3. Ứng dụng thử nghiệm thiết kế một số khung chương trình du lịch ................ 94
Tiểu kết chương 3 .................................................................................................... 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................. 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 102
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 105
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
“NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH
CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
(GIAI ĐOẠN 2011 – 2014)”
Mã số: SV2014 – 16
1. Vấn đề nghiên cứu (vấn đề, tính cấp thiết)
Với sự phát triển của xã hội thì du lịch là một hoạt động thiết yếu để giúp con người
cân bằng với cuộc sống. Sinh viên ngành Việt Nam học là nguồn nhân lực trong ngành
du lịch trong tương lai. Nhu cầu được trải nghiệm với thực tế nghề nghiệp là quan
trọng và cần thiết.
Trong những năm qua, sinh viên ngành Việt Nam học đã có cơ hội cọ sát, trải
nghiệm với nghề nghiệp thông qua các chương trình học tập thực tế, ngoại khóa.
Nhằm mục đích khảo sát nhận định, đánh giá của sinh viên về chất lượng của các sản
phẩm du lịch đó, qua đó đề xuất giải pháp thiết kế những sản phẩm du lịch phù hợp
cho sinh viên, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này để thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, xây dựng
những sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học.
3. Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng, giải pháp trong việc thiết
kế các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả sử dụng đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu trong đề tài
này. Trong đó, các phương pháp mà chúng tôi sử dụng chủ đạo bao gồm: Phương pháp
thu thập và xử lý tài liệu (chương 1); phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp
định tính và định lượng (chương 2); phương pháp TOWS (chương 3); …
5. Kết quả nghiên cứu (ý nghĩa của các kết quả) và các sản phẩm (Bài báo khoa
học, phần mềm máy tính, quy trình công nghệ, mẫu, sáng chế, …) (nếu có)
Đề tài góp phần nhận diện những nhu cầu đặc thù của sinh viên trong vấn đề
đánh giá, lựa chọn sản phẩm du lịch thông qua phương pháp khảo sát lấy ý kiến của
sinh viên. Với kết quả đạt được từ đề tài, những sản phẩm du lịch thiết kế sau này sẽ
có cơ sở khoa học để thiết kế phù hợp cho sinh viên, qua đó góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo của khoa Văn hóa – Du lịch (nay là khoa Quan hệ Quốc tế), trường Đại
học Sài Gòn.
Sản phẩm nghiên cứu cuối cùng của đề tài là văn bản nội dung nghiên cứu.
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỔ
STT Tên bảng, sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ Trang
1 Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow 9
2 Bảng 1.2: Tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu về phân
loại (nhóm) động cơ du lịch
11, 12
3 Mô hình 1.3: Phân loại các nhóm động cơ du lịch 12
4 Bảng 1.4: Phương pháp phân chia các loại hình du lịch của Trần
Đức Thanh
15, 16
5 Bảng 1.5: Phân nhóm các nhóm loại hình du lịch 16
6 Bảng 1.6: Tổng hợp những đặc trưng về loại hình du lịch của sinh
viên
17, 18
7 Sơ đồ 1.7: Phân loại SPDL 20
8 Sơ đồ 1.8: Những đặc điểm của SPDL 22
9 Sơ đồ 1.9: Mô hình các ngành, chuyên ngành đào tạo của khoa
QHQT, ĐHSG (bắt đầu từ năm học 2015 – 2016)
26
10 Bảng 1.10: Mục tiêu đào tạo sinh viên ngành VNH, ĐHSG 27, 28
11 Bảng 1.11: Thống kê các học phần Thực tế chuyên môn, ngoại
khóa của sinh viên các khóa của ngành VNH
29, 30
12 Sơ đồ 2.1: Quy trình khảo sát lấy ý kiến sinh viên trong việc lựa
chọn SPDL
35
13 Bảng 2.2: Thống kê kết quả khảo sát sinh viên ngành VNH 37
14 Bảng 2.3: Quan điểm của sinh viên ngành VNH về vấn đề bổ sung
các chương trình ngoại khóa
38
15 Biểu đồ 2.4: Mức thu nhập bình quân hằng tháng của sinh viên
ngành VNH
39
16 Biểu đồ 2.5: Ý kiến của sinh viên về giá bình quân của một CTDL 40
17 Biểu đồ 2.6: Ý kiến của sinh viên về độ dài của một chương trình
ngoại khóa
41
18 Biểu đồ 2.7: Ý kiến của sinh viên về thời điểm tổ chức các CTDL 42
19 Biểu đồ 2.8: Mục đích khi tham gia các CTDL của sinh viên 43
20 Bảng 2.9: Xu hướng lựa chọn các loại hình du lịch của sinh viên 44
21 Biểu đồ 2.10: Nhận định của sinh viên về vai trò của các dịch vụ
trong việc đánh giá chất lượng của SPDL
46
22 Biểu đồ 2.11: Nhu cầu lựa chọn vị trí của cơ sở lưu trú của sinh
viên
48
23 Biểu đồ 2.12: Quan điểm của sinh viên về sức chứa hợp lý trong
một phòng
49
24 Biểu đồ 2.13: Đánh giá của sinh viên về ảnh hưởng của dịch vụ ăn
uống đến chất lượng của SPDL
51
25 Biểu đồ 2.14: Những vấn đề sinh viên quan tâm khi đến điểm tham
quan
55
26 Biểu đồ 2.15: Mong muốn đạt được sau chuyến đi của sinh viên 56
27 Biểu đồ 2.16: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của sinh viên 57
28 Biểu đồ 2.17: Ý kiến của sinh viên về tầm quan trọng của các nhu
cầu trong đánh giá chất lượng SPDL
60
29 Bảng 2.18: Một số kiến nghị, đánh giá bổ sung của sinh viên trong
việc thiết kế SPDL
61
30 Bảng 2.19: So sánh nhu cầu giữa sinh viên ngành VNH với sinh
viên ngoài khoa trong việc lựa chọn SPDL
65, 66
31 Bảng 3.1: Mô hình TOWS về việc lựa chọn SPDL của sinh viên
ngành VNH, trường ĐHSG
71 – 73
32 Bảng 3.2: Những định hướng trong việc thiết kế SPDL cho sinh
viên ngành VNH, trường ĐHSG
74
33 Sơ đồ 3.3: Các yếu tố định hướng trong việc thiết kế các SPDL cho
sinh viên ngành Du lịch
76
34 Bảng 3.4: Nhân lực ngành Du lịch qua các năm 77, 78
35 Sơ đồ 3.5: Phương thức đánh giá năng lực của lao động ngành Du
lịch
78
36 Bảng 3.6: Những vấn đề tiên quyết ảnh hưởng đến việc thiết kế
SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành VNH
85, 86
37 Bảng 3.7: Định tuyến du lịch cho các nhóm sinh viên ngành VNH 88, 89
38 Bảng 3.8: Xác định các SPDL đặc trưng cho các nhóm đối tượng
sinh viên
89, 90
39 Bảng 3.9: Xây dựng SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên
ngành VNH
91
40 Sơ đồ 3.10: Tiêu chí xây dựng khung CTDL cho sinh viên 94
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt: Từ nguyên:
CTDL Chương trình du lịch
ĐHSG Đại học Sài Gòn
QHQT Quan hệ Quốc tế
SPDL Sản phẩm du lịch
VNH Việt Nam học
1
DẪN NHẬP
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, du lịch đã được Đảng và Nhà nước xác
định là một trong các ngành kinh tế trọng điểm để phát triển kinh tế đất nước. Mặt
khác, cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu du lịch cũng theo đó
mà đa dạng hơn, từ đó dẫn đến việc động cơ đi du lịch của người dân cũng tăng theo.
Đây chính là cơ sở cho việc phát triển và đa dạng hóa các loại hình du lịch để đáp ứng
những nhu cầu của người dân.
Sinh viên ngành Việt Nam học (VNH), khoa Quan hệ Quốc tế (QHQT) trường
Đại học Sài Gòn (ĐHSG) cũng không nằm ngoài xu thế đó. Là những người công tác
trong ngành Du lịch trong tương lai, sinh viên ngành VNH khoa QHQT trường ĐHSG
cũng có những nhu cầu nhất định trong việc sử dụng và trải nghiệm các sản phẩm du
lịch (SPDL) phù hợp với bản thân. Những nhu cầu đó nhằm hỗ trợ sinh viên trong việc
tiếp cận với thực tế phát triển du lịch hiện nay, tiếp cận với các kiến thức chuyên
ngành, đánh giá và định hướng được những vấn đề liên quan đến nghề nghiệp của bản
thân trong tương lai. Tuy nhiên, SPDL cho sinh viên nói chung và sinh viên ngành
VNH khoa QHQT trường ĐHSG nói riêng có những đặc điểm khác biệt so với các
SPDL dành cho các đối tượng du khách khác.
Mặt khác, việc nghiên cứu của đề tài này cũng nhằm mục đích đi sâu vào việc
tìm hiểu thực trạng đánh giá, nhận thức cũng như đề xuất của sinh viên ngành VNH về
vấn đề thiết kế các SPDL, mà chính sinh viên ngành VNH khoa QHQT là đối tượng
thụ hưởng những sản phẩm đó. Những SPDL này cần được thiết kế một mặt đảm bảo
phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo, mặt khác có thể đáp ứng nguyện vọng
chính đáng của sinh viên. Dung hòa hai yếu tố này chính là mục tiêu lớn nhất khi thiết
kế các SPDL cho sinh viên sau này.
Với thực trạng và mong muốn như vậy, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài
“Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại
học Sài Gòn (Giai đoạn 2011 - 2014)”.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Một số công trình đi trước đã có đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến những vấn
đề trong công trình này mà chúng tôi đã có điều kiện tiếp cận. Những công trình có thể
kể đến như:
“Địa lý Du lịch Việt Nam” (tái bản lần thứ hai vào năm 2012) của Nguyễn
Minh Tuệ. Đây có thể được xem như là tài liệu chuyên ngành đối với sinh viên ngành
Du lịch; trong tài liệu này tác giả đã lần lượt đưa ra các quan điểm liên quan trực tiếp
đến các vấn đề như: Một số khái niệm về khoa học du lịch, điều kiện hình thành và
phát triển du lịch trong Phần 1 của tài liệu (gồm chương 1 và chương 2).
Cũng tương tự như cuốn “Địa lý Du lịch Việt Nam”, tài liệu thứ hai được xem
như là giáo trình gối đầu của sinh viên ngành Du lịch có đề cập đến một số khái niệm
lý luận của ngành phải kể đến là “Giáo trình Tổng quan Du lịch” do Sở Giáo dục và
Đào tạo Hà Nội xuất bản năm 2005. Tài liệu này chủ yếu là tài liệu căn bản, do vậy mà
nó chỉ dừng lại ở mức độ nhập môn, không đi sâu vào những vấn đề lý luận.
“Nhập môn khoa học Du lịch” của Trần Đức Thanh (in lần thứ tư, năm 2005)
cũng là một tài liệu viết chủ yếu về lý luận du lịch. Trong đó cũng có đề cập đến các
vấn để như: Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Du lịch, động cơ và các loại
hình du lịch, điều kiện để phát triển du lịch, tính thời vụ trong du lịch, v.v….
Tương tự như vậy là “Giáo trình Kinh tế du lịch” của nhà xuất bản Lao động –
Xã hội do Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa đồng chủ biên (trực thuộc trường
Đại học Kinh tế Quốc dân) và nhiều tài liệu là sách tham khảo, giáo trình chuyên
ngành khác. Chẳng hạn như “Giáo trình Tâm lý học kinh doanh du lịch” (Trần Thị
Thu Hà – năm 2005), “Giáo trình Địa lý du lịch Việt Nam” (Trần Thị Thục, Đại học
Sài Gòn – năm 2013), “Giáo trình Marketing du lịch” (Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn
Đình Hòa đồng chủ biên – năm 2008)…
Tuy nhiên, có một thực tế là tất cả những nguồn tài liệu đó đều được viết dưới
hình thức là giáo trình nhằm trang bị cho sinh viên những mảng kiến thức riêng lẻ ở
từng học phần trong chương trình đào tạo. Đó chưa phải là dạng tài liệu nghiên cứu
thực tiễn tình hình cũng như nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên du lịch.
Tiếp theo, như chúng ta đã biết thì phương pháp Điều tra xã hội học là một
phương pháp mà hiện nay, trong bất kỳ ngành khoa học nào cần thu thập số liệu để xử
lý và từ đó đưa ra nhận định đều phải sử dụng đến. Những tài liệu liên quan đến hệ
3
thống tri thức về phương pháp Điều tra xã hội học mà nhóm tác giả có điều kiện tiếp
cận có thể kể đến như: “Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” (tái bản
lần thứ tư năm 2012) của Vũ Cao Đàm; Tạ Minh với “Giáo trình Xã hội học đại
cương” (năm 2011 của nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); tài
liệu “Giáo trình Điều tra xã hội học” của Trần Thị Kim Thu (năm 2011), …
Ngoài ra, trong năm 2014 thì tập thể giảng viên khoa VHDL (nay là khoa
QHQT) cũng đã hoàn thành và bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ
sở với đề tài “Khảo sát xây dựng hệ thống kỹ năng trong đào tạo nghiệp vụ du lịch
của Khoa Văn hóa – Du lịch” (mã đề tài: CS2012 – 30) tại trường ĐHSG. Có thể nói,
đây là đề tài sát với đề tài này nhất trong cách tiếp cận vấn đề (về phương pháp, mục
đích nghiên cứu và ý nghĩa khoa học). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lại tập trung vào
việc xây dựng hệ thống kỹ năng trong vấn đề đào tạo nghiệp vụ chứ không phải là
nghiên cứu để thiết kế các SPDL phù hợp cho sinh viên của khoa.
Trên cơ sở tình hình như vậy, chúng tôi kế thừa và tiếp tục nghiên cứu các
SPDL phù hợp với mục đích xác định rõ nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa
QHQT trường ĐHSG, để từ đó giúp cho công tác đào tạo của khoa có những chiến
lược phù hợp và những người thiết kế các chương trình du lịch (CTDL) được thực hiện
một cách tối ưu nhất.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được xác định trong đề tài này chính là nhu cầu của sinh
viên ngành VNH khoa QHQT trong việc lựa chọn SPDL. Cụ thể bao gồm: Nhu cầu về
giá cả - Nhu cầu về CTDL – Nhu cầu về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, các
dịch vụ bổ sung – Nhu cầu về việc tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên
ngành.
4. Mục đích nghiên cứu
Xác định, nghiên cứu các nhu cầu của sinh viên các khóa, ngành VNH khoa
QHQT trường ĐHSG trong việc lựa chọn trải nghiệm các SPDL phù hợp, qua đó làm
cơ sở thử nghiệm thiết kế một số SPDL theo nhu cầu của sinh viên các khóa; và đương
nhiên là những SPDL này phải dung hòa tối đa hai yếu tố: Đảm bảo nội dung của
chương trình đào tạo lẫn đáp ứng theo nhu cầu chính đáng của sinh viên. Mặt khác,
xác định các định hướng và đề xuất các giải pháp ứng dụng các khung CTDL vào thực
tiễn, hỗ trợ việc đáp ứng nhu cầu đi du lịch cho sinh viên ngành VNH trường ĐHSG.
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, xác định các nhu cầu
của sinh viên các khóa ngành VNH trong việc lựa chọn các SPDL phù hợp.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng nhu cầu của sinh viên các khóa trong việc lựa
chọn các SPDL và thử nghiệm thiết kế một số khung CTDL theo nhu cầu của sinh
viên.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp để việc thiết kế các SPDL phù hợp với nhu
cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trường ĐHSG đạt hiệu quả, qua đó góp
phần nâng cao chất lượng các SPDL đặc thù cho sinh viên của khoa.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Về không gian: Khoa QHQT, ngành VNH (VHDL), trường ĐHSG.
Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2014.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, nhóm tác giả tập trung vào một số phương pháp chủ
đạo sau:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Đề tài sẽ sử dụng phương pháp này
chủ yếu trong chương 1 nhằm giải quyết các vấn đề lý luận về khoa học du lịch.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Đây có thể xem như một phương pháp rất
quan trọng trong việc giải quyết nội dung chính của đề tài trong chương 2.
- Phương pháp định tính, phương pháp định lượng: Hai phương pháp này được
sử dụng để bổ trợ cho phương pháp điều tra xã hội học, nhằm làm rõ hơn vấn đề khảo
sát nhu cầu của sinh viên trong đề tài này.
- Phương pháp điền dã: Dưới góc độ là sinh viên ngành VNH, có thể khẳng
định đây là một phương pháp quan trọng. Để có thể đưa ra những đánh giá, nhận xét ở
mức độ chính xác về thực trạng lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH, nhóm tác
giả phải nhập thân văn hóa, trải nghiệm qua những SPDL đã được thiết kế để có cái
nhìn từ tổng quát đến chi tiết.
Ngoài những phương pháp chủ đạo đó, để hoàn thành đề tài này, chúng tôi còn
sử dụng một số phương pháp bổ trợ sau:
5
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn và lấy ý kiến của đội ngũ giảng viên
khoa VHDL (QHQT) đã có kinh nghiệm nhiều năm trong vấn đề thiết kế chương trình
của các học phần “Thực tế chuyên môn 1/2/3” cho sinh viên để tham khảo nhằm đảm
bảo SPDL được thiết kế phù hợp hơn với yêu cầu của chương trình đào tạo và tình
hình thực tiễn trong công tác đào tạo.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Với sự khác nhau về nhiều yếu tố (trong đó
đáng kể nhất là số năm đào tạo trong quá trình khảo sát), có thể nói đây là phương
pháp mà nhóm tác giả sử dụng để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt của sinh
viên các khóa của khoa.
- Phương pháp TOWS: Đây là phương pháp tương tự như phương pháp SWOT
nhằm từ kết quả nghiên cứu đạt được để tìm ra giải pháp thiết kế các SPDL phù hợp
đáp ứng cho sinh viên của ngành VNH, khoa QHQT.
8. Đóng góp của đề tài
Đóng góp về mặt khoa học:
- Trước tiên, đề tài đóng góp quan điểm của nhóm tác giả về một vài vấn đề lý
luận của mình về khoa học du lịch khi đề cập và phân tích lại một số khái niệm như
“động cơ du lịch”, “nhu cầu du lịch”, “sản phẩm du lịch”, …
- Thứ hai, đề tài cũng đã xác định được những nhu cầu, mà theo đó chúng có
ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến việc lựa chọn các SPDL của sinh viên ngành
VNH, khoa QHQT trường ĐHSG.
- Đóng góp tiếp theo về mặt khoa học chính là kết quả nghiên cứu chính của đề
tài, nghiên cứu thực trạng lựa chọn SPDL của sinh viên, qua đó góp phần vào việc
thiết kế các SPDL phù hợp với nhu cầu chính đáng của sinh viên và mục tiêu cuối
cùng của những SPDL này là góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của khoa VHDL
(QHQT) trường ĐHSG.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Nếu đề tài hoàn thành thì đây có thể là một tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh
viên các ngành Du lịch học, Văn hóa – Du lịch, Quản trị kinh doanh Lữ hành, … hoặc
thậm chí là các sinh viên có nhu cầu tham khảo phương pháp khảo sát, thống kê trong
hoạt động du lịch, …
- Mặt khác, đây cũng là nguồn tham khảo đáng tin cậy cho Ban lãnh đạo khoa
VHDL (QHQT), Trung tâm Hướng dẫn Du lịch trường ĐHSG trong việc nghiên cứu,
6
cải cách chương trình đào tạo nói chung, các học phần thực tế chuyên môn nói riêng
để nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng của các chương trình thực tế chuyên môn;
xa hơn nữa là góp phần vào việc nâng cao thương hiệu và chất lượng đào tạo của khoa
VHDL (QHQT) nói riêng, và của trường ĐHSG nói chung trong tương lai.
9. Cấu trúc đề tài
Đề tài ngoài phần Dẫn nhập (6 trang), Kết luận và kiến nghị (3 trang), Tài liệu
tham khảo (3 trang) và Phụ lục (10 trang) bao gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xác định các nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch
của sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn (28 trang)
Chương 2: Khảo sát việc lựa chọn các sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam
học trường Đại học Sài Gòn (35 trang)
Chương 3: Định hướng và giải pháp thiết kế các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu
của sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn (29 trang).
7
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH
CÁC NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH
CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
1.1. Một số vấn đề liên quan
1.1.1. Nhu cầu du lịch và động cơ du lịch
1.1.1.1. Nhu cầu du lịch
“Nhu cầu là cái tất yếu, tự nhiên, nó là thuộc về tâm lý của con người, là sự đòi
hỏi tất yếu của con người để tồn tại và phát triển…” [4: 65]. Theo đó thì “Nhu cầu du
lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người…” [6: 48]. Và việc hình
thành nhu cầu du lịch cũng được xem như là một yếu tố tiên quyết và tối quan trọng,
ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra đời và phát triển của ngành Du lịch. Hay nói một cách
đơn giản hơn, nhu cầu chính là động cơ để phát triển du lịch.
Theo Trần Thị Thục, “Nhu cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt mang tính tổng
hợp cao, biểu hiện sự mong muốn rời nơi ở thường xuyên để đến với điểm du lịch đã
chọn trong một khoảng thời gian xác định và sự cần thiết nghỉ ngơi, giải trí, thưởng
ngoạn phong cảnh thiên nhiên đẹp, các công trình văn hóa, lịch sử” [22: 11]. Nhóm
tác giả đồng ý với quan điểm trên của Trần Thị Thục.
Trong dân gian vẫn thường hay nói, “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”,
điều này không sai trong trường hợp nghiên cứu về nhu cầu du lịch của du khách. Vấn
đề mà chúng tôi muốn đề cập ở đây chính là nhấn mạnh vai trò của việc nghiên cứu
nhu cầu của du khách. Trong thời cổ đại, con người chỉ cần “ăn lông ở lỗ”; hiện đại
hơn một chút thì “ăn chắc mặc bền”; và cho đến ngày nay, chúng ta đang sống trong
thời đại kinh tế phát triển, con người chẳng những cần “ăn chắc mặc bền” mà xa hơn
nữa chính là “ăn ngon mặc đẹp”. Mặt khác, khi mà yếu tố vật chất đã ổn định thì nhu
cầu được thỏa mãn về tinh thần cũng đã được chú trọng, trong đó thì đi du lịch là một
phương thức để thỏa mãn nhu cầu về phương diện tinh thần. Ngoài ra, với nhiều yếu tố
tác động đến việc nhu cầu đi du lịch được chú trọng như: Xu hướng dân số đang theo
hướng kế hoạch hóa, khả năng thanh toán cao, trình độ dân trí được nâng cao, cơ cấu
nghề nghiệp đa dạng và thời gian nhàn rỗi nhiều, tình hình an ninh chính trị trên thế
8
giới nhìn chung ổn định và hòa bình… đã càng tạo “cơ hội” cho việc hình thành nhu
cầu đi du lịch phát triển hơn [4].
Nhu cầu du lịch được hình thành và diễn ra theo hai giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Từ chính việc phát triển của xã hội đã tạo nên nhu cầu cần đi du
lịch, chẳng hạn như: Vì áp lực công việc (stress), phục vụ cho mục đích học tập hoặc
nghiên cứu, do mục đích du lịch kết hợp với việc buôn bán… Đó là những lý do đầu
tiên hình thành nên nhu cầu đi du lịch.
Giai đoạn 2: Từ nhu cầu chung đó, khi du khách đã xác định đi du lịch thì lại
hình thành những nhu cầu cụ thể trong CTDL mà mình đã lựa chọn. Chẳng hạn như
những nhu cầu về việc được đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu về các dịch vụ trong CTDL,
nhu cầu được trải nghiệm và thưởng ngoạn những danh lam thắng cảnh, các di tích
lịch sử văn hóa hay trải nghiệm thực tế về các phong tục tập quán tại nơi mình tham
quan…
Như đã đề cập ở phần đầu, việc nghiên cứu nhu cầu du lịch của du khách là
việc làm cần thiết của các nhà kinh doanh du lịch, các nhà hoạch định chính sách hay
những người làm công tác hoạch định chiến lược phát triển du lịch, nó ảnh hưởng trực
tiếp đến việc thiết kế các SPDL (trong đó bao gồm các dịch vụ tham quan, ăn uống,
lưu trú hay vận chuyển) phù hợp với từng loại đối tượng du khách. Như vậy, đâu là cơ
sở để nghiên cứu về nhu cầu du lịch của du khách ?
Hiện nay, các nhà nghiên cứu hay kinh doanh du lịch chủ yếu dựa vào “Tháp
nhu cầu Maslow” (Maslow’s hierarchy of needs), đây là một trong những lý thuyết
quan trọng nhất trong quản trị kinh doanh do nhà tâm lý học Abraham Maslow1
đưa ra.
1
: Abraham Maslow (1908 - 1970) là một nhà Tâm lý học người Mỹ. Ông được thế giới biết đến nhờ
việc sáng tạo ra mô hình tháp nhu cầu, ngoài ra ông cũng được xem như là cha đẻ của tâm lý học nhân
văn [31].
9
Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow
[Nguồn: Internet]
Theo hình 1.1 thì Maslow đã phân các nhóm nhu cầu ra làm 3 nhóm theo thứ tự
từ thấp đến cao. Cụ thể:
Nhóm 1: Bao gồm nhu cầu về sinh lý (bao gồm các nhu cầu cơ bản như nhu
cầu về thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi, …) và nhu cầu về tính mạng.
Nhóm 2: Bao gồm nhu cầu về khả năng hòa nhập và tình yêu (như bạn bè hay
các mối quan hệ) và nhu cầu về sự tôn trọng và cần được tôn trọng.
Nhóm 3: Là nhu cầu tự hoàn thiện bản thân.
Những nhu cầu trong “Tháp nhu cầu Maslow” cho ta thấy rằng ở mỗi cấp độ
cao hơn, nhu cầu của con người càng trở nên đa dạng hơn. Bắt đầu từ những nhu cầu
cơ bản, đáp ứng được yếu tố vật chất thì càng lên cao, những nhu cầu đó lại thiên về
phương diện thỏa mãn yếu tố tinh thần. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là khi
nhu cầu mới được nảy sinh thì người ta phủ nhận và có thể bỏ qua những nhu cầu thấp
(cũ) hơn. Tất cả những nhu cầu đó đều có mối quan hệ tương hỗ với nhau nhằm đảm
bảo một cuộc sống hoàn thiện. Lấy ví dụ như con người không thể thỏa mãn nhu cầu
10
tự hoàn thiện mà không đảm bảo được nhu cầu đảm bảo tính mạng hoặc không được
đáp ứng những nhu cầu về sinh lý (không thể không ăn, không uống được)…
Về lý luận hay thực tiễn thì cũng phải thừa nhận rằng “Tháp nhu cầu Maslow”
có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu nhằm nắm bắt nhu cầu du lịch của du
khách, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà có được sự cộng hưởng từ nhiều yếu tố
thuận lợi như thời gian nhàn rỗi nhiều, tình hình chính trị ổn định và hòa bình, du lịch
trở nên phổ biến với nhiều người, … đã làm cho việc nghiên cứu nhu cầu du lịch là hết
sức quan trọng và cần thiết như Nguyễn Minh Tuệ đã nhận định: “Nhu cầu nghỉ ngơi
du lịch đặc trưng cho mọi giai đoạn phát triển của xã hội. Nó ra đời ở một trình độ
nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất, là kết quả tác động tổng hợp của quá
trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, …” [25: 82].
Việc nghiên cứu nhu cầu du lịch cũng được xem như tiền đề trong việc nắm bắt
động cơ du lịch. Bởi vì nhu cầu là “đòn bẩy” để hình thành động cơ, hoặc nói khác đi
thì động cơ du lịch chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhu cầu du lịch. Giữa nhu cầu du lịch
và động cơ du lịch có mối quan hệ mật thiết và gắn bó với nhau. Nếu có động cơ thúc
đẩy thực hiện một hoạt động nào đó mà không có nhu cầu thì động cơ sẽ chất yên tại
chỗ, không thể đưa vào thực tiễn và ngược lại.
Đối với sinh viên ngành Du lịch nói chung và sinh viên ngành VNH khoa
QHQT nói riêng, nếu áp dụng “Tháp nhu cầu Maslow” vào việc nghiên cứu nhu cầu
du lịch của nhóm đối tượng này, ta có thể thấy nhu cầu chính yếu được quan tâm nhất
chính là nhóm nhu cầu thứ ba – nhóm nhu cầu tự hoàn thiện bản thân (Self –
fulfillment needs). Bởi vì với đặc thù ngành học, những chuyến tham quan du lịch và
sự trải nghiệm các SPDL của nhóm đối tượng này là khác biệt so với những nhóm đối
tượng du khách khác. Sự khác nhau ở đây chính là việc chú trọng tự hoàn thiện kiến
thức chuyên môn, có những trải nghiệm mới, cọ sát thực tiễn của nghề nghiệp, chứ
không đơn thuần là đi du lịch vì sự giải trí, nghỉ dưỡng, … như những nhóm đối tượng
du khách khác. Cuối cùng, từ nhu cầu thì nó được chuyển hóa thành động cơ thúc đẩy
để con người tìm đến các hoạt động du lịch.
1.1.1.2. Động cơ du lịch
“Động cơ là sự kích thích đã được ý thức, nó chi phối hoạt động để thỏa mãn
một nhu cầu nào đó của cá nhân. Nói cách khác, động cơ là cái thúc đẩy hành động
gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu” [6: 54].
11
Mặt khác, theo Trần Đức Thanh thì: “Động cơ là một nội lực thúc đẩy con
người thực hiện hoạt động theo một mục tiêu nhất định nhằm thỏa mãn những nhu cầu
sinh lý hoặc tâm lý của họ” [20: 57].
Qua hai định nghĩa trên, những tác giả đi trước vẫn chỉ dừng lại ở mức độ định
nghĩa khái niệm “động cơ” đơn thuần; chúng chưa phải là định nghĩa “động cơ du
lịch”. Theo quan điểm của nhóm tác giả, “Động cơ du lịch là một sự kích thích có ý
thức được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hình thức thể hiện nguyện vọng, quan
tâm, hứng thú về các hoạt động du lịch. Những hoạt động đó có thể thỏa mãn nhu cầu
du lịch của họ”.
Định nghĩa trên của nhóm tác giả nhấn mạnh việc hình thành động cơ bắt nguồn
từ nhu cầu du lịch. Tuy nhiên, hiện nay thì quan điểm này vẫn chưa có được sự thống
nhất. Một số nhà nghiên cứu thì cho rằng giữa nhu cầu và động cơ không có mối liên
hệ với nhau, một số khác thì cho rằng động cơ mới là yếu tố quyết định nhu cầu, …2
Bảng bên dưới sẽ cho thấy các quan điểm phân nhóm động cơ du lịch của các nhà
nghiên cứu [4, 6, 8, 20].
Bảng 1.2: Tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu về phân loại
(nhóm) động cơ du lịch
Stt Tài liệu Quan điểm phân loại động cơ/nhóm động cơ
1 Tổng quan
du lịch
Thể xác và
tinh thần
Giao tế Văn hóa Tiếng tăm Kinh tế
2 Giáo trình
Tâm lý học
kinh doanh
du lịch
Giải trí Nghiệp vụ Các động cơ khác
3 Nhập môn
khoa học
du lịch
Đáp ứng nhu
cầu tự nhiên
Văn hóa Giao tiếp Phô bày
2
: Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, các tài liệu mà nhóm tác giả có điều kiện tiếp cận đều không có
sự thống nhất trong việc trình bày hai vấn đề “nhu cầu du lịch” và “động cơ du lịch”. Cụ thể, một số
tài liệu có đề cập đến “nhu cầu du lịch”, nhưng không đề cập đến “động cơ du lịch” hoặc ngược lại.
12
4 Giáo trình
Kinh tế du lịch
Nghỉ ngơi Nghề nghiệp Các nhóm động cơ
khác
[Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp]
Như đã xác định ngay từ đầu, quan điểm của chúng tôi là xem nhu cầu như một
điều kiện tiên quyết để hình thành nên động cơ, do vậy việc phân nhóm động cơ trong
đề tài này sẽ căn cứ vào các nhu cầu trong “Tháp nhu cầu Maslow”. Cụ thể, nhóm tác
giả sẽ chia ra làm 4 nhóm động cơ như sau:
Mô hình 1.3: Phân loại các nhóm động cơ du lịch
[Nguồn: Nhóm tác giả]
Theo mô hình 1.3 do nhóm tác giả thiết lập thì động cơ giải trí sẽ tương ứng với
nhóm nhu cầu thứ nhất trong tháp nhu cầu Maslow – động cơ hòa nhập và thể hiện
cùng với các nhóm động cơ khác sẽ tương ứng với nhóm nhu cầu thứ hai – động cơ
hoàn thiện bản thân sẽ tương ứng với nhóm ba (nhu cầu hoàn thiện bản thân trong
tháp nhu cầu Maslow).
Mặt khác, đối với sinh viên ngành Du lịch, theo quan điểm của chúng tôi thì
động cơ chủ yếu để thúc đẩy việc tham gia các CTDL chính là kết quả của sự dung
hòa tất cả những động cơ trên, trong đó “động cơ hoàn thiện bản thân” là chủ đạo. Du
lịch là một nghề bên cạnh việc được trang bị kiến thức thì song song cũng cần phải có
Động cơ
du lịch
Động cơ
giải trí
Động cơ
hòa
nhập và
thể hiện
Động cơ
hoàn
thiện
bản thân
Các
nhóm
động cơ
khác
13
kinh nghiệm thực tiễn. Những CTDL trong chương trình đào tạo chính là những
“phương tiện” bước đầu để sinh viên tiếp cận với chuyên môn của mình. Những kiến
thức lý thuyết là một phần hỗ trợ cho các sinh viên có thể hoàn thành những CTDL đó
hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó thì những nhóm động cơ khác cũng ảnh hưởng đến nhu cầu của
các sinh viên, nhưng khả năng tác động thì thấp hơn so với “động cơ hoàn thiện bản
thân”. Cụ thể:
+ Đối với nhóm “động cơ giải trí”: Chúng bao gồm những hoạt động nhằm đáp
ứng nhu cầu được nghỉ ngơi, phục hồi tâm sinh lý, tiếp cận với thiên nhiên hoặc nghỉ
mát, … Đó là những mong muốn của mọi đối tượng du khách khi đi du lịch. Còn đối
với sinh viên du lịch nói chung thì mặc dù đây không phải là động cơ chủ yếu, nhưng
cũng không thể phủ nhận hoàn toàn động cơ này.
+ Đối với nhóm “động cơ hòa nhập và thể hiện” thì chúng được thể hiện thông
qua những nhu cầu cần được thỏa mãn cho du khách như việc giao lưu kết bạn, đi du
lịch vì muốn chơi trội, cố kết tình cảm bạn bè và người thân, … Đặc biệt đối với sinh
viên ngành Du lịch thì việc thiết lập sẵn những mối quan hệ ngay từ khi còn ngồi trên
ghế nhà trường là một việc làm nên được chú trọng. Những mối quan hệ này có thể sẽ
hữu ích cho chính bản thân sinh viên trong quá trình công tác sau này.
+ Cuối cùng là đối với “các nhóm động cơ khác”, chúng bao gồm những động
cơ không thuộc vào các nhóm động cơ đã liệt kê ở trên. Chẳng hạn như đi du lịch vì
mục đích kết hợp kinh doanh, đi du lịch để thăm người thân, hay đi du lịch vì công
việc chuyên môn của mình, v.v…
Tóm lại, đối với việc nghiên cứu động cơ du lịch thì ta cần bắt đầu từ việc
nghiên cứu nhu cầu du lịch. Đối với sinh viên ngành VNH khoa QHQT của trường
ĐHSG, điều này là không ngoại lệ nếu ta xem sinh viên ngành VNH khoa QHQT như
một nhóm đối tượng du khách. Và với những đặc điểm của sinh viên ngành Du lịch,
do vậy mà nhu cầu và động cơ du lịch của nhóm đối tượng này cũng có những nét
tương đối khác biệt so với các nhóm đối tượng du khách khác.
1.1.2. Loại hình du lịch
Hiện nay, lý thuyết về “loại hình du lịch” có rất nhiều; điều này được thể hiện
thông qua việc phân chia các loại hình du lịch. Tuy nhiên, một khái niệm đầy đủ nhất,
rõ nghĩa nhất về “loại hình du lịch” thì hầu như chưa có tài liệu nào đề cập. Thậm chí,
14
việc sử dụng cụm từ “hình thức du lịch” hay “loại hình du lịch” trong những công
trình nghiên cứu vẫn chứa đựng sự chưa thống nhất đó. Các nhà nghiên cứu thường sử
dụng một trong hai thuật ngữ trên, và vô hình chung người ta có xu hướng chấp nhận
hai định nghĩa này là tương đồng nhau. Thực trạng này khiến cho việc nghiên cứu khái
niệm về nó càng thêm khó khăn. Trong phần này, nhóm tác giả sẽ tập trung phân biệt
hai định nghĩa này và cũng cần nói thêm rằng, trong suốt đề tài, chúng tôi chỉ sử dụng
khái niệm “loại hình du lịch” mà thôi.
Trước khi phân tích nhằm làm rõ hai thuật ngữ “loại hình du lịch” và “hình
thức du lịch”, cần thiết đưa ra hai định nghĩa về chúng. Theo “Từ điển tiếng Việt” thì
“hình thức là thể thức làm cái bề ngoài và sờ mó được” [19: 408]. Mặt khác, “loại
hình là phần tử thuộc một loại, có mang tính chất chung có thể dùng làm cơ sở nghiên
cứu cho cả loại” [19: 534]. Như vậy, ta có thể khẳng định, hình thức thiên về vật chất
(thể hiện ra bên ngoài), trong khi loại hình là cái thiên về nội dung bên trong.
Từ hai định nghĩa về “loại hình” và “hình thức”, nhóm tác giả nêu ra định
nghĩa về “loại hình du lịch” theo quan điểm của chúng tôi như sau: “Loại hình du lịch
là tập hợp các SPDL có những điểm tương đồng nhau về mặt nội dung được thể hiện
thông qua một CTDL cụ thể, phục vụ chủ yếu cho một nhóm đối tượng du khách có
cùng một mục đích trong chuyến hành trình đó.”
Như vậy, thông qua định nghĩa trên của nhóm tác giả, chúng tôi rút ra một số
đặc điểm để nhận định một loại hình du lịch như sau:
+ Loại hình du lịch là tiền đề để xây dựng và thiết kế một SPDL. Hay nói cách
khác, để xây dựng một SPDL đặc trưng thì cần phải xác định SPDL đó thuộc loại hình
du lịch nào ?
+ Loại hình du lịch mang yếu tố nội dung sâu sắc, tức là du khách phải xác định
được mục đích của chuyến đi của mình để lựa chọn những CTDL mà trong đó SPDL
của chương trình đó phù hợp với mục đích đi du lịch của họ.
+ Hình thức du lịch chỉ đơn thuần là những phương tiện được thể hiện ra bên
ngoài có thể hỗ trợ du khách trong việc trải nghiệm những SPDL của CTDL. Mặt
khác, hình thức du lịch chỉ là một phần rất nhỏ trong loại hình du lịch, là một phần yếu
tố quyết định đến chất lượng của một SPDL.
15
+ Cuối cùng, loại hình du lịch rất đa dạng và do vậy, mỗi loại hình du lịch chỉ
phù hợp với một hoặc một vài nhóm đối tượng du khách. Chúng không có tính phổ
quát đối với toàn bộ các nhóm đối tượng du khách.
Mặt khác, như đã đề cập ở trên, đa phần hiện nay khi phân loại loại hình du
lịch, các nhà nghiên cứu mặc dù có sự phân loại khác nhau nhưng đều có chung một
đặc điểm để phân chia loại hình du lịch, đó là đặt ra một tiêu chí cụ thể để căn cứ vào
đó mà phân chia thành các nhóm loại hình du lịch. Lấy một ví dụ như đối với Trần
Đức Thanh, ông đã phân các loại hình du lịch theo các tiêu chí sau3
[20: 63 – 88]:
Bảng 1.4: Phương pháp phân chia các loại hình du lịch của Trần Đức Thanh
Stt Tiêu chí phân loại các loại hình du lịch Các loại hình du lịch
1 Theo môi trường tài nguyên Du lịch môi trường tài nguyên du
lịch tự nhiên – nhân văn
2 Theo mục đích chuyến đi Du lịch tham quan – giải trí –
nghỉ dưỡng – khám phá – thể thao
– lễ hội – tôn giáo – nghiên cứu –
thể thao kết hợp – hội nghị - chữa
bệnh – thăm thân – kinh doanh
3 Theo lãnh thổ hoạt động Du lịch quốc tế - nội địa
4 Theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch Du lịch miền biển – núi – đô thị -
thôn quê
5 Theo phương tiện giao thông Du lịch xe đạp – ô tô – tàu hỏa –
tàu thủy – máy bay
6 Theo loại hình lưu trú Du lịch khách sạn – motel – nhà
trọ thanh niên – camping –
bungalow – làng du lịch
7 Theo lứa tuổi du khách Du lịch thiếu niên – thanh niên –
3
: Tất cả tài liệu lý luận về khoa học du lịch mà nhóm tác giả có điều kiện tiếp cận đều phân chia các
loại hình du lịch dựa trên một tiêu chí. Trong khuôn khổ cho phép, nhóm tác giả chỉ dẫn chứng một ví
dụ trong tài liệu “Nhập môn khoa học du lịch” của Trần Đức Thanh.
16
trung niên – người cao tuổi
8 Theo độ dài chuyến đi Du lịch ngắn ngày – dài ngày
9 Theo hình thức tổ chức Du lịch tập thể - cá thể - gia đình
10 Theo phương thức hợp đồng Du lịch trọn gói – từng phần
[Nguồn: Nhập môn khoa học du lịch – Trần Đức Thanh, tr63 – 88]
Tương tự như Trần Đức Thanh, các nhà nghiên cứu khác cũng có những tiêu
chí nhất định trong việc phân chia các loại hình du lịch. Tuy nhiên, theo quan điểm của
nhóm tác giả, việc xác định các tiêu chí để nhận định và phân loại các loại hình du lịch
như trên là chưa thỏa đáng. Bởi vì một số tiêu chí được đặt ra là để chỉ “hình thức du
lịch” chứ không phải là loại hình du lịch. Và để phân chia các loại hình du lịch này,
nhóm tác giả đề xuất cách phân chia theo bảng 1.5 bên dưới:
Bảng 1.5: Phân nhóm các nhóm loại hình du lịch
Stt Các nhóm loại hình du lịch Các loại hình du lịch cụ thể
1 Nhóm loại hình du lịch văn hóa Du lịch tôn giáo – lễ hội - ẩm thực –
homestay - …
2 Nhóm loại hình du lịch thiên nhiên Du lịch sinh thái – xanh – leo núi – biển đảo
– săn bắn - …
3 Nhóm loại hình du lịch thể thao Các loại hình du lịch kết hợp với việc tham
gia các hoạt động thể thao tại nơi đến
4 Nhóm loại hình du lịch nghiên cứu Du lịch dành cho sinh viên – các nhà nghiên
cứu liên quan đến việc nghiên cứu các vấn đề
học thuật như: Sử học, khảo cổ, địa chất, …
5 Nhóm loại hình du lịch kinh doanh Du lịch MICE là một loại hình du lịch tiêu
biểu trong nhóm này
6 Nhóm loại hình du lịch khác Các loại hình du lịch ở đây bao gồm những
loại hình còn lại, không thuộc các nhóm loại
hình trên.
[Nguồn: Nhóm tác giả]
17
Như vậy, nhóm tác giả đã hệ thống lại việc phân loại loại hình du lịch. Theo đó
thì tất cả những loại hình du lịch mà nhóm tác giả phân loại ở trên đều chỉ tập trung
vào nội dung chủ yếu của CTDL. Điều này chịu chi phối từ hai vấn đề: Nguồn tài
nguyên du lịch – mục đích chuyến đi. Còn đối với cách phân chia dựa theo những tiêu
chí như: Theo lãnh thổ hoạt động, theo phương tiện giao thông, theo loại hình lưu trú,
theo lứa tuổi du khách, theo độ dài chuyến đi, theo hình thức tổ chức và theo phương
thức hợp đồng chỉ là những dấu hiệu nhận biết một chương trình (hình thức bên ngoài)
chứ tự thân chúng chưa phải là một loại hình du lịch.
Quay lại với nội dung chính của đề tài, việc phân loại và hệ thống lại các quan
điểm, ý niệm về “loại hình du lịch” nhằm mục đích xác định những đặc điểm trong
việc lựa chọn các loại hình du lịch phù hợp với sinh viên ngành VNH khoa QHQT,
ĐHSG. Bởi vì như đã đề cập ở trên, xác định được những loại hình du lịch phù hợp
với sinh viên ngành VNH khoa QHQT cũng đồng nghĩa với việc xây dựng những
SPDL đặc trưng, phù hợp với nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên. Theo đó, những
đặc trưng về loại hình du lịch của sinh viên ngành VNH, ĐHSG được nhận diện với
những đặc điểm sau:
Bảng 1.6: Tổng hợp những đặc trưng về loại hình du lịch của sinh viên
Đối
tượng
sinh
viên
Tiêu chí nhận định
Môi
trường
tài
nguyên
Mục
đích
chuyến
đi
Lãnh
thổ
Đặc
điểm
địa
lý
Phương
tiện
Lưu trú Lứa
tuổi du
khách
Độ dài
chuyến
đi
Hình
thức
tổ
chức
Phương
thức
hợp
đồng
Năm
nhất
Tự
nhiên,
nhân
Văn
hóa,
thiên
nhiên,
Nội
địa
Miền
biển,
núi,
đô,
thị,
thôn Ô tô
Nhà trọ
thanh
niên,
camping
Thanh
Ngắn
ngày
Tập Trọn
Năm
hai
Nhà trọ
thanh
niên,
camping
Ngắn
ngày
18
Năm
ba
văn nghiên
cứu
quê Khách
sạn, nhà
trọ thanh
niên,
camping
niên Dài
ngày
thể gói
Năm
cuối
Khách
sạn, nhà
trọ thanh
niên,
camping
Ngắn
ngày,
dài
ngày
[Nguồn: Nhóm tác giả]
Với bảng tổng hợp trên, việc lựa chọn để thiết kế các SPDL (trong đó bao gồm
cả các CTDL) sẽ được thực hiện một cách đơn giản và hiệu quả hơn. Sự nhận định
bước đầu này là vô cùng quan trọng, vì một mặt nó có thể giúp cho việc thiết kế các
học phần Thực tế chuyên môn cũng như các chương trình ngoại khóa được đảm bảo về
phương diện chuyên môn; mặt khác nó cũng giúp cho việc đáp ứng các nhu cầu của
sinh viên được thực hiện sát với thực tiễn.
Cuối cùng, như đã đề cập, loại hình du lịch chính là cơ sở để thiết kế và xây
dựng các SPDL. Loại hình du lịch nào thì sẽ có SPDL đặc trưng đó. Như vậy, so với
loại hình du lịch thì SPDL có gì khác biệt, và SPDL của sinh viên ngành VNH khoa
QHQT cần đảm bảo những yêu cầu gì trong thiết kế ?
1.1.3. Sản phẩm du lịch
1.1.3.1. Khái niệm “sản phẩm du lịch”
“Sản phẩm (product) là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý,
mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn. Nó có
thể là những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm, tổ chức và ý tưởng” [33]. Như vậy,
SPDL là gì ?
Trong khoa học du lịch, SPDL không phải là một khái niệm mới mẻ. Mặt khác,
trong nghiên cứu thị trường thì SPDL lại càng là một vấn đề được quan tâm, bởi lẽ nó
chính là yếu tố quyết định việc thành bại trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy
là một vấn đề cũ, thế nhưng cũng tương tự như các vấn đề về loại hình du lịch, hay
nhu cầu và động cơ du lịch, xung quanh nó vẫn còn rất nhiều quan điểm trái chiều về
19
việc xác định đâu là một SPDL, cũng như việc đưa ra một định nghĩa trọn vẹn về nó.
Một số quan điểm xung quanh định nghĩa SPDL của các cá nhân, tổ chức có thể dẫn ra
như:
Theo Nguyễn Minh Tuệ, “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp
cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách
một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” [25:
10].
“Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất
hữu hình và vô hình” [11: 218]. Đó là quan điểm của Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn
Đình Hòa khi đề cập đến khái niệm SPDL.
Mặt khác, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì “Nhìn chung, một sản
phẩm du lịch là một bộ các tài sản và dịch vụ được tổ chức xung quanh một hay nhiều
điểm tham quan du lịch để đáp ứng nhu cầu của khách” [23].
Tại chương 1, điều 4, khoản 10 “Luật du lịch” (2005) của Việt Nam cũng đưa
ra giải thích “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu
của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [18: 6].
Thông qua một vài khái niệm “sản phẩm du lịch” mà nhóm tác giả đã dẫn ở
trên, không khó để chúng ta nhận ra một điểm chung đó là hầu hết đều nhận định dịch
vụ chiếm một tỉ lệ lớn trong SPDL. Điều này không sai nhưng chưa thực sự đầy đủ.
Bởi vì ngoài dịch vụ, theo quan điểm chúng tôi, để cấu thành nên một SPDL thì cần có
thêm một yếu tố, đó chính là tài nguyên du lịch4
. Bởi lẽ, du khách khi đi du lịch, ngoài
việc cần được cung cấp dịch vụ tốt (hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, …) thì còn quan
tâm đến mức độ đặc sắc, hấp dẫn tại điểm đến (tài nguyên du lịch). Một CTDL hấp
dẫn trọn vẹn và được xem là hoàn hảo phải tạo ra được SPDL kết hợp cả hai yếu tố
dịch vụ tốt và tài nguyên du lịch đặc sắc.
Do vậy, kết hợp các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, nhóm tác giả
đưa ra một khái niệm mới về SPDL như sau: “SPDL là sự kết hợp giữa các yếu tố tài
nguyên du lịch và dịch vụ, tồn tại dưới hai hình thức hữu hình và vô hình. Sự kết hợp
4
: Tuy nhiên, những tài nguyên du lịch khi đã hoặc đang được khai thác nhằm phục vụ cho hoạt động
du lịch thì mới có thể được xem như là một phần của SPDL, nếu không thì chúng chưa phải là SPDL.
20
này được thiết kế nhằm đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu của du khách khi tham gia một
CTDL”.
Thông qua định nghĩa trên, ta có thể thấy SPDL đã được xác định rõ là kết quả
của việc kết hợp hai yếu tố là tài nguyên du lịch và dịch vụ. Đồng thời, SPDL bao gồm
hai nhóm, đó chính là nhóm SPDL hữu hình và nhóm SPDL vô hình5
. Về bản chất,
việc xây dựng SPDL nhằm mục tiêu cuối cùng là đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của du
khách. Mặt khác, CTDL chính là “phương tiện” để du khách trải nghiệm và đánh giá
một SPDL. Hiện nay, sự nhầm lẫn trong việc phân biệt SPDL với CTDL cũng tồn tại.
SPDL chính là bản chất của một CTDL và nó phải được hình thành trước CTDL.
CTDL cụ thể hóa các SPDL để đưa đến du khách. Theo đó thì các doanh nghiệp du
lịch không thể giới thiệu đến du khách những SPDL của mình mà không đưa ra
CTDL.
1.1.3.2. Phân loại sản phẩm du lịch
Do những quan điểm về SPDL khác nhau, do vậy mà dẫn đến việc phân loại
SPDL cũng khác nhau. Với định nghĩa trên của nhóm tác giả, chúng tôi phân loại
SPDL ra thành hai nhóm chính. Trong đó thì SPDL bao gồm hai nhóm là nhóm SPDL
hữu hình và nhóm SPDL vô hình. Trong mỗi nhóm lại bao gồm từng thành tố nhỏ hơn
chứa bên trong. Việc phân chia cụ thể được sơ đồ hóa theo sơ đồ bên dưới.
Sơ đồ 1.7: Phân loại SPDL
[Nguồn: Nhóm tác giả]
5
: Nhóm tác giả tập trung làm rõ phần phân loại SPDL trong phần sau.
SPDL hữu hình SPDL vô hình
SẢN PHẨM DU LỊCH
Tài
nguyên du
lịch nhân
văn phi vật
thể
Tài
nguyên
du lịch
tự nhiên
Tài
nguyên
du lịch
nhân văn
vật thể
Các loại
dịch vụ
Đặc sản
địa
phương,
đồ lưu
niệm
21
Theo sơ đồ phân loại trên, nhóm SPDL hữu hình bao gồm các thành tố chính là
tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và các hàng hóa khác
như đặc sản địa phương hay quà lưu niệm. Cụ thể:
+ Tài nguyên du lịch tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên các tác động đến
hoạt động du lịch. Ví dụ như hệ thống Thất Sơn ở An Giang, hệ thống các cồn ở vùng
Tây Nam Bộ, khí hậu cận xích đạo có lợi cho hoạt động du lịch… Cũng cần nói thêm
rằng, những yếu tố vừa liệt kê ở trên sẽ không thể trở thành SPDL nếu chúng không
được đưa vào khai thác nhằm mục đích phát triển du lịch, khi ấy chúng chỉ dừng lại ở
mức là tài nguyên du lịch (ở dạng tiềm năng).
+ Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể: Bao gồm những di tích lịch sử - văn hóa
truyền thống, làng nghề cổ truyền… Đây cũng là một trong số những nhân tố trong
việc góp phần phát triển SPDL. Tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc bao nhiều thì tỉ lệ
xây dựng SPDL đặc trưng hấp dẫn càng cao bấy nhiêu.
+ Đặc sản địa phương, đồ lưu niệm: Đây cũng được xem như một thành tố
trong việc tạo ra những SPDL hấp dẫn. Một món quà lưu niệm, một món ăn đặc sản
mang đậm tính địa phương có thể là một yếu tố làm nổi bật những nét đặc trưng của
địa phương. Chẳng hạn như một chiếc đèn lồng được bày bán tại Phố cổ Hội An, một
hộp kẹo dừa, hay như một bức ảnh với cô gái trong tà áo dài và chiếc nón lá chính là
những sản phẩm khẳng định thương hiệu và hình ảnh của du lịch địa phương. Tuy
nhiên, thực trạng công tác xây dựng các SPDL dạng như vậy ở nước ta vẫn chưa thực
sự được chú trọng cả về hình thức và chất lượng. Do vậy mà nó chưa phát huy hết vai
trò của nó trong việc thúc đẩy phát triển thương hiệu SPDL ở các địa phương. Trong
khi đó thì các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đã làm rất tốt vấn đề này.
Nhóm SPDL vô hình bao gồm những thành tố là: Các loại dịch vụ, nguồn tài
nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. Trong đó, các loại dịch vụ là những yêu cầu cần
thiết để quá trình đón, phục vụ và tiễn khách diễn ra một cách thuận lợi. “… Trong các
loại dịch vụ đó thì mỗi loại dịch vụ đảm nhận một vai trò khác nhau nhưng trên cơ bản
là nó phải tương hỗ lẫn nhau, giúp cho SPDL đến tay người tiêu dùng một cách hoàn
hảo nhất…” [17: 15]. Và có thể khẳng định, thành tố này ảnh hưởng rất nhiều đến việc
nhận định chất lượng một SPDL của du khách, như chính các nhà nghiên cứu đi trước
đã thống nhất rằng phần nhiều SPDL có tỉ lệ chiếm cao nhất là dịch vụ. Thành tố cuối
cùng trong việc xây dựng SPDL chính là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phi vật
22
thể. Thành tố này bao gồm những yếu tố như các giá trị văn hóa bản địa. Trong đó bao
gồm những vấn đề như: Các loại hình nghệ thuật diễn xướng truyền thống, các phong
tục cũng như lễ hội địa phương…
1.1.3.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Sơ đồ 1.8: Những đặc điểm của SPDL
[Nguồn: Nhóm tác giả]
SPDL được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách: Hay nói cách khác,
chất lượng SPDL phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa mức kỳ vọng và mức cảm nhận về
chất lượng của du khách. Cần lưu ý rằng, chất lượng ở đây bao hàm cả chất lượng dịch
vụ và chất lượng của nguồn tài nguyên du lịch. Một SPDL chất lượng khi mức độ cảm
nhận có độ chênh lệch cao hơn mức độ kỳ vọng.
SPDL mang tính không di chuyển được: Bởi vì bản chất của SPDL chính là
dịch vụ và nguồn tài nguyên du lịch. Những yếu tố đó chỉ có thể được đánh giá khi
chính du khách đến nơi chúng tồn tại để hưởng thụ và tiêu dùng sản phẩm. Một dịch
vụ lưu trú được du khách đánh giá cao khi du khách rời khỏi nơi ở của mình để đến
lưu trú trong cơ sở đó. Hay với yếu tố tài nguyên du lịch cũng tương tự như vậy; chẳng
hạn như loại hình chợ nổi không thể được du khách đánh giá là đặc sắc nếu du khách
chỉ biết chúng qua thông tin truyền thông, báo chí mà không đến tận nơi để trải
nghiệm...
Đặc
điểm
SPDL
Thỏa
mãn nhu
cầu du
khách
Mang
tính
không di
chuyển
được
Quá trình
tạo và tiêu
thụ SPDL
trùng nhau
SPDL
mang
tính mùa
vụ
23
Quá trình tạo ra SPDL trùng với quá trình tiêu thụ sản phẩm: Chúng không thể
cất vào kho hay lưu trữ được. Một CTDL khuyến mãi khi được doanh nghiệp đưa ra
nếu không thu hút được du khách thì không thể trữ hoặc cất vào kho để chờ lần sau
đem ra sử dụng lại được. Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng SPDL
là cả một vấn đề. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ được SPDL là vấn đề vô
cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch.
Tính mùa vụ: Không như khái niệm “sản phẩm” đơn thuần, SPDL có tính mùa
vụ rõ rệt, bất kể là SPDL hữu hình hay vô hình. Trong cuộc sống, chúng ta thường hay
nghe cụm từ “mùa du lịch” - đó chính là những khoảng thời gian mà lượng khách đi
tham quan tăng cao (ví dụ như vào những tháng Hè, những ngày cuối năm hoặc những
ngày Tết cổ truyền...). Chính vì có tính mùa vụ dẫn đến thực trạng doanh thu của các
đơn vị kinh doanh không ổn định. Đây là hiện tượng lúc thì cung không đáp ứng được
cầu (vào mùa du lịch), lúc thì cầu lại không đáp ứng được cung (không phải mùa du
lịch). Nguyên nhân chính là trong du lịch, lượng cung khá ổn định trong thời gian dài,
còn nhu cầu của khách thì thường xuyên thay đổi, từ đó dẫn đến sự chênh lệch giữa
yếu tố cung - cầu.
Nói tóm lại, nhu cầu du lịch – động cơ du lịch – loại hình du lịch – SPDL là bốn
yếu tố mang tính quá trình sâu sắc. Yếu tố sau là kết quả của yếu tố trước. Và từ nhu
cầu du lịch đến việc hình thành SPDL có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; không có yếu
tố trước thì sẽ không hình thành yếu tố sau.
1.2. Đặc điểm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học
1.2.1. Khái quát chung
1.2.1.1. Ngành Việt Nam học
Việc nghiên cứu khái niệm “Việt Nam học” là cần thiết. Ngành khoa học này
hình thành như thế nào ? Phương pháp cũng như đối tượng nghiên cứu ra sao ?… Đây
là tiền đề để đi sâu vào phân tích sự ra đời của ngành VNH tại Việt Nam, cũng như
chương trình đào tạo của ngành khoa học này.
Trước tiên, mặc dù là một ngành khoa học nghiên cứu về một quốc gia phương
Đông, thế nhưng sự hình thành của nó lại liên quan đến sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản ở phương Tây trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phương Tây tìm cách mở rộng
bành trướng và chiếm đoạt các nước phương Đông. Trong giai đoạn từ thế kỷ XVI đến
thế kỷ XVII, các tác phẩm của Alesxanre De Rhodes, Christophoro Borri, Jean
24
Baptiste Tavenier, Samuel Baron, … chính là dấu hiệu manh nha xuất hiện việc nghiên
cứu Việt Nam. Tuy vậy, để chính thức trở thành một ngành học thì phải đến giai đoạn
cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Đây chính là giai đoạn Thực dân Pháp bắt đầu
quá trình xâm lược và thống trị nước ta. Trong giai đoạn này, hàng loạt các học giả nổi
tiếng như Henry Maspéro, Paul Pelliot, Léopold Cadìere, Pierre Gourou, … chính là
những người đặt nền móng trong việc nghiên cứu về Việt Nam. Và đến năm 1900,
Viện Viễn đông Bác cổ6
Pháp có trụ sở và thư viện chính đặt tại Hà Nội được thành
lập, và đây cũng được xem như là nơi tập trung quan trọng nhất các nhà VNH người
Pháp và phương Tây [16: 3].
Theo Trần Lê Bảo, “Việt Nam học (Vietnamology/ Vietnamologie) hay nghiên
cứu Việt Nam (Vietnamese Studies/ Etudes Vietnamienes) là khoa học liên ngành
nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam dựa trên những yếu tố của từng chuyên
ngành như Địa lý, Lịch sử, Ngôn ngữ, Văn hóa, Phong tục tập quán, Lối sống, Kinh tế,
Xã hội, Môi trường Sinh thái,… hay theo tính liên ngành của Khu vực học. Mục đích
của việc nghiên cứu trên nhằm đem lại những hiểu biết toàn diện với những yếu tố đặc
thù, độc đáo về đất nước và con người Việt Nam, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng
Tổ quốc Việt Nam ngày càng phồn thịnh, đồng thời tăng cường khả năng giao lưu và
hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa” [2: 33]. Như vậy, hiểu một cách đơn giản
thì VNH là khoa học liên ngành7
nghiên cứu tổng quan về đất nước và con người Việt
Nam thông qua các chuyên ngành nhỏ hơn. Việc nghiên cứu này góp phần vào việc
hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam.
6
: “Viện Viễn Đông Bác cổ (tiếng Pháp: École française d'Extrême-Orient, viết tắt EFEO) là một
trung tâm nghiên cứu của Pháp về Đông phương học, chủ yếu trên thực địa. Tiền thân là Phái đoàn
Khảo cổ tại Đông Dương từ năm 1898 và chính thức thành lập với tên gọi Viện Viễn Đông Bác cổ
ngày 20 tháng 1 năm 1900, Viện có nhiệm vụ nghiên cứu, khai quật khảo cổ trên toàn bán đảo Đông
Dương. Trụ sở đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Sài Gòn, Nam Kỳ trong ngày đầu thành lập
năm 1900, tới năm 1902 Viện dời ra Hà Nội… Hiện nay, Viện Viễn Đông Bác cổ thuộc Bộ Giáo dục
đại học và Nghiên cứu Pháp, có 17 trung tâm nghiên cứu tại 12 quốc gia châu Á. Trong hơn một thế
kỷ tồn tại, Viện Viễn Đông Bác cổ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về Đông phương học. ..”
[32].
7
: Xem thêm về phương pháp nghiên cứu liên ngành trong “Khu vực học và nhập môn Việt Nam học”
– Trần Lê Bảo, tr49 – 50.
25
Hội thảo Quốc tế về VNH lần thứ nhất (diễn ra trong các ngày 15 – 17 tháng 7
năm 1998 tại Hà Nội) có thể xem như là cơ sở cho các bước phát triển mới trong việc
nghiên cứu ngành khoa học này, trong đó chính Việt Nam là quốc gia giữ vai trò chủ
động và trung tâm. Sau đó, đến tháng 7 năm 2004, Hội thảo Quốc tế VNH lần thứ hai
đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, có thể thấy từ việc ra đời do nhu cầu nghiên cứu vì mục đích xâm
lược và biến nước ta thành thuộc địa, VNH đang từng bước khẳng định vai trò của
mình và cho thấy nhu cầu nghiên cứu về Việt Nam không chỉ là nhu cầu của người
nước ngoài mà trong đó có cả chính người Việt Nam. Và ngành VNH “… đã nhanh
chóng xác lập được vị trí trong hệ thống nghiên cứu, đào tạo và đang trở thành một
ngành khoa học mũi nhọn tham gia giải quyết nhiều vấn đề của khoa học và thực tiễn
đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập” [16: 9]. Ở phần
tiếp theo, đề tài sẽ liên hệ trực tiếp vai trò của ngành VNH trong vấn đề hình thành
khoa QHQT, ĐHSG; qua đó càng làm nổi bật hơn nữa về tính cấp thiết của việc đào
tạo ngành VNH trong xu thế hiện nay.
1.2.1.2. Quá trình hình thành ngành Việt Nam học tại trường Đại học Sài Gòn
Như đã đề cập, việc hình thành ngành VNH tại trường ĐHSG nằm trong xu thế
phát triển của ngành khoa học này, cũng như để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về đất nước
và con người Việt Nam. Trước việc “nâng cấp” từ trường Cao đẳng Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh thành ĐHSG với mục tiêu đào tạo đa ngành và đa cấp, được sự đồng
ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành VNH đã ra đời như một biểu hiện cho sự phát
triển chung của nhà trường [14].
Một số cột mốc quan trọng trong việc đánh dấu sự phát triển của khoa [14, 34]:
Khoa được thành lập vào tháng 3 năm 2006 theo Quyết định8
của Hiệu trưởng
trường ĐHSG.
Tháng 6 năm 2007, Hiệu trưởng đã quyết định sát nhập khoa VNH, Lịch sử,
Địa lý và Ngữ văn thành khoa Sư phạm Khoa học Xã hội.
Tháng 4 năm 2008, bộ môn VNH được tách ra từ khoa Sư phạm Khoa học Xã
hội, tái thành lập khoa VNH.
Và từ tháng 8 năm 2008, khoa VNH đã đổi tên thành khoa Văn hóa – Du lịch.
8
: Căn cứ theo Quyết định số 45/QĐ/CĐSP-TCCT.
26
Năm học 2008 – 2009, khoa bắt đầu tuyển sinh đào tạo hệ Đại học đầu tiên
(trước năm học này thì hai khóa đào tạo là Cao đẳng).
Năm học 2009 – 2010, khoa đã mở thêm hệ đào tạo liên thông chính quy từ Cao
đẳng lên Đại học.
Và cho đến năm học 2014 – 2015, với mục tiêu mở rộng rộng và đưa khoa phát
triển hơn nữa, được sự đồng ý của Bộ, khoa đã mở thêm mã ngành đào tạo Cử nhân
ngành Quốc tế học kể từ năm học 2015 – 20169
, và chính thức đổi tên từ khoa Văn hóa
– Du lịch thành khoa QHQT (Quyết định chính thức đổi tên từ ngày 1 tháng 4 năm
2015).
Như vậy, trải qua 9 năm thành lập, từ năm 2006 đến nay (2015), khoa đã từng
bước có những thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức cũng như nội dung đào tạo để phù hợp
với xu thế chung của xã hội và đáp ứng được nguồn nhân lực lao động mà thị trường
lao động yêu cầu.
Sơ đồ 1.9: Mô hình các ngành, chuyên ngành đào tạo của khoa QHQT, ĐHSG
(bắt đầu từ năm học 2015 – 2016)
[Nguồn: Nhóm tác giả]
9
: Căn cứ theo Quyết định số 5743/QĐ-BGD&ĐT – mã ngành đào tạo 52220212.
Khoa
Quan hệ Quốc tế
Ngành Quốc tế học
Chuyên ngành
Châu Âu học
Chuyên ngành
Châu Mỹ học
Chuyên ngành
Quan hệ Quốc tế
Ngành Việt Nam học
Chuyên ngành
Văn hóa - Du lịch
27
1.2.2. Đặc điểm của chương trình đào tạo
1.2.2.1. Mục tiêu đào tạo của ngành Việt Nam học10
Như đã đề cập, ngành VNH là một khoa học liên ngành, nghiên cứu tất cả
những phương diện về Việt Nam. Trong khi đó, ngành VNH tại ĐHSG tập trung vào
hai mảng lớn của ngành VNH, đó chính là nghiên cứu tập trung vào văn hóa và du lịch
Việt Nam. Do vậy, ta có thể thấy việc chuyển tên khoa từ VNH thành khoa VHDL là
một bước đi đúng đắn và chính xác của Ban lãnh đạo nhà trường và Ban lãnh đạo của
khoa.
Mục tiêu đào tạo của khoa là11
:
Về mục tiêu chung: “Đào tạo những cử nhân có kiến thức và năng lực hoạt
động trong lĩnh vực văn hóa, du lịch, công tác trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức,
công ty về các loại hình văn hóa và du lịch trong – ngoài nước”.
Về mục tiêu cụ thể:
Bảng 1.10: Mục tiêu đào tạo sinh viên ngành VNH, ĐHSG
Stt Mục tiêu Yêu cầu
1 Về phầm chất đạo
đức
Yêu tổ quốc, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng
nghiệp vụ vững vàng, tác phong chuẩn mực, tinh thần
trách nhiệm cao, yêu nghề
2 Về kiến thức Sinh viên được trang bị đầy đủ kiến thức về Lịch sử -
Văn hóa – Địa lý – Kinh tế - Du lịch – Con người Việt
Nam từ truyền thống đến đương đại. Tập trung kiến
thức về quản lý và thực hành nghề nghiệp trong các lĩnh
vực văn hóa và du lịch
3 Về kỹ năng Lĩnh vực du lịch:
Sinh viên có khả
năng đáp ứng
được yêu cầu về
Lĩnh vực văn
hóa: Sinh viên
có khả năng ở
các công tác
Có khả năng
giao tiếp bằng
ngôn ngữ Anh
trong lĩnh vực
10
: Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả tập trung vào việc phân tích mục tiêu và
chương trình đào tạo của ngành VNH của khoa QHQT, không đề cập đến nội dung và chương trình
đào tạo của ngành Quốc tế học.
11
: Căn cứ theo Quyết định số 1971/QĐ/ĐHSG-ĐT ngày 19 tháng 10 năm 2012 của Hiệu trưởng
ĐHSG.
28
nguồn nhân lực
quản lý và nghiệp
vụ: Lữ hành,
khách sạn và nhà
hàng.
quản lý văn hóa,
lễ hội và hoạt
động tổ chức sự
kiện văn hóa.
du lịch.
[Nguồn: Quyết định số 1971/QĐ/ĐHSG-ĐT ngày 19 tháng 10 năm 2012
của Hiệu trưởng ĐHSG – tr1]
Như vậy, thông qua mục tiêu đào tạo, ta có thể thấy sinh viên ngành VNH khoa
QHQT tập trung chủ yếu vào những mảng kiến thức thuộc về văn hóa, du lịch. Mặt
khác, về mặt kỹ năng, sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức đa ngành nghề;
chúng liên quan đến những nghiệp vụ về hướng dẫn du lịch, nhóm nghiệp vụ về nhà
hàng (nghiệp vụ bàn, nghiệp vụ bếp, nghiệp vụ pha chế, v.v…) hoặc nhóm nghiệp vụ
về khách sạn (nghiệp vụ lễ tân, nghiệp vụ buồng phòng, v.v…) thông qua việc học
thêm một khóa nghiệp vụ tại các cơ sở đào tạo bên ngoài có thẩm quyền do Tổng cục
Du lịch ủy nhiệm. Như vậy, sinh viên được quyền lựa chọn cho mình những hướng
phát triển nghề nghiệp khác nhau, dựa trên năng lực và sở thích của bản thân.
1.2.2.2. Chương trình đào tạo của ngành Việt Nam học
“Việc định hướng phát triển ngành đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn là
việc không đơn giản, vì chưa có sự thống nhất về bản thân khái niệm, đối tượng, nội
dung, phương pháp, v.v… Bởi Việt Nam học là môn học trong đó có sự tích hợp của
các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu về Đất nước – Lịch sử - Văn hóa
– Con người Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam lại được coi là một bộ phận của khu
vực học với tư cách là một chỉnh thể độc lập, nên việc nghiên cứu Việt Nam học có thể
dựa trên phương pháp tiếp cận khu vực học, phương pháp liên ngành, đa ngành cũng
như là kết hợp phương pháp riêng biệt của nhiều ngành khác” [14]. Đây cũng chính là
một vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng trong tình hình hiện nay. Các trường có
đào tạo Cử nhân ngành VNH hiện nay hầu hết đều chưa có sự thống nhất trong việc
thống nhất chương trình đào tạo, các môn học còn thiếu tính logic trong vấn đề thiết
kế. Chính điều này đã và đang tạo ra sự khác biệt trong công tác đào tạo tại các trường.
29
Cụ thể, từ khi thành lập (năm 2006) đến nay, khoa đã nhiều lần thay đổi chương
trình đào tạo12
. Các lần thay đổi chương trình đào tạo bao gồm: Giai đoạn 2006 – 2009
(hệ Cao đẳng theo niên chế); giai đoạn 2007 – 2010 (hệ Cao đẳng theo niên chế); giai
đoạn 2008 – 2009 (hệ Đại học và hệ Cao đẳng theo tín chỉ); giai đoạn 2010 - 2014 (hệ
Đại học theo tín chỉ); giai đoạn 2012 – 2016 (hệ Đại học và hệ Cao đẳng theo tín chỉ).
Những sự điều chỉnh này nhằm góp phần vào việc bám sát thực tiễn xã hội và nâng
cao chất lượng đào tạo.
Trong nội dung đề tài này, chúng tôi tập trung vào việc dẫn chứng những thay
đổi, điều chỉnh trong các học phần liên quan đến các chương trình Thực tế chuyên
môn của khoa.
Bảng 1.11: Thống kê các học phần Thực tế chuyên môn, ngoại khóa của sinh viên
các khóa của ngành VNH
Hệ Khóa Các chương trình Thực tế chuyên môn, ngoại khóa
Thực tế chuyên môn Ngoại khóa
Cao
đẳng
2007 – 2010 Miền Tây
(7 ngày)
Xuyên Việt
(14 ngày)
X X
2008 – 2011 Đà Lạt,
Nha Trang
(6 ngày)
Miền Trung
(11 ngày)
X X
2009 – 2012 Miền Tây
(6 ngày)
Xuyên Việt
(17 ngày)
X Bình Châu
(1 ngày)
2010 – 2013 Miền Tây
(7 ngày)
Miền Trung
(14 ngày)
X Tây nguyên
(4 ngày)
2011 – 2014 Tây nguyên
(7 ngày)
Xuyên Việt
(14 ngày)
X Vũng Tàu
(1 ngày) –
Phú Quốc
(4 ngày)
12
: Việc thay đổi chương trình đào tạo ở đây được hiểu là thay đổi (thêm, bớt hoặc bỏ) các học phần
hoặc đổi tên các học phần.
30
2012 – 2015 Miền Tây
(3 ngày)
Miền Tây, Phú
Quốc
(7 ngày)
Xuyên Việt
(14 ngày)
Đà Lạt
(3 ngày)
2013 – 2016 Vũng Tàu –
Phan Thiết
(3 ngày)
Miền Tây
(7 ngày)
Xuyên Việt
(21 ngày)
X
Đại
học
2008 – 2012 Miền Tây
(7 ngày)
Xuyên Việt
(21 ngày)
X X
2009 – 2013 ? ? ? ?
2010 – 2014 Miền Trung
(10 ngày)
Miền Tây
(5 ngày)
Xuyên Việt
(21 ngày)
Phú Quốc
(4 ngày)
2011 – 2015 Miền Tây
(7 ngày)
Xuyên Việt
(21 ngày)
Phan Thiết
(2 ngày)
2012 – 2016 Vũng Tàu
(3 ngày)
Miền Tây
(7 ngày)
Xuyên Việt
(21 ngày)
Phan Thiết
(2 ngày) –
Madagui
(2 ngày)
2013 – 2017 Vũng Tàu –
Phan Thiết
(3 ngày)
Miền Tây
(7 ngày)
Xuyên Việt
(21 ngày)
Madagui
(2 ngày)
2014 – 2018 Vũng Tàu –
Phan Thiết
(3 ngày)
Miền Tây
(7 ngày)
Xuyên Việt ?
[Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp]
Như vậy, thông qua bảng thống kê trên ta có thể thấy, các học phần Thực tế
chuyên môn đều được thay đổi linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tiễn trong mỗi
giai đoạn đào tạo qua các năm. Và một điểm đáng lưu ý đó là kể từ khóa đào tạo 2008
trở về sau, số lượng chương trình Thực tế chuyên môn và ngoại khóa đã tăng lên đáng
kể (trừ trường hợp lớp hệ Đại học khóa 2011). Điều này có những mặt ưu, đồng thời
cũng có những khiếm khuyết nhất định. Về mặt ưu, điều này tạo cho sinh viên các
khóa sự trải nghiệm đa dạng và khác nhau, tránh trùng lặp. Tuy nhiên, mặt khuyết ở
31
đây chính là việc thường xuyên thay đổi chương trình thực tế sẽ khiến cho sinh viên
khó khăn trong việc chuẩn bị kinh phí. Mặt khác, trong tình hình hiện nay, khi mà như
đã đề cập thì nhà trường không còn hỗ trợ tối đa khả năng cho phép cho sinh viên
trong các chương trình Thực tế chuyên môn thì điều này càng gây khó khăn hơn nữa
cho Ban lãnh đạo khoa và sinh viên. Như vậy, việc thống nhất chương trình Thực tế
chuyên môn cho sinh viên các khóa là việc nên làm để tránh được những bất lợi như
nhóm tác giả đã đề cập ở trên.
Nói tóm lại, ngành VNH là ngành khoa học nghiên cứu về đất nước và con
người Việt Nam, đặc biệt là sinh viên ngành VNH khoa QHQT là những người công
tác trong ngành hướng dẫn trong tương lai, việc tiếp cận thực tiễn là điều chắc chắn
phải có. Các chương trình Thực tế chuyên môn của các khóa sinh viên mà nhóm tác
giả đã thống kê ở trên cũng đã chứng minh Ban lãnh đạo khoa đã có những nhận thức
đúng đắn về vai trò của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, số học phần Thực tế
chuyên môn đã tăng lên đa dạng hơn, qua đó giúp sinh viên có nhiều cơ hội hơn trong
việc tiếp cận thực tiễn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là thiết kế các SPDL nói chung,
các chương trình học phần Thực tế như thế nào để vừa đảm bảo tính khoa học, vừa đáp
ứng được những nhu cầu của sinh viên ? Trong chương 2 và chương 3, chúng tôi sẽ đề
xuất giải pháp thông qua việc nghiên cứu thực trạng của sinh viên.
1.2.3. Sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn
“Tính đến năm 2014, Khoa đã đào tạo được 9 khóa với tổng số trên 600 sinh
viên hệ chính quy, hơn 300 sinh viên hệ liên thông (2 lớp tại TP.HCM và 1 lớp tại
Huế). Trong đó, có 3 khóa Đại học, 6 khóa sinh viên Cao đẳng đã tốt nghiệp. Hầu hết
các sinh viên khi ra trường đều đáp ứng tốt yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ và đòi
hỏi của xã hội” [34]. Với đặc thù là trường Công lập, cho nên hầu hết sinh viên đều
đến từ các tỉnh thành trên cả nước. Tính đến thời điểm hiện nay (2015), toàn khoa có
khoảng 500 sinh viên13
với 6 lớp. Cụ thể là:
Hệ Đại học: Gồm các khóa 11 – 12 – 13 – 14.
Hệ Cao đẳng: Gồm các khóa 12 – 13.
13
: Số lượng sinh viên chính xác hiện tại là 496 sinh viên, nhóm tác giả thu được từ thực tế.
32
1.3. Xác định nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam
học
Như đã đề cập ở trên, theo quá trình phát triển của trình độ kinh tế và xã hội,
nhu cầu của con người nói chung luôn có sự biến đổi theo hướng đa dạng hóa và phức
tạp hơn; nhu cầu du lịch cũng không ngoại lệ và nhóm tác giả đã làm rõ vấn đề này ở
phần trên. Trong phần này, nhóm tác giả xác định nhu cầu lựa chọn SPDL thông qua
những tiêu chí do chúng tôi xác định và tập trung phân tích chúng. Những nhu cầu
trong việc lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, ĐHSG xoay quanh
bốn nhu cầu sau:
Nhu cầu về giá cả;
Nhu cầu về chương trình du lịch;
Nhu cầu về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ
bổ sung khác;
Nhu cầu về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành.
1.3.1. Về giá cả
Có thể nói, giá cả là một vấn đề mà khách hàng có điều kiện tiếp cận đầu tiên.
Trong nghiên cứu về marketing, giá được xem như một công cụ hữu hiệu trong việc
thu hút khách hàng và đối phó với các đối thủ cạnh tranh. “Theo quan điểm truyền
thống của kinh tế chính trị thì giá cả được hiểu một cách rất khái quát là đại lượng
chuyển hóa giá trị của sản phẩm” [11: 254]. Ở góc độ hẹp hơn, nói một cách đơn giản
thì giá được hiểu là số tiền được tính cho hàng hóa hoặc dịch vụ. Theo đó, giá cả cũng
là một phương tiện hữu hiệu để khách hàng nhận định chất lượng của một sản phẩm
nói chung, của SPDL nói riêng. Làm cách nào để chất lượng sản phẩm vẫn duy trì mà
vẫn đảm bảo mức giá cạnh tranh ? Đây là một bài toán nan giải cho các doanh nghiệp
trong tình hình kinh tế hiện nay.
Quay lại nhu cầu về giá của sinh viên ngành VNH khoa QHQT ĐHSG, trước
đây, với việc được hỗ trợ một phần từ kinh phí của nhà trường, sinh viên của khoa
cũng đã giảm được một phần áp lực về nhu cầu giá cả. Tuy nhiên, kể từ năm học 2014
– 2015, vì những yếu tố khách quan do vậy mà việc hỗ trợ kinh phí cho sinh viên từ
nhà trường đã không còn phát huy được nhiều hiệu quả. Bên cạnh đó, với đặc thù là
trường Công lập, do vậy mà thành phần chủ yếu của sinh viên đa phần là đến từ các
tỉnh thành khác nhau trên cả nước. Với thực trạng vừa học tập, vừa đi làm thêm, rõ
33
ràng là nhu cầu về giá trong tình hình năm học 2014 – 2015 trở về sau sẽ là một nhu
cầu cần được quan tâm nghiên cứu hàng đầu, qua đó hỗ trợ sinh viên trong việc thụ
hưởng những CTDL với mức giá tối ưu nhất.
1.3.2. Về chương trình du lịch
CTDL như chúng tôi đã nhận định là phương tiện thể hiện ra bên ngoài của
SPDL. Nội dung của CTDL phản ánh một phần tính đặc sắc của SPDL. Khảo sát nhu
cầu của sinh viên trong việc lựa chọn CTDL để từ đó có thể xây dựng và thiết kế
những SPDL phù hợp và đáp ứng được nguyện vọng của sinh viên. Chẳng hạn như
việc xác định các CTDL thuộc loại hình du lịch sinh thái sẽ phải đảm bảo những nội
dung gì trong SPDL sinh thái, qua đó làm nổi bật những nét đặc trưng của loại hình du
lịch này. Hay như việc xác định độ dài của CTDL, thời gian tổ chức những CTDL đó,
nội dung tham quan trong chương trình, v.v… Tất cả những yếu tố này cũng cần được
nghiên cứu.
1.3.3. Về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ
sung khác
Như đã xác định ngay từ đầu, dịch vụ là một trong những thành tố cấu thành và
quyết định đến chất lượng của SPDL. Do vậy, việc khảo sát lấy ý kiến của sinh viên về
tất cả những dịch vụ liên quan và có trong CTDL cũng là một phương pháp để căn cứ
vào đó có thể thiết kế những SPDL phù hợp cho sinh viên. Nếu đối với những đối
tượng khách bên ngoài, mỗi nhóm sẽ có những nhu cầu về dịch vụ khác nhau, thì
tương tự như vậy, trong sinh viên cũng như thế. Sự khác biệt trong các dịch vụ đối với
sinh viên là nhằm mục đích giúp sinh viên có điều kiện tiếp cận với nhiều mức độ dịch
vụ khác nhau. Qua đó giúp cho sinh viên tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm thực tiễn.
Chẳng hạn như việc đón tiếp khách sẽ như thế nào đối với khách sạn 3 sao; chúng có
gì khác nếu so với những nhà nghỉ hay khách sạn 1 sao, v.v… Như vậy, với mỗi nhóm
đối tượng sinh viên nào thì cần trải nghiệm dịch vụ đa dạng, những nhóm đối tượng
nào thì chưa cần ? Trong chương 2 sẽ làm rõ vấn đề này.
1.3.4. Về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành
Trong tất cả những nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, có thể nói
đây là một nhu cầu đặc biệt. Vì đặc thù của ngành đào tạo, do vậy mà đây cũng được
xem là một trong những yếu tố tiên quyết, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo
nói chung và chất lượng của các học phần Thực tế chuyên môn nói riêng. Những
34
SPDL mà sinh viên trải nghiệm thông qua các chuyến đi là nhằm mục đích củng cố lý
thuyết. Do vậy, nhu cầu tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành là một
tiêu chí quan trọng, là một yếu tố mà sinh viên ngành VNH khoa QHQT cân nhắc khi
lựa chọn SPDL. Điều này khác với những SPDL của những nhóm đối tượng du khách
thông thường.
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, nhóm tác giả đã làm rõ một số vấn đề liên quan đến việc cung
cấp hệ thống tri thức về khoa học du lịch. Cụ thể:
(1) Tổng hợp các nguồn tài liệu và đưa ra quan điểm về các khái niệm: Nhu cầu du
lịch, động cơ du lịch, CTDL, SPDL. Nhóm tác giả rút ra kết luận trong việc khẳng định
mối quan hệ theo tính quá trình giữa các vấn đề đó.
(2) Giới thiệu tổng quan về ngành VNH, ĐHSG với các vấn đề như: Lịch sử hình
thành ngành VNH, mục tiêu và chương trình đào tạo, cũng như giới thiệu sinh viên
của ngành hiện nay. Trong đó, chúng tôi tập trung chứng minh sự thay đổi trong các
chương trình Thực tế chuyên môn qua các giai đoạn đào tạo khác nhau, qua đó không
chỉ cho thấy nhận thức đúng đắn của Ban lãnh đạo khoa QHQT trong vấn đề tiếp cận
thực tiễn, mà còn khẳng định vai trò quan trọng trong vấn đề kết hợp lý thuyết và thực
hành của sinh viên.
(3) Cuối cùng, chúng tôi cũng đã nhận định các nhu cầu của sinh viên ngành VNH
khoa QHQT trong việc lựa chọn các SPDL. Chúng bao gồm các nhu cầu về giá cả,
nhu cầu về CTDL, nhu cầu về các dịch vụ và nhu cầu về tiếp cận thực tiễn và tích lũy
kiến thức chuyên ngành.
Những vấn đề đã nêu ở trong chương 1 là tiền đề để nhóm tác giả có cơ sở
nghiên cứu thực trạng trong việc đánh giá và lựa chọn SPDL của sinh viên trong các
phần sau của đề tài.
35
Chương 2
KHẢO SÁT VIỆC LỰA CHỌN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH
CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
2.1. Xác định một số vấn đề liên quan đến việc khảo sát
Để đạt được kết quả khảo sát, nhóm tác giả tiến hành theo quy trình sau:
Sơ đồ 2.1: Quy trình khảo sát lấy ý kiến sinh viên trong việc lựa chọn SPDL
[Nguồn: Nhóm tác giả]
2.1.1. Đối tượng khảo sát
Như đã đề cập trong phần đầu, đối tượng khảo sát mà đề tài này xác định chính
là những nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trong việc lựa chọn SPDL.
Hay nói cách khác, những nhu cầu này ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá một
SPDL của sinh viên. Chúng bao gồm: Nhu cầu giá cả, nhu cầu chương trình du lịch,
nhu cầu về các dịch vụ, nhu cầu về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức. Việc nghiên
cứu các nhu cầu này được tiến hành thông qua việc xây dựng hệ thống những câu hỏi
trong bảng khảo sát mà thông qua đó, chúng tôi có thể nhận định được vai trò của
những nhu cầu này trong việc đánh giá chất lượng SPDL của sinh viên ngành VNH
khoa QHQT.
36
2.1.2. Nội dung khảo sát
Ở mỗi nhu cầu, nhóm tác giả sẽ đặt những câu hỏi để lấy ý kiến của du khách
về việc nhận định vai trò của chúng trong việc đánh giá các SPDL. Cụ thể:
2.1.2.1. Về giá cả
Đối với nhu cầu này, nhóm tác giả đặt những câu hỏi liên quan đến thu nhập cá
nhân cũng như mức giá cho một CTDL mà sinh viên có thể đáp ứng được. Bởi vì hiện
nay, với thực tế là nhà trường không còn hỗ trợ tối đa kinh phí cho sinh viên thì giá
thành cho một CTDL thực sự là một vấn đề không phải đơn giản mà sinh viên có thể
đáp ứng được. Điều này ít nhiều phụ thuộc từ mức thu nhập của mỗi cá nhân.
2.1.2.2. Về chương trình du lịch
Đối với nhu cầu này, nhóm tác giả đặt những câu hỏi tập trung làm rõ những
vấn đề như: Độ dài và thời gian phù hợp tổ chức những chuyến đi, những loại hình du
lịch mà sinh viên có hứng thú…
2.1.2.3. Về các dịch vụ
Những dịch vụ về tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ
sung đều được đặt câu hỏi với mục đích làm rõ vai trò của chúng trong việc nhận định
SPDL.
2.1.2.4. Về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức
Đây được xem như là một nhu cầu đặc thù đối với nhóm đối tượng du khách là
sinh viên. Bởi vì với những đối tượng khách không phải là sinh viên, nhu cầu chính
yếu của họ không đơn thuần là mở mang tri thức, mà bên cạnh đó còn là nhiều nhu cầu
khác, chẳng hạn như được nghỉ dưỡng, được mua sắm, được thể hiện bản thân, … Do
vậy, để làm rõ nhu cầu này của sinh viên, những vấn đề mà nhóm tác giả làm rõ trong
việc nghiên cứu nhu cầu này bao gồm: Mục đích đạt được sau chuyến đi, đánh giá của
sinh viên về những chương trình Thực tế chuyên môn và ngoại khóa mà khoa đã tổ
chức.
37
2.2. Kết quả điều tra – phân tích và đánh giá
2.2.1. Kết quả điều tra
Như đã đề cập trong chương 1, vì giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài trong
giai đoạn 2011 – 2014, do vậy mà số lượng phiếu được phát ngẫu nhiên, trải đều cho
5 lớp đào tạo trong giai đoạn 2011 – 2014 (mỗi lớp 20 phiếu). Cụ thể sẽ là các lớp:
Đại học khóa 11 – khóa 12 – khóa 13 – khóa 14 và lớp Cao đẳng khóa 12. Ngoài ra,
để tăng độ tin cậy cũng như làm nổi bật lên những nhu cầu đặc thù của sinh viên
ngành VNH khoa QHQT, nhóm tác giả cũng đồng thời phát 50 phiếu ngẫu nhiên cho
sinh viên ngoài khoa (không phải sinh viên ngành du lịch). Bởi vì, ở một vai trò là
một du khách thông thường, sự đánh giá về SPDL cũng như nhu cầu của nhóm đối
tượng sinh viên này chắc chắn có những sự khác biệt so với sinh viên ngành VNH.
Thao tác so sánh, đối chiếu này sẽ làm nổi bật hơn những nhu cầu đặc thù của sinh
viên ngành VNH khoa QHQT.
Tổng số phiếu phát ra như đã nói là 100 phiếu cho sinh viên trong ngành VNH,
50 phiếu cho sinh viên ngoài khoa ngẫu nhiên. Tuy nhiên, tổng số phiếu hợp lệ thu về
là 89 phiếu đối với sinh viên trong ngành VNH và 42 phiếu đối với sinh viên ngoài
khoa. Cụ thể:
Bảng 2.2: Thống kê kết quả khảo sát sinh viên ngành VNH
Hệ Khóa Số phiếu hợp lệ Số phiếu không hợp lệ14
Đại học
11 20 0
12 15 5
13 18 2
14 16 4
Cao đẳng 12 20 0
Tổng cộng 89 11
[Nguồn: Nhóm tác giả]
14
: Phiếu được xem là không hợp lệ nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
- Phiếu không điền tên lớp.
- Phiếu chọn hơn một đáp án đối với những câu hỏi chỉ chọn một đáp án.
- Phiếu trả lời không đủ số lượng câu hỏi.
38
2.2.2. Phân tích và đánh giá
2.2.2.1. Đối với sinh viên ngành Việt Nam học
Theo thực trạng hiện nay, ngoài các học phần Thực tế chuyên môn, sinh viên
trong các năm đào tạo còn được tham gia các chương trình ngoại khóa. Những
chương trình ngoại khóa này thường là ngắn ngày, được tổ chức với mục đích là tạo
điều kiện cho sinh viên có thêm cơ hội trải nghiệm thực tiễn. Yêu cầu về chuyên môn
trong các chương trình này (chẳng hạn như chuẩn bị bài thuyết minh, viết báo cáo thu
hoạch sau tour, …) là không cao, sinh viên chỉ đơn giản là tham gia với mục đích có
thêm cơ hội để trải nghiệm thực tiễn. Tuy nhiên, thay vào đó, những CTDL là ngoại
khóa lại yêu cầu tính chủ động của sinh viên cao, sinh viên phải nắm bắt các thông
tin về việc thuyết minh, học tập các kỹ năng nghiệp vụ một cách chủ động, chứ
không đơn thuần là làm việc theo sự phân công của giảng viên như những chương
trình thực tế chuyên môn.
Tuy nhiên, khảo sát qua các lớp thì một thực tế hiện nay là mỗi lớp chỉ có thể
tham gia thêm một chương trình ngoại khóa; kết hợp với các học phần Thực tế
chuyên môn. Điều này chưa đáp ứng được nguyện vọng của sinh viên vì thông qua
khảo sát, phần đông sinh viên đều mong muốn có thêm những chương trình ngoại
khóa để tham gia. Cụ thể:
Bảng 2.3: Quan điểm của sinh viên ngành VNH về vấn đề bổ sung
các chương trình ngoại khóa
Quan điểm của sinh viên Trả lời
Về việc có nên tổ chức
thêm các chương trình
ngoại khóa hay không ?
Có Không
80,9% 19,1%
Nếu có, thêm bao nhiêu
chuyến ?
1 chuyến 2 chuyến 3 chuyến 4 chuyến
40,3% 55,5% 4,2% 0%
[Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015]
Thông qua bảng trên, 80,9% sinh viên khi được hỏi đều mong muốn được tham
gia thêm những chương trình tham quan ngoại khóa. Chỉ có 19,1% trả lời là không
muốn tham gia. Mặt khác, số sinh viên mong muốn được tham gia thêm hai chuyến
39
ngoại khóa chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,5% và tham gia thêm một chuyến với 40,3%.
Chỉ có 4,2% sinh viên mong muốn tham gia thêm ba chuyến ngoại khóa. Điều này
cũng dễ hiểu, bởi vì sinh viên của mỗi khóa đào tạo đã tham gia ba học phần Thực tế
chuyên môn, như vậy nếu là một phép tính đơn giản thì sinh viên tham gia trung bình
gần một chương trình Thực tế chuyên môn cho một năm. Do vậy mà việc mong
muốn có thêm từ một đến hai chương trình ngoại khóa trong bốn năm đào tạo là điều
có thể lý giải được.
Đối với những chương trình Thực tế chuyên môn thì hầu như đã được mặc định
trong chương trình đào tạo, trong khi đó, những chương trình ngoại khóa này có thể
thiết kế linh hoạt theo từng năm. Ban lãnh đạo khoa có thể xem xét xu hướng và lựa
chọn những điểm du lịch đang trong giai đoạn phát triển của từng năm để tổ chức cho
sinh viên tham gia nhằm nắm bắt tình hình thực tiễn, cũng như có cơ hội trải nghiệm.
Lấy ví dụ như trong năm 2015, đảo Bình Ba (tỉnh Khánh Hòa) hay đảo Nam Du (tỉnh
Kiên Giang) đang là những điểm du lịch thu hút nhiều đối tượng du khách. Do đó,
khoa có thể thiết kế những chương trình ngoại khóa đến các điểm du lịch này cho
sinh viên có cơ hội trải nghiệm. Điều này một mặt vừa có thể giúp cho các chương
trình ngoại khóa đỡ phần nhàm chán, mặt khác vừa có thể giúp cho sinh viên nhanh
chóng cập nhật tình hình phát triển của những điểm du lịch mới nổi.
Biểu đồ 2.4: Mức thu nhập bình quân hàng tháng của sinh viên ngành VNH
[Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015]
16%
48%
25%
11%
1 triệu -> 2 triệu
2 triệu -> 3 triệu
3 triệu -> 4 triệu
> 4 triệu
40
Với đặc thù là trường Công lập, do vậy mà sinh viên của trường nói chung, sinh
viên của ngành VNH nói riêng đa số đến từ khắp các tỉnh thành trong cả nước. Ngoài
việc học, phần lớn sinh viên đều phải đi làm thêm để có thêm thu nhập chi trả cho sinh
hoạt phí. Qua khảo sát, 48% sinh viên khi được hỏi có mức thu nhập trong khoảng từ 2
triệu đến 3 triệu; 25% sinh viên có mức thu nhập trong khoảng từ 3 triệu đến 4 triệu,
16% sinh viên có mức thu nhập trong khoảng từ 1 triệu đến 2 triệu, cuối cùng đối với
số lượng sinh viên có mức thu nhập trên 4 triệu chỉ chiếm 11%. Với nguồn thu như
vậy, rõ ràng là sinh viên rất cần những CTDL ở mức độ vừa phải về giá cả. Bởi vì như
chúng ta đã biết, khi tham gia một CTDL thì ngoài số tiền phải đóng, sinh viên còn
phải chi trả cho những chi phí khác trong quá trình tham gia, chẳng hạn như tiền tiêu
dùng, mua sắm, các chi phí phát sinh khác,…
Liên quan trực tiếp đến câu hỏi ở trên, nhóm tác giả tiếp tục đặt câu hỏi “Một
chương trình du lịch có giá dao động trong khoảng bao nhiêu thì bạn đáp ứng được
?” và nhận được kết quả theo biểu đồ bên dưới.
Biểu đồ 2.5: Ý kiến của sinh viên về giá bình quân của một CTDL
[Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015]
Theo như biểu đồ trên, lần lượt các mức giá “dưới 1 triệu” và “từ 1 đến 2
triệu” cho một CTDL được các sinh viên lựa chọn theo tỷ lệ 48% và 43%. Rất ít sinh
viên (9%) có thể đáp ứng được mức giá “từ 2 đến 3 triệu” cho một CTDL. Do vậy,
48%
43%
9% 0%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
Dưới 1 triệu Từ 1 đến 2 triệu Từ 2 đến 3 triệu Trên 3 triệu
41
với thu nhập bình quân trong khoảng từ hai triệu đến ba triệu thì hiển nhiên, một
CTDL cho sinh viên với mức giá dưới một triệu là hợp lý.
Con số này phản ánh một thực tế hiện nay và không khó để lý giải, bởi vì nhu
cầu thụ hưởng những SPDL với mức giá thấp luôn là một nhu cầu cần thiết đối với
nhóm đối tượng khách là sinh viên. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, như đã đề cập,
nhà trường không còn hỗ trợ tối đa cho sinh viên về vấn đề kinh phí thì hơn bao giờ
hết, giá thành là một vấn đề mà Ban lãnh đạo khoa cần phải xem xét.
Biểu đồ 2.6: Ý kiến của sinh viên về độ dài của một chương trình ngoại khóa
[Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015]
Với mong muốn giá thành cho một CTDL trong khoảng dưới một triệu đồng thì
đồng thời, 46% sinh viên cũng chấp nhận độ dài cho một chương trình tham quan
trong khoảng thời gian là “2 ngày”. Điều này là chấp nhận được trong tình hình nhà
trường hỗ trợ sinh viên về phương tiện vận chuyển. 30% sinh viên cho rằng độ dài hợp
lý là từ ba ngày đến bốn ngày. “1 ngày” là hơi ít cho việc giải trí của sinh viên, do vậy
mà chỉ có 18% sinh viên lựa chọn kết quả này. Cuối cùng, 6% sinh viên lựa chọn kết
quả trên bốn ngày. Theo nhóm tác giả, các học phần Thực tế chuyên môn đều kéo dài
tối thiểu là ba ngày (đối với học phần “Thực tế chuyên môn 1”), do vậy mà đối với các
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
40%
45%
50%
1 ngày
2 ngày
3ngày -> 4
ngày > 4 ngày
18%
46%
30%
6%
42
chương trình ngoại khóa thì độ dài cho một chương trình trong khoảng hai ngày là phù
hợp.
Biểu đồ 2.7: Ý kiến của sinh viên về thời điểm tổ chức các CTDL
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Theo như kết quả của biểu đồ trên thì phần đông sinh viên (57%) lựa chọn thời
điểm “Sau thi học kỳ” để tổ chức những chuyến đi. Ý kiến cho rằng nên đi sau Tết
hoặc trước Tết chiếm tỷ lệ không đáng kể, lần lượt là 19% và 24%. Điều này theo
nhóm tác giả là chưa thỏa đáng và cần phải xem xét. Bởi vì mặc dù việc lựa chọn mốc
thời điểm là “Sau thi học kỳ” có thể chấp nhận được vì đây là khoảng thời gian mà
sinh viên tham gia các CTDL với tâm lý thoải mái nhất sau khi đã hoàn thành kỳ thi
học kỳ. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, các chương trình Thực tế chuyên môn thường
được tổ chức bình quân mỗi năm một lần. Do vậy, điều kiện tiên quyết để tổ chức
những CTDL này là cần phải có độ giãn thích hợp. Hay nói cách khác, thời gian của
những CTDL này cần phải có sự dàn trải phù hợp, tránh tổ chức quá sát với thời gian
tổ chức các chương trình thực tế. Do đó, thời gian tổ chức những chương trình ngoại
khóa phải phụ thuộc vào thời gian tổ chức các học phần Thực tế chuyên môn.
Với tình hình thực tiễn hiện nay, khi mà chưa có sự thống nhất trong thời gian
tổ chức cho sinh viên tham gia các học phần Thực tế chuyên môn thì việc lựa chọn
một mốc thời gian cụ thể là “Sau thi học kỳ” là không phù hợp.
0% 10% 20% 30%
40%
50%
60%
Trước Tết
Sau Tết
Trước thi học kỳ
Sau thi học kỳ
24%
19%
0%
57%
43
Mặt khác, khi được hỏi “Mục đích chính khi tham gia các chương trình du lịch
là gì ?” thì sinh viên đã có những phản hồi tích cực về nhận thức. Điều này được thể
hiện qua biểu đồ bên dưới.
Biểu đồ 2.8: Mục đích khi tham gia các CTDL của sinh viên
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Sở dĩ chúng tôi nhận xét đây là phản hồi tích cực về nhận thức trong sinh viên
bởi vì 76% sinh viên khi được hỏi đều trả lời rằng “Kết hợp cả hai yếu tố: Vui chơi và
học tập”. Nếu đây là những chương trình Thực tế chuyên môn thì không có gì để bàn
cãi. Tuy nhiên, với tính chất là một chương trình ngoại khóa (mang yếu tố trải nghiệm
và giải trí cao) thì việc nhận thức như trên của sinh viên là một tín hiệu khả quan. Tiếp
theo, chỉ có 7% sinh viên lựa chọn ý kiến “Vui chơi là chủ yếu”; điều này cũng không
khó để lý giải bởi vì với khoảng thời gian trung bình cho một chuyến đi ngoại khóa là
không dài thì việc vui chơi chắc chắn được sinh viên đặt lên hàng đầu. Cuối cùng là
17% sinh viên lựa chọn kết quả “Học tập kiến thức chuyên ngành là chủ yếu”. Mặc dù
điều này phản ánh một thực tiễn theo hướng lạc quan, tuy nhiên thì cũng không nên.
Bởi vì, du lịch là một hoạt động cần được trải nghiệm và tích lũy dần theo thời gian.
Kiến thức mặc dù quan trọng nhưng không phải là tất cả. Thêm vào đó, trong ba học
phần “Thực tế chuyên môn 1/2/3” sinh viên đã được trau dồi về phương diện kiến
7% 17%
76%
0%
Vui chơi là chủ yếu
Học tập kiến thức chuyên
ngành là chủ yếu
Kết hợp cả hai yếu tố: Vui
chơi và học tập
Khác
44
thức, do vậy mà đối với các chương trình ngoại khóa, sinh viên cũng nên tham gia với
tinh thần và tâm lý thoải mái nhất.
Tuy nhiên, với thực trạng được khảo sát như vậy, Ban lãnh đạo khoa cũng như
các nhà làm du lịch cũng nên xem xét đến việc dung hòa hai yếu tố học và chơi bằng
cách phân bổ một lượng thời gian phù hợp, đồng thời đảm bảo yếu tố thông tin kiến
thức hay và hoạt động vui chơi hấp dẫn. Nếu làm được điều này thì chắc chắn sẽ tạo
được một SPDL phù hợp và thành công cho sinh viên.
Bảng 2.9: Xu hướng lựa chọn các loại hình du lịch của sinh viên
Stt Loại hình du lịch Tỷ lệ sinh viên lựa chọn
1 Du lịch văn hóa 17%
2 Du lịch sinh thái 21%
3 Du lịch biển 46%
4 Du lịch về nguồn 10%
5 Khác 6%
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Với kết quả từ bảng trên, nhóm tác giả có vài nhận xét sau:
1) Kết quả trên phản ánh một thực tế là sinh viên rất cần những CTDL liên quan
đến hoạt động biển. Gần một nửa sinh viên (46%) có xu hướng lựa chọn loại
hình du lịch biển. Điều này theo chúng tôi là thỏa đáng. Với đặc thù chuyên
ngành VHDL, do vậy mà các chương trình Thực tế chuyên môn đều được thiết
kế để sinh viên tham quan các điểm du lịch liên quan đến văn hóa, lịch sử.
2) Ngoài ra thì du lịch sinh thái cũng là loại hình du lịch tạo nhiều hứng thú cho
sinh viên. Cần phải hiểu khái niệm “du lịch sinh thái” theo nghĩa chính xác
nhất của nó thì mới thấy được những cái đặc sắc của loại hình du lịch này. Xem
lại trong các chương trình Thực tế chuyên môn, sinh viên chỉ được tiếp cận
những khu du lịch, những điểm du lịch sinh thái. Điều này chưa thể gọi là tham
gia loại hình du lịch sinh thái. Do đó, đây cũng là một loại hình du lịch mà Ban
lãnh đạo khoa cũng cần thiết xem xét.
3) Như đã đề cập ở trên, du lịch văn hóa là loại hình du lịch gần như là chủ đạo
đối với sinh viên ngành VNH. Đây cũng là một loại hình du lịch đặc sắc, tuy
45
nhiên vì đã được trải nghiệm nhiều trong các học phần Thực tế chuyên môn, do
vậy mà chỉ có 17% sinh viên có xu hướng lựa chọn chúng. Điều này cũng
tương tự đối với loại hình du lịch về nguồn (10%).
4) Cuối cùng, đối với ý kiến là tham gia các loại hình du lịch khác, theo như kết
quả khảo sát, chúng tôi nhận được một số ý kiến về các loại hình du lịch như:
Du lịch mạo hiểm, du lịch leo núi, du lịch khám phá, v.v… Trong số những loại
hình du lịch vừa liệt kê ở trên, có thể thấy rằng chúng không khả thi nếu đặt
trong trường hợp là thiết kế CTDL ngoại khóa cho sinh viên. Bởi vì nếu thiết kế
theo những loại hình du lịch đó thì sẽ có rất nhiều trường hợp phát sinh mà theo
chúng tôi, vấn đề lớn nhất chính là mức độ an toàn cho sinh viên.
Mặt khác, như đã xác định ngay từ đầu, SPDL là một phạm trù mà trong đó bao
gồm cả dịch vụ. Hay nói cách khác, chất lượng của một SPDL được đánh giá chất
lượng hay không phụ thuộc vào chất lượng của dịch vụ. Và để lấy ý kiến của sinh viên
trong việc nhận định chất lượng của SPDL, nhóm tác giả cũng đã đặt những câu hỏi
liên quan đến dịch vụ vận chuyển và dịch vụ tại các cơ sở lưu trú. Bên cạnh đó, chúng
tôi cũng đồng thời khảo sát nhu cầu về các hoạt động vui chơi trong các CTDL.
Ở những câu hỏi này, chúng tôi đưa ra phương án trả lời dưới hình thức thang
đo theo thứ tự tăng dần. Cụ thể: Mức độ thấp nhất sẽ là “rất không ảnh hưởng”, và
mức độ cao nhất sẽ là “rất ảnh hưởng”. Như vậy, căn cứ vào kết quả khảo sát, ta có
thể rút ra vai trò của những dịch vụ đó trong việc đánh giá chất lượng một SPDL của
sinh viên. Đây là việc làm cần thiết, bởi vì khi đã nắm bắt được nhu cầu của sinh viên
thì khi đó, những người thiết kế các SPDL mới có thể đưa ra những dịch vụ phù hợp
hơn để đáp ứng nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT. Tuy nhiên, đây cũng
chỉ là một trong số nhiều phương pháp góp phần hoàn thiện hóa các SPDL. Bởi vì
SPDL là sự nhận định tổng hòa nhiều yếu tố, các dịch vụ không quyết định toàn bộ
chất lượng của một SPDL. Vấn đề này trong chương 1 nhóm tác giả đã làm rõ.
Biểu đồ bên dưới là kết quả mà chúng tôi đã thu được sau khi tiến hành khảo
sát.
46
Biểu đồ 2.10: Nhận định của sinh viên về vai trò của các dịch vụ trong việc
đánh giá chất lượng của SPDL
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Như vậy, quan sát vào biểu đồ 2.10, ta thấy rằng tất cả những dịch vụ về vận
chuyển và lưu trú đều rất ảnh hưởng đến việc nhận định chất lượng của một SPDL.
Bởi vì, ở mức độ “Rất không ảnh hưởng” và “Không ảnh hưởng” đều không có sinh
0% 50% 100%
Nhu cầu về hoạt động vui chơi
(gala,team building…)
Dịch vụ vận chuyển
Vai trò của cơ sở vật chất tại nơi
lưu trú
Nhu cầu về hoạt động
vui chơi (gala,team
building…)
Dịch vụ vận chuyển
Vai trò của cơ sở vật
chất tại nơi lưu trú
Rất không ảnh hưởng 0 0 0
Không ảnh hưởng 0 0 0
Bình thường 42% 60% 13%
Ảnh hưởng 35% 25% 26%
Rất ảnh hưởng 23% 15% 61%
47
viên nào lựa chọn. Điều này đồng nghĩa với việc những SPDL khi thiết kế cho sinh
viên của khoa sau này đều phải lưu ý đến những dịch vụ này.
Trước tiên, đối với vấn đề nhận định vai trò của cơ sở vật chất tại nơi lưu trú,
61% sinh viên cho rằng chúng rất ảnh hưởng đến chất lượng của một chuyến đi. 26%
sinh viên cho rằng chúng chỉ ảnh hưởng ở một mức độ vừa phải, tức là sinh viên sẽ
không đơn thuần dựa vào chất lượng của cơ sở vật chất tại nơi lưu trú mà đánh giá
chất lượng của một SPDL là tốt hay chưa tốt. Nhận định “Bình thường” là lựa chọn
trả lời có tỉ lệ thấp nhất với 13% sinh viên.
Tiếp theo, đối với câu hỏi về việc nhận định của sinh viên về vai trò của dịch vụ
vận chuyển trong đánh giá chất lượng SPDL thì 60% sinh viên cho rằng là ảnh hưởng
ở mức độ bình thường, chiếm tỉ lệ cao nhất; tỉ lệ sinh viên lựa chọn kết quả là “Ảnh
hưởng” chiếm tỉ lệ cao thứ hai với 25%; và 15% sinh viên thì chọn mức độ cao nhất là
“Rất ảnh hưởng”. Như vậy, 15% sinh viên lựa chọn kết quả “Rất ảnh hưởng” có lẽ là
những người thường xuyên gặp hiện tượng say xe trong quá trình vận chuyển. Thực
chất đây không phải là một vấn đề hiếm hoi, điều này còn phụ thuộc vào khả năng lái
xe của tài xế. Trong những năm qua, vấn đề vận chuyển là một trong những điểm
mạnh mà sinh viên được hưởng quyền lợi nhiều nhất, khi mà nhà trường đã hỗ trợ toàn
bộ phương tiện vận chuyển; qua đó cũng góp một phần vào việc giảm giá dịch vụ cho
sinh viên. Tuy nhiên thì nhìn chung, với thực trạng nhận định như kết quả khảo sát thì
thiết nghĩ cũng cần phải xem xét lại về dịch vụ vận chuyển. Bởi vì đây cũng là một
yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng của một SPDL.
Cuối cùng, đối với nhu cầu về các hoạt động vui chơi giải trí trong CTDL, 42%
sinh viên cho rằng chúng không ảnh hưởng quá nhiều đến chất lượng của SPDL; 35%
sinh viên cho rằng ảnh hưởng; và thấp nhất là 23% sinh viên cho rằng chúng rất ảnh
hưởng đến chất lượng của SPDL. Như vậy, có thể thấy rằng số liệu trên phản ánh một
thực trạng là nhu cầu vui chơi các chương trình như gala, vận động biển trong CTDL
là cần thiết. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tiễn thì theo quan điểm của chúng
tôi, để đảm bảo toàn bộ các CTDL đều được tổ chức gala hoặc vận động biển là một
điều không dễ, chúng chịu tác động từ quy mô (hay độ dài) của chuyến tham quan.
Đối với những chương trình ngắn ngày, có lẽ là không cần thiết để tổ chức các chương
trình gala. Mặt khác, đối với các chương trình vận động biển thì ta chỉ có thể tổ chức
với điều kiện là ta sử dụng SPDL biển. Do vậy mà, đối với các hoạt động vận động
48
biển, khi thiết kế các SPDL, ta cần chú trọng hơn đến việc tổ chức vận động biển để
nâng cao chất lượng SPDL. Cuối cùng, những hoạt động gala hay vận động biển, Ban
lãnh đạo khoa có thể định hướng để chính sinh viên là những người đứng ra chủ động
tổ chức và thực hiện những chương trình đó. Nếu làm được điều này thì một mặt, sinh
viên có thể nắm bắt được quy trình cũng như kỹ năng tổ chức một chương trình gala,
mặt khác sinh viên có thể rút kinh nghiệm cho bản thân mình. Điều này là có lợi cho
sinh viên sau này.
Vấn đề tiếp theo mà nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng cũng liên
quan đến dịch vụ lưu trú. Chúng tôi đã đặt câu hỏi “Vị trí của cơ sở lưu trú mà bạn
mong muốn ?” và nhận được kết quả theo sơ đồ bên dưới:
Biểu đồ 2.11: Nhu cầu lựa chọn vị trí của cơ sở lưu trú của sinh viên
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Bên cạnh giá cả, vị trí của cơ sở lưu trú có ảnh hưởng rất lớn đến chuyến đi. Vì
tâm lý của du khách khi đi du lịch thường thích ở những nơi thuận tiện cho việc đi lại,
gần các khu vui chơi, mua sắm, các địa điểm ăn uống đặc trưng…và nơi đáp ứng được
46%
43%
0%
11%
0%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
40%
45%
50%
Trung tâm thành phố Gần trung tâm Xa trung tâm Không quan tâm,ở
đâu cũng được
49
những điều kiện đó thường chỉ có thể là vị trí trung tâm hoặc gần trung tâm của một
thành phố hoặc một tỉnh. Vì vậy có đến 46% sinh viên cho rằng cơ sở lưu trú cần ở
ngay trung tâm và 46% lựa chọn ở gần trung tâm. Chỉ 11% là muốn ở xa trung tâm.
Mặt khác, đối với bất kì ai đi du lịch, nơi lưu trú ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần của
họ trong chuyến đi và trên thực tế, các cơ sở lưu trú nằm ở trung tâm vẫn đảm bảo về
chất lượng cơ sở vật chất và dịch vụ hơn so với các nơi khác nên việc sinh viên lựa
chọn ở trung tâm là điều có thể lý giải được.
Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, mặc dù đây là một nhu cầu chính đáng của sinh
viên, thế nhưng để đảm bảo tất cả những SPDL đều có được nơi lưu trú ở một vị trí
thuận lợi là điều không đơn giản. Bởi vì, vị trí tọa lạc cũng ảnh hưởng rất nhiều đến
giá phòng. Và trong điều kiện giá cả là yếu tố quan trọng trong vấn đề thiết kế SPDL
cho sinh viên thì việc luôn đảm bảo về vị trí cơ sở lưu trú thuận lợi không phải là điều
đơn giản. Do vậy mà cần dung hòa, thiết kế và điều chỉnh các đơn vị lưu trú sao cho
phù hợp và thuận tiện nhất cho sinh viên trong suốt CTDL.
Tiếp theo, cũng liên quan đến vấn đề tại cơ sở lưu trú, chúng tôi đặt câu hỏi về
vấn đề sức chứa trong một phòng cho sinh viên tại nơi lưu trú. Đây cũng được xem là
một vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá chất lượng của SPDL.
Biểu đồ 2.12: Quan điểm của sinh viên về sức chứa hợp lý trong một phòng
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Khi đi du lịch, tinh thần thoải mái là yếu tố rất quan trọng và cần thiết. Vì dù là
đối tượng nào đi nữa, tâm lý thoải mái sẽ giúp cho mọi người trong chuyến đi gắn kết
15%
30%
44%
11%
1 hoặc 2 người
3 người
4 người
Trên 4 người
50
và tạo nên một chuyến đi hoàn hảo, vui vẻ. Còn ngược lại thì dù chương trình có hay
đến mức nào thì chuyến đi ấy cũng sẽ chỉ là một chuyến đi vô nghĩa. Và một vấn đề
ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý du khách đó là lượng người ở cùng phòng với họ.
Qua biểu đồ ta có thể thấy rõ đa phần mọi người lựa chọn một phòng nên ở bốn người
(chiếm tỉ lệ cao nhất với 44%), phòng ba người chiếm tỉ lệ 30%, 15% lựa chọn ở một
hoặc hai người và thấp nhất là chọn ở nhiều hơn bốn người với tỉ lệ là 11%.
Với các nhóm đối tượng du khách khác, số lượng người lưu trú trong một
phòng theo chúng tôi là càng ít thì càng khiến họ hài lòng. Tuy nhiên, đối với số lượng
khách là sinh viên thì điều này chưa hẳn là chính xác. Với đối tượng khách không phải
là sinh viên, độ tuổi của những người đó có thể chênh lệch nhau, không tương đồng.
Do đó mà việc cần có không gian riêng tư là một nhu cầu tất yếu. Trong khi đó, sinh
viên là những người thường có độ tuổi khá tương đồng nhau, điều này dẫn đến việc
tâm lý cũng tương đối giống nhau; thêm vào đó, sinh viên là những người quen biết
nhau, do vậy mà các sinh hoạt cá nhân cũng không phải là vấn đề quá lớn. Tiếp theo,
sở dĩ số lượng sinh viên đồng ý quan điểm bốn người trong một phòng vì đây là số
lượng phù hợp. Nếu đông hơn thì vấn đề vệ sinh cá nhân sẽ bị ảnh hưởng, qua đó gián
tiếp làm cho CTDL không trọn vẹn.
Nói tóm lại, thông qua việc đánh giá ý kiến của sinh viên về nhu cầu sử dụng
dịch vụ lưu trú, chúng tôi rút ra mấy nhận xét sau:
1) Dịch vụ lưu trú là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng
của một SPDL.
2) Khi thiết kế CTDL, các nhà điều hành cần lưu ý đến vấn đề về vị trí tọa lạc của
cơ sở lưu trú.
3) Đối với sinh viên, cần cân đối về sức chứa trong một phòng tại cơ sở lưu trú,
đảm bảo sự tiện nghi vừa phải cho sinh viên.
4) Cuối cùng, cần đảm bảo vấn đề sinh viên nắm bắt được quy trình về nghiệp vụ
kiểm tra dịch vụ, nghiệp vụ nhận phòng (check in) và trả phòng (check out) tại
các cơ sở lưu trú, vì đây cũng là một trong những nghiệp vụ chuyên môn.
51
Biểu đồ 2.13: Đánh giá của sinh viên về ảnh hưởng của dịch vụ ăn uống
đến chất lượng của SPDL
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Cũng là một nội dung trong việc nhận định chất lượng của một SPDL, nhóm tác
giả đã đặt câu hỏi cho sinh viên để lấy ý kiến về việc đánh giá vai trò của các yếu tố
cấu thành nên chất lượng của dịch vụ ăn uống. Cụ thể, những vấn đề đó bao gồm: Thái
độ phục vụ của nhân viên, không gian bày trí tại nhà hàng, vấn đề về vệ sinh an toàn
thực phẩm, chất lượng món ăn, giá cả,… Hiển nhiên, để đánh giá chất lượng dịch vụ
ăn uống còn có nhiều yếu tố khác cấu thành; nhưng trong phạm vi nghiên cứu những
dịch vụ này để đáp ứng nhu cầu cho đối tượng khách là sinh viên, nhóm tác giả chỉ lấy
ý kiến quanh những vấn đề cơ bản và chủ yếu nhất.
Biểu đồ 2.12 thể hiện kết quả khảo sát, thông qua đó, chúng tôi có một vài nhận
xét về kết quả trên như sau:
0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100%
Giá cả
Chất lượng món ăn
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Không gian bày trí
Thái độ phục vụ
Giá cả
Chất lượng
món ăn
Vệ sinh an
toàn thực
phẩm
Không gian
bày trí
Thái độ phục
vụ
Rất không quan tâm 0% 0% 0% 0% 14%
Không quan tâm 0% 0% 20% 8% 28%
Bình thường 42% 10% 46% 63% 47%
Quan tâm 29% 39% 6% 25% 11%
Rất quan tâm 29% 51% 28% 4% 0%
52
a) Thứ nhất, về vấn đề thái độ phục vụ của nhân viên tại nơi ăn uống, 47% sinh
viên đánh giá rằng “Bình thường”, chiếm tỉ lệ cao thứ hai (28%) là ý kiến “Không
quan tâm”; lựa chọn “Rất không quan tâm” và “Quan tâm” chiếm tỉ lệ không đáng kể
và tương đương nhau (lần lượt là 14% và 11%). Cuối cùng, lựa chọn “Rất quan tâm”
không ai lựa chọn. Như vậy, thông qua kết quả đó ta có thể thấy, gần một nửa sinh
viên cho rằng vấn đề phục vụ không phải là một vấn đề lớn tại nơi ăn uống. Tuy nhiên,
điều này theo chúng tôi là chưa phù hợp. Bởi vì, sinh viên của khoa ngoài số lượng
định hướng theo lữ hành, bên cạnh đó vẫn có một số lượng sinh viên không nhỏ định
hướng theo mảng nhà hàng. Do vậy mà việc không quan tâm đến thái độ phục vụ của
nhân viên là không nên. Thông qua những CTDL, những sinh viên có định hướng theo
mảng nhà hàng có thể quan sát, học tập các kỹ năng nghiệp vụ về phục vụ bàn. Với
những cơ sở ăn uống có quy mô khác nhau thì kỹ năng của nhân viên là khác biệt. Do
vậy, thông qua thái độ phục vụ của nhân viên tại những nơi ăn uống khác nhau, sinh
viên có thể học tập thêm về kỹ năng phục vụ trong thực tiễn, từ đó có thể phân tích và
so sánh, đồng thời rút ra kinh nghiệm cho bản thân.
b) Vấn đề thứ hai liên quan đến nội dung này là vấn đề không gian bày trí tại
nơi ăn uống. Ông bà ta vẫn thường có câu “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, và
những cơ sở ăn uống có không gian bày trí thoáng mát, sạch sẽ, thuận tiện cho du
khách thường tạo cảm giác thoải mái cho thực khách. Về vấn đề này, 63% - chiếm số
lượng lớn nhất lựa chọn kết quả “Bình thường”; chiếm tỉ lệ cao thứ hai, 25% sinh viên
trả lời là quan tâm; 8% sinh viên lựa chọn kết quả “Không quan tâm”; 4% sinh viên
lựa chọn kết quả “Rất quan tâm”, và cuối cùng không ai lựa chọn kết quả “Rất không
quan tâm”. Như vậy, ta cũng thấy được vấn đề không gian bày trí tại nơi ăn uống cũng
có ảnh hưởng đến việc đánh giá chất lượng SPDL.
c) Tiếp theo là vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm. Có thể nói đây là vấn đề có
tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội hiện nay, đặc biệt trong hoạt động du lịch thì vấn
đề này càng phải được chú trọng. Hiện nay, đây không đơn thuần chỉ là vấn đề của
riêng Việt Nam mà nó còn là vấn đề của cả thế giới. Ngộ độc thực phẩm bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như việc sử dụng hóa chất trong quá trình
nuôi trồng, do vấn đề vệ sinh trong quá trình chế biến, thực phẩm bị nhiễm độc môi
trường, … “Theo thống kê của Bộ Y tế, từ năm 2004 – 2009 đã có 1.058 vụ NĐTP
53
(nhiễm độc thực phẩm), trung bình 176,3 vụ/năm… Riêng trong năm 2010 (tính đến
20/12/2010), cả nước đã xảy ra 175 vụ ngộ độc…” [30].
Qua những số liệu thống kê trên, có thể thấy rằng đây là một vấn đề rất phức
tạp. Tuy nhiên, thông qua kết quả khảo sát từ sinh viên, 46% sinh viên (chiếm tỉ lệ lớn
nhất) lựa chọn kết quả “Bình thường”, 28% sinh viên xem trọng vấn đề này với lựa
chọn cao nhất là “Rất quan tâm”. Và đáng lưu ý nhất là 20% sinh viên lựa chọn kết
quả “Không quan tâm”, đây có thể xem như một kết quả rất đáng lưu ý. Lý giải điều
này, theo chúng tôi có lẽ bắt nguồn từ tâm lý muốn được trải nghiệm ẩm thực tại các
địa phương. Với tâm lý thích được khám phá, sinh viên có lẽ quan tâm đến việc trải
nghiệm hơn là vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong suốt quá trình trải nghiệm
SPDL, ngoài việc ăn uống theo chương trình tại các cơ sở, sinh viên còn thường xuyên
trải nghiệm ẩm thực địa phương tại những gánh hàng rong hay những quán ăn đường
phố. Theo chúng tôi, đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu có nguy cơ
cao trong việc ngộ độc thực phẩm.
Có lẽ, sinh viên cần phải nhận thức lại vấn đề này một cách nghiêm túc để tránh
những trường hợp ngộ độc đáng tiếc có thể xảy ra. Liên quan đến vấn đề này, để có thể
giải quyết triệt để không phải là đơn giản. Điều này phụ thuộc vào cấp quản lý, các cơ
quan chức năng địa phương có sự can thiệp cần thiết. Cuối cùng, chỉ có 6% sinh viên
lựa chọn ý kiến “Quan tâm”, đây là những sinh viên ý thức được tầm quan trọng của
vấn đề vệ sinh thực phẩm.
d) Mặt khác, cũng liên quan đến dịch vụ ăn uống, chúng tôi khảo sát về chất
lượng món ăn. Thực ra đây là một vấn đề rất khó nhận định và đánh giá, vì chúng còn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Thời gian, không gian… Thời gian ở đây bao gồm
những vấn đề như: Thời điểm tổ chức chuyến đi, xu hướng lựa chọn các món ăn theo
xu hướng trong từng thời điểm khác nhau, … Còn về không gian, đó là những vấn đề
về: Yếu tố văn hóa, yếu tố vùng miền, khẩu vị của du khách, v.v… Do vậy, trong khái
niệm “chất lượng” ở đây, ta cần phải hiểu ở mức độ tương đối; đó chính là việc kết
hợp và dung hòa nhiều yếu tố, từ không gian, thời gian, thực đơn và cách bố trí sao
cho tạo cho du khách sự tiện nghi tối đa. Còn đối với nghĩa tuyệt đối thì không dễ để
du khách có được sự hài lòng tuyệt đối về những món ăn đó vì như đã đề cập, mỗi
người có những trải nghiệm và cảm nhận khác nhau, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như đã nói ở trên.
54
Qua khảo sát, 51% sinh viên lựa chọn kết quả “Rất quan tâm”, chiếm tỉ lệ cao
nhất. Ý kiến “Quan tâm” chiếm vị trí thứ hai với 39% số người lựa chọn. Cuối cùng là
10% số người lựa chọn ý kiến “Bình thường”. Như vậy, khi thiết kế SPDL cho sinh
viên, nhà điều hành cần đảm bảo nguyên tắc sau: Đảm bảo có được những món ăn đặc
sản tại địa phương, đồng thời phải lựa chọn những món ăn phổ biến, đảm bảo tất cả
du khách đều dùng được (ví dụ như món trứng chiên, canh chua, …). Nếu làm tốt điều
này thì SPDL nói chung sẽ nâng cao được giá trị và chất lượng.
e) Vấn đề cuối cùng liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống chính là
giá cả. Qua khảo sát, 42% sinh viên lựa chọn kết quả “Bình thường”. Còn đối với kết
quả “Quan tâm” và “Rất quan tâm” có tỉ lệ sinh viên lựa chọn bằng nhau (29%). Một
thực tế chắc chắn là đối với nhóm đối tượng du khách là sinh viên, giá luôn là một vấn
đề được đặt lên hàng đầu. Do vậy mà theo nhóm tác giả, đây chính là vấn đề nan giải
nhất trong dịch vụ ăn uống. Đối với những nhóm đối tượng du khách khác, họ sẵn
sàng bỏ ra một số tiền lớn để có được sự trải nghiệm về ẩm thực cao cấp, phù hợp với
khẩu vị của họ. Tuy nhiên, đối với sinh viên thì không thể. Vấn đề kết hợp giữa chất
lượng món ăn với giá cả phù hợp là một việc làm cần sự linh hoạt từ phía điều hành.
Làm sao để có thể đảm bảo mức giá vừa phải, chất lượng món ăn tương đối chính là
mục đích cuối cùng khi thiết kế SPDL cho sinh viên.
Nói tóm lại, với kết quả khảo sát trên, nhóm tác giả rút ra những đặc điểm sau:
1) Dịch vụ ăn uống là một phần quan trọng trong đánh giá chất lượng SPDL nói
chung.
2) Sinh viên cần thay đổi nhận thức về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.
3) Sinh viên phải tận dụng cơ hội xem xét vấn đề học tập kỹ năng, nghiệp vụ về
nhà hàng.
4) Đảm bảo yếu tố dung hòa về giá cả lẫn chất lượng món ăn trong hoạt động ăn
uống khi thiết kế các SPDL cho sinh viên.
Như đã xác định ngay từ đầu, SPDL thiết kế cho sinh viên có những đặc thù
nhất định, điều này đồng nghĩa với việc bắt buộc sinh viên phải nắm bắt được một số
kiến thức và kỹ năng chuyên ngành. Sinh viên khi đến các điểm tham quan không đơn
thuần là đi vì mục đích nhìn, xem, chụp ảnh đơn thuẩn, mà mục tiêu của sinh viên cần
đạt đến chính là nắm bắt một số vấn đề chuyên môn. Những vấn đề đó có thể là: Nắm
bắt, cập nhật tình hình giá vé tại các điểm tham quan; khảo sát các dịch vụ bổ sung tại
55
các điểm, v.v… Do đó, để làm rõ vấn đề này thì nhóm tác giả đã đặt câu hỏi “Bạn
quan tâm vấn đề gì khi đến một điểm tham quan ?”. Kết quả thu về được thể hiện qua
biểu đồ bên dưới:
Biểu đồ 2.14: Những vấn đề sinh viên quan tâm khi đến điểm tham quan
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Thông qua biểu đồ trên, ta dễ dàng nhận thấy nhu cầu “Tiếp cận các thông tin
thuyết minh tại điểm” được số đông lựa chọn với 54%; 37% sinh viên lựa chọn việc
khảo sát dịch vụ, ít hơn là kết quả “Không quan tâm”. Như vậy, đối với những sinh
viên lựa chọn vấn đề tiếp cận thông tin thuyết minh và khảo sát dịch vụ có thể là
những sinh viên định hướng theo mảng lữ hành. Còn đối với kết quả “Không quan
tâm” có thể là những sinh viên không theo mảng lữ hành. Tuy nhiên, dù theo hướng
nào đi chăng nữa thì việc thu nạp thêm kiến thức là điều cần thiết. Ban lãnh đạo khoa
để nắm bắt tình hình này có thể yêu cầu sinh viên trình bày thêm phần báo cáo dịch vụ
tại các điểm sau các chương trình thực tế.
Nói tóm lại, đối với nhu cầu này, sinh viên chủ yếu tập trung vào hai vấn đề khi
tham quan tại các điểm, một là tiếp cận thông tin và hai là khảo sát dịch vụ. Do đó, đối
với nhà điều hành, khi thiết kế SPDL cho sinh viên, cần lưu ý độ giãn khi tham quan
37%
54%
2%
7%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
Khảo sát dịch vụ tại
các điểm du lịch
Tiếp cận các thông
tin thuyết minh tại
điểm
Không quan tâm vì
địa điểm tham quan
có trong chương
trình
Khác
56
tại các điểm để hai nhu cầu kể trên có thể thực hiện được. Một CTDL khi thiết kế
không cần quá dày đặc, cần thiết kế như thế nào để tại mỗi điểm, sinh viên thực sự có
thể tiếp thu và nắm bắt dịch vụ tại những điểm đó một cách chắc chắn.
Biểu đồ 2.15: Mong muốn đạt được sau chuyến đi của sinh viên
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Về nguyên tắc, tất cả du khách khi đi du lịch đều mong muốn đạt được một mục
đích nào đó; đây cũng chính là lý do hình thành nên các loại hình du lịch như trong
chương 1 nhóm tác giả đã đề cập. Đối với sinh viên cũng tương tự như thế. Qua biểu
đồ 2.14, nhóm tác giả rút ra một vài nhận xét sau:
a) “Trải nghiệm thực tiễn” là mục tiêu khi tham gia trải nghiệm các SPDL
được nhiều sinh viên lựa chọn nhất với tỉ lệ 52%. Điều này là hợp lý và có thể lý giải
được. Như đã đề cập, sinh viên trong quá trình học tập đã được cung cấp hệ thống lý
thuyết, và để kiểm nghiệm những gì đã được học trong thực tế thì việc tham gia các
CTDL là điều cần thiết. Và đây cũng được xem như mong muốn thiết yếu nhất của
sinh viên khi trải nghiệm các SPDL.
b) Tiếp theo là lựa chọn “Tích lũy kiến thức chuyên ngành” và “Thỏa mãn nhu
cầu đi du lịch” lần lượt chiếm tỉ lệ 22% và 19%. Hai mục tiêu này có tỉ lệ lựa chọn
gần bằng nhau. Đặc biệt, đối với mục tiêu đi để thỏa mãn nhu cầu đi du lịch thì đây là
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
Thỏa mãn nhu
cầu đi du lịch Trải nghiệm
thực tiễn Tích lũy kiến
thức chuyên
ngành
Khác
19%
52%
22%
7%
57
mục tiêu không riêng gì đối với sinh viên, đối với những nhóm đối tượng khách khác
thì đây cũng là mục tiêu của họ. Về vấn đề tích lũy kiến thức chuyên ngành thì đây là
một mục tiêu đặc thù của sinh viên ngành du lịch nói chung, sinh viên ngành VNH
khoa QHQT nói riêng. Bởi vì khi trải nghiệm SPDL, trừ một số loại hình du lịch đặc
thù như du lịch nghiên cứu, hầu hết nhu cầu tích lũy kiến thức chỉ là một nhu cầu thứ
yếu. Điều quan trọng nhất khi trải nghiệm SPDL của du khách là tìm sự thoải mái,
giảm áp lực công việc.
Tóm lại, với đặc trưng ngành nghề, việc sinh viên mong muốn trải nghiệm
thực tiễn là điều dễ hiểu. Đối với ngành Du lịch, thì chỉ có đi nhiều, có kinh nghiệm
thực tiễn nhiều thì sẽ tạo dựng cho mình vốn kiến thức cũng như kỹ năng vững vàng
để khi ra trường có điều kiện tốt để tìm kiếm việc làm cũng như làm tốt công việc của
mình.
Biểu đồ 2.16: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của sinh viên
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Nhu cầu tiếp theo mà nhóm tác giả khảo sát để lấy ý kiến liên quan đến nguồn
hướng dẫn viên du lịch. Nếu trên lớp, giảng viên là người cung cấp kiến thức cho sinh
41%
45%
12%
2%
Có kiến thức sâu rộng
Có khả năng hoạt náo tốt
Nắm vững nghiệp vụ
Khác
0% 10% 20% 30% 40% 50%
58
viên, thì đối với những CTDL, đội ngũ hướng dẫn viên được xem như những người
thầy của sinh viên. Đây là đội ngũ có nhiệm vụ cung cấp kiến thức, kỹ năng chuyên
ngành cho sinh viên trong quá trình tham gia các CTDL.
Tại Chương 1, điều 4, khoản 15 của luật Du lịch (2005) có định nghĩa sau:
“Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch theo chương trình du
lịch. Người thực hiện hoạt động hướng dẫn được gọi là hướng dẫn viên và được thanh
toán cho dịch vụ hướng dẫn du lịch” [18: 8 - 9]. Ngoài ra, tại Chương VII, điều 73,
khoản 1 của luật Du lịch cũng quy định: “… Hướng dẫn viên được hành nghề khi có
thẻ hướng dẫn viên và có hợp đồng với doanh nghiệp lữ hành…” [18: 62]. Như vậy,
yếu tố tiên quyết để lựa chọn hướng dẫn viên cho sinh viên là phải có thẻ hướng dẫn.
Mặt khác, hiện nay theo thống kê không chính thức, cả nước hiện nay có hơn
15.000 hướng dẫn viên (trong đó có 6.000 hướng dẫn viên du lịch quốc tế) [28], điều
này tạo nên một ưu điểm trong việc lựa chọn hướng dẫn viên cho sinh viên; tuy nhiên
thì đây cũng là một bất lợi. Ưu điểm ở đây chính là việc không khó để tìm được những
hướng dẫn viên giỏi cho các CTDL cho sinh viên. Nhưng điểm bất lợi ở đây chính là
việc không đảm bảo được chất lượng của những hướng dẫn viên khi lựa chọn. Thực
trạng hiện nay, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì việc được cấp thẻ hướng dẫn
viên không phải là quá khó, chính điều này dẫn đến việc không đảm bảo chất lượng
chuyên môn của đội ngũ hướng dẫn viên.
Theo như kết quả khảo sát được thể hiện trên biểu đồ, tỉ lệ sinh viên lựa chọn
hướng dẫn viên với đặc điểm “Có khả năng hoạt náo tốt” và “Có khả năng kiến thức
sâu rộng” chiếm cao nhất với tỉ lệ lần lượt là 45% và 41%. Kết quả này theo chúng tôi
là phù hợp. Với đặc điểm tâm lý là thanh niên, do vậy mà yếu tố vui chơi trong CTDL
là một nhu cầu chính đáng. Mặt khác, thông qua sự hoạt náo của hướng dẫn viên, sinh
viên cũng có thể học hỏi thêm khả năng hoạt náo, đây cũng được xem như là một
trong những kỹ năng nghề quan trọng mà sinh viên không được học trong chương
trình đào tạo. Bên cạnh đó, với đặc thù là cần được cung cấp kiến thức, ngoài khả năng
hoạt náo thì hướng dẫn viên cũng cần phải là một người có một lượng kiến thức sâu
rộng để có thể cung cấp cho sinh viên những kiến thức chuyên ngành. Chỉ có 12% sinh
viên lựa chọn hướng dẫn viên nắm chắc nghiệp vụ. Theo chúng tôi thì đây cũng là một
nhu cầu quan trọng khi lựa chọn hướng dẫn viên, nhưng đối với sinh viên thì chúng
không quan trọng bằng hai vấn đề trên. Thấp nhất là 2% sinh viên lựa chọn kết quả
59
“Khác”. Đây có thể là yêu cầu của sinh viên đối với hướng dẫn viên về những vấn đề
như: Tính cách vui vẻ, trẻ trung, năng động, v.v…
Với kết quả khảo sát nhu cầu của sinh viên như vậy, một vấn đề đặt ra là làm
thế nào để tìm được nguồn hướng dẫn viên theo nhu cầu mong muốn của sinh viên ?
Theo quan điểm của chúng tôi, việc lựa chọn hướng dẫn viên cũng cần phải tùy thuộc
vào tính chất và qui mô của SPDL mà sinh viên trải nghiệm. Chẳng hạn như đối với
những CTDL là ngoại khóa thì hướng dẫn viên nên là những người năng động, có khả
năng hoạt náo tốt, vì SPDL dạng như vậy hướng đến mục tiêu của sinh viên là thoải
mái. Còn đối với những CTDL là những học phần thực tế thì ngược lại nên lựa chọn
những hướng dẫn viên có mảng kiến thức là thế mạnh.
Nhóm tác giả đề xuất việc lựa chọn đội ngũ hướng dẫn viên là những sinh viên
của khoa đã tốt nghiệp. Làm việc này sẽ có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, Ban lãnh đạo khoa có thể nắm bắt năng lực của những cựu sinh viên
này để lựa chọn cho phù hợp tùy vào tính chất của từng SPDL.
Thứ hai, việc lựa chọn hướng dẫn viên từng là sinh viên của khoa sẽ tạo tâm lý
hứng thú, tạo động lực cho những sinh viên của khoa cố gắng phấn đấu.
Cuối cùng, việc lựa chọn đội ngũ hướng dẫn viên là cựu sinh viên của khoa có
thể tạo điều kiện cho những cựu sinh viên này có điều kiện tiếp cận thực tiễn và nâng
cao tay nghề của chính bản thân mình.
Thực chất, trong những năm qua, việc lựa chọn hướng dẫn viên là những cựu
sinh viên của khoa đã được Ban lãnh đạo khoa áp dụng. Tuy nhiên, việc áp dụng này
chưa thực sự hiệu quả, bởi vì việc phân tích năng lực của hướng dẫn viên vẫn chưa
được tiến hành triệt để. Do vậy, với đề xuất của nhóm tác giả, rất cần thiết để lựa chọn
lại đội ngũ hướng dẫn viên tùy thuộc vào năng lực, cũng như qui mô và tính chất của
CTDL để phù hợp hơn, qua đó góp phần vào việc đạt được mục tiêu cao nhất chính là
nâng cao chất lượng của SPDL.
Như vậy, nhóm tác giả đã lần lượt khảo sát chi tiết các nhu cầu về dịch vụ của
sinh viên. Và để có cái nhìn tổng quát nhất của sinh viên về vấn đề nhận định, đánh giá
vai trò của từng nhóm nhu cầu đối với việc đánh giá chất lượng của một SPDL, chúng
tôi đã đặt câu hỏi “Một sản phẩm du lịch hoàn thiện, theo bạn tầm quan trọng của
những nhu cầu sau ở mức độ nào ?” và nhận được kết quả theo biểu đồ bên dưới:
60
Biểu đồ 2.17: Ý kiến của sinh viên về tầm quan trọng của các nhu cầu
trong đánh giá chất lượng SPDL
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Qua biểu đồ, nhìn chung ta thấy rằng tất cả các nhóm nhu cầu đều nằm trong
các thang đo từ bình thường đến rất quan trọng, trong đó thì mức độ “Quan trọng”
được phần đông sinh viên lựa chọn. Cả bốn nhu cầu đều chọn kết quả “Quan trọng”
với tỉ lệ gần bằng 2/3 kết quả khảo sát. Như vậy ta có thể khẳng định những nhu cầu
này đều có sự tác động đến việc nhận định chất lượng của một SPDL.
Việc phân tích từng nhu cầu này, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích ở phần
trên của đề tài. Do đó mà chúng tôi sẽ không phân tích lại. Biểu đồ này chỉ giúp chúng
ta có cái nhìn khái quát nhất về những nhu cầu của sinh viên trong việc đánh giá chất
0%
0%
0%
3%
14%
27%
18%
10%
75%
60%
62%
79%
11%
13%
20%
8%
0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100%
Giá cả
Chương trình du lịch
Các dịch vụ
Tiếp cận thực tiễn
rất không quan trọng không quan trọng bình thường quan trọng rất quan trọng
61
lượng của SPDL mà thôi. Như vậy thì khi thiết kế và xây dựng các SPDL cho sinh
viên sau này, nhà điều hành cần xem xét lại vấn đề dung hòa cả bốn nhu cầu trên.
Đối với những nội dung mà chúng tôi khảo sát ở trên chỉ dừng lại ở mức lấy ý
kiến một cách khái quát nhất. Do vậy, để làm rõ hơn nữa những nhu cầu mà sinh viên
cho rằng thiết yếu, trong bảng khảo sát, nhóm tác giả đã đặt câu hỏi để cho sinh viên
có những ý kiến cũng như kiến nghị cụ thể. Kết quả đạt được sau khảo sát là tổng cộng
17/89 phiếu có nêu ý kiến và đề xuất kiến nghị thêm từ phía sinh viên.
Mặt khác, để tiện cho việc phân tích và thống kê ý kiến của sinh viên, căn cứ
vào những ý kiến, quan điểm cũng như đề xuất của sinh viên, nhóm tác giả tạm phân
nhóm các nhu cầu đó theo bảng bên dưới:
Bảng 2.18: Một số kiến nghị, đánh giá bổ sung của sinh viên
trong việc thiết kế SPDL
Stt Nội dung kiến nghị Số phiếu góp ý15
1 Về CTDL 10
2 Về dịch vụ lưu trú 3
3 Về trau dồi kỹ năng, nghiệp vụ chuyên ngành 2
4 Về một số nội dung khác 3
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
Như vậy, thông qua bảng trên, ta thấy phần đông sinh viên có ý kiến về CTDL.
Cụ thể, một số ý kiến chúng tôi thu được về vấn đề này có thể kể đến như: Lịch trình
tour quá dày đặc; có sự trùng lặp giữa các điểm tham quan; thời gian tham quan không
đủ dành cho sinh viên; giảm bớt những điểm tham quan là đền chùa, đồng thời cho
sinh viên tham quan những điểm vui chơi giải trí nhiều hơn; một số điểm du lịch bị
cắt; … Lý giải điều này, theo nhóm tác giả nguyên nhân bắt nguồn từ việc chưa xác
định loại hình du lịch trước khi thiết kế CTDL. Như trong chương 1 nhóm tác giả đã
phân tích, loại hình du lịch – SPDL – CTDL là ba vấn đề có tính quá trình sâu sắc, do
đó mà việc thiết kế các CTDL chưa phù hợp là điều hiển nhiên. Mặt khác, cũng xuất
phát từ vấn đề không xác định loại hình du lịch ngay từ đầu, việc lựa chọn các điểm
tham quan có sự trùng lặp khá nhiều (chẳng hạn như việc tham quan có nhiều đền
chùa). Điều này dẫn đến tâm lý nhàm chán cho sinh viên. Như vậy, để có thể thiết kế
15
: Một số phiếu đồng thời góp ý nhiều nội dung.
62
những SPDL mang tính đặc trưng sâu sắc, nhóm tác giả xin khẳng định lại quan điểm
của chúng tôi, đó là phải xác định loại hình du lịch chủ đạo trước, sau đó mới thiết kế
các SPDL đặc trưng; cuối cùng mới thiết kế các CTDL dựa trên SPDL đó.
Vấn đề tiếp theo mà sinh viên kiến nghị và đề xuất liên quan đến dịch vụ lưu
trú. Hai vấn đề mà sinh viên đã góp ý bao gồm: Số lượng sinh viên ở một phòng quá
đông (8 sinh viên/phòng), “Khách sạn cần phải có chất lượng hợp với giá tiền mà sinh
viên đã đóng”. Đối với ý kiến thứ nhất, theo nhóm tác giả thì đây là một nhu cầu chính
đáng cần phải xem xét. Trong một CTDL dài ngày (chẳng hạn như chương trình xuyên
Việt), việc một phòng có quá đông sẽ gây khó khăn trong việc đảm bảo thời gian cho
sinh viên trong việc tập trung và tham quan các điểm vì vấn đề vệ sinh cá nhân. Còn
về ý kiến thứ hai, theo nhóm tác giả là ý kiến này cần phải xem xét lại. Như đã đề cập,
trước đây sinh viên vốn đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ nhà trường trong việc sử
dụng dịch vụ trong các CTDL. Do vậy mà ý kiến “Khách sạn cần phải có chất lượng
hợp với giá tiền mà sinh viên đã đóng” là không phù hợp. Nhưng ở dịch vụ lưu trú
này, chúng tôi muốn đề cập một vấn đề mà chúng có ý nghĩa rất lớn cho sinh viên
trong việc tiếp cận thực tiễn. Vấn đề mà chúng tôi đề cập chính là trong những SPDL
dành cho sinh viên, rất cần thiết trong việc tạo điều kiện cho sinh viên trải nghiệm các
dịch vụ ở những mức độ khác nhau. Chẳng hạn như đối với dịch vụ lưu trú, trong một
CTDL cần cố gắng để sinh viên lưu trú trong mọi loại hình lưu trú, từ nhà nghỉ đến
khách sạn 1 sao, 2 sao và thậm chí là 3 sao. Đây là một việc làm quan trọng để qua đó,
tự thân mỗi sinh viên sẽ có những trải nghiệm cá nhân, cũng như được tạo cơ hội tiếp
xúc với thực tiễn và rút ra kinh nghiệm cho cá nhân. Bởi vì như ta đã biết, ở mỗi cơ sở
lưu trú khác nhau sẽ có những dịch vụ, tiêu chuẩn khác nhau. Nếu chỉ đơn thuần lưu
trú tại những cơ sở là nhà nghỉ hay khách sạn 1 sao, sinh viên sẽ rất khó có thể nắm bắt
được tại những cơ sở lưu trú cao cấp hơn. Còn ngược lại, nếu chỉ lưu trú tại những cơ
sở cao cấp thì kinh phí chính là rào cản lớn nhất.
Nhu cầu thứ ba mà sinh viên có đề xuất bổ sung ý kiến chính là vấn đề trau dồi
kỹ năng, nghiệp vụ chuyên ngành. Với nhóm ý kiến này, chúng tôi nhận được một số
phản hồi và đề nghị sau từ sinh viên: “Hướng dẫn viên chưa chỉ rõ cho sinh viên các
nghiệp vụ và lời nhắc cần thiết liên quan đến lĩnh vực nhà hàng, khách sạn khi vào ở,
ăn uống tại nơi đến”, hay như ý kiến cho rằng “Khi tham gia học phần thì cần dạy
cho các bạn theo ngành du lịch nhiều hơn (chào đoàn như thế nào, tuyến đường, …)
63
tạo cơ hội thực hành ngay. Riêng các bạn theo nhà hàng – khách sạn cũng cần tạo
điều kiện thực hành theo chuyên ngành (cho so sánh các nhà hàng, khách sạn, …)”.
Như vậy, đây chính là nhu cầu “tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành”
mà ngay từ đầu nhóm tác giả đã nhận định. Thực ra, đây là một trong những mục đích
chính yếu khi thiết kế các CTDL như vậy cho sinh viên. Tuy nhiên, trong thực tế thì
lại không đáp ứng được. Là một sinh viên đã từng trải nghiệm những CTDL do khoa
tổ chức, cá nhân nhóm tác giả cũng cho rằng đây là một ý kiến góp ý thỏa đáng của
sinh viên. Hầu hết hướng dẫn viên khi đi với sinh viên đều tập trung rất nhiều vào
mảng kiến thức chuyên ngành (chẳng hạn như việc cung cấp thông tin thuyết minh
tuyến, điểm), nhưng ngược lại thì hầu như “bỏ sót” nhiệm vụ chia sẻ kinh nghiệm,
cung cấp kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho sinh viên. Chính vì lý do đó mà hầu hết
sinh viên sau khi tham gia những CTDL này về vẫn còn rất mơ hồ về nghiệp vụ
chuyên môn (chẳng hạn như cách đứng trên xe, cách thuyết minh, cách cầm micro, thủ
tục check in và check out khách sạn, v.v…). Do vậy, Ban lãnh đạo khoa cũng cần xem
xét lại vấn đề này để trao đổi thêm với bộ phận hướng dẫn viên sau này để sinh viên có
điều kiện nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng chuyên ngành.
Nội dung cuối cùng chính là tập hợp những ý kiến đơn lẻ về các dịch vụ hay
những vấn đề khác từ phiếu khảo sát mà chúng tôi thu được. Cụ thể, nhóm tác giả thu
về thêm những ý kiến: “Tăng nước uống cho sinh viên”, “Giảm giá tour”, “Thái độ
giao tiếp ứng xử của điều hành nên thân thiện hơn với sinh viên”. Với những ý kiến và
kiến nghị này, theo chúng tôi thì kiến nghị tăng nước uống cho sinh viên là phù hợp và
thỏa đáng, hay nói cách khác là nên đưa tiêu chuẩn 2 chai nước/ngày cho sinh viên. Về
hai vấn đề còn lại thì có lẽ cũng chưa thỏa đáng, bởi vì: Thứ nhất, khoa đã tạo mọi
điều kiện để giá thành của một chương trình ở mức thấp nhất. Thứ hai, với vai trò của
một điều hành thì thiết nghĩ, việc giữ khoảng cách với sinh viên để đảm bảo tính kỷ
luật là việc làm cần thiết.
Như vậy, nhóm tác giả đã hoàn thành việc phân tích những số liệu bằng phương
pháp định tính và định lượng thông qua việc khảo sát lấy ý kiến của sinh viên. Tuy
nhiên, để có cái nhìn rõ nét hơn về những đặc thù trong nhu cầu lựa chọn SPDL của
sinh viên ngành VNH khoa QHQT, nhóm tác giả tiến hành thêm một thao tác, đó là
việc so sánh và đối chiếu những nhu cầu này giữa sinh viên ngành VNH khoa QHQT
64
với những sinh viên khoa ngoài của ĐHSG. Kết quả so sánh và phân tích được trình
bày trong phần sau của công trình.
2.2.2.2. So sánh với sinh viên khoa khác
Đối với sinh viên khoa ngoài, nhóm tác giả phát ngẫu nhiên 50 phiếu khảo sát
và thu về kết quả là 42 phiếu hợp lệ16
. Nội dung câu hỏi sẽ được rút gọn. Chúng tôi tập
trung đặt những câu hỏi chủ yếu liên quan đến việc đánh giá chất lượng các dịch vụ.
Vì mục tiêu của công trình là làm rõ những đặc thù trong nhu cầu lựa chọn SPDL của
sinh viên ngành VNH khoa QHQT, do đó mà những số liệu mà nhóm tác giả thu về từ
việc khảo sát sinh viên ngoài ngành VNH chỉ được sử dụng để so sánh và đối chiếu
với kết quả của sinh viên trong khoa. Do đó, chúng tôi sẽ không đi sâu lý giải và phân
tích định lượng những kết quả này.
Những câu hỏi trong mẫu phiếu khảo sát dành cho đối tượng là sinh viên khoa
ngoài17
bao gồm những nội dung: Độ dài của một chương trình du lịch, mục đích và
mong muốn khi tham gia các CTDL này, quan điểm lựa chọn hướng dẫn viên, đánh
giá vai trò của một số dịch vụ trong việc nhận định chất lượng của SPDL. Theo chúng
tôi, những vấn đề trên là những nhu cầu cơ bản nhất mà bất kỳ nhóm đối tượng du
khách nào cũng quan tâm. Do đó, nhóm tác giả lựa chọn những câu hỏi theo nội dung
đã liệt kê ở trên để tiến hành khảo sát và có sự so sánh đối chiếu với kết quả của sinh
viên ngành VNH khoa QHQT.
16
: Cách công nhận phiếu hợp lệ cũng tương tự như cách công nhận phiếu hợp lệ dành cho sinh viên
ngành VNH ở trên.
17
: Xem Phụ lục 2.
65
Bảng 2.19: So sánh nhu cầu giữa sinh viên ngành VNH với sinh viên ngoài khoa trong việc lựa chọn SPDL
Nội dung
khảo sát
Kết quả khảo sát
SV ngoài khoa SV ngành Việt Nam học
Độ dài của
một chương
trình du lịch
hợp lý
1 ngày 2 ngày 3 ngày -> 4 ngày >4 ngày 1 ngày 2 ngày 3 ngày -> 4 ngày >4 ngày
31% 45% 24% 0% 18% 46% 30% 6%
Mục đích khi
tham gia các
chương trình
du lịch
Vui chơi Học tập Vừa vui chơi lẫn
học tập
Mục đích
khác
Vui chơi Học tập Vừa vui chơi lẫn
học tập
Mục đích
khác
74% 0% 19% 7% 7% 17% 76% 0%
Số người lưu
trú trong một
phòng
≤ 2 3 4 >4 ≤ 2 3 4 >4
0% 19% 62% 19% 15% 30% 44% 11%
Vấn đề quan
tâm khi đến
điểm tham
quan
Khảo sát
dịch vụ
Tiếp cận
thông tin
Không quan tâm Khác Khảo sát
dịch vụ
Tiếp cận
thông tin
Không quan tâm Khác
12% 62% 21% 5% 37% 54% 2% 7%
66
Mong muốn
sau chuyến đi
Thỏa mãn
nhu cầu
Trải nghiệm
thực tiễn
Tích lũy kiến thức Khác Thỏa mãn
nhu cầu
Trải nghiệm
thực tiễn
Tích lũy kiến thức Khác
64% 31% 0% 5% 19% 52% 22% 7%
Nhu cầu lựa
chọn hướng
dẫn viên
Có kiến
thức
Hoạt náo
tốt
Nghiệp vụ vững Khác Có kiến
thức
Hoạt náo
tốt
Nghiệp vụ vững Khác
29% 64% 0% 7% 41% 45% 12% 2%
[Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
67
Bảng 2.18 đã tổng hợp và giúp chúng ta có cái nhìn so sánh giữa một số nhu
cầu trong việc lựa chọn SPDL của sinh viên các khoa ngoài với sinh viên ngành VNH
khoa QHQT. Thông qua đó, ở các nhu cầu khác nhau, ta thấy tỉ lệ lựa chọn của sinh
viên cũng khác nhau. Điều này nằm trong dự đoán của nhóm tác giả và có thể lý giải
được.
Trước tiên, đối với nhận định độ dài của một chuyến đi, đối với sinh viên ngành
VNH khoa QHQT thì lựa chọn độ dài một chuyến đi trong 2 ngày và trong khoảng 3
ngày đến 4 ngày là lựa chọn chiếm ưu thế hơn cả, trong khi đó thì đối với những sinh
viên khoa ngoài, lựa chọn 2 ngày và 1 ngày cho một chuyến đi chiếm tỉ lệ nhiều nhất
(lần lượt là 45% và 31%); 24% sinh viên các khoa ngoài lựa chọn độ dài trong khoảng
từ 3 ngày đến 4 ngày, và không có sinh viên nào lựa chọn độ dài trên 4 ngày cho một
chuyến đi. Như vậy, ở nhu cầu này, so với sinh viên ngành VNH khoa QHQT thì rõ
ràng sinh viên các khoa ngoài không có nhu cầu đi dài ngày, mục đích quan trọng nhất
của các chuyến du lịch này của sinh viên là được thư giãn, không phải đi vì mục đích
học tập chuyên môn.
Tiếp theo, ở câu hỏi và mục đích tham gia các CTDL, 74% - chiếm tỉ lệ cao
nhất sinh viên lựa chọn kết quả chủ yếu là vui chơi. Điều này có sự khác biệt đối với ý
kiến của sinh viên ngành VNH khoa QHQT (cao nhất là lựa chọn kết hợp việc chơi và
học). Nếu sinh viên ngành VNH khoa QHQT tham gia các CTDL để tìm sự trải
nghiệm thực tiễn của nghể trong tương lai thì bên cạnh đó, với việc tham gia các
CTDL (ngoại khóa) của sinh viên khoa ngoài thì nó chỉ đơn thuần là đi để giải trí,
mang yếu tố nâng cao tinh thần đoàn kết hơn là học tập. Tuy nhiên thì song song bên
cạnh đó, cũng có 17% sinh viên lựa chọn kết quả vừa chơi vừa học, có lẽ đây là những
sinh viên đến từ những khoa có liên quan ít nhiều đến ngành du lịch (chẳng hạn như
sinh viên các ngành như Ngôn ngữ Anh, Sư phạm Địa lí, …).
Vấn đề tiếp theo, nhóm tác giả khảo sát về dịch vụ lưu trú. Theo kết quả của
bảng trên thì chiếm tỉ lệ ý kiến cao nhất của sinh viên là 4 người trong một phòng với
69%. Ở lựa chọn 3 người và hơn 4 người một phòng chiếm tỉ lệ bằng nhau (19%).
Thoạt nhiên thì kết quả này khá bất ngờ, tuy nhiên có thể lý giải được. Với đặc thù của
các khoa khác nhau (không phải ngành VNH) thì việc được tham gia đi du lịch trong
những năm đào tạo là không nhiều. Do vậy mà những tour du lịch dành cho sinh viên
là dịp để sinh viên có thể thân nhau hơn. Do đó mà số lượng sinh viên trong một
68
phòng không phải là vấn đề gây băn khoăn cho sinh viên. Trong khi đó, nói lại về sinh
viên của ngành VNH, vì đặc thù ngành học mà do vậy, việc thường xuyên tham gia
các CTDL và sử dụng dịch vụ lưu trú với mật độ đông sẽ gây cảm giác khó chịu cho
sinh viên.
Khi đến một điểm tham quan thì nhu cầu học hỏi, tiếp cận thông tin thuyết
minh và khảo sát dịch vụ là những ưu tiên hàng đầu của sinh viên ngành VNH khoa
QHQT, vì những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến nghiệp vụ và kỹ năng nghề
nghiệp sau này của mình. Trong khi đó thì với sinh viên những khoa khác, bên cạnh
nhu cầu về nghỉ dưỡng, thỏa mãn nhu cầu đi du lịch thì việc mở mang kiến thức là cần
thiết. Do đó mà lựa chọn “Tiếp cận thông tin” chiếm 62% số người lựa chọn; 21% lựa
chọn kết quả “Không quan tâm” là những sinh viên muốn được tự do tham quan, chụp
ảnh và không cần được cung cấp thông tin tại những điểm tham quan. Cũng liên quan
đến vấn đề này, thêm một sự so sánh để thấy sự khác nhau giữa sinh viên khoa ngoài
với sinh viên ngành VNH khoa QHQT. Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch là mục đích chủ
yếu và chiếm tỉ lệ lựa chọn cao nhất của sinh viên với 61%, trong khi đó thì 52% sinh
viên ngành VNH khoa QHQT mong muốn trải nghiệm thực tiễn khi tham gia các
CTDL. Ngoài ra, với sinh viên khoa ngoài thì lựa chọn có tỉ lệ cao thứ hai là “Trải
nghiệm thực tiễn” với 31%, còn với sinh viên ngành VNH khoa QHQT thì lại là “Tích
lũy kiến thức” với 22%.
Nhu cầu cuối cùng, theo chúng tôi cũng là một trong những điểm nhấn trong
vấn đề làm rõ nhu cầu đặc thù của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, đó chính là nhu
cầu về việc lựa chọn hướng dẫn viên. Kỹ năng hoạt náo tốt được đa số sinh viên khoa
ngoài lựa chọn với 69%, nhu cầu về kiến thức chỉ có 29% sinh viên lựa chọn. Rõ ràng
là với tâm thế đi du lịch để nghĩ dưỡng thì rõ ràng hướng dẫn viên mà sinh viên cần là
người có thể đem đến sự vui nhộn, thoải mái trong suốt hành trình. Điều này khác với
sinh viên ngành VNH khoa QHQT, khi mà việc cần được trang bị kiến thức là quan
trọng và được đặt lên hàng đầu. Thêm vào đó, đối với sinh viên ngành VNH khoa
QHQT thì kỹ năng hoạt náo của hướng dẫn viên cũng cần được sinh viên học hỏi,
không đơn thuần chỉ là vui chơi mà như đã đề cập, hoạt náo cũng là một trong số
những kỹ năng cần thiết của một hướng dẫn viên.
Nói tóm lại, trong phần so sánh đối chiếu này, nhóm tác giả đã phân tích và
càng làm nổi bật những nhu cầu đặc thù trong việc lựa chọn SPDL của sinh viên ngành
69
VNH khoa QHQT khi có sự so sánh và đối chiếu với sinh viên khoa ngoài. Như vậy,
với thực trạng nhận thức và những đặc thù trên sẽ tạo cơ sở cho việc đề xuất định
hướng và giải pháp trong việc thiết kế các SPDL phù hợp với sinh viên ngành VNH
khoa QHQT trong chương 3.
Tiểu kết chương 2
Trong chương này, nhóm tác giả đã hoàn thành được mục tiêu của chúng tôi khi
đã tiến hành phân tích thực trạng, nhận thức của sinh viên ngành VNH khoa QHQT
trong vấn để đánh giá chất lượng của SPDL. Như vậy, qua các bước khảo sát đánh giá
nhu cầu của sinh viên trong việc lựa chọn SPDL cho phép chúng tôi nhìn nhận được
những đặc điểm khá đặc thù, đó là:
(1) Nên thiết kế và xây dựng thêm nhiều SPDL cho sinh viên.
(2) Các CTDL khi thiết kế cần lưu ý đến vấn đề giá cả, độ dài và thời gian tổ chức.
(3) Chú trọng xây dựng các CTDL biển.
(4) Tất cả các dịch vụ đều có ảnh hưởng đến việc nhận định chất lượng của SPDL.
(5) Xây dựng SPDL cần xác định rõ mục đích của sinh viên để thiết kế SPDL phù
hợp và đáp ứng được nhu cầu của sinh viên.
(6) Ngoài ra, chúng tôi cũng đã thực hiện thao tác so sánh một số nhu cầu đặc thù
của sinh viên ngành VNH khoa QHQT với sinh viên các khoa khác; qua đó càng làm
nổi bật hơn những nhu cầu đó của sinh viên ngành VNH khoa QHQT.
Nói tóm lại, với thực trạng trên, là cần thiết để các nhà điều hành có sự xem xét,
điều chỉnh lại những SPDL cho sinh viên để qua đó, một mặt có thể đáp ứng nhu cầu
chính đáng của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, mặt khác có thể nâng cao chất
lượng đào tạo của ngành VNH trường ĐHSG.
70
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THIẾT KẾ CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH
ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
3.1. Cơ sở của sự định hướng: Đánh giá việc lựa chọn sản phẩm du lịch của
sinh viên bằng mô hình TOWS
Lâu nay, khi đánh giá và phân tích một cơ quan, đơn vị hay doanh nghiệp của
bất kỳ lĩnh vực nào nhằm mục tiêu có cái nhìn tổng quát, cũng như hoạch định những
chiến lược phát triển cho doanh nghiệp trong tương lai, ta vẫn thường sử dụng “mô
hình SWOT” để phân tích. Như vậy, phân tích SWOT (hay còn được gọi là ma trận
SWOT) là như thế nào ? Phân tích TOWS trong đề tài này có gì khác biệt so với phân
tích SWOT, cũng như tại sao nhóm tác giả sử dụng phương pháp TOWS trong đề tài
này mà không phải sử dụng phân tích SWOT ? Trong tiểu mục này, chúng tôi sẽ làm
rõ vấn đề trên.
Trước tiên, ta cần làm rõ hai phương pháp SWOT và TOWS là gì ? Để làm rõ
hai phương pháp này, ta bắt đầu từ những chữ cái cầu thành nên những chữ đó. Chữ
“S” có nghĩa là “Strengths” (những điểm mạnh), “W” là “Weaknesses” (những điểm
yếu), “O” là “Opportunities” (có nghĩa là những cơ hội) và chữ “T” là “Threats”
nghĩa là thách thức. Như vậy, bốn vấn đề trên “… như một công cụ phân tích chiến
lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
hay của một đề án…” [10: 163].
Như vậy, nếu nhìn ở bên ngoài thì cả hai phương pháp SWOT và phương pháp
TOWS đều nghiên cứu về bốn yếu tố: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức. Giữa
chúng đều có sự tương đồng với nhau; chỉ khác biệt ở chỗ thay đổi trật tự các chữ cái
để hình thành nên chữ khác mà thôi. Tuy nhiên, thực tế lại không phải như vậy bởi vì
phương pháp TOWS được xem là bước phát triển tiếp theo của phương pháp SWOT.
Các chữ cái trong những SWOT hay TOWS không đơn thuần là được sắp xếp
một cách bừa bãi, không có chủ đích. Chúng được sắp xếp theo một trật tự logic, dễ
hiểu. Bởi vì mục tiêu khi sử dụng ma trận này là để có thể xem xét tổng thể một quá
trình ở những bình diện khác nhau và đưa ra quyết định dễ dàng. Hay nói một cách
khác, các vấn đề này được sắp xếp nhằm mục đích “… kích thích suy nghĩ hơn là dựa
71
vào các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng” [10: 164]. Bên cạnh đó, phân
tích TOWS là phương pháp nghiên cứu đi từ các yếu tố bên ngoài (thách thức, cơ hội),
mang tính khách quan rồi mới đến các yếu tố bên trong (điểm yếu, điểm mạnh) mang
tính chủ quan.
Từ những yếu tố ở trên, ta rút ra được sự khác biệt giữa SWOT và TOWS. Sự
sắp xếp các thứ tự của chữ cái liên quan trực tiếp đến việc tiếp cận vấn đề. Sở dĩ đối
với đề tài này nhóm tác giả lựa chọn phương pháp phân tích TOWS mà không phải
phương pháp SWOT bởi vì mục đích của đề tài này là nghiên cứu SPDL phù hợp với
sinh viên; tức là bán cái người khác cần chứ không phải bán cái mình có. Bởi vì như
đã đề cập, phương pháp TOWS nghiên cứu cái bên ngoài (nhu cầu của sinh viên)
trước, và sau đó quay ngược lại để tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu để có chiến
lược phát triển sản phẩm cho phù hợp.
Bên dưới là những cơ hội, thách thức, cũng như điểm mạnh và điểm yếu đã và
đang tồn tại của khoa QHQT (VHDL) trường ĐHSG mà bằng phương pháp quan sát
cũng như lấy ý kiến khảo sát, nhóm tác giả thu thập được.
Bảng 3.1: Mô hình TOWS về việc lựa chọn SPDL của sinh viên
ngành VNH, trường ĐHSG
TOWS
Threats Opportunities
(1) Môi trường và nguồn
tài nguyên đang bị đe dọa.
(2) SPDL trên thị trường
còn nhiều trùng lập, chưa
phong phú.
(3) Công tác xã hội hóa du
lịch chưa đạt được mục tiêu
đề ra.
(4) Du lịch đang là ngành
kinh tế phát triển với quy
mô toàn cầu, nhu cầu về
nguồn nhân lực chất lượng
cao là nhu cầu tất yếu.
(1) Chính phủ chủ trương
phát triển nền kinh tế mở
và hội nhập.
(2) Việt Nam có nguồn tài
nguyên du lịch phong phú.
(3) Nhận thức và nhu cầu
du lịch đang dần trở nên
phổ biến.
(4) Công tác đào tạo ngành
Du lịch được quan tâm và
đang trong quá trình mở
rộng về cả lượng và chất.
(5) Hình ảnh du lịch Việt
72
Nam dễ dàng đến với du
khách quốc tế nhờ vào sự
phát triển của phương tiện
truyền thông.
Weaknesses Các chiến lược WT Các chiến lược WO
(1) SPDL chưa đáp ứng
được nhu cầu của sinh
viên.
(2) Việc dạy và học các
học phần chuyên ngành
còn mang nặng tính lý
thuyết.
(3) Nhận thức về ngành
học và nghề nghiệp trong
sinh viên chưa cao.
(4) Vấn đề tài chính gây
khó khăn cho nhiều sinh
viên trong quá trình đăng
ký trải nghiệm các SPDL.
- Chú trọng khai thác điểm
mạnh của các SPDL, xây
dựng SPDL có chất lượng,
đồng thời đa dạng hóa các
SPDL.
- Hạn chế lý thuyết, đẩy
mạnh áp dụng lý thuyết vào
thực tế.
- Kết hợp giáo dục nâng
cao nhận thức và hiểu biết
của sinh viên về ngành Du
lịch.
- Xây dựng các SPDL phù
hợp với điều kiện của sinh
viên nhưng vẫn đảm bảo
chất lượng.
- Cần xây dựng các SPDL
đa dạng, chất lượng dựa
trên nguồn tài nguyên
phong phú.
- Với sự phát triển mạnh
mẽ của truyền thông và cơ
hội hội nhập ASEAN, nâng
cao nhận thức sinh viên về
tầm quan trọng của du lịch
qua phương tiện truyền
thông , báo đài cũng như
kết hợp vào các bài giảng.
Strengths Các chiến lược ST Các chiến lược SO
(1) Do trường trực thuộc
Ủy ban Nhân dân Thành
phố nên việc tổ chức các
tour cũng như về phương
tiện đi thực tế được hỗ trợ.
(2) Khoa có đội ngũ cán bộ
giảng viên dày dạn kinh
nghiệm, tâm huyết.
(3) Trong quá trình học
- Với sự giúp đỡ từ nguồn
hỗ trợ, sinh viên sẽ giảm
được khó khăn khi tham
gia các chuyến đi thực tế.
Như vậy, tất cả các sinh
viên đều có cơ hội trải
nghiệm về ngành học của
mình, từ đó nhận thức của
sinh viên về việc bảo vệ
- Với cơ hội được hỗ trợ
trong các chuyến đi thực tế,
có thể tăng cường số lượng
và chất lượng các chuyến
đi thực tế cho sinh viên
nhằm tạo môi trường giúp
sinh viên cọ xát với ngành
nghề mình học, kết hợp với
sự giảng dạy của đội ngũ
73
sinh viên được trải nghiệm
thực tiễn thông qua các học
phần thực tế, ngoại khóa.
(4) Chương trình giảng dạy
cập nhật, bổ sung liên tục
để phù hợp với yêu cầu
thực tiễn.
(5) Quy mô đào tạo của
khoa đang trong quá trình
phát triển theo hướng lớn
mạnh.
các nguồn tài nguyên, tư
duy được nâng cao và đồng
thời tăng sự thích thú đối
với ngành học.
-Với quy mô đào tạo được
mở rộng, chương trình học
được cập nhật liên tục sẽ
nâng cao kiến thức, chất
lượng nguồn nhân lực
trong ngành.
giảng viên có kinh nghiệm.
Như vậy chất lượng của
nguồn nhân lực sẽ được
nâng cao.
- Với nguồn nhân lực được
đào tạo chất lượng, các
sáng kiến để tạo ra các
SPDL mới mà vẫn đảm bảo
sử dụng hợp lí các nguồn
tài nguyên sẽ ngày càng
nhiều hơn. Qua đó góp
phần nâng cao chất lượng
du lịch của nước nhà.
[Nguồn: Nhóm tác giả]
Như vậy, mô hình TOWS ở trên đã cho ta thấy được những điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội cũng như thách thức trong vấn đề lựa chọn SPDL của sinh viên ngành
VNH khoa QHQT, trường ĐHSG. Và để giải quyết những điểm yếu và những thách
thức đó, sau đây chúng tôi sẽ đề xuất những định hướng, và lấy đó làm kim chỉ nam
trong việc thiết kế các SPDL phù hợp với nhu cầu chính đáng của sinh viên căn cứ trên
tình hình thực tiễn.
3.2. Những định hướng và đề xuất giải pháp cụ thể trong việc thiết kế các sản
phẩm du lịch cho sinh viên
3.2.1. Định hướng thiết kế các sản phẩm du lịch
Như đã đề cập, vì những đặc thù và yêu cầu trong việc thiết kế SPDL dành cho
đối tượng khách là sinh viên, do vậy mà việc định hướng trước khi đề xuất giải pháp
thiết kế các SPDL là một công việc cần thiết. Bên dưới sẽ là những định hướng chính
mà nhóm tác giả đề xuất:
74
Bảng 3.2: Những định hướng trong việc thiết kế SPDL cho sinh viên
ngành VNH, trường ĐHSG
Stt Định hướng
1 Về mục tiêu: Đảm bảo tính định hướng và nhận thức nghề nghiệp cho sinh
viên.
2 Về nguyên tắc: SPDL phải dung hòa ba yếu tố: Đảm bảo phù hợp với thực
tiễn của chương trình đào tạo – phù hợp với xu hướng của thị trường lao động
- đáp ứng được nhu cầu của sinh viên.
3 Về cách thức: Định hướng ưu tiên phát triển các SPDL theo các loại hình
du lịch liên quan đến chuyên ngành đào tạo theo hướng đa dạng hóa.
4 Về hiệu quả: Sinh viên phải tiếp thu một cách hiệu quả và biết ứng dụng lý
thuyết (VHDL) vào thực tiễn để nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên ngành
thông qua các SPDL được trải nghiệm.
5 Về phương châm: Tăng cường sự liên kết giữa Nhà trường – khoa QHQT
(VHDL) – Trung tâm Hướng dẫn Du lịch để đảm bảo cho sinh viên được
hưởng những quyền lợi tối đa về giá của các SPDL.
[Nguồn: Nhóm tác giả]
3.2.1.1. Đảm bảo tính định hướng và nhận thức nghề nghiệp cho sinh viên
Trong môi trường cấp 3, sinh viên chắc chắn đã từng nhận được những chia sẻ
về vấn đề định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, điều này là chưa đủ cho
sinh viên, đặc biệt là đối với ngành VNH – một ngành học mà sau khi tốt nghiệp, số
lượng sinh viên chọn theo nghề hướng dẫn viên không phải là ít.
Trong xã hội ngày nay, rất nhiều những bài báo trực tuyến vẫn hay ca ngợi và
cho rằng đây là một ngành nóng, đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao rất nhiều.
Do đó, việc theo học ngành học này hiển nhiên sẽ không sợ thất nghiệp. Tuy nhiên,
một thực tế là bởi chính những thông tin đó đã làm cho phần đông sinh viên lựa chọn
nghề nghiệp không tìm hiểu rõ ngành học. Từ đó dẫn đến thái độ lơ là, nhận thức sai
lệch và không có tinh thần học tập tốt.
Như vậy, ngoài việc được cung cấp hệ thống lý thuyết trên lớp, những chương
trình thực tế hay ngoại khóa chính là những cơ hội để sinh viên được sống với nghề,
được thở hơi thở của nghề hướng dẫn. Và do vậy, những SPDL thiết kế cho sinh viên
cần hiểu rõ ý nghĩa đó để làm sao những SPDL đó ngoài việc giúp sinh viên củng cố
75
kiến thức đã được học, mà bên cạnh đó một điều quan trọng hơn chính là giúp cho sinh
viên không những thấy được những ưu điểm của nghề, mà còn thấy được những khó
khăn của nghề.
Và cũng cần biết rằng, sự định hướng này đôi lúc không phải là những vấn đề
vĩ mô. Chúng chỉ là những hoạt động mang tính quán triệt tư tưởng mà chính những
giảng viên của khoa, hay những hướng dẫn viên phụ trách đoàn trong quá trình trải
nghiệm những SPDL có thể chia sẻ cho sinh viên. Khi nhận định về những cơ hội,
thách thức của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay – đặc biệt khi mà Việt Nam cần
chuẩn bị đón đầu với Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015, Nguyễn Văn
Lưu đã liệt kê 5 thách thức trong quá trình hội nhập18
, trong đó có một thách thức mà
chúng tôi cho rằng liên quan đến sinh viên của ngành VNH, ĐHSG. Đó chính là: “…
Nguồn nhân lực du lịch vốn còn những bất cập và yếu kém sẽ không theo kịp yêu cầu
hội nhập; sẽ “chảy máu chất xám”; doanh nghiệp du lịch Việt Nam sẽ mất nhiều
người giỏi” [9: 350].
Để làm được điều này, có lẽ là cần thiết để Ban lãnh đạo khoa QHQT xây dựng
một câu lạc bộ học thuật dành cho những sinh viên có định hướng theo nghề hướng
dẫn viên du lịch. Tại đây, sinh viên sẽ có được một môi trường học tập, rèn luyện và
nâng cao, cũng như cập nhật kiến thức tuyến điểm, thực tập xây dựng thử nghiệm các
SPDL mà chính chúng sau này, nếu phù hợp với tình hình thực tiễn sẽ được đưa vào
thực tế và trở thành những CTDL dành cho sinh viên của khoa. Nếu làm được điều
này thì chắc chắn, năng lực, kiến thức và kỹ năng của sinh viên sẽ được nâng cao tối
18
Những thách thức đó bao gồm [9: 350]:
- Sức ép cạnh tranh du lịch sẽ trở nên gay gắt hơn trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và
quốc gia.
- Do sự phát triển không đồng đều giữa các lĩnh vực hoạt động của ngành Du lịch, giữa các
vùng, miền trong nước, nên khi mở cửa hội nhập toàn diện sẽ phải chịu tác động từ bên ngoài
vào.
- Sự biến động trên thị trường quốc tế sẽ tác động mạnh, nhanh và toàn diện hơn đến thị trường
du lịch trong nước. Điều này có thể dẫn đến sự rối loạn thị trường, ảnh hưởng đến sự phát
triển du lịch bền vững.
- Những thách thức mới xuất hiện ở mức độ cao, đa chiều và tinh vi hơn như diễn biến hòa bình
thông qua con đường du lịch, …
76
đa, qua đó giúp cho sinh viên có thể trở thành nguồn nhân lực “có năng lực” trong
tương lai.
3.2.1.2. Sản phẩm du lịch phải dung hòa ba yếu tố: Đảm bảo phù hợp với thực tiễn
của chương trình đào tạo – phù hợp với xu hướng của thị trường lao động - đáp ứng
được nhu cầu của sinh viên
Bất kỳ một ngành đào tạo nào được hình thành cũng đều nhằm mục đích cung
ứng nguồn lao động cho thị trường, đáp ứng xu thế phát triển của xã hội. Đó cũng là lý
do tại sao trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế đất nước, có những ngành nghề
được cho là có cơ hội phát triển cao; bên cạnh đó cũng có một số ngành được đánh giá
là rất khó để phát triển bởi lý do thị trường không cần. Như vậy, ba yếu tố: Chương
trình đào tạo – xu hướng của thị trường lao động – nhu cầu của sinh viên là những
yếu tố mang tính chiến lược, có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Sơ đồ 3.3: Các yếu tố định hướng trong việc thiết kế các SPDL
cho sinh viên ngành Du lịch
[Nguồn: Nhóm tác giả]
Trước tiên là về “chương trình đào tạo”, “chương trình đào tạo (training
program) là tất cả các hoạt động mà người học cần thực hiện để theo học hết khóa
học và đạt được mục đích tổng thể” [15: 22]. Thông qua định nghĩa trên, ta cũng thấy
được vai trò và ý nghĩa của chương trình đào tạo trong vấn đề thiết kế SPDL. Do đó,
hai yếu tố còn lại là nắm bắt xu hướng của thị trường lao động và đáp ứng nhu cầu của
sinh viên chịu tác động và ảnh hưởng từ chương trình đào tạo. Một chương trình đào
tạo phát triển đúng hướng nếu nó đảm bảo được vấn đề đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Mặt khác, chương trình đào tạo được xem như là một “kịch bản” mô tả quá trình đi
đến đích của người học, đồng thời “… khái niệm này nhấn mạnh vào người học và lấy
người học làm trung tâm cho cả quá trình giảng dạy, đào tạo” [15: 22]. Vì vậy, định
hướng thiết kế SPDL phải lấy mục tiêu, ý nghĩa của chương trình đạo tạo để làm định
hướng thiết kế SPDL. Chẳng hạn như nếu mục tiêu của chương trình đào tạo là cung
Chương
trình đào
tạo
Xu
hướng thị
trường
lao động
Nhu cầu
của sinh
viên
Sản
phẩm du
lịch cho
sinh viên
77
cấp nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực lữ hành (mà cụ thể ở đây là đội
ngũ hướng dẫn viên) thì nó cần được điều chỉnh sao cho lượng kiến thức hàn lâm được
giảm tải, thay vào đó là những trải nghiệm thực tiễn trong các CTDL. Còn nếu mục
tiêu của chương trình đào tạo là cung cấp đội ngũ những người làm khoa học nghiên
cứu về Việt Nam học thì những SPDL được thiết kế chắc chắn cần được thay đổi theo
hướng tập trung phát triển những SPDL mà trong đó lấy những loại hình du lịch
nghiên cứu để làm cơ sở thiết kế.
Thứ hai, về yêu cầu “phù hợp với xu hướng của thị trường lao động”; “Đảng
và Nhà nước đã xác định: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội
dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du
lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân… góp phần
nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…” [4:353].
Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà cuối năm 2015, Việt Nam sẽ chính thức
gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), trong đó thì ngành Du lịch là một trong
những ngành nghề được ưu tiên phát triển thì nhu cầu đòi hỏi một nguồn lực chất
lượng cao để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động du lịch càng được chú trọng.
Mặc dù vẫn có những khó khăn và thách thức, thế như cơ hội đối với sinh viên ngành
VNH cũng đồng thời là rất lớn. Do vậy mà việc thiết kế SPDL để sinh viên có điều
kiện nắm bắt những cơ hội phát triển nghề nghiệp ngay trong giai đoạn còn ngồi trên
ghế nhà trường là một trong những sứ mệnh quan trọng nhất của lãnh đạo nhà trường
và lãnh đạo khoa QHQT.
Bảng 3.4: Nhân lực ngành Du lịch qua các năm
Đơn vị: Người
Năm
Chỉ tiêu
2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số 450.000 875.128 1.060.675 1.251.777 1.358.750 1.389.600 1.472.000
Lao
động
trực tiếp
150.000 275.128 310.675 391.177 424.750 434.240 460.000
78
Lao
động
gián tiếp
300.000 600.000 750.000 860.600 934.000 955.350 1.012.000
[Nguồn: Phát triển nguồn nhân lực, yếu tố quyết định sự phát triển của ngành
Du lịch Việt Nam – Nguyễn Văn Lưu, tr128].
Như vậy, qua bảng trên ta thấy được nhu cầu về nguồn nhân lực cho lĩnh vực du
lịch không bao giờ là đủ, vấn đề ở đây chính là sinh viên phải nhận thức được vấn đề
này. Để cạnh tranh được trong một thị trường lao động vừa thừa, vừa thiếu như vậy thì
sinh viên cần phải là những người “có năng lực”. Theo tài liệu của Ban Thư ký
ASEAN “Hướng dẫn các cơ sở đào tạo du lịch” về thực hiện “Thỏa thuận thừa nhận
lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch” – MRATP, năng lực của một người lao động
được nhận định theo mô hình dưới [10: 50, 51].
Sơ đồ 3.5: Phương thức đánh giá năng lực của lao động ngành Du lịch
[Nguồn: Ban Thư ký ASEAN]
Do đó, sinh viên ngành VNH muốn trở thành nguồn lao động “có năng lực” thì
cần phải được tạo điều kiện để mỗi cá nhân tự đánh giá, nhìn nhận những vấn đề như:
Thái độ, kỹ năng, kiến thức của mình, qua đó để giúp sinh viên nắm bắt tốt cơ hội phát
triển nghề nghiệp của bản thân trong tương lai.
Thứ ba, SPDL phải đáp ứng được nhu cầu của sinh viên. Thoạt nghe thì đây là
một yếu tố không phù hợp, bởi vì sinh viên không thể có được tầm nhìn chiến lược
trong tương lai, đây là vấn đề mà Ban lãnh đạo khoa mới là những người đưa ra quyết
định. Tuy nhiên, thực tế thì như đã đề cập ở trên, chương trình đào tạo “… lấy người
học làm trung tâm cho cả quá trình giảng dạy, đào tạo” do đó, những nhu cầu của
sinh viên trong vấn đề trải nghiệm SPDL cũng cần được chú trọng và xem xét. Ngoài
ra, ở góc độ của sinh viên (tầm vi mô) chắc chắn sẽ có những góc nhìn khác về SPDL
Kỹ năng
Kiến thứcThái độ
Có năng lực
79
so với góc nhìn của Ban lãnh đạo (góc nhìn ở tầm vĩ mô). Cho nên, dung hòa và xem
xét ý kiến từ hai góc độ, cả người quản lý lẫn người học để cho ra đời những SPDL
phù hợp sẽ là sự kết hợp hoàn hảo nhất.
3.2.1.3. Định hướng ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch theo các loại hình du lịch
liên quan đến chuyên ngành đào tạo theo hướng đa dạng hóa
Các CTDL được thiết kế cho sinh viên ngành VNH nhằm mục đích củng cố
kiến thức lý thuyết cho sinh viên. Sinh viên sẽ được tạo cơ hội để kiểm tra, ứng dụng
kiến thức được học vào thực tiễn. Do vậy, SPDL thiết kế cho sinh viên cần được thiết
kế đảm bảo tính liên kết với nội dung đào tạo.
Với đặc thù của ngành VNH, chuyên ngành VHDL, do vậy mà SPDL thiết kế
cho sinh viên cần bám sát nhóm loại hình du lịch văn hóa. Tuy nhiên, những SPDL
văn hóa này cần được phát triển theo hướng đa dạng hóa. Như vậy, căn cứ vào cách
phân chia nhóm loại hình du lịch văn hóa trong chương 1 của nhóm tác giả, những
SPDL thiết kế cho sinh viên có thể đa dạng theo hướng phát triển những loại hình du
lịch như: Du lịch tôn giáo, du lịch ẩm thực, du lịch homestay, v.v…
Nếu làm được điều này sẽ có thể, trước hết là đảm bảo tính linh hoạt, không
trùng lập, tránh gây cảm giác nhàm chán cho sinh viên của khoa; mặt khác có thể đảm
bảo tính phù hợp với tình hình thực tế trong giai đoạn đó. Lấy ví dụ như trong năm
2015, loại hình du lịch ẩm thực đang phát triển thì khoa sẽ tổ chức cho sinh viên trải
nghiệm SPDL ẩm thực, tuy nhiên sang năm sau vì nhiều lý do nên du lịch ẩm thực
không có điều kiện để phát triển, như vậy thì khi đó khoa có thể tổ chức loại hình du
lịch khác phù hợp hơn.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta không lưu ý đến những
nhóm loại hình du lịch khác, mà bên cạnh đó, Ban lãnh đạo khoa cũng có thể xem xét
đến việc kết hợp thiết kế những SPDL trên cơ sở phát triển những nhóm loại hình du
lịch khác.
3.2.1.4. Sinh viên phải tiếp thu một cách hiệu quả và biết ứng dụng lý thuyết (văn hóa
– du lịch) vào thực tiễn để nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên ngành thông qua các
sản phẩm du lịch được trải nghiệm
Vấn đề này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ yêu cầu của Ban lãnh đạo khoa đặt ra
đối với sinh viên các lớp khi trải nghiệm các SPDL. Cụ thể hơn, sinh viên phải là
người chủ động nắm bắt các thông tin của quy trình tham gia các CTDL, từ việc lên
80
lịch làm việc cho bản thân trong quá trình tham gia các CTDL đến việc nắm bắt các
dịch vụ. Mặt khác, nếu có thể thì chính sinh viên sẽ là những ngưởi chủ động để liên
hệ với các dịch vụ. Ban lãnh đạo khoa QHQT và Trung tâm Hướng dẫn Du lịch sẽ chỉ
theo sát và góp ý cho sinh viên về các dịch vụ được đặt để SPDL phù hợp và hoàn
thiện hơn. Nếu làm được điều này thì sinh viên sẽ có thể: Một là nắm bắt được quy
trình thiết kế một SPDL; mặt khác sinh viên sẽ có điều kiện rút kinh nghiệm sau mỗi
lần thiết kế một SPDL.
Đó chính là một trong những phương pháp giúp sinh viên ứng dụng lý thuyết
vào thực tiễn một cách hiệu quả nhất. Những kiến thức lý thuyết liên quan đến vấn đề
này hầu hết sinh viên đã được cung cấp thông qua các học phần như “Nghiệp vụ
hướng dẫn du lịch”, “Quản trị kinh doanh lữ hành”, “Kinh tế du lịch Việt Nam và thế
giới”, … Những học phần này đã cung cấp kiến thức về quy trình, phương pháp để
thiết kế và xây dựng SPDL cho sinh viên một cách đầy đủ nhất. Tuy nhiên, nếu không
được áp dụng vào thực tế thì chúng cũng chỉ dừng lại ở mức độ kiến thức hàn lâm.
Do vậy, việc thiết kế những SPDL cho chính sinh viên là đối tượng thụ hưởng
chính là cơ hội rất tốt để sinh viên có điều kiện ứng dụng hệ thống kiến thức lý thuyết
vào thực tiễn. Và sau này khi tốt nghiệp ra trường, sinh viên ít nhiều cũng đã có được
những kinh nghiệm, kiến thức cơ bản trong việc xây dựng và thiết kế một SPDL.
Đó là về vấn đề nghiệp vụ điều hành và thiết kế SPDL. Còn về mặt kiến thức
văn hóa, sinh viên sẽ chủ động tập hợp kiến thức tuyến điểm, lên lịch những chuyên đề
thuyết minh cho bản thân liên quan đến hệ thống tuyến điểm của CTDL đó. Ban lãnh
đạo khoa sẽ là người hỗ trợ, chỉnh sửa những thông tin kiến thức đó cho phù hợp hơn.
Nếu làm tốt điều này, sau mỗi CTDL thì sinh viên cũng sẽ có thể hệ thống lại kiến
thức tuyến điểm và kiến thức chuyên ngành của mình.
Tuy nhiên, những đề xuất trên sẽ là không khả thi nếu không có được một môi
trường sinh hoạt thường xuyên cho sinh viên. Để làm được điều này thì chúng tôi đề
xuất một định hướng tiếp theo. Chúng sẽ tạo điều kiện để sinh viên có khả năng chủ
động làm được những vấn đề mà đã được đề cập ở trên.
81
3.2.1.5. Tăng cường sự liên kết giữa Nhà trường – khoa Quan hệ Quốc tế – Trung tâm
Hướng dẫn Du lịch để đảm bảo cho sinh viên được hưởng những quyền lợi tối đa về
giá của các sản phẩm du lịch
Như đã nhận định ngay từ đầu, với đặc thù là trường Công lập, do đó mà sinh
viên của trường ĐH Sài Gòn nói chung, sinh viên của ngành VNH khoa QHQT nói
riêng hầu hết đều phân bổ khắp cả nước. Điều kiện kinh tế là một trong những vấn đề
nan giải đối với sinh viên của khoa từ trước đến nay. Tuy nhiên, với ưu điểm là trường
trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố, do vậy mà từ trước đến nay, đối với những
học phần thực tế hay ngoại khóa, sinh viên đã được hỗ trợ rất nhiều.
Nhưng bắt đầu từ năm học 2014 – 2015, sự hỗ trợ này đã không còn phát huy
hiệu quả. Cụ thể là nhà trường chỉ còn hỗ trợ việc cung cấp xe cho sinh viên; ngoài ra
thì tất cả những dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống thì sinh viên đều phải tự chủ tài
chính. Chính điều này đã làm cho chi phí cho một CTDL của sinh viên tăng lên đáng
kể. trong khi đó thì chất lượng SPDL thì ở mức độ tương đương như cũ. Điều này đã
gây khó khăn không ít cho sinh viên trong việc đăng ký tham gia trải nghiệm các
SPDL.
Do vậy, việc tìm ra giải pháp để đảm bảo giá thành cho các SPDL dành cho
sinh viên của ngành VNH khoa QHQT ở mức chấp nhận được là một việc làm quan
trọng hiện nay. Để làm được điều này thì sự liên kết giữa ba phía: Nhà trường – khoa
QHQT và Trung tâm Hướng dẫn Du lịch cần phải được đẩy mạnh hơn nữa. Trong mối
liên kết này, khoa QHQT sẽ đóng vai trò là cầu nối để tham mưu cho Ban lãnh đạo nhà
trường trong việc báo cáo thực trạng của sinh viên của khoa; mặt khác, cũng chính
Ban lãnh đạo khoa sẽ đề xuất và phối hợp với Trung tâm Hướng dẫn Du lịch nhằm
giúp cho sinh viên có được mức giá hợp lý.
3.2.2. Đề xuất một số giải pháp trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch đáp ứng
nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học
Với những định hướng chung ở trên, nhóm tác giả đề xuất một vài giải pháp cụ
thể để qua đó, góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu của sinh viên trong việc thiết kế
những SPDL phù hợp. Hiển nhiên, để có thể ứng dụng vào thực tiễn toàn bộ những
giải pháp này không phải là một vấn đề đơn giản, nhất là trong tình hình hiện nay, khi
mà chương trình đạo tạo sẽ thay đổi sau một chu kỳ. Tuy nhiên, nếu có thể áp dụng
những giải pháp này đồng thời vào việc thiết kế SPDL, chắc chắn rằng chất lượng của
82
SPDL thông qua các CTDL sau này sẽ có những chuyển biến theo hướng tích cực. Và
khi mà sinh viên đã có được những đánh giá cũng như ý kiến tích cực về SPDL thì
chất lượng đào tạo của khoa cũng sẽ được nâng lên đáng kể. Bên dưới sẽ là một vài
giải pháp mà chúng tôi đề xuất:
Thiết kế các SPDL, trong đó lấy loại hình du lịch làm trọng tâm để xây dựng.
Bởi vì như đã đề cập, lâu nay khi thiết kế các CTDL, quá trình xác định SPDL thường
bị bỏ qua. Những người thiết kế CTDL thường tập trung vào khai thác yếu tố tài
nguyên du lịch mà không xác định loại hình du lịch của chương trình đó. Từ đó dẫn
đến việc thiết kế CTDL mà SPDL không được làm nổi bật. Điều này dẫn đến khả năng
học hỏi của sinh viên trong các CTDL không hiệu quả.
Cập nhật tình hình thực tiễn về xu thế xuất hiện và phát triển những loại hình du
lịch mới, thu hút nhiều nhóm đối tượng du khách để tổ chức cho sinh viên tham gia
nhằm mục đích giúp giúp sinh viên kịp thời nắm bắt được những SPDL mới đó.
Thiết kế các SPDL theo nhu cầu chính đáng của sinh viên bằng cách khảo sát
nhu cầu của sv từng lớp, không áp đặt và thiết kế lại những SPDL cũ. Bởi vì như ta đã
biết, tài nguyên du lịch và dịch vụ qua các năm sẽ có nhiều thay đổi. Việc sử dụng lại
những dịch vụ cũ hay tham quan những điểm du lịch đang trong điều kiện không phù
hợp sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng của CTDL. Điều này tác động trực tiếp đến chất
lượng của SPDL.
Quán triệt nhận thức và giải thích mục đích thiết kế những CTDL theo các
SPDL mới cho sinh viên. Hạn chế tối đa việc sinh viên trải nghiệm SPDL mà không
hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của việc tham gia những CTDL. Vì mục đích tổ chức cho
sinh viên tham gia các CTDL là để sinh viên có điều kiện hiểu, tiếp cận các loại hình
du lịch cũng như SPDL mà thị trường du lịch đang phát triển.
Xây dựng môi trường học tập, chẳng hạn như câu lạc bộ lữ hành để sinh viên có
điều kiện nghiên cứu, trau dồi hệ thống tri thức về tuyến điểm, các loại hình du lịch,
những vấn đề thời sự trong ngành Du lịch để nâng cao kiến thức chuyên ngành.
Tạo hộp thư điện tử (Email) để giúp sinh viên có điều kiện được giải đáp kịp
thời những trăn trở, bức xúc đối với các CTDL.
Lấy chuyên ngành đào tạo làm trung tâm để phát triển các SPDL phù hợp. Tuy
nhiên, phát triển SPDL theo hướng đa dạng hóa căn cứ vào tình hình thực tiễn trong
công tác đào tạo.
83
Dung hòa các vấn đề về tài nguyên du lịch, các loại dịch vụ của SPDL theo
hướng có lợi cho sinh viên. Sau mỗi SPDL mà sinh viên trải nghiệm, cần nhanh chóng
phát phiếu khảo sát để kịp nắm bắt tình hình thực tiễn về vấn đề nhận định của sinh
viên đối với chất lượng của SPDL.
Sinh viên phải chủ động học tập kiến thức, kỹ năng thông qua các CTDL mà
mình tham gia để tự rút kinh nghiệm cho bản thân.
Cố vấn học tập phải là cầu nối trong việc đề đạt ý kiến, nguyện vọng của sinh
viên trong vấn đề tham gia các CTDL.
Để sinh viên chủ động thử nghiệm thiết kế các CTDL với sự góp ý và giám sát
của Ban lãnh đạo. Tạo điều kiện cho sinh viên thiết kế thử nhiều CTDL. Một mặt có
thể hỗ trợ sinh viên trong việc nâng cao kiến thức tuyến điểm; mặt khác có thể giúp
sinh viên chủ động trong việc lựa chọn những SPDL mà sinh viên cảm thấy phù hợp.
Ban lãnh đạo và giảng viên khoa cần chú trọng vấn đề kỷ luật khi trải nghiệm
các CTDL của sinh viên. Đây là một trong những phương pháp mang tính định hướng
cho sinh viên, giúp sinh viên trải nghiệm nghề nghiệp thông qua việc tuân thủ một số
nguyên tắc nghề nghiệp (về trang phục, giờ giấc, nghiệp vụ, …)
Chú trọng vào xây dựng loại hình du lịch biển để đáp ứng nhu cầu của sinh viên
vì đây cũng là một loại hình du lịch phổ biến mà sinh viên cần được tiếp cận.
Linh động về thời gian trong vấn đề tổ chức các CTDL tùy thuộc vào tình hình
thực tiễn của các nhóm sinh viên các lớp.
Đảm bảo tính cân bằng động giữa yếu tố học tập – giải trí cho sinh viên khi
tham gia các CTDL.
Trước mỗi năm học cần thông báo kế hoạch tổ chức các CTDL trước để sinh
viên nắm bắt được tình hình trong năm học đó để có sự chuẩn bị, đặc biệt là vấn đề
kinh phí.
Đảm bảo độ giãn khi tham quan các điểm du lịch, tránh tình trạng “cưỡi ngựa
xem hoa”. Hay nói cách khác, khi đã xác định được SPDL đặc trưng trong một CTDL
thì chắc chắn hệ thống tài nguyên du lịch theo các tuyến điểm đó sẽ được hạn chế. Khi
đó thì thời gian tại các điểm, khu du lịch sẽ có độ giãn phù hợp cho sinh viên.
Cân bằng hai yếu tố: Tiếp thu kiến thức và khảo sát dịch vụ. Cả tiếp thu kiến
thức và khảo sát dịch vụ đều là kiến thức chuyên ngành mà sinh viên cần năm bắt khi
tham gia các CTDL. Tuy nhiên, giữa hai vấn đề này cần có sự cân bằng trong việc tiếp
84
thu. Tại những cơ sở lưu trú, nhà hàng thì hiển nhiên việc khảo sát dịch vụ được ưu
tiên đặt lên hàng đầu. Trong khi đó, tại những điểm du lịch văn hóa, lịch sử thì ngược
lại. Do đó, để nắm bắt khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên, là cần thiết khi yêu
cầu sinh viên trình bày bảng báo giá dịch vụ trong bài Báo cáo thực tế.
Lựa chọn hướng dẫn viên theo tính chất và quy mô của CTDL. Các CTDL của
khoa bao gồm những CTDL thuộc về các học phần Thực tế chuyên môn và các
chương trình là ngoại khóa. Do đó, hướng dẫn viên có kiến thức chuyên môn sâu sẽ
phù hợp với những chương trình thực tế của sinh viên; còn ngược lại, đối với những
chương trình ngoại khóa thì hướng dẫn viên có kỹ năng hoạt náo tốt là sự lựa chọn ưu
tiên. Do đó, tùy vào tính chất của CTDL mà có sự lựa chọn cho phù hợp.
3.3. Thử nghiệm thiết kế một số sản phẩm du lịch cho sinh viên ngành Việt
Nam học
3.3.1. Quy trình thiết kế
Để đi đến mục tiêu cuối cùng là xây dựng các SPDL phù hợp, đáp ứng nhu cầu
chính đáng của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, ĐHSG, nhóm tác giả lần lượt thực
hiện theo quy trình sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu và cơ sở để thiết kế các SPDL cho sinh viên
- Về mục tiêu thiết kế các SPDL: Trong chương 2, nhóm tác giả đã làm rõ kết
quả khảo sát từ sinh viên. Và như nhận định ban đầu, để thiết kế những SPDL phù hợp
với nhu cầu chính đáng của sinh viên, từ kết quả khảo sát trên, nhóm tác giả tiến hành
thiết kế thử nghiệm một số SPDL phù hợp. Cũng cần nói thêm rằng, trong công trình
này, mục tiêu của chúng tôi là nhận định những nhu cầu trong việc lựa chọn SPDL,
chứ không phải là thiết kế thử nghiệm những CTDL cụ thể. Bởi vì như đã đề cập trong
chương 1, CTDL chỉ thực sự tạo được dấu ấn nếu đã xác định được SPDL chủ đạo.
- Về cơ sở thiết kế các SPDL cho sinh viên: Nhóm tác giả căn cứ vào 3 nguồn
tài liệu chủ yếu để làm cơ sở thiết kế các SPDL cho sinh viên. Thứ nhất là kết quả
khảo sát trong chương 2, thứ hai là những CTDL mà khoa đã thiết kế và ứng dụng cho
các nhóm sinh viên của khoa trước đó, cuối cùng là chúng tôi cũng căn cứ vào Đề án
“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030” của Tổng cục Du lịch. Theo đó, trước hết thì nhóm tác giả sẽ lựa chọn các vùng
du lịch để thông qua đó có thể định các tuyến (hoặc liên tuyến) du lịch. Sau khi đã
85
nhận định những tuyến du lịch đó sẽ bắt đầu căn cứ vào thế mạnh của những tuyến du
lịch đó để nhận định loại hình du lịch phù hợp, là thế mạnh của những tuyến đó. Cuối
cùng sẽ là việc xây dựng những SPDL phù hợp với từng tuyến du lịch đó và cụ thể hóa
bằng những CTDL.
Bước 2: Nhận định các nhóm đối tượng sinh viên. Với mỗi giai đoạn khác
nhau, nhận thức của sinh viên về nhu cầu, đánh giá chất lượng SPDL sẽ có sự khác
biệt nhất định. Nói cách khác, không thể ứng dụng những SPDL được thiết kế cho sinh
viên năm nhất để sử dụng cho sinh viên năm cuối được hoặc ngược lại. Do đó, những
SPDL mà chúng tôi thiết kế thử nghiệm sẽ đa dạng, tùy vào từng nhóm đối tượng sinh
viên. Mặt khác, chúng tôi tạm chia các nhóm đối tượng sinh viên ra làm 4 nhóm.
Chúng bao gồm: Nhóm sinh viên năm nhất – nhóm sinh viên năm hai – nhóm sinh viên
năm ba – nhóm sinh viên năm cuối.
Bước 3: Ứng dụng thử nghiệm thiết kế các SPDL. Đây chính là phần nội dung
chính của công trình. Ở mỗi loại SPDL dành cho các nhóm sinh viên khác nhau, nhóm
tác giả sẽ chỉ rõ những vấn đề cốt lõi trong việc thiết kế SPDL. Những vấn đề tiên
quyết để nhận định, xây dựng các SPDL cho từng nhóm đối tượng sinh viên sẽ bao
gồm: Nhu cầu du lịch, động cơ du lịch, loại hình du lịch. Khi đã nhận định được
những vấn đề trên thì SPDL khi được thiết kế sẽ bám sát được nội dung cốt lõi của nó
và đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của sinh viên.
3.3.2. Xây dựng các SPDL phù hợp cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành Việt
Nam học
3.3.2.1. Xác định nhu cầu, động cơ và loại hình du lịch cho các nhóm đối tượng sinh
viên ngành Việt Nam học
Như vậy, căn cứ vào quy trình trên, trước tiên chúng tôi sẽ nhận định nhu cầu,
động cơ, loại hình du lịch theo các nhóm đối tượng sinh viên, vì đây là tiền đề để thiết
kế các SPDL.
Bảng 3.6: Những vấn đề tiên quyết ảnh hưởng đến việc thiết kế SPDL cho các
nhóm đối tượng sinh viên ngành VNH
Nhóm đối
tượng sinh viên
Nhu cầu Động cơ Loại hình du lịch phù hợp
Năm nhất Giải trí Du lịch biển đảo – sinh thái
86
Tự hoàn thiện
bản thân
– thể thao
Năm hai Giải trí - hoàn thiện
bản thân - hòa nhập
và thể hiện
Du lịch ẩm thực – tâm linh
– sinh thái – biển đảo
Năm ba Giải trí - hoàn thiện
bản thân - hòa nhập
và thể hiện
Du lịch ẩm thực – tâm linh
– sinh thái – biển đảo –
nghiên cứu
Năm cuối Giải trí - hoàn thiện
bản thân
Du lịch biển đảo – sinh thái
– nghiên cứu
[Nguồn: Nhóm tác giả]
Căn cứ vào bảng trên ta có thể thấy, dù là thuộc nhóm đối tượng sinh viên nào
thì nhu cầu cốt lõi của sinh viên khi tham gia trải nghiệm các SPDL cũng là vì mục
đích tự hoàn thiện bản thân. Ngay từ đầu, chúng tôi đã nhận định du lịch là một ngành
nghề đặc thù, trong đó, muốn có sự tiến bộ, hoàn thiện kỹ năng và phát triển tri thức
thì việc trải nghiệm thực tiễn là một yếu tố quan trọng và cần thiết. Do vậy mà nhóm
tác giả nhận định nhu cầu cốt lõi của sinh viên chính là tự hoàn thiện bản thân.
Tiếp theo, ở vấn đề động cơ du lịch thì bắt đầu có sự phân hóa ở các nhóm đối
tượng sinh viên khác nhau. Với sinh viên năm nhất thì những SPDL khi thiết kế cho
nhóm đối tượng này thì cần hiểu động cơ của sinh viên chỉ dừng lại ở cấp độ giải trí,
tham gia để có sự tiếp cận bước đầu với ngành nghề. Tuy nhiên, đối với nhóm sinh
viên năm hai và năm ba, bên cạnh động cơ giải trí thì xuất hiện thêm hai động cơ,
chính là động cơ hoàn thiện bản thân và động cơ hòa nhập, thể hiện. Bởi vì, khi đã bắt
đầu nhận thức và tự định hướng nghề nghiệp cho bản thân, mỗi sinh viên sẽ bắt đầu
tiếp cận nghề nghiệp bằng những công việc mang tính định hướng. Chẳng hạn như
việc sẽ bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn về kiến thức du lịch, tự trang bị cho mình những kỹ
năng cần thiết, ... Và cuối cùng là đối với nhóm sinh viên năm cuối, khi đó thì sinh
viên đang trong giai đoạn chuẩn bị hành nghề. Bên cạnh động cơ giải trí (động cơ
không thể thiếu đối với hoạt động du lịch) thì vẫn còn tồn tại động cơ hoàn thiện bản
thân.
Cuối cùng là việc nhận định những loại hình du lịch phù hợp cho từng nhóm đối
tượng sinh viên. Nhận định loại hình du lịch là việc làm cực kỳ quan trọng, vì nó ảnh
87
hưởng trực tiếp đến chất lượng về chuyên môn cũng như dịch vụ của tổng thể một
SPDL. Loại hình du lịch phù hợp, tương thích với các nhóm sinh viên sẽ là tiền đề
quyết định đến mức độ phù hợp của SPDL với sinh viên. Mặt khác, mức độ phù hợp
của SPDL đối với sinh viên thì tỉ lệ thuận với sự hài lòng của sinh viên đối với SPDL.
Việc phân nhóm các loại hình du lịch, nhóm tác giả đã tiến hành trong chương
1. Đối với sinh viên năm nhất, các loại hình du lịch phù hợp mà nhóm tác giả đề xuất
bao gồm các loại hình du lịch biển đảo – sinh thái – thể thao. Đối với động cơ của
nhóm đối tượng này đã được xác định là động cơ giải trí thì việc lựa chọn những loại
hình du lịch trên theo chúng tôi là phù hợp. Bởi vì với tâm thế bắt đầu trải nghiệm với
nghề thì những loại hình du lịch kể trên có tính chuyên môn không cao; sinh viên khi
tham gia những SPDL đó chủ yếu tìm kiếm sự trải nghiệm. Trong khi đó thì đối với
nhóm sinh viên năm hai và năm ba, nhóm đối tượng này đã bắt đầu có sự chuyển biến
về mặt nhận thức, đồng thời trong giai đoạn này thì sinh viên đã bắt đầu tiếp cận và
được trang bị nhiều hơn kiến thức chuyên ngành, do đó mà một số loại hình du lịch
khác cũng đồng thời cần được xây dựng để sinh viên có cơ hội tiếp cận. Những loại
hình du lịch này có thể kể đến như du lịch ẩm thực – tôn giáo – sinh thái – biển đảo –
nghiên cứu…
Như vậy, ở mỗi nhóm đối tượng sinh viên khác nhau, chúng tôi đã nhận định
được một số vấn đề tiên quyết. Chúng là cơ sở để việc xây dựng các SPDL phù hợp
được tiến hành hiệu quả. Tiếp theo, sau khi đã nhận định được những loại hình du lịch
phù hợp thì bước tiếp theo, nhóm tác giả sẽ căn cứ vào Đề án “Quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du
lịch để phân vùng và định tuyến du lịch để làm cơ sở xây dựng những SPDL phù hợp.
3.3.2.2. Phân vùng và định tuyến du lịch cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành
Việt Nam học
Việc phân vùng du lịch được xác định nhằm khai thác các đặc thù về tài
nguyên để phát triển các sản phẩm theo vùng, nhận định được mỗi vùng một sản phẩm
đặc trưng. Đồng thời thông qua đó có thể tạo sự liên kết giữa các vùng nhằm mục đích
phát triển các sản phẩm tổng hợp mang tính cạnh tranh cao (được thể hiện thông qua
các CTDL liên tuyến) [24: 83].
88
Căn cứ vào bảng Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch, nhóm tác giả phân vùng du
lịch như sau19
:
- Vùng du lịch Trung du và miền núi Bắc Bộ với 14 tỉnh thành;
- Vùng du lịch Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc với 11 tỉnh thành;
- Vùng du lịch Bắc Trung Bộ với 6 tỉnh;
- Vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ với 8 tỉnh thành;
- Vùng du lịch Tây Nguyên với 5 tỉnh;
- Vùng du lịch Đông Nam Bộ với 6 tỉnh thành;
- Vùng du lịch Đồng bằng sông Cửu Long với 13 tỉnh thành.
Bên cạnh việc phân vùng du lịch như trên, Tổng cục Du lịch cũng đã xác
định những SPDL đặc trưng của từng vùng du lịch tương ứng. Như vậy, đối với trường
hợp thiết kế SPDL cho sinh viên ngành VNH, cần lưu ý đến việc dung hòa các yếu tố
phù hợp về thời gian, không gian, mục đích tổ chức. Thời gian ở đây chính là độ dài
chuyến đi, thời điểm tổ chức chuyến đi; không gian là quy mô các điểm tham quan
trong CTDL; và mục đích chính là yếu tố xuất phát từ động cơ và nhu cầu du lịch của
các nhóm đối tượng sinh viên khác nhau.
Như vậy, nhóm tác giả đề xuất việc định tuyến du lịch cho các nhóm đối
tượng sinh viên cần phải linh hoạt (có thể là định tuyến nội vùng hoặc định tuyến liên
vùng), tùy vào các yếu tố thời gian, không gian và mục đích của sinh viên. Cụ thể theo
bảng dưới:
Bảng 3.7: Định tuyến du lịch cho các nhóm sinh viên ngành VNH
Đối
tượng
sinh viên
Định tuyến Vùng du lịch
Nội vùng Liên vùng
Năm nhất Đông Nam Bộ
Tây Nam Bộ
Duyên hải Nam Trung Bộ
X
19
: Xem thêm tại Phụ lục 3 về chi tiết phân vùng du lịch của các tỉnh thành.
89
Năm hai Tây Nam Bộ
Duyên hải Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
X X
Năm ba Duyên hải Nam Trung Bộ
Bắc Trung Bộ
Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc
Trung du và miền núi Bắc Bộ
X
Năm cuối Đông Nam Bộ
Tây Nam Bộ
Tây Nguyên
X
[Nguồn: Nhóm tác giả]
Song song với việc định tuyến du lịch phù hợp với các nhóm đối tượng sinh
viên, nhóm tác giả cũng đồng thời trình bày từng SPDL phù hợp với từng tuyến căn cứ
vào những đặc trưng về tài nguyên du lịch của từng tỉnh thành. Đồng thời, kết hợp kết
quả từ hai bảng 3.6 và 3.7 với định hướng các SPDL đặc trưng của từng vùng du lịch
của Tổng cục Du lịch, nhóm tác giả đề xuất định hướng những SPDL cho từng nhóm
đối tượng sinh viên theo bảng sau:
Bảng 3.8: Xác định các SPDL đặc trưng cho các nhóm đối tượng sinh viên
Nhóm đối tượng
sinh viên
Vùng du lịch Sản phẩm du lịch đặc trưng
(phù hợp cho sinh viên)
Năm nhất
Tây Nam Bộ Sinh thái – biển đảo
Đông Nam Bộ Biển đảo – nghiên cứu
Duyên hải Nam Trung Bộ Biển đảo – sinh thái
Năm hai Tây Nam Bộ Sinh thái – biển đảo – nghiên cứu
Tây Nguyên
Duyên hải Nam Trung Bộ
Sinh thái – nghiên cứu (văn hóa
tộc người)
Biển đảo – sinh thái
Năm ba
Trung du và miền núi Bắc
Bộ
Sinh thái – nghiên cứu (văn hóa
tộc người)
Đồng bằng sông Hồng và
duyên hải Đông Bắc
Biển đảo – tâm linh – sinh thái
Bắc Trung Bộ Nghiên cứu (di sản, văn hóa) –
biển đảo
Duyên hải Nam Trung Bộ Sinh thái – biển đảo
Năm cuối
Tây Nam Bộ Sinh thái – biển đảo
Đông Nam Bộ Nghiên cứu – biển đảo
90
Tây Nguyên Sinh thái – nghiên cứu (văn hóa
tộc người)
[Nguồn: Nhóm tác giả căn cứ vào Đề án “Phát triển tổng thể du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” - Tổng cục Du lịch]
3.3.2.3. Xây dựng sản phẩm du lịch cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành Việt
Nam học
Theo định nghĩa về “sản phẩm du lịch” mà nhóm tác giả đã đề cập trong
chương 1, SPDL là kết quả của việc kết hợp hai thành tố tài nguyên du lịch – dịch vụ.
Do đó, sau khi nhận định các SPDL đặc trưng của từng vùng du lịch theo định hướng
của Tổng cục, chúng tôi tiến hành xây dựng và thiết kế các SPDL cụ thể cho từng
nhóm đối tượng sinh viên dựa trên hai thành tố: Tài nguyên du lịch – dịch vụ.
Theo đó, ở thành tố tài nguyên du lịch, nhóm tác giả phân thành hai nhóm tài
nguyên là tài nguyên du lịch tự nhiên – tài nguyên du lịch nhân văn. Mặt khác, đối với
thành tố dịch vụ, chúng tôi phân chia thành các thành tố nhỏ, bao gồm các dịch vụ:
Vận chuyển – lưu trú – ăn uống – hướng dẫn viên – các dịch vụ bổ trợ khác.
Kết quả xây dựng này chỉ dừng lại ở mức độ chung nhất, phổ quát nhất. Đối với
việc phân chia cụ thể chất lượng của các SPDL, chúng tôi sẽ tiến hành khi xây dựng
thử nghiệm khung CTDL cụ thể. Bởi vì, ở từng nhóm đối tượng sinh viên, không phải
chỉ có một loại SPDL, mà trong đó có nhiều SPDL khác nhau. Do đó, việc định hướng
và xây dựng SPDL ở cấp độ phổ quát chỉ mang tính tương đối.
91
Bảng 3.9: Xây dựng SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành VNH
Đối
tượng
sinh viên
SẢN PHẨM DU LỊCH
Tài nguyên du lịch Dịch vụ20
Tự
nhiên
Nhân văn Tham quan Vận chuyển Lưu trú Ăn uống Hướng dẫn viên Khác
Năm nhất X X Ít Tốt Tốt Khá Hoạt náo tốt Tùy vào tình
hình thực tiễn
để có sự bổ
sung linh
động
Năm hai X X Nhiều Tốt Khá Tốt Kiến thức tốt
Năm ba X X Nhiều Tốt Khá, trung bình Tốt, khá Dung hòa cả hai yếu tố
Năm cuối X X Ít Tốt Tốt Tốt Dung hòa cả hai yếu tố
[Nguồn: Nhóm tác giả]
20
: Chất lượng dịch vụ vận chuyển – lưu trú – ăn uống được đánh giá theo dạng thang đo: Tốt – Khá – Trung bình;
Dịch vụ tham quan được đánh giá theo tần suất: Nhiều – Ít;
Hướng dẫn viên được đánh giá theo khả năng: Kiến thức tốt – Hoạt náo tốt – Dung hòa cả hai yếu tố.
92
Bên trên đã tổng hợp và nhận định các SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên
khác nhau. Thông qua bảng trên, nhóm tác giả có một số nhận định ở từng thành tố
cấu thành nên SPDL như sau:
Về thành tố tài nguyên du lịch: Ta có thể thấy, dù là nhóm đối tượng sinh viên
nào, tham gia loại hình du lịch nào đi chăng nữa thì cũng cần có sự hiện diện của hai
loại tài nguyên du lịch là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Về vấn đề tham quan, ở mỗi nhóm đối tượng sinh viên có sự khác biệt về tần
suất. Đối với nhóm đối tượng sinh viên năm hai và năm ba thì đây là nhóm đối tượng
phải tham quan với tần suất cao, vì đây là khoảng thời gian mà sinh viên cần tiếp thu
thật nhiều kiến thức chuyên ngành. Còn với năm nhất và năm cuối thì tần suất giảm
xuống.
Về dịch vụ vận chuyển thì tất cả các nhóm đều cần được sử dụng dịch vụ vận
chuyển tốt để đảm bảo an toàn trong suốt một CTDL.
Về dịch vụ lưu trú, như đã đề cập, sinh viên cần có sự trải nghiệm trong nhiều
môi trường lưu trú khác nhau để đảm bảo việc tiếp cận và nắm bắt nhiều dạng dịch vụ.
Mặt khác, theo chúng tôi thì dịch vụ lưu trú cũng là một thành tố chiếm tỉ lệ cao trong
việc quyết định giá cả cho một CTDL. Chất lượng dịch vụ lưu trú tốt tỉ lệ thuận với giá
thành cao. Do vậy, cần cân nhắc trong việc sử dụng dịch vụ lưu trú để tránh làm ảnh
hưởng đến nhu cầu giá cả, đảm bảo một mức giá hợp lý cho sinh viên.
Về dịch vụ ăn uống, chúng tôi đưa ra thang đo “tốt – khá – trung bình” có
nghĩa là thực đơn món ăn như thế nào, không bao gồm vấn đề về vệ sinh an toàn thực
phẩm, bởi vì đây là vấn đề tối quan trọng không cần đề cập. Hiện nay, mặc dù ẩm thực
là một thành tố thu hút du khách khi đi du lịch, thế nhưng có những khi đây cũng đồng
thời là rào cản, gây khó khăn cho thực khách khi đi du lịch. Lấy một ví dụ như món
mắm Prahok (Bò hóc) được xem là đặc sản của cộng đồng người Khmer. Thế nhưng
nếu ăn không quen thì mùi vị sẽ gây khó chịu cho thực khách. Nhìn chung, thực đơn
món ăn trong các CTDL cho sinh viên cần đảm bảo cân bằng yếu tố khẩu vị và trải
nghiệm. Vì như ta đã biết, đặt trường hợp sinh viên trải nghiệm những CTDL dài
ngày, nếu trong thực đơn quá chú trọng vào việc tạo điều kiện cho sinh viên trải
nghiệm những món ăn đặc sản địa phương thì khả năng bỏ bữa là rất cao; điều này gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của sinh viên. Nhưng nếu không tạo điều kiện
93
để sinh viên có điều kiện thử những món ăn đặc sản thì cũng không hay vì như đã đề
cập, trải nghiệm ẩm thực cũng là một điểm nhấn trong tổng thể một SPDL hoàn chỉnh.
Cuối cùng là vấn đề về hướng dẫn viên. Đây vốn cũng được xem như một vấn
đề quan trọng trong việc nhìn nhận chất lượng của một SPDL, đặc biệt trong trường
hợp khi mà đối tượng du khách ở đây là sinh viên ngành Du lịch. Yếu tố hướng dẫn
viên liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến
thức chuyên ngành mà ngay từ đầu, nhóm tác giả đã nhận định là một nhu cầu đặc
trưng của sinh viên. Có thể nói, rất khó để tìm được một hướng dẫn viên đảm bảo
được việc dung hòa hai kỹ năng: Có kiến thức tốt – khả năng hoạt náo giỏi. Do vậy,
tùy thuộc vào tính chất của một CTDL (các chuyến đi thực tế hay ngoại khóa) mà cần
có sự cân nhắc trong việc tuyển chọn lực lượng hướng dẫn viên. Nếu là các CTDL
thực tế thì cần ưu tiên lựa chọn đội ngũ hướng dẫn viên có kiến thức rộng để giúp sinh
viên tiếp cận nhiều hơn với kiến thức chuyên ngành. Còn ngược lại, đối với những
CTDL là ngoại khóa thì cần tuyển chọn những hướng dẫn viên có khả năng hoạt náo
giỏi để qua đó, một mặt có thể tạo không khí chuyến đi vui vẻ, mặt khác vừa có thể
giúp sinh viên học hỏi thêm kỹ năng hoạt náo – một kỹ năng cũng không kém phần
quan trọng của người hướng dẫn viên.
Như vậy, ở trên là bảng nhận định từng thành tố trong khái niệm SPDL mà
nhóm tác giả đã đề xuất. Tuy nhiên, bản chất của SPDL là một khái niệm mang tính
trừu tượng cao; do đó, để làm rõ những đặc trưng đối với từng nhóm đối tượng sinh
viên, chúng tôi cụ thể hóa chúng bằng những khung CTDL, vì những khung CTDL
này chính là phương tiện để đưa những SPDL này đến tay sinh viên một cách chi tiết
và cụ thể nhất. Cũng cần lưu ý thêm rằng, chúng tôi đề xuất những khung CTDL chứ
không phải là CTDL cụ thể. Hay nói cách khác, nhóm tác giả sẽ căn cứ vào loại hình
du lịch phù hợp với từng nhóm đối tượng sinh viên của ngành VNH đã được đề cập ở
trên và đề xuất những tuyến du lịch trong từng vùng du lịch (nội vùng và liên vùng),
sử dụng những dịch vụ ở mức độ như thế nào, … chứ không sắp xếp chúng thành một
CTDL cụ thể.
94
3.3.3. Ứng dụng thử nghiệm thiết kế một số khung chương trình du lịch
Khung CTDL sẽ được xây dựng dựa trên bốn yếu tố sau21
:
Sơ đồ 3.10: Tiêu chí xây dựng khung CTDL cho sinh viên
[Nguồn: Nhóm tác giả]
3.3.3.1. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm nhất
Đối với nhóm đối tượng du khách là sinh viên năm nhất, nhóm tác giả đề xuất
khung CTDL như sau:
Thiết kế tham quan vùng du lịch: Tây Nam Bộ - Đông Nam Bộ - Duyên hải
Nam Trung Bộ với độ dài của chương trình từ 1 – 3 ngày. Trong đó, linh động xây
dựng các tuyến nội vùng (Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ)
hoặc tuyến liên vùng (kết hợp Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ). Đối với
vùng Đông Nam Bộ thì tập trung xây dựng SPDL tại hai trung tâm du lịch của vùng là
thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Vũng Tàu; đối với vùng Tây Nam Bộ thì tập
trung xây dựng SPDL tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Vĩnh Long. Còn
đối với vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ thì tập trung xây dựng SPDL với trung
tâm là thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận).
21
: Trong phần này, nhòm tác giả tập trung xây dựng khung CTDL với mục tiêu làm rõ 3 vấn đề: Độ
dài CTDL – vùng du lịch – đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch. Còn đối với dịch vụ, chúng tôi sử
dụng theo kết quả đánh giá mức độ dịch vụ theo thang đo trong bảng 3.9.
95
Đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch: Như đã xác định từ đầu, đây là nhóm
đối tượng trải nghiệm SPDL chưa yêu cầu cao về mặt chuyên môn, do vậy mà tài
nguyên du lịch trong những CTDL thiết kế cho nhóm đối tượng này chủ yếu là mang
tính giải trí. Các loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái – du lịch biển đảo – du lịch
nghiên cứu đều là những loại hình du lịch có thể phát triển các SPDL đặc trưng tại
những vùng du lịch này. Chẳng hạn như SPDL biển tại vùng du lịch Duyên hải Nam
Trung Bộ, loại hình du lịch sinh thái tại vùng Tây Nam Bộ…
Nói tóm lại, đối với nhóm đối tượng là sinh viên năm nhất, SPDL khi thiết kế
chỉ cần đảm bảo mục tiêu giúp sinh viên có những nhận thức đầu tiên về nghề nghiệp,
do vậy mà không cần quá chú trọng vào tính chuyên môn.
3.3.3.2. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm hai
Với nhóm đối tượng là sinh viên năm hai, chúng tôi đề xuất xây dựng khung
CTDL như sau:
Thiết kế tham quan vùng du lịch: Tây Nam Bộ - Tây Nguyên – Duyên hải Nam
Trung Bộ với độ dài của chương trình được kéo dài từ 5 – 7 ngày, tùy thuộc vào sự kết
hợp các tuyến. Với những vùng du lịch này, SPDL xây dựng cho sinh viên có thể kết
hợp tuyến liên vùng Tây Nguyên – Duyên hải Nam Trung Bộ với thành phố Đà Lạt
(vùng Tây Nguyên) làm trung tâm, và thành phố Phan Thiết, thành phố Nha Trang
(vùng Duyên hải Nam Trung Bộ) làm trung tâm. Mặt khác, đối với vùng Tây Nam Bộ
thì thiết kế tuyến nội vùng, trong đó lấy tỉnh Bến Tre, tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà
Mau và thành phố Cần Thơ làm những trung tâm để xây dựng.
Đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch: Đối với các vùng du lịch này, những
loại hình du lịch chủ đạo để phát triển SPDL theo chúng tôi bao gồm: Loại hình du
lịch biển đảo (với vùng du lịch Tây Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ) – loại hình
du lịch sinh thái (với vùng du lịch Tây Nam Bộ và Tây Nguyên) – loại hình du lịch
nghiên cứu (văn hóa tộc người) tại vùng Tây Nguyên. Bấy lâu nay, những vùng du lịch
này đã được nghiên cứu và xây dựng SPDL không chỉ cho sinh viên ngành VNH mà
còn cả những doanh nghiệp du lịch bên ngoài. Thế nhưng một thực tế là vẫn chưa có
sự “bức phá” nào trong việc đánh bật những giá trị đặc sắc về nguồn tài nguyên du lịch
tại những vùng du lịch này để từ đó có thể xây dựng những SPDL đặc sắc. Như vậy,
điều mà chúng tôi đề cập ở đây là không nhất thiết phải xây dựng những CTDL với
những điểm tham quan phổ biến, mà thay vào đó, ở mỗi vùng du lịch, Ban lãnh đạo
96
khoa cần xem xét và đặt vấn đề tập trung xây dựng những CTDL với những điểm du
lịch mới lên hàng đầu. Tuy nhiên, những điểm du lịch này cần phải làm nổi bật thế
mạnh về nguồn tài nguyên du lịch tại vùng đó. Lấy một ví dụ điển hình, nếu chọn
tuyến liên vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ để thiết kế CTDL cho sinh
viên thì ta cần nhận định thế mạnh về tài nguyên của từng vùng: Với vùng Tây
Nguyên, có thể nghiên cứu những điểm du lịch mà tại đó, sinh viên có điều kiện tiếp
xúc với cộng đồng cư dân các tộc người thiểu số để hiểu rõ hơn về đời sống của họ,
chứ không nhất thiết phải tham quan những điểm du lịch đã trở nên quá quên thuộc.
Hay như đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có thể thiết kế những SPDL “đậm”
tính biển (chẳng hạn như chương trình “tour 4 đảo” tại thành phố Nha Trang)…
Tóm lại, với SPDL dành cho sinh viên năm hai, yêu cầu về chuyên môn đã
được nâng lên đáng kể. Do vậy mà công tác thiết kế, tổ chức và định hướng cũng cần
được chú trọng hơn. Sau những CTDL, sinh viên phải có những chuyển biến về kiến
thức, nghiệp vụ, nhận thức theo hướng tích cực, chứ không còn mang tính trải nghiệm
và giải trí như trong năm nhất nữa.
3.3.3.3. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm ba
Trong các nhóm đối tượng sinh viên của khoa, có thể nói nhóm đối tượng là
sinh viên năm ba là những sinh viên cần được trang bị kiến thức chuyên môn thiết yếu
nhất. Bởi vì trong giai đoạn này, những môn học chuyên ngành đều đã được trang bị
cho sinh viên. Do vậy mà những SPDL được thiết kế cho nhóm đối tượng này cũng
cần phải có những yêu cầu đặc biệt quan trọng để qua đó giúp cho sinh viên kiểm
chứng những kiến thức lý thuyết đã được trang bị trên lớp.
Về thiết kế tham quan vùng du lịch: Như đã xác định trong bảng 3.8, với sinh
viên năm ba cần thiết kế liên tuyến cả bốn vùng du lịch: Duyên hải Nam Trung Bộ -
Bắc Trung Bộ - Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc – Trung du và miền núi
Bắc Bộ. Với khung chương trình như vậy thì độ dài trung bình cho khung CTDL kéo
dài trong khoảng từ 18 – 22 ngày. Hiện nay, CTDL liên tuyến này đã được ngành
VNH thiết kế và ứng dụng cho sinh viên với tên gọi là hành trình xuyên Việt. Tuy
nhiên, qua khảo sát trong chương 2, chúng tôi nhận được những phản hồi của sinh viên
về vấn đề thời gian quá dài, có sự trùng lập về các loại hình du lịch, … Do đó, việc
97
định hướng khung chương trình sau sẽ giới hạn lại phạm vi tham quan dựa trên cơ sở
xác định những SPDL đặc trưng tại từng vùng. Cụ thể:
- Với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: Lấy thành phố Nha Trang, tỉnh Phú Yên,
tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam làm trọng tâm phát triển SPDL.
- Với vùng Bắc Trung Bộ: Lấy thành phố Huế, tỉnh Quảng Bình, tỉnh Thanh Hóa
làm trọng tâm xây dựng.
- Với vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: Lấy tỉnh Ninh Bình,
thành phố Hà Nội, tỉnh Quảng Ninh làm trọng tâm xây dựng.
- Cuối cùng, với vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ lấy tỉnh Lào Cai và tỉnh Hà
Giang làm trung tâm để thiết kế.
Đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch: Đây là một SPDL mang tính tổng hợp rất
cao. Ở mỗi vùng du lịch đều có những SPDL đặc sắc riêng. Do vậy, khi thiết kế
CTDL, Ban lãnh đạo khoa cần xem xét yếu tố đánh bật những đặc trưng tại mỗi vùng
du lịch. Lấy ví dụ như đối với vùng Bắc Trung Bộ, đây được xem như một vùng du
lịch di sản, do đó cần lựa chọn SPDL nghiên cứu (văn hóa) với vùng du lịch này.
Trong khi đó, với vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ, những trung tâm mà chúng
tôi xác định đều là những nơi phù hợp với việc phát triển SPDL biển đảo… Do đó, để
thực sự hiệu quả trong việc thiết kế SPDL cho tuyến du lịch này, cần có sự nhận định
đúng đắn ngay từ đầu về những thế mạnh tài nguyên du lịch của từng khu vực, tránh
trường hợp “ôm” quá nhiều điểm tham quan trong một CTDL, gây tâm lý mệt mỏi và
nhàm chán cho sinh viên như hiện nay.
3.3.3.4. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm cuối
Với nhóm đối tượng sinh viên năm cuối, đây là nhóm đối tượng tương tự như
nhóm đối tượng sinh viên năm nhất, mục đích khi tham gia trải nghiệm các SPDL là
để tổng kết lại những vấn đề đã được trang bị. Do vậy, tính giải trí được ưu tiên trên
hết. Về thiết kế tham quan vùng du lịch: Có thể linh động nhưng căn cứ trên nguyên
tắc không trùng lập với khung chương trình trong năm nhất. Nếu năm nhất đã thiết kế
CTDL tuyến Đông Nam Bộ thì lần này sẽ đổi sang tuyến Tây Nam Bộ hoặc ngược lại.
Do vậy, ở các nhóm lớp khác nhau sẽ có sự khác biệt, không có sự thống nhất vì điều
này phụ thuộc vào khung chương trình của các lớp.
98
Tiểu kết chương 3
Trong chương này, nhóm tác giả đã giải quyết những vấn đề sau:
(1) Đưa ra nhận định tổng quát về vấn đề lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH
bằng mô hình TOWS. Mô hình này giúp ta có cái nhìn ở cấp độ phổ quát nhất về
những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc lựa chọn SPDL của sinh
viên.
(2) Tiếp theo, căn cứ vào tình hình thực tiễn đó, chúng tôi đưa ra những nhóm định
hướng và lấy đó làm cơ sở cho việc bước đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản trong
việc thiết kế những SPDL, đáp ứng nhu cầu của các nhóm đối tượng sinh viên.
(3) Nội dung tiếp theo chúng tôi cũng đã giải quyết là việc ứng dụng thử nghiệm
nhận định những yếu tố cấu thành nên SPDL để từ đó làm căn cứ xây dựng SPDL. Để
làm được điều này, nhóm tác giả đã lần lượt thực hiện theo quy trình sau: Xác định
mục đích và cơ sở thiết kế những SPDL – nhận định và phân loại các nhóm đối tượng
sinh viên - ứng dụng xây dựng thử nghiệm những SPDL.
(4) Và những kết quả đó chính là tiền đề để chúng tôi căn cứ vào đó xây dựng
khung CTDL một cách linh động, có cơ sở và phù hợp với các nhóm đối tượng sinh
viên khác nhau. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của đề tài này.
99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Trong quá trình hội nhập không chỉ trong bình diện khu vực, mà còn cả
bình diện quốc tế, Việt Nam thực sự đang đối đầu với nhiều thách thức. Trong những
thách thức đó, nhóm tác giả cho rằng chất lượng nguồn nhân lực lao động trong ngành
là một trong những mắt xích chủ chốt. Sinh viên ngành VNH khoa QHQT, ĐHSG
chính là một phần của nguồn nhân lực ấy trong tương lai. Do vậy, đề tài này đã được
hoàn thành nhằm mục tiêu xây dựng những SPDL đáp ứng nhu cầu chính đáng của
sinh viên. Chính việc trải nghiệm những SPDL này là tiền đề vững chắc để sinh viên
có cơ sở lao động hiệu quả sau này.
So sánh lại với mục đích đặt ra ở phần đầu của đề tài, thông qua những nhiệm
vụ đã được xác định, đề tài đã đạt được những kết quả mới, cả về lý luận và thực tiễn:
Về nhiệm vụ hệ thống hóa một số vấn đề lý luận: Nhóm tác giả đã tiến hành
tổng hợp tài liệu, phân tích và đưa ra những nhận định của chúng tôi về những vấn đề
đó. Việc xây dựng khung lý thuyết nhằm mục tiêu làm cơ sở khoa học và thực tiển để
chúng tôi tiến hành nghiên cứu nội dung chính của đề tài. Cụ thể là đưa ra những khái
niệm về nhu cầu du lịch, động cơ du lịch, loại hình du lịch, sản phẩm du lịch; trong đó
thì chúng tôi đã bước đầu đưa ra những định nghĩa về động cơ du lịch – loại hình du
lịch. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã xác định và phân tích tính thiết yếu trong việc
nhận định những nhu cầu mang tính đặc thù của sinh viên ngành VNH trong vấn đề
lựa chọn SPDL.
Về nhiệm vụ đánh giá thực trạng nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên: Nhóm
tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi khảo sát, sử dụng phương pháp định tính và định
lượng để đưa ra những nhận định về việc lựa chọn SPDL của sinh viên. Những kết quả
đạt được bám sát với tình hình thực tiễn, phản ánh đúng với thực trạng trong những
năm qua của sinh viên trong việc sử dụng SPDL. Đây là cơ sở để chúng tôi nhìn nhận
một cách chi tiết những ý kiến của sinh viên, xác định những nhu cầu thiết yếu của
sinh viên để qua đó có thể thiết kế những SPDL đặc sắc hơn, nâng cao chất lượng đào
tạo của khoa trên bình diện chung.
100
Hoàn thành hai nhiệm vụ trên là tiền đề để nhóm tác giả tiếp cận với nhiệm vụ
tiếp theo, đó là đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể trong việc thiết kế SPDL cho
sinh viên ngành VNH, khoa QHQT. Thông qua phân tích TOWS, nhóm tác giả đề xuất
5 định hướng xoay quanh các vấn đề: Mục tiêu – nguyên tắc – cách thức – tính hiệu
quả - phương châm. Theo đó, những giải pháp cụ thể cũng được nhận định và đề xuất.
Việc làm này đảm bảo hướng đến việc thiết kế SPDL cho sinh viên ngành VNH sau
này một chuẩn mực và khuôn khổ khoa học.
Và những nhiệm vụ trên được thực hiện nhằm hướng đến mục đích đã đề ra
trong đề tài này, đó là bước đầu thử nghiệm xây dựng những khung CTDL khác nhau
cho các nhóm sinh viên của ngành VNH. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của đề tài.
Do năng lực, kinh phí, thời gian và nhiều yếu tố khác chi phối, đề tài này của
nhóm tác giả chỉ vừa đặt những viên gạch đầu tiên trong quá trình xây dựng những
SPDL cho sinh viên của khoa. Vẫn còn rất nhiều vấn đề mà chúng tôi chưa có điều
kiện nghiên cứu thêm. Do đó, những vấn đề này, cả về lý luận và thực tiễn còn chưa
được nghiên cứu chi tiết trong đề tài này sẽ là cơ sở để những đề tài nghiên cứu khoa
học sau của sinh viên có điều kiện hơn trong việc nghiên cứu hoàn thiện.
KIẾN NGHỊ
Việc hoàn thành mục đích nghiên cứu đề tài này thông qua kết quả nghiên cứu
đã đạt được cho phép chúng tôi có những kiến nghị sau:
Đối với Ban giám hiệu trường ĐHSG:
Xem kết quả đạt được của đề tài này như một tài liệu bước đầu nghiên cứu
thực trạng phát triển chương trình đào tạo của khoa QHQT nói chung. Chúng tôi kiến
nghị Ban giám hiệu nhà trường cần có sự nghiên cứu nghiêm túc để cùng với Ban lãnh
đạo khoa QHQT tìm ra những định hướng xây dựng những CTDL, căn cứ vào những
SPDL đặc trưng để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên của ngành VNH
khoa QHQT trong thời gian sắp tới.
Đối với Ban lãnh đạo khoa QHQT:
Thành lập Ban chỉ đạo xây dựng CTDL (cả chương trình Thực tế chuyên môn
và ngoại khóa) của khoa nhanh chóng để thông qua đó, có thể xây dựng những CTDL
thiết thực và bám sát thực tiễn hơn so với hiện nay. Mặt khác, chúng tôi cũng kiến
101
nghị Ban lãnh đạo khoa QHQT (VHDL) cần có sự phối hợp với Ban lãnh đạo nhà
trường trong vấn đề định hướng xây dựng SPDL cho sinh viên.
Đối với Trung tâm Hướng dẫn Du lịch, ĐHSG:
Với vai trò là cơ quan phụ trách chính việc xây dựng CTDL Thực tế chuyên
môn cho khoa VHDL, chúng tôi kiến nghị Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu và
xem đề tài này là một tài liệu tham khảo; liên kết và đẩy mạnh việc trao đổi với khoa
VHDL trong việc hỗ trợ để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của sinh viên trong
việc thụ hưởng những SPDL.
102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu sách, báo, tạp chí:
1. Trần Thúy Anh (2011), Giáo trình du lịch văn hóa - những vấn đề lý luận và
nghiệp vụ, NXB Giáo dục.
2. Trần Lê Bảo (2011), Khu vực học và nhập môn Việt Nam học, NXB Giáo dục.
3. Vũ Cao Đàm (2012), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học,
NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2004), Giáo trình Kinh tế du lịch,
NXB Lao động.
5. Dennis L. Foster (2001), Công nghệ du lịch (Kỹ thuật nghiệp vụ) (Trần Đình
Hải biên dịch), NXB Thống kê.
6. Trần Thị Thu Hà (2005), Giáo trình Tâm lý học kinh doanh du lịch (dùng
trong các trường THCN Hà Nội), NXB Hà Nội.
7. Khung chương trình Giáo dục Đại học ngành Việt Nam học (Văn hóa – Du
lịch) đã được Hiệu Trưởng phê duyệt ngày 19 tháng 05 năm 2009.
8. Trần Thị Thúy Lan, Nguyễn Đình Quang (2005), Giáo trình Tổng quan du
lịch, NXB Lao động Xã hội.
9. Nguyễn Văn Lưu (2013), Du lịch Việt Nam hội nhập trong ASEAN, NXB Văn
hóa Thông tin.
10. Nguyễn Văn Lưu (2014), Phát triển nguồn nhân lực – yếu tố quyết định sự
phát triển của ngành Du lịch Việt Nam, NXB Thông tấn.
11. Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa (2008), Giáo trình Marketing du lịch,
NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.
12. Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hồng Chương (2006), Giáo trình Quản trị kinh
doanh lữ hành, NXb Đại học Kinh tế Quốc dân.
13. Phạm Thị Thu Nga và nnk (2012), Định hướng phát triển bền vững công tác
đào tạo khoa Văn hóa – Du lịch (Đề tài NCKH cấp cơ sở) – khoa Văn hóa Du
lịch, Đại học Sài Gòn.
14. Phạm Thị Thu Nga (2009), “Ngành Việt Nam học (Văn hóa – Du lịch) tại
Trường Đại học Sài Gòn”, Tạp chí Đại học Sài Gòn (số 1).
103
15. Phạm Thị Thu Nga (2014), Khảo sát xây dựng hệ thống kỹ năng trong đào
tạo nghiệp vụ du lịch của Khoa Văn hóa – Du lịch (Đề tài NCKH cấp cơ sở) –
khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Sài Gòn.
16. Nguyễn Quang Ngọc (2006), “Việt Nam học ở Việt Nam: Quá trình hình
thành và phát triển”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế: “Khu vực học: Cơ sở
lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, tr3 – 9.
17. Huỳnh Thiệu Phong (2014), Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng ở
vùng Tây Nam Bộ (Đề tài NCKH cấp cơ sở) – khoa Văn hóa Du lịch, Đại học
Sài Gòn.
18. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 7 (2005), Luật du
lịch, Hà Nội.
19. Bùi Quang Tịnh, Bùi Thị Tuyết Khanh (2001), Từ điển tiếng Việt, NXB Văn
hóa Thông tin.
20. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội.
21. Trần Thị Kim Thu (Chủ biên) (2011), Giáo trình điều tra xã hội học, NXB
Đại học Kinh tế Quốc dân.
22. Trần Thị Thục (2013), Tập bài giảng Giáo trình Địa lý Du lịch Việt Nam, Đại
học Sài Gòn.
23. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Bộ công cụ hướng dẫn giảm nghèo thông
qua du lịch, Hà Nội.
24. Tổng cục Du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch.
25. Nguyễn Minh Tuệ (1998), Địa lý du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục.
26. Bùi Thị Hải Yến (2009), Tài nguyên du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục.
27. Bùi Thị Hải Yến (2011), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục.
Tài liệu khai thác trực tuyến:
28. http://anninhthudo.vn/phong-su/huong-dan-vien-du-lich-chinh-quy-thi-it-
nghiep-du-thi-nhieu/453025.antd
29. http://melissajoykong.tumblr.com/post/41133458868/the-psychological-
reasons-behind-why-rejection-sucks-so
104
30. http://trungtamnghiencuuthucpham.vn/ve-sinh-toan-thuc-pham-van-de-xa-
hoi-buc-xuc-can-duoc-giai-quyet/
31. http://vi.wikipedia.org/wiki/Abraham_Maslow
32. http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%85n_%C4%90
%C3%B4ng_B%C3%A1c_c%E1%BB%95
33. https://voer.edu.vn/c/khai-niem-ve-san-pham/022e4f84/acb65ac3 đ.n
34. http://www.sgu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=244
&Itemid=93
105
PHỤ LỤC
STT Danh mục phụ lục Trang
1 Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên ngành
VNH
106
2 Phụ lục 2: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên khoa
ngoài
111
3 Phụ lục 3: Phân vùng du lịch Việt Nam theo Đề án “Phát
triển tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch
113
106
Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên ngành VNH
Xin chào các bạn,
Chúng tôi là nhóm sinh viên lớp CVI112, khoa Văn hóa - Du lịch, hiện đang thực hiện
đề tài NCKH “Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên khoa Văn hóa – Du lịch
trường Đại học Sài Gòn (Giai đoạn 2011 – 2014)”. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, nay
chúng tôi cần sự hỗ trợ của các bạn. Các bạn vui lòng trả lời các câu hỏi bên dưới bằng cách
đánh dấu “” vào câu hỏi. Sự giúp đỡ của các bạn là rất cần thiết.
Chúng tôi xin đảm bảo những thông tin của các bạn chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên
cứu và hoàn thành đề tài này và sẽ tuyệt đối được giữ bí mật.

Họ tên: ………………………………………………………………………………………..
Tuổi: ………………………………………………………………………………….
Giới tính: □ Nam □ Nữ
Lớp: …...………………………………………………………………………………
Các bạn vui lòng cung cấp thông tin cho các câu hỏi sau đây:
Câu 1: Theo chương trình đào tạo hiện nay, ngoài các học phần thực tế bộ môn, theo bạn
có nên thêm các chuyến đi ngoại khóa khác hay không ?
□ Có (Trả lời tiếp câu 2) □ Không (Bỏ qua câu 2)
Câu 2: Theo bạn nên tổ chức thêm bao nhiêu chuyến đi là hợp lý (Trong 4 năm đào tạo) ?
□ 1 chuyến
□ 2 chuyến
□ 3 chuyến
□ 4 chuyến
Câu 3: Hiện nay, thu nhập bình quân hằng tháng của bạn dao động trong khoảng:
□ 1 triệu -> 2 triệu
□ 2 triệu -> 3 triệu
□ 3 triệu -> 4 triệu
□ > 4 triệu
107
Câu 4: Một chương trình du lịch có giá dao động trong khoảng bao nhiêu thì bạn đáp ứng
được ?
□ < 1 triệu
□ 1triệu -> 2 triệu
□ 2 triệu -> 3 triệu
□ > 3 triệu
Câu 5: Theo bạn, thời gian cho một chuyến đi bao lâu là hợp lý ?
□ 1 ngày
□ 2 ngày
□ 2 ngày -> 4 ngày
□ > 4 ngày
Câu 6: Thời điểm thích hợp để tổ chức các chuyến đi ?
□ Trước Tết
□ Sau Tết
□ Trước thi học kỳ
□ Sau thi học kỳ
Câu 7: Mục đích chính khi tham gia các chương trình du lịch là gì ?
□ Vui chơi là chủ yếu
□ học tập kiến thức chuyên ngành là chủ yếu
□ Kết hợp cả hai yếu tố: Vui chơi và học tập
□ Mục đích khác: ……………………………………………………………………
Câu 8: Trong các loại hình du lịch dưới đây, bạn có hứng thú với loại hình du lịch nào (Có
thể chọn nhiều loại hình) ?
□ Du lịch văn hóa
□ Du lịch sinh thái
□ Du lịch biển
□ Du lịch về nguồn
□ Khác: ………………………………………………………………………
Câu 9: Theo bạn, nhu cầu về các hoạt động vui chơi (chương trình gala, team building, trò
chơi lớn,…) được tổ chức trong chuyến đi có cần thiết không ?
□ Rất không cần thiết
□ Không cần thiết
108
□ Bình thường
□ Cần thiết
□ Rất cần thiết
Câu 10:Theo bạn, dịch vụ vận chuyển ảnh hưởng như thế nào đến chuyến đi ?
□ Rất không ảnh hưởng
□ Không ảnh hưởng
□ Bình thường
□ Ảnh hưởng
□ Rất ảnh hưởng
Câu 11: Vị trí của cơ sở lưu trú mà bạn mong muốn ?
□ Trung tâm thành phố (gần chợ, trung tâm mua sắm, vui chơi…)
□ Gần trung tâm
□ Xa trung tâm
□ Không quan tâm, ở đâu cũng được
Câu 12: Theo bạn, số người lưu trú trong một phòng bao nhiêu là hợp lý ?
□≤ 2 □ 3 □ 4 □ > 4
Câu 13: Bạn nhận định như thế nào về vai trò của cơ sở vật chất và các dịch vụ tại nơi lưu
trú ?
□ Rất không ảnh hưởng
□ Không ảnh hưởng
□ Bình thường
□ Ảnh hưởng
□ Rất ảnh hưởng
Câu 14: Tại nơi ăn uống, bạn quan tâm các vấn đề sau ở mức độ như thế nào ?
Tiêu chí Mức độ quan tâm
Rất không
quan tâm
Không quan
tâm
Bình thường Quan tâm Rất quan
tâm
Giá cả
Chất lượng món ăn
Vệ sinh an toàn thực
phẩm
109
Không gian bày trí
Thái độ phục vụ
Câu 15: Bạn quan tâm vấn đề gì khi đến một điểm tham quan ?
□ Khảo sát dịch vụ tại các điểm du lịch
□ Tiếp cận các thông tin thuyết minh tại điểm
□ Không quan tâm vì địa điểm tham quan có trong chương trình
□ Khác: ………………………………………………………………………........
Câu 16: Bạn mong muốn đạt được gì sau chuyến đi ?
□ Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của bản thân
□ Trải nghiệm thực tiễn
□ Tích lũy kiến thức chuyên ngành
□ Khác………………………………………………………………………………
Câu 17: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của bạn:
□ Có kiến thức sâu rộng
□ Có khả năng hoạt náo tốt
□ Nắm vững nghiệp vụ
□ Khác: ………………………………………………………………………...........
Câu 18: Một sản phẩm du lịch hoàn thiện, theo bạn tầm quan trọng của những nhu cầu
sau ở mức độ nào ?
(1: Rất không quan trọng ; 2: Không quan trọng ; 3: Bình thường ; 4: Quan trọng ;
5: Rất quan trọng)
Các nhu cầu Mức quan trọng mà bạn nhận định
Giá cả ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝
1 2 3 4 5
Chương trình du lịch ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝
1 2 3 4 5
Các dịch vụ tham quan - lưu trú – ăn uống – ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝
110
vận chuyển - các dịch vụ bổ sung 1 2 3 4 5
Tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức
chuyên ngành
⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝
1 2 3 4 5
Câu 19: Mức độ hài lòng của các bạn trong những chương trình du lịch do khoa tổ chức như
thế nào ?
□ Rất không hài lòng
□ Không hài lòng
□ Bình thường
□ Hài lòng
□ Rất hài lòng
Câu 20: Sau khi đã tham gia các học phần Thực tế Chuyên môn, các bạn có đề xuất hoặc kiến
nghị gì trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch cho phù hợp với bản thân mình hay không ?
(Nếu có xin kiến nghị, đề xuất cụ thể)
…………………………………………………………………………………………………
….………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC BẠN !
111
Phụ lục 2: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên khoa ngoài
Xin chào các bạn,
Chúng tôi là nhóm sinh viên lớp CVI112, khoa Văn hóa - Du lịch, hiện đang thực hiện
đề tài NCKH “Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên khoa Văn hóa – Du lịch
trường Đại học Sài Gòn (Giai đoạn 2011 – 2014)”. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, nay
chúng tôi cần sự hỗ trợ của các bạn. Các bạn vui lòng trả lời các câu hỏi bên dưới bằng cách
đánh dấu “” vào câu hỏi. Sự giúp đỡ của các bạn là rất cần thiết.
Chúng tôi xin đảm bảo những thông tin của các bạn chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên
cứu và hoàn thành đề tài này và sẽ tuyệt đối được giữ bí mật.

Họ tên: ………………………………………………………………………………………..
Tuổi: ………………………………………………………………………………….
Giới tính: □ Nam □ Nữ
Lớp: …...…………………………………………………………………………….
Các bạn vui lòng cung cấp thông tin cho các câu hỏi sau đây:
Câu 1: Theo bạn, thời gian cho một chuyến đi bao lâu là hợp lý ?
□ 1 ngày
□ 2 ngày
□ 2 ngày -> 4 ngày
□ > 4 ngày
Câu 2: Mục đích chính khi tham gia các chương trình du lịch là gì ?
□ Vui chơi là chủ yếu
□ Học tập kiến thức chuyên ngành là chủ yếu
□ Kết hợp cả hai yếu tố: Vui chơi và học tập
□ Mục đích khác: ……………………………………………………………………
Câu 3: Theo bạn, số người lưu trú trong một phòng bao nhiêu là hợp lý ?
□ ≤ 2 □ 3 □ 4 □ > 4
Câu 4: Bạn quan tâm vấn đề gì khi đến một điểm tham quan ?
112
□ Khảo sát dịch vụ tại các điểm du lịch
□ Tiếp cận các thông tin thuyết minh tại điểm
□ Không quan tâm vì địa điểm tham quan có trong chương trình
□ Khác: ………………………………………………………………………........
Câu 5: Bạn mong muốn đạt được gì sau chuyến đi ?
□ Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của bản thân
□ Trải nghiệm thực tiễn
□ Tích lũy kiến thức chuyên ngành
□ Khác………………………………………………………………………………
Câu 6: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của bạn:
□ Có kiến thức sâu rộng
□ Có khả năng hoạt náo tốt
□ Nắm vững nghiệp vụ
□ Khác: ………………………………………………………………………...........
XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC BẠN !
113
Phụ lục 3: Phân vùng du lịch Việt Nam theo Đề án “Phát triển tổng thể du lịch Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch
Stt Tỉnh, thành phố Vùng du lịch
Tỉnh Thành phồ
1 Hòa Bình
TRUNG DU
VÀ MIỀN NÚI
BẮC BỘ
2 Sơn La
3 Điện Biên
4 Lai Châu
5 Yên Bái
6 Phú Thọ
7 Lào Cai
8 Tuyên Quang
9 Hà Giang
10 Bắc Kạn
11 Thái Nguyên
12 Cao Bằng
13 Lạng Sơn
14 Bắc Giang
15 Hà Nội
ĐỒNG BẰNG
SÔNG HỒNG VÀ
DUYÊN HẢI
ĐÔNG BẮC
16 Vĩnh Phúc
17 Bắc Ninh
18 Hải Dương
19 Hưng Yên
20 Thái Bình
21 Hà Nam
22 Ninh Bình
23 Nam Định
24 Hải Phòng
25 Quảng Ninh
26 Thanh Hóa
BẮC TRUNG BỘ27 Nghệ An
114
28 Hà Tĩnh
29 Quảng Bình
30 Quảng Trị
31 Thừa Thiên – Huế
32 Đà Nẵng
DUYÊN HẢI
NAM TRUNG BỘ
33 Quảng Nam
34 Quảng Ngãi
35 Bình Định
36 Phú Yên
37 Khánh Hòa
38 Ninh Thuận
39 Bình Thuận
40 Kon Tum
TÂY NGUYÊN41 Gia Lai
42 Đắk Lắk
43 Đắk Nông
44 Lâm Đồng
45 Hồ Chí Minh
ĐÔNG NAM BỘ
46 Đồng Nai
47 Bình Dương
48 Bà Rịa – Vũng Tàu
49 Bình Phước
50 Tây Ninh
51 Cần Thơ
ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU
LONG
52 Long An
53 Đồng Tháp
54 An Giang
55 Kiên Giang
56 Cà Mau
57 Bạc Liêu
58 Sóc Trăng
59 Bến Tre
60 Trà Vinh
61 Vĩnh Long
115
62 Tiền Giang
63 Hậu Giang

More Related Content

PDF
Luận án: Hành vi tiêu dùng của khách du lịch trong nước, HAY
PPTX
Hanoitourist introduction
PDF
Luận văn: Phát triển du lịch bền vững tỉnh Đồng Tháp, HOT, 9đ
PDF
Lập kế hoạch marketing cho khách sạn Vinpearl Resort Phú Quốc trong năm 2015
PDF
Đề tài: Tìm hiểu loại hình du lịch phượt trong giới trẻ hiện nay, HOT
PDF
Luận án: Hành vi lựa chọn sản phẩm du lịch của du khách Việt Nam
PDF
Luận văn: Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng
Luận án: Hành vi tiêu dùng của khách du lịch trong nước, HAY
Hanoitourist introduction
Luận văn: Phát triển du lịch bền vững tỉnh Đồng Tháp, HOT, 9đ
Lập kế hoạch marketing cho khách sạn Vinpearl Resort Phú Quốc trong năm 2015
Đề tài: Tìm hiểu loại hình du lịch phượt trong giới trẻ hiện nay, HOT
Luận án: Hành vi lựa chọn sản phẩm du lịch của du khách Việt Nam
Luận văn: Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

What's hot (20)

PDF
Luận án: Kinh tế du lịch theo hướng phát triển bền vững ở Huế
PDF
Đề tài: Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch huyện Côn Đảo, HAY
DOC
Phân tích ưu và nhược điểm, thách thức và cơ hội của dlvn
PDF
Luận án: Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động VOV
PPTX
Bài 16: Du lịch có trách nhiệm với các doanh nghiệp lữ hành
PDF
Luận văn: Phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Hà Giang, HAY
DOCX
Báo cáo tour thực tế Tây Nguyên –Buôn Ma Thuật –Đà Lạt –Nha Trang
PDF
Luận văn: Phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa, 9 ĐIỂM!
DOCX
Báo cáo thực tế Tour du lịch miền Trung Tây Nguyên. HAY!
DOCX
TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
DOCX
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH D...
PDF
Luận văn: Tiềm năng khai thác các điểm du lịch tại Ninh Bình, HOT
DOC
Giải pháp nhằm thu hút khách đến khu chơi giải trí Công Viên Nước, HAY!
PDF
Đề tài thực trạng phát triển du lịch chợ nổi, ĐIỂM CAO, HAY
PPTX
Bài 1: Các nguyên tắc du lịch có trách nhiệm
DOCX
Bài mẫu tiểu luận về du lịch Việt Nam, HAY
DOC
Phân tích môi trường kinh doanh của công ty saigontourist
DOC
Đề cương chi tiết môn Văn Hóa Doanh Nghiệp
PPTX
Bài 3: Tiếp thị và truyền thông du lịch có trách nhiệm
PDF
Luận văn: Ứng dụng Marketing điện tử trong quản lý du lịch, HOT
Luận án: Kinh tế du lịch theo hướng phát triển bền vững ở Huế
Đề tài: Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch huyện Côn Đảo, HAY
Phân tích ưu và nhược điểm, thách thức và cơ hội của dlvn
Luận án: Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động VOV
Bài 16: Du lịch có trách nhiệm với các doanh nghiệp lữ hành
Luận văn: Phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Hà Giang, HAY
Báo cáo tour thực tế Tây Nguyên –Buôn Ma Thuật –Đà Lạt –Nha Trang
Luận văn: Phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa, 9 ĐIỂM!
Báo cáo thực tế Tour du lịch miền Trung Tây Nguyên. HAY!
TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH D...
Luận văn: Tiềm năng khai thác các điểm du lịch tại Ninh Bình, HOT
Giải pháp nhằm thu hút khách đến khu chơi giải trí Công Viên Nước, HAY!
Đề tài thực trạng phát triển du lịch chợ nổi, ĐIỂM CAO, HAY
Bài 1: Các nguyên tắc du lịch có trách nhiệm
Bài mẫu tiểu luận về du lịch Việt Nam, HAY
Phân tích môi trường kinh doanh của công ty saigontourist
Đề cương chi tiết môn Văn Hóa Doanh Nghiệp
Bài 3: Tiếp thị và truyền thông du lịch có trách nhiệm
Luận văn: Ứng dụng Marketing điện tử trong quản lý du lịch, HOT
Ad

Similar to Đề tài: Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên, HAY (20)

DOC
Khóa luận: Đánh giá sự hài lòng của du khách nội địa đối với điểm, HAY
PDF
97498-Article Text-206116-1-10-20240608.pdf
PDF
NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ CỦA TỈNH HẬU GIANG.pdf
DOC
Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách TP.Hồ Chí Minh.doc
PDF
Luận văn: Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng, 9 ĐIỂM!
PDF
Đề tài Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại thành phố hải phòng ...
PDF
Đề tài: Phát triển sản phầm du lịch đặc thù tại TP Hải Phòng, 9đ
PDF
Đề tài: Giải pháp phát triển du lịch đặc thù tại TP Hải Phòng, HOT
PDF
Chất lượng dịch vụ tại các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh an giang
DOCX
List 200 Đề Tài Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch Lữ Hành
PDF
Đề tài: Tìm hiểu sản phẩm lưu niệm tại điểm du lịch Hải Phòng, HAY
PDF
Tìm hiểu sản phẩm lưu niệm tại một số điểm du lịch ở Hải Phòng
PDF
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG...
DOCX
NGHIEN_CUU_CAC_YEU_TO_ANH_HUONG_DEN_QUYET_DINH_LUA_CHON_DIEM_DEN_CUA_KDL_HAN_...
DOCX
NGHIEN_CUU_CAC_YEU_TO_ANH_HUONG_DEN_QUYET_DINH_LUA_CHON_DIEM_DEN_CUA_KDL_HAN_...
DOCX
Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Ăn Uống Nhà Hàng Hoàng Anh.docx
PDF
Đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với du lịch làng Hoa Sa Đéc.pdf
PDF
Đề tài: Chương trình du lịch kết hợp với hoạt động tình nguyện, HOT
PDF
Du lich sinh thai dong sen
PDF
Tiềm Năng Và Một Số Định Hướng Phát Triển Thị Trường Du Lịch Inbound Đến TP. HCM
Khóa luận: Đánh giá sự hài lòng của du khách nội địa đối với điểm, HAY
97498-Article Text-206116-1-10-20240608.pdf
NGHIÊN CỨU SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ CỦA TỈNH HẬU GIANG.pdf
Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách TP.Hồ Chí Minh.doc
Luận văn: Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng, 9 ĐIỂM!
Đề tài Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại thành phố hải phòng ...
Đề tài: Phát triển sản phầm du lịch đặc thù tại TP Hải Phòng, 9đ
Đề tài: Giải pháp phát triển du lịch đặc thù tại TP Hải Phòng, HOT
Chất lượng dịch vụ tại các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh an giang
List 200 Đề Tài Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch Lữ Hành
Đề tài: Tìm hiểu sản phẩm lưu niệm tại điểm du lịch Hải Phòng, HAY
Tìm hiểu sản phẩm lưu niệm tại một số điểm du lịch ở Hải Phòng
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG...
NGHIEN_CUU_CAC_YEU_TO_ANH_HUONG_DEN_QUYET_DINH_LUA_CHON_DIEM_DEN_CUA_KDL_HAN_...
NGHIEN_CUU_CAC_YEU_TO_ANH_HUONG_DEN_QUYET_DINH_LUA_CHON_DIEM_DEN_CUA_KDL_HAN_...
Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Ăn Uống Nhà Hàng Hoàng Anh.docx
Đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với du lịch làng Hoa Sa Đéc.pdf
Đề tài: Chương trình du lịch kết hợp với hoạt động tình nguyện, HOT
Du lich sinh thai dong sen
Tiềm Năng Và Một Số Định Hướng Phát Triển Thị Trường Du Lịch Inbound Đến TP. HCM
Ad

More from Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864 (20)

DOC
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
DOC
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
DOC
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
DOC
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
DOC
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
DOC
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
DOC
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
DOC
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
DOC
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
DOC
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
DOC
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
DOC
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...

Recently uploaded (20)

DOCX
bao cao thuc tap nhan thuc_marketing_pary2
PPTX
chương-1.-vấn-đề-lý-luận-về-luật-quốc-tế.pptx
PPTX
Báo cáo Brucella sữa - trọng nghĩa..pptx
PDF
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
PDF
DANH SACH TRUNG TUYEN DHCQ_DOT 1_2025_TUNG NGANH.pdf
PDF
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
PDF
5-DinhHuong-GDKNCDS-25122023 (1)_240422_100304.pdf
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
PPTX
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
PPTX
Cách viết mô tả chi tiết và thêm nhiều thẻ để tăng điểm số nội dung trên hệ t...
PPTX
Luat dat dai 2024 chi tiet, khai quat nh
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PDF
Sách không hôi fyjj ịuk gtyi yu> ướt jiii iiij
PDF
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
PPTX
Từ và câu NHÓM 4 - LỚP 5 CTST tiểu học.pptx
PDF
Thong bao 128-DHPY (25.Ke hoach nhap hoc trinh do dai hoc (dot 1.2025)8.2025)...
PDF
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...
bao cao thuc tap nhan thuc_marketing_pary2
chương-1.-vấn-đề-lý-luận-về-luật-quốc-tế.pptx
Báo cáo Brucella sữa - trọng nghĩa..pptx
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
DANH SACH TRUNG TUYEN DHCQ_DOT 1_2025_TUNG NGANH.pdf
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
5-DinhHuong-GDKNCDS-25122023 (1)_240422_100304.pdf
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
Cách viết mô tả chi tiết và thêm nhiều thẻ để tăng điểm số nội dung trên hệ t...
Luat dat dai 2024 chi tiet, khai quat nh
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
Sách không hôi fyjj ịuk gtyi yu> ướt jiii iiij
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
Từ và câu NHÓM 4 - LỚP 5 CTST tiểu học.pptx
Thong bao 128-DHPY (25.Ke hoach nhap hoc trinh do dai hoc (dot 1.2025)8.2025)...
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...

Đề tài: Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên, HAY

  • 1. UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 2011 – 2014) Mã số đề tài: SV2014 – 16 Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội Chủ nhiệm đề tài: HUỲNH THIỆU PHONG Thành viên tham gia: LÊ TRUNG KIÊN Giáo viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH Tp. Hồ Chí Minh, 8/2015
  • 2. UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 2011 – 2014) Mã số đề tài: SV2014 – 16 Xác nhận của Khoa (ký, họ tên) Giáo viên hướng dẫn (ký, họ tên) Chủ nhiệm đề tài (ký, họ tên) TS. HOÀNG THÚY HÀ TS. NGUYỄN ĐĂNG KHÁNH HUỲNH THIỆU PHONG Tp. Hồ Chí Minh, 8/2015
  • 3. LỜI CAM ĐOAN Nhóm tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong công trình là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 8 năm 2015 Thay mặt nhóm tác giả đề tài Chủ nhiệm đề tài Huỳnh Thiệu Phong
  • 4. LỜI CẢM ƠN Nghiên cứu khoa học là một hoạt động không thể thiếu của sinh viên. Bên cạnh việc tiếp thu kiến thức chuyên ngành thì đây được xem như một phương pháp học tập hiệu quả. Ban lãnh đạo trường Đại học Sài Gòn, Ban lãnh đạo khoa Quan hệ Quốc tế đã có những hoạt động thiết thực trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên. Đối với nhóm tác giả đề tài, chúng tôi may mắn nhận được sự cổ vũ, ủng hộ hết mình của tập thể giảng viên khoa Quan hệ Quốc tế. Đó chính là nguồn động lực lớn lao để chúng tôi hoàn thành công trình này. Do vậy, với sự biết ơn sâu sắc nhất của mình, nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất của mình đến: Ban Giám Hiệu trường Đại học Sài Gòn, Ban lãnh đạo khoa Quan hệ Quốc tế đã tạo mọi điều kiện cho nhóm tác giả có cơ hội thực hiện niềm đam mê nghiên cứu khoa học của mình. Mặt khác, tác giả cũng vô cùng biết ơn sự giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Nguyễn Đăng Khánh – giảng viên của khoa Quan hệ Quốc tế, đồng thời cũng là người hướng dẫn khoa học của tôi. Thầy đã tận tinh chỉ bảo, cung cấp những kiến thức khoa học bổ ích, định hướng và hỗ trợ hết mình cho chúng tôi để có thể hoàn thành công trình này. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các tác giả của các công trình mà tôi có sử dụng dùng làm nguồn tài liệu tham khảo để hoàn thành đề tài này. Cuối cùng, nhóm tác giả xin bày tỏ sự biết ơn của mình đến với tất cả bạn bè, người thân và quý thầy cô trong khoa Quan hệ Quốc tế đã ủng hộ, động viên nhóm trong suốt thời gian nghiên cứu. Cuối cùng, với khả năng và trình độ là hữu hạn, chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp của Hội đồng Khoa học, độc giả về nội dung, phương pháp nghiên cứu đề tài để chúng tôi có thể rút kinh nghiệm và hoàn thiện đề tài tốt hơn. Chú nhiệm đề tài Huỳnh Thiệu Phong
  • 5. MỤC LỤC Trang DẪN NHẬP …………………………………………………………………………1 Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH CÁC NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 1.1. Một số vấn đề liên quan .................................................................................. 7 1.1.1. Nhu cầu du lịch và động cơ du lịch ................................................................ 7 1.1.2. Loại hình du lịch ............................................................................................. 13 1.1.3. Sản phẩm du lịch ............................................................................................ 18 1.2. Đặc điểm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học ....................................... 23 1.2.1. Khái quát chung .............................................................................................. 23 1.2.2. Đặc điểm của chương trình đào tạo ................................................................ 27 1.2.3. Sinh viên ngành Việt Nam học Đại học Sài Gòn ........................................... 31 1.3. Xác định nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam học ......................................................................................................................... 32 1.3.1. Về giá cả ......................................................................................................... 32 1.3.2. Về chương trình du lịch................................................................................... 33 1.3.3. Về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ sung khác ................................................................................................................. 33 1.3.4. Về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành .............................. 33 Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................... 34 Chương 2: KHẢO SÁT VIỆC LỰA CHỌN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 2.1. Xác định một số vấn đề liên quan đến việc khảo sát ...................................... 35 2.1.1. Đối tượng khảo sát ......................................................................................... 35 2.1.2. Nội dung khảo sát .......................................................................................... 36 2.2. Kết quả điều tra – phân tích và đánh giá ........................................................ 37 2.2.1. Kết quả điều tra ............................................................................................. 37
  • 6. 2.2.2. Phân tích và đánh giá .................................................................................... 38 Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 69 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THIẾT KẾ CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 3.1. Cơ sở của sự định hướng: Đánh giá việc lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên bằng mô hình TOWS.................................................................................................. 70 3.2. Những định hướng và đề xuất giải pháp cụ thể trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch cho sinh viên........................................................................................................ 73 3.2.1. Định hướng thiết kế các sản phẩm du lịch ....................................................... 73 3.2.2. Đề xuất một số giải pháp trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học ...................................................................... 81 3.3. Thử nghiệm thiết kế một số sản phẩm du lịch cho sinh viên ngành Việt Nam học ............. ...................................................................................................................... 84 3.3.1. Quy trình thiết kế ............................................................................................. 84 3.3.2. Xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học .................................................................................................. 85 3.3.3. Ứng dụng thử nghiệm thiết kế một số khung chương trình du lịch ................ 94 Tiểu kết chương 3 .................................................................................................... 98 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................. 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 102 PHỤ LỤC ................................................................................................................. 105
  • 7. BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN (GIAI ĐOẠN 2011 – 2014)” Mã số: SV2014 – 16 1. Vấn đề nghiên cứu (vấn đề, tính cấp thiết) Với sự phát triển của xã hội thì du lịch là một hoạt động thiết yếu để giúp con người cân bằng với cuộc sống. Sinh viên ngành Việt Nam học là nguồn nhân lực trong ngành du lịch trong tương lai. Nhu cầu được trải nghiệm với thực tế nghề nghiệp là quan trọng và cần thiết. Trong những năm qua, sinh viên ngành Việt Nam học đã có cơ hội cọ sát, trải nghiệm với nghề nghiệp thông qua các chương trình học tập thực tế, ngoại khóa. Nhằm mục đích khảo sát nhận định, đánh giá của sinh viên về chất lượng của các sản phẩm du lịch đó, qua đó đề xuất giải pháp thiết kế những sản phẩm du lịch phù hợp cho sinh viên, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này để thực hiện. 2. Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài là ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, xây dựng những sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học. 3. Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng, giải pháp trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học. 4. Phương pháp nghiên cứu Nhóm tác giả sử dụng đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu trong đề tài này. Trong đó, các phương pháp mà chúng tôi sử dụng chủ đạo bao gồm: Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu (chương 1); phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp định tính và định lượng (chương 2); phương pháp TOWS (chương 3); …
  • 8. 5. Kết quả nghiên cứu (ý nghĩa của các kết quả) và các sản phẩm (Bài báo khoa học, phần mềm máy tính, quy trình công nghệ, mẫu, sáng chế, …) (nếu có) Đề tài góp phần nhận diện những nhu cầu đặc thù của sinh viên trong vấn đề đánh giá, lựa chọn sản phẩm du lịch thông qua phương pháp khảo sát lấy ý kiến của sinh viên. Với kết quả đạt được từ đề tài, những sản phẩm du lịch thiết kế sau này sẽ có cơ sở khoa học để thiết kế phù hợp cho sinh viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của khoa Văn hóa – Du lịch (nay là khoa Quan hệ Quốc tế), trường Đại học Sài Gòn. Sản phẩm nghiên cứu cuối cùng của đề tài là văn bản nội dung nghiên cứu.
  • 9. DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỔ STT Tên bảng, sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ Trang 1 Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow 9 2 Bảng 1.2: Tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu về phân loại (nhóm) động cơ du lịch 11, 12 3 Mô hình 1.3: Phân loại các nhóm động cơ du lịch 12 4 Bảng 1.4: Phương pháp phân chia các loại hình du lịch của Trần Đức Thanh 15, 16 5 Bảng 1.5: Phân nhóm các nhóm loại hình du lịch 16 6 Bảng 1.6: Tổng hợp những đặc trưng về loại hình du lịch của sinh viên 17, 18 7 Sơ đồ 1.7: Phân loại SPDL 20 8 Sơ đồ 1.8: Những đặc điểm của SPDL 22 9 Sơ đồ 1.9: Mô hình các ngành, chuyên ngành đào tạo của khoa QHQT, ĐHSG (bắt đầu từ năm học 2015 – 2016) 26 10 Bảng 1.10: Mục tiêu đào tạo sinh viên ngành VNH, ĐHSG 27, 28 11 Bảng 1.11: Thống kê các học phần Thực tế chuyên môn, ngoại khóa của sinh viên các khóa của ngành VNH 29, 30 12 Sơ đồ 2.1: Quy trình khảo sát lấy ý kiến sinh viên trong việc lựa chọn SPDL 35 13 Bảng 2.2: Thống kê kết quả khảo sát sinh viên ngành VNH 37 14 Bảng 2.3: Quan điểm của sinh viên ngành VNH về vấn đề bổ sung các chương trình ngoại khóa 38
  • 10. 15 Biểu đồ 2.4: Mức thu nhập bình quân hằng tháng của sinh viên ngành VNH 39 16 Biểu đồ 2.5: Ý kiến của sinh viên về giá bình quân của một CTDL 40 17 Biểu đồ 2.6: Ý kiến của sinh viên về độ dài của một chương trình ngoại khóa 41 18 Biểu đồ 2.7: Ý kiến của sinh viên về thời điểm tổ chức các CTDL 42 19 Biểu đồ 2.8: Mục đích khi tham gia các CTDL của sinh viên 43 20 Bảng 2.9: Xu hướng lựa chọn các loại hình du lịch của sinh viên 44 21 Biểu đồ 2.10: Nhận định của sinh viên về vai trò của các dịch vụ trong việc đánh giá chất lượng của SPDL 46 22 Biểu đồ 2.11: Nhu cầu lựa chọn vị trí của cơ sở lưu trú của sinh viên 48 23 Biểu đồ 2.12: Quan điểm của sinh viên về sức chứa hợp lý trong một phòng 49 24 Biểu đồ 2.13: Đánh giá của sinh viên về ảnh hưởng của dịch vụ ăn uống đến chất lượng của SPDL 51 25 Biểu đồ 2.14: Những vấn đề sinh viên quan tâm khi đến điểm tham quan 55 26 Biểu đồ 2.15: Mong muốn đạt được sau chuyến đi của sinh viên 56 27 Biểu đồ 2.16: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của sinh viên 57 28 Biểu đồ 2.17: Ý kiến của sinh viên về tầm quan trọng của các nhu cầu trong đánh giá chất lượng SPDL 60 29 Bảng 2.18: Một số kiến nghị, đánh giá bổ sung của sinh viên trong việc thiết kế SPDL 61
  • 11. 30 Bảng 2.19: So sánh nhu cầu giữa sinh viên ngành VNH với sinh viên ngoài khoa trong việc lựa chọn SPDL 65, 66 31 Bảng 3.1: Mô hình TOWS về việc lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH, trường ĐHSG 71 – 73 32 Bảng 3.2: Những định hướng trong việc thiết kế SPDL cho sinh viên ngành VNH, trường ĐHSG 74 33 Sơ đồ 3.3: Các yếu tố định hướng trong việc thiết kế các SPDL cho sinh viên ngành Du lịch 76 34 Bảng 3.4: Nhân lực ngành Du lịch qua các năm 77, 78 35 Sơ đồ 3.5: Phương thức đánh giá năng lực của lao động ngành Du lịch 78 36 Bảng 3.6: Những vấn đề tiên quyết ảnh hưởng đến việc thiết kế SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành VNH 85, 86 37 Bảng 3.7: Định tuyến du lịch cho các nhóm sinh viên ngành VNH 88, 89 38 Bảng 3.8: Xác định các SPDL đặc trưng cho các nhóm đối tượng sinh viên 89, 90 39 Bảng 3.9: Xây dựng SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành VNH 91 40 Sơ đồ 3.10: Tiêu chí xây dựng khung CTDL cho sinh viên 94
  • 12. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Từ viết tắt: Từ nguyên: CTDL Chương trình du lịch ĐHSG Đại học Sài Gòn QHQT Quan hệ Quốc tế SPDL Sản phẩm du lịch VNH Việt Nam học
  • 13. 1 DẪN NHẬP 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, du lịch đã được Đảng và Nhà nước xác định là một trong các ngành kinh tế trọng điểm để phát triển kinh tế đất nước. Mặt khác, cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu du lịch cũng theo đó mà đa dạng hơn, từ đó dẫn đến việc động cơ đi du lịch của người dân cũng tăng theo. Đây chính là cơ sở cho việc phát triển và đa dạng hóa các loại hình du lịch để đáp ứng những nhu cầu của người dân. Sinh viên ngành Việt Nam học (VNH), khoa Quan hệ Quốc tế (QHQT) trường Đại học Sài Gòn (ĐHSG) cũng không nằm ngoài xu thế đó. Là những người công tác trong ngành Du lịch trong tương lai, sinh viên ngành VNH khoa QHQT trường ĐHSG cũng có những nhu cầu nhất định trong việc sử dụng và trải nghiệm các sản phẩm du lịch (SPDL) phù hợp với bản thân. Những nhu cầu đó nhằm hỗ trợ sinh viên trong việc tiếp cận với thực tế phát triển du lịch hiện nay, tiếp cận với các kiến thức chuyên ngành, đánh giá và định hướng được những vấn đề liên quan đến nghề nghiệp của bản thân trong tương lai. Tuy nhiên, SPDL cho sinh viên nói chung và sinh viên ngành VNH khoa QHQT trường ĐHSG nói riêng có những đặc điểm khác biệt so với các SPDL dành cho các đối tượng du khách khác. Mặt khác, việc nghiên cứu của đề tài này cũng nhằm mục đích đi sâu vào việc tìm hiểu thực trạng đánh giá, nhận thức cũng như đề xuất của sinh viên ngành VNH về vấn đề thiết kế các SPDL, mà chính sinh viên ngành VNH khoa QHQT là đối tượng thụ hưởng những sản phẩm đó. Những SPDL này cần được thiết kế một mặt đảm bảo phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo, mặt khác có thể đáp ứng nguyện vọng chính đáng của sinh viên. Dung hòa hai yếu tố này chính là mục tiêu lớn nhất khi thiết kế các SPDL cho sinh viên sau này. Với thực trạng và mong muốn như vậy, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn (Giai đoạn 2011 - 2014)”.
  • 14. 2 2. Tình hình nghiên cứu Một số công trình đi trước đã có đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến những vấn đề trong công trình này mà chúng tôi đã có điều kiện tiếp cận. Những công trình có thể kể đến như: “Địa lý Du lịch Việt Nam” (tái bản lần thứ hai vào năm 2012) của Nguyễn Minh Tuệ. Đây có thể được xem như là tài liệu chuyên ngành đối với sinh viên ngành Du lịch; trong tài liệu này tác giả đã lần lượt đưa ra các quan điểm liên quan trực tiếp đến các vấn đề như: Một số khái niệm về khoa học du lịch, điều kiện hình thành và phát triển du lịch trong Phần 1 của tài liệu (gồm chương 1 và chương 2). Cũng tương tự như cuốn “Địa lý Du lịch Việt Nam”, tài liệu thứ hai được xem như là giáo trình gối đầu của sinh viên ngành Du lịch có đề cập đến một số khái niệm lý luận của ngành phải kể đến là “Giáo trình Tổng quan Du lịch” do Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội xuất bản năm 2005. Tài liệu này chủ yếu là tài liệu căn bản, do vậy mà nó chỉ dừng lại ở mức độ nhập môn, không đi sâu vào những vấn đề lý luận. “Nhập môn khoa học Du lịch” của Trần Đức Thanh (in lần thứ tư, năm 2005) cũng là một tài liệu viết chủ yếu về lý luận du lịch. Trong đó cũng có đề cập đến các vấn để như: Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Du lịch, động cơ và các loại hình du lịch, điều kiện để phát triển du lịch, tính thời vụ trong du lịch, v.v…. Tương tự như vậy là “Giáo trình Kinh tế du lịch” của nhà xuất bản Lao động – Xã hội do Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa đồng chủ biên (trực thuộc trường Đại học Kinh tế Quốc dân) và nhiều tài liệu là sách tham khảo, giáo trình chuyên ngành khác. Chẳng hạn như “Giáo trình Tâm lý học kinh doanh du lịch” (Trần Thị Thu Hà – năm 2005), “Giáo trình Địa lý du lịch Việt Nam” (Trần Thị Thục, Đại học Sài Gòn – năm 2013), “Giáo trình Marketing du lịch” (Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa đồng chủ biên – năm 2008)… Tuy nhiên, có một thực tế là tất cả những nguồn tài liệu đó đều được viết dưới hình thức là giáo trình nhằm trang bị cho sinh viên những mảng kiến thức riêng lẻ ở từng học phần trong chương trình đào tạo. Đó chưa phải là dạng tài liệu nghiên cứu thực tiễn tình hình cũng như nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên du lịch. Tiếp theo, như chúng ta đã biết thì phương pháp Điều tra xã hội học là một phương pháp mà hiện nay, trong bất kỳ ngành khoa học nào cần thu thập số liệu để xử lý và từ đó đưa ra nhận định đều phải sử dụng đến. Những tài liệu liên quan đến hệ
  • 15. 3 thống tri thức về phương pháp Điều tra xã hội học mà nhóm tác giả có điều kiện tiếp cận có thể kể đến như: “Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” (tái bản lần thứ tư năm 2012) của Vũ Cao Đàm; Tạ Minh với “Giáo trình Xã hội học đại cương” (năm 2011 của nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); tài liệu “Giáo trình Điều tra xã hội học” của Trần Thị Kim Thu (năm 2011), … Ngoài ra, trong năm 2014 thì tập thể giảng viên khoa VHDL (nay là khoa QHQT) cũng đã hoàn thành và bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở với đề tài “Khảo sát xây dựng hệ thống kỹ năng trong đào tạo nghiệp vụ du lịch của Khoa Văn hóa – Du lịch” (mã đề tài: CS2012 – 30) tại trường ĐHSG. Có thể nói, đây là đề tài sát với đề tài này nhất trong cách tiếp cận vấn đề (về phương pháp, mục đích nghiên cứu và ý nghĩa khoa học). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lại tập trung vào việc xây dựng hệ thống kỹ năng trong vấn đề đào tạo nghiệp vụ chứ không phải là nghiên cứu để thiết kế các SPDL phù hợp cho sinh viên của khoa. Trên cơ sở tình hình như vậy, chúng tôi kế thừa và tiếp tục nghiên cứu các SPDL phù hợp với mục đích xác định rõ nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trường ĐHSG, để từ đó giúp cho công tác đào tạo của khoa có những chiến lược phù hợp và những người thiết kế các chương trình du lịch (CTDL) được thực hiện một cách tối ưu nhất. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu được xác định trong đề tài này chính là nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trong việc lựa chọn SPDL. Cụ thể bao gồm: Nhu cầu về giá cả - Nhu cầu về CTDL – Nhu cầu về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, các dịch vụ bổ sung – Nhu cầu về việc tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành. 4. Mục đích nghiên cứu Xác định, nghiên cứu các nhu cầu của sinh viên các khóa, ngành VNH khoa QHQT trường ĐHSG trong việc lựa chọn trải nghiệm các SPDL phù hợp, qua đó làm cơ sở thử nghiệm thiết kế một số SPDL theo nhu cầu của sinh viên các khóa; và đương nhiên là những SPDL này phải dung hòa tối đa hai yếu tố: Đảm bảo nội dung của chương trình đào tạo lẫn đáp ứng theo nhu cầu chính đáng của sinh viên. Mặt khác, xác định các định hướng và đề xuất các giải pháp ứng dụng các khung CTDL vào thực tiễn, hỗ trợ việc đáp ứng nhu cầu đi du lịch cho sinh viên ngành VNH trường ĐHSG.
  • 16. 4 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, xác định các nhu cầu của sinh viên các khóa ngành VNH trong việc lựa chọn các SPDL phù hợp. - Khảo sát, đánh giá thực trạng nhu cầu của sinh viên các khóa trong việc lựa chọn các SPDL và thử nghiệm thiết kế một số khung CTDL theo nhu cầu của sinh viên. - Đề xuất một số nhóm giải pháp để việc thiết kế các SPDL phù hợp với nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trường ĐHSG đạt hiệu quả, qua đó góp phần nâng cao chất lượng các SPDL đặc thù cho sinh viên của khoa. 6. Phạm vi nghiên cứu Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau: Về không gian: Khoa QHQT, ngành VNH (VHDL), trường ĐHSG. Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2014. 7. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành đề tài này, nhóm tác giả tập trung vào một số phương pháp chủ đạo sau: - Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Đề tài sẽ sử dụng phương pháp này chủ yếu trong chương 1 nhằm giải quyết các vấn đề lý luận về khoa học du lịch. - Phương pháp điều tra xã hội học: Đây có thể xem như một phương pháp rất quan trọng trong việc giải quyết nội dung chính của đề tài trong chương 2. - Phương pháp định tính, phương pháp định lượng: Hai phương pháp này được sử dụng để bổ trợ cho phương pháp điều tra xã hội học, nhằm làm rõ hơn vấn đề khảo sát nhu cầu của sinh viên trong đề tài này. - Phương pháp điền dã: Dưới góc độ là sinh viên ngành VNH, có thể khẳng định đây là một phương pháp quan trọng. Để có thể đưa ra những đánh giá, nhận xét ở mức độ chính xác về thực trạng lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH, nhóm tác giả phải nhập thân văn hóa, trải nghiệm qua những SPDL đã được thiết kế để có cái nhìn từ tổng quát đến chi tiết. Ngoài những phương pháp chủ đạo đó, để hoàn thành đề tài này, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ sau:
  • 17. 5 - Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn và lấy ý kiến của đội ngũ giảng viên khoa VHDL (QHQT) đã có kinh nghiệm nhiều năm trong vấn đề thiết kế chương trình của các học phần “Thực tế chuyên môn 1/2/3” cho sinh viên để tham khảo nhằm đảm bảo SPDL được thiết kế phù hợp hơn với yêu cầu của chương trình đào tạo và tình hình thực tiễn trong công tác đào tạo. - Phương pháp so sánh đối chiếu: Với sự khác nhau về nhiều yếu tố (trong đó đáng kể nhất là số năm đào tạo trong quá trình khảo sát), có thể nói đây là phương pháp mà nhóm tác giả sử dụng để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt của sinh viên các khóa của khoa. - Phương pháp TOWS: Đây là phương pháp tương tự như phương pháp SWOT nhằm từ kết quả nghiên cứu đạt được để tìm ra giải pháp thiết kế các SPDL phù hợp đáp ứng cho sinh viên của ngành VNH, khoa QHQT. 8. Đóng góp của đề tài Đóng góp về mặt khoa học: - Trước tiên, đề tài đóng góp quan điểm của nhóm tác giả về một vài vấn đề lý luận của mình về khoa học du lịch khi đề cập và phân tích lại một số khái niệm như “động cơ du lịch”, “nhu cầu du lịch”, “sản phẩm du lịch”, … - Thứ hai, đề tài cũng đã xác định được những nhu cầu, mà theo đó chúng có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến việc lựa chọn các SPDL của sinh viên ngành VNH, khoa QHQT trường ĐHSG. - Đóng góp tiếp theo về mặt khoa học chính là kết quả nghiên cứu chính của đề tài, nghiên cứu thực trạng lựa chọn SPDL của sinh viên, qua đó góp phần vào việc thiết kế các SPDL phù hợp với nhu cầu chính đáng của sinh viên và mục tiêu cuối cùng của những SPDL này là góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của khoa VHDL (QHQT) trường ĐHSG. Đóng góp về mặt thực tiễn: - Nếu đề tài hoàn thành thì đây có thể là một tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên các ngành Du lịch học, Văn hóa – Du lịch, Quản trị kinh doanh Lữ hành, … hoặc thậm chí là các sinh viên có nhu cầu tham khảo phương pháp khảo sát, thống kê trong hoạt động du lịch, … - Mặt khác, đây cũng là nguồn tham khảo đáng tin cậy cho Ban lãnh đạo khoa VHDL (QHQT), Trung tâm Hướng dẫn Du lịch trường ĐHSG trong việc nghiên cứu,
  • 18. 6 cải cách chương trình đào tạo nói chung, các học phần thực tế chuyên môn nói riêng để nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng của các chương trình thực tế chuyên môn; xa hơn nữa là góp phần vào việc nâng cao thương hiệu và chất lượng đào tạo của khoa VHDL (QHQT) nói riêng, và của trường ĐHSG nói chung trong tương lai. 9. Cấu trúc đề tài Đề tài ngoài phần Dẫn nhập (6 trang), Kết luận và kiến nghị (3 trang), Tài liệu tham khảo (3 trang) và Phụ lục (10 trang) bao gồm 3 chương, cụ thể: Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xác định các nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn (28 trang) Chương 2: Khảo sát việc lựa chọn các sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn (35 trang) Chương 3: Định hướng và giải pháp thiết kế các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn (29 trang).
  • 19. 7 Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH CÁC NHU CẦU LỰA CHỌN SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 1.1. Một số vấn đề liên quan 1.1.1. Nhu cầu du lịch và động cơ du lịch 1.1.1.1. Nhu cầu du lịch “Nhu cầu là cái tất yếu, tự nhiên, nó là thuộc về tâm lý của con người, là sự đòi hỏi tất yếu của con người để tồn tại và phát triển…” [4: 65]. Theo đó thì “Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người…” [6: 48]. Và việc hình thành nhu cầu du lịch cũng được xem như là một yếu tố tiên quyết và tối quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra đời và phát triển của ngành Du lịch. Hay nói một cách đơn giản hơn, nhu cầu chính là động cơ để phát triển du lịch. Theo Trần Thị Thục, “Nhu cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt mang tính tổng hợp cao, biểu hiện sự mong muốn rời nơi ở thường xuyên để đến với điểm du lịch đã chọn trong một khoảng thời gian xác định và sự cần thiết nghỉ ngơi, giải trí, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên đẹp, các công trình văn hóa, lịch sử” [22: 11]. Nhóm tác giả đồng ý với quan điểm trên của Trần Thị Thục. Trong dân gian vẫn thường hay nói, “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”, điều này không sai trong trường hợp nghiên cứu về nhu cầu du lịch của du khách. Vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập ở đây chính là nhấn mạnh vai trò của việc nghiên cứu nhu cầu của du khách. Trong thời cổ đại, con người chỉ cần “ăn lông ở lỗ”; hiện đại hơn một chút thì “ăn chắc mặc bền”; và cho đến ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại kinh tế phát triển, con người chẳng những cần “ăn chắc mặc bền” mà xa hơn nữa chính là “ăn ngon mặc đẹp”. Mặt khác, khi mà yếu tố vật chất đã ổn định thì nhu cầu được thỏa mãn về tinh thần cũng đã được chú trọng, trong đó thì đi du lịch là một phương thức để thỏa mãn nhu cầu về phương diện tinh thần. Ngoài ra, với nhiều yếu tố tác động đến việc nhu cầu đi du lịch được chú trọng như: Xu hướng dân số đang theo hướng kế hoạch hóa, khả năng thanh toán cao, trình độ dân trí được nâng cao, cơ cấu nghề nghiệp đa dạng và thời gian nhàn rỗi nhiều, tình hình an ninh chính trị trên thế
  • 20. 8 giới nhìn chung ổn định và hòa bình… đã càng tạo “cơ hội” cho việc hình thành nhu cầu đi du lịch phát triển hơn [4]. Nhu cầu du lịch được hình thành và diễn ra theo hai giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Từ chính việc phát triển của xã hội đã tạo nên nhu cầu cần đi du lịch, chẳng hạn như: Vì áp lực công việc (stress), phục vụ cho mục đích học tập hoặc nghiên cứu, do mục đích du lịch kết hợp với việc buôn bán… Đó là những lý do đầu tiên hình thành nên nhu cầu đi du lịch. Giai đoạn 2: Từ nhu cầu chung đó, khi du khách đã xác định đi du lịch thì lại hình thành những nhu cầu cụ thể trong CTDL mà mình đã lựa chọn. Chẳng hạn như những nhu cầu về việc được đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu về các dịch vụ trong CTDL, nhu cầu được trải nghiệm và thưởng ngoạn những danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử văn hóa hay trải nghiệm thực tế về các phong tục tập quán tại nơi mình tham quan… Như đã đề cập ở phần đầu, việc nghiên cứu nhu cầu du lịch của du khách là việc làm cần thiết của các nhà kinh doanh du lịch, các nhà hoạch định chính sách hay những người làm công tác hoạch định chiến lược phát triển du lịch, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thiết kế các SPDL (trong đó bao gồm các dịch vụ tham quan, ăn uống, lưu trú hay vận chuyển) phù hợp với từng loại đối tượng du khách. Như vậy, đâu là cơ sở để nghiên cứu về nhu cầu du lịch của du khách ? Hiện nay, các nhà nghiên cứu hay kinh doanh du lịch chủ yếu dựa vào “Tháp nhu cầu Maslow” (Maslow’s hierarchy of needs), đây là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong quản trị kinh doanh do nhà tâm lý học Abraham Maslow1 đưa ra. 1 : Abraham Maslow (1908 - 1970) là một nhà Tâm lý học người Mỹ. Ông được thế giới biết đến nhờ việc sáng tạo ra mô hình tháp nhu cầu, ngoài ra ông cũng được xem như là cha đẻ của tâm lý học nhân văn [31].
  • 21. 9 Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow [Nguồn: Internet] Theo hình 1.1 thì Maslow đã phân các nhóm nhu cầu ra làm 3 nhóm theo thứ tự từ thấp đến cao. Cụ thể: Nhóm 1: Bao gồm nhu cầu về sinh lý (bao gồm các nhu cầu cơ bản như nhu cầu về thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi, …) và nhu cầu về tính mạng. Nhóm 2: Bao gồm nhu cầu về khả năng hòa nhập và tình yêu (như bạn bè hay các mối quan hệ) và nhu cầu về sự tôn trọng và cần được tôn trọng. Nhóm 3: Là nhu cầu tự hoàn thiện bản thân. Những nhu cầu trong “Tháp nhu cầu Maslow” cho ta thấy rằng ở mỗi cấp độ cao hơn, nhu cầu của con người càng trở nên đa dạng hơn. Bắt đầu từ những nhu cầu cơ bản, đáp ứng được yếu tố vật chất thì càng lên cao, những nhu cầu đó lại thiên về phương diện thỏa mãn yếu tố tinh thần. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là khi nhu cầu mới được nảy sinh thì người ta phủ nhận và có thể bỏ qua những nhu cầu thấp (cũ) hơn. Tất cả những nhu cầu đó đều có mối quan hệ tương hỗ với nhau nhằm đảm bảo một cuộc sống hoàn thiện. Lấy ví dụ như con người không thể thỏa mãn nhu cầu
  • 22. 10 tự hoàn thiện mà không đảm bảo được nhu cầu đảm bảo tính mạng hoặc không được đáp ứng những nhu cầu về sinh lý (không thể không ăn, không uống được)… Về lý luận hay thực tiễn thì cũng phải thừa nhận rằng “Tháp nhu cầu Maslow” có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu nhằm nắm bắt nhu cầu du lịch của du khách, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà có được sự cộng hưởng từ nhiều yếu tố thuận lợi như thời gian nhàn rỗi nhiều, tình hình chính trị ổn định và hòa bình, du lịch trở nên phổ biến với nhiều người, … đã làm cho việc nghiên cứu nhu cầu du lịch là hết sức quan trọng và cần thiết như Nguyễn Minh Tuệ đã nhận định: “Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch đặc trưng cho mọi giai đoạn phát triển của xã hội. Nó ra đời ở một trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất, là kết quả tác động tổng hợp của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, …” [25: 82]. Việc nghiên cứu nhu cầu du lịch cũng được xem như tiền đề trong việc nắm bắt động cơ du lịch. Bởi vì nhu cầu là “đòn bẩy” để hình thành động cơ, hoặc nói khác đi thì động cơ du lịch chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhu cầu du lịch. Giữa nhu cầu du lịch và động cơ du lịch có mối quan hệ mật thiết và gắn bó với nhau. Nếu có động cơ thúc đẩy thực hiện một hoạt động nào đó mà không có nhu cầu thì động cơ sẽ chất yên tại chỗ, không thể đưa vào thực tiễn và ngược lại. Đối với sinh viên ngành Du lịch nói chung và sinh viên ngành VNH khoa QHQT nói riêng, nếu áp dụng “Tháp nhu cầu Maslow” vào việc nghiên cứu nhu cầu du lịch của nhóm đối tượng này, ta có thể thấy nhu cầu chính yếu được quan tâm nhất chính là nhóm nhu cầu thứ ba – nhóm nhu cầu tự hoàn thiện bản thân (Self – fulfillment needs). Bởi vì với đặc thù ngành học, những chuyến tham quan du lịch và sự trải nghiệm các SPDL của nhóm đối tượng này là khác biệt so với những nhóm đối tượng du khách khác. Sự khác nhau ở đây chính là việc chú trọng tự hoàn thiện kiến thức chuyên môn, có những trải nghiệm mới, cọ sát thực tiễn của nghề nghiệp, chứ không đơn thuần là đi du lịch vì sự giải trí, nghỉ dưỡng, … như những nhóm đối tượng du khách khác. Cuối cùng, từ nhu cầu thì nó được chuyển hóa thành động cơ thúc đẩy để con người tìm đến các hoạt động du lịch. 1.1.1.2. Động cơ du lịch “Động cơ là sự kích thích đã được ý thức, nó chi phối hoạt động để thỏa mãn một nhu cầu nào đó của cá nhân. Nói cách khác, động cơ là cái thúc đẩy hành động gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu” [6: 54].
  • 23. 11 Mặt khác, theo Trần Đức Thanh thì: “Động cơ là một nội lực thúc đẩy con người thực hiện hoạt động theo một mục tiêu nhất định nhằm thỏa mãn những nhu cầu sinh lý hoặc tâm lý của họ” [20: 57]. Qua hai định nghĩa trên, những tác giả đi trước vẫn chỉ dừng lại ở mức độ định nghĩa khái niệm “động cơ” đơn thuần; chúng chưa phải là định nghĩa “động cơ du lịch”. Theo quan điểm của nhóm tác giả, “Động cơ du lịch là một sự kích thích có ý thức được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hình thức thể hiện nguyện vọng, quan tâm, hứng thú về các hoạt động du lịch. Những hoạt động đó có thể thỏa mãn nhu cầu du lịch của họ”. Định nghĩa trên của nhóm tác giả nhấn mạnh việc hình thành động cơ bắt nguồn từ nhu cầu du lịch. Tuy nhiên, hiện nay thì quan điểm này vẫn chưa có được sự thống nhất. Một số nhà nghiên cứu thì cho rằng giữa nhu cầu và động cơ không có mối liên hệ với nhau, một số khác thì cho rằng động cơ mới là yếu tố quyết định nhu cầu, …2 Bảng bên dưới sẽ cho thấy các quan điểm phân nhóm động cơ du lịch của các nhà nghiên cứu [4, 6, 8, 20]. Bảng 1.2: Tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu về phân loại (nhóm) động cơ du lịch Stt Tài liệu Quan điểm phân loại động cơ/nhóm động cơ 1 Tổng quan du lịch Thể xác và tinh thần Giao tế Văn hóa Tiếng tăm Kinh tế 2 Giáo trình Tâm lý học kinh doanh du lịch Giải trí Nghiệp vụ Các động cơ khác 3 Nhập môn khoa học du lịch Đáp ứng nhu cầu tự nhiên Văn hóa Giao tiếp Phô bày 2 : Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, các tài liệu mà nhóm tác giả có điều kiện tiếp cận đều không có sự thống nhất trong việc trình bày hai vấn đề “nhu cầu du lịch” và “động cơ du lịch”. Cụ thể, một số tài liệu có đề cập đến “nhu cầu du lịch”, nhưng không đề cập đến “động cơ du lịch” hoặc ngược lại.
  • 24. 12 4 Giáo trình Kinh tế du lịch Nghỉ ngơi Nghề nghiệp Các nhóm động cơ khác [Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp] Như đã xác định ngay từ đầu, quan điểm của chúng tôi là xem nhu cầu như một điều kiện tiên quyết để hình thành nên động cơ, do vậy việc phân nhóm động cơ trong đề tài này sẽ căn cứ vào các nhu cầu trong “Tháp nhu cầu Maslow”. Cụ thể, nhóm tác giả sẽ chia ra làm 4 nhóm động cơ như sau: Mô hình 1.3: Phân loại các nhóm động cơ du lịch [Nguồn: Nhóm tác giả] Theo mô hình 1.3 do nhóm tác giả thiết lập thì động cơ giải trí sẽ tương ứng với nhóm nhu cầu thứ nhất trong tháp nhu cầu Maslow – động cơ hòa nhập và thể hiện cùng với các nhóm động cơ khác sẽ tương ứng với nhóm nhu cầu thứ hai – động cơ hoàn thiện bản thân sẽ tương ứng với nhóm ba (nhu cầu hoàn thiện bản thân trong tháp nhu cầu Maslow). Mặt khác, đối với sinh viên ngành Du lịch, theo quan điểm của chúng tôi thì động cơ chủ yếu để thúc đẩy việc tham gia các CTDL chính là kết quả của sự dung hòa tất cả những động cơ trên, trong đó “động cơ hoàn thiện bản thân” là chủ đạo. Du lịch là một nghề bên cạnh việc được trang bị kiến thức thì song song cũng cần phải có Động cơ du lịch Động cơ giải trí Động cơ hòa nhập và thể hiện Động cơ hoàn thiện bản thân Các nhóm động cơ khác
  • 25. 13 kinh nghiệm thực tiễn. Những CTDL trong chương trình đào tạo chính là những “phương tiện” bước đầu để sinh viên tiếp cận với chuyên môn của mình. Những kiến thức lý thuyết là một phần hỗ trợ cho các sinh viên có thể hoàn thành những CTDL đó hiệu quả hơn. Bên cạnh đó thì những nhóm động cơ khác cũng ảnh hưởng đến nhu cầu của các sinh viên, nhưng khả năng tác động thì thấp hơn so với “động cơ hoàn thiện bản thân”. Cụ thể: + Đối với nhóm “động cơ giải trí”: Chúng bao gồm những hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu được nghỉ ngơi, phục hồi tâm sinh lý, tiếp cận với thiên nhiên hoặc nghỉ mát, … Đó là những mong muốn của mọi đối tượng du khách khi đi du lịch. Còn đối với sinh viên du lịch nói chung thì mặc dù đây không phải là động cơ chủ yếu, nhưng cũng không thể phủ nhận hoàn toàn động cơ này. + Đối với nhóm “động cơ hòa nhập và thể hiện” thì chúng được thể hiện thông qua những nhu cầu cần được thỏa mãn cho du khách như việc giao lưu kết bạn, đi du lịch vì muốn chơi trội, cố kết tình cảm bạn bè và người thân, … Đặc biệt đối với sinh viên ngành Du lịch thì việc thiết lập sẵn những mối quan hệ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một việc làm nên được chú trọng. Những mối quan hệ này có thể sẽ hữu ích cho chính bản thân sinh viên trong quá trình công tác sau này. + Cuối cùng là đối với “các nhóm động cơ khác”, chúng bao gồm những động cơ không thuộc vào các nhóm động cơ đã liệt kê ở trên. Chẳng hạn như đi du lịch vì mục đích kết hợp kinh doanh, đi du lịch để thăm người thân, hay đi du lịch vì công việc chuyên môn của mình, v.v… Tóm lại, đối với việc nghiên cứu động cơ du lịch thì ta cần bắt đầu từ việc nghiên cứu nhu cầu du lịch. Đối với sinh viên ngành VNH khoa QHQT của trường ĐHSG, điều này là không ngoại lệ nếu ta xem sinh viên ngành VNH khoa QHQT như một nhóm đối tượng du khách. Và với những đặc điểm của sinh viên ngành Du lịch, do vậy mà nhu cầu và động cơ du lịch của nhóm đối tượng này cũng có những nét tương đối khác biệt so với các nhóm đối tượng du khách khác. 1.1.2. Loại hình du lịch Hiện nay, lý thuyết về “loại hình du lịch” có rất nhiều; điều này được thể hiện thông qua việc phân chia các loại hình du lịch. Tuy nhiên, một khái niệm đầy đủ nhất, rõ nghĩa nhất về “loại hình du lịch” thì hầu như chưa có tài liệu nào đề cập. Thậm chí,
  • 26. 14 việc sử dụng cụm từ “hình thức du lịch” hay “loại hình du lịch” trong những công trình nghiên cứu vẫn chứa đựng sự chưa thống nhất đó. Các nhà nghiên cứu thường sử dụng một trong hai thuật ngữ trên, và vô hình chung người ta có xu hướng chấp nhận hai định nghĩa này là tương đồng nhau. Thực trạng này khiến cho việc nghiên cứu khái niệm về nó càng thêm khó khăn. Trong phần này, nhóm tác giả sẽ tập trung phân biệt hai định nghĩa này và cũng cần nói thêm rằng, trong suốt đề tài, chúng tôi chỉ sử dụng khái niệm “loại hình du lịch” mà thôi. Trước khi phân tích nhằm làm rõ hai thuật ngữ “loại hình du lịch” và “hình thức du lịch”, cần thiết đưa ra hai định nghĩa về chúng. Theo “Từ điển tiếng Việt” thì “hình thức là thể thức làm cái bề ngoài và sờ mó được” [19: 408]. Mặt khác, “loại hình là phần tử thuộc một loại, có mang tính chất chung có thể dùng làm cơ sở nghiên cứu cho cả loại” [19: 534]. Như vậy, ta có thể khẳng định, hình thức thiên về vật chất (thể hiện ra bên ngoài), trong khi loại hình là cái thiên về nội dung bên trong. Từ hai định nghĩa về “loại hình” và “hình thức”, nhóm tác giả nêu ra định nghĩa về “loại hình du lịch” theo quan điểm của chúng tôi như sau: “Loại hình du lịch là tập hợp các SPDL có những điểm tương đồng nhau về mặt nội dung được thể hiện thông qua một CTDL cụ thể, phục vụ chủ yếu cho một nhóm đối tượng du khách có cùng một mục đích trong chuyến hành trình đó.” Như vậy, thông qua định nghĩa trên của nhóm tác giả, chúng tôi rút ra một số đặc điểm để nhận định một loại hình du lịch như sau: + Loại hình du lịch là tiền đề để xây dựng và thiết kế một SPDL. Hay nói cách khác, để xây dựng một SPDL đặc trưng thì cần phải xác định SPDL đó thuộc loại hình du lịch nào ? + Loại hình du lịch mang yếu tố nội dung sâu sắc, tức là du khách phải xác định được mục đích của chuyến đi của mình để lựa chọn những CTDL mà trong đó SPDL của chương trình đó phù hợp với mục đích đi du lịch của họ. + Hình thức du lịch chỉ đơn thuần là những phương tiện được thể hiện ra bên ngoài có thể hỗ trợ du khách trong việc trải nghiệm những SPDL của CTDL. Mặt khác, hình thức du lịch chỉ là một phần rất nhỏ trong loại hình du lịch, là một phần yếu tố quyết định đến chất lượng của một SPDL.
  • 27. 15 + Cuối cùng, loại hình du lịch rất đa dạng và do vậy, mỗi loại hình du lịch chỉ phù hợp với một hoặc một vài nhóm đối tượng du khách. Chúng không có tính phổ quát đối với toàn bộ các nhóm đối tượng du khách. Mặt khác, như đã đề cập ở trên, đa phần hiện nay khi phân loại loại hình du lịch, các nhà nghiên cứu mặc dù có sự phân loại khác nhau nhưng đều có chung một đặc điểm để phân chia loại hình du lịch, đó là đặt ra một tiêu chí cụ thể để căn cứ vào đó mà phân chia thành các nhóm loại hình du lịch. Lấy một ví dụ như đối với Trần Đức Thanh, ông đã phân các loại hình du lịch theo các tiêu chí sau3 [20: 63 – 88]: Bảng 1.4: Phương pháp phân chia các loại hình du lịch của Trần Đức Thanh Stt Tiêu chí phân loại các loại hình du lịch Các loại hình du lịch 1 Theo môi trường tài nguyên Du lịch môi trường tài nguyên du lịch tự nhiên – nhân văn 2 Theo mục đích chuyến đi Du lịch tham quan – giải trí – nghỉ dưỡng – khám phá – thể thao – lễ hội – tôn giáo – nghiên cứu – thể thao kết hợp – hội nghị - chữa bệnh – thăm thân – kinh doanh 3 Theo lãnh thổ hoạt động Du lịch quốc tế - nội địa 4 Theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch Du lịch miền biển – núi – đô thị - thôn quê 5 Theo phương tiện giao thông Du lịch xe đạp – ô tô – tàu hỏa – tàu thủy – máy bay 6 Theo loại hình lưu trú Du lịch khách sạn – motel – nhà trọ thanh niên – camping – bungalow – làng du lịch 7 Theo lứa tuổi du khách Du lịch thiếu niên – thanh niên – 3 : Tất cả tài liệu lý luận về khoa học du lịch mà nhóm tác giả có điều kiện tiếp cận đều phân chia các loại hình du lịch dựa trên một tiêu chí. Trong khuôn khổ cho phép, nhóm tác giả chỉ dẫn chứng một ví dụ trong tài liệu “Nhập môn khoa học du lịch” của Trần Đức Thanh.
  • 28. 16 trung niên – người cao tuổi 8 Theo độ dài chuyến đi Du lịch ngắn ngày – dài ngày 9 Theo hình thức tổ chức Du lịch tập thể - cá thể - gia đình 10 Theo phương thức hợp đồng Du lịch trọn gói – từng phần [Nguồn: Nhập môn khoa học du lịch – Trần Đức Thanh, tr63 – 88] Tương tự như Trần Đức Thanh, các nhà nghiên cứu khác cũng có những tiêu chí nhất định trong việc phân chia các loại hình du lịch. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhóm tác giả, việc xác định các tiêu chí để nhận định và phân loại các loại hình du lịch như trên là chưa thỏa đáng. Bởi vì một số tiêu chí được đặt ra là để chỉ “hình thức du lịch” chứ không phải là loại hình du lịch. Và để phân chia các loại hình du lịch này, nhóm tác giả đề xuất cách phân chia theo bảng 1.5 bên dưới: Bảng 1.5: Phân nhóm các nhóm loại hình du lịch Stt Các nhóm loại hình du lịch Các loại hình du lịch cụ thể 1 Nhóm loại hình du lịch văn hóa Du lịch tôn giáo – lễ hội - ẩm thực – homestay - … 2 Nhóm loại hình du lịch thiên nhiên Du lịch sinh thái – xanh – leo núi – biển đảo – săn bắn - … 3 Nhóm loại hình du lịch thể thao Các loại hình du lịch kết hợp với việc tham gia các hoạt động thể thao tại nơi đến 4 Nhóm loại hình du lịch nghiên cứu Du lịch dành cho sinh viên – các nhà nghiên cứu liên quan đến việc nghiên cứu các vấn đề học thuật như: Sử học, khảo cổ, địa chất, … 5 Nhóm loại hình du lịch kinh doanh Du lịch MICE là một loại hình du lịch tiêu biểu trong nhóm này 6 Nhóm loại hình du lịch khác Các loại hình du lịch ở đây bao gồm những loại hình còn lại, không thuộc các nhóm loại hình trên. [Nguồn: Nhóm tác giả]
  • 29. 17 Như vậy, nhóm tác giả đã hệ thống lại việc phân loại loại hình du lịch. Theo đó thì tất cả những loại hình du lịch mà nhóm tác giả phân loại ở trên đều chỉ tập trung vào nội dung chủ yếu của CTDL. Điều này chịu chi phối từ hai vấn đề: Nguồn tài nguyên du lịch – mục đích chuyến đi. Còn đối với cách phân chia dựa theo những tiêu chí như: Theo lãnh thổ hoạt động, theo phương tiện giao thông, theo loại hình lưu trú, theo lứa tuổi du khách, theo độ dài chuyến đi, theo hình thức tổ chức và theo phương thức hợp đồng chỉ là những dấu hiệu nhận biết một chương trình (hình thức bên ngoài) chứ tự thân chúng chưa phải là một loại hình du lịch. Quay lại với nội dung chính của đề tài, việc phân loại và hệ thống lại các quan điểm, ý niệm về “loại hình du lịch” nhằm mục đích xác định những đặc điểm trong việc lựa chọn các loại hình du lịch phù hợp với sinh viên ngành VNH khoa QHQT, ĐHSG. Bởi vì như đã đề cập ở trên, xác định được những loại hình du lịch phù hợp với sinh viên ngành VNH khoa QHQT cũng đồng nghĩa với việc xây dựng những SPDL đặc trưng, phù hợp với nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên. Theo đó, những đặc trưng về loại hình du lịch của sinh viên ngành VNH, ĐHSG được nhận diện với những đặc điểm sau: Bảng 1.6: Tổng hợp những đặc trưng về loại hình du lịch của sinh viên Đối tượng sinh viên Tiêu chí nhận định Môi trường tài nguyên Mục đích chuyến đi Lãnh thổ Đặc điểm địa lý Phương tiện Lưu trú Lứa tuổi du khách Độ dài chuyến đi Hình thức tổ chức Phương thức hợp đồng Năm nhất Tự nhiên, nhân Văn hóa, thiên nhiên, Nội địa Miền biển, núi, đô, thị, thôn Ô tô Nhà trọ thanh niên, camping Thanh Ngắn ngày Tập Trọn Năm hai Nhà trọ thanh niên, camping Ngắn ngày
  • 30. 18 Năm ba văn nghiên cứu quê Khách sạn, nhà trọ thanh niên, camping niên Dài ngày thể gói Năm cuối Khách sạn, nhà trọ thanh niên, camping Ngắn ngày, dài ngày [Nguồn: Nhóm tác giả] Với bảng tổng hợp trên, việc lựa chọn để thiết kế các SPDL (trong đó bao gồm cả các CTDL) sẽ được thực hiện một cách đơn giản và hiệu quả hơn. Sự nhận định bước đầu này là vô cùng quan trọng, vì một mặt nó có thể giúp cho việc thiết kế các học phần Thực tế chuyên môn cũng như các chương trình ngoại khóa được đảm bảo về phương diện chuyên môn; mặt khác nó cũng giúp cho việc đáp ứng các nhu cầu của sinh viên được thực hiện sát với thực tiễn. Cuối cùng, như đã đề cập, loại hình du lịch chính là cơ sở để thiết kế và xây dựng các SPDL. Loại hình du lịch nào thì sẽ có SPDL đặc trưng đó. Như vậy, so với loại hình du lịch thì SPDL có gì khác biệt, và SPDL của sinh viên ngành VNH khoa QHQT cần đảm bảo những yêu cầu gì trong thiết kế ? 1.1.3. Sản phẩm du lịch 1.1.3.1. Khái niệm “sản phẩm du lịch” “Sản phẩm (product) là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn. Nó có thể là những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm, tổ chức và ý tưởng” [33]. Như vậy, SPDL là gì ? Trong khoa học du lịch, SPDL không phải là một khái niệm mới mẻ. Mặt khác, trong nghiên cứu thị trường thì SPDL lại càng là một vấn đề được quan tâm, bởi lẽ nó chính là yếu tố quyết định việc thành bại trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy là một vấn đề cũ, thế nhưng cũng tương tự như các vấn đề về loại hình du lịch, hay nhu cầu và động cơ du lịch, xung quanh nó vẫn còn rất nhiều quan điểm trái chiều về
  • 31. 19 việc xác định đâu là một SPDL, cũng như việc đưa ra một định nghĩa trọn vẹn về nó. Một số quan điểm xung quanh định nghĩa SPDL của các cá nhân, tổ chức có thể dẫn ra như: Theo Nguyễn Minh Tuệ, “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” [25: 10]. “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” [11: 218]. Đó là quan điểm của Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa khi đề cập đến khái niệm SPDL. Mặt khác, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì “Nhìn chung, một sản phẩm du lịch là một bộ các tài sản và dịch vụ được tổ chức xung quanh một hay nhiều điểm tham quan du lịch để đáp ứng nhu cầu của khách” [23]. Tại chương 1, điều 4, khoản 10 “Luật du lịch” (2005) của Việt Nam cũng đưa ra giải thích “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [18: 6]. Thông qua một vài khái niệm “sản phẩm du lịch” mà nhóm tác giả đã dẫn ở trên, không khó để chúng ta nhận ra một điểm chung đó là hầu hết đều nhận định dịch vụ chiếm một tỉ lệ lớn trong SPDL. Điều này không sai nhưng chưa thực sự đầy đủ. Bởi vì ngoài dịch vụ, theo quan điểm chúng tôi, để cấu thành nên một SPDL thì cần có thêm một yếu tố, đó chính là tài nguyên du lịch4 . Bởi lẽ, du khách khi đi du lịch, ngoài việc cần được cung cấp dịch vụ tốt (hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, …) thì còn quan tâm đến mức độ đặc sắc, hấp dẫn tại điểm đến (tài nguyên du lịch). Một CTDL hấp dẫn trọn vẹn và được xem là hoàn hảo phải tạo ra được SPDL kết hợp cả hai yếu tố dịch vụ tốt và tài nguyên du lịch đặc sắc. Do vậy, kết hợp các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, nhóm tác giả đưa ra một khái niệm mới về SPDL như sau: “SPDL là sự kết hợp giữa các yếu tố tài nguyên du lịch và dịch vụ, tồn tại dưới hai hình thức hữu hình và vô hình. Sự kết hợp 4 : Tuy nhiên, những tài nguyên du lịch khi đã hoặc đang được khai thác nhằm phục vụ cho hoạt động du lịch thì mới có thể được xem như là một phần của SPDL, nếu không thì chúng chưa phải là SPDL.
  • 32. 20 này được thiết kế nhằm đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu của du khách khi tham gia một CTDL”. Thông qua định nghĩa trên, ta có thể thấy SPDL đã được xác định rõ là kết quả của việc kết hợp hai yếu tố là tài nguyên du lịch và dịch vụ. Đồng thời, SPDL bao gồm hai nhóm, đó chính là nhóm SPDL hữu hình và nhóm SPDL vô hình5 . Về bản chất, việc xây dựng SPDL nhằm mục tiêu cuối cùng là đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của du khách. Mặt khác, CTDL chính là “phương tiện” để du khách trải nghiệm và đánh giá một SPDL. Hiện nay, sự nhầm lẫn trong việc phân biệt SPDL với CTDL cũng tồn tại. SPDL chính là bản chất của một CTDL và nó phải được hình thành trước CTDL. CTDL cụ thể hóa các SPDL để đưa đến du khách. Theo đó thì các doanh nghiệp du lịch không thể giới thiệu đến du khách những SPDL của mình mà không đưa ra CTDL. 1.1.3.2. Phân loại sản phẩm du lịch Do những quan điểm về SPDL khác nhau, do vậy mà dẫn đến việc phân loại SPDL cũng khác nhau. Với định nghĩa trên của nhóm tác giả, chúng tôi phân loại SPDL ra thành hai nhóm chính. Trong đó thì SPDL bao gồm hai nhóm là nhóm SPDL hữu hình và nhóm SPDL vô hình. Trong mỗi nhóm lại bao gồm từng thành tố nhỏ hơn chứa bên trong. Việc phân chia cụ thể được sơ đồ hóa theo sơ đồ bên dưới. Sơ đồ 1.7: Phân loại SPDL [Nguồn: Nhóm tác giả] 5 : Nhóm tác giả tập trung làm rõ phần phân loại SPDL trong phần sau. SPDL hữu hình SPDL vô hình SẢN PHẨM DU LỊCH Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể Tài nguyên du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể Các loại dịch vụ Đặc sản địa phương, đồ lưu niệm
  • 33. 21 Theo sơ đồ phân loại trên, nhóm SPDL hữu hình bao gồm các thành tố chính là tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và các hàng hóa khác như đặc sản địa phương hay quà lưu niệm. Cụ thể: + Tài nguyên du lịch tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên các tác động đến hoạt động du lịch. Ví dụ như hệ thống Thất Sơn ở An Giang, hệ thống các cồn ở vùng Tây Nam Bộ, khí hậu cận xích đạo có lợi cho hoạt động du lịch… Cũng cần nói thêm rằng, những yếu tố vừa liệt kê ở trên sẽ không thể trở thành SPDL nếu chúng không được đưa vào khai thác nhằm mục đích phát triển du lịch, khi ấy chúng chỉ dừng lại ở mức là tài nguyên du lịch (ở dạng tiềm năng). + Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể: Bao gồm những di tích lịch sử - văn hóa truyền thống, làng nghề cổ truyền… Đây cũng là một trong số những nhân tố trong việc góp phần phát triển SPDL. Tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc bao nhiều thì tỉ lệ xây dựng SPDL đặc trưng hấp dẫn càng cao bấy nhiêu. + Đặc sản địa phương, đồ lưu niệm: Đây cũng được xem như một thành tố trong việc tạo ra những SPDL hấp dẫn. Một món quà lưu niệm, một món ăn đặc sản mang đậm tính địa phương có thể là một yếu tố làm nổi bật những nét đặc trưng của địa phương. Chẳng hạn như một chiếc đèn lồng được bày bán tại Phố cổ Hội An, một hộp kẹo dừa, hay như một bức ảnh với cô gái trong tà áo dài và chiếc nón lá chính là những sản phẩm khẳng định thương hiệu và hình ảnh của du lịch địa phương. Tuy nhiên, thực trạng công tác xây dựng các SPDL dạng như vậy ở nước ta vẫn chưa thực sự được chú trọng cả về hình thức và chất lượng. Do vậy mà nó chưa phát huy hết vai trò của nó trong việc thúc đẩy phát triển thương hiệu SPDL ở các địa phương. Trong khi đó thì các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đã làm rất tốt vấn đề này. Nhóm SPDL vô hình bao gồm những thành tố là: Các loại dịch vụ, nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. Trong đó, các loại dịch vụ là những yêu cầu cần thiết để quá trình đón, phục vụ và tiễn khách diễn ra một cách thuận lợi. “… Trong các loại dịch vụ đó thì mỗi loại dịch vụ đảm nhận một vai trò khác nhau nhưng trên cơ bản là nó phải tương hỗ lẫn nhau, giúp cho SPDL đến tay người tiêu dùng một cách hoàn hảo nhất…” [17: 15]. Và có thể khẳng định, thành tố này ảnh hưởng rất nhiều đến việc nhận định chất lượng một SPDL của du khách, như chính các nhà nghiên cứu đi trước đã thống nhất rằng phần nhiều SPDL có tỉ lệ chiếm cao nhất là dịch vụ. Thành tố cuối cùng trong việc xây dựng SPDL chính là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phi vật
  • 34. 22 thể. Thành tố này bao gồm những yếu tố như các giá trị văn hóa bản địa. Trong đó bao gồm những vấn đề như: Các loại hình nghệ thuật diễn xướng truyền thống, các phong tục cũng như lễ hội địa phương… 1.1.3.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch Sơ đồ 1.8: Những đặc điểm của SPDL [Nguồn: Nhóm tác giả] SPDL được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách: Hay nói cách khác, chất lượng SPDL phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa mức kỳ vọng và mức cảm nhận về chất lượng của du khách. Cần lưu ý rằng, chất lượng ở đây bao hàm cả chất lượng dịch vụ và chất lượng của nguồn tài nguyên du lịch. Một SPDL chất lượng khi mức độ cảm nhận có độ chênh lệch cao hơn mức độ kỳ vọng. SPDL mang tính không di chuyển được: Bởi vì bản chất của SPDL chính là dịch vụ và nguồn tài nguyên du lịch. Những yếu tố đó chỉ có thể được đánh giá khi chính du khách đến nơi chúng tồn tại để hưởng thụ và tiêu dùng sản phẩm. Một dịch vụ lưu trú được du khách đánh giá cao khi du khách rời khỏi nơi ở của mình để đến lưu trú trong cơ sở đó. Hay với yếu tố tài nguyên du lịch cũng tương tự như vậy; chẳng hạn như loại hình chợ nổi không thể được du khách đánh giá là đặc sắc nếu du khách chỉ biết chúng qua thông tin truyền thông, báo chí mà không đến tận nơi để trải nghiệm... Đặc điểm SPDL Thỏa mãn nhu cầu du khách Mang tính không di chuyển được Quá trình tạo và tiêu thụ SPDL trùng nhau SPDL mang tính mùa vụ
  • 35. 23 Quá trình tạo ra SPDL trùng với quá trình tiêu thụ sản phẩm: Chúng không thể cất vào kho hay lưu trữ được. Một CTDL khuyến mãi khi được doanh nghiệp đưa ra nếu không thu hút được du khách thì không thể trữ hoặc cất vào kho để chờ lần sau đem ra sử dụng lại được. Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng SPDL là cả một vấn đề. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ được SPDL là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch. Tính mùa vụ: Không như khái niệm “sản phẩm” đơn thuần, SPDL có tính mùa vụ rõ rệt, bất kể là SPDL hữu hình hay vô hình. Trong cuộc sống, chúng ta thường hay nghe cụm từ “mùa du lịch” - đó chính là những khoảng thời gian mà lượng khách đi tham quan tăng cao (ví dụ như vào những tháng Hè, những ngày cuối năm hoặc những ngày Tết cổ truyền...). Chính vì có tính mùa vụ dẫn đến thực trạng doanh thu của các đơn vị kinh doanh không ổn định. Đây là hiện tượng lúc thì cung không đáp ứng được cầu (vào mùa du lịch), lúc thì cầu lại không đáp ứng được cung (không phải mùa du lịch). Nguyên nhân chính là trong du lịch, lượng cung khá ổn định trong thời gian dài, còn nhu cầu của khách thì thường xuyên thay đổi, từ đó dẫn đến sự chênh lệch giữa yếu tố cung - cầu. Nói tóm lại, nhu cầu du lịch – động cơ du lịch – loại hình du lịch – SPDL là bốn yếu tố mang tính quá trình sâu sắc. Yếu tố sau là kết quả của yếu tố trước. Và từ nhu cầu du lịch đến việc hình thành SPDL có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; không có yếu tố trước thì sẽ không hình thành yếu tố sau. 1.2. Đặc điểm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học 1.2.1. Khái quát chung 1.2.1.1. Ngành Việt Nam học Việc nghiên cứu khái niệm “Việt Nam học” là cần thiết. Ngành khoa học này hình thành như thế nào ? Phương pháp cũng như đối tượng nghiên cứu ra sao ?… Đây là tiền đề để đi sâu vào phân tích sự ra đời của ngành VNH tại Việt Nam, cũng như chương trình đào tạo của ngành khoa học này. Trước tiên, mặc dù là một ngành khoa học nghiên cứu về một quốc gia phương Đông, thế nhưng sự hình thành của nó lại liên quan đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phương Tây tìm cách mở rộng bành trướng và chiếm đoạt các nước phương Đông. Trong giai đoạn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, các tác phẩm của Alesxanre De Rhodes, Christophoro Borri, Jean
  • 36. 24 Baptiste Tavenier, Samuel Baron, … chính là dấu hiệu manh nha xuất hiện việc nghiên cứu Việt Nam. Tuy vậy, để chính thức trở thành một ngành học thì phải đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Đây chính là giai đoạn Thực dân Pháp bắt đầu quá trình xâm lược và thống trị nước ta. Trong giai đoạn này, hàng loạt các học giả nổi tiếng như Henry Maspéro, Paul Pelliot, Léopold Cadìere, Pierre Gourou, … chính là những người đặt nền móng trong việc nghiên cứu về Việt Nam. Và đến năm 1900, Viện Viễn đông Bác cổ6 Pháp có trụ sở và thư viện chính đặt tại Hà Nội được thành lập, và đây cũng được xem như là nơi tập trung quan trọng nhất các nhà VNH người Pháp và phương Tây [16: 3]. Theo Trần Lê Bảo, “Việt Nam học (Vietnamology/ Vietnamologie) hay nghiên cứu Việt Nam (Vietnamese Studies/ Etudes Vietnamienes) là khoa học liên ngành nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam dựa trên những yếu tố của từng chuyên ngành như Địa lý, Lịch sử, Ngôn ngữ, Văn hóa, Phong tục tập quán, Lối sống, Kinh tế, Xã hội, Môi trường Sinh thái,… hay theo tính liên ngành của Khu vực học. Mục đích của việc nghiên cứu trên nhằm đem lại những hiểu biết toàn diện với những yếu tố đặc thù, độc đáo về đất nước và con người Việt Nam, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng phồn thịnh, đồng thời tăng cường khả năng giao lưu và hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa” [2: 33]. Như vậy, hiểu một cách đơn giản thì VNH là khoa học liên ngành7 nghiên cứu tổng quan về đất nước và con người Việt Nam thông qua các chuyên ngành nhỏ hơn. Việc nghiên cứu này góp phần vào việc hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam. 6 : “Viện Viễn Đông Bác cổ (tiếng Pháp: École française d'Extrême-Orient, viết tắt EFEO) là một trung tâm nghiên cứu của Pháp về Đông phương học, chủ yếu trên thực địa. Tiền thân là Phái đoàn Khảo cổ tại Đông Dương từ năm 1898 và chính thức thành lập với tên gọi Viện Viễn Đông Bác cổ ngày 20 tháng 1 năm 1900, Viện có nhiệm vụ nghiên cứu, khai quật khảo cổ trên toàn bán đảo Đông Dương. Trụ sở đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Sài Gòn, Nam Kỳ trong ngày đầu thành lập năm 1900, tới năm 1902 Viện dời ra Hà Nội… Hiện nay, Viện Viễn Đông Bác cổ thuộc Bộ Giáo dục đại học và Nghiên cứu Pháp, có 17 trung tâm nghiên cứu tại 12 quốc gia châu Á. Trong hơn một thế kỷ tồn tại, Viện Viễn Đông Bác cổ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về Đông phương học. ..” [32]. 7 : Xem thêm về phương pháp nghiên cứu liên ngành trong “Khu vực học và nhập môn Việt Nam học” – Trần Lê Bảo, tr49 – 50.
  • 37. 25 Hội thảo Quốc tế về VNH lần thứ nhất (diễn ra trong các ngày 15 – 17 tháng 7 năm 1998 tại Hà Nội) có thể xem như là cơ sở cho các bước phát triển mới trong việc nghiên cứu ngành khoa học này, trong đó chính Việt Nam là quốc gia giữ vai trò chủ động và trung tâm. Sau đó, đến tháng 7 năm 2004, Hội thảo Quốc tế VNH lần thứ hai đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, có thể thấy từ việc ra đời do nhu cầu nghiên cứu vì mục đích xâm lược và biến nước ta thành thuộc địa, VNH đang từng bước khẳng định vai trò của mình và cho thấy nhu cầu nghiên cứu về Việt Nam không chỉ là nhu cầu của người nước ngoài mà trong đó có cả chính người Việt Nam. Và ngành VNH “… đã nhanh chóng xác lập được vị trí trong hệ thống nghiên cứu, đào tạo và đang trở thành một ngành khoa học mũi nhọn tham gia giải quyết nhiều vấn đề của khoa học và thực tiễn đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập” [16: 9]. Ở phần tiếp theo, đề tài sẽ liên hệ trực tiếp vai trò của ngành VNH trong vấn đề hình thành khoa QHQT, ĐHSG; qua đó càng làm nổi bật hơn nữa về tính cấp thiết của việc đào tạo ngành VNH trong xu thế hiện nay. 1.2.1.2. Quá trình hình thành ngành Việt Nam học tại trường Đại học Sài Gòn Như đã đề cập, việc hình thành ngành VNH tại trường ĐHSG nằm trong xu thế phát triển của ngành khoa học này, cũng như để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về đất nước và con người Việt Nam. Trước việc “nâng cấp” từ trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thành ĐHSG với mục tiêu đào tạo đa ngành và đa cấp, được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành VNH đã ra đời như một biểu hiện cho sự phát triển chung của nhà trường [14]. Một số cột mốc quan trọng trong việc đánh dấu sự phát triển của khoa [14, 34]: Khoa được thành lập vào tháng 3 năm 2006 theo Quyết định8 của Hiệu trưởng trường ĐHSG. Tháng 6 năm 2007, Hiệu trưởng đã quyết định sát nhập khoa VNH, Lịch sử, Địa lý và Ngữ văn thành khoa Sư phạm Khoa học Xã hội. Tháng 4 năm 2008, bộ môn VNH được tách ra từ khoa Sư phạm Khoa học Xã hội, tái thành lập khoa VNH. Và từ tháng 8 năm 2008, khoa VNH đã đổi tên thành khoa Văn hóa – Du lịch. 8 : Căn cứ theo Quyết định số 45/QĐ/CĐSP-TCCT.
  • 38. 26 Năm học 2008 – 2009, khoa bắt đầu tuyển sinh đào tạo hệ Đại học đầu tiên (trước năm học này thì hai khóa đào tạo là Cao đẳng). Năm học 2009 – 2010, khoa đã mở thêm hệ đào tạo liên thông chính quy từ Cao đẳng lên Đại học. Và cho đến năm học 2014 – 2015, với mục tiêu mở rộng rộng và đưa khoa phát triển hơn nữa, được sự đồng ý của Bộ, khoa đã mở thêm mã ngành đào tạo Cử nhân ngành Quốc tế học kể từ năm học 2015 – 20169 , và chính thức đổi tên từ khoa Văn hóa – Du lịch thành khoa QHQT (Quyết định chính thức đổi tên từ ngày 1 tháng 4 năm 2015). Như vậy, trải qua 9 năm thành lập, từ năm 2006 đến nay (2015), khoa đã từng bước có những thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức cũng như nội dung đào tạo để phù hợp với xu thế chung của xã hội và đáp ứng được nguồn nhân lực lao động mà thị trường lao động yêu cầu. Sơ đồ 1.9: Mô hình các ngành, chuyên ngành đào tạo của khoa QHQT, ĐHSG (bắt đầu từ năm học 2015 – 2016) [Nguồn: Nhóm tác giả] 9 : Căn cứ theo Quyết định số 5743/QĐ-BGD&ĐT – mã ngành đào tạo 52220212. Khoa Quan hệ Quốc tế Ngành Quốc tế học Chuyên ngành Châu Âu học Chuyên ngành Châu Mỹ học Chuyên ngành Quan hệ Quốc tế Ngành Việt Nam học Chuyên ngành Văn hóa - Du lịch
  • 39. 27 1.2.2. Đặc điểm của chương trình đào tạo 1.2.2.1. Mục tiêu đào tạo của ngành Việt Nam học10 Như đã đề cập, ngành VNH là một khoa học liên ngành, nghiên cứu tất cả những phương diện về Việt Nam. Trong khi đó, ngành VNH tại ĐHSG tập trung vào hai mảng lớn của ngành VNH, đó chính là nghiên cứu tập trung vào văn hóa và du lịch Việt Nam. Do vậy, ta có thể thấy việc chuyển tên khoa từ VNH thành khoa VHDL là một bước đi đúng đắn và chính xác của Ban lãnh đạo nhà trường và Ban lãnh đạo của khoa. Mục tiêu đào tạo của khoa là11 : Về mục tiêu chung: “Đào tạo những cử nhân có kiến thức và năng lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, du lịch, công tác trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức, công ty về các loại hình văn hóa và du lịch trong – ngoài nước”. Về mục tiêu cụ thể: Bảng 1.10: Mục tiêu đào tạo sinh viên ngành VNH, ĐHSG Stt Mục tiêu Yêu cầu 1 Về phầm chất đạo đức Yêu tổ quốc, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ vững vàng, tác phong chuẩn mực, tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề 2 Về kiến thức Sinh viên được trang bị đầy đủ kiến thức về Lịch sử - Văn hóa – Địa lý – Kinh tế - Du lịch – Con người Việt Nam từ truyền thống đến đương đại. Tập trung kiến thức về quản lý và thực hành nghề nghiệp trong các lĩnh vực văn hóa và du lịch 3 Về kỹ năng Lĩnh vực du lịch: Sinh viên có khả năng đáp ứng được yêu cầu về Lĩnh vực văn hóa: Sinh viên có khả năng ở các công tác Có khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ Anh trong lĩnh vực 10 : Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả tập trung vào việc phân tích mục tiêu và chương trình đào tạo của ngành VNH của khoa QHQT, không đề cập đến nội dung và chương trình đào tạo của ngành Quốc tế học. 11 : Căn cứ theo Quyết định số 1971/QĐ/ĐHSG-ĐT ngày 19 tháng 10 năm 2012 của Hiệu trưởng ĐHSG.
  • 40. 28 nguồn nhân lực quản lý và nghiệp vụ: Lữ hành, khách sạn và nhà hàng. quản lý văn hóa, lễ hội và hoạt động tổ chức sự kiện văn hóa. du lịch. [Nguồn: Quyết định số 1971/QĐ/ĐHSG-ĐT ngày 19 tháng 10 năm 2012 của Hiệu trưởng ĐHSG – tr1] Như vậy, thông qua mục tiêu đào tạo, ta có thể thấy sinh viên ngành VNH khoa QHQT tập trung chủ yếu vào những mảng kiến thức thuộc về văn hóa, du lịch. Mặt khác, về mặt kỹ năng, sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức đa ngành nghề; chúng liên quan đến những nghiệp vụ về hướng dẫn du lịch, nhóm nghiệp vụ về nhà hàng (nghiệp vụ bàn, nghiệp vụ bếp, nghiệp vụ pha chế, v.v…) hoặc nhóm nghiệp vụ về khách sạn (nghiệp vụ lễ tân, nghiệp vụ buồng phòng, v.v…) thông qua việc học thêm một khóa nghiệp vụ tại các cơ sở đào tạo bên ngoài có thẩm quyền do Tổng cục Du lịch ủy nhiệm. Như vậy, sinh viên được quyền lựa chọn cho mình những hướng phát triển nghề nghiệp khác nhau, dựa trên năng lực và sở thích của bản thân. 1.2.2.2. Chương trình đào tạo của ngành Việt Nam học “Việc định hướng phát triển ngành đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn là việc không đơn giản, vì chưa có sự thống nhất về bản thân khái niệm, đối tượng, nội dung, phương pháp, v.v… Bởi Việt Nam học là môn học trong đó có sự tích hợp của các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu về Đất nước – Lịch sử - Văn hóa – Con người Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam lại được coi là một bộ phận của khu vực học với tư cách là một chỉnh thể độc lập, nên việc nghiên cứu Việt Nam học có thể dựa trên phương pháp tiếp cận khu vực học, phương pháp liên ngành, đa ngành cũng như là kết hợp phương pháp riêng biệt của nhiều ngành khác” [14]. Đây cũng chính là một vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng trong tình hình hiện nay. Các trường có đào tạo Cử nhân ngành VNH hiện nay hầu hết đều chưa có sự thống nhất trong việc thống nhất chương trình đào tạo, các môn học còn thiếu tính logic trong vấn đề thiết kế. Chính điều này đã và đang tạo ra sự khác biệt trong công tác đào tạo tại các trường.
  • 41. 29 Cụ thể, từ khi thành lập (năm 2006) đến nay, khoa đã nhiều lần thay đổi chương trình đào tạo12 . Các lần thay đổi chương trình đào tạo bao gồm: Giai đoạn 2006 – 2009 (hệ Cao đẳng theo niên chế); giai đoạn 2007 – 2010 (hệ Cao đẳng theo niên chế); giai đoạn 2008 – 2009 (hệ Đại học và hệ Cao đẳng theo tín chỉ); giai đoạn 2010 - 2014 (hệ Đại học theo tín chỉ); giai đoạn 2012 – 2016 (hệ Đại học và hệ Cao đẳng theo tín chỉ). Những sự điều chỉnh này nhằm góp phần vào việc bám sát thực tiễn xã hội và nâng cao chất lượng đào tạo. Trong nội dung đề tài này, chúng tôi tập trung vào việc dẫn chứng những thay đổi, điều chỉnh trong các học phần liên quan đến các chương trình Thực tế chuyên môn của khoa. Bảng 1.11: Thống kê các học phần Thực tế chuyên môn, ngoại khóa của sinh viên các khóa của ngành VNH Hệ Khóa Các chương trình Thực tế chuyên môn, ngoại khóa Thực tế chuyên môn Ngoại khóa Cao đẳng 2007 – 2010 Miền Tây (7 ngày) Xuyên Việt (14 ngày) X X 2008 – 2011 Đà Lạt, Nha Trang (6 ngày) Miền Trung (11 ngày) X X 2009 – 2012 Miền Tây (6 ngày) Xuyên Việt (17 ngày) X Bình Châu (1 ngày) 2010 – 2013 Miền Tây (7 ngày) Miền Trung (14 ngày) X Tây nguyên (4 ngày) 2011 – 2014 Tây nguyên (7 ngày) Xuyên Việt (14 ngày) X Vũng Tàu (1 ngày) – Phú Quốc (4 ngày) 12 : Việc thay đổi chương trình đào tạo ở đây được hiểu là thay đổi (thêm, bớt hoặc bỏ) các học phần hoặc đổi tên các học phần.
  • 42. 30 2012 – 2015 Miền Tây (3 ngày) Miền Tây, Phú Quốc (7 ngày) Xuyên Việt (14 ngày) Đà Lạt (3 ngày) 2013 – 2016 Vũng Tàu – Phan Thiết (3 ngày) Miền Tây (7 ngày) Xuyên Việt (21 ngày) X Đại học 2008 – 2012 Miền Tây (7 ngày) Xuyên Việt (21 ngày) X X 2009 – 2013 ? ? ? ? 2010 – 2014 Miền Trung (10 ngày) Miền Tây (5 ngày) Xuyên Việt (21 ngày) Phú Quốc (4 ngày) 2011 – 2015 Miền Tây (7 ngày) Xuyên Việt (21 ngày) Phan Thiết (2 ngày) 2012 – 2016 Vũng Tàu (3 ngày) Miền Tây (7 ngày) Xuyên Việt (21 ngày) Phan Thiết (2 ngày) – Madagui (2 ngày) 2013 – 2017 Vũng Tàu – Phan Thiết (3 ngày) Miền Tây (7 ngày) Xuyên Việt (21 ngày) Madagui (2 ngày) 2014 – 2018 Vũng Tàu – Phan Thiết (3 ngày) Miền Tây (7 ngày) Xuyên Việt ? [Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp] Như vậy, thông qua bảng thống kê trên ta có thể thấy, các học phần Thực tế chuyên môn đều được thay đổi linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tiễn trong mỗi giai đoạn đào tạo qua các năm. Và một điểm đáng lưu ý đó là kể từ khóa đào tạo 2008 trở về sau, số lượng chương trình Thực tế chuyên môn và ngoại khóa đã tăng lên đáng kể (trừ trường hợp lớp hệ Đại học khóa 2011). Điều này có những mặt ưu, đồng thời cũng có những khiếm khuyết nhất định. Về mặt ưu, điều này tạo cho sinh viên các khóa sự trải nghiệm đa dạng và khác nhau, tránh trùng lặp. Tuy nhiên, mặt khuyết ở
  • 43. 31 đây chính là việc thường xuyên thay đổi chương trình thực tế sẽ khiến cho sinh viên khó khăn trong việc chuẩn bị kinh phí. Mặt khác, trong tình hình hiện nay, khi mà như đã đề cập thì nhà trường không còn hỗ trợ tối đa khả năng cho phép cho sinh viên trong các chương trình Thực tế chuyên môn thì điều này càng gây khó khăn hơn nữa cho Ban lãnh đạo khoa và sinh viên. Như vậy, việc thống nhất chương trình Thực tế chuyên môn cho sinh viên các khóa là việc nên làm để tránh được những bất lợi như nhóm tác giả đã đề cập ở trên. Nói tóm lại, ngành VNH là ngành khoa học nghiên cứu về đất nước và con người Việt Nam, đặc biệt là sinh viên ngành VNH khoa QHQT là những người công tác trong ngành hướng dẫn trong tương lai, việc tiếp cận thực tiễn là điều chắc chắn phải có. Các chương trình Thực tế chuyên môn của các khóa sinh viên mà nhóm tác giả đã thống kê ở trên cũng đã chứng minh Ban lãnh đạo khoa đã có những nhận thức đúng đắn về vai trò của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, số học phần Thực tế chuyên môn đã tăng lên đa dạng hơn, qua đó giúp sinh viên có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận thực tiễn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là thiết kế các SPDL nói chung, các chương trình học phần Thực tế như thế nào để vừa đảm bảo tính khoa học, vừa đáp ứng được những nhu cầu của sinh viên ? Trong chương 2 và chương 3, chúng tôi sẽ đề xuất giải pháp thông qua việc nghiên cứu thực trạng của sinh viên. 1.2.3. Sinh viên ngành Việt Nam học trường Đại học Sài Gòn “Tính đến năm 2014, Khoa đã đào tạo được 9 khóa với tổng số trên 600 sinh viên hệ chính quy, hơn 300 sinh viên hệ liên thông (2 lớp tại TP.HCM và 1 lớp tại Huế). Trong đó, có 3 khóa Đại học, 6 khóa sinh viên Cao đẳng đã tốt nghiệp. Hầu hết các sinh viên khi ra trường đều đáp ứng tốt yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ và đòi hỏi của xã hội” [34]. Với đặc thù là trường Công lập, cho nên hầu hết sinh viên đều đến từ các tỉnh thành trên cả nước. Tính đến thời điểm hiện nay (2015), toàn khoa có khoảng 500 sinh viên13 với 6 lớp. Cụ thể là: Hệ Đại học: Gồm các khóa 11 – 12 – 13 – 14. Hệ Cao đẳng: Gồm các khóa 12 – 13. 13 : Số lượng sinh viên chính xác hiện tại là 496 sinh viên, nhóm tác giả thu được từ thực tế.
  • 44. 32 1.3. Xác định nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên ngành Việt Nam học Như đã đề cập ở trên, theo quá trình phát triển của trình độ kinh tế và xã hội, nhu cầu của con người nói chung luôn có sự biến đổi theo hướng đa dạng hóa và phức tạp hơn; nhu cầu du lịch cũng không ngoại lệ và nhóm tác giả đã làm rõ vấn đề này ở phần trên. Trong phần này, nhóm tác giả xác định nhu cầu lựa chọn SPDL thông qua những tiêu chí do chúng tôi xác định và tập trung phân tích chúng. Những nhu cầu trong việc lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, ĐHSG xoay quanh bốn nhu cầu sau: Nhu cầu về giá cả; Nhu cầu về chương trình du lịch; Nhu cầu về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ sung khác; Nhu cầu về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành. 1.3.1. Về giá cả Có thể nói, giá cả là một vấn đề mà khách hàng có điều kiện tiếp cận đầu tiên. Trong nghiên cứu về marketing, giá được xem như một công cụ hữu hiệu trong việc thu hút khách hàng và đối phó với các đối thủ cạnh tranh. “Theo quan điểm truyền thống của kinh tế chính trị thì giá cả được hiểu một cách rất khái quát là đại lượng chuyển hóa giá trị của sản phẩm” [11: 254]. Ở góc độ hẹp hơn, nói một cách đơn giản thì giá được hiểu là số tiền được tính cho hàng hóa hoặc dịch vụ. Theo đó, giá cả cũng là một phương tiện hữu hiệu để khách hàng nhận định chất lượng của một sản phẩm nói chung, của SPDL nói riêng. Làm cách nào để chất lượng sản phẩm vẫn duy trì mà vẫn đảm bảo mức giá cạnh tranh ? Đây là một bài toán nan giải cho các doanh nghiệp trong tình hình kinh tế hiện nay. Quay lại nhu cầu về giá của sinh viên ngành VNH khoa QHQT ĐHSG, trước đây, với việc được hỗ trợ một phần từ kinh phí của nhà trường, sinh viên của khoa cũng đã giảm được một phần áp lực về nhu cầu giá cả. Tuy nhiên, kể từ năm học 2014 – 2015, vì những yếu tố khách quan do vậy mà việc hỗ trợ kinh phí cho sinh viên từ nhà trường đã không còn phát huy được nhiều hiệu quả. Bên cạnh đó, với đặc thù là trường Công lập, do vậy mà thành phần chủ yếu của sinh viên đa phần là đến từ các tỉnh thành khác nhau trên cả nước. Với thực trạng vừa học tập, vừa đi làm thêm, rõ
  • 45. 33 ràng là nhu cầu về giá trong tình hình năm học 2014 – 2015 trở về sau sẽ là một nhu cầu cần được quan tâm nghiên cứu hàng đầu, qua đó hỗ trợ sinh viên trong việc thụ hưởng những CTDL với mức giá tối ưu nhất. 1.3.2. Về chương trình du lịch CTDL như chúng tôi đã nhận định là phương tiện thể hiện ra bên ngoài của SPDL. Nội dung của CTDL phản ánh một phần tính đặc sắc của SPDL. Khảo sát nhu cầu của sinh viên trong việc lựa chọn CTDL để từ đó có thể xây dựng và thiết kế những SPDL phù hợp và đáp ứng được nguyện vọng của sinh viên. Chẳng hạn như việc xác định các CTDL thuộc loại hình du lịch sinh thái sẽ phải đảm bảo những nội dung gì trong SPDL sinh thái, qua đó làm nổi bật những nét đặc trưng của loại hình du lịch này. Hay như việc xác định độ dài của CTDL, thời gian tổ chức những CTDL đó, nội dung tham quan trong chương trình, v.v… Tất cả những yếu tố này cũng cần được nghiên cứu. 1.3.3. Về các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ sung khác Như đã xác định ngay từ đầu, dịch vụ là một trong những thành tố cấu thành và quyết định đến chất lượng của SPDL. Do vậy, việc khảo sát lấy ý kiến của sinh viên về tất cả những dịch vụ liên quan và có trong CTDL cũng là một phương pháp để căn cứ vào đó có thể thiết kế những SPDL phù hợp cho sinh viên. Nếu đối với những đối tượng khách bên ngoài, mỗi nhóm sẽ có những nhu cầu về dịch vụ khác nhau, thì tương tự như vậy, trong sinh viên cũng như thế. Sự khác biệt trong các dịch vụ đối với sinh viên là nhằm mục đích giúp sinh viên có điều kiện tiếp cận với nhiều mức độ dịch vụ khác nhau. Qua đó giúp cho sinh viên tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Chẳng hạn như việc đón tiếp khách sẽ như thế nào đối với khách sạn 3 sao; chúng có gì khác nếu so với những nhà nghỉ hay khách sạn 1 sao, v.v… Như vậy, với mỗi nhóm đối tượng sinh viên nào thì cần trải nghiệm dịch vụ đa dạng, những nhóm đối tượng nào thì chưa cần ? Trong chương 2 sẽ làm rõ vấn đề này. 1.3.4. Về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành Trong tất cả những nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, có thể nói đây là một nhu cầu đặc biệt. Vì đặc thù của ngành đào tạo, do vậy mà đây cũng được xem là một trong những yếu tố tiên quyết, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng của các học phần Thực tế chuyên môn nói riêng. Những
  • 46. 34 SPDL mà sinh viên trải nghiệm thông qua các chuyến đi là nhằm mục đích củng cố lý thuyết. Do vậy, nhu cầu tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành là một tiêu chí quan trọng, là một yếu tố mà sinh viên ngành VNH khoa QHQT cân nhắc khi lựa chọn SPDL. Điều này khác với những SPDL của những nhóm đối tượng du khách thông thường. Tiểu kết chương 1 Trong chương 1, nhóm tác giả đã làm rõ một số vấn đề liên quan đến việc cung cấp hệ thống tri thức về khoa học du lịch. Cụ thể: (1) Tổng hợp các nguồn tài liệu và đưa ra quan điểm về các khái niệm: Nhu cầu du lịch, động cơ du lịch, CTDL, SPDL. Nhóm tác giả rút ra kết luận trong việc khẳng định mối quan hệ theo tính quá trình giữa các vấn đề đó. (2) Giới thiệu tổng quan về ngành VNH, ĐHSG với các vấn đề như: Lịch sử hình thành ngành VNH, mục tiêu và chương trình đào tạo, cũng như giới thiệu sinh viên của ngành hiện nay. Trong đó, chúng tôi tập trung chứng minh sự thay đổi trong các chương trình Thực tế chuyên môn qua các giai đoạn đào tạo khác nhau, qua đó không chỉ cho thấy nhận thức đúng đắn của Ban lãnh đạo khoa QHQT trong vấn đề tiếp cận thực tiễn, mà còn khẳng định vai trò quan trọng trong vấn đề kết hợp lý thuyết và thực hành của sinh viên. (3) Cuối cùng, chúng tôi cũng đã nhận định các nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trong việc lựa chọn các SPDL. Chúng bao gồm các nhu cầu về giá cả, nhu cầu về CTDL, nhu cầu về các dịch vụ và nhu cầu về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành. Những vấn đề đã nêu ở trong chương 1 là tiền đề để nhóm tác giả có cơ sở nghiên cứu thực trạng trong việc đánh giá và lựa chọn SPDL của sinh viên trong các phần sau của đề tài.
  • 47. 35 Chương 2 KHẢO SÁT VIỆC LỰA CHỌN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 2.1. Xác định một số vấn đề liên quan đến việc khảo sát Để đạt được kết quả khảo sát, nhóm tác giả tiến hành theo quy trình sau: Sơ đồ 2.1: Quy trình khảo sát lấy ý kiến sinh viên trong việc lựa chọn SPDL [Nguồn: Nhóm tác giả] 2.1.1. Đối tượng khảo sát Như đã đề cập trong phần đầu, đối tượng khảo sát mà đề tài này xác định chính là những nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trong việc lựa chọn SPDL. Hay nói cách khác, những nhu cầu này ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá một SPDL của sinh viên. Chúng bao gồm: Nhu cầu giá cả, nhu cầu chương trình du lịch, nhu cầu về các dịch vụ, nhu cầu về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức. Việc nghiên cứu các nhu cầu này được tiến hành thông qua việc xây dựng hệ thống những câu hỏi trong bảng khảo sát mà thông qua đó, chúng tôi có thể nhận định được vai trò của những nhu cầu này trong việc đánh giá chất lượng SPDL của sinh viên ngành VNH khoa QHQT.
  • 48. 36 2.1.2. Nội dung khảo sát Ở mỗi nhu cầu, nhóm tác giả sẽ đặt những câu hỏi để lấy ý kiến của du khách về việc nhận định vai trò của chúng trong việc đánh giá các SPDL. Cụ thể: 2.1.2.1. Về giá cả Đối với nhu cầu này, nhóm tác giả đặt những câu hỏi liên quan đến thu nhập cá nhân cũng như mức giá cho một CTDL mà sinh viên có thể đáp ứng được. Bởi vì hiện nay, với thực tế là nhà trường không còn hỗ trợ tối đa kinh phí cho sinh viên thì giá thành cho một CTDL thực sự là một vấn đề không phải đơn giản mà sinh viên có thể đáp ứng được. Điều này ít nhiều phụ thuộc từ mức thu nhập của mỗi cá nhân. 2.1.2.2. Về chương trình du lịch Đối với nhu cầu này, nhóm tác giả đặt những câu hỏi tập trung làm rõ những vấn đề như: Độ dài và thời gian phù hợp tổ chức những chuyến đi, những loại hình du lịch mà sinh viên có hứng thú… 2.1.2.3. Về các dịch vụ Những dịch vụ về tham quan, lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ sung đều được đặt câu hỏi với mục đích làm rõ vai trò của chúng trong việc nhận định SPDL. 2.1.2.4. Về tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức Đây được xem như là một nhu cầu đặc thù đối với nhóm đối tượng du khách là sinh viên. Bởi vì với những đối tượng khách không phải là sinh viên, nhu cầu chính yếu của họ không đơn thuần là mở mang tri thức, mà bên cạnh đó còn là nhiều nhu cầu khác, chẳng hạn như được nghỉ dưỡng, được mua sắm, được thể hiện bản thân, … Do vậy, để làm rõ nhu cầu này của sinh viên, những vấn đề mà nhóm tác giả làm rõ trong việc nghiên cứu nhu cầu này bao gồm: Mục đích đạt được sau chuyến đi, đánh giá của sinh viên về những chương trình Thực tế chuyên môn và ngoại khóa mà khoa đã tổ chức.
  • 49. 37 2.2. Kết quả điều tra – phân tích và đánh giá 2.2.1. Kết quả điều tra Như đã đề cập trong chương 1, vì giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài trong giai đoạn 2011 – 2014, do vậy mà số lượng phiếu được phát ngẫu nhiên, trải đều cho 5 lớp đào tạo trong giai đoạn 2011 – 2014 (mỗi lớp 20 phiếu). Cụ thể sẽ là các lớp: Đại học khóa 11 – khóa 12 – khóa 13 – khóa 14 và lớp Cao đẳng khóa 12. Ngoài ra, để tăng độ tin cậy cũng như làm nổi bật lên những nhu cầu đặc thù của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, nhóm tác giả cũng đồng thời phát 50 phiếu ngẫu nhiên cho sinh viên ngoài khoa (không phải sinh viên ngành du lịch). Bởi vì, ở một vai trò là một du khách thông thường, sự đánh giá về SPDL cũng như nhu cầu của nhóm đối tượng sinh viên này chắc chắn có những sự khác biệt so với sinh viên ngành VNH. Thao tác so sánh, đối chiếu này sẽ làm nổi bật hơn những nhu cầu đặc thù của sinh viên ngành VNH khoa QHQT. Tổng số phiếu phát ra như đã nói là 100 phiếu cho sinh viên trong ngành VNH, 50 phiếu cho sinh viên ngoài khoa ngẫu nhiên. Tuy nhiên, tổng số phiếu hợp lệ thu về là 89 phiếu đối với sinh viên trong ngành VNH và 42 phiếu đối với sinh viên ngoài khoa. Cụ thể: Bảng 2.2: Thống kê kết quả khảo sát sinh viên ngành VNH Hệ Khóa Số phiếu hợp lệ Số phiếu không hợp lệ14 Đại học 11 20 0 12 15 5 13 18 2 14 16 4 Cao đẳng 12 20 0 Tổng cộng 89 11 [Nguồn: Nhóm tác giả] 14 : Phiếu được xem là không hợp lệ nếu rơi vào một trong các trường hợp sau: - Phiếu không điền tên lớp. - Phiếu chọn hơn một đáp án đối với những câu hỏi chỉ chọn một đáp án. - Phiếu trả lời không đủ số lượng câu hỏi.
  • 50. 38 2.2.2. Phân tích và đánh giá 2.2.2.1. Đối với sinh viên ngành Việt Nam học Theo thực trạng hiện nay, ngoài các học phần Thực tế chuyên môn, sinh viên trong các năm đào tạo còn được tham gia các chương trình ngoại khóa. Những chương trình ngoại khóa này thường là ngắn ngày, được tổ chức với mục đích là tạo điều kiện cho sinh viên có thêm cơ hội trải nghiệm thực tiễn. Yêu cầu về chuyên môn trong các chương trình này (chẳng hạn như chuẩn bị bài thuyết minh, viết báo cáo thu hoạch sau tour, …) là không cao, sinh viên chỉ đơn giản là tham gia với mục đích có thêm cơ hội để trải nghiệm thực tiễn. Tuy nhiên, thay vào đó, những CTDL là ngoại khóa lại yêu cầu tính chủ động của sinh viên cao, sinh viên phải nắm bắt các thông tin về việc thuyết minh, học tập các kỹ năng nghiệp vụ một cách chủ động, chứ không đơn thuần là làm việc theo sự phân công của giảng viên như những chương trình thực tế chuyên môn. Tuy nhiên, khảo sát qua các lớp thì một thực tế hiện nay là mỗi lớp chỉ có thể tham gia thêm một chương trình ngoại khóa; kết hợp với các học phần Thực tế chuyên môn. Điều này chưa đáp ứng được nguyện vọng của sinh viên vì thông qua khảo sát, phần đông sinh viên đều mong muốn có thêm những chương trình ngoại khóa để tham gia. Cụ thể: Bảng 2.3: Quan điểm của sinh viên ngành VNH về vấn đề bổ sung các chương trình ngoại khóa Quan điểm của sinh viên Trả lời Về việc có nên tổ chức thêm các chương trình ngoại khóa hay không ? Có Không 80,9% 19,1% Nếu có, thêm bao nhiêu chuyến ? 1 chuyến 2 chuyến 3 chuyến 4 chuyến 40,3% 55,5% 4,2% 0% [Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015] Thông qua bảng trên, 80,9% sinh viên khi được hỏi đều mong muốn được tham gia thêm những chương trình tham quan ngoại khóa. Chỉ có 19,1% trả lời là không muốn tham gia. Mặt khác, số sinh viên mong muốn được tham gia thêm hai chuyến
  • 51. 39 ngoại khóa chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,5% và tham gia thêm một chuyến với 40,3%. Chỉ có 4,2% sinh viên mong muốn tham gia thêm ba chuyến ngoại khóa. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì sinh viên của mỗi khóa đào tạo đã tham gia ba học phần Thực tế chuyên môn, như vậy nếu là một phép tính đơn giản thì sinh viên tham gia trung bình gần một chương trình Thực tế chuyên môn cho một năm. Do vậy mà việc mong muốn có thêm từ một đến hai chương trình ngoại khóa trong bốn năm đào tạo là điều có thể lý giải được. Đối với những chương trình Thực tế chuyên môn thì hầu như đã được mặc định trong chương trình đào tạo, trong khi đó, những chương trình ngoại khóa này có thể thiết kế linh hoạt theo từng năm. Ban lãnh đạo khoa có thể xem xét xu hướng và lựa chọn những điểm du lịch đang trong giai đoạn phát triển của từng năm để tổ chức cho sinh viên tham gia nhằm nắm bắt tình hình thực tiễn, cũng như có cơ hội trải nghiệm. Lấy ví dụ như trong năm 2015, đảo Bình Ba (tỉnh Khánh Hòa) hay đảo Nam Du (tỉnh Kiên Giang) đang là những điểm du lịch thu hút nhiều đối tượng du khách. Do đó, khoa có thể thiết kế những chương trình ngoại khóa đến các điểm du lịch này cho sinh viên có cơ hội trải nghiệm. Điều này một mặt vừa có thể giúp cho các chương trình ngoại khóa đỡ phần nhàm chán, mặt khác vừa có thể giúp cho sinh viên nhanh chóng cập nhật tình hình phát triển của những điểm du lịch mới nổi. Biểu đồ 2.4: Mức thu nhập bình quân hàng tháng của sinh viên ngành VNH [Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015] 16% 48% 25% 11% 1 triệu -> 2 triệu 2 triệu -> 3 triệu 3 triệu -> 4 triệu > 4 triệu
  • 52. 40 Với đặc thù là trường Công lập, do vậy mà sinh viên của trường nói chung, sinh viên của ngành VNH nói riêng đa số đến từ khắp các tỉnh thành trong cả nước. Ngoài việc học, phần lớn sinh viên đều phải đi làm thêm để có thêm thu nhập chi trả cho sinh hoạt phí. Qua khảo sát, 48% sinh viên khi được hỏi có mức thu nhập trong khoảng từ 2 triệu đến 3 triệu; 25% sinh viên có mức thu nhập trong khoảng từ 3 triệu đến 4 triệu, 16% sinh viên có mức thu nhập trong khoảng từ 1 triệu đến 2 triệu, cuối cùng đối với số lượng sinh viên có mức thu nhập trên 4 triệu chỉ chiếm 11%. Với nguồn thu như vậy, rõ ràng là sinh viên rất cần những CTDL ở mức độ vừa phải về giá cả. Bởi vì như chúng ta đã biết, khi tham gia một CTDL thì ngoài số tiền phải đóng, sinh viên còn phải chi trả cho những chi phí khác trong quá trình tham gia, chẳng hạn như tiền tiêu dùng, mua sắm, các chi phí phát sinh khác,… Liên quan trực tiếp đến câu hỏi ở trên, nhóm tác giả tiếp tục đặt câu hỏi “Một chương trình du lịch có giá dao động trong khoảng bao nhiêu thì bạn đáp ứng được ?” và nhận được kết quả theo biểu đồ bên dưới. Biểu đồ 2.5: Ý kiến của sinh viên về giá bình quân của một CTDL [Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015] Theo như biểu đồ trên, lần lượt các mức giá “dưới 1 triệu” và “từ 1 đến 2 triệu” cho một CTDL được các sinh viên lựa chọn theo tỷ lệ 48% và 43%. Rất ít sinh viên (9%) có thể đáp ứng được mức giá “từ 2 đến 3 triệu” cho một CTDL. Do vậy, 48% 43% 9% 0% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% Dưới 1 triệu Từ 1 đến 2 triệu Từ 2 đến 3 triệu Trên 3 triệu
  • 53. 41 với thu nhập bình quân trong khoảng từ hai triệu đến ba triệu thì hiển nhiên, một CTDL cho sinh viên với mức giá dưới một triệu là hợp lý. Con số này phản ánh một thực tế hiện nay và không khó để lý giải, bởi vì nhu cầu thụ hưởng những SPDL với mức giá thấp luôn là một nhu cầu cần thiết đối với nhóm đối tượng khách là sinh viên. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, như đã đề cập, nhà trường không còn hỗ trợ tối đa cho sinh viên về vấn đề kinh phí thì hơn bao giờ hết, giá thành là một vấn đề mà Ban lãnh đạo khoa cần phải xem xét. Biểu đồ 2.6: Ý kiến của sinh viên về độ dài của một chương trình ngoại khóa [Nguồn: Nhóm tác giả thu được từ phiếu khảo sát năm 2015] Với mong muốn giá thành cho một CTDL trong khoảng dưới một triệu đồng thì đồng thời, 46% sinh viên cũng chấp nhận độ dài cho một chương trình tham quan trong khoảng thời gian là “2 ngày”. Điều này là chấp nhận được trong tình hình nhà trường hỗ trợ sinh viên về phương tiện vận chuyển. 30% sinh viên cho rằng độ dài hợp lý là từ ba ngày đến bốn ngày. “1 ngày” là hơi ít cho việc giải trí của sinh viên, do vậy mà chỉ có 18% sinh viên lựa chọn kết quả này. Cuối cùng, 6% sinh viên lựa chọn kết quả trên bốn ngày. Theo nhóm tác giả, các học phần Thực tế chuyên môn đều kéo dài tối thiểu là ba ngày (đối với học phần “Thực tế chuyên môn 1”), do vậy mà đối với các 0% 5% 10% 15% 20% 25% 30% 35% 40% 45% 50% 1 ngày 2 ngày 3ngày -> 4 ngày > 4 ngày 18% 46% 30% 6%
  • 54. 42 chương trình ngoại khóa thì độ dài cho một chương trình trong khoảng hai ngày là phù hợp. Biểu đồ 2.7: Ý kiến của sinh viên về thời điểm tổ chức các CTDL [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Theo như kết quả của biểu đồ trên thì phần đông sinh viên (57%) lựa chọn thời điểm “Sau thi học kỳ” để tổ chức những chuyến đi. Ý kiến cho rằng nên đi sau Tết hoặc trước Tết chiếm tỷ lệ không đáng kể, lần lượt là 19% và 24%. Điều này theo nhóm tác giả là chưa thỏa đáng và cần phải xem xét. Bởi vì mặc dù việc lựa chọn mốc thời điểm là “Sau thi học kỳ” có thể chấp nhận được vì đây là khoảng thời gian mà sinh viên tham gia các CTDL với tâm lý thoải mái nhất sau khi đã hoàn thành kỳ thi học kỳ. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, các chương trình Thực tế chuyên môn thường được tổ chức bình quân mỗi năm một lần. Do vậy, điều kiện tiên quyết để tổ chức những CTDL này là cần phải có độ giãn thích hợp. Hay nói cách khác, thời gian của những CTDL này cần phải có sự dàn trải phù hợp, tránh tổ chức quá sát với thời gian tổ chức các chương trình thực tế. Do đó, thời gian tổ chức những chương trình ngoại khóa phải phụ thuộc vào thời gian tổ chức các học phần Thực tế chuyên môn. Với tình hình thực tiễn hiện nay, khi mà chưa có sự thống nhất trong thời gian tổ chức cho sinh viên tham gia các học phần Thực tế chuyên môn thì việc lựa chọn một mốc thời gian cụ thể là “Sau thi học kỳ” là không phù hợp. 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% Trước Tết Sau Tết Trước thi học kỳ Sau thi học kỳ 24% 19% 0% 57%
  • 55. 43 Mặt khác, khi được hỏi “Mục đích chính khi tham gia các chương trình du lịch là gì ?” thì sinh viên đã có những phản hồi tích cực về nhận thức. Điều này được thể hiện qua biểu đồ bên dưới. Biểu đồ 2.8: Mục đích khi tham gia các CTDL của sinh viên [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Sở dĩ chúng tôi nhận xét đây là phản hồi tích cực về nhận thức trong sinh viên bởi vì 76% sinh viên khi được hỏi đều trả lời rằng “Kết hợp cả hai yếu tố: Vui chơi và học tập”. Nếu đây là những chương trình Thực tế chuyên môn thì không có gì để bàn cãi. Tuy nhiên, với tính chất là một chương trình ngoại khóa (mang yếu tố trải nghiệm và giải trí cao) thì việc nhận thức như trên của sinh viên là một tín hiệu khả quan. Tiếp theo, chỉ có 7% sinh viên lựa chọn ý kiến “Vui chơi là chủ yếu”; điều này cũng không khó để lý giải bởi vì với khoảng thời gian trung bình cho một chuyến đi ngoại khóa là không dài thì việc vui chơi chắc chắn được sinh viên đặt lên hàng đầu. Cuối cùng là 17% sinh viên lựa chọn kết quả “Học tập kiến thức chuyên ngành là chủ yếu”. Mặc dù điều này phản ánh một thực tiễn theo hướng lạc quan, tuy nhiên thì cũng không nên. Bởi vì, du lịch là một hoạt động cần được trải nghiệm và tích lũy dần theo thời gian. Kiến thức mặc dù quan trọng nhưng không phải là tất cả. Thêm vào đó, trong ba học phần “Thực tế chuyên môn 1/2/3” sinh viên đã được trau dồi về phương diện kiến 7% 17% 76% 0% Vui chơi là chủ yếu Học tập kiến thức chuyên ngành là chủ yếu Kết hợp cả hai yếu tố: Vui chơi và học tập Khác
  • 56. 44 thức, do vậy mà đối với các chương trình ngoại khóa, sinh viên cũng nên tham gia với tinh thần và tâm lý thoải mái nhất. Tuy nhiên, với thực trạng được khảo sát như vậy, Ban lãnh đạo khoa cũng như các nhà làm du lịch cũng nên xem xét đến việc dung hòa hai yếu tố học và chơi bằng cách phân bổ một lượng thời gian phù hợp, đồng thời đảm bảo yếu tố thông tin kiến thức hay và hoạt động vui chơi hấp dẫn. Nếu làm được điều này thì chắc chắn sẽ tạo được một SPDL phù hợp và thành công cho sinh viên. Bảng 2.9: Xu hướng lựa chọn các loại hình du lịch của sinh viên Stt Loại hình du lịch Tỷ lệ sinh viên lựa chọn 1 Du lịch văn hóa 17% 2 Du lịch sinh thái 21% 3 Du lịch biển 46% 4 Du lịch về nguồn 10% 5 Khác 6% [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Với kết quả từ bảng trên, nhóm tác giả có vài nhận xét sau: 1) Kết quả trên phản ánh một thực tế là sinh viên rất cần những CTDL liên quan đến hoạt động biển. Gần một nửa sinh viên (46%) có xu hướng lựa chọn loại hình du lịch biển. Điều này theo chúng tôi là thỏa đáng. Với đặc thù chuyên ngành VHDL, do vậy mà các chương trình Thực tế chuyên môn đều được thiết kế để sinh viên tham quan các điểm du lịch liên quan đến văn hóa, lịch sử. 2) Ngoài ra thì du lịch sinh thái cũng là loại hình du lịch tạo nhiều hứng thú cho sinh viên. Cần phải hiểu khái niệm “du lịch sinh thái” theo nghĩa chính xác nhất của nó thì mới thấy được những cái đặc sắc của loại hình du lịch này. Xem lại trong các chương trình Thực tế chuyên môn, sinh viên chỉ được tiếp cận những khu du lịch, những điểm du lịch sinh thái. Điều này chưa thể gọi là tham gia loại hình du lịch sinh thái. Do đó, đây cũng là một loại hình du lịch mà Ban lãnh đạo khoa cũng cần thiết xem xét. 3) Như đã đề cập ở trên, du lịch văn hóa là loại hình du lịch gần như là chủ đạo đối với sinh viên ngành VNH. Đây cũng là một loại hình du lịch đặc sắc, tuy
  • 57. 45 nhiên vì đã được trải nghiệm nhiều trong các học phần Thực tế chuyên môn, do vậy mà chỉ có 17% sinh viên có xu hướng lựa chọn chúng. Điều này cũng tương tự đối với loại hình du lịch về nguồn (10%). 4) Cuối cùng, đối với ý kiến là tham gia các loại hình du lịch khác, theo như kết quả khảo sát, chúng tôi nhận được một số ý kiến về các loại hình du lịch như: Du lịch mạo hiểm, du lịch leo núi, du lịch khám phá, v.v… Trong số những loại hình du lịch vừa liệt kê ở trên, có thể thấy rằng chúng không khả thi nếu đặt trong trường hợp là thiết kế CTDL ngoại khóa cho sinh viên. Bởi vì nếu thiết kế theo những loại hình du lịch đó thì sẽ có rất nhiều trường hợp phát sinh mà theo chúng tôi, vấn đề lớn nhất chính là mức độ an toàn cho sinh viên. Mặt khác, như đã xác định ngay từ đầu, SPDL là một phạm trù mà trong đó bao gồm cả dịch vụ. Hay nói cách khác, chất lượng của một SPDL được đánh giá chất lượng hay không phụ thuộc vào chất lượng của dịch vụ. Và để lấy ý kiến của sinh viên trong việc nhận định chất lượng của SPDL, nhóm tác giả cũng đã đặt những câu hỏi liên quan đến dịch vụ vận chuyển và dịch vụ tại các cơ sở lưu trú. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đồng thời khảo sát nhu cầu về các hoạt động vui chơi trong các CTDL. Ở những câu hỏi này, chúng tôi đưa ra phương án trả lời dưới hình thức thang đo theo thứ tự tăng dần. Cụ thể: Mức độ thấp nhất sẽ là “rất không ảnh hưởng”, và mức độ cao nhất sẽ là “rất ảnh hưởng”. Như vậy, căn cứ vào kết quả khảo sát, ta có thể rút ra vai trò của những dịch vụ đó trong việc đánh giá chất lượng một SPDL của sinh viên. Đây là việc làm cần thiết, bởi vì khi đã nắm bắt được nhu cầu của sinh viên thì khi đó, những người thiết kế các SPDL mới có thể đưa ra những dịch vụ phù hợp hơn để đáp ứng nhu cầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một trong số nhiều phương pháp góp phần hoàn thiện hóa các SPDL. Bởi vì SPDL là sự nhận định tổng hòa nhiều yếu tố, các dịch vụ không quyết định toàn bộ chất lượng của một SPDL. Vấn đề này trong chương 1 nhóm tác giả đã làm rõ. Biểu đồ bên dưới là kết quả mà chúng tôi đã thu được sau khi tiến hành khảo sát.
  • 58. 46 Biểu đồ 2.10: Nhận định của sinh viên về vai trò của các dịch vụ trong việc đánh giá chất lượng của SPDL [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Như vậy, quan sát vào biểu đồ 2.10, ta thấy rằng tất cả những dịch vụ về vận chuyển và lưu trú đều rất ảnh hưởng đến việc nhận định chất lượng của một SPDL. Bởi vì, ở mức độ “Rất không ảnh hưởng” và “Không ảnh hưởng” đều không có sinh 0% 50% 100% Nhu cầu về hoạt động vui chơi (gala,team building…) Dịch vụ vận chuyển Vai trò của cơ sở vật chất tại nơi lưu trú Nhu cầu về hoạt động vui chơi (gala,team building…) Dịch vụ vận chuyển Vai trò của cơ sở vật chất tại nơi lưu trú Rất không ảnh hưởng 0 0 0 Không ảnh hưởng 0 0 0 Bình thường 42% 60% 13% Ảnh hưởng 35% 25% 26% Rất ảnh hưởng 23% 15% 61%
  • 59. 47 viên nào lựa chọn. Điều này đồng nghĩa với việc những SPDL khi thiết kế cho sinh viên của khoa sau này đều phải lưu ý đến những dịch vụ này. Trước tiên, đối với vấn đề nhận định vai trò của cơ sở vật chất tại nơi lưu trú, 61% sinh viên cho rằng chúng rất ảnh hưởng đến chất lượng của một chuyến đi. 26% sinh viên cho rằng chúng chỉ ảnh hưởng ở một mức độ vừa phải, tức là sinh viên sẽ không đơn thuần dựa vào chất lượng của cơ sở vật chất tại nơi lưu trú mà đánh giá chất lượng của một SPDL là tốt hay chưa tốt. Nhận định “Bình thường” là lựa chọn trả lời có tỉ lệ thấp nhất với 13% sinh viên. Tiếp theo, đối với câu hỏi về việc nhận định của sinh viên về vai trò của dịch vụ vận chuyển trong đánh giá chất lượng SPDL thì 60% sinh viên cho rằng là ảnh hưởng ở mức độ bình thường, chiếm tỉ lệ cao nhất; tỉ lệ sinh viên lựa chọn kết quả là “Ảnh hưởng” chiếm tỉ lệ cao thứ hai với 25%; và 15% sinh viên thì chọn mức độ cao nhất là “Rất ảnh hưởng”. Như vậy, 15% sinh viên lựa chọn kết quả “Rất ảnh hưởng” có lẽ là những người thường xuyên gặp hiện tượng say xe trong quá trình vận chuyển. Thực chất đây không phải là một vấn đề hiếm hoi, điều này còn phụ thuộc vào khả năng lái xe của tài xế. Trong những năm qua, vấn đề vận chuyển là một trong những điểm mạnh mà sinh viên được hưởng quyền lợi nhiều nhất, khi mà nhà trường đã hỗ trợ toàn bộ phương tiện vận chuyển; qua đó cũng góp một phần vào việc giảm giá dịch vụ cho sinh viên. Tuy nhiên thì nhìn chung, với thực trạng nhận định như kết quả khảo sát thì thiết nghĩ cũng cần phải xem xét lại về dịch vụ vận chuyển. Bởi vì đây cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng của một SPDL. Cuối cùng, đối với nhu cầu về các hoạt động vui chơi giải trí trong CTDL, 42% sinh viên cho rằng chúng không ảnh hưởng quá nhiều đến chất lượng của SPDL; 35% sinh viên cho rằng ảnh hưởng; và thấp nhất là 23% sinh viên cho rằng chúng rất ảnh hưởng đến chất lượng của SPDL. Như vậy, có thể thấy rằng số liệu trên phản ánh một thực trạng là nhu cầu vui chơi các chương trình như gala, vận động biển trong CTDL là cần thiết. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tiễn thì theo quan điểm của chúng tôi, để đảm bảo toàn bộ các CTDL đều được tổ chức gala hoặc vận động biển là một điều không dễ, chúng chịu tác động từ quy mô (hay độ dài) của chuyến tham quan. Đối với những chương trình ngắn ngày, có lẽ là không cần thiết để tổ chức các chương trình gala. Mặt khác, đối với các chương trình vận động biển thì ta chỉ có thể tổ chức với điều kiện là ta sử dụng SPDL biển. Do vậy mà, đối với các hoạt động vận động
  • 60. 48 biển, khi thiết kế các SPDL, ta cần chú trọng hơn đến việc tổ chức vận động biển để nâng cao chất lượng SPDL. Cuối cùng, những hoạt động gala hay vận động biển, Ban lãnh đạo khoa có thể định hướng để chính sinh viên là những người đứng ra chủ động tổ chức và thực hiện những chương trình đó. Nếu làm được điều này thì một mặt, sinh viên có thể nắm bắt được quy trình cũng như kỹ năng tổ chức một chương trình gala, mặt khác sinh viên có thể rút kinh nghiệm cho bản thân mình. Điều này là có lợi cho sinh viên sau này. Vấn đề tiếp theo mà nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng cũng liên quan đến dịch vụ lưu trú. Chúng tôi đã đặt câu hỏi “Vị trí của cơ sở lưu trú mà bạn mong muốn ?” và nhận được kết quả theo sơ đồ bên dưới: Biểu đồ 2.11: Nhu cầu lựa chọn vị trí của cơ sở lưu trú của sinh viên [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Bên cạnh giá cả, vị trí của cơ sở lưu trú có ảnh hưởng rất lớn đến chuyến đi. Vì tâm lý của du khách khi đi du lịch thường thích ở những nơi thuận tiện cho việc đi lại, gần các khu vui chơi, mua sắm, các địa điểm ăn uống đặc trưng…và nơi đáp ứng được 46% 43% 0% 11% 0% 5% 10% 15% 20% 25% 30% 35% 40% 45% 50% Trung tâm thành phố Gần trung tâm Xa trung tâm Không quan tâm,ở đâu cũng được
  • 61. 49 những điều kiện đó thường chỉ có thể là vị trí trung tâm hoặc gần trung tâm của một thành phố hoặc một tỉnh. Vì vậy có đến 46% sinh viên cho rằng cơ sở lưu trú cần ở ngay trung tâm và 46% lựa chọn ở gần trung tâm. Chỉ 11% là muốn ở xa trung tâm. Mặt khác, đối với bất kì ai đi du lịch, nơi lưu trú ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần của họ trong chuyến đi và trên thực tế, các cơ sở lưu trú nằm ở trung tâm vẫn đảm bảo về chất lượng cơ sở vật chất và dịch vụ hơn so với các nơi khác nên việc sinh viên lựa chọn ở trung tâm là điều có thể lý giải được. Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, mặc dù đây là một nhu cầu chính đáng của sinh viên, thế nhưng để đảm bảo tất cả những SPDL đều có được nơi lưu trú ở một vị trí thuận lợi là điều không đơn giản. Bởi vì, vị trí tọa lạc cũng ảnh hưởng rất nhiều đến giá phòng. Và trong điều kiện giá cả là yếu tố quan trọng trong vấn đề thiết kế SPDL cho sinh viên thì việc luôn đảm bảo về vị trí cơ sở lưu trú thuận lợi không phải là điều đơn giản. Do vậy mà cần dung hòa, thiết kế và điều chỉnh các đơn vị lưu trú sao cho phù hợp và thuận tiện nhất cho sinh viên trong suốt CTDL. Tiếp theo, cũng liên quan đến vấn đề tại cơ sở lưu trú, chúng tôi đặt câu hỏi về vấn đề sức chứa trong một phòng cho sinh viên tại nơi lưu trú. Đây cũng được xem là một vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá chất lượng của SPDL. Biểu đồ 2.12: Quan điểm của sinh viên về sức chứa hợp lý trong một phòng [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Khi đi du lịch, tinh thần thoải mái là yếu tố rất quan trọng và cần thiết. Vì dù là đối tượng nào đi nữa, tâm lý thoải mái sẽ giúp cho mọi người trong chuyến đi gắn kết 15% 30% 44% 11% 1 hoặc 2 người 3 người 4 người Trên 4 người
  • 62. 50 và tạo nên một chuyến đi hoàn hảo, vui vẻ. Còn ngược lại thì dù chương trình có hay đến mức nào thì chuyến đi ấy cũng sẽ chỉ là một chuyến đi vô nghĩa. Và một vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý du khách đó là lượng người ở cùng phòng với họ. Qua biểu đồ ta có thể thấy rõ đa phần mọi người lựa chọn một phòng nên ở bốn người (chiếm tỉ lệ cao nhất với 44%), phòng ba người chiếm tỉ lệ 30%, 15% lựa chọn ở một hoặc hai người và thấp nhất là chọn ở nhiều hơn bốn người với tỉ lệ là 11%. Với các nhóm đối tượng du khách khác, số lượng người lưu trú trong một phòng theo chúng tôi là càng ít thì càng khiến họ hài lòng. Tuy nhiên, đối với số lượng khách là sinh viên thì điều này chưa hẳn là chính xác. Với đối tượng khách không phải là sinh viên, độ tuổi của những người đó có thể chênh lệch nhau, không tương đồng. Do đó mà việc cần có không gian riêng tư là một nhu cầu tất yếu. Trong khi đó, sinh viên là những người thường có độ tuổi khá tương đồng nhau, điều này dẫn đến việc tâm lý cũng tương đối giống nhau; thêm vào đó, sinh viên là những người quen biết nhau, do vậy mà các sinh hoạt cá nhân cũng không phải là vấn đề quá lớn. Tiếp theo, sở dĩ số lượng sinh viên đồng ý quan điểm bốn người trong một phòng vì đây là số lượng phù hợp. Nếu đông hơn thì vấn đề vệ sinh cá nhân sẽ bị ảnh hưởng, qua đó gián tiếp làm cho CTDL không trọn vẹn. Nói tóm lại, thông qua việc đánh giá ý kiến của sinh viên về nhu cầu sử dụng dịch vụ lưu trú, chúng tôi rút ra mấy nhận xét sau: 1) Dịch vụ lưu trú là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của một SPDL. 2) Khi thiết kế CTDL, các nhà điều hành cần lưu ý đến vấn đề về vị trí tọa lạc của cơ sở lưu trú. 3) Đối với sinh viên, cần cân đối về sức chứa trong một phòng tại cơ sở lưu trú, đảm bảo sự tiện nghi vừa phải cho sinh viên. 4) Cuối cùng, cần đảm bảo vấn đề sinh viên nắm bắt được quy trình về nghiệp vụ kiểm tra dịch vụ, nghiệp vụ nhận phòng (check in) và trả phòng (check out) tại các cơ sở lưu trú, vì đây cũng là một trong những nghiệp vụ chuyên môn.
  • 63. 51 Biểu đồ 2.13: Đánh giá của sinh viên về ảnh hưởng của dịch vụ ăn uống đến chất lượng của SPDL [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Cũng là một nội dung trong việc nhận định chất lượng của một SPDL, nhóm tác giả đã đặt câu hỏi cho sinh viên để lấy ý kiến về việc đánh giá vai trò của các yếu tố cấu thành nên chất lượng của dịch vụ ăn uống. Cụ thể, những vấn đề đó bao gồm: Thái độ phục vụ của nhân viên, không gian bày trí tại nhà hàng, vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng món ăn, giá cả,… Hiển nhiên, để đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống còn có nhiều yếu tố khác cấu thành; nhưng trong phạm vi nghiên cứu những dịch vụ này để đáp ứng nhu cầu cho đối tượng khách là sinh viên, nhóm tác giả chỉ lấy ý kiến quanh những vấn đề cơ bản và chủ yếu nhất. Biểu đồ 2.12 thể hiện kết quả khảo sát, thông qua đó, chúng tôi có một vài nhận xét về kết quả trên như sau: 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Giá cả Chất lượng món ăn Vệ sinh an toàn thực phẩm Không gian bày trí Thái độ phục vụ Giá cả Chất lượng món ăn Vệ sinh an toàn thực phẩm Không gian bày trí Thái độ phục vụ Rất không quan tâm 0% 0% 0% 0% 14% Không quan tâm 0% 0% 20% 8% 28% Bình thường 42% 10% 46% 63% 47% Quan tâm 29% 39% 6% 25% 11% Rất quan tâm 29% 51% 28% 4% 0%
  • 64. 52 a) Thứ nhất, về vấn đề thái độ phục vụ của nhân viên tại nơi ăn uống, 47% sinh viên đánh giá rằng “Bình thường”, chiếm tỉ lệ cao thứ hai (28%) là ý kiến “Không quan tâm”; lựa chọn “Rất không quan tâm” và “Quan tâm” chiếm tỉ lệ không đáng kể và tương đương nhau (lần lượt là 14% và 11%). Cuối cùng, lựa chọn “Rất quan tâm” không ai lựa chọn. Như vậy, thông qua kết quả đó ta có thể thấy, gần một nửa sinh viên cho rằng vấn đề phục vụ không phải là một vấn đề lớn tại nơi ăn uống. Tuy nhiên, điều này theo chúng tôi là chưa phù hợp. Bởi vì, sinh viên của khoa ngoài số lượng định hướng theo lữ hành, bên cạnh đó vẫn có một số lượng sinh viên không nhỏ định hướng theo mảng nhà hàng. Do vậy mà việc không quan tâm đến thái độ phục vụ của nhân viên là không nên. Thông qua những CTDL, những sinh viên có định hướng theo mảng nhà hàng có thể quan sát, học tập các kỹ năng nghiệp vụ về phục vụ bàn. Với những cơ sở ăn uống có quy mô khác nhau thì kỹ năng của nhân viên là khác biệt. Do vậy, thông qua thái độ phục vụ của nhân viên tại những nơi ăn uống khác nhau, sinh viên có thể học tập thêm về kỹ năng phục vụ trong thực tiễn, từ đó có thể phân tích và so sánh, đồng thời rút ra kinh nghiệm cho bản thân. b) Vấn đề thứ hai liên quan đến nội dung này là vấn đề không gian bày trí tại nơi ăn uống. Ông bà ta vẫn thường có câu “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, và những cơ sở ăn uống có không gian bày trí thoáng mát, sạch sẽ, thuận tiện cho du khách thường tạo cảm giác thoải mái cho thực khách. Về vấn đề này, 63% - chiếm số lượng lớn nhất lựa chọn kết quả “Bình thường”; chiếm tỉ lệ cao thứ hai, 25% sinh viên trả lời là quan tâm; 8% sinh viên lựa chọn kết quả “Không quan tâm”; 4% sinh viên lựa chọn kết quả “Rất quan tâm”, và cuối cùng không ai lựa chọn kết quả “Rất không quan tâm”. Như vậy, ta cũng thấy được vấn đề không gian bày trí tại nơi ăn uống cũng có ảnh hưởng đến việc đánh giá chất lượng SPDL. c) Tiếp theo là vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm. Có thể nói đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội hiện nay, đặc biệt trong hoạt động du lịch thì vấn đề này càng phải được chú trọng. Hiện nay, đây không đơn thuần chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam mà nó còn là vấn đề của cả thế giới. Ngộ độc thực phẩm bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như việc sử dụng hóa chất trong quá trình nuôi trồng, do vấn đề vệ sinh trong quá trình chế biến, thực phẩm bị nhiễm độc môi trường, … “Theo thống kê của Bộ Y tế, từ năm 2004 – 2009 đã có 1.058 vụ NĐTP
  • 65. 53 (nhiễm độc thực phẩm), trung bình 176,3 vụ/năm… Riêng trong năm 2010 (tính đến 20/12/2010), cả nước đã xảy ra 175 vụ ngộ độc…” [30]. Qua những số liệu thống kê trên, có thể thấy rằng đây là một vấn đề rất phức tạp. Tuy nhiên, thông qua kết quả khảo sát từ sinh viên, 46% sinh viên (chiếm tỉ lệ lớn nhất) lựa chọn kết quả “Bình thường”, 28% sinh viên xem trọng vấn đề này với lựa chọn cao nhất là “Rất quan tâm”. Và đáng lưu ý nhất là 20% sinh viên lựa chọn kết quả “Không quan tâm”, đây có thể xem như một kết quả rất đáng lưu ý. Lý giải điều này, theo chúng tôi có lẽ bắt nguồn từ tâm lý muốn được trải nghiệm ẩm thực tại các địa phương. Với tâm lý thích được khám phá, sinh viên có lẽ quan tâm đến việc trải nghiệm hơn là vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong suốt quá trình trải nghiệm SPDL, ngoài việc ăn uống theo chương trình tại các cơ sở, sinh viên còn thường xuyên trải nghiệm ẩm thực địa phương tại những gánh hàng rong hay những quán ăn đường phố. Theo chúng tôi, đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu có nguy cơ cao trong việc ngộ độc thực phẩm. Có lẽ, sinh viên cần phải nhận thức lại vấn đề này một cách nghiêm túc để tránh những trường hợp ngộ độc đáng tiếc có thể xảy ra. Liên quan đến vấn đề này, để có thể giải quyết triệt để không phải là đơn giản. Điều này phụ thuộc vào cấp quản lý, các cơ quan chức năng địa phương có sự can thiệp cần thiết. Cuối cùng, chỉ có 6% sinh viên lựa chọn ý kiến “Quan tâm”, đây là những sinh viên ý thức được tầm quan trọng của vấn đề vệ sinh thực phẩm. d) Mặt khác, cũng liên quan đến dịch vụ ăn uống, chúng tôi khảo sát về chất lượng món ăn. Thực ra đây là một vấn đề rất khó nhận định và đánh giá, vì chúng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Thời gian, không gian… Thời gian ở đây bao gồm những vấn đề như: Thời điểm tổ chức chuyến đi, xu hướng lựa chọn các món ăn theo xu hướng trong từng thời điểm khác nhau, … Còn về không gian, đó là những vấn đề về: Yếu tố văn hóa, yếu tố vùng miền, khẩu vị của du khách, v.v… Do vậy, trong khái niệm “chất lượng” ở đây, ta cần phải hiểu ở mức độ tương đối; đó chính là việc kết hợp và dung hòa nhiều yếu tố, từ không gian, thời gian, thực đơn và cách bố trí sao cho tạo cho du khách sự tiện nghi tối đa. Còn đối với nghĩa tuyệt đối thì không dễ để du khách có được sự hài lòng tuyệt đối về những món ăn đó vì như đã đề cập, mỗi người có những trải nghiệm và cảm nhận khác nhau, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đã nói ở trên.
  • 66. 54 Qua khảo sát, 51% sinh viên lựa chọn kết quả “Rất quan tâm”, chiếm tỉ lệ cao nhất. Ý kiến “Quan tâm” chiếm vị trí thứ hai với 39% số người lựa chọn. Cuối cùng là 10% số người lựa chọn ý kiến “Bình thường”. Như vậy, khi thiết kế SPDL cho sinh viên, nhà điều hành cần đảm bảo nguyên tắc sau: Đảm bảo có được những món ăn đặc sản tại địa phương, đồng thời phải lựa chọn những món ăn phổ biến, đảm bảo tất cả du khách đều dùng được (ví dụ như món trứng chiên, canh chua, …). Nếu làm tốt điều này thì SPDL nói chung sẽ nâng cao được giá trị và chất lượng. e) Vấn đề cuối cùng liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống chính là giá cả. Qua khảo sát, 42% sinh viên lựa chọn kết quả “Bình thường”. Còn đối với kết quả “Quan tâm” và “Rất quan tâm” có tỉ lệ sinh viên lựa chọn bằng nhau (29%). Một thực tế chắc chắn là đối với nhóm đối tượng du khách là sinh viên, giá luôn là một vấn đề được đặt lên hàng đầu. Do vậy mà theo nhóm tác giả, đây chính là vấn đề nan giải nhất trong dịch vụ ăn uống. Đối với những nhóm đối tượng du khách khác, họ sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn để có được sự trải nghiệm về ẩm thực cao cấp, phù hợp với khẩu vị của họ. Tuy nhiên, đối với sinh viên thì không thể. Vấn đề kết hợp giữa chất lượng món ăn với giá cả phù hợp là một việc làm cần sự linh hoạt từ phía điều hành. Làm sao để có thể đảm bảo mức giá vừa phải, chất lượng món ăn tương đối chính là mục đích cuối cùng khi thiết kế SPDL cho sinh viên. Nói tóm lại, với kết quả khảo sát trên, nhóm tác giả rút ra những đặc điểm sau: 1) Dịch vụ ăn uống là một phần quan trọng trong đánh giá chất lượng SPDL nói chung. 2) Sinh viên cần thay đổi nhận thức về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. 3) Sinh viên phải tận dụng cơ hội xem xét vấn đề học tập kỹ năng, nghiệp vụ về nhà hàng. 4) Đảm bảo yếu tố dung hòa về giá cả lẫn chất lượng món ăn trong hoạt động ăn uống khi thiết kế các SPDL cho sinh viên. Như đã xác định ngay từ đầu, SPDL thiết kế cho sinh viên có những đặc thù nhất định, điều này đồng nghĩa với việc bắt buộc sinh viên phải nắm bắt được một số kiến thức và kỹ năng chuyên ngành. Sinh viên khi đến các điểm tham quan không đơn thuần là đi vì mục đích nhìn, xem, chụp ảnh đơn thuẩn, mà mục tiêu của sinh viên cần đạt đến chính là nắm bắt một số vấn đề chuyên môn. Những vấn đề đó có thể là: Nắm bắt, cập nhật tình hình giá vé tại các điểm tham quan; khảo sát các dịch vụ bổ sung tại
  • 67. 55 các điểm, v.v… Do đó, để làm rõ vấn đề này thì nhóm tác giả đã đặt câu hỏi “Bạn quan tâm vấn đề gì khi đến một điểm tham quan ?”. Kết quả thu về được thể hiện qua biểu đồ bên dưới: Biểu đồ 2.14: Những vấn đề sinh viên quan tâm khi đến điểm tham quan [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Thông qua biểu đồ trên, ta dễ dàng nhận thấy nhu cầu “Tiếp cận các thông tin thuyết minh tại điểm” được số đông lựa chọn với 54%; 37% sinh viên lựa chọn việc khảo sát dịch vụ, ít hơn là kết quả “Không quan tâm”. Như vậy, đối với những sinh viên lựa chọn vấn đề tiếp cận thông tin thuyết minh và khảo sát dịch vụ có thể là những sinh viên định hướng theo mảng lữ hành. Còn đối với kết quả “Không quan tâm” có thể là những sinh viên không theo mảng lữ hành. Tuy nhiên, dù theo hướng nào đi chăng nữa thì việc thu nạp thêm kiến thức là điều cần thiết. Ban lãnh đạo khoa để nắm bắt tình hình này có thể yêu cầu sinh viên trình bày thêm phần báo cáo dịch vụ tại các điểm sau các chương trình thực tế. Nói tóm lại, đối với nhu cầu này, sinh viên chủ yếu tập trung vào hai vấn đề khi tham quan tại các điểm, một là tiếp cận thông tin và hai là khảo sát dịch vụ. Do đó, đối với nhà điều hành, khi thiết kế SPDL cho sinh viên, cần lưu ý độ giãn khi tham quan 37% 54% 2% 7% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% Khảo sát dịch vụ tại các điểm du lịch Tiếp cận các thông tin thuyết minh tại điểm Không quan tâm vì địa điểm tham quan có trong chương trình Khác
  • 68. 56 tại các điểm để hai nhu cầu kể trên có thể thực hiện được. Một CTDL khi thiết kế không cần quá dày đặc, cần thiết kế như thế nào để tại mỗi điểm, sinh viên thực sự có thể tiếp thu và nắm bắt dịch vụ tại những điểm đó một cách chắc chắn. Biểu đồ 2.15: Mong muốn đạt được sau chuyến đi của sinh viên [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Về nguyên tắc, tất cả du khách khi đi du lịch đều mong muốn đạt được một mục đích nào đó; đây cũng chính là lý do hình thành nên các loại hình du lịch như trong chương 1 nhóm tác giả đã đề cập. Đối với sinh viên cũng tương tự như thế. Qua biểu đồ 2.14, nhóm tác giả rút ra một vài nhận xét sau: a) “Trải nghiệm thực tiễn” là mục tiêu khi tham gia trải nghiệm các SPDL được nhiều sinh viên lựa chọn nhất với tỉ lệ 52%. Điều này là hợp lý và có thể lý giải được. Như đã đề cập, sinh viên trong quá trình học tập đã được cung cấp hệ thống lý thuyết, và để kiểm nghiệm những gì đã được học trong thực tế thì việc tham gia các CTDL là điều cần thiết. Và đây cũng được xem như mong muốn thiết yếu nhất của sinh viên khi trải nghiệm các SPDL. b) Tiếp theo là lựa chọn “Tích lũy kiến thức chuyên ngành” và “Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch” lần lượt chiếm tỉ lệ 22% và 19%. Hai mục tiêu này có tỉ lệ lựa chọn gần bằng nhau. Đặc biệt, đối với mục tiêu đi để thỏa mãn nhu cầu đi du lịch thì đây là 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch Trải nghiệm thực tiễn Tích lũy kiến thức chuyên ngành Khác 19% 52% 22% 7%
  • 69. 57 mục tiêu không riêng gì đối với sinh viên, đối với những nhóm đối tượng khách khác thì đây cũng là mục tiêu của họ. Về vấn đề tích lũy kiến thức chuyên ngành thì đây là một mục tiêu đặc thù của sinh viên ngành du lịch nói chung, sinh viên ngành VNH khoa QHQT nói riêng. Bởi vì khi trải nghiệm SPDL, trừ một số loại hình du lịch đặc thù như du lịch nghiên cứu, hầu hết nhu cầu tích lũy kiến thức chỉ là một nhu cầu thứ yếu. Điều quan trọng nhất khi trải nghiệm SPDL của du khách là tìm sự thoải mái, giảm áp lực công việc. Tóm lại, với đặc trưng ngành nghề, việc sinh viên mong muốn trải nghiệm thực tiễn là điều dễ hiểu. Đối với ngành Du lịch, thì chỉ có đi nhiều, có kinh nghiệm thực tiễn nhiều thì sẽ tạo dựng cho mình vốn kiến thức cũng như kỹ năng vững vàng để khi ra trường có điều kiện tốt để tìm kiếm việc làm cũng như làm tốt công việc của mình. Biểu đồ 2.16: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của sinh viên [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Nhu cầu tiếp theo mà nhóm tác giả khảo sát để lấy ý kiến liên quan đến nguồn hướng dẫn viên du lịch. Nếu trên lớp, giảng viên là người cung cấp kiến thức cho sinh 41% 45% 12% 2% Có kiến thức sâu rộng Có khả năng hoạt náo tốt Nắm vững nghiệp vụ Khác 0% 10% 20% 30% 40% 50%
  • 70. 58 viên, thì đối với những CTDL, đội ngũ hướng dẫn viên được xem như những người thầy của sinh viên. Đây là đội ngũ có nhiệm vụ cung cấp kiến thức, kỹ năng chuyên ngành cho sinh viên trong quá trình tham gia các CTDL. Tại Chương 1, điều 4, khoản 15 của luật Du lịch (2005) có định nghĩa sau: “Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch theo chương trình du lịch. Người thực hiện hoạt động hướng dẫn được gọi là hướng dẫn viên và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn du lịch” [18: 8 - 9]. Ngoài ra, tại Chương VII, điều 73, khoản 1 của luật Du lịch cũng quy định: “… Hướng dẫn viên được hành nghề khi có thẻ hướng dẫn viên và có hợp đồng với doanh nghiệp lữ hành…” [18: 62]. Như vậy, yếu tố tiên quyết để lựa chọn hướng dẫn viên cho sinh viên là phải có thẻ hướng dẫn. Mặt khác, hiện nay theo thống kê không chính thức, cả nước hiện nay có hơn 15.000 hướng dẫn viên (trong đó có 6.000 hướng dẫn viên du lịch quốc tế) [28], điều này tạo nên một ưu điểm trong việc lựa chọn hướng dẫn viên cho sinh viên; tuy nhiên thì đây cũng là một bất lợi. Ưu điểm ở đây chính là việc không khó để tìm được những hướng dẫn viên giỏi cho các CTDL cho sinh viên. Nhưng điểm bất lợi ở đây chính là việc không đảm bảo được chất lượng của những hướng dẫn viên khi lựa chọn. Thực trạng hiện nay, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì việc được cấp thẻ hướng dẫn viên không phải là quá khó, chính điều này dẫn đến việc không đảm bảo chất lượng chuyên môn của đội ngũ hướng dẫn viên. Theo như kết quả khảo sát được thể hiện trên biểu đồ, tỉ lệ sinh viên lựa chọn hướng dẫn viên với đặc điểm “Có khả năng hoạt náo tốt” và “Có khả năng kiến thức sâu rộng” chiếm cao nhất với tỉ lệ lần lượt là 45% và 41%. Kết quả này theo chúng tôi là phù hợp. Với đặc điểm tâm lý là thanh niên, do vậy mà yếu tố vui chơi trong CTDL là một nhu cầu chính đáng. Mặt khác, thông qua sự hoạt náo của hướng dẫn viên, sinh viên cũng có thể học hỏi thêm khả năng hoạt náo, đây cũng được xem như là một trong những kỹ năng nghề quan trọng mà sinh viên không được học trong chương trình đào tạo. Bên cạnh đó, với đặc thù là cần được cung cấp kiến thức, ngoài khả năng hoạt náo thì hướng dẫn viên cũng cần phải là một người có một lượng kiến thức sâu rộng để có thể cung cấp cho sinh viên những kiến thức chuyên ngành. Chỉ có 12% sinh viên lựa chọn hướng dẫn viên nắm chắc nghiệp vụ. Theo chúng tôi thì đây cũng là một nhu cầu quan trọng khi lựa chọn hướng dẫn viên, nhưng đối với sinh viên thì chúng không quan trọng bằng hai vấn đề trên. Thấp nhất là 2% sinh viên lựa chọn kết quả
  • 71. 59 “Khác”. Đây có thể là yêu cầu của sinh viên đối với hướng dẫn viên về những vấn đề như: Tính cách vui vẻ, trẻ trung, năng động, v.v… Với kết quả khảo sát nhu cầu của sinh viên như vậy, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để tìm được nguồn hướng dẫn viên theo nhu cầu mong muốn của sinh viên ? Theo quan điểm của chúng tôi, việc lựa chọn hướng dẫn viên cũng cần phải tùy thuộc vào tính chất và qui mô của SPDL mà sinh viên trải nghiệm. Chẳng hạn như đối với những CTDL là ngoại khóa thì hướng dẫn viên nên là những người năng động, có khả năng hoạt náo tốt, vì SPDL dạng như vậy hướng đến mục tiêu của sinh viên là thoải mái. Còn đối với những CTDL là những học phần thực tế thì ngược lại nên lựa chọn những hướng dẫn viên có mảng kiến thức là thế mạnh. Nhóm tác giả đề xuất việc lựa chọn đội ngũ hướng dẫn viên là những sinh viên của khoa đã tốt nghiệp. Làm việc này sẽ có những ưu điểm sau: Thứ nhất, Ban lãnh đạo khoa có thể nắm bắt năng lực của những cựu sinh viên này để lựa chọn cho phù hợp tùy vào tính chất của từng SPDL. Thứ hai, việc lựa chọn hướng dẫn viên từng là sinh viên của khoa sẽ tạo tâm lý hứng thú, tạo động lực cho những sinh viên của khoa cố gắng phấn đấu. Cuối cùng, việc lựa chọn đội ngũ hướng dẫn viên là cựu sinh viên của khoa có thể tạo điều kiện cho những cựu sinh viên này có điều kiện tiếp cận thực tiễn và nâng cao tay nghề của chính bản thân mình. Thực chất, trong những năm qua, việc lựa chọn hướng dẫn viên là những cựu sinh viên của khoa đã được Ban lãnh đạo khoa áp dụng. Tuy nhiên, việc áp dụng này chưa thực sự hiệu quả, bởi vì việc phân tích năng lực của hướng dẫn viên vẫn chưa được tiến hành triệt để. Do vậy, với đề xuất của nhóm tác giả, rất cần thiết để lựa chọn lại đội ngũ hướng dẫn viên tùy thuộc vào năng lực, cũng như qui mô và tính chất của CTDL để phù hợp hơn, qua đó góp phần vào việc đạt được mục tiêu cao nhất chính là nâng cao chất lượng của SPDL. Như vậy, nhóm tác giả đã lần lượt khảo sát chi tiết các nhu cầu về dịch vụ của sinh viên. Và để có cái nhìn tổng quát nhất của sinh viên về vấn đề nhận định, đánh giá vai trò của từng nhóm nhu cầu đối với việc đánh giá chất lượng của một SPDL, chúng tôi đã đặt câu hỏi “Một sản phẩm du lịch hoàn thiện, theo bạn tầm quan trọng của những nhu cầu sau ở mức độ nào ?” và nhận được kết quả theo biểu đồ bên dưới:
  • 72. 60 Biểu đồ 2.17: Ý kiến của sinh viên về tầm quan trọng của các nhu cầu trong đánh giá chất lượng SPDL [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Qua biểu đồ, nhìn chung ta thấy rằng tất cả các nhóm nhu cầu đều nằm trong các thang đo từ bình thường đến rất quan trọng, trong đó thì mức độ “Quan trọng” được phần đông sinh viên lựa chọn. Cả bốn nhu cầu đều chọn kết quả “Quan trọng” với tỉ lệ gần bằng 2/3 kết quả khảo sát. Như vậy ta có thể khẳng định những nhu cầu này đều có sự tác động đến việc nhận định chất lượng của một SPDL. Việc phân tích từng nhu cầu này, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích ở phần trên của đề tài. Do đó mà chúng tôi sẽ không phân tích lại. Biểu đồ này chỉ giúp chúng ta có cái nhìn khái quát nhất về những nhu cầu của sinh viên trong việc đánh giá chất 0% 0% 0% 3% 14% 27% 18% 10% 75% 60% 62% 79% 11% 13% 20% 8% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Giá cả Chương trình du lịch Các dịch vụ Tiếp cận thực tiễn rất không quan trọng không quan trọng bình thường quan trọng rất quan trọng
  • 73. 61 lượng của SPDL mà thôi. Như vậy thì khi thiết kế và xây dựng các SPDL cho sinh viên sau này, nhà điều hành cần xem xét lại vấn đề dung hòa cả bốn nhu cầu trên. Đối với những nội dung mà chúng tôi khảo sát ở trên chỉ dừng lại ở mức lấy ý kiến một cách khái quát nhất. Do vậy, để làm rõ hơn nữa những nhu cầu mà sinh viên cho rằng thiết yếu, trong bảng khảo sát, nhóm tác giả đã đặt câu hỏi để cho sinh viên có những ý kiến cũng như kiến nghị cụ thể. Kết quả đạt được sau khảo sát là tổng cộng 17/89 phiếu có nêu ý kiến và đề xuất kiến nghị thêm từ phía sinh viên. Mặt khác, để tiện cho việc phân tích và thống kê ý kiến của sinh viên, căn cứ vào những ý kiến, quan điểm cũng như đề xuất của sinh viên, nhóm tác giả tạm phân nhóm các nhu cầu đó theo bảng bên dưới: Bảng 2.18: Một số kiến nghị, đánh giá bổ sung của sinh viên trong việc thiết kế SPDL Stt Nội dung kiến nghị Số phiếu góp ý15 1 Về CTDL 10 2 Về dịch vụ lưu trú 3 3 Về trau dồi kỹ năng, nghiệp vụ chuyên ngành 2 4 Về một số nội dung khác 3 [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015] Như vậy, thông qua bảng trên, ta thấy phần đông sinh viên có ý kiến về CTDL. Cụ thể, một số ý kiến chúng tôi thu được về vấn đề này có thể kể đến như: Lịch trình tour quá dày đặc; có sự trùng lặp giữa các điểm tham quan; thời gian tham quan không đủ dành cho sinh viên; giảm bớt những điểm tham quan là đền chùa, đồng thời cho sinh viên tham quan những điểm vui chơi giải trí nhiều hơn; một số điểm du lịch bị cắt; … Lý giải điều này, theo nhóm tác giả nguyên nhân bắt nguồn từ việc chưa xác định loại hình du lịch trước khi thiết kế CTDL. Như trong chương 1 nhóm tác giả đã phân tích, loại hình du lịch – SPDL – CTDL là ba vấn đề có tính quá trình sâu sắc, do đó mà việc thiết kế các CTDL chưa phù hợp là điều hiển nhiên. Mặt khác, cũng xuất phát từ vấn đề không xác định loại hình du lịch ngay từ đầu, việc lựa chọn các điểm tham quan có sự trùng lặp khá nhiều (chẳng hạn như việc tham quan có nhiều đền chùa). Điều này dẫn đến tâm lý nhàm chán cho sinh viên. Như vậy, để có thể thiết kế 15 : Một số phiếu đồng thời góp ý nhiều nội dung.
  • 74. 62 những SPDL mang tính đặc trưng sâu sắc, nhóm tác giả xin khẳng định lại quan điểm của chúng tôi, đó là phải xác định loại hình du lịch chủ đạo trước, sau đó mới thiết kế các SPDL đặc trưng; cuối cùng mới thiết kế các CTDL dựa trên SPDL đó. Vấn đề tiếp theo mà sinh viên kiến nghị và đề xuất liên quan đến dịch vụ lưu trú. Hai vấn đề mà sinh viên đã góp ý bao gồm: Số lượng sinh viên ở một phòng quá đông (8 sinh viên/phòng), “Khách sạn cần phải có chất lượng hợp với giá tiền mà sinh viên đã đóng”. Đối với ý kiến thứ nhất, theo nhóm tác giả thì đây là một nhu cầu chính đáng cần phải xem xét. Trong một CTDL dài ngày (chẳng hạn như chương trình xuyên Việt), việc một phòng có quá đông sẽ gây khó khăn trong việc đảm bảo thời gian cho sinh viên trong việc tập trung và tham quan các điểm vì vấn đề vệ sinh cá nhân. Còn về ý kiến thứ hai, theo nhóm tác giả là ý kiến này cần phải xem xét lại. Như đã đề cập, trước đây sinh viên vốn đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ nhà trường trong việc sử dụng dịch vụ trong các CTDL. Do vậy mà ý kiến “Khách sạn cần phải có chất lượng hợp với giá tiền mà sinh viên đã đóng” là không phù hợp. Nhưng ở dịch vụ lưu trú này, chúng tôi muốn đề cập một vấn đề mà chúng có ý nghĩa rất lớn cho sinh viên trong việc tiếp cận thực tiễn. Vấn đề mà chúng tôi đề cập chính là trong những SPDL dành cho sinh viên, rất cần thiết trong việc tạo điều kiện cho sinh viên trải nghiệm các dịch vụ ở những mức độ khác nhau. Chẳng hạn như đối với dịch vụ lưu trú, trong một CTDL cần cố gắng để sinh viên lưu trú trong mọi loại hình lưu trú, từ nhà nghỉ đến khách sạn 1 sao, 2 sao và thậm chí là 3 sao. Đây là một việc làm quan trọng để qua đó, tự thân mỗi sinh viên sẽ có những trải nghiệm cá nhân, cũng như được tạo cơ hội tiếp xúc với thực tiễn và rút ra kinh nghiệm cho cá nhân. Bởi vì như ta đã biết, ở mỗi cơ sở lưu trú khác nhau sẽ có những dịch vụ, tiêu chuẩn khác nhau. Nếu chỉ đơn thuần lưu trú tại những cơ sở là nhà nghỉ hay khách sạn 1 sao, sinh viên sẽ rất khó có thể nắm bắt được tại những cơ sở lưu trú cao cấp hơn. Còn ngược lại, nếu chỉ lưu trú tại những cơ sở cao cấp thì kinh phí chính là rào cản lớn nhất. Nhu cầu thứ ba mà sinh viên có đề xuất bổ sung ý kiến chính là vấn đề trau dồi kỹ năng, nghiệp vụ chuyên ngành. Với nhóm ý kiến này, chúng tôi nhận được một số phản hồi và đề nghị sau từ sinh viên: “Hướng dẫn viên chưa chỉ rõ cho sinh viên các nghiệp vụ và lời nhắc cần thiết liên quan đến lĩnh vực nhà hàng, khách sạn khi vào ở, ăn uống tại nơi đến”, hay như ý kiến cho rằng “Khi tham gia học phần thì cần dạy cho các bạn theo ngành du lịch nhiều hơn (chào đoàn như thế nào, tuyến đường, …)
  • 75. 63 tạo cơ hội thực hành ngay. Riêng các bạn theo nhà hàng – khách sạn cũng cần tạo điều kiện thực hành theo chuyên ngành (cho so sánh các nhà hàng, khách sạn, …)”. Như vậy, đây chính là nhu cầu “tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành” mà ngay từ đầu nhóm tác giả đã nhận định. Thực ra, đây là một trong những mục đích chính yếu khi thiết kế các CTDL như vậy cho sinh viên. Tuy nhiên, trong thực tế thì lại không đáp ứng được. Là một sinh viên đã từng trải nghiệm những CTDL do khoa tổ chức, cá nhân nhóm tác giả cũng cho rằng đây là một ý kiến góp ý thỏa đáng của sinh viên. Hầu hết hướng dẫn viên khi đi với sinh viên đều tập trung rất nhiều vào mảng kiến thức chuyên ngành (chẳng hạn như việc cung cấp thông tin thuyết minh tuyến, điểm), nhưng ngược lại thì hầu như “bỏ sót” nhiệm vụ chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho sinh viên. Chính vì lý do đó mà hầu hết sinh viên sau khi tham gia những CTDL này về vẫn còn rất mơ hồ về nghiệp vụ chuyên môn (chẳng hạn như cách đứng trên xe, cách thuyết minh, cách cầm micro, thủ tục check in và check out khách sạn, v.v…). Do vậy, Ban lãnh đạo khoa cũng cần xem xét lại vấn đề này để trao đổi thêm với bộ phận hướng dẫn viên sau này để sinh viên có điều kiện nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng chuyên ngành. Nội dung cuối cùng chính là tập hợp những ý kiến đơn lẻ về các dịch vụ hay những vấn đề khác từ phiếu khảo sát mà chúng tôi thu được. Cụ thể, nhóm tác giả thu về thêm những ý kiến: “Tăng nước uống cho sinh viên”, “Giảm giá tour”, “Thái độ giao tiếp ứng xử của điều hành nên thân thiện hơn với sinh viên”. Với những ý kiến và kiến nghị này, theo chúng tôi thì kiến nghị tăng nước uống cho sinh viên là phù hợp và thỏa đáng, hay nói cách khác là nên đưa tiêu chuẩn 2 chai nước/ngày cho sinh viên. Về hai vấn đề còn lại thì có lẽ cũng chưa thỏa đáng, bởi vì: Thứ nhất, khoa đã tạo mọi điều kiện để giá thành của một chương trình ở mức thấp nhất. Thứ hai, với vai trò của một điều hành thì thiết nghĩ, việc giữ khoảng cách với sinh viên để đảm bảo tính kỷ luật là việc làm cần thiết. Như vậy, nhóm tác giả đã hoàn thành việc phân tích những số liệu bằng phương pháp định tính và định lượng thông qua việc khảo sát lấy ý kiến của sinh viên. Tuy nhiên, để có cái nhìn rõ nét hơn về những đặc thù trong nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, nhóm tác giả tiến hành thêm một thao tác, đó là việc so sánh và đối chiếu những nhu cầu này giữa sinh viên ngành VNH khoa QHQT
  • 76. 64 với những sinh viên khoa ngoài của ĐHSG. Kết quả so sánh và phân tích được trình bày trong phần sau của công trình. 2.2.2.2. So sánh với sinh viên khoa khác Đối với sinh viên khoa ngoài, nhóm tác giả phát ngẫu nhiên 50 phiếu khảo sát và thu về kết quả là 42 phiếu hợp lệ16 . Nội dung câu hỏi sẽ được rút gọn. Chúng tôi tập trung đặt những câu hỏi chủ yếu liên quan đến việc đánh giá chất lượng các dịch vụ. Vì mục tiêu của công trình là làm rõ những đặc thù trong nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, do đó mà những số liệu mà nhóm tác giả thu về từ việc khảo sát sinh viên ngoài ngành VNH chỉ được sử dụng để so sánh và đối chiếu với kết quả của sinh viên trong khoa. Do đó, chúng tôi sẽ không đi sâu lý giải và phân tích định lượng những kết quả này. Những câu hỏi trong mẫu phiếu khảo sát dành cho đối tượng là sinh viên khoa ngoài17 bao gồm những nội dung: Độ dài của một chương trình du lịch, mục đích và mong muốn khi tham gia các CTDL này, quan điểm lựa chọn hướng dẫn viên, đánh giá vai trò của một số dịch vụ trong việc nhận định chất lượng của SPDL. Theo chúng tôi, những vấn đề trên là những nhu cầu cơ bản nhất mà bất kỳ nhóm đối tượng du khách nào cũng quan tâm. Do đó, nhóm tác giả lựa chọn những câu hỏi theo nội dung đã liệt kê ở trên để tiến hành khảo sát và có sự so sánh đối chiếu với kết quả của sinh viên ngành VNH khoa QHQT. 16 : Cách công nhận phiếu hợp lệ cũng tương tự như cách công nhận phiếu hợp lệ dành cho sinh viên ngành VNH ở trên. 17 : Xem Phụ lục 2.
  • 77. 65 Bảng 2.19: So sánh nhu cầu giữa sinh viên ngành VNH với sinh viên ngoài khoa trong việc lựa chọn SPDL Nội dung khảo sát Kết quả khảo sát SV ngoài khoa SV ngành Việt Nam học Độ dài của một chương trình du lịch hợp lý 1 ngày 2 ngày 3 ngày -> 4 ngày >4 ngày 1 ngày 2 ngày 3 ngày -> 4 ngày >4 ngày 31% 45% 24% 0% 18% 46% 30% 6% Mục đích khi tham gia các chương trình du lịch Vui chơi Học tập Vừa vui chơi lẫn học tập Mục đích khác Vui chơi Học tập Vừa vui chơi lẫn học tập Mục đích khác 74% 0% 19% 7% 7% 17% 76% 0% Số người lưu trú trong một phòng ≤ 2 3 4 >4 ≤ 2 3 4 >4 0% 19% 62% 19% 15% 30% 44% 11% Vấn đề quan tâm khi đến điểm tham quan Khảo sát dịch vụ Tiếp cận thông tin Không quan tâm Khác Khảo sát dịch vụ Tiếp cận thông tin Không quan tâm Khác 12% 62% 21% 5% 37% 54% 2% 7%
  • 78. 66 Mong muốn sau chuyến đi Thỏa mãn nhu cầu Trải nghiệm thực tiễn Tích lũy kiến thức Khác Thỏa mãn nhu cầu Trải nghiệm thực tiễn Tích lũy kiến thức Khác 64% 31% 0% 5% 19% 52% 22% 7% Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên Có kiến thức Hoạt náo tốt Nghiệp vụ vững Khác Có kiến thức Hoạt náo tốt Nghiệp vụ vững Khác 29% 64% 0% 7% 41% 45% 12% 2% [Nguồn: Nhóm tác giả thu về từ phiếu khảo sát năm 2015]
  • 79. 67 Bảng 2.18 đã tổng hợp và giúp chúng ta có cái nhìn so sánh giữa một số nhu cầu trong việc lựa chọn SPDL của sinh viên các khoa ngoài với sinh viên ngành VNH khoa QHQT. Thông qua đó, ở các nhu cầu khác nhau, ta thấy tỉ lệ lựa chọn của sinh viên cũng khác nhau. Điều này nằm trong dự đoán của nhóm tác giả và có thể lý giải được. Trước tiên, đối với nhận định độ dài của một chuyến đi, đối với sinh viên ngành VNH khoa QHQT thì lựa chọn độ dài một chuyến đi trong 2 ngày và trong khoảng 3 ngày đến 4 ngày là lựa chọn chiếm ưu thế hơn cả, trong khi đó thì đối với những sinh viên khoa ngoài, lựa chọn 2 ngày và 1 ngày cho một chuyến đi chiếm tỉ lệ nhiều nhất (lần lượt là 45% và 31%); 24% sinh viên các khoa ngoài lựa chọn độ dài trong khoảng từ 3 ngày đến 4 ngày, và không có sinh viên nào lựa chọn độ dài trên 4 ngày cho một chuyến đi. Như vậy, ở nhu cầu này, so với sinh viên ngành VNH khoa QHQT thì rõ ràng sinh viên các khoa ngoài không có nhu cầu đi dài ngày, mục đích quan trọng nhất của các chuyến du lịch này của sinh viên là được thư giãn, không phải đi vì mục đích học tập chuyên môn. Tiếp theo, ở câu hỏi và mục đích tham gia các CTDL, 74% - chiếm tỉ lệ cao nhất sinh viên lựa chọn kết quả chủ yếu là vui chơi. Điều này có sự khác biệt đối với ý kiến của sinh viên ngành VNH khoa QHQT (cao nhất là lựa chọn kết hợp việc chơi và học). Nếu sinh viên ngành VNH khoa QHQT tham gia các CTDL để tìm sự trải nghiệm thực tiễn của nghể trong tương lai thì bên cạnh đó, với việc tham gia các CTDL (ngoại khóa) của sinh viên khoa ngoài thì nó chỉ đơn thuần là đi để giải trí, mang yếu tố nâng cao tinh thần đoàn kết hơn là học tập. Tuy nhiên thì song song bên cạnh đó, cũng có 17% sinh viên lựa chọn kết quả vừa chơi vừa học, có lẽ đây là những sinh viên đến từ những khoa có liên quan ít nhiều đến ngành du lịch (chẳng hạn như sinh viên các ngành như Ngôn ngữ Anh, Sư phạm Địa lí, …). Vấn đề tiếp theo, nhóm tác giả khảo sát về dịch vụ lưu trú. Theo kết quả của bảng trên thì chiếm tỉ lệ ý kiến cao nhất của sinh viên là 4 người trong một phòng với 69%. Ở lựa chọn 3 người và hơn 4 người một phòng chiếm tỉ lệ bằng nhau (19%). Thoạt nhiên thì kết quả này khá bất ngờ, tuy nhiên có thể lý giải được. Với đặc thù của các khoa khác nhau (không phải ngành VNH) thì việc được tham gia đi du lịch trong những năm đào tạo là không nhiều. Do vậy mà những tour du lịch dành cho sinh viên là dịp để sinh viên có thể thân nhau hơn. Do đó mà số lượng sinh viên trong một
  • 80. 68 phòng không phải là vấn đề gây băn khoăn cho sinh viên. Trong khi đó, nói lại về sinh viên của ngành VNH, vì đặc thù ngành học mà do vậy, việc thường xuyên tham gia các CTDL và sử dụng dịch vụ lưu trú với mật độ đông sẽ gây cảm giác khó chịu cho sinh viên. Khi đến một điểm tham quan thì nhu cầu học hỏi, tiếp cận thông tin thuyết minh và khảo sát dịch vụ là những ưu tiên hàng đầu của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, vì những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp sau này của mình. Trong khi đó thì với sinh viên những khoa khác, bên cạnh nhu cầu về nghỉ dưỡng, thỏa mãn nhu cầu đi du lịch thì việc mở mang kiến thức là cần thiết. Do đó mà lựa chọn “Tiếp cận thông tin” chiếm 62% số người lựa chọn; 21% lựa chọn kết quả “Không quan tâm” là những sinh viên muốn được tự do tham quan, chụp ảnh và không cần được cung cấp thông tin tại những điểm tham quan. Cũng liên quan đến vấn đề này, thêm một sự so sánh để thấy sự khác nhau giữa sinh viên khoa ngoài với sinh viên ngành VNH khoa QHQT. Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch là mục đích chủ yếu và chiếm tỉ lệ lựa chọn cao nhất của sinh viên với 61%, trong khi đó thì 52% sinh viên ngành VNH khoa QHQT mong muốn trải nghiệm thực tiễn khi tham gia các CTDL. Ngoài ra, với sinh viên khoa ngoài thì lựa chọn có tỉ lệ cao thứ hai là “Trải nghiệm thực tiễn” với 31%, còn với sinh viên ngành VNH khoa QHQT thì lại là “Tích lũy kiến thức” với 22%. Nhu cầu cuối cùng, theo chúng tôi cũng là một trong những điểm nhấn trong vấn đề làm rõ nhu cầu đặc thù của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, đó chính là nhu cầu về việc lựa chọn hướng dẫn viên. Kỹ năng hoạt náo tốt được đa số sinh viên khoa ngoài lựa chọn với 69%, nhu cầu về kiến thức chỉ có 29% sinh viên lựa chọn. Rõ ràng là với tâm thế đi du lịch để nghĩ dưỡng thì rõ ràng hướng dẫn viên mà sinh viên cần là người có thể đem đến sự vui nhộn, thoải mái trong suốt hành trình. Điều này khác với sinh viên ngành VNH khoa QHQT, khi mà việc cần được trang bị kiến thức là quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Thêm vào đó, đối với sinh viên ngành VNH khoa QHQT thì kỹ năng hoạt náo của hướng dẫn viên cũng cần được sinh viên học hỏi, không đơn thuần chỉ là vui chơi mà như đã đề cập, hoạt náo cũng là một trong số những kỹ năng cần thiết của một hướng dẫn viên. Nói tóm lại, trong phần so sánh đối chiếu này, nhóm tác giả đã phân tích và càng làm nổi bật những nhu cầu đặc thù trong việc lựa chọn SPDL của sinh viên ngành
  • 81. 69 VNH khoa QHQT khi có sự so sánh và đối chiếu với sinh viên khoa ngoài. Như vậy, với thực trạng nhận thức và những đặc thù trên sẽ tạo cơ sở cho việc đề xuất định hướng và giải pháp trong việc thiết kế các SPDL phù hợp với sinh viên ngành VNH khoa QHQT trong chương 3. Tiểu kết chương 2 Trong chương này, nhóm tác giả đã hoàn thành được mục tiêu của chúng tôi khi đã tiến hành phân tích thực trạng, nhận thức của sinh viên ngành VNH khoa QHQT trong vấn để đánh giá chất lượng của SPDL. Như vậy, qua các bước khảo sát đánh giá nhu cầu của sinh viên trong việc lựa chọn SPDL cho phép chúng tôi nhìn nhận được những đặc điểm khá đặc thù, đó là: (1) Nên thiết kế và xây dựng thêm nhiều SPDL cho sinh viên. (2) Các CTDL khi thiết kế cần lưu ý đến vấn đề giá cả, độ dài và thời gian tổ chức. (3) Chú trọng xây dựng các CTDL biển. (4) Tất cả các dịch vụ đều có ảnh hưởng đến việc nhận định chất lượng của SPDL. (5) Xây dựng SPDL cần xác định rõ mục đích của sinh viên để thiết kế SPDL phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của sinh viên. (6) Ngoài ra, chúng tôi cũng đã thực hiện thao tác so sánh một số nhu cầu đặc thù của sinh viên ngành VNH khoa QHQT với sinh viên các khoa khác; qua đó càng làm nổi bật hơn những nhu cầu đó của sinh viên ngành VNH khoa QHQT. Nói tóm lại, với thực trạng trên, là cần thiết để các nhà điều hành có sự xem xét, điều chỉnh lại những SPDL cho sinh viên để qua đó, một mặt có thể đáp ứng nhu cầu chính đáng của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, mặt khác có thể nâng cao chất lượng đào tạo của ngành VNH trường ĐHSG.
  • 82. 70 Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THIẾT KẾ CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 3.1. Cơ sở của sự định hướng: Đánh giá việc lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên bằng mô hình TOWS Lâu nay, khi đánh giá và phân tích một cơ quan, đơn vị hay doanh nghiệp của bất kỳ lĩnh vực nào nhằm mục tiêu có cái nhìn tổng quát, cũng như hoạch định những chiến lược phát triển cho doanh nghiệp trong tương lai, ta vẫn thường sử dụng “mô hình SWOT” để phân tích. Như vậy, phân tích SWOT (hay còn được gọi là ma trận SWOT) là như thế nào ? Phân tích TOWS trong đề tài này có gì khác biệt so với phân tích SWOT, cũng như tại sao nhóm tác giả sử dụng phương pháp TOWS trong đề tài này mà không phải sử dụng phân tích SWOT ? Trong tiểu mục này, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề trên. Trước tiên, ta cần làm rõ hai phương pháp SWOT và TOWS là gì ? Để làm rõ hai phương pháp này, ta bắt đầu từ những chữ cái cầu thành nên những chữ đó. Chữ “S” có nghĩa là “Strengths” (những điểm mạnh), “W” là “Weaknesses” (những điểm yếu), “O” là “Opportunities” (có nghĩa là những cơ hội) và chữ “T” là “Threats” nghĩa là thách thức. Như vậy, bốn vấn đề trên “… như một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hay của một đề án…” [10: 163]. Như vậy, nếu nhìn ở bên ngoài thì cả hai phương pháp SWOT và phương pháp TOWS đều nghiên cứu về bốn yếu tố: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức. Giữa chúng đều có sự tương đồng với nhau; chỉ khác biệt ở chỗ thay đổi trật tự các chữ cái để hình thành nên chữ khác mà thôi. Tuy nhiên, thực tế lại không phải như vậy bởi vì phương pháp TOWS được xem là bước phát triển tiếp theo của phương pháp SWOT. Các chữ cái trong những SWOT hay TOWS không đơn thuần là được sắp xếp một cách bừa bãi, không có chủ đích. Chúng được sắp xếp theo một trật tự logic, dễ hiểu. Bởi vì mục tiêu khi sử dụng ma trận này là để có thể xem xét tổng thể một quá trình ở những bình diện khác nhau và đưa ra quyết định dễ dàng. Hay nói một cách khác, các vấn đề này được sắp xếp nhằm mục đích “… kích thích suy nghĩ hơn là dựa
  • 83. 71 vào các phản ứng theo thói quen hoặc theo bản năng” [10: 164]. Bên cạnh đó, phân tích TOWS là phương pháp nghiên cứu đi từ các yếu tố bên ngoài (thách thức, cơ hội), mang tính khách quan rồi mới đến các yếu tố bên trong (điểm yếu, điểm mạnh) mang tính chủ quan. Từ những yếu tố ở trên, ta rút ra được sự khác biệt giữa SWOT và TOWS. Sự sắp xếp các thứ tự của chữ cái liên quan trực tiếp đến việc tiếp cận vấn đề. Sở dĩ đối với đề tài này nhóm tác giả lựa chọn phương pháp phân tích TOWS mà không phải phương pháp SWOT bởi vì mục đích của đề tài này là nghiên cứu SPDL phù hợp với sinh viên; tức là bán cái người khác cần chứ không phải bán cái mình có. Bởi vì như đã đề cập, phương pháp TOWS nghiên cứu cái bên ngoài (nhu cầu của sinh viên) trước, và sau đó quay ngược lại để tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu để có chiến lược phát triển sản phẩm cho phù hợp. Bên dưới là những cơ hội, thách thức, cũng như điểm mạnh và điểm yếu đã và đang tồn tại của khoa QHQT (VHDL) trường ĐHSG mà bằng phương pháp quan sát cũng như lấy ý kiến khảo sát, nhóm tác giả thu thập được. Bảng 3.1: Mô hình TOWS về việc lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH, trường ĐHSG TOWS Threats Opportunities (1) Môi trường và nguồn tài nguyên đang bị đe dọa. (2) SPDL trên thị trường còn nhiều trùng lập, chưa phong phú. (3) Công tác xã hội hóa du lịch chưa đạt được mục tiêu đề ra. (4) Du lịch đang là ngành kinh tế phát triển với quy mô toàn cầu, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao là nhu cầu tất yếu. (1) Chính phủ chủ trương phát triển nền kinh tế mở và hội nhập. (2) Việt Nam có nguồn tài nguyên du lịch phong phú. (3) Nhận thức và nhu cầu du lịch đang dần trở nên phổ biến. (4) Công tác đào tạo ngành Du lịch được quan tâm và đang trong quá trình mở rộng về cả lượng và chất. (5) Hình ảnh du lịch Việt
  • 84. 72 Nam dễ dàng đến với du khách quốc tế nhờ vào sự phát triển của phương tiện truyền thông. Weaknesses Các chiến lược WT Các chiến lược WO (1) SPDL chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên. (2) Việc dạy và học các học phần chuyên ngành còn mang nặng tính lý thuyết. (3) Nhận thức về ngành học và nghề nghiệp trong sinh viên chưa cao. (4) Vấn đề tài chính gây khó khăn cho nhiều sinh viên trong quá trình đăng ký trải nghiệm các SPDL. - Chú trọng khai thác điểm mạnh của các SPDL, xây dựng SPDL có chất lượng, đồng thời đa dạng hóa các SPDL. - Hạn chế lý thuyết, đẩy mạnh áp dụng lý thuyết vào thực tế. - Kết hợp giáo dục nâng cao nhận thức và hiểu biết của sinh viên về ngành Du lịch. - Xây dựng các SPDL phù hợp với điều kiện của sinh viên nhưng vẫn đảm bảo chất lượng. - Cần xây dựng các SPDL đa dạng, chất lượng dựa trên nguồn tài nguyên phong phú. - Với sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông và cơ hội hội nhập ASEAN, nâng cao nhận thức sinh viên về tầm quan trọng của du lịch qua phương tiện truyền thông , báo đài cũng như kết hợp vào các bài giảng. Strengths Các chiến lược ST Các chiến lược SO (1) Do trường trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố nên việc tổ chức các tour cũng như về phương tiện đi thực tế được hỗ trợ. (2) Khoa có đội ngũ cán bộ giảng viên dày dạn kinh nghiệm, tâm huyết. (3) Trong quá trình học - Với sự giúp đỡ từ nguồn hỗ trợ, sinh viên sẽ giảm được khó khăn khi tham gia các chuyến đi thực tế. Như vậy, tất cả các sinh viên đều có cơ hội trải nghiệm về ngành học của mình, từ đó nhận thức của sinh viên về việc bảo vệ - Với cơ hội được hỗ trợ trong các chuyến đi thực tế, có thể tăng cường số lượng và chất lượng các chuyến đi thực tế cho sinh viên nhằm tạo môi trường giúp sinh viên cọ xát với ngành nghề mình học, kết hợp với sự giảng dạy của đội ngũ
  • 85. 73 sinh viên được trải nghiệm thực tiễn thông qua các học phần thực tế, ngoại khóa. (4) Chương trình giảng dạy cập nhật, bổ sung liên tục để phù hợp với yêu cầu thực tiễn. (5) Quy mô đào tạo của khoa đang trong quá trình phát triển theo hướng lớn mạnh. các nguồn tài nguyên, tư duy được nâng cao và đồng thời tăng sự thích thú đối với ngành học. -Với quy mô đào tạo được mở rộng, chương trình học được cập nhật liên tục sẽ nâng cao kiến thức, chất lượng nguồn nhân lực trong ngành. giảng viên có kinh nghiệm. Như vậy chất lượng của nguồn nhân lực sẽ được nâng cao. - Với nguồn nhân lực được đào tạo chất lượng, các sáng kiến để tạo ra các SPDL mới mà vẫn đảm bảo sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên sẽ ngày càng nhiều hơn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng du lịch của nước nhà. [Nguồn: Nhóm tác giả] Như vậy, mô hình TOWS ở trên đã cho ta thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức trong vấn đề lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, trường ĐHSG. Và để giải quyết những điểm yếu và những thách thức đó, sau đây chúng tôi sẽ đề xuất những định hướng, và lấy đó làm kim chỉ nam trong việc thiết kế các SPDL phù hợp với nhu cầu chính đáng của sinh viên căn cứ trên tình hình thực tiễn. 3.2. Những định hướng và đề xuất giải pháp cụ thể trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch cho sinh viên 3.2.1. Định hướng thiết kế các sản phẩm du lịch Như đã đề cập, vì những đặc thù và yêu cầu trong việc thiết kế SPDL dành cho đối tượng khách là sinh viên, do vậy mà việc định hướng trước khi đề xuất giải pháp thiết kế các SPDL là một công việc cần thiết. Bên dưới sẽ là những định hướng chính mà nhóm tác giả đề xuất:
  • 86. 74 Bảng 3.2: Những định hướng trong việc thiết kế SPDL cho sinh viên ngành VNH, trường ĐHSG Stt Định hướng 1 Về mục tiêu: Đảm bảo tính định hướng và nhận thức nghề nghiệp cho sinh viên. 2 Về nguyên tắc: SPDL phải dung hòa ba yếu tố: Đảm bảo phù hợp với thực tiễn của chương trình đào tạo – phù hợp với xu hướng của thị trường lao động - đáp ứng được nhu cầu của sinh viên. 3 Về cách thức: Định hướng ưu tiên phát triển các SPDL theo các loại hình du lịch liên quan đến chuyên ngành đào tạo theo hướng đa dạng hóa. 4 Về hiệu quả: Sinh viên phải tiếp thu một cách hiệu quả và biết ứng dụng lý thuyết (VHDL) vào thực tiễn để nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên ngành thông qua các SPDL được trải nghiệm. 5 Về phương châm: Tăng cường sự liên kết giữa Nhà trường – khoa QHQT (VHDL) – Trung tâm Hướng dẫn Du lịch để đảm bảo cho sinh viên được hưởng những quyền lợi tối đa về giá của các SPDL. [Nguồn: Nhóm tác giả] 3.2.1.1. Đảm bảo tính định hướng và nhận thức nghề nghiệp cho sinh viên Trong môi trường cấp 3, sinh viên chắc chắn đã từng nhận được những chia sẻ về vấn đề định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, điều này là chưa đủ cho sinh viên, đặc biệt là đối với ngành VNH – một ngành học mà sau khi tốt nghiệp, số lượng sinh viên chọn theo nghề hướng dẫn viên không phải là ít. Trong xã hội ngày nay, rất nhiều những bài báo trực tuyến vẫn hay ca ngợi và cho rằng đây là một ngành nóng, đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao rất nhiều. Do đó, việc theo học ngành học này hiển nhiên sẽ không sợ thất nghiệp. Tuy nhiên, một thực tế là bởi chính những thông tin đó đã làm cho phần đông sinh viên lựa chọn nghề nghiệp không tìm hiểu rõ ngành học. Từ đó dẫn đến thái độ lơ là, nhận thức sai lệch và không có tinh thần học tập tốt. Như vậy, ngoài việc được cung cấp hệ thống lý thuyết trên lớp, những chương trình thực tế hay ngoại khóa chính là những cơ hội để sinh viên được sống với nghề, được thở hơi thở của nghề hướng dẫn. Và do vậy, những SPDL thiết kế cho sinh viên cần hiểu rõ ý nghĩa đó để làm sao những SPDL đó ngoài việc giúp sinh viên củng cố
  • 87. 75 kiến thức đã được học, mà bên cạnh đó một điều quan trọng hơn chính là giúp cho sinh viên không những thấy được những ưu điểm của nghề, mà còn thấy được những khó khăn của nghề. Và cũng cần biết rằng, sự định hướng này đôi lúc không phải là những vấn đề vĩ mô. Chúng chỉ là những hoạt động mang tính quán triệt tư tưởng mà chính những giảng viên của khoa, hay những hướng dẫn viên phụ trách đoàn trong quá trình trải nghiệm những SPDL có thể chia sẻ cho sinh viên. Khi nhận định về những cơ hội, thách thức của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay – đặc biệt khi mà Việt Nam cần chuẩn bị đón đầu với Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015, Nguyễn Văn Lưu đã liệt kê 5 thách thức trong quá trình hội nhập18 , trong đó có một thách thức mà chúng tôi cho rằng liên quan đến sinh viên của ngành VNH, ĐHSG. Đó chính là: “… Nguồn nhân lực du lịch vốn còn những bất cập và yếu kém sẽ không theo kịp yêu cầu hội nhập; sẽ “chảy máu chất xám”; doanh nghiệp du lịch Việt Nam sẽ mất nhiều người giỏi” [9: 350]. Để làm được điều này, có lẽ là cần thiết để Ban lãnh đạo khoa QHQT xây dựng một câu lạc bộ học thuật dành cho những sinh viên có định hướng theo nghề hướng dẫn viên du lịch. Tại đây, sinh viên sẽ có được một môi trường học tập, rèn luyện và nâng cao, cũng như cập nhật kiến thức tuyến điểm, thực tập xây dựng thử nghiệm các SPDL mà chính chúng sau này, nếu phù hợp với tình hình thực tiễn sẽ được đưa vào thực tế và trở thành những CTDL dành cho sinh viên của khoa. Nếu làm được điều này thì chắc chắn, năng lực, kiến thức và kỹ năng của sinh viên sẽ được nâng cao tối 18 Những thách thức đó bao gồm [9: 350]: - Sức ép cạnh tranh du lịch sẽ trở nên gay gắt hơn trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. - Do sự phát triển không đồng đều giữa các lĩnh vực hoạt động của ngành Du lịch, giữa các vùng, miền trong nước, nên khi mở cửa hội nhập toàn diện sẽ phải chịu tác động từ bên ngoài vào. - Sự biến động trên thị trường quốc tế sẽ tác động mạnh, nhanh và toàn diện hơn đến thị trường du lịch trong nước. Điều này có thể dẫn đến sự rối loạn thị trường, ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững. - Những thách thức mới xuất hiện ở mức độ cao, đa chiều và tinh vi hơn như diễn biến hòa bình thông qua con đường du lịch, …
  • 88. 76 đa, qua đó giúp cho sinh viên có thể trở thành nguồn nhân lực “có năng lực” trong tương lai. 3.2.1.2. Sản phẩm du lịch phải dung hòa ba yếu tố: Đảm bảo phù hợp với thực tiễn của chương trình đào tạo – phù hợp với xu hướng của thị trường lao động - đáp ứng được nhu cầu của sinh viên Bất kỳ một ngành đào tạo nào được hình thành cũng đều nhằm mục đích cung ứng nguồn lao động cho thị trường, đáp ứng xu thế phát triển của xã hội. Đó cũng là lý do tại sao trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế đất nước, có những ngành nghề được cho là có cơ hội phát triển cao; bên cạnh đó cũng có một số ngành được đánh giá là rất khó để phát triển bởi lý do thị trường không cần. Như vậy, ba yếu tố: Chương trình đào tạo – xu hướng của thị trường lao động – nhu cầu của sinh viên là những yếu tố mang tính chiến lược, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Sơ đồ 3.3: Các yếu tố định hướng trong việc thiết kế các SPDL cho sinh viên ngành Du lịch [Nguồn: Nhóm tác giả] Trước tiên là về “chương trình đào tạo”, “chương trình đào tạo (training program) là tất cả các hoạt động mà người học cần thực hiện để theo học hết khóa học và đạt được mục đích tổng thể” [15: 22]. Thông qua định nghĩa trên, ta cũng thấy được vai trò và ý nghĩa của chương trình đào tạo trong vấn đề thiết kế SPDL. Do đó, hai yếu tố còn lại là nắm bắt xu hướng của thị trường lao động và đáp ứng nhu cầu của sinh viên chịu tác động và ảnh hưởng từ chương trình đào tạo. Một chương trình đào tạo phát triển đúng hướng nếu nó đảm bảo được vấn đề đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mặt khác, chương trình đào tạo được xem như là một “kịch bản” mô tả quá trình đi đến đích của người học, đồng thời “… khái niệm này nhấn mạnh vào người học và lấy người học làm trung tâm cho cả quá trình giảng dạy, đào tạo” [15: 22]. Vì vậy, định hướng thiết kế SPDL phải lấy mục tiêu, ý nghĩa của chương trình đạo tạo để làm định hướng thiết kế SPDL. Chẳng hạn như nếu mục tiêu của chương trình đào tạo là cung Chương trình đào tạo Xu hướng thị trường lao động Nhu cầu của sinh viên Sản phẩm du lịch cho sinh viên
  • 89. 77 cấp nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực lữ hành (mà cụ thể ở đây là đội ngũ hướng dẫn viên) thì nó cần được điều chỉnh sao cho lượng kiến thức hàn lâm được giảm tải, thay vào đó là những trải nghiệm thực tiễn trong các CTDL. Còn nếu mục tiêu của chương trình đào tạo là cung cấp đội ngũ những người làm khoa học nghiên cứu về Việt Nam học thì những SPDL được thiết kế chắc chắn cần được thay đổi theo hướng tập trung phát triển những SPDL mà trong đó lấy những loại hình du lịch nghiên cứu để làm cơ sở thiết kế. Thứ hai, về yêu cầu “phù hợp với xu hướng của thị trường lao động”; “Đảng và Nhà nước đã xác định: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân… góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…” [4:353]. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà cuối năm 2015, Việt Nam sẽ chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), trong đó thì ngành Du lịch là một trong những ngành nghề được ưu tiên phát triển thì nhu cầu đòi hỏi một nguồn lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động du lịch càng được chú trọng. Mặc dù vẫn có những khó khăn và thách thức, thế như cơ hội đối với sinh viên ngành VNH cũng đồng thời là rất lớn. Do vậy mà việc thiết kế SPDL để sinh viên có điều kiện nắm bắt những cơ hội phát triển nghề nghiệp ngay trong giai đoạn còn ngồi trên ghế nhà trường là một trong những sứ mệnh quan trọng nhất của lãnh đạo nhà trường và lãnh đạo khoa QHQT. Bảng 3.4: Nhân lực ngành Du lịch qua các năm Đơn vị: Người Năm Chỉ tiêu 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng số 450.000 875.128 1.060.675 1.251.777 1.358.750 1.389.600 1.472.000 Lao động trực tiếp 150.000 275.128 310.675 391.177 424.750 434.240 460.000
  • 90. 78 Lao động gián tiếp 300.000 600.000 750.000 860.600 934.000 955.350 1.012.000 [Nguồn: Phát triển nguồn nhân lực, yếu tố quyết định sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam – Nguyễn Văn Lưu, tr128]. Như vậy, qua bảng trên ta thấy được nhu cầu về nguồn nhân lực cho lĩnh vực du lịch không bao giờ là đủ, vấn đề ở đây chính là sinh viên phải nhận thức được vấn đề này. Để cạnh tranh được trong một thị trường lao động vừa thừa, vừa thiếu như vậy thì sinh viên cần phải là những người “có năng lực”. Theo tài liệu của Ban Thư ký ASEAN “Hướng dẫn các cơ sở đào tạo du lịch” về thực hiện “Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch” – MRATP, năng lực của một người lao động được nhận định theo mô hình dưới [10: 50, 51]. Sơ đồ 3.5: Phương thức đánh giá năng lực của lao động ngành Du lịch [Nguồn: Ban Thư ký ASEAN] Do đó, sinh viên ngành VNH muốn trở thành nguồn lao động “có năng lực” thì cần phải được tạo điều kiện để mỗi cá nhân tự đánh giá, nhìn nhận những vấn đề như: Thái độ, kỹ năng, kiến thức của mình, qua đó để giúp sinh viên nắm bắt tốt cơ hội phát triển nghề nghiệp của bản thân trong tương lai. Thứ ba, SPDL phải đáp ứng được nhu cầu của sinh viên. Thoạt nghe thì đây là một yếu tố không phù hợp, bởi vì sinh viên không thể có được tầm nhìn chiến lược trong tương lai, đây là vấn đề mà Ban lãnh đạo khoa mới là những người đưa ra quyết định. Tuy nhiên, thực tế thì như đã đề cập ở trên, chương trình đào tạo “… lấy người học làm trung tâm cho cả quá trình giảng dạy, đào tạo” do đó, những nhu cầu của sinh viên trong vấn đề trải nghiệm SPDL cũng cần được chú trọng và xem xét. Ngoài ra, ở góc độ của sinh viên (tầm vi mô) chắc chắn sẽ có những góc nhìn khác về SPDL Kỹ năng Kiến thứcThái độ Có năng lực
  • 91. 79 so với góc nhìn của Ban lãnh đạo (góc nhìn ở tầm vĩ mô). Cho nên, dung hòa và xem xét ý kiến từ hai góc độ, cả người quản lý lẫn người học để cho ra đời những SPDL phù hợp sẽ là sự kết hợp hoàn hảo nhất. 3.2.1.3. Định hướng ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch theo các loại hình du lịch liên quan đến chuyên ngành đào tạo theo hướng đa dạng hóa Các CTDL được thiết kế cho sinh viên ngành VNH nhằm mục đích củng cố kiến thức lý thuyết cho sinh viên. Sinh viên sẽ được tạo cơ hội để kiểm tra, ứng dụng kiến thức được học vào thực tiễn. Do vậy, SPDL thiết kế cho sinh viên cần được thiết kế đảm bảo tính liên kết với nội dung đào tạo. Với đặc thù của ngành VNH, chuyên ngành VHDL, do vậy mà SPDL thiết kế cho sinh viên cần bám sát nhóm loại hình du lịch văn hóa. Tuy nhiên, những SPDL văn hóa này cần được phát triển theo hướng đa dạng hóa. Như vậy, căn cứ vào cách phân chia nhóm loại hình du lịch văn hóa trong chương 1 của nhóm tác giả, những SPDL thiết kế cho sinh viên có thể đa dạng theo hướng phát triển những loại hình du lịch như: Du lịch tôn giáo, du lịch ẩm thực, du lịch homestay, v.v… Nếu làm được điều này sẽ có thể, trước hết là đảm bảo tính linh hoạt, không trùng lập, tránh gây cảm giác nhàm chán cho sinh viên của khoa; mặt khác có thể đảm bảo tính phù hợp với tình hình thực tế trong giai đoạn đó. Lấy ví dụ như trong năm 2015, loại hình du lịch ẩm thực đang phát triển thì khoa sẽ tổ chức cho sinh viên trải nghiệm SPDL ẩm thực, tuy nhiên sang năm sau vì nhiều lý do nên du lịch ẩm thực không có điều kiện để phát triển, như vậy thì khi đó khoa có thể tổ chức loại hình du lịch khác phù hợp hơn. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta không lưu ý đến những nhóm loại hình du lịch khác, mà bên cạnh đó, Ban lãnh đạo khoa cũng có thể xem xét đến việc kết hợp thiết kế những SPDL trên cơ sở phát triển những nhóm loại hình du lịch khác. 3.2.1.4. Sinh viên phải tiếp thu một cách hiệu quả và biết ứng dụng lý thuyết (văn hóa – du lịch) vào thực tiễn để nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên ngành thông qua các sản phẩm du lịch được trải nghiệm Vấn đề này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ yêu cầu của Ban lãnh đạo khoa đặt ra đối với sinh viên các lớp khi trải nghiệm các SPDL. Cụ thể hơn, sinh viên phải là người chủ động nắm bắt các thông tin của quy trình tham gia các CTDL, từ việc lên
  • 92. 80 lịch làm việc cho bản thân trong quá trình tham gia các CTDL đến việc nắm bắt các dịch vụ. Mặt khác, nếu có thể thì chính sinh viên sẽ là những ngưởi chủ động để liên hệ với các dịch vụ. Ban lãnh đạo khoa QHQT và Trung tâm Hướng dẫn Du lịch sẽ chỉ theo sát và góp ý cho sinh viên về các dịch vụ được đặt để SPDL phù hợp và hoàn thiện hơn. Nếu làm được điều này thì sinh viên sẽ có thể: Một là nắm bắt được quy trình thiết kế một SPDL; mặt khác sinh viên sẽ có điều kiện rút kinh nghiệm sau mỗi lần thiết kế một SPDL. Đó chính là một trong những phương pháp giúp sinh viên ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn một cách hiệu quả nhất. Những kiến thức lý thuyết liên quan đến vấn đề này hầu hết sinh viên đã được cung cấp thông qua các học phần như “Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch”, “Quản trị kinh doanh lữ hành”, “Kinh tế du lịch Việt Nam và thế giới”, … Những học phần này đã cung cấp kiến thức về quy trình, phương pháp để thiết kế và xây dựng SPDL cho sinh viên một cách đầy đủ nhất. Tuy nhiên, nếu không được áp dụng vào thực tế thì chúng cũng chỉ dừng lại ở mức độ kiến thức hàn lâm. Do vậy, việc thiết kế những SPDL cho chính sinh viên là đối tượng thụ hưởng chính là cơ hội rất tốt để sinh viên có điều kiện ứng dụng hệ thống kiến thức lý thuyết vào thực tiễn. Và sau này khi tốt nghiệp ra trường, sinh viên ít nhiều cũng đã có được những kinh nghiệm, kiến thức cơ bản trong việc xây dựng và thiết kế một SPDL. Đó là về vấn đề nghiệp vụ điều hành và thiết kế SPDL. Còn về mặt kiến thức văn hóa, sinh viên sẽ chủ động tập hợp kiến thức tuyến điểm, lên lịch những chuyên đề thuyết minh cho bản thân liên quan đến hệ thống tuyến điểm của CTDL đó. Ban lãnh đạo khoa sẽ là người hỗ trợ, chỉnh sửa những thông tin kiến thức đó cho phù hợp hơn. Nếu làm tốt điều này, sau mỗi CTDL thì sinh viên cũng sẽ có thể hệ thống lại kiến thức tuyến điểm và kiến thức chuyên ngành của mình. Tuy nhiên, những đề xuất trên sẽ là không khả thi nếu không có được một môi trường sinh hoạt thường xuyên cho sinh viên. Để làm được điều này thì chúng tôi đề xuất một định hướng tiếp theo. Chúng sẽ tạo điều kiện để sinh viên có khả năng chủ động làm được những vấn đề mà đã được đề cập ở trên.
  • 93. 81 3.2.1.5. Tăng cường sự liên kết giữa Nhà trường – khoa Quan hệ Quốc tế – Trung tâm Hướng dẫn Du lịch để đảm bảo cho sinh viên được hưởng những quyền lợi tối đa về giá của các sản phẩm du lịch Như đã nhận định ngay từ đầu, với đặc thù là trường Công lập, do đó mà sinh viên của trường ĐH Sài Gòn nói chung, sinh viên của ngành VNH khoa QHQT nói riêng hầu hết đều phân bổ khắp cả nước. Điều kiện kinh tế là một trong những vấn đề nan giải đối với sinh viên của khoa từ trước đến nay. Tuy nhiên, với ưu điểm là trường trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố, do vậy mà từ trước đến nay, đối với những học phần thực tế hay ngoại khóa, sinh viên đã được hỗ trợ rất nhiều. Nhưng bắt đầu từ năm học 2014 – 2015, sự hỗ trợ này đã không còn phát huy hiệu quả. Cụ thể là nhà trường chỉ còn hỗ trợ việc cung cấp xe cho sinh viên; ngoài ra thì tất cả những dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn uống thì sinh viên đều phải tự chủ tài chính. Chính điều này đã làm cho chi phí cho một CTDL của sinh viên tăng lên đáng kể. trong khi đó thì chất lượng SPDL thì ở mức độ tương đương như cũ. Điều này đã gây khó khăn không ít cho sinh viên trong việc đăng ký tham gia trải nghiệm các SPDL. Do vậy, việc tìm ra giải pháp để đảm bảo giá thành cho các SPDL dành cho sinh viên của ngành VNH khoa QHQT ở mức chấp nhận được là một việc làm quan trọng hiện nay. Để làm được điều này thì sự liên kết giữa ba phía: Nhà trường – khoa QHQT và Trung tâm Hướng dẫn Du lịch cần phải được đẩy mạnh hơn nữa. Trong mối liên kết này, khoa QHQT sẽ đóng vai trò là cầu nối để tham mưu cho Ban lãnh đạo nhà trường trong việc báo cáo thực trạng của sinh viên của khoa; mặt khác, cũng chính Ban lãnh đạo khoa sẽ đề xuất và phối hợp với Trung tâm Hướng dẫn Du lịch nhằm giúp cho sinh viên có được mức giá hợp lý. 3.2.2. Đề xuất một số giải pháp trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của sinh viên ngành Việt Nam học Với những định hướng chung ở trên, nhóm tác giả đề xuất một vài giải pháp cụ thể để qua đó, góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu của sinh viên trong việc thiết kế những SPDL phù hợp. Hiển nhiên, để có thể ứng dụng vào thực tiễn toàn bộ những giải pháp này không phải là một vấn đề đơn giản, nhất là trong tình hình hiện nay, khi mà chương trình đạo tạo sẽ thay đổi sau một chu kỳ. Tuy nhiên, nếu có thể áp dụng những giải pháp này đồng thời vào việc thiết kế SPDL, chắc chắn rằng chất lượng của
  • 94. 82 SPDL thông qua các CTDL sau này sẽ có những chuyển biến theo hướng tích cực. Và khi mà sinh viên đã có được những đánh giá cũng như ý kiến tích cực về SPDL thì chất lượng đào tạo của khoa cũng sẽ được nâng lên đáng kể. Bên dưới sẽ là một vài giải pháp mà chúng tôi đề xuất: Thiết kế các SPDL, trong đó lấy loại hình du lịch làm trọng tâm để xây dựng. Bởi vì như đã đề cập, lâu nay khi thiết kế các CTDL, quá trình xác định SPDL thường bị bỏ qua. Những người thiết kế CTDL thường tập trung vào khai thác yếu tố tài nguyên du lịch mà không xác định loại hình du lịch của chương trình đó. Từ đó dẫn đến việc thiết kế CTDL mà SPDL không được làm nổi bật. Điều này dẫn đến khả năng học hỏi của sinh viên trong các CTDL không hiệu quả. Cập nhật tình hình thực tiễn về xu thế xuất hiện và phát triển những loại hình du lịch mới, thu hút nhiều nhóm đối tượng du khách để tổ chức cho sinh viên tham gia nhằm mục đích giúp giúp sinh viên kịp thời nắm bắt được những SPDL mới đó. Thiết kế các SPDL theo nhu cầu chính đáng của sinh viên bằng cách khảo sát nhu cầu của sv từng lớp, không áp đặt và thiết kế lại những SPDL cũ. Bởi vì như ta đã biết, tài nguyên du lịch và dịch vụ qua các năm sẽ có nhiều thay đổi. Việc sử dụng lại những dịch vụ cũ hay tham quan những điểm du lịch đang trong điều kiện không phù hợp sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng của CTDL. Điều này tác động trực tiếp đến chất lượng của SPDL. Quán triệt nhận thức và giải thích mục đích thiết kế những CTDL theo các SPDL mới cho sinh viên. Hạn chế tối đa việc sinh viên trải nghiệm SPDL mà không hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của việc tham gia những CTDL. Vì mục đích tổ chức cho sinh viên tham gia các CTDL là để sinh viên có điều kiện hiểu, tiếp cận các loại hình du lịch cũng như SPDL mà thị trường du lịch đang phát triển. Xây dựng môi trường học tập, chẳng hạn như câu lạc bộ lữ hành để sinh viên có điều kiện nghiên cứu, trau dồi hệ thống tri thức về tuyến điểm, các loại hình du lịch, những vấn đề thời sự trong ngành Du lịch để nâng cao kiến thức chuyên ngành. Tạo hộp thư điện tử (Email) để giúp sinh viên có điều kiện được giải đáp kịp thời những trăn trở, bức xúc đối với các CTDL. Lấy chuyên ngành đào tạo làm trung tâm để phát triển các SPDL phù hợp. Tuy nhiên, phát triển SPDL theo hướng đa dạng hóa căn cứ vào tình hình thực tiễn trong công tác đào tạo.
  • 95. 83 Dung hòa các vấn đề về tài nguyên du lịch, các loại dịch vụ của SPDL theo hướng có lợi cho sinh viên. Sau mỗi SPDL mà sinh viên trải nghiệm, cần nhanh chóng phát phiếu khảo sát để kịp nắm bắt tình hình thực tiễn về vấn đề nhận định của sinh viên đối với chất lượng của SPDL. Sinh viên phải chủ động học tập kiến thức, kỹ năng thông qua các CTDL mà mình tham gia để tự rút kinh nghiệm cho bản thân. Cố vấn học tập phải là cầu nối trong việc đề đạt ý kiến, nguyện vọng của sinh viên trong vấn đề tham gia các CTDL. Để sinh viên chủ động thử nghiệm thiết kế các CTDL với sự góp ý và giám sát của Ban lãnh đạo. Tạo điều kiện cho sinh viên thiết kế thử nhiều CTDL. Một mặt có thể hỗ trợ sinh viên trong việc nâng cao kiến thức tuyến điểm; mặt khác có thể giúp sinh viên chủ động trong việc lựa chọn những SPDL mà sinh viên cảm thấy phù hợp. Ban lãnh đạo và giảng viên khoa cần chú trọng vấn đề kỷ luật khi trải nghiệm các CTDL của sinh viên. Đây là một trong những phương pháp mang tính định hướng cho sinh viên, giúp sinh viên trải nghiệm nghề nghiệp thông qua việc tuân thủ một số nguyên tắc nghề nghiệp (về trang phục, giờ giấc, nghiệp vụ, …) Chú trọng vào xây dựng loại hình du lịch biển để đáp ứng nhu cầu của sinh viên vì đây cũng là một loại hình du lịch phổ biến mà sinh viên cần được tiếp cận. Linh động về thời gian trong vấn đề tổ chức các CTDL tùy thuộc vào tình hình thực tiễn của các nhóm sinh viên các lớp. Đảm bảo tính cân bằng động giữa yếu tố học tập – giải trí cho sinh viên khi tham gia các CTDL. Trước mỗi năm học cần thông báo kế hoạch tổ chức các CTDL trước để sinh viên nắm bắt được tình hình trong năm học đó để có sự chuẩn bị, đặc biệt là vấn đề kinh phí. Đảm bảo độ giãn khi tham quan các điểm du lịch, tránh tình trạng “cưỡi ngựa xem hoa”. Hay nói cách khác, khi đã xác định được SPDL đặc trưng trong một CTDL thì chắc chắn hệ thống tài nguyên du lịch theo các tuyến điểm đó sẽ được hạn chế. Khi đó thì thời gian tại các điểm, khu du lịch sẽ có độ giãn phù hợp cho sinh viên. Cân bằng hai yếu tố: Tiếp thu kiến thức và khảo sát dịch vụ. Cả tiếp thu kiến thức và khảo sát dịch vụ đều là kiến thức chuyên ngành mà sinh viên cần năm bắt khi tham gia các CTDL. Tuy nhiên, giữa hai vấn đề này cần có sự cân bằng trong việc tiếp
  • 96. 84 thu. Tại những cơ sở lưu trú, nhà hàng thì hiển nhiên việc khảo sát dịch vụ được ưu tiên đặt lên hàng đầu. Trong khi đó, tại những điểm du lịch văn hóa, lịch sử thì ngược lại. Do đó, để nắm bắt khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên, là cần thiết khi yêu cầu sinh viên trình bày bảng báo giá dịch vụ trong bài Báo cáo thực tế. Lựa chọn hướng dẫn viên theo tính chất và quy mô của CTDL. Các CTDL của khoa bao gồm những CTDL thuộc về các học phần Thực tế chuyên môn và các chương trình là ngoại khóa. Do đó, hướng dẫn viên có kiến thức chuyên môn sâu sẽ phù hợp với những chương trình thực tế của sinh viên; còn ngược lại, đối với những chương trình ngoại khóa thì hướng dẫn viên có kỹ năng hoạt náo tốt là sự lựa chọn ưu tiên. Do đó, tùy vào tính chất của CTDL mà có sự lựa chọn cho phù hợp. 3.3. Thử nghiệm thiết kế một số sản phẩm du lịch cho sinh viên ngành Việt Nam học 3.3.1. Quy trình thiết kế Để đi đến mục tiêu cuối cùng là xây dựng các SPDL phù hợp, đáp ứng nhu cầu chính đáng của sinh viên ngành VNH khoa QHQT, ĐHSG, nhóm tác giả lần lượt thực hiện theo quy trình sau: Bước 1: Xác định mục tiêu và cơ sở để thiết kế các SPDL cho sinh viên - Về mục tiêu thiết kế các SPDL: Trong chương 2, nhóm tác giả đã làm rõ kết quả khảo sát từ sinh viên. Và như nhận định ban đầu, để thiết kế những SPDL phù hợp với nhu cầu chính đáng của sinh viên, từ kết quả khảo sát trên, nhóm tác giả tiến hành thiết kế thử nghiệm một số SPDL phù hợp. Cũng cần nói thêm rằng, trong công trình này, mục tiêu của chúng tôi là nhận định những nhu cầu trong việc lựa chọn SPDL, chứ không phải là thiết kế thử nghiệm những CTDL cụ thể. Bởi vì như đã đề cập trong chương 1, CTDL chỉ thực sự tạo được dấu ấn nếu đã xác định được SPDL chủ đạo. - Về cơ sở thiết kế các SPDL cho sinh viên: Nhóm tác giả căn cứ vào 3 nguồn tài liệu chủ yếu để làm cơ sở thiết kế các SPDL cho sinh viên. Thứ nhất là kết quả khảo sát trong chương 2, thứ hai là những CTDL mà khoa đã thiết kế và ứng dụng cho các nhóm sinh viên của khoa trước đó, cuối cùng là chúng tôi cũng căn cứ vào Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch. Theo đó, trước hết thì nhóm tác giả sẽ lựa chọn các vùng du lịch để thông qua đó có thể định các tuyến (hoặc liên tuyến) du lịch. Sau khi đã
  • 97. 85 nhận định những tuyến du lịch đó sẽ bắt đầu căn cứ vào thế mạnh của những tuyến du lịch đó để nhận định loại hình du lịch phù hợp, là thế mạnh của những tuyến đó. Cuối cùng sẽ là việc xây dựng những SPDL phù hợp với từng tuyến du lịch đó và cụ thể hóa bằng những CTDL. Bước 2: Nhận định các nhóm đối tượng sinh viên. Với mỗi giai đoạn khác nhau, nhận thức của sinh viên về nhu cầu, đánh giá chất lượng SPDL sẽ có sự khác biệt nhất định. Nói cách khác, không thể ứng dụng những SPDL được thiết kế cho sinh viên năm nhất để sử dụng cho sinh viên năm cuối được hoặc ngược lại. Do đó, những SPDL mà chúng tôi thiết kế thử nghiệm sẽ đa dạng, tùy vào từng nhóm đối tượng sinh viên. Mặt khác, chúng tôi tạm chia các nhóm đối tượng sinh viên ra làm 4 nhóm. Chúng bao gồm: Nhóm sinh viên năm nhất – nhóm sinh viên năm hai – nhóm sinh viên năm ba – nhóm sinh viên năm cuối. Bước 3: Ứng dụng thử nghiệm thiết kế các SPDL. Đây chính là phần nội dung chính của công trình. Ở mỗi loại SPDL dành cho các nhóm sinh viên khác nhau, nhóm tác giả sẽ chỉ rõ những vấn đề cốt lõi trong việc thiết kế SPDL. Những vấn đề tiên quyết để nhận định, xây dựng các SPDL cho từng nhóm đối tượng sinh viên sẽ bao gồm: Nhu cầu du lịch, động cơ du lịch, loại hình du lịch. Khi đã nhận định được những vấn đề trên thì SPDL khi được thiết kế sẽ bám sát được nội dung cốt lõi của nó và đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của sinh viên. 3.3.2. Xây dựng các SPDL phù hợp cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học 3.3.2.1. Xác định nhu cầu, động cơ và loại hình du lịch cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học Như vậy, căn cứ vào quy trình trên, trước tiên chúng tôi sẽ nhận định nhu cầu, động cơ, loại hình du lịch theo các nhóm đối tượng sinh viên, vì đây là tiền đề để thiết kế các SPDL. Bảng 3.6: Những vấn đề tiên quyết ảnh hưởng đến việc thiết kế SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành VNH Nhóm đối tượng sinh viên Nhu cầu Động cơ Loại hình du lịch phù hợp Năm nhất Giải trí Du lịch biển đảo – sinh thái
  • 98. 86 Tự hoàn thiện bản thân – thể thao Năm hai Giải trí - hoàn thiện bản thân - hòa nhập và thể hiện Du lịch ẩm thực – tâm linh – sinh thái – biển đảo Năm ba Giải trí - hoàn thiện bản thân - hòa nhập và thể hiện Du lịch ẩm thực – tâm linh – sinh thái – biển đảo – nghiên cứu Năm cuối Giải trí - hoàn thiện bản thân Du lịch biển đảo – sinh thái – nghiên cứu [Nguồn: Nhóm tác giả] Căn cứ vào bảng trên ta có thể thấy, dù là thuộc nhóm đối tượng sinh viên nào thì nhu cầu cốt lõi của sinh viên khi tham gia trải nghiệm các SPDL cũng là vì mục đích tự hoàn thiện bản thân. Ngay từ đầu, chúng tôi đã nhận định du lịch là một ngành nghề đặc thù, trong đó, muốn có sự tiến bộ, hoàn thiện kỹ năng và phát triển tri thức thì việc trải nghiệm thực tiễn là một yếu tố quan trọng và cần thiết. Do vậy mà nhóm tác giả nhận định nhu cầu cốt lõi của sinh viên chính là tự hoàn thiện bản thân. Tiếp theo, ở vấn đề động cơ du lịch thì bắt đầu có sự phân hóa ở các nhóm đối tượng sinh viên khác nhau. Với sinh viên năm nhất thì những SPDL khi thiết kế cho nhóm đối tượng này thì cần hiểu động cơ của sinh viên chỉ dừng lại ở cấp độ giải trí, tham gia để có sự tiếp cận bước đầu với ngành nghề. Tuy nhiên, đối với nhóm sinh viên năm hai và năm ba, bên cạnh động cơ giải trí thì xuất hiện thêm hai động cơ, chính là động cơ hoàn thiện bản thân và động cơ hòa nhập, thể hiện. Bởi vì, khi đã bắt đầu nhận thức và tự định hướng nghề nghiệp cho bản thân, mỗi sinh viên sẽ bắt đầu tiếp cận nghề nghiệp bằng những công việc mang tính định hướng. Chẳng hạn như việc sẽ bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn về kiến thức du lịch, tự trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết, ... Và cuối cùng là đối với nhóm sinh viên năm cuối, khi đó thì sinh viên đang trong giai đoạn chuẩn bị hành nghề. Bên cạnh động cơ giải trí (động cơ không thể thiếu đối với hoạt động du lịch) thì vẫn còn tồn tại động cơ hoàn thiện bản thân. Cuối cùng là việc nhận định những loại hình du lịch phù hợp cho từng nhóm đối tượng sinh viên. Nhận định loại hình du lịch là việc làm cực kỳ quan trọng, vì nó ảnh
  • 99. 87 hưởng trực tiếp đến chất lượng về chuyên môn cũng như dịch vụ của tổng thể một SPDL. Loại hình du lịch phù hợp, tương thích với các nhóm sinh viên sẽ là tiền đề quyết định đến mức độ phù hợp của SPDL với sinh viên. Mặt khác, mức độ phù hợp của SPDL đối với sinh viên thì tỉ lệ thuận với sự hài lòng của sinh viên đối với SPDL. Việc phân nhóm các loại hình du lịch, nhóm tác giả đã tiến hành trong chương 1. Đối với sinh viên năm nhất, các loại hình du lịch phù hợp mà nhóm tác giả đề xuất bao gồm các loại hình du lịch biển đảo – sinh thái – thể thao. Đối với động cơ của nhóm đối tượng này đã được xác định là động cơ giải trí thì việc lựa chọn những loại hình du lịch trên theo chúng tôi là phù hợp. Bởi vì với tâm thế bắt đầu trải nghiệm với nghề thì những loại hình du lịch kể trên có tính chuyên môn không cao; sinh viên khi tham gia những SPDL đó chủ yếu tìm kiếm sự trải nghiệm. Trong khi đó thì đối với nhóm sinh viên năm hai và năm ba, nhóm đối tượng này đã bắt đầu có sự chuyển biến về mặt nhận thức, đồng thời trong giai đoạn này thì sinh viên đã bắt đầu tiếp cận và được trang bị nhiều hơn kiến thức chuyên ngành, do đó mà một số loại hình du lịch khác cũng đồng thời cần được xây dựng để sinh viên có cơ hội tiếp cận. Những loại hình du lịch này có thể kể đến như du lịch ẩm thực – tôn giáo – sinh thái – biển đảo – nghiên cứu… Như vậy, ở mỗi nhóm đối tượng sinh viên khác nhau, chúng tôi đã nhận định được một số vấn đề tiên quyết. Chúng là cơ sở để việc xây dựng các SPDL phù hợp được tiến hành hiệu quả. Tiếp theo, sau khi đã nhận định được những loại hình du lịch phù hợp thì bước tiếp theo, nhóm tác giả sẽ căn cứ vào Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch để phân vùng và định tuyến du lịch để làm cơ sở xây dựng những SPDL phù hợp. 3.3.2.2. Phân vùng và định tuyến du lịch cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học Việc phân vùng du lịch được xác định nhằm khai thác các đặc thù về tài nguyên để phát triển các sản phẩm theo vùng, nhận định được mỗi vùng một sản phẩm đặc trưng. Đồng thời thông qua đó có thể tạo sự liên kết giữa các vùng nhằm mục đích phát triển các sản phẩm tổng hợp mang tính cạnh tranh cao (được thể hiện thông qua các CTDL liên tuyến) [24: 83].
  • 100. 88 Căn cứ vào bảng Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch, nhóm tác giả phân vùng du lịch như sau19 : - Vùng du lịch Trung du và miền núi Bắc Bộ với 14 tỉnh thành; - Vùng du lịch Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc với 11 tỉnh thành; - Vùng du lịch Bắc Trung Bộ với 6 tỉnh; - Vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ với 8 tỉnh thành; - Vùng du lịch Tây Nguyên với 5 tỉnh; - Vùng du lịch Đông Nam Bộ với 6 tỉnh thành; - Vùng du lịch Đồng bằng sông Cửu Long với 13 tỉnh thành. Bên cạnh việc phân vùng du lịch như trên, Tổng cục Du lịch cũng đã xác định những SPDL đặc trưng của từng vùng du lịch tương ứng. Như vậy, đối với trường hợp thiết kế SPDL cho sinh viên ngành VNH, cần lưu ý đến việc dung hòa các yếu tố phù hợp về thời gian, không gian, mục đích tổ chức. Thời gian ở đây chính là độ dài chuyến đi, thời điểm tổ chức chuyến đi; không gian là quy mô các điểm tham quan trong CTDL; và mục đích chính là yếu tố xuất phát từ động cơ và nhu cầu du lịch của các nhóm đối tượng sinh viên khác nhau. Như vậy, nhóm tác giả đề xuất việc định tuyến du lịch cho các nhóm đối tượng sinh viên cần phải linh hoạt (có thể là định tuyến nội vùng hoặc định tuyến liên vùng), tùy vào các yếu tố thời gian, không gian và mục đích của sinh viên. Cụ thể theo bảng dưới: Bảng 3.7: Định tuyến du lịch cho các nhóm sinh viên ngành VNH Đối tượng sinh viên Định tuyến Vùng du lịch Nội vùng Liên vùng Năm nhất Đông Nam Bộ Tây Nam Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ X 19 : Xem thêm tại Phụ lục 3 về chi tiết phân vùng du lịch của các tỉnh thành.
  • 101. 89 Năm hai Tây Nam Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên X X Năm ba Duyên hải Nam Trung Bộ Bắc Trung Bộ Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc Trung du và miền núi Bắc Bộ X Năm cuối Đông Nam Bộ Tây Nam Bộ Tây Nguyên X [Nguồn: Nhóm tác giả] Song song với việc định tuyến du lịch phù hợp với các nhóm đối tượng sinh viên, nhóm tác giả cũng đồng thời trình bày từng SPDL phù hợp với từng tuyến căn cứ vào những đặc trưng về tài nguyên du lịch của từng tỉnh thành. Đồng thời, kết hợp kết quả từ hai bảng 3.6 và 3.7 với định hướng các SPDL đặc trưng của từng vùng du lịch của Tổng cục Du lịch, nhóm tác giả đề xuất định hướng những SPDL cho từng nhóm đối tượng sinh viên theo bảng sau: Bảng 3.8: Xác định các SPDL đặc trưng cho các nhóm đối tượng sinh viên Nhóm đối tượng sinh viên Vùng du lịch Sản phẩm du lịch đặc trưng (phù hợp cho sinh viên) Năm nhất Tây Nam Bộ Sinh thái – biển đảo Đông Nam Bộ Biển đảo – nghiên cứu Duyên hải Nam Trung Bộ Biển đảo – sinh thái Năm hai Tây Nam Bộ Sinh thái – biển đảo – nghiên cứu Tây Nguyên Duyên hải Nam Trung Bộ Sinh thái – nghiên cứu (văn hóa tộc người) Biển đảo – sinh thái Năm ba Trung du và miền núi Bắc Bộ Sinh thái – nghiên cứu (văn hóa tộc người) Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc Biển đảo – tâm linh – sinh thái Bắc Trung Bộ Nghiên cứu (di sản, văn hóa) – biển đảo Duyên hải Nam Trung Bộ Sinh thái – biển đảo Năm cuối Tây Nam Bộ Sinh thái – biển đảo Đông Nam Bộ Nghiên cứu – biển đảo
  • 102. 90 Tây Nguyên Sinh thái – nghiên cứu (văn hóa tộc người) [Nguồn: Nhóm tác giả căn cứ vào Đề án “Phát triển tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” - Tổng cục Du lịch] 3.3.2.3. Xây dựng sản phẩm du lịch cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học Theo định nghĩa về “sản phẩm du lịch” mà nhóm tác giả đã đề cập trong chương 1, SPDL là kết quả của việc kết hợp hai thành tố tài nguyên du lịch – dịch vụ. Do đó, sau khi nhận định các SPDL đặc trưng của từng vùng du lịch theo định hướng của Tổng cục, chúng tôi tiến hành xây dựng và thiết kế các SPDL cụ thể cho từng nhóm đối tượng sinh viên dựa trên hai thành tố: Tài nguyên du lịch – dịch vụ. Theo đó, ở thành tố tài nguyên du lịch, nhóm tác giả phân thành hai nhóm tài nguyên là tài nguyên du lịch tự nhiên – tài nguyên du lịch nhân văn. Mặt khác, đối với thành tố dịch vụ, chúng tôi phân chia thành các thành tố nhỏ, bao gồm các dịch vụ: Vận chuyển – lưu trú – ăn uống – hướng dẫn viên – các dịch vụ bổ trợ khác. Kết quả xây dựng này chỉ dừng lại ở mức độ chung nhất, phổ quát nhất. Đối với việc phân chia cụ thể chất lượng của các SPDL, chúng tôi sẽ tiến hành khi xây dựng thử nghiệm khung CTDL cụ thể. Bởi vì, ở từng nhóm đối tượng sinh viên, không phải chỉ có một loại SPDL, mà trong đó có nhiều SPDL khác nhau. Do đó, việc định hướng và xây dựng SPDL ở cấp độ phổ quát chỉ mang tính tương đối.
  • 103. 91 Bảng 3.9: Xây dựng SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên ngành VNH Đối tượng sinh viên SẢN PHẨM DU LỊCH Tài nguyên du lịch Dịch vụ20 Tự nhiên Nhân văn Tham quan Vận chuyển Lưu trú Ăn uống Hướng dẫn viên Khác Năm nhất X X Ít Tốt Tốt Khá Hoạt náo tốt Tùy vào tình hình thực tiễn để có sự bổ sung linh động Năm hai X X Nhiều Tốt Khá Tốt Kiến thức tốt Năm ba X X Nhiều Tốt Khá, trung bình Tốt, khá Dung hòa cả hai yếu tố Năm cuối X X Ít Tốt Tốt Tốt Dung hòa cả hai yếu tố [Nguồn: Nhóm tác giả] 20 : Chất lượng dịch vụ vận chuyển – lưu trú – ăn uống được đánh giá theo dạng thang đo: Tốt – Khá – Trung bình; Dịch vụ tham quan được đánh giá theo tần suất: Nhiều – Ít; Hướng dẫn viên được đánh giá theo khả năng: Kiến thức tốt – Hoạt náo tốt – Dung hòa cả hai yếu tố.
  • 104. 92 Bên trên đã tổng hợp và nhận định các SPDL cho các nhóm đối tượng sinh viên khác nhau. Thông qua bảng trên, nhóm tác giả có một số nhận định ở từng thành tố cấu thành nên SPDL như sau: Về thành tố tài nguyên du lịch: Ta có thể thấy, dù là nhóm đối tượng sinh viên nào, tham gia loại hình du lịch nào đi chăng nữa thì cũng cần có sự hiện diện của hai loại tài nguyên du lịch là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Về vấn đề tham quan, ở mỗi nhóm đối tượng sinh viên có sự khác biệt về tần suất. Đối với nhóm đối tượng sinh viên năm hai và năm ba thì đây là nhóm đối tượng phải tham quan với tần suất cao, vì đây là khoảng thời gian mà sinh viên cần tiếp thu thật nhiều kiến thức chuyên ngành. Còn với năm nhất và năm cuối thì tần suất giảm xuống. Về dịch vụ vận chuyển thì tất cả các nhóm đều cần được sử dụng dịch vụ vận chuyển tốt để đảm bảo an toàn trong suốt một CTDL. Về dịch vụ lưu trú, như đã đề cập, sinh viên cần có sự trải nghiệm trong nhiều môi trường lưu trú khác nhau để đảm bảo việc tiếp cận và nắm bắt nhiều dạng dịch vụ. Mặt khác, theo chúng tôi thì dịch vụ lưu trú cũng là một thành tố chiếm tỉ lệ cao trong việc quyết định giá cả cho một CTDL. Chất lượng dịch vụ lưu trú tốt tỉ lệ thuận với giá thành cao. Do vậy, cần cân nhắc trong việc sử dụng dịch vụ lưu trú để tránh làm ảnh hưởng đến nhu cầu giá cả, đảm bảo một mức giá hợp lý cho sinh viên. Về dịch vụ ăn uống, chúng tôi đưa ra thang đo “tốt – khá – trung bình” có nghĩa là thực đơn món ăn như thế nào, không bao gồm vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm, bởi vì đây là vấn đề tối quan trọng không cần đề cập. Hiện nay, mặc dù ẩm thực là một thành tố thu hút du khách khi đi du lịch, thế nhưng có những khi đây cũng đồng thời là rào cản, gây khó khăn cho thực khách khi đi du lịch. Lấy một ví dụ như món mắm Prahok (Bò hóc) được xem là đặc sản của cộng đồng người Khmer. Thế nhưng nếu ăn không quen thì mùi vị sẽ gây khó chịu cho thực khách. Nhìn chung, thực đơn món ăn trong các CTDL cho sinh viên cần đảm bảo cân bằng yếu tố khẩu vị và trải nghiệm. Vì như ta đã biết, đặt trường hợp sinh viên trải nghiệm những CTDL dài ngày, nếu trong thực đơn quá chú trọng vào việc tạo điều kiện cho sinh viên trải nghiệm những món ăn đặc sản địa phương thì khả năng bỏ bữa là rất cao; điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của sinh viên. Nhưng nếu không tạo điều kiện
  • 105. 93 để sinh viên có điều kiện thử những món ăn đặc sản thì cũng không hay vì như đã đề cập, trải nghiệm ẩm thực cũng là một điểm nhấn trong tổng thể một SPDL hoàn chỉnh. Cuối cùng là vấn đề về hướng dẫn viên. Đây vốn cũng được xem như một vấn đề quan trọng trong việc nhìn nhận chất lượng của một SPDL, đặc biệt trong trường hợp khi mà đối tượng du khách ở đây là sinh viên ngành Du lịch. Yếu tố hướng dẫn viên liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành mà ngay từ đầu, nhóm tác giả đã nhận định là một nhu cầu đặc trưng của sinh viên. Có thể nói, rất khó để tìm được một hướng dẫn viên đảm bảo được việc dung hòa hai kỹ năng: Có kiến thức tốt – khả năng hoạt náo giỏi. Do vậy, tùy thuộc vào tính chất của một CTDL (các chuyến đi thực tế hay ngoại khóa) mà cần có sự cân nhắc trong việc tuyển chọn lực lượng hướng dẫn viên. Nếu là các CTDL thực tế thì cần ưu tiên lựa chọn đội ngũ hướng dẫn viên có kiến thức rộng để giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với kiến thức chuyên ngành. Còn ngược lại, đối với những CTDL là ngoại khóa thì cần tuyển chọn những hướng dẫn viên có khả năng hoạt náo giỏi để qua đó, một mặt có thể tạo không khí chuyến đi vui vẻ, mặt khác vừa có thể giúp sinh viên học hỏi thêm kỹ năng hoạt náo – một kỹ năng cũng không kém phần quan trọng của người hướng dẫn viên. Như vậy, ở trên là bảng nhận định từng thành tố trong khái niệm SPDL mà nhóm tác giả đã đề xuất. Tuy nhiên, bản chất của SPDL là một khái niệm mang tính trừu tượng cao; do đó, để làm rõ những đặc trưng đối với từng nhóm đối tượng sinh viên, chúng tôi cụ thể hóa chúng bằng những khung CTDL, vì những khung CTDL này chính là phương tiện để đưa những SPDL này đến tay sinh viên một cách chi tiết và cụ thể nhất. Cũng cần lưu ý thêm rằng, chúng tôi đề xuất những khung CTDL chứ không phải là CTDL cụ thể. Hay nói cách khác, nhóm tác giả sẽ căn cứ vào loại hình du lịch phù hợp với từng nhóm đối tượng sinh viên của ngành VNH đã được đề cập ở trên và đề xuất những tuyến du lịch trong từng vùng du lịch (nội vùng và liên vùng), sử dụng những dịch vụ ở mức độ như thế nào, … chứ không sắp xếp chúng thành một CTDL cụ thể.
  • 106. 94 3.3.3. Ứng dụng thử nghiệm thiết kế một số khung chương trình du lịch Khung CTDL sẽ được xây dựng dựa trên bốn yếu tố sau21 : Sơ đồ 3.10: Tiêu chí xây dựng khung CTDL cho sinh viên [Nguồn: Nhóm tác giả] 3.3.3.1. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm nhất Đối với nhóm đối tượng du khách là sinh viên năm nhất, nhóm tác giả đề xuất khung CTDL như sau: Thiết kế tham quan vùng du lịch: Tây Nam Bộ - Đông Nam Bộ - Duyên hải Nam Trung Bộ với độ dài của chương trình từ 1 – 3 ngày. Trong đó, linh động xây dựng các tuyến nội vùng (Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ) hoặc tuyến liên vùng (kết hợp Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ). Đối với vùng Đông Nam Bộ thì tập trung xây dựng SPDL tại hai trung tâm du lịch của vùng là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Vũng Tàu; đối với vùng Tây Nam Bộ thì tập trung xây dựng SPDL tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Vĩnh Long. Còn đối với vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ thì tập trung xây dựng SPDL với trung tâm là thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận). 21 : Trong phần này, nhòm tác giả tập trung xây dựng khung CTDL với mục tiêu làm rõ 3 vấn đề: Độ dài CTDL – vùng du lịch – đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch. Còn đối với dịch vụ, chúng tôi sử dụng theo kết quả đánh giá mức độ dịch vụ theo thang đo trong bảng 3.9.
  • 107. 95 Đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch: Như đã xác định từ đầu, đây là nhóm đối tượng trải nghiệm SPDL chưa yêu cầu cao về mặt chuyên môn, do vậy mà tài nguyên du lịch trong những CTDL thiết kế cho nhóm đối tượng này chủ yếu là mang tính giải trí. Các loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái – du lịch biển đảo – du lịch nghiên cứu đều là những loại hình du lịch có thể phát triển các SPDL đặc trưng tại những vùng du lịch này. Chẳng hạn như SPDL biển tại vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ, loại hình du lịch sinh thái tại vùng Tây Nam Bộ… Nói tóm lại, đối với nhóm đối tượng là sinh viên năm nhất, SPDL khi thiết kế chỉ cần đảm bảo mục tiêu giúp sinh viên có những nhận thức đầu tiên về nghề nghiệp, do vậy mà không cần quá chú trọng vào tính chuyên môn. 3.3.3.2. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm hai Với nhóm đối tượng là sinh viên năm hai, chúng tôi đề xuất xây dựng khung CTDL như sau: Thiết kế tham quan vùng du lịch: Tây Nam Bộ - Tây Nguyên – Duyên hải Nam Trung Bộ với độ dài của chương trình được kéo dài từ 5 – 7 ngày, tùy thuộc vào sự kết hợp các tuyến. Với những vùng du lịch này, SPDL xây dựng cho sinh viên có thể kết hợp tuyến liên vùng Tây Nguyên – Duyên hải Nam Trung Bộ với thành phố Đà Lạt (vùng Tây Nguyên) làm trung tâm, và thành phố Phan Thiết, thành phố Nha Trang (vùng Duyên hải Nam Trung Bộ) làm trung tâm. Mặt khác, đối với vùng Tây Nam Bộ thì thiết kế tuyến nội vùng, trong đó lấy tỉnh Bến Tre, tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và thành phố Cần Thơ làm những trung tâm để xây dựng. Đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch: Đối với các vùng du lịch này, những loại hình du lịch chủ đạo để phát triển SPDL theo chúng tôi bao gồm: Loại hình du lịch biển đảo (với vùng du lịch Tây Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ) – loại hình du lịch sinh thái (với vùng du lịch Tây Nam Bộ và Tây Nguyên) – loại hình du lịch nghiên cứu (văn hóa tộc người) tại vùng Tây Nguyên. Bấy lâu nay, những vùng du lịch này đã được nghiên cứu và xây dựng SPDL không chỉ cho sinh viên ngành VNH mà còn cả những doanh nghiệp du lịch bên ngoài. Thế nhưng một thực tế là vẫn chưa có sự “bức phá” nào trong việc đánh bật những giá trị đặc sắc về nguồn tài nguyên du lịch tại những vùng du lịch này để từ đó có thể xây dựng những SPDL đặc sắc. Như vậy, điều mà chúng tôi đề cập ở đây là không nhất thiết phải xây dựng những CTDL với những điểm tham quan phổ biến, mà thay vào đó, ở mỗi vùng du lịch, Ban lãnh đạo
  • 108. 96 khoa cần xem xét và đặt vấn đề tập trung xây dựng những CTDL với những điểm du lịch mới lên hàng đầu. Tuy nhiên, những điểm du lịch này cần phải làm nổi bật thế mạnh về nguồn tài nguyên du lịch tại vùng đó. Lấy một ví dụ điển hình, nếu chọn tuyến liên vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ để thiết kế CTDL cho sinh viên thì ta cần nhận định thế mạnh về tài nguyên của từng vùng: Với vùng Tây Nguyên, có thể nghiên cứu những điểm du lịch mà tại đó, sinh viên có điều kiện tiếp xúc với cộng đồng cư dân các tộc người thiểu số để hiểu rõ hơn về đời sống của họ, chứ không nhất thiết phải tham quan những điểm du lịch đã trở nên quá quên thuộc. Hay như đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có thể thiết kế những SPDL “đậm” tính biển (chẳng hạn như chương trình “tour 4 đảo” tại thành phố Nha Trang)… Tóm lại, với SPDL dành cho sinh viên năm hai, yêu cầu về chuyên môn đã được nâng lên đáng kể. Do vậy mà công tác thiết kế, tổ chức và định hướng cũng cần được chú trọng hơn. Sau những CTDL, sinh viên phải có những chuyển biến về kiến thức, nghiệp vụ, nhận thức theo hướng tích cực, chứ không còn mang tính trải nghiệm và giải trí như trong năm nhất nữa. 3.3.3.3. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm ba Trong các nhóm đối tượng sinh viên của khoa, có thể nói nhóm đối tượng là sinh viên năm ba là những sinh viên cần được trang bị kiến thức chuyên môn thiết yếu nhất. Bởi vì trong giai đoạn này, những môn học chuyên ngành đều đã được trang bị cho sinh viên. Do vậy mà những SPDL được thiết kế cho nhóm đối tượng này cũng cần phải có những yêu cầu đặc biệt quan trọng để qua đó giúp cho sinh viên kiểm chứng những kiến thức lý thuyết đã được trang bị trên lớp. Về thiết kế tham quan vùng du lịch: Như đã xác định trong bảng 3.8, với sinh viên năm ba cần thiết kế liên tuyến cả bốn vùng du lịch: Duyên hải Nam Trung Bộ - Bắc Trung Bộ - Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc – Trung du và miền núi Bắc Bộ. Với khung chương trình như vậy thì độ dài trung bình cho khung CTDL kéo dài trong khoảng từ 18 – 22 ngày. Hiện nay, CTDL liên tuyến này đã được ngành VNH thiết kế và ứng dụng cho sinh viên với tên gọi là hành trình xuyên Việt. Tuy nhiên, qua khảo sát trong chương 2, chúng tôi nhận được những phản hồi của sinh viên về vấn đề thời gian quá dài, có sự trùng lập về các loại hình du lịch, … Do đó, việc
  • 109. 97 định hướng khung chương trình sau sẽ giới hạn lại phạm vi tham quan dựa trên cơ sở xác định những SPDL đặc trưng tại từng vùng. Cụ thể: - Với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: Lấy thành phố Nha Trang, tỉnh Phú Yên, tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam làm trọng tâm phát triển SPDL. - Với vùng Bắc Trung Bộ: Lấy thành phố Huế, tỉnh Quảng Bình, tỉnh Thanh Hóa làm trọng tâm xây dựng. - Với vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: Lấy tỉnh Ninh Bình, thành phố Hà Nội, tỉnh Quảng Ninh làm trọng tâm xây dựng. - Cuối cùng, với vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ lấy tỉnh Lào Cai và tỉnh Hà Giang làm trung tâm để thiết kế. Đặc trưng về nguồn tài nguyên du lịch: Đây là một SPDL mang tính tổng hợp rất cao. Ở mỗi vùng du lịch đều có những SPDL đặc sắc riêng. Do vậy, khi thiết kế CTDL, Ban lãnh đạo khoa cần xem xét yếu tố đánh bật những đặc trưng tại mỗi vùng du lịch. Lấy ví dụ như đối với vùng Bắc Trung Bộ, đây được xem như một vùng du lịch di sản, do đó cần lựa chọn SPDL nghiên cứu (văn hóa) với vùng du lịch này. Trong khi đó, với vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ, những trung tâm mà chúng tôi xác định đều là những nơi phù hợp với việc phát triển SPDL biển đảo… Do đó, để thực sự hiệu quả trong việc thiết kế SPDL cho tuyến du lịch này, cần có sự nhận định đúng đắn ngay từ đầu về những thế mạnh tài nguyên du lịch của từng khu vực, tránh trường hợp “ôm” quá nhiều điểm tham quan trong một CTDL, gây tâm lý mệt mỏi và nhàm chán cho sinh viên như hiện nay. 3.3.3.4. Khung CTDL dành cho đối tượng là sinh viên năm cuối Với nhóm đối tượng sinh viên năm cuối, đây là nhóm đối tượng tương tự như nhóm đối tượng sinh viên năm nhất, mục đích khi tham gia trải nghiệm các SPDL là để tổng kết lại những vấn đề đã được trang bị. Do vậy, tính giải trí được ưu tiên trên hết. Về thiết kế tham quan vùng du lịch: Có thể linh động nhưng căn cứ trên nguyên tắc không trùng lập với khung chương trình trong năm nhất. Nếu năm nhất đã thiết kế CTDL tuyến Đông Nam Bộ thì lần này sẽ đổi sang tuyến Tây Nam Bộ hoặc ngược lại. Do vậy, ở các nhóm lớp khác nhau sẽ có sự khác biệt, không có sự thống nhất vì điều này phụ thuộc vào khung chương trình của các lớp.
  • 110. 98 Tiểu kết chương 3 Trong chương này, nhóm tác giả đã giải quyết những vấn đề sau: (1) Đưa ra nhận định tổng quát về vấn đề lựa chọn SPDL của sinh viên ngành VNH bằng mô hình TOWS. Mô hình này giúp ta có cái nhìn ở cấp độ phổ quát nhất về những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc lựa chọn SPDL của sinh viên. (2) Tiếp theo, căn cứ vào tình hình thực tiễn đó, chúng tôi đưa ra những nhóm định hướng và lấy đó làm cơ sở cho việc bước đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản trong việc thiết kế những SPDL, đáp ứng nhu cầu của các nhóm đối tượng sinh viên. (3) Nội dung tiếp theo chúng tôi cũng đã giải quyết là việc ứng dụng thử nghiệm nhận định những yếu tố cấu thành nên SPDL để từ đó làm căn cứ xây dựng SPDL. Để làm được điều này, nhóm tác giả đã lần lượt thực hiện theo quy trình sau: Xác định mục đích và cơ sở thiết kế những SPDL – nhận định và phân loại các nhóm đối tượng sinh viên - ứng dụng xây dựng thử nghiệm những SPDL. (4) Và những kết quả đó chính là tiền đề để chúng tôi căn cứ vào đó xây dựng khung CTDL một cách linh động, có cơ sở và phù hợp với các nhóm đối tượng sinh viên khác nhau. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của đề tài này.
  • 111. 99 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Trong quá trình hội nhập không chỉ trong bình diện khu vực, mà còn cả bình diện quốc tế, Việt Nam thực sự đang đối đầu với nhiều thách thức. Trong những thách thức đó, nhóm tác giả cho rằng chất lượng nguồn nhân lực lao động trong ngành là một trong những mắt xích chủ chốt. Sinh viên ngành VNH khoa QHQT, ĐHSG chính là một phần của nguồn nhân lực ấy trong tương lai. Do vậy, đề tài này đã được hoàn thành nhằm mục tiêu xây dựng những SPDL đáp ứng nhu cầu chính đáng của sinh viên. Chính việc trải nghiệm những SPDL này là tiền đề vững chắc để sinh viên có cơ sở lao động hiệu quả sau này. So sánh lại với mục đích đặt ra ở phần đầu của đề tài, thông qua những nhiệm vụ đã được xác định, đề tài đã đạt được những kết quả mới, cả về lý luận và thực tiễn: Về nhiệm vụ hệ thống hóa một số vấn đề lý luận: Nhóm tác giả đã tiến hành tổng hợp tài liệu, phân tích và đưa ra những nhận định của chúng tôi về những vấn đề đó. Việc xây dựng khung lý thuyết nhằm mục tiêu làm cơ sở khoa học và thực tiển để chúng tôi tiến hành nghiên cứu nội dung chính của đề tài. Cụ thể là đưa ra những khái niệm về nhu cầu du lịch, động cơ du lịch, loại hình du lịch, sản phẩm du lịch; trong đó thì chúng tôi đã bước đầu đưa ra những định nghĩa về động cơ du lịch – loại hình du lịch. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã xác định và phân tích tính thiết yếu trong việc nhận định những nhu cầu mang tính đặc thù của sinh viên ngành VNH trong vấn đề lựa chọn SPDL. Về nhiệm vụ đánh giá thực trạng nhu cầu lựa chọn SPDL của sinh viên: Nhóm tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi khảo sát, sử dụng phương pháp định tính và định lượng để đưa ra những nhận định về việc lựa chọn SPDL của sinh viên. Những kết quả đạt được bám sát với tình hình thực tiễn, phản ánh đúng với thực trạng trong những năm qua của sinh viên trong việc sử dụng SPDL. Đây là cơ sở để chúng tôi nhìn nhận một cách chi tiết những ý kiến của sinh viên, xác định những nhu cầu thiết yếu của sinh viên để qua đó có thể thiết kế những SPDL đặc sắc hơn, nâng cao chất lượng đào tạo của khoa trên bình diện chung.
  • 112. 100 Hoàn thành hai nhiệm vụ trên là tiền đề để nhóm tác giả tiếp cận với nhiệm vụ tiếp theo, đó là đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể trong việc thiết kế SPDL cho sinh viên ngành VNH, khoa QHQT. Thông qua phân tích TOWS, nhóm tác giả đề xuất 5 định hướng xoay quanh các vấn đề: Mục tiêu – nguyên tắc – cách thức – tính hiệu quả - phương châm. Theo đó, những giải pháp cụ thể cũng được nhận định và đề xuất. Việc làm này đảm bảo hướng đến việc thiết kế SPDL cho sinh viên ngành VNH sau này một chuẩn mực và khuôn khổ khoa học. Và những nhiệm vụ trên được thực hiện nhằm hướng đến mục đích đã đề ra trong đề tài này, đó là bước đầu thử nghiệm xây dựng những khung CTDL khác nhau cho các nhóm sinh viên của ngành VNH. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của đề tài. Do năng lực, kinh phí, thời gian và nhiều yếu tố khác chi phối, đề tài này của nhóm tác giả chỉ vừa đặt những viên gạch đầu tiên trong quá trình xây dựng những SPDL cho sinh viên của khoa. Vẫn còn rất nhiều vấn đề mà chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu thêm. Do đó, những vấn đề này, cả về lý luận và thực tiễn còn chưa được nghiên cứu chi tiết trong đề tài này sẽ là cơ sở để những đề tài nghiên cứu khoa học sau của sinh viên có điều kiện hơn trong việc nghiên cứu hoàn thiện. KIẾN NGHỊ Việc hoàn thành mục đích nghiên cứu đề tài này thông qua kết quả nghiên cứu đã đạt được cho phép chúng tôi có những kiến nghị sau: Đối với Ban giám hiệu trường ĐHSG: Xem kết quả đạt được của đề tài này như một tài liệu bước đầu nghiên cứu thực trạng phát triển chương trình đào tạo của khoa QHQT nói chung. Chúng tôi kiến nghị Ban giám hiệu nhà trường cần có sự nghiên cứu nghiêm túc để cùng với Ban lãnh đạo khoa QHQT tìm ra những định hướng xây dựng những CTDL, căn cứ vào những SPDL đặc trưng để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên của ngành VNH khoa QHQT trong thời gian sắp tới. Đối với Ban lãnh đạo khoa QHQT: Thành lập Ban chỉ đạo xây dựng CTDL (cả chương trình Thực tế chuyên môn và ngoại khóa) của khoa nhanh chóng để thông qua đó, có thể xây dựng những CTDL thiết thực và bám sát thực tiễn hơn so với hiện nay. Mặt khác, chúng tôi cũng kiến
  • 113. 101 nghị Ban lãnh đạo khoa QHQT (VHDL) cần có sự phối hợp với Ban lãnh đạo nhà trường trong vấn đề định hướng xây dựng SPDL cho sinh viên. Đối với Trung tâm Hướng dẫn Du lịch, ĐHSG: Với vai trò là cơ quan phụ trách chính việc xây dựng CTDL Thực tế chuyên môn cho khoa VHDL, chúng tôi kiến nghị Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu và xem đề tài này là một tài liệu tham khảo; liên kết và đẩy mạnh việc trao đổi với khoa VHDL trong việc hỗ trợ để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của sinh viên trong việc thụ hưởng những SPDL.
  • 114. 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu sách, báo, tạp chí: 1. Trần Thúy Anh (2011), Giáo trình du lịch văn hóa - những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, NXB Giáo dục. 2. Trần Lê Bảo (2011), Khu vực học và nhập môn Việt Nam học, NXB Giáo dục. 3. Vũ Cao Đàm (2012), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục. 4. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2004), Giáo trình Kinh tế du lịch, NXB Lao động. 5. Dennis L. Foster (2001), Công nghệ du lịch (Kỹ thuật nghiệp vụ) (Trần Đình Hải biên dịch), NXB Thống kê. 6. Trần Thị Thu Hà (2005), Giáo trình Tâm lý học kinh doanh du lịch (dùng trong các trường THCN Hà Nội), NXB Hà Nội. 7. Khung chương trình Giáo dục Đại học ngành Việt Nam học (Văn hóa – Du lịch) đã được Hiệu Trưởng phê duyệt ngày 19 tháng 05 năm 2009. 8. Trần Thị Thúy Lan, Nguyễn Đình Quang (2005), Giáo trình Tổng quan du lịch, NXB Lao động Xã hội. 9. Nguyễn Văn Lưu (2013), Du lịch Việt Nam hội nhập trong ASEAN, NXB Văn hóa Thông tin. 10. Nguyễn Văn Lưu (2014), Phát triển nguồn nhân lực – yếu tố quyết định sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam, NXB Thông tấn. 11. Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa (2008), Giáo trình Marketing du lịch, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. 12. Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hồng Chương (2006), Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, NXb Đại học Kinh tế Quốc dân. 13. Phạm Thị Thu Nga và nnk (2012), Định hướng phát triển bền vững công tác đào tạo khoa Văn hóa – Du lịch (Đề tài NCKH cấp cơ sở) – khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Sài Gòn. 14. Phạm Thị Thu Nga (2009), “Ngành Việt Nam học (Văn hóa – Du lịch) tại Trường Đại học Sài Gòn”, Tạp chí Đại học Sài Gòn (số 1).
  • 115. 103 15. Phạm Thị Thu Nga (2014), Khảo sát xây dựng hệ thống kỹ năng trong đào tạo nghiệp vụ du lịch của Khoa Văn hóa – Du lịch (Đề tài NCKH cấp cơ sở) – khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Sài Gòn. 16. Nguyễn Quang Ngọc (2006), “Việt Nam học ở Việt Nam: Quá trình hình thành và phát triển”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế: “Khu vực học: Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu”, tr3 – 9. 17. Huỳnh Thiệu Phong (2014), Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng ở vùng Tây Nam Bộ (Đề tài NCKH cấp cơ sở) – khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Sài Gòn. 18. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 7 (2005), Luật du lịch, Hà Nội. 19. Bùi Quang Tịnh, Bùi Thị Tuyết Khanh (2001), Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin. 20. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 21. Trần Thị Kim Thu (Chủ biên) (2011), Giáo trình điều tra xã hội học, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. 22. Trần Thị Thục (2013), Tập bài giảng Giáo trình Địa lý Du lịch Việt Nam, Đại học Sài Gòn. 23. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Bộ công cụ hướng dẫn giảm nghèo thông qua du lịch, Hà Nội. 24. Tổng cục Du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch. 25. Nguyễn Minh Tuệ (1998), Địa lý du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục. 26. Bùi Thị Hải Yến (2009), Tài nguyên du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục. 27. Bùi Thị Hải Yến (2011), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục. Tài liệu khai thác trực tuyến: 28. http://anninhthudo.vn/phong-su/huong-dan-vien-du-lich-chinh-quy-thi-it- nghiep-du-thi-nhieu/453025.antd 29. http://melissajoykong.tumblr.com/post/41133458868/the-psychological- reasons-behind-why-rejection-sucks-so
  • 116. 104 30. http://trungtamnghiencuuthucpham.vn/ve-sinh-toan-thuc-pham-van-de-xa- hoi-buc-xuc-can-duoc-giai-quyet/ 31. http://vi.wikipedia.org/wiki/Abraham_Maslow 32. http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87n_Vi%E1%BB%85n_%C4%90 %C3%B4ng_B%C3%A1c_c%E1%BB%95 33. https://voer.edu.vn/c/khai-niem-ve-san-pham/022e4f84/acb65ac3 đ.n 34. http://www.sgu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=244 &Itemid=93
  • 117. 105 PHỤ LỤC STT Danh mục phụ lục Trang 1 Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên ngành VNH 106 2 Phụ lục 2: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên khoa ngoài 111 3 Phụ lục 3: Phân vùng du lịch Việt Nam theo Đề án “Phát triển tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch 113
  • 118. 106 Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên ngành VNH Xin chào các bạn, Chúng tôi là nhóm sinh viên lớp CVI112, khoa Văn hóa - Du lịch, hiện đang thực hiện đề tài NCKH “Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên khoa Văn hóa – Du lịch trường Đại học Sài Gòn (Giai đoạn 2011 – 2014)”. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, nay chúng tôi cần sự hỗ trợ của các bạn. Các bạn vui lòng trả lời các câu hỏi bên dưới bằng cách đánh dấu “” vào câu hỏi. Sự giúp đỡ của các bạn là rất cần thiết. Chúng tôi xin đảm bảo những thông tin của các bạn chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu và hoàn thành đề tài này và sẽ tuyệt đối được giữ bí mật.  Họ tên: ……………………………………………………………………………………….. Tuổi: …………………………………………………………………………………. Giới tính: □ Nam □ Nữ Lớp: …...……………………………………………………………………………… Các bạn vui lòng cung cấp thông tin cho các câu hỏi sau đây: Câu 1: Theo chương trình đào tạo hiện nay, ngoài các học phần thực tế bộ môn, theo bạn có nên thêm các chuyến đi ngoại khóa khác hay không ? □ Có (Trả lời tiếp câu 2) □ Không (Bỏ qua câu 2) Câu 2: Theo bạn nên tổ chức thêm bao nhiêu chuyến đi là hợp lý (Trong 4 năm đào tạo) ? □ 1 chuyến □ 2 chuyến □ 3 chuyến □ 4 chuyến Câu 3: Hiện nay, thu nhập bình quân hằng tháng của bạn dao động trong khoảng: □ 1 triệu -> 2 triệu □ 2 triệu -> 3 triệu □ 3 triệu -> 4 triệu □ > 4 triệu
  • 119. 107 Câu 4: Một chương trình du lịch có giá dao động trong khoảng bao nhiêu thì bạn đáp ứng được ? □ < 1 triệu □ 1triệu -> 2 triệu □ 2 triệu -> 3 triệu □ > 3 triệu Câu 5: Theo bạn, thời gian cho một chuyến đi bao lâu là hợp lý ? □ 1 ngày □ 2 ngày □ 2 ngày -> 4 ngày □ > 4 ngày Câu 6: Thời điểm thích hợp để tổ chức các chuyến đi ? □ Trước Tết □ Sau Tết □ Trước thi học kỳ □ Sau thi học kỳ Câu 7: Mục đích chính khi tham gia các chương trình du lịch là gì ? □ Vui chơi là chủ yếu □ học tập kiến thức chuyên ngành là chủ yếu □ Kết hợp cả hai yếu tố: Vui chơi và học tập □ Mục đích khác: …………………………………………………………………… Câu 8: Trong các loại hình du lịch dưới đây, bạn có hứng thú với loại hình du lịch nào (Có thể chọn nhiều loại hình) ? □ Du lịch văn hóa □ Du lịch sinh thái □ Du lịch biển □ Du lịch về nguồn □ Khác: ……………………………………………………………………… Câu 9: Theo bạn, nhu cầu về các hoạt động vui chơi (chương trình gala, team building, trò chơi lớn,…) được tổ chức trong chuyến đi có cần thiết không ? □ Rất không cần thiết □ Không cần thiết
  • 120. 108 □ Bình thường □ Cần thiết □ Rất cần thiết Câu 10:Theo bạn, dịch vụ vận chuyển ảnh hưởng như thế nào đến chuyến đi ? □ Rất không ảnh hưởng □ Không ảnh hưởng □ Bình thường □ Ảnh hưởng □ Rất ảnh hưởng Câu 11: Vị trí của cơ sở lưu trú mà bạn mong muốn ? □ Trung tâm thành phố (gần chợ, trung tâm mua sắm, vui chơi…) □ Gần trung tâm □ Xa trung tâm □ Không quan tâm, ở đâu cũng được Câu 12: Theo bạn, số người lưu trú trong một phòng bao nhiêu là hợp lý ? □≤ 2 □ 3 □ 4 □ > 4 Câu 13: Bạn nhận định như thế nào về vai trò của cơ sở vật chất và các dịch vụ tại nơi lưu trú ? □ Rất không ảnh hưởng □ Không ảnh hưởng □ Bình thường □ Ảnh hưởng □ Rất ảnh hưởng Câu 14: Tại nơi ăn uống, bạn quan tâm các vấn đề sau ở mức độ như thế nào ? Tiêu chí Mức độ quan tâm Rất không quan tâm Không quan tâm Bình thường Quan tâm Rất quan tâm Giá cả Chất lượng món ăn Vệ sinh an toàn thực phẩm
  • 121. 109 Không gian bày trí Thái độ phục vụ Câu 15: Bạn quan tâm vấn đề gì khi đến một điểm tham quan ? □ Khảo sát dịch vụ tại các điểm du lịch □ Tiếp cận các thông tin thuyết minh tại điểm □ Không quan tâm vì địa điểm tham quan có trong chương trình □ Khác: ………………………………………………………………………........ Câu 16: Bạn mong muốn đạt được gì sau chuyến đi ? □ Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của bản thân □ Trải nghiệm thực tiễn □ Tích lũy kiến thức chuyên ngành □ Khác……………………………………………………………………………… Câu 17: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của bạn: □ Có kiến thức sâu rộng □ Có khả năng hoạt náo tốt □ Nắm vững nghiệp vụ □ Khác: ………………………………………………………………………........... Câu 18: Một sản phẩm du lịch hoàn thiện, theo bạn tầm quan trọng của những nhu cầu sau ở mức độ nào ? (1: Rất không quan trọng ; 2: Không quan trọng ; 3: Bình thường ; 4: Quan trọng ; 5: Rất quan trọng) Các nhu cầu Mức quan trọng mà bạn nhận định Giá cả ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ 1 2 3 4 5 Chương trình du lịch ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ 1 2 3 4 5 Các dịch vụ tham quan - lưu trú – ăn uống – ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝
  • 122. 110 vận chuyển - các dịch vụ bổ sung 1 2 3 4 5 Tiếp cận thực tiễn và tích lũy kiến thức chuyên ngành ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ ⃝ 1 2 3 4 5 Câu 19: Mức độ hài lòng của các bạn trong những chương trình du lịch do khoa tổ chức như thế nào ? □ Rất không hài lòng □ Không hài lòng □ Bình thường □ Hài lòng □ Rất hài lòng Câu 20: Sau khi đã tham gia các học phần Thực tế Chuyên môn, các bạn có đề xuất hoặc kiến nghị gì trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch cho phù hợp với bản thân mình hay không ? (Nếu có xin kiến nghị, đề xuất cụ thể) ………………………………………………………………………………………………… ….……………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………… XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC BẠN !
  • 123. 111 Phụ lục 2: Mẫu phiếu khảo sát dành cho sinh viên khoa ngoài Xin chào các bạn, Chúng tôi là nhóm sinh viên lớp CVI112, khoa Văn hóa - Du lịch, hiện đang thực hiện đề tài NCKH “Nhu cầu lựa chọn sản phẩm du lịch của sinh viên khoa Văn hóa – Du lịch trường Đại học Sài Gòn (Giai đoạn 2011 – 2014)”. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, nay chúng tôi cần sự hỗ trợ của các bạn. Các bạn vui lòng trả lời các câu hỏi bên dưới bằng cách đánh dấu “” vào câu hỏi. Sự giúp đỡ của các bạn là rất cần thiết. Chúng tôi xin đảm bảo những thông tin của các bạn chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu và hoàn thành đề tài này và sẽ tuyệt đối được giữ bí mật.  Họ tên: ……………………………………………………………………………………….. Tuổi: …………………………………………………………………………………. Giới tính: □ Nam □ Nữ Lớp: …...……………………………………………………………………………. Các bạn vui lòng cung cấp thông tin cho các câu hỏi sau đây: Câu 1: Theo bạn, thời gian cho một chuyến đi bao lâu là hợp lý ? □ 1 ngày □ 2 ngày □ 2 ngày -> 4 ngày □ > 4 ngày Câu 2: Mục đích chính khi tham gia các chương trình du lịch là gì ? □ Vui chơi là chủ yếu □ Học tập kiến thức chuyên ngành là chủ yếu □ Kết hợp cả hai yếu tố: Vui chơi và học tập □ Mục đích khác: …………………………………………………………………… Câu 3: Theo bạn, số người lưu trú trong một phòng bao nhiêu là hợp lý ? □ ≤ 2 □ 3 □ 4 □ > 4 Câu 4: Bạn quan tâm vấn đề gì khi đến một điểm tham quan ?
  • 124. 112 □ Khảo sát dịch vụ tại các điểm du lịch □ Tiếp cận các thông tin thuyết minh tại điểm □ Không quan tâm vì địa điểm tham quan có trong chương trình □ Khác: ………………………………………………………………………........ Câu 5: Bạn mong muốn đạt được gì sau chuyến đi ? □ Thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của bản thân □ Trải nghiệm thực tiễn □ Tích lũy kiến thức chuyên ngành □ Khác……………………………………………………………………………… Câu 6: Nhu cầu lựa chọn hướng dẫn viên của bạn: □ Có kiến thức sâu rộng □ Có khả năng hoạt náo tốt □ Nắm vững nghiệp vụ □ Khác: ………………………………………………………………………........... XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC BẠN !
  • 125. 113 Phụ lục 3: Phân vùng du lịch Việt Nam theo Đề án “Phát triển tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Tổng cục Du lịch Stt Tỉnh, thành phố Vùng du lịch Tỉnh Thành phồ 1 Hòa Bình TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ 2 Sơn La 3 Điện Biên 4 Lai Châu 5 Yên Bái 6 Phú Thọ 7 Lào Cai 8 Tuyên Quang 9 Hà Giang 10 Bắc Kạn 11 Thái Nguyên 12 Cao Bằng 13 Lạng Sơn 14 Bắc Giang 15 Hà Nội ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ DUYÊN HẢI ĐÔNG BẮC 16 Vĩnh Phúc 17 Bắc Ninh 18 Hải Dương 19 Hưng Yên 20 Thái Bình 21 Hà Nam 22 Ninh Bình 23 Nam Định 24 Hải Phòng 25 Quảng Ninh 26 Thanh Hóa BẮC TRUNG BỘ27 Nghệ An
  • 126. 114 28 Hà Tĩnh 29 Quảng Bình 30 Quảng Trị 31 Thừa Thiên – Huế 32 Đà Nẵng DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ 33 Quảng Nam 34 Quảng Ngãi 35 Bình Định 36 Phú Yên 37 Khánh Hòa 38 Ninh Thuận 39 Bình Thuận 40 Kon Tum TÂY NGUYÊN41 Gia Lai 42 Đắk Lắk 43 Đắk Nông 44 Lâm Đồng 45 Hồ Chí Minh ĐÔNG NAM BỘ 46 Đồng Nai 47 Bình Dương 48 Bà Rịa – Vũng Tàu 49 Bình Phước 50 Tây Ninh 51 Cần Thơ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 52 Long An 53 Đồng Tháp 54 An Giang 55 Kiên Giang 56 Cà Mau 57 Bạc Liêu 58 Sóc Trăng 59 Bến Tre 60 Trà Vinh 61 Vĩnh Long
  • 127. 115 62 Tiền Giang 63 Hậu Giang