ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HÀ
PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ §éNG VËT HOANG D·
ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HÀ
PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ §éNG VËT HOANG D·
ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THU HẠNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bùi Thị Hà
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ
ĐỘNG VẬT HOANG DÃ ................................................................. 6
1.1. Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ động vật hoang dã........................ 6
1.1.1. Khái niệm động vật hoang dã............................................................... 6
1.1.2. Vai trò của động vật hoang dã.............................................................. 8
1.1.3. Phân loại động vật hoang dã ................................................................ 9
1.1.4. Mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với bảo vệ động vật
hoang dã .............................................................................................12
1.1.5. Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật......................13
1.2. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã
ở Việt Nam ........................................................................................18
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và tiêu chí đánh giá pháp luật về bảo vệ
động vật hoang dã ở Việt Nam...........................................................18
1.2.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn
thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam ...................................19
1.2.3. Tổng quan các quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã
ở Việt Nam .........................................................................................22
1.2.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã
ở Việt Nam..........................................................................................32
1.2.5. Xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam .........................................................35
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ
Ở VIỆT NAM ...................................................................................39
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam......39
2.1.1. Thực trạng các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã.........39
2.1.2. Thực trạng các quy định xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động
vật hoang dã........................................................................................48
2.1.3. Thực trạng các quy định về xử lý tang vật và cứu hộ động vật
hoang dã .............................................................................................62
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở
Việt Nam............................................................................................66
2.2.1. Thực tiễn thi hành các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã ......66
2.2.2. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý vi phạm pháp luật về động
vật hoang dã........................................................................................72
2.2.3. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý tang vật và cứu hộ động
vật hoang dã .......................................................................................75
2.2.4. Nguyên nhân của hiện trạng thực thi pháp luật về động vật
hoang dã .............................................................................................78
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT
HOANG DÃ Ở VIỆT NAM ............................................................82
3.1. Sự cần thiết phải hệ thống hoá và xây dựng khung pháp luật
thống nhất về bảo vệ động vật hoang dã........................................82
3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ......82
3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ động
vật hoang dã......................................................................................84
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định về quản lý bảo vệ động vật
hoang dã .............................................................................................84
3.3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định xử lý vi phạm pháp luật về
động vật hoang dã ..............................................................................85
3.3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định về xử lý tang vật, cứu hộ
động vật hoang dã ..............................................................................92
3.3.4. Xây dựng đạo luật riêng về bảo vệ động vật hoang dã......................93
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ
động vật hoang dã ............................................................................97
3.4.1. Các giải pháp chung...........................................................................97
3.4.2. Các giải pháp cụ thể...........................................................................98
KẾT LUẬN..................................................................................................102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................104
PHỤ LỤC.....................................................................................................109
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự
ĐDSH: Đa dạng Sinh học
ĐHQG: Đại học Quốc gia
ĐVHD: Động vật hoang dã
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Số lượng vụ vi phạm liên quan đến động vật rừng
trong giai đoạn 2006-2014 74
Bảng 2.2: Số lượng bị cáo và vụ việc liên quan đến ĐVHD bị
đưa ra xét xử trong giai đoạn 2009-2013 74
DANH MỤC CÁC BIỂ U ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 1.1: Số lượng tê giác bị giết hại để lấy sừng tại Nam Phi
từ 2007 – 8/2015 15
Biểu đồ 2.1: Số lượng vụ việc và đối tượng bị xử lý hình sự vi
phạm về ĐVHD trong giai đoạn 2010-2013 73
Biểu đồ 2.2: Vai trò các đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về
ĐVHD 75
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Động vật hoang dã (ĐVHD) là một bộ phận quan trọng cấu thành nên
đa dạng sinh học của Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng ĐVHD đang ngày càng
suy giảm nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do nạn săn bắt, buôn bán trái
phép các loài ĐVHD. Theo Báo cáo số 683/BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 của
Cục Kiểm lâm về Công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng
nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2015, chỉ tính riêng trong năm 2014, các cơ quan
chức năng đã phát hiện và xử lý 432 vụ vi phạm các quy định về quản lý
ĐVHD, tịch thu 8.051 cá thể, tương đương 17.473 kg (trong đó có 598 cá thể
động vật nguy cấp, quý hiếm) [12]. Trên trường quốc tế, Việt Nam hiện được
đánh giá là “điểm trung chuyển” và “điểm đến” (tiêu thụ) của các loài ĐVHD
[34]. Trong Báo cáo Đánh giá việc tuân thủ và thực hiện cam kết CITES về
Hổ, Tê giác và Voi tại 23 quốc gia trong số nhiều quốc gia được coi là có sự
phân bố, trung chuyển hoặc tiêu thụ các loài này, tổ chức WWF (Quỹ quốc tế
bảo vệ thiên nhiên) đã đánh giá Việt Nam là một trong các quốc gia có việc
thực thi đáng lo ngại nhất với thẻ màu đỏ đối với hai loài Tê giác và Hổ [47].
Nhìn nhận tính nghiêm trọng của tội phạm về ĐVHD và sự cần thiết
phải bảo vệ ĐVHD , Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá
XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 trong đó đưa ra nhận định: “Đa
dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên
diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và
đời sống nhân dân” và từ đó đưa ra một trong các nhiệm vụ cụ thể, trọng
tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có
nguy cơ bị tuyệt chủng”.
2
Trong bối cảnh như vâ ̣y , tác giả nhận thấy các quy phạm pháp luật về
bảo vệ ĐVHD hiện nay còn chưa mang tính hệ thống, tồn tại nhiều lỗ hổng
cũng như chồng chéo và do đó không đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước
và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt
Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm nghiên cứu các vấn đề chủ
yếu của pháp luật về bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam, đánh giá thực tiễn thực thi
pháp luật và từ đó kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống
các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này để kiểm soát tình trạng săn bắt và
buôn bán ĐVHD trái phép hiện đang là nguyên nhân đẩy các loài ĐVHD của
Việt Nam và thế giới đến nguy cơ tuyệt chủng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học (trong đó có ĐVHD),
trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Sách “Bảo tồn đa dạng sinh
học” của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn xuất bản năm 1999; Sách “Đa dạng sinh
học và bảo tồn thiên nhiên” của tác giả Lê Trọng Cúc xuất bản năm 2002;
Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở hệ
thống rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam” do tác giả Trần Thế Liên
thực hiện năm 2006.
Liên quan đến pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, đã có một số
nghiên cứu như: Luận văn Thạc sỹ “Luật bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt
Nam” của tác giả Đặng Thị Thu Hải bảo vệ năm 2006; “Báo cáo rà soát,
đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh
học” của tác giả Trương Hồng Quang, Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp)
thực hiện năm 2009; Chuyên đề “Thành tựu và thách thức qua 5 năm thực
hiện Luật Đa dạng sinh học” của GS.TS Đặng Huy Huỳnh công bố năm
2013; Bài viết “Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, thực trạng và tồn tại
3
trước khi có Luật Đa dạng sinh học”, của TS. Nguyễn Văn Tài đăng trên Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008; Bài viết “Pháp luật về đa dạng
sinh học một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”, của Thạc sĩ Huỳnh Thị
Mai, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008.Trong đó, pháp
luật về bảo vệ ĐVHD chỉ là một bộ phận nhỏ của các nghiên cứu này.
Ngày 8/9/2014, Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách phát
triển bền vững phối hợp với Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Bộ Tài nguyên và
Môi trường) đã công bố “Báo cáo tóm tắt về khung pháp lý và chính sách về
quản lý bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm”. Tuy nhiên, Báo cáo chỉ
tập trung vào các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ mà
chưa xem xét toàn diện hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có một đề tài tập trung nghiên
cứu hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
Việc đánh giá, xem xét một cách có hệ thống các quy định của pháp
luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hết sức cần thiết để
góp phần hoàn thiện lĩnh vực pháp luật mới được chú trọng trong thời gian
gần đây ở Việt Nam. Do đó, tác giả nhận thấy đề tài mang tính mới và có
nhiều ý nghĩa trên thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận về động vật
hoang dã, bảo vệ ĐVHD, pháp luật về bảo vệ ĐVHD; và thực trạng pháp luật
cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về bảo vệ
ĐVHD ở Việt Nam vào thời điểm thực hiện luận văn bao gồm các vấn đề về
chính sách quản lý, xử lý vi phạm, xử lý tang vật các loài ĐVHD. Luận văn
tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy có đề cập đến nhưng
chỉ ở mức khái quát kinh nghiệm quốc tế để rút ra các bài học kinh nghiệm
nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
4
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được xây dựng nhằm mục tiêu làm rõ những vấn đề lý luận
về động vật hoang dã, sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD, tổng quan và đánh giá
những bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như những khó khăn,
tồn tại trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD, từ đó đề xuất một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD và tăng cường thực thi pháp
luật trong lĩnh vực này.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm có liên quan về ĐVHD;
- Lý giải sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD và bảo vệ ĐVHD bằng các
quy định của pháp luật;
- Tìm hiểu xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ ĐVHD và rút ra bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Phân tích và đánh giá hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD tại Việt
Nam hiện nay;
- Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD và lý giải
nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở
Việt Nam;
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về bảo vệ ĐVHD.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật để phân tích làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
5
Các phương pháp nghiên cứu chính để giải quyết vấn đề được sử dụng
trong luận văn bao gồm: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ các khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệ
ĐVHD bằng pháp luật và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành của
Việt Nam liên quan đến bảo vệ ĐVHD cũng như khả năng thực thi các quy
định này trên thực tế. Đồng thời, luận văn cũng đề xuất những giải pháp mang
tính sáng tạo để hoàn thiện pháp luật và nâng cao khả năng thực thi trong lĩnh
vực này. Vì vậy, luận văn là một nguồn tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan
nhà nước hữu quan trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt
Nam trong thời gian tới. Ngoài ra, luận văn cũng là một nguồn tài liệu tham
khảo tốt cho việc giảng dạy, nghiên cứu tại Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các
cơ sở đào tạo luật khác của Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về động vật hoang dã, bảo vệ động vật
hoang dã và pháp luật về bảo vệ ĐVHD
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo
vệ động vật hoang dã ở Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ
1.1. Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ động vật hoang dã
1.1.1. Khái niệm động vật hoang dã
Hiện nay, tại Việt Nam các học giả chưa đưa ra một khái niệm chính xác
về ĐVHD. Do đó, trong nội dung này, tác giả sẽ tham khảo và phân tích các từ
điển trong nước và quốc tế nhằm đưa ra một khái niệm tương đối về ĐVHD.
Theo từ điển “American Heritage® Dictionary of the English Language,
Fifth Edition”, ĐVHD được hiểu là những loài động vật chưa bị thuần hoá và
thường sống trong môi trường tự nhiên [35].
Theo Bách khoa tri thức Việt Nam, “động vật là những cơ thể sống
dinh dưỡng bằng những vật chất sống”. Phần lớn động vật có thể di chuyển
được và có một hệ thần kinh. Khác với thực vật, động vật không tự tạo ra chất
dinh dưỡng cho mình mà phải tồn tại nhờ nguồn thực vật trong thiên nhiên
hoặc động vật khác mà chúng bắt được [26].
Bên cạnh đó, Điều 3 Luật đa dạng sinh học của Việt Nam năm 2008
cũng định nghĩa: “Loài hoang dã là loài động vâ ̣t, thực vâ ̣t, vi sinh vâ ̣t và nấm
sinh sống và phát triển theo quy luật”.
Từ những khái niệm này, tác giả cho rằng có thể hiểu “ĐVHD” là
những cơ thể sống dinh dưỡng theo quy luật trong tự nhiên, chưa bị con người
thuần hóa (ví dụ như các loài hổ, báo, tê giác, tê tê…). Cần lưu ý rằng việc
ĐVHD sống theo quy luật trong tự nhiên và chưa bị con người thuần hoá
không có nghĩa là ĐVHD không hề chịu sự tác động của con người. Bên cạnh
hoạt động săn bắt có chủ đích ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các loài
ĐVHD, có thể dễ dàng nhận thấy những hoạt động sống của con người hiện
7
nay đang tác động lên mọi mặt của trái đất như tài nguyên, khí hậu, nguồn
nước… và do đó đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các loài ĐVHD ở
những mức độ khác nhau. Ví dụ, lượng khí thải nhà kính tăng cao từ các hoạt
động “công nghiệp hóa” nhằm phát triển kinh tế của con người hiện đang dẫn
đến tình trạng trái đất nóng lên, thời tiết khô hạn và một hệ quả tất yếu là cháy
rừng. Hiện tượng này không những hủy họa môi trường sống của nhiều loài
mà cũng trực tiếp giết chết các cá thể ĐVHD.
Từ khái niệm ĐVHD được đúc kết ở trên cũng có thể thấy ĐVHD khác
với động vật nuôi (ví dụ như trâu, bò, lợn, gà…) ở chỗ nó chưa được con
người thuần hóa nhằm phục vụ một mục đích nào đó của con người (hỗ trợ
lao động, làm thực phẩm…). Tuy nhiên, sự so sánh này cũng chỉ mang tính
chất tương đối. Hiện nay, rất nhiều các quần thể ĐVHD vừa sinh sống trong
tự nhiên và đồng thời một bộ phận cũng được con người “thuần hóa”, “gây
nuôi” thành công nhằm phục vụ các nhu cầu của con người như cá sấu, nhím,
trăn, rắn, ba ba trơn, lợn rừng…. Quần thể các loài này ngoài tự nhiên sẽ được
gọi là ĐVHD trong khi các cá thể có nguồn gốc sinh sản từ các trang trại gây
nuôi vì mục đích thương mại sẽ được gọi là động vật nuôi, ví dụ như nhím
nuôi, rắn nuôi, lợn rừng nuôi…
Thế giới ĐVHD rất phong phú và phân bố đa dạng trong các môi
trường sống khác nhau. Việc nghiên cứu toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan
đến những loài này là không khả thi. Chính vì vây, phạm vi luận văn chỉ giới
hạn trong việc nghiên cứu các quy định về bảo vệ ĐVHD hiện được liệt kê
trong các danh mục bảo vệ của Nhà nước. Các loài thủy sinh được coi là thực
phẩm truyền thống của con người như các loài cua, mực, tôm biển vẫn đang
được khai thác tự do trong các vùng biển của Việt Nam hay các loài côn
trùng, giáp xác không được liệt kê trong các danh mục bảo vệ của Nhà nước
sẽ không được nghiên cứu trong luận văn này.
8
Tác giả cho rằng các nhà làm luật của Việt Nam cần đưa ra một khái
niệm rõ ràng về ĐVHD và danh sách các loài ĐVHD được bảo vệ (không chỉ
bao gồm các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm mà còn bao gồm một số loài
ĐVHD thông thường khác) nhằm tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu và
thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Danh sách này có thể được thường xuyên
sửa đổi, bổ sung tuỳ theo phát hiện mới của các nhà khoa học.
1.1.2. Vai trò của động vật hoang dã
Là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái, ĐVHD có nhiều giá trị to
lớn, trong đó giá trị quan trọng nhất chính tạo ra hệ sinh thái bền vững, diễn
thế theo con đường tự nhiên. ĐVHD là thành tố của nhiều quá trình trao đổi
chất quan trọng trong tự nhiên, tạo lên các mắt xích trong chuỗi thức ăn hay
lưới thức ăn. Ngoài ra, nhiều loài ĐVHD đặc hữu mang các gen quý chứa
đựng những tính trạng tốt mà các loài động vật khác không có. Thông qua các
loài hoang dã này, con người có thể nghiên cứu, khai thác và sử dụng một
cách hợp lý các gen này đạt hiệu quả cao nhất. Thêm vào đó, ĐVHD còn
mang lại nhiều giá trị khác về mặt kinh tế như là nguồn thức ăn, nguyên liệu
công nghiệp, phân bón, dược liệu quý hoặc được sử dụng cho nghiên cứu
khoa học và giáo dục…
Bên cạnh các tác động tích cực này, ĐVHD trong một số trường hợp
cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những bệnh dịch nguy
hiểm cho con người. Một số đại dịch hiện nay như SARS, EBOLA, MER …
đều có nguồn gốc từ ĐVHD [32]. Không những vậy, một số loài “thú dữ”
cũng có thể gây hại, tấn công con người hoặc tàn phá lương thực, mùa màng.
Tuy nhiên, có thể thấy ĐVHD có các tác động tích cực là chủ yếu và
từ đó thúc đẩy nhiệm vụ phải bảo tồn các loài ĐVHD vì chính cuộc sống
của con người.
9
1.1.3. Phân loại động vật hoang dã
ĐVHD có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như đặc
điểm sinh học, mức độ nguy cấp hay địa điểm phân bố. Tuy nhiên, luận văn
chỉ tiến hành phân loại ĐVHD dựa trên mức độ nguy cấp và địa điểm phân bố
của các loài này – là hai phương thức phân loại hiện đang được đề cập trong
các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
Thứ nhất, phân loại dựa trên mức độ nguy cấp của các loài ĐVHD
Theo mức độ nguy cấp, có thể phân chia các loài ĐVHD thành ĐVHD
thông thường và ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm.
Trong đó, hiện nay pháp luật chưa đưa ra khái niệm ĐVHD thông
thường nhưng có thể hiểu ĐVHD thông thường là các loài động vật sinh sống
trong các môi trường tự nhiên khác nhau, số lượng cá thể còn nhiều trong tự
nhiên và chưa bị đe doạ tuyệt chủng.
Trong khi đó, hiện nay pháp luật Việt Nam đưa ra nhiều khái niệm có
liên quan đến ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Nhìn chung, có thể thấy hai đặc
tính cơ bản của loài nguy cấp, quý, hiếm nói chung là “có giá trị đặc biệt về
kinh tế, khoa học, môi trường” và “số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có
nguy cơ tuyệt chủng”. Trong một số trường hợp, hai yếu tố này có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau bởi lẽ chính các “giá trị đặc biệt” đã khiến các loài ĐVHD
này bị săn bắt, khai thác nhiều hơn trong tự nhiên và vì thế số lượng còn ít
hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.
Trên thế giới, các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cũng được các tổ
chức hoặc chuyên gia phân loại theo nhiều cách thức khác nhau. Một trong
các cách thức phân loại thường được các nhà khoa học tham khảo là phân loại
ĐVHD của Liên minh IUCN.
Từ năm 1963, Liên minh IUCN thường xuyên phát hành Sách đỏ (tiếng
Anh: IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red Listhay Red Data List)
10
là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực
vật trên thế giới. Trong đó, các loài ĐVHD được chia thành các cấp độ nguy
cấp như sau [42]:
- Extinct EX (tuyệt chủng)
- Extinct in the Wild EW (tuyệt chủng trong tự nhiên)
- Critically Endangered CR (cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng)
- Endangered EN (nguy cấp cao)
- Vulnerable VU (bị đe dọa, sắp nguy cấp)
- Near Threatened NT (sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ)
- Least Concern LC (ít quan tâm)
- Data Deficient DD (không đủ dữ liệu)
- Not Evaluated NE (không phân loại hoặc không đánh giá)
Tại Việt Nam, các nhà khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam cũng đã xây dựng Sách đỏ Việt Nam trong đó các tiêu chuẩn được xây
dựng trên nền tảng tiêu chuẩn của IUCN nhưng có nghiên cứu đến hiện trạng
phân bố quần thể loài ở Việt Nam.
Hiện nay, nhiều người cho rằng các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là
các loài ĐVHD được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam hoặc Sách đỏ thế giới.
Tuy nhiên, trên thực tế các danh mục Sách đỏ này chỉ mang tính chất tham
khảo và không có ý nghĩa trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD.
Trong quy định của pháp luật Việt Nam, các loài ĐVHD sẽ được coi là nguy
cấp, quý, hiếm và được pháp luật bảo vệ chặt chẽ nếu nằm trong các Phụ lục
của CITES (các loài có tên trong các Phụ lục I, II); Danh mục loài nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/ND-
CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản
lý loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định số 160/2013/NĐ-
CP); động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB và IIB Danh mục loài
11
động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định
32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý các loài động vật
rừng, thực vật rừng hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 32/2006/NĐ-
CP), các loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo tồn, bảo vệ và phát
triển ban hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của
Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về việc ban hành danh mục loài thuỷ
sinh nguy cấp cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển (Quyết định
82/2008/QĐ-BNN), các loài thuỷ sản bị cấm khai thác ban hành kèm theo
Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát
triển Nông thôn v ề việc sửa đổi một số điều của Thông tư 02/2006/TT-BTS
ngày 20/03/2006 của Bộ Thuỷ sản ngày 20/03/2006 về việc hướng dẫn một số
nội dung của Nghị định 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về
điều kiện sản xuất và kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản (Thông tư
62/2008/TT-BNN)..
Hiện nay, Nghị định 160/2013/NĐ-CP là văn bản mới nhất của Chính
phủ Việt Nam đưa ra hệ thống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD
đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - nhóm loài
nguy cấp, quý, hiếm hiện được bảo vệ cao nhất theo quy định của pháp luật
Việt Nam. Việc đưa ra khái niệm “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ” dẫn đến cách hiểu còn hai nhóm khác trong cách thức phân loại
này là “loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm không được ưu tiên bảo vệ” và “loài
ĐVHD thông thường”. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện tại vẫn chưa đề cập
và đưa ra tiêu chí để thiết lập danh sách hai nhóm loài còn lại này.
Thứ hai, phân loại dựa trên địa điểm phân bố
Hiện nay, ở Việt Nam cũng không có sự phân định rõ ràng ĐVHD dựa
trên phân bố. Tuy nhiên, dựa trên các danh mục ĐVHD được ban hành trong
các quy phạm pháp luật có liên quan như Danh mục loài thuỷ sinh quý hiếm
12
có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển;
Danh mục loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm… có thể hiểu một cách
thức phân loại thứ tư là dựa trên đặc điểm phân bố. Dựa trên phân bố của các
loài ĐVHD, có thể phân thành động vật rừng và động vật hoang dã thuỷ sinh.
Các loài động vật rừng có phân bố trong rừng, bao gồm cả các loài thuỷ sinh
tại các suối trong rừng như cá cóc Tam Đảo (tên khoa học: “Paramesotriton
deloustali”). Động vật hoang dã thuỷ sinh phân bố ở biển hoặc các sông mà
không nằm trong rừng. Tuy nhiên, cách thức phân loại này cũng không thực
sự thích hợp bởi lẽ có một khoảng hổng lớn là một số loài ĐVHD không sinh
sống trong rừng hay ở sông, biển như các loài chim di trú sẽ không được đặt
trong nhóm động vật rừng hay động vật thuỷ sinh. Mặc dù vậy, đây là cách
thức hiện đang được các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD sử
dụng phổ biến để phân loại các loài ĐVHD bên cạnh cách thức phân loại dựa
trên mức độ nguy cấp.
1.1.4. Mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với bảo vệ động vật
hoang dã
Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ ĐVHD có mối quan hệ mật
thiết, bảo vệ ĐVHD chính là một phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng
sinh học.
Đa dạng sinh học là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống,
loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất cả sự tập hợp
phức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái. Có thể nói, đa dạng
sinh học là sự giàu có, phong phú các nguồn gen, các loài và các hệ sinh thái
trên bề mặt trái đất, có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình
tự nhiên và cân bằng sinh thái (Điều 3 Luật Đa dạng Sinh học 2008). Đa dạng
sinh học là yếu tố đặc biệt quan trọng, sống còn với phát triển bền vững, đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong quá khứ, hiện tại và
13
tương lai. Đa dạng sinh học có những giá trị kinh tế, giá trị môi trường, giá trị
cuộc sống to lớn mà cho đến một vài thế kỷ gần đây chúng ta mới nhận thức
được một cách đầy đủ [16]. Do đó, chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2013 đã chỉ rõ: “Đa
dạng sinh học là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn đa dạng sinh học là
một trong các giải pháp then chốt nhằm thích ứng và giảm nhẹ tác động của
biến đổi khí hậu”.
Trong đó, các loài ĐVHD là một thành tố không thể thiếu của đa dạng
sinh học và hệ sinh thái. Các loài này đã trải qua nhiều triệu năm tiến hóa để
thích nghi và tồn tại trong môi trường sống tự nhiên đầy khắc nghiệt. Mỗi loài
biến mất sẽ làm những giá trị độc nhất bị mất đi vĩnh viễn, không thể phục hồi,
kéo theo đó là những hậu quả về sinh thái. Khi một loài bị tiêu diệt, có thể sẽ
kéo theo sự mất cân bằng sinh thái, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ cục bộ
cho đến tất cả các hệ sinh thái và cuối cùng là cả trái đất. Khi các hệ sinh thái
mất cân bằng, con người đương nhiên sẽ gánh chịu mọi hậu quả. Chính vì vậy
bảo vệ ĐVHD là một vấn đề đang được thế giới đặc biệt quan tâm bởi nó là
một mắt xích quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ tính đa
dạng sinh học và bảo vệ môi trường nói chung. Đó là cơ sở của sự sống còn và
thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Do đó,
bảo vệ ĐVHD là một vấn đề đang được thế giới đặc biệt quan tâm. Đây cũng là
vấn đề mang tầm quốc tế mà không phải của riêng quốc gia, dân tộc nào.
1.1.5. Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật
Theo cách hiểu của tác giả, “bảo vệ ĐVHD” là hoạt động nhằm bảo vệ
các loài động vật sinh sống và phát triển theo quy luật của tự nhiên tránh khỏi
những nguy cơ bị buôn bán, săn bắt, nuôi nhốt trái phép. Việc bảo vệ ĐVHD
cũng đồng thời nhằm tạo ra những điều kiện để các loài này sinh trưởng và
phát triển nhằm tránh khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng.
14
ĐVHD là một thành tố quan trọng, không thể mất đi của hệ sinh thái,
thế nhưng ĐVHD trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay đang gặp phải
nhiều mối đe dọa chính và tiềm tàng do hậu quả của mất sinh cảnh, nạn săn
bắt, buôn bán trái phép. Mặc dù vậy, hiện nay nhận thức trong vấn đề bảo vệ
ĐVHD vẫn chưa được chú trọng đúng mức.
Chặt phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản, xây dựng cơ sở hạ tầng và
canh tác nông nghiệp là những nguyên nhân chính làm mất sinh cảnh của các
loài ĐVHD. Nếu như diện tích rừng tự nhiên trước đây che phủ phần lớn đất
nước, hiện tại diện tích rừng Việt Nam chỉ còn lại khoảng 43% [29]. Sinh
cảnh bị mất và bị chia cắt bởi việc xây dựng đường xá đã cản đường di
chuyển kiếm ăn và cơ hội giao phối trong mùa sinh sản của động vật.
Tuy nhiên, nạn săn bắt, buôn bán ĐVHD mới là nguyên nhân quan trọng
nhất dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài ĐVHD nói chung và ĐVHD ở Việt
Nam nói riêng. Săn bắt ĐVHD là một hoạt động lao động chủ yếu nhằm đảm
bảo sự tồn tại của con người từ hàng nghìn năm trước. Hiện nay, việc săn bắt
ĐVHD không nhằm đảm bảo nhu cầu thức ăn của đại đa số con người mà chỉ
nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ của một nhóm những người giàu có, mong
muốn tìm kiếm các mặt hàng “đặc biệt”. Tuy nhiên, nạn săn bắt trái phép
không kiểm soát đã vượt quá “ngưỡng bền vững” khi mà tốc độ tái tạo quần thể
ĐVHD không kịp đáp ứng cho nhu cầu săn bắt ngày càng cao của con người.
Tội phạm về ĐVHD đang là một vấn đề nóng được cả thế giới quan
tâm. Tội phạm trong lĩnh vực này đang diễn ra ngày một phổ biến với mức lợi
nhuận khổng lồ, ước tính khoảng 150 tỷ đô la Mỹ mỗi năm [24]. Tình hình
săn bắt, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp xuyên quốc gia các loài
thuộc CITES, đặc biệt đối với các loài voi, hổ, tê giác và các sản phẩm, bộ
phận, dẫn xuất của chúng, diễn biến rất phức tạp trong những năm gần đây.
Hơn 25.000 cá thể voi châu Phi đã bị giết hại vào năm 2012, chủ yếu tại
15
Trung và Đông Phi (Voi châu Phi được CITES liệt kê vào danh sách động vật
gần tuyệt chủng vì hiện chỉ còn khoảng 472.000 cá thể). Loài hổ cũng đang bị
săn bắt quá mức để thỏa mãn nhu cầu lấy da, lông và nhiều bộ phận khác trên
cơ thể như răng, xương, móng. Nhiều bộ phận trên cơ thể hổ dùng để nấu cao,
chế thuốc và làm đồ trang trí phục vụ con người. Đối với tê giác, các nước có
tê giác như Nam Phi, Kenya, Zimbabwe, Ấn Độ đứng trước cảnh báo nguy cơ
tê giác tuyệt chủng. Nam Phi đang đứng đầu danh sách khi các nhà bảo tồn đã
chính thức cảnh báo, cả tê giác trắng lẫn tê giác đen tự nhiên của nước này có
thể biến mất trước năm 2016 [39].
Biểu đồ 1.1: Số lượng tê giác bị giết hại để lấy sừng tại Nam Phi
từ 2007 – 8/2015
(Nguồn: https://www.savetherhino.org).
Do không thể kiểm soát được nạn săn bắt trộm, Mozambique chính
thức tuyên bố quần thể tê giác ở nước này đã tuyệt chủng [36]. Hội nghị các
nước thành viên CITES lần thứ 16 (CoP16) tại Thái Lan vào tháng 3/2013 đã
16
rút ra nhận định vì lợi nhuận cao (không kém ma túy) mà hình phạt thấp và
không bị coi là tội phạm nguy hiểm ở nhiều quốc gia, nên nhiều tổ chức tội
phạm buôn lậu ma túy, buôn bán người đang chuyển hướng hoạt động sang
buôn lậu các loài hoang dã xuyên quốc gia. Tình hình này nghiêm trọng đến
mức Liên Hợp quốc công bố buôn bán trái phép ĐVHD là hình thức hoạt
động mới của tội phạm xuyên quốc gia và xếp vào hàng tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia nghiêm trọng nhất, bên cạnh tội phạm về ma túy, vũ khí và
rửa tiền. Tại Hội nghị London về nạn buôn bán trái phép ĐVHD tổ chức ngày
14/2/2014, trước đại diện cấp cao từ 46 quốc gia và 11 tổ chức quốc tế, Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việc
bảo vệ ĐVHD và sự cần thiết phải ngăn chặn nạn săn bắt buôn bán ĐVHD
trên phạm vi quốc tế: “Đây không phải là một khủng hoảng về môi trường
đơn thuần. Đây là một “ngành công nghiệp tội phạm xuyên quốc gia”, sánh
ngang với tội phạm về ma túy, vũ khí và buôn bán người” [26].
Đặc biệt ở Việt Nam, tình hình buôn bán ĐVHD đang diễn ra hết sức
phức tạp, với nhiều thủ đoạn rất tinh vi đang đẩy các loài ĐVHD của Việt
Nam đến nguy cơ tuyệt chủng. Cá thể tê giác Java cuối cùng của Việt Nam đã
bị giết tại Vườn quốc gia Cát Tiên để lấy sừng vào năm 2010. Theo nghiên
cứu của các nhà khoa học, số lượng hổ trong tự nhiên của Việt Nam cũng còn
chưa đến 30 cá thể [41]. Các loài vượn, vọoc, gấu, tê tê đang dần theo bước
chân của tê giác đến con đường tuyệt chủng do nạn săn bắt và buôn bán
ĐVHD bất hợp pháp.
Bên cạnh Trung Quốc, Việt Nam hiện đang được thế giới đánh giá là
nước trung chuyển và là thị trường tiêu thụ ĐVHD lớn trên thế giới [44]. Theo
thông tin từ Nam Phi, có đến 80% trong tổng số các đối tượng săn bắt, buôn
bán, vận chuyển trái phép sừng tê giác tại Nam Phi là người Việt Nam [45]. Do
đó, sự biến mất của các loài ĐVHD không những tác động trực tiếp đến đa
17
dạng sinh học của nước nhà mà còn đồng thời làm xấu đi hình ảnh Việt Nam
trên trường quốc tế.
Chính vì vậy, hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đã
thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 đã đưa ra nhận định: “Đa dạng sinh học
suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh
hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân”
từ đó đề ra một trong các nhiệm vụ cụ thể và trọng tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt
các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”.
Dựa vào các nguy cơ khác dẫn đến sự diệt vong của các loài ĐVHD, có
nhiều cách thức bảo vệ ĐVHD như bảo vệ, cải tạo rừng, biển và các môi
trường sinh sống khác của ĐVHD; đầu tư nghiên cứu khoa học để bảo tồn
nguồn gen các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm; tuyên truyền, nâng cao nhận
thức của người dân về việc bảo vệ ĐVHD, giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ ĐVHD
và các sản phẩm, bộ phận của những loài này…. Tuy nhiên, nguyên nhân quan
trọng nhất dẫn đến sự suy giảm của các quần thể ĐVHD là nạn săn bắt, buôn
bán và tiêu thụ ĐVHD do con người gây ra. Vì vậy, muốn bảo vệ ĐVHD trước
hết là tác động đến hành vi con người. Pháp luật thông qua các hệ thống quy
phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện
bằng quyền lực nhà nước sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ ĐVHD. Chỉ
các chế tài nghiêm khắc của pháp luật mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội
phạm trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, trong các biện pháp bảo vệ ĐVHD,
cách thức bảo vệ ĐVHD bằng pháp luật là hiệu quả và cấp thiết nhất.
Bên cạnh việc gia nhập các công ước quốc tế về bảo vệ ĐVHD thì việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước thông qua xây dựng, sửa đổi, bổ
sung các văn bản quy pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hết sức cần thiết và phải
khẩn trương triển khai thực hiện. Tuy nhiên,để bảo vệ có hiệu quả các loài
18
ĐVHD, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn phải gắn liền với tăng cường
và đảm bảo thực thi pháp luật trong lĩnh vực này.
1.2. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã ở
Việt Nam
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và tiêu chí đánh giá pháp luật về bảo vệ
động vật hoang dã ở Việt Nam
Theo cách hiểu của tác giả, pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hệ thống các
quy phạm pháp luật xác định một số hành vi, một số hoạt động mà các chủ
thể cần phải tiến hành trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD và các hậu quả pháp lý
mà chủ thể phải gánh chịu nếu không thực hiện/thực hiện không đúng các
hoạt động này.
Pháp luật về bảo vệ ĐVHD mang những đặc điểm chung của pháp luật
đó là có tính quy phạm phổ biến (tính bắt buộc chung), tính xác định chặt chẽ
về hình thức và tính được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước.
Trong đó, tính quy phạm phổ biến thể hiện ở việc các quy phạm pháp
luật về bảo vệ ĐVHD có tính chất bắt buộc chung đối với tất cả các đối tượng
có hoạt động liên quan đến ĐVHD; tính xác định chặt chẽ về hình thức thể
hiện ở việc các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD được quy định rõ ràng
để đảm bảo mọi đối tượng đặt trong hoàn cảnh tương tự đều phải ứng xử
tương tự; tính được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước thể
hiện ở việc các đối tượng có liên quan bị buộc phải thực hiện quy phạm pháp
luật về bảo vệ ĐVHD và sẽ phải chịu những chế tài/biện pháp cưỡng chế nhất
định do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành nếu không thực
hiện/thực hiện không đúng các quy phạm này.
Bên cạnh đó, pháp luật về bảo vệ ĐVHD còn mang những đặc điểm
riêng biệt, có thể kể đến như sau:
Thứ nhất là tính cụ thể: Pháp luật về bảo vệ ĐVHD điều chỉnh các
19
quan hệ pháp luật liên quan đến việc bảo vệ ĐVHD – là một lĩnh vực trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường nên có tính cụ thể. Các nguyên tắc bảo vệ ĐVHD
được quy định khá chi tiết trong các quy phạm pháp luật có liên quan.
Thứ hai là tính phân tán: Các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD
không nằm tập trung trong một văn bản luật nhất định mà nằm rải rác trong
các văn bản quy phạm pháp luật của các lĩnh vực chuyên ngành như lĩnh vực
môi trường, lâm nghiệp và thủy sản.
Một số tiêu chí có thể được xem xét khi đánh giá pháp luật về bảo vệ
ĐVHD ở Việt Nam là:
Thứ nhất, tính chất phù hợp về mặt nội dung. Trong đó, cần đánh giá
quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã có phù hợp với quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; có phù hợp với điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội của đất nước, phù hợp với năng lực thực thi của cơ quan
chức năng có thẩm quyền hoặc phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc
tế hay không.
Thứ hai, tiêu chuẩn về mặt hình thức. Trong đó, cần đánh giá được các
yếu tố như tính toàn diện của hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD, tính thống
nhất, tính đồng bộ và hình thức thể hiện, kỹ thuật lập pháp của văn bản quy
phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD.
1.2.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn
thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và chú trọng việc bảo vệ
môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có việc bảo vệ các loài
ĐVHD. Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949
quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ
rừng có thể coi là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến bảo vệ ĐVHD [5].
Tuy nhiên, ĐVHD chỉ được đề cập khá sơ sài trong văn bản đầu tiên này.
20
Ngay từ những năm xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, trong khi phải giải
quyết nhiều vấn đề cấp bách đảm bảo dân sinh và sản xuất phục vụ chiến
tranh vệ quốc, Nhà nước ta vẫn quan tâm và ra Nghị định 39/CP ngày
05/04/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về săn, bắt
chim, thú rừng nhằm “bảo vệ và phát triển những loài có ích, hiếm và quý,
đồng thời khai thác hợp lý tài nguyên về chim, thú rừng”. Chủ trương bảo vệ
các loài ĐVHD tiếp tục được kế thừa và phát triển trong suốt quá trình xây
dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước nhà. Trong những năm gần đây,
trước tình trạng săn bắt và buôn bán ĐVHD diễn ra ngày càng phức tạp, Đảng
và Nhà nước đã tiếp tục khẳng định quan điểm này trong nhiều văn kiện quan
trọng như Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá
IX) “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước”, Luật Đa dạng sinh học (Luật số 20/2008/QH12) được Quốc
hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và gần đây nhất là Nghị quyết số
24 NQ/TW, ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về chủ
động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ
môi trường” và Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20 tháng 2 năm 2014 của Thủ
tướng Chính phủ “Về việc tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp
kiểm soát, bảo tồn các loài ĐVHD, nguy cấp, quý, hiếm”.
Dưới chủ trương, đường lối của Đảng, công tác bảo tồn đa dạng sinh
học nói chung và bảo vệ ĐVHD được các cơ quan chức năng triển khai tích
cực bằng nhiều biện pháp như:
- Tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD như
CBD, CITES, thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Việt Nam trong việc
chung tay cùng thế giới bảo vệ các loài ĐVHD nói riêng và đa dạng sinh học
nói chung của quốc gia cũng như thế giới.
- Thành lập và hoàn thiện cơ chế quản lý tại các vườn quốc gia, khu
21
bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo tồn toàn diện các hệ sinh thái đặc trưng, môi
trường sống của những loài ĐVHD khỏi sự khai thác, can thiệp của con người
và qua đó bảo vệ các loài ĐVHD đặc hữu hoặc đang nguy cấp tại khu vực đó.
- Xây dựng và ban hành Sách đỏ Việt Nam - Danh sách các loài động
vật, thực vật ở Việt Nam thuộc loại nguy cấp, quý, hiếm,đang suy giảm số
lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Đây là căn cứ khoa học quan trọng để Nhà
nước ban hành những Nghị định và Chỉ thị về việc quản lý bảo vệ và những
biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển những loài ĐVHD ở Việt Nam.
- Rà soát, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật về buôn bán, tiêu thụ
động vật, thực vật hoang dã trong đó chú trọng xây dựng các chế tài đủ mạnh,
đủ sức răn đe các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này.
- Tăng cường phối hợp thực thi luật pháp dưới sự điều phối của Ban chỉ
đạo Việt Nam – WEN do Chính phủ thành lập. Các cơ quan liên ngành có
liên quan bao gồm: Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Cục Kiểm lâm, Cục
Thú y, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn), Cục An ninh nông nghiệp phát triển nông thôn, Cục Cảnh
sát phòng chống tội phạm về môi trường, Văn phòng Interpol (Bộ Công an),
Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính), Cục Quản
lý thị trường (Bộ Công Thương), Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Bộ Tài
nguyên và Môi trường) đã phối hợp hoạt động tích cực và đạt được nhiều
thành tích đáng khích lệ trong công tác đấu tranh kiểm soát buôn bán ĐVHD.
- Xây dựng và triển khai nhiều chiến lược, kế hoạch hành động nhằm
tăng cường nỗ lực bảo tồn và kiểm soát buôn bán, tiêu thụ trái phép các loài
động, thực vật hoang dã như: Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai
đoạn 2013-2020” do Bộ nông nghiệp và nông thôn xây dựng đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 763/QĐ-TTg ngày 21/05/2013;
Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 đã
22
được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/07/2013;
Chương trình quốc gia về bảo tồn loài hổ đến năm 2022 được Bộ Nông
nghiệp và Nông thôn xây dựng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 16/04/2014. Hiện nay, Tổng cục Thuỷ sản
thuộc Bộ Nông nghiệp và Nông thôn cũng đang xây dựng Kế hoạch hành
động bảo tồn rùa biển giai đoạn 2015-2025 và dự kiến trình Bộ trưởng thông
qua vào cuối năm 2015. Về mặt hợp tác quốc tế, trong năm 2013, Chính phủ
Việt Nam và Nam Phi đã ký kế hoạch hành động chung (có hiệu lực đến năm
2017) về việc bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó có việc quản lý
các hoạt động chung để bảo tồn các loài hoang dã, nhất là đối với những loài
ĐVHD nguy cấp, quý hiếm như tê giác, voi, gấu, hổ.
- Tăng cường công tác truyền thông giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ ĐVHD
của cộng đồng và hướng dẫn, phổ biến các quy định pháp luật về bảo vệ động
vật đến người dân cũng như cơ quan chức năng địa phương. Đây được xem là
nhóm giải pháp cơ bản, được tiến hành thường xuyên với sự tham gia tích cực
và có hiệu quả của các cơ quan truyền thông, báo chí trên cả nước.
1.2.3. Tổng quan các quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang
dã ở Việt Nam
Các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD hiện đang có hiệu lực thi
hành tại Việt Nam bao gồm các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
và các quy phạm pháp luật trong nước có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ
ĐVHD. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến những văn
bản có liên quan trực tiếp đến bảo vệ ĐVHD. Cụ thể như sau:
1.2.3.1. Các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan
trực tiếp đến bảo vệ ĐVHD
Trong số các công ước quốc tế có liên quan đến bảo vệ ĐVHD đã được
đề cập ở Mục 1.4, hai công ước liên quan đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD sau đây
23
là một bộ phận không thể thiếu của pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
Đó là Công ước về Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity -
CBD) và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã
nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild
Fauna and Flora - CITES)
Công ước về buôn bán quốc tế các loài hoang dã nguy cấp (CITES)
Công ước CITES là hiệp định liên chính phủ có ảnh hưởng lớn nhất với
sự tham gia của nhiều nước trên thế giới, để thống nhất quy định về buôn bán
quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp sao cho các loài này
không bị tuyệt chủng do buôn bán thương mại.
Đối với các loài bị đe dọa tuyệt chủng hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi các
hoạt động thương mại (được liệt kê trong Phụ lục I của Công ước), giấy phép
xuất khẩu chỉ được cấp trong một số trường hợp nhất định với yêu cầu
nghiêm ngặt; việc nhập khẩu những loài này cũng đòi hỏi phải có giấy phép,
trong khi đó, mọi hình thức xuất, nhập khẩu vì mục đích thương mại đều bị
cấm. Đối với các loài có thể có nguy cơ tuyệt chủng nếu các hoạt động
thương mại không được kiểm soát nghiêm ngặt (được liệt kê trong Phụ lục
II), giấy phép xuất khẩu chỉ có thể được cấp nếu việc xuất khẩu không gây bất
lợi cho sự tồn tại của loài đó và nếu mọi yêu cầu cho việc xuất khẩu được đáp
ứng. Đối với các loài của các quốc gia cần hợp tác quốc tế để kiểm soát các
hoạt động thương mại (được liệt kê trong Phụ lục III), giấy phép xuất khẩu có
thể được cấp cho mẫu vật. Việc bổ sung và hay loại bỏ các loài từ Phụ lục I và
II được thực hiện bởi Hội nghị các bên, theo tiêu chí thành lập Công ước.
Công ước về Đa dạng Sinh học (CBD)
Công ước CBD là một hiệp ước liên chính phủ có tính ràng buộc mà
các bên tham gia Công ước có nghĩa vụ pháp lý phải tuân theo. Mục tiêu
chính của Công ước nhằm bảo tồn đa dạng sinh học; sử dụng bền vững các
24
thành phần của đa dạng sinh học; và chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi
ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học. Theo quy định tại Điều 6
Công ước, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học đang được thực
hiện hoặc bằng cách áp dụng các chiến lược cụ thể hoặc bằng cách kết hợp
các vấn đề cấp bách có liên quan vào các kế hoạch, chương trình và chính
sách. Theo quy định tại Điều 10, việc sử dụng bền vững đa dạng sinh học phải
được xem xét trong việc ra các quyết định quốc gia. Các bên tham gia Công
ước cũng được yêu cầu phải xác định và kiểm soát các nguồn tiềm năng của
các tác động xấu đến đa dạng sinh học để điều tiết và quản lý chúng (Điều 7).
Trong các nghĩa vụ đối với các bên tham gia Công ước, các bên được yêu cầu
phải tiến hành phục hồi quần thể các loài bị đe doạ, đặc biệt cần xây dựng và
áp dụng pháp luật để tập trung bảo vệ các loài nguy cấp (Điều 8). Các bên
tham gia Công ước cũng đồng thời được yêu cầu đánh giá tác động môi
trường của các dự án có khả năng có "tác dụng phụ đáng kể" về đa dạng sinh
học được yêu cầu (Điều 14).
1.2.3.2. Các văn bản quy phạm pháp luật trong nước liên quan trực
tiếp đến bảo vệ động vật hoang dã
Các văn bản quy phạm pháp luật trong nước được liệt kê dưới đây sẽ
được sắp xếp theo trình tự thời gian với hiệu lực pháp lý giảm dần.
Các văn bản quy phạm pháp luật này điều chỉnh mọi hoạt động liên
quan đến việc (i) quản lý ĐVHD từ danh mục các loài ĐVHD đến điều kiện,
trình tự, thủ tục để đăng ký khai thác, vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt, tặng
cho, xuất, nhập khẩu ĐVHD và quy trình quản lý các hoạt động này; (ii) xử lý
các hành vi vi phạm liên quan đến ĐVHD từ trách nhiệm hình sự đến hành
chính; (iii) xử lý tang vật là ĐVHD. Trong đó, các quy phạm quản lý và xử lý
tang vật được quy định trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Luật Đa
dạng sinh học (2008) và các Nghị định, Thông tư trong lĩnh vực nông – lâm
25
nghiệp, thuỷ sản, đa dạng sinh học và môi trường. Các quy định về xử lý vi
phạm liên quan đến loài ĐVHD được quy định trong Bộ luật Hình sự (1999,
sửa đổi bổ sung 2009) và các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chuyên ngành.
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004)
Luật bắt đầu có hiệu lực từ 01/04/2005. Theo đó, những hành vi săn,
bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép bị nghiêm cấm.
Đồng thời Luật cũng quy định việc khai thác, động vật rừng phải được phép
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật
về bảo tồn ĐVHD. Việc kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm
nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phải
tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam
ký kết hoặc gia nhập. Hiện nay, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được Quốc
hội đưa vào chương trình sửa đổi, mang tính tổng quát hơn với tên gọi “Luật
Lâm nghiệp”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là đầu mối xây dựng
và hoàn thiện dự thảo Luật này.
- Luật Đa dạng Sinh học (ĐDSH) năm 2008
Luật đa dạng sinh học được thông qua ngày 13/11/2008 và bắt đầu có
hiệu lực từ ngày 01/07/2009. Luật dành riêng một Chương IV với 18 điều quy
định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật. Theo đó, các loài
ĐVHD sẽ được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu
tiên bảo vệ nhằm bảo vệ những vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe
dọa tuyệt chủng, quy định loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dã
được khai thác có điều kiện trong tự nhiên. Luật cũng quy định về khu bảo
tồn, phân cấp khu bảo tồn và những hành vi bị cấm trong khu bảo tồn.
- Bộ Luật Hình Sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã có quy định về Tội vi phạm các
26
quy định về bảo vệ ĐVHD quý hiếm tại Điều 190. Khi Bộ luật Hình sự được
sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 190 được sửa đổi thành Tội vi phạm các quy
định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ. Theo đó, các hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôi
nhốt trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận
chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm, bộ phận cơ thể của của loại động vật đó
có thể bị phạt lên tới 7 năm tù giam.
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Nghị định đã phân chia động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 02
nhóm tùy theo mức độ nguy cấp và sự bảo vệ của pháp luật đối với các loài
đó. Trong đó:
Nhóm IB: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
Nhóm IIB: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
Nghị định cũng đồng thời quy định các nguyên tắc chung trong việc
quản lý và bảo vệ các nhóm loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm này. Qua
8 năm thực hiện, từ đầu năm 2013, Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn chủ trì xây dựng Nghị định thay thế Nghị định này. Tuy
nhiên, do không giải quyết được vấn đề trùng lặp với Nghị định 160/2013/NĐ-
CP (sẽ đề cập ở sau) nên văn bản này hiện đang bị tạm dừng.
- Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản
lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi
sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật
hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 82/2006/NĐ-CP)
Nghị định quy định trình tự, thủ tục cụ thể hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh
trưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật (kể cả loài lai) hoang dã
nguy cấp, quý, hiếm, bao gồm:
27
+ Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã quy định tại các Phụ lục
I, II và III của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật
hoang dã nguy cấp (CITES).
+ Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm
theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Hiê ̣n nay, một số trình tự, thủ tục theo Nghị định này đã được sửa đổi ,
bổ sung bởi Nghi ̣đi ̣nh 98/2011/NĐ-CP ngày 26/10/2011 về sử a đổi, bổ sung
một số điều các Nghi ̣đi ̣nh về Nông nghiê ̣p.
- Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2013 của Chính
phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản (Nghị
dịnh 103/2013/NĐ-CP)
Nghị định 103/2013/NĐ-CP quy định các hành vi khai thác, mua bán,
thu gom, nuôi, lưu giữ, sơ chế, chế biến các loài thủy sinh nguy cấp quý
hiếm hoặc khai thác, thu gom, sơ chế, bảo quản, vận chuyển các loài thủy
sản trong danh mục cấm khai thác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức
phạt tối đa lên đến 100 triệu đồng tùy thuộc vào khối lượng của loài thủy
sinh hoặc thủy sản.
Toàn bộ số thủy sinh quý hiếm hoặc thủy sản sẽ bị tịch thu và thả lại
môi trường sống của chúng (nếu còn sống) hoặc chuyển giao cho cơ quan có
thẩm quyền để xử lý (nếu đã chết)
- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ
rừng và quản lý lâm sản (Nghị định 157/2013/NĐ-CP)
Nghị định 157/2013/NĐ-CP là văn bản quy định mức độ xử phạt hành
chính đối với các vi phạm trong hoạt động quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và
quản lý lâm sản (trong đó có ĐVHD).
Theo đó, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm; các tình tiết tăng nặng,
28
giảm nhẹ mà các hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động
vật rừng; giết động vật rừng; vận chuyển lâm sản trái pháp luật hoặc mua,
bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản không có hồ sơ hợp pháp hoặc có
hồ sơ hợp pháp nhưng lâm sản không đúng nội dung hồ sơ sẽ bị xử phạt đến
500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỉ đồng đối với tổ chức.
- Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu
chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Nghị định quy định hệ
thống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD đưa vào Danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Theo đó, loài được đưa vào Danh
mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nếu (i) Số lượng cá thể còn
ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng và (ii) Là loài đặc hữu có một trong các giá
trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn
hóa – lịch sử.
Nghị định cũng quy định nguyên tắc bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và cơ chế chặt chẽ để quản lý việc khai thác;
trao đổi, mua bán, tặng cho, thuê, lưu giữ, vận chuyển mẫu vật; nuôi trồng và
cứu hộ loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ. Một điểm đặc biệt là
danh mục loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được ban
hành kèm theo Nghị định này hầu hết là các loài động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (đề cập ở trên). Chính vì vậy,
Nghị định 160/2013/NĐ-CP đã quy định chế độ quản lý loài đối với loài đồng
thời thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP sẽ được
áp dụng theo quy định của Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Nghị định 179)
29
Nghị định 179/2013/NĐ-CP là văn bản quy định mức độ xử phạt hành
chính đối với các vi phạm trong lĩnh vực môi trường. Trong đó, Điều 42 có
quy định về mức độ xử phạt đối với hành vi lưu giữ trái phép bộ phận cơ thể
hoặc sản phẩm của loài ĐVHD thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ với mức xử phạt tối đa lên đến 500 triệu đồng đối với cá
nhận và 1 tỉ đồng đối với tổ chức.
- Thông tư Liên tịch 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-
TANDTC ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình
sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm
sản (Thông tư 19)
Thông tư liên tịch này hướng dẫn thực hiện Điều 190 Bộ luật Hình sự
1999 về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ ĐVHD quý, hiếm. Theo đó,
những loài động vật quý hiếm là những loài thuộc nhóm IB của Nghị định
32/2006/NĐ-CP. Đồng thời thông tư cũng hướng dẫn cụ thể căn cứ để đánh
giá hành vi vi phạm là gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc
biệt nghiêm trọng để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng. Cụ thể, Thông tư
ban hành Phụ lục về việc xác định số lượng cá thể động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm nhóm IB để làm căn cứ xác định. Ví dụ, hành vi vi phạm liên quan
đến gấu, 1 cá thể là gây hậu quả nghiêm trọng, 2 đến 3 cá thể là hậu quả rất
nghiêm trọng, từ 4 cá thể trở lên là đặc biệt nghiêm trọng; trong khi chỉ cần vi
phạm đối với 1 cá thể hổ là đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Thông tư
này hướng dẫn quy định tại Điều 190 BLHS 1999 đối với các vi phạm liên
quan đến loài “bị cấm theo quy định của Chính phủ”. Khi Bộ luật Hình sự sửa
đổi năm 2009 điều chỉnh đối tượng tại Điều 190 thành “động vật trong Danh
mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, phần hướng dẫn của
Thông tư liên quan đến vấn đề này đương nhiên hết hiệu lực. Tuy nhiên,
không có bất cứ hướng dẫn nào sau khi Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 nên
30
hiện Thông tư này vẫn được các cơ quan chức năng địa phương tham khảo
làm căn cứ xử lý các vi phạm hình sự về ĐVHD.
- Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 02/2006/TT-
BTS ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thị hành Nghị định
số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về Điều kiện sản xuất kinh
doanh một số ngành nghề thủy sản (Thông tư 62/2008/TT-BNN)
Trong Thông tư này có ban hành kèm theo Danh mục những đối tượng
bị cấm khai thác (thủy sản). Đây là những loài thuỷ sinh nguy cấp có phân bố
tự nhiên tại Việt Nam và mọi hoạt động khai thác các loài này trong ngành
nghề thuỷ sản đều bị nghiêm cấm. Ngoài ra, Thông tư cũng ban hành danh
mục các đối tượng thủy sản bị cấm khai thác có thời hạn trong năm. Thời hạn
này thường là mùa sinh sản của các loài thủy sinh bị cấm để tạo điều kiện cho
chúng khôi phục quần thể trong tự nhiên.
- Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn về việc công bố Danh mục các loài thủy sinh quý
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát
triển (Quyết định 82/2008/QĐ-BNN)
Quyết định này nhằm ban hành Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có
nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển qua
việc áp dụng các tiêu chuẩn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN
(Phiên bản 2.2, 1994) và Sách đỏ Việt Nam 2007 để đánh giá mức độ quý hiếm
của loài thủy sinh theo các bậc: Tuyệt chủng (EX); Tuyệt chủng ngoài thiên
nhiên (EW); Rất nguy cấp (CR); Nguy cấp (EN); Sẽ nguy cấp (VU).
- Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 hướng dẫn xử lý tang vật
là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu (Thông tư 90/2008/TT-BNN)
Thông tư 90/2008/TT-BNN quy định những tang vật là động vật rừng
31
thu được trong các vụ vi phạm sẽ được xử lý lần lượt theo trình tự quy định
tại thông tư này căn cứ mức độ nguy cấp, quý hiếm của từng nhóm (IB, IIB,
Phụ lục I, II CITES hay động vật rừng thông thường).
Việc xử lý cũng căn cứ vào loại tang vật là động vật rừng còn sống, đã
chết hay bộ phận, sản phẩm của chúng, là loài trong nước hay nhập khẩu.
- Quyết định 95/2008/QĐ-BNN ngày 29/09/2008 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn về việc ban hành Quy chế quản lý gấu nuôi (Quyết
định 95/2008/QĐ-BNN)
Quyết định này là sự kế thừa Quyết định 02/2005/QĐ-BNN ngày
05/01/2005 về việc ban hành Quy định về quản lý gấu nuôi nhốt trong đó thể
hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc quản lý số lượng
gấu đang nuôi nhốt và ngăn chặn gấu mới từ tự nhiên bị bắt vào các trang trại.
Tại Quyết định này, mọi hành vi săn bắn, bẫy bắt, mua, bán, giết mổ,
vận chuyển, quảng cáo, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất khẩu gấu và
sản phẩm, dẫn xuất từ gấu trái với quy định của pháp luật đều bị nghiêm cấm.
Ngoài ra, Quyết định cũng đặt ra quy định về điều kiện chuồng, trại, vệ sinh,
thú ý và các điều kiện đăng ký trại nuôi gấu. Gấu là loài ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm duy nhất ở Việt Nam hiện nay có một văn bản quy phạm pháp luật
quản lý chuyên biệt đối với chúng. Từ năm 2012, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn đang xây dựng Thông tư mới thay thế Quyết định này. Tuy
nhiên, Thông tư mới hiện đang gặp phải phản đối mạnh mẽ từ các tổ chức bảo
tồn bởi việc cho phép tiếp tục đăng ký các cá thể gấu con được nuôi tại trại sẽ
tạo kẽ hở cho việc đưa gấu từ tự nhiên vào các trang trại nuôi nhốt. Do đó,
văn bản này hiện tại vẫn đang bị tạm dừng.
- Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động
vật rừng thông thường (Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT)
32
Ngày 25/09/2012, Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn đã b an
hành Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và
nuôi động vật rừng thông thường. Thông tư này liệt kê 160 loài động vật rừng
thông thường được phép khai thác và gây nuôi vì mục đích thương mại theo
các quy định, thủ tục được đưa ra trong thông tư.
1.2.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ động vật hoang
dã ở Việt Nam
Xét tổng quan pháp luật về bảo vệ ĐVHD như trên, tác giả tạm phân
chia các quan hệ pháp luật về bảo vệ ĐVHD thành ba nhóm cơ bản, gồm: 1)
Các quy định về quản lý bảo vệ ĐVHD; 2) Các quy định về xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ ĐVHD; và 3) Các quy định về xử lý tang vật và cứu hộ
ĐVHD. Ba nhóm quy định này có mối quan hệ mật thiết với nhau nên sự
phân chia chỉ mang tính chất tương đối, phục vụ công tác nghiên cứu trong
quá trình thực hiện luận văn này.
1.2.4.1. Các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã
Các nội dung chủ yếu trong nhóm quy định quản lý bảo vệ ĐVHD bao
gồm: quy định về thẩm quyền; nguyên tắc quản lý trong việc săn bắt, nuôi
nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, tặng cho, xuất - nhập khẩu, nhập nội từ
biển, bảo tồn nguồn gen ĐVHD và danh mục các loài ĐVHD, các quy chế
quản lý đặc biệt đối với những loài ĐVHD đặc biệt nguy cấp, quý, hiếm. Cụ
thể như sau:
Thứ nhất, về mặt thẩm quyền, Bộ Tài nguyên và môi trường và Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là hai Bộ được giao nhiệm vụ trực tiếp
quản lý bảo vệ ĐVHD. Cụ thể, Bộ Tài nguyên và môi trường quản lý bảo vệ
ĐVHD như là một bộ phận trong đa dạng sinh học theo quy định của Luật Đa
dạng sinh học; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý các mảng về
ĐVHD thuộc rừng và thuỷ sinh.
33
Thứ hai, về nguyên tắc quản lý, tất cả các hoạt động săn bắt, vận chuyển,
buôn bán, tặng cho, xuất – nhập khẩu, nhập nội từ biển ĐVHD phải thực hiện
theo đúng quy định của pháp luật và phải đăng ký, được các cơ quan chức
năng có thẩm quyền ở trung ương và địa phương theo dõi quản lý. Mọi hành
vi săn bắt, vận chuyển, tàng trữ buôn bán, tặng cho, xuất – nhập khẩu, nhập
nội từ biển ĐVHD trái phép đều bị nghiêm cấm. Pháp luật cũng xây dựng các
quy phạm chuyên biệt để bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là
những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao. Nguyên tắc trong việc quản lý đối với
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là nghiêm cấm mọi hoạt động
khai thác, mua bán, tặng cho, vận chuyển.. các loài này vì mục đích thương
mại. Đối với các loài ĐVHD khác tuỳ theo mức độ nguy cấp có thể bị hạn chế
khai thác hoặc được phép khai thác nếu đáp ứng những điều kiện nhất định
theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, về danh mục các loài ĐVHD. Hiện nay, pháp luật mới chỉ quy
định danh mục một số loài ĐVHD bao gồm Danh mục động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định
160/2013/NĐ-CP; Danh mục loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm cần được
bảo tồn, bảo vệ và phát triển ban hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ-
BNN 17/07/2008; Danh mục động vật rừng thông thường ban hành kèm theo
Thông tư 47/2012/TT-BNN. Tuy nhiên, hiện nay cũng có một số loài ĐVHD
không được ghi nhận trong bất kỳ danh mục chính thống nào của Nhà nước
như các loài chim di trú gồm chim én, chim sẻ, vịt trời, chim mỏ nước, sâm
cầm... Chúng liệu có được coi là động vật rừng? Vi phạm đối với chúng sẽ
áp dụng quy định nào để xử lý? Điều này đã gây nhiều lúng túng cho cơ
quan chức năng địa phương trong việc áp dụng pháp luật về quản lý và bảo
vệ các loài này.
34
Thứ tư, về nguyên tắc quản lý gây nuôi ĐVHD. Hiện nay pháp luật vẫn
quy định cho phép gây nuôi vì mục đích thương mại đối với tất cả các loài
ĐVHD nếu đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.
Đối với loài nguy cấp, quý, hiếm, điều kiện và trình tự thủ tục được thực hiện
theo quy định của Nghị định 82/2006/NĐ-CP. Đối với một số loài thông
thường, quy trình được quy định tại Thông tư 47/2012/TT-BNN. Các loài
ĐVHD không được liệt kê trong Thông tư 47/2012/TT-BNN được hiểu là sẽ
không được phép khai thác và gây nuôi vì mục đích thương mại. Tuy nhiên,
trên thực tế tình trạng gây nuôi các loài không được liệt kê (sâm cầm, chim sẻ,
vịt trời...) vẫn xảy ra trên thực tế và hiện gây khó khăn cho các cơ quan chức
năng do không có căn cứ xử lý.
1.2.4.2. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật
hoang dã
Các chế tài xử lý vi phạm liên quan đến ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm
được chia thành chế tài hình sự và chế tài hành chính. Cụ thể như sau:
- Chế tài hình sự chỉ áp dụng đối với các vi phạm liên quan đến loài
ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm mà không áp dụng đối với ĐVHD thông thường.
Các loài nguy cấp, quý, hiếm này có thể là loài “nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ” theo quy định của Điều 190 BLHS 2009 hoặc “hàng cấm” theo
quy định tại Điều 153,154,155; “loài thuỷ sản bị cấm” theo quy định tại Điều
188. Tuy nhiên, nhìn chung các hành vi bị xử lý hình sự bao gồm: săn, bắt,
giết, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán, nuôi nhốt ĐVHD hoặc sản phẩm, bộ
phận của chúng. Mức phạt cao nhất được áp dụng đối với vi phạm liên quan
đến động vật hoang dã là 15 năm tù (theo quy định tại Điều 155) nhưng chưa
bao giờ được áp dụng trên thực tế.
- Chế tài hành chính được áp dụng đa dạng đối với vi phạm liên quan
đến loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm hoặc thông thường. Nhìn chung, tất cả
35
những vi phạm không được quy định xử lý hình sự sẽ được giải quyết trong
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chuyên ngành như lĩnh
vực bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, thuỷ sản. Mức xử phạt vi phạm hành
chính tối đa theo quy định của các nghị định xử phạt vi phạm hành chính
chuyên ngành là 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức.
Các hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính cũng tương tự các hành vi bị xử lý
hình sự nhưng bổ sung thêm: chế biến, thu gom (Điều 7 Nghị định
103/2013/NĐ-CP); mua ĐVHD (Điều 23 Nghị định 157/2013/NĐ-CP).
1.2.4.3. Các quy định về xử lý tang vật động vật hoang dã
Liên quan đến việc xử lý tang vật đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý,
hiếm, nguyên tắc chung là không “phát mại” đối với các loài ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm bị cấm khai thác, kinh doanh thương mại. Thẩm quyền quyết định
xử lý tang vật đối với các mẫu vật này là do Thủ tướng Chính phủ quyết định
(Thông tư 159/2014/TT-BTC). Mỗi loài ĐVHD hoặc mỗi loại tang vật thu
được (cá thể chết, sống, sản phẩm, bộ phận) sẽ có các cách thức xử lý khác
nhau. Đối với các cá thể sống, nguyên tắc đầu tiên được xem xét là thả về tự
nhiên nếu cá thể khoẻ mạnh, chuyển giao cho trung tâm cứu hộ nếu cá thể bị
thương. Việc bán chỉ được áp dụng đối với các loài ĐVHD thông thường và
loài hạn chế khai thác vì mục đích thương mại. Biện pháp tiêu huỷ ĐVHD luôn
là biện pháp cuối cùng được xem xét nếu ĐVHD bị bệnh dịch hoặc không thể
xử lý ĐVHD bằng các biện pháp khác (Thông tư 90/2008/TT-BNN).
1.2.5. Xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
Theo thống kê không chính thức trên trang thông tin thử nghiệm chia sẻ
thông tin về việc thực thi Công ước của Liên hợp quốc chống lại tội phạm có tổ
chức và những quyết nghị của Công ước này [40], hiện có khoảng 56 quốc gia
trên thế giới đang có các quy định pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực bảo vệ
36
ĐVHD. Những quy định về bảo vệ ĐVHD có thể nằm trong các quy định pháp
luật về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học hoặc là những quy định chuyên
biệt về bảo vệ ĐVHD, thậm chí là quy định bảo vệ riêng từng nhóm loài
ĐVHD cụ thể. Trong phần này, luận văn không đi vào phân tích cụ thể kinh
nghiệm bảo vệ ĐVHD của các quốc gia nhất định mà nhìn vào xu hướng chung
của pháp luật về bảo vệ ĐVHD trên thế giới để từ đó đúc kết các bài học trong
quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này.
Nhìn tổng quan pháp luật bảo vệ ĐVHD trên thế giới có thể thấy các
văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD từ lâu đã tồn tại trong hầu hết
các hệ thống pháp luật. Ban đầu, vấn đề được chú ý là bảo vệ những loài nhất
định hoặc khu vực sinh sống của các loài hoang dã. Tuy nhiên, gần đây, xu
hướng chung trên thế giới là bảo vệ các loài ĐVHD một cách toàn diện. Việc
bảo vệ ĐVHD được đặt trong tổng quan bảo vệ đa dạng sinh học [23].
Đây là một sự cải thiện toàn diện nền tảng pháp lý trong vấn đề bảo vệ
ĐVHD và là một bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình
hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Việc bảo vệ
ĐVHD cần phải tiến hành một cách toàn diện từ ngoài vào trong. Trước tiên,
pháp luật về bảo vệ ĐVHD luôn phải song hành với pháp luật bảo vệ đa dạng
sinh học và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ ĐVHD cũng cần là
một ưu tiên quốc gia thể hiện qua việc xây dựng quy phạm pháp luật chuyên biệt
làm nền tảng chung cho hệ thống các quy định về bảo vệ ĐVHD. Đồng thời, đối
với các loài hoặc nhóm loài ĐVHD đang được đặt trong tình trạng nguy cấp,
Đảng và Nhà nước cần quan tâm xây dựng các quy phạm đặc biệt để bảo vệ.
Bên cạnh đó, một xu hướng khác trong pháp luật về bảo vệ ĐVHD nói
riêng và bảo vệ đa dạng sinh học nói chung là “phát triển bền vững”
(sustainable development). Một nghiên cứu được xuất bản bởi FAO vào năm
1984 liên quan đến pháp luật về ĐVHD và các khu bảo tồn ở châu Phi đã ghi
37
nhận một xu hướng (trong hầu hết các quy định của pháp luật từ những năm
1970 trở đi) theo hướng tiếp tục xem xét “quản lý” (management) và “sử
dụng” (utilization) ĐVHD. Điều này hoàn toàn trái ngược với sự quan tâm
nghiêm ngặt đến hành vi săn bắt và bảo vệ các loài ĐVHD trước đó (FAO,
1984). Từ đó, mục tiêu của chính sách về bảo vệ ĐVHD dần trở thành quản lý
hiệu quả ĐVHD để sử dụng vào các mục đích hữu ích mà không huỷ hoại nguồn
tài nguyên này. Quan điểm này đã được thừa nhận rộng rãi từ cuối những năm
1980 như là những nguyên tắc cơ bản của “phát triển bền vững” [27]. Quan
điểm này nên được xem xét áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý
việc cân bằng giữa phát triển và bảo tồn ĐVHD bởi lẽ nếu quá chú trọng đến
phát triển kinh tế sẽ rất dễ dẫn đến sự lạm dụng trong việc khai thác ĐVHD
và phá vỡ thế “bền vững” của sự phát triển.
Ngoài ra, một xu thế quan trọng trong việc bảo vệ ĐVHD là hợp tác
quốc tế. Vấn đề bảo vệ ĐVHD không còn được gói gọn là vấn đề của các
quốc gia có đa dạng sinh học phong phú mà là một vấn đề chung toàn cầu.
Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đã hợp tác, xây dựng các công ước
quốc tế quan trọng liên quan đến bảo vệ ĐVHD. Những cam kết quốc tế ràng
buộc này cũng là yếu tố quan trọng nhằm rà soát và xây dựng hiệu quả hệ
thống pháp luật quốc gia về bảo vệ ĐVHD.
Trong các thỏa thuận quốc tế về ĐVHD đã được thông qua trên phạm
vi toàn cầu hoặc khu vực, Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực
vật hoang dã nguy cấp (Công ước CITES) được thông qua tại Washington
vào năm 1973 là văn bản pháp lý quan trọng nhất. Công ước bảo vệ các loài
bị đe dọa bằng cách hạn chế và điều tiết thương mại quốc tế thông qua hệ
thống giấy phép xuất, nhập khẩu.
Một thỏa thuận quốc tế quan trọng khác là Công ước về Bảo tồn các
loài ĐVHD di cư, được thông qua tại Bonn năm 1979 (Công ước Bonn), đòi
38
hỏi sự hợp tác quốc tế đối với các loài di cư thường xuyên qua ranh giới quốc
tế. Công ước về Đa dạng sinh học (Công ước CBD) tuy mới được kí kết năm
1992 và có hiệu lực từ năm 1993 nhưng được coi là văn kiện trọng yếu liên
quan đến phát triển bền vững và bảo vệ ĐVHD. Đây là một hiệp ước đa
phương với mục tiêu phát triển các chiến lược quốc gia về bảo tồn và sử dụng
bền vững đa dạng sinh học trong đó có ĐVHD.
Trong khi Công ước CITES, Công ước Bonn và CBD là điều ước quốc
tế quan trọng điều chỉnh trực tiếp việc bảo vệ các loài ĐVHD, các quốc gia
trên thế giới cũng đã cùng thoả thuận và ký kết một số công ước liên quan đến
việc bảo vệ môi trường sống cụ thể quan trọng của ĐVHD như Công ước về
vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt là môi trường sống
của chim nước năm 1971 (Công ước Ramsar), và các ước liên quan đến Bảo
vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 (Công ước Paris). Trong
bối cảnh đó, Việt Nam cần tham gia tích cực hơn nữa vào các công ước, hiệp
định quốc tế đa phương hoặc song phương về bảo vệ ĐVHD để tăng cường
hợp tác quốc tế về bảo vệ ĐVHD.
39
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam
2.1.1. Thực trạng các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã
Thứ nhất, sự phân định trách nhiệm các bộ, ngành có liên quan còn
chưa rõ ràng dẫn đến chồng chéo khi thực hiện chức năng nhiệm vụ và do đó
hạn chế hiệu quả hoạt động quản lý và bảo vệ ĐVHD. Trong lĩnh vực quản lý
ĐVHD, cơ quan Nhà nước đóng vai trò là đầu mối là Bộ Tài nguyên Môi
trường và Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn . Tuy nhiên, hai văn bản
hiện hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ này đều có sự
trùng lặp mâu thuẫn, chồng chéo. Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày
04/3/2013 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về quản lý nhà nước đối với
ĐVHD như sau:
- Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý loài ngoại lai xâm hại, bảo tồn đa
dạng sinh học tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài thuộc danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ không bao gồm giống cây trồng,
giống vật nuôi; (Điểm i Khoản 8 Điều 2)
- Lập, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
danh mục, chương trình bảo tồn loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
không bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ; danh mục loài ngoại lai xâm hại; (Điểm l Khoản 8 Điều 2)
Trong khi đó, Nghị định 199/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 Quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiê ̣p và
Phát triển Nông thôn quy định về quản lý ĐVHD cũng quy định một trong
các chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn như sau:
40
- Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy định của Chính phủ và Thủ tướng
Chính phủ về cơ chế, chính sách phát triển lâm nghiệp; chế độ quản lý, bảo vệ
những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và danh mục
những loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm theo quy định của pháp
luật. Chủ trì phối hợp với Bộ, ngành liên quan quản lý hệ thống rừng đặc dụng,
bảo vệ hệ sinh thái rừng, các loài sinh vật rừng theo quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn và kiểm tra thực hiện quy hoạch khai thác, bảo vệ và phát
triển nguồn lợi thuỷ sản của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quy
chế quản lý về khai thác, bảo vệ phát triển nguồn lợi thủy sản sau khi được
cấp có thẩm quyền phê duyệt; Quy định danh mục các loài thủy sản cần được
bảo tồn, bảo vệ, cần được tái tạo, các biện pháp bảo vệ môi trường các hệ sinh
thái thủy sản, bảo tồn quỹ gen, đa dạng thủy sản theo quy định của pháp luật.
Từ hai quy định trên có thể nhìn thấy khoảng “trùng lặp” trong quản lý
khi cả hai Bộ đều có thẩm quyền quản lý đối với loài ĐVHD nguy cấp, quý,
hiếm. Điều này được lý giải bởi việc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
có nhiệm vụ quản lý thủy sản và rừng trong đó bao gồm hầu hết ĐVHD.
Trong khi đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường lại là đầu mối quản lý đa dạng
sinh học và ĐVHD cũng là một bộ phận quan trọng trong đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, việc không phân định rõ vai trò của từng Bộ trong việc quản lý cụ
thể đối với ĐVHD đã dẫn đến tình trạng chồng chéo, thậm chí là “ganh đua”
trong việc để giành quyền quản lý các loài ĐVHD, đặc biệt là các loài nguy
cấp, quý, hiếm.
Thứ hai, các văn bản về quản lý danh mục ĐVHD còn nhiều hạn chế.
Hiện nay đang đồng thời tồn tại khá nhiều “danh mục” có bao gồm các loài
ĐVHD. Một số danh mục có thể kể tên như Danh mục loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP;
Danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban
41
hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; Danh mục các loài động vật,
thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc
tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp được ban hành kèm theo Thông
tư 40/2013/TT-BNNPTNT; Danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy
cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển được ban
hành Quyết định 82/2008/QĐ-BNN; Danh mục loài thủy sản bị cấm khai thác
ban hành kèm theo Thông tư 62/2008/TT-BNN. Trong số đó, riêng Danh mục
các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị
định 160/2013/NĐ-CP đã có đến 69 loài động vật trùng với Danh mục các
loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định
32/2006/NĐ-CP; 9 loài trùng với Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có
nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển ban
hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát
triển Nông thôn và cũng có 6 loài trùng với đối tượng bị cấm khai thác ban
hành kèm theo Thông tư 62/2008/TT-BNN. Ngoài ra, theo Luật ĐDSH 2008
cần ban hành Danh mục nữa gồm: i) Danh mục loài hoang dã bị cấm khai
thác trong tự nhiên; và ii) Danh mục loài hoang dã được khai thác có điều
kiện trong tự nhiên theo Điều 44 Luật ĐDSH với thẩm quyền ban hành của
Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn , nhưng hiện nay vẫn chưa được ban
hành. Tuy nhiên, một câu hỏi cũng cần được đặt ra là liệu việc ban hành
thêm hai danh mục này là thực sự cần thiết trong bối cảnh đã có quá nhiều
các loại danh mục ĐVHD như hiện nay? Việc tồn tại quá nhiều danh mục các
loài ĐVHD, nguy cấp quý hiếm trong các văn bản pháp luật khác nhau (thậm
chí một loài thuộc đồng thời nhiều danh mục trong khi đó cách thức xử lý vi
phạm đối với mỗi nhóm loài lại rất khác biệt) trong bối cảnh thiếu những
hướng dẫn cần thiết trong áp dụng pháp luật đã khiến các cơ quan thực thi
lúng túng, đặc biệt là trong quá trình xử lý các vi phạm pháp luật có liên quan.
42
Bên cạnh đó, nếu như danh mục các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm thường
bị trùng lặp thì danh mục các loài ĐVHD thông thường lại không đầy đủ.
Hiện nay, liên quan đến nhóm loài ĐVHD thông thường này, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn đã ban hành Danh mục động vật rừng thông thường
kèm theo Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT. Tuy nhiên, danh mục này chỉ
bao gồm 160 loài động vật rừng, không bao gồm động vật thuỷ sinh. Như
vậy, các loài động vật ngoài 160 loài được liệt kê của Thông tư 47/2012/TT-
BNNPTNT như chim sẻ, kỳ nhông sẽ được coi là động vật rừng hay không?
Việc khai thác và bảo vệ nhóm loài này được quy định như thế nào?
Thứ ba, có sự không thống nhất trong thẩm quyền ban hành các Danh
mục loài ĐVHD dẫn đến sự quan tâm không đúng mức giữa các loài khác
nhau. Cụ thể, Luật ĐDSH 2008 do Quốc hội thông qua quyết định Chính phủ
là cơ quan ban hành Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
trong đó bao gồm các loài ĐVHD thủy sinh và trên cạn (Do Bộ Tài nguyên và
Môi trường đề xuất). Luật BV&PT rừng 2004 và văn bản hướng dẫn thi hành
cũng quy định Chính phủ là cơ quan ban hành Danh mục thực vật rừng, động
vật rừng nguy cấp, quý hiếm cần bảo vệ (Do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn đề xuất). Trong khi đó, đối với các loài thuỷ sinh nguy cấp, theo
Luật Thủy sản 2003 và văn bản hướng dẫn thi hành thì “Bộ Thuỷ sản (nay là
Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn) định kỳ công bố Danh mục các loài
thuỷ sản đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và các loài thuỷ sản khác bị cấm
khai thác; Danh mục các loài thuỷ sản bị cấm khai thác có thời hạn và thời
gian cấm khai thác” (Điểm a Khoản 3 Điều 8, Luật Thủy sản 2003). Như vậy,
giữa Danh mục loài trên cạn với loài dưới nước cần bảo vệ đã có sự khác biệt
về thẩm quyền ban hành, dẫn đến có sự khác biệt về giá trị pháp lý của các
văn bản ban hành.Trong khi các loài ĐVHD trên cạn được bảo vệ ở cấp độ
cao hơn, quy định liên quan dến các loài thủy sinh lại đang khá “nhập nhèm”
43
khi chúng lúc thì được Chính phủ ban hành trong Danh mục loài nguy cấp
quý, hiếm “được ưu tiên bảo vệ”, khi thì do Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn) ban hành trong Danh mục loài thủy sản bị
cấm khai thác hoặc loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo vệ, bảo
tồn và phát triển. Điều này cũng lí giải thực tế vì sao các loài ĐVHD thủy
sinh cũng luôn ít được quan tâm hơn các loài động vật rừng.
Thứ tư, quy định quản lý gây nuôi ĐVHD còn tồn tại bất cập. Hiện nay,
theo quy định của pháp luật Việt Nam, có ba mục đích gây nuôi ĐVHD là gây
nuôi vì mục đích thương mại và gây nuôi vì mục đích nghiên cứu khoa học,
bảo tồn và nuôi ĐVHD làm cảnh. Tuy nhiên, các quy định quản lý hoạt động
gây nuôi vì ba mục đích này đều chưa rõ ràng. Cụ thể, các quy định liên quan
gây nuôi ĐVHD gồm có Nghị định 160/2013/NĐ-CP quy định hoạt động gây
nuôi bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nghị
định 82/2006/NĐ-CP (sửa đổi bởi 98/2011/NĐ-CP) quy định trình tự, thủ tục
gây nuôi (không phân biệt mục đích) đối với loài nguy cấp, quý, hiếm thuộc
Phụ lục CITES và loài nguy cấp, quý, hiếm thuộc các quy định của pháp luật
Việt Nam; Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT quy định điều kiện, trình tự, thủ
tục thành lập trại nuôi, cơ sở nuôi và quản lý hoạt động gây nuôi với 160 loài
động vật rừng thông thường (không phân biệt mục đích). Tuy nhiên, chỉ có
Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT là quy định khá đầy đủ điều kiện, trình tự
thủ tục thành lập trại nuôi, cơ sở nuôi và quản lý hoạt động gây nuôi thì các
quy định còn lại chỉ mang tính chất khái quát chung mà chưa đi vào các tiêu
chí, điều kiện, trình tự cụ thể để cho phép gây nuôi ĐVHD. Tuy vậy, như đã
đề cập ở trên, Thông tư 47/2012/TT-BNN chỉ áp dụng đối với 160 loài động
vật rừng nên quy trình, thủ tục gây nuôi các loài động vật rừng khác và loài
ĐVHD thủy sinh thông thường hiện vẫn được bỏ ngỏ. Bên cạnh đó, đối với
Nghị định 82/2006/NĐ-CP, do Nghị định này tách việc gây nuôi sinh sản và
44
nuôi sinh trưởng nên trong một số trường hợp xảy ra bất cập khi cơ sở được
cấp phép nuôi sinh trưởng nhưng ĐVHD lại sinh sản nên phải tiến hành các
thủ tục phức tạp để đăng ký. Mặt khác, trong hàng loạt các quy định về gây
nuôi được ban hành (kể cả văn bản cụ thể nhất là Thông tư 47/2012/TT-
BNNPTNT) cũng có thể thấy chưa có quy định nào về hướng dẫn tiêu chuẩn
kỹ thuật, thiết kế xây dựng chuồng trại nuôi nhốt cho các loài ĐVHD, ngoại
trừ quy định riêng cho loài gấu (Quyết định 95/2008/QĐ-BNN). Do vậy, thực
tế hiện nay cho thấy toàn bộ khâu kiểm tra chuồng trại đối với các loài thú
hoang dã của cơ quan quản lý nhà nước đã bị bỏ qua hoặc không thể xử lý vì
không có quy chuẩn để kết luận làm đúng hay vi phạm. Việc xác nhận của cơ
quan thú y về tình trạng sức khỏe, dịch bệnh của các loài ĐVHD gây nuôi
cũng còn hạn chế, bởi hiện chưa có cơ sở thú y nghiên cứu chuyên ngành.
Vấn đề cho phép gây nuôi và kinh doanh thương mại các loài ĐVHD
nguy cấp, quý, hiếm được thể hiện trong nhiều văn bản từ Luật ĐDSH 2008,
Nghị định 160/2013/NĐ-CP đến Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006
và Nghị định 82/2006/NĐ-CP cũng không phù hợp với thực trạng thực thi pháp
luật về bảo vệ ĐVHD. Theo quan điểm của các văn bản này, cá nhân, tổ chức
được phép gây nuôi và kinh doanh thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý,
hiếm nếu có thể đáp ứng một số điều kiện nhất định của pháp luật.
Quan điểm của tác giả là không phản đối việc gây nuôi thương mại các
loài ĐVHD thông thường và một số loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm (không
được ưu tiên bảo vệ) nhằm tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế nếu
việc gây nuôi các loài này đáp ứng các điều kiện của pháp luật, được quản lý
chặt chẽ và không làm ảnh hưởng tới quần thể loài trong tự nhiên. Tuy nhiên,
tác giả không đồng tình với việc cho phép gây nuôi thương mại đối với các
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là vì đây là nhóm loài ĐVHD
đặc biệt nguy cấp, quý, hiếm với số lượng quần thể trong tự nhiên còn lại rất
45
ít, chỉ riêng việc khai thác để nghiên cứu tạo nguồn giống ban đầu cũng có thể
dẫn đến sự tận diệt các loài này trong tự nhiên. Trong khi đó, cơ chế vật chất,
kỹ thuật và trình độ quản lý hiện tại ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu
quản lý gây nuôi đối với những loài này.
Đặc biệt, việc mở cửa thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ ĐVHD nguy
cấp, quý, hiếm “một cách hợp pháp” sẽ dẫn đến hậu quả là cơ quan thực thi pháp
luật không thể kiểm soát và phân biệt giữa các sản phẩm ĐVHD “hợp pháp” và
sản phẩm “bất hợp pháp”. Rõ ràng, việc theo dõi hồ sơ và các giải pháp gắn chíp
quản lý là không khả thi trong trường hợp ĐVHD đã được chế biến thành các
sản phẩm và lưu thông trên thị trường. Trong một khảo sát được Trung tâm giáo
dục thiên nhiên (ENV) thực hiện tháng 7/2014 với sự hỗ trợ của 47 Chi cục
Kiểm lâm trong cả nước, 79% các Chi cục cho rằng không nên cho phép gây
nuôi và kinh doanh thương mại đối với ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm bởi cho rằng
việc không thể phân biệt giữa cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm “hợp pháp” và
“bất hợp pháp” sẽ tất yếu dẫn đến khả năng “nhập lậu”, “hợp pháp hóa” các loài
ĐVHD từ tự nhiên vào trong trang trại. Do đó, các trang trại gây nuôi này không
những không làm giảm áp lực khai thác từ tự nhiên mà còn đẩy nhanh các loài
ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm đến nguy cơ tuyệt chủng.
Trong khi đó, ngày 31/07/2013, Thủ tướng đã có Quyết định số
1250/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó thể hiện rõ quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta là thực hiện tuyên truyền giảm nhu cầu tiêu thụ ĐVHD nhằm
chấm dứt nạn khai thác, buôn bán và tiêu thụ trái phép ĐVHD. Tuy nhiên, việc
cho phép gây nuôi các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm trong các trang trại và
sau đó đưa vào lưu thông trên thị trường rõ ràng sẽ làm gia tăng nhu cầu tiêu
thụ các sản phẩm ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Như vậy, việc một mặt tuyên
truyền giảm nhu cầu tiêu thụ và một mặt cho phép gây nuôi và kinh doanh
46
thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm rõ ràng thể hiện sự mâu thuẫn,
không nhất quán trong chính sách bảo vệ ĐVHD ở nước ta. Trong thực tế, việc
gây nuôi thương mại tràn lan một số loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm như hổ,
gấu trong những năm trước đây do chính sách chưa rõ ràng và cơ chế quản lý
“lỏng lẻo” đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của Việt Nam trên
trường quốc tế và khiến Nhà nước mất nhiều thời gian để khắc phục.
Thứ năm, việc xá c đi ̣nh cơ quan chuyên môn thuộc Ủ y ban nhân dân
(UBND) cấp tỉnh chi ̣u trách nhiệm trong việc quản lý các loài ĐVHD nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệhiện tại còn chưa rõ rà ng . Cơ quan
chuyên môn của UBND cấp tỉnh là cơ quan chi ̣u trách nhiê ̣m kiểm tra , giám
sát việc khai thác, cứ u hộ... các loài ĐVHD nhưng cơ quan này hiê ̣n ta ̣i chưa
được cụthể hóa trong Nghi ̣đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP dẫn đến khó khăn cho cơ
quan chứ c năng khi áp dụng . Mă ̣t khác, trong Nghị định 160/2013/NĐ-CP
quy đi ̣nh UBND cấp tỉnh là cơ quan cấp phép nu ôi trồng, trao đổi, mua bán,
tă ̣ng cho, lưu giữ nhưng trong mẫu hồ sơ đính kèm thì cơ quan cấp phép la ̣i là
cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh . Do đó , cần xem xét sử a đổi để
thống nhất nội dung quy đi ̣nh ta ̣i Nghi ̣đi ̣nh 160 và các biểu mẫu đính kèm.
Thứ sáu, một số văn bản phá p luật có liên quan đến bảo vệĐVHD
chưa tương thích vớ i văn bản phá p luật chuyên ngà nh . Hiê ̣n nay, vấn đề bảo
vê ̣ĐVHD không chỉ được quy đi ̣nh trong các văn bản pháp luâ ̣t chuyên
ngành mà còn được quy định trong một số văn bản pháp luật khác có liên
quan như các văn bản trong lĩnh vực đầu tư, thương ma ̣i, y tế... Tuy nhiên, các
văn bản này hiê ̣n nay chưa thực sự tương thích với các văn bản pháp luâ ̣t
chuyên ngành. Ví dụ, Quốc hội đã ban hành Luâ ̣t Đầu tư 2014 trong đó có
Danh mục Các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác, sử
dụng vì mục đích đầu tư kinh doanh (Phụ lục 3). Điều 6 Luâ ̣t Đầu tư quy đi ̣nh
rõ nghiêm cấm đầu tư, kinh doanh các loài nhóm I của Phụlục 3 có nguồn
47
gốc từ tự nhiên. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là nhóm I của Phụlục 3 Phụ lục 3
không chỉ liê ̣t kê các loài ĐVHD được ưu tiên bảo vê ̣ban hành kèm theo
Nghị định 160/2013/NĐ-CP mà còn bao gồm 02 loài ĐVHD nguy cấp , quý,
hiếm khác là kỳ đà hoa và kỳ đà vân . Đây là hai loài ĐVHD nguy cấp , quý,
hiếm thuộc nhóm IIB - Hạn chế khai thác , sử dụng vì mục đích thương ma ̣i
của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Là loài nhóm IIB của Nghị định
32/2006/NĐ-CP đồng nghĩa với viê ̣c hành vi khai thác , kinh doanh hay bán
đấu giá kỳ đà hoa và kỳ đà vân có nguồn gốc từ tự nhiên là hợp pháp nếu đáp
ứng các yêu cầu của pháp luật . Hiê ̣n nay, viê ̣c gây nuôi vì mục đích thương
mại các loài kỳ đà hoa và kỳ đà vân diễn ra phổ biến tại các địa phương trên
cả nước và các cá thể giống để gây nuôi đều có nguồn gốc từ tự nhiên . Luâ ̣t
Đầu tư là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và đồng thời là văn bản mới
nhất nên viê ̣c áp dụng văn bản này là đúng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t . Tuy
nhiên, do đây không phải là loài ưu tiên bảo vê ̣và hê ̣thống pháp luâ ̣t chuyên
ngành chỉ coi đây là loài “hạn chế khai thác , sử dụng vì mục đích thương
mại” nên việc nghiêm cấm hoàn toàn đầu tư kinh doanh các cá thể có nguồn
gốc từ tự nhiên của hai loài này là chưa có căn cứ .
Thứ bảy, quy định về giấy phép vận chuyển đặc biệt còn chồng chéo.
Điều 7 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP quy định “Khi vận chuyển động vật
rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng ra ngoài địa bàn tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương phải có Giấy phép vận chuyển đặc biệt do cơ quan
kiểm lâm cấp tỉnh cấp”. Tuy nhiên, Điều 4, Thông tư 25/2011/TT-BNNPTNT
ngày 06/4/2011 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn sửa đổi, bổ sung
Điều 5 Quyết định 59/2005/QĐ-BNN ngày 20/10/2005 quy định Hạt Kiểm
lâm huyện có thẩm quyền cấp giấy phép vận chuyển đặc biệt. Do đó, các cơ
quan chức năng đã gặp lúng túng trong việc áp dụng quy định pháp luật về
cấp giấy phép vận chuyển đặc biệt. Hiện nay, Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT
48
Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản thay thế
Quyết định 59/2005/QĐ-BNN đã huỷ bỏ quy định về “Giấy phép vận chuyển
đặc biệt”. Theo đó, việc vận chuyển các loại ĐVHD (bao gồm cả loài động
vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB) sẽ không đòi hỏi có “Giấy phép vận
chuyển đặc biệt”. Trong bối cảnh Nghị định 32/2006/NĐ-CP có hiệu lực pháp
lý cao hơn, nhưng Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT mới là văn bản mới nhất
có liên quan quy định về hồ sơ lâm sản hợp pháp, do đó, các cơ quan chức
năng địa phương tiếp tục gặp lúng túng trong việc nên chăng duy trì “Giấy
phép vận chuyển đặc biệt” và cơ quan nào là cơ quan cấp loại giấy phép này.
2.1.2. Thực trạng các quy định xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ
động vật hoang dã
Thứ nhất, các quy định hiện hành có liên quan đến xử lý hình sự tội
phạm trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD còn chưa đồng bộ và do đó, dẫn đến việc
các cơ quan chức năng có cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất,
gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến nỗ lực bảo vệ các loài
ĐVHD, đặc biệt là loài nguy cấp, quý, hiếm.
Điều 190 Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 từ
quy định về “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ ĐVHD quý hiếm” thành
“Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” để phù hợp với việc ban hành Luật Đa dạng
sinh học (2008). Với việc sửa đổi nêu trên, phần nội dung hướng dẫn Điều
190 BLHS 1999 tại Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-
VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội
phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã đương
nhiên mất hiệu lực do không phù hợp với đối tượng được mô tả tại Điều 190
BLHS 2009. Theo quy định của BLHS 2009, đối tượng được bảo vệ tại Điều
190 BLHS 2009 là “động vật thuộc danh mục loài hoang dã, nguy cấp, quý,
49
hiếm được ưu tiên bảo vệ”. Tuy nhiên, do được ban hành trước thời điểm
BLHS sửa đổi, bổ sung, Thông tư 19 chỉ hướng dẫn về “các loài ĐVHD bị
cấm theo quy định của Chính phủ”.
Mặc dù phần hướng dẫn thực hiện Điều 190 BLHS tại Thông tư 19 đã
đương nhiên mất hiệu lực do đối tượng được hướng dẫn không còn tồn tại
nhưng từ khi BLHS được sửa đổi (năm 2009) các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền vẫn chưa ban hành một văn bản hướng dẫn về “Danh mục loài nguy
cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ” nên trên thực tế các cơ quan thực thi pháp
luật vẫn áp dụng Thông tư 19 để xử lý tội phạm có liên quan về ĐVHD theo
Điều 190 BLHS 2009. Theo đó, vi phạm đối với các loài ĐVHD thuộc nhóm
IB Nghị định 32/2006/NĐ-CP và các loài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn
bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) sẽ bị xử lý
hình sự. Trong bối cảnh đó, Nghị định 157/2013/NĐ-CP được ban hành trong
đó quy định vi phạm đối với loài nhóm IB (loài thuộc Phụ lục I của CITES
được đối xử tương tự) chỉ được xem xét xử lý hình sự nếu giá trị tang vật trên
100 triệu đồng và có hiệu lực từ ngày 25/12/2013. Quy định của Nghị định
157/2013/NĐ-CP là trái với cấu thành tại Điều 190 của BLHS 2009 bởi theo
quy định tại Điều 190, vi phạm đối với loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ phải bị xem xét xử lý hình sự bất kể số lượng, khối lượng, giá
trị tang vật.
Mâu thuẫn pháp luật đã trở thành đỉnh điểm khi Nghị định số 160/2013/NĐ-
CP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014) đã ban hành Danh mục loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ hoàn toàn phù hợp với đối tượng được đề cập đến
trong Điều 190 BLHS 2009. Điều đó có nghĩa là vi phạm đối với loài thuộc
Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ mô tả trong Điều 190
BLHS 2009 sẽ đương nhiên bị xử lý hình sự bất kể số lượng, khối lượng, giá
trị tang vật. Tuy nhiên, hầu hết các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
50
vệ trong Nghị định này đều đồng thời thuộc Danh mục loài đ ộng vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Trong
khi đó, Nghị định 157/2013/NĐ-CP không có quy định loại trừ các loài này ra
khỏi phạm vi xử phạt vi phạm hành chính nên một số cơ quan thực thi pháp
luật tại địa phương vẫn áp dụng Nghị định 157/2013/NĐ-CP để xử phạt hành
chính đối với các vi phạm liên quan đến loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ nếu giá trị tang vật không vượt quá 100 triệu đồng.
Đến ngày 27/04/2015, Chính phủ mới ban hành Nghị định 40/2015/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 157/2013/NĐ-CP, theo đó khẳng
định các loài ĐVHD thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 157/2013/NĐ-CP
nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa quy định tại Điều 190 BLHS và Nghị định
157/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc thực thi Nghị định 157/2013/NĐ-CP trong
vòng hơn một năm rưỡi đã làm giảm tính răn đe và gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đa dạng sinh học của đất nước khi có hàng trăm vụ việc vi phạm
đáng ra phải xử lý hình sự lại chỉ chịu mức xử phạt vi phạm hành chính.
Mặt khác, cho dù quy định hướng dẫn Điều 190 Bộ luật Hình sự không
đương nhiên hết hiệu lực khi Bộ luật Hình sự 2009 được ban hành, hướng dẫn
này cũng đã có nhiều hạn chế trong việc xử lý các vi phạm liên quan đến sản
phẩm, bộ phận của loài ĐVHD. Vướng mắc lớn nhất trong viê ̣c áp dụng
Thông tư 19 là bắt buộc phải định giá (thành tiền) tang vâ ̣t là sả n phẩm, bộ
phâ ̣n của ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm để xác đi ̣nh khung hình pha ̣t . Tang vâ ̣t
có giá trị dưới 50 triê ̣u đồng sẽ áp dụng khung hình pha ̣t theo Khoản 1 Điều
190 và vi phạm đối với tang vật có giá trị trên 50 triê ̣u đồng sẽ áp dụng Khoản
2 Điều 190. Vâ ̣n dụng quy đi ̣nh này vào thực tiễn , trong bất cứ vụbắt giữ sản
phẩm, bộphâ ̣n của ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm nào, các cơ quan chức năng
cũng yêu cầu định giá trị để lấy căn cứ truy tố bị can . Tuy nhiên, vì các loài
51
ĐVHD được bảo vê ̣trong quy đi ̣nh của BLHS hoă ̣c được liê ̣t kê ta ̣i Phụlục I
CITES hoă ̣c các Nghi ̣đi ̣nh của của Chính phủ đều là mă ̣t hàng cấm kinh
doanh thương ma ̣i và do đó , không có cơ sở giá trên thi ̣t rường để xác đi ̣nh
giá trị nên không thể tiến hành truy tố , xét xử đối tượng vi phạm . Trong khi
đó, ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB và loài thuộc Phụ lục I CITES là
“hàng cấm” nhưng ranh giới giữa áp dụng quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 hay Điều
153,154,155 để xử lý vi phạm cũng không rõ ràng . Mă ̣c dù Thông tư 19 quy
đi ̣nh “Trường hợp các loại sản phẩm này đã được chế biến, chế tác thành
hàng hoá hoặc nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất... thì xử lý theo quy
định của pháp luật đối với hàng cấm” nhưng các sản phẩm , bô ̣phâ ̣n ĐVHD
thường được sử dụng luôn như một loa ̣i hàng hóa hoặc nguyên liệu nên sự
phân biê ̣t này là không đủ rõ ràng để tách ba ̣ch viê ̣c áp dụng quy đi ̣nh ta ̣i Điều
190 và Điều 153,154,155.
Thứ hai, quy định tội phạm về ĐVHD tại Điều 190 BLHS chưa hoàn thiện
Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 hiê ̣n nay, chỉ hành vi “săn, bắt, giết, vâ ̣n
chuyển, buôn bán” loài nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣hoă ̣c “vâ ̣n
chuyển, buôn bán sản phẩm, bộ phận” của loài này mới bị xử lý hình sự.
Điều này dẫn đến vướng mắc nếu đối tượng vi pha ̣m bi ̣phát hiê ̣n khi
đang “tàng trữ” các cá thể nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣đã chết
hoă ̣c đang “nấu cao” cá thể/bô ̣phâ ̣n loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vê ̣. Theo đúng quy đi ̣nh ta ̣i BLHS , không thể xử lý các hành vi vi
phạm này b ằng chế tài hình s ự bởi chúng không đư ợc ghi nhận trong cấu
thành tội phạm ta ̣i Điều 190.
Nếu xem xét trên tí nh hợp lý có thể thấy hoa ̣t động “săn bắt , giết, vâ ̣n
chuyển, buôn bán” tất yếu luôn đi kèm với hành vi “tàng trữ” . Trong khi đó ,
hành vi “nuôi nhốt” (đã được ghi nhâ ̣n trong BLHS ) tuy cũng mang ý nghĩa
“tàng trữ” nhưng sẽ chỉ phù hợp với cá thể ĐVHD còn sống mà không phải là
căn cứ để xử lý các vụviê ̣c liên quan đến cá thể ĐVHD đã chết.
52
Viê ̣c không quy đi ̣nh hành vi “tàng trữ” trong BLHS dẫn đến trường
hợp khi phát hiê ̣n nghi pha ̣m “tàng trữ” ĐVH D nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vê ̣, để bắt và xử lý hình sự được đối tượng vi phạm theo đúng quy
đi ̣nh pháp luâ ̣t, các cơ quan chức năng địa phương thường phải mất nhiều thời
gian theo dõi và đảm bảo bắt đối tượng t rên đường “vâ ̣n chuyển” hoă ̣c “buôn
bán” mà không thể tiến hành bắt giữ khi hàng hóa đang được lưu giữ tại kho.
Trong khi đó , hành vi “nấu cao”, “chế biến” ĐVHD cũng gây nguy h ại
lớn cho xã hội, tác động trực tiếp đến các loài ĐVHD tương tự như những
hành vi khác được mô tả trong cấu thành Điều 190 của BLHS. Tuy không
được ghi nhâ ̣n trong Điều 190 – đồng nghĩa với viê ̣c không thể xử lý hình sự
đối với vi pha ̣m này nhưng xét thấy tính chất nguy ha ̣i của hành vi , nhiều đi ̣a
phương đã có các quan điểm rất khác biê ̣t khi xử lý vi pha ̣m này.
Vụ việc tham khảo
Trong vụ việc “nấu cao hổ” với tang vật là da và thịt hổ đang được
nấu trong nồi do ba đối tượng Đào Công Đức, Trương Đình Vinh, Nguyễn
Văn Kiểm thực hiện ngày 17/05/2013 tại Hà Tĩnh, cơ quan chức năng huyện
Nghi Xuân chỉ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng vi phạm
vì cho rằng Điều 190 BLHS hiện hành không có xử lý đối vớ i hà nh vi “nấu
cao”. Trong khi đó, trong vụ việc “nấu cao hổ” tại Thanh Xuân, Hà Nội do
bị cáo Nguyễn Thị Thanh tiến hành ngày 09/01/2012, Tòa án nhân dân quận
Thanh Xuân đã tuyên 12 tháng tù giam đối với bị cáo Thanh theo Điều 190
BLHS hiện hà nh. Như vậy, cùng hành vi “nấu cao hổ” nhưng đã có hai cách
thức xử lý khác biệt của các cơ quan chức năng địa phương. Trong đó, cách
thứ c xử lý đầu tiên tuy đúng theo quy đi ̣nh của phá p luật nhưng không có ý
nghĩa răn đe phòng ngừa tội phạm. Cách thức thứ hai tuy hợp lý nhưng hành
vi lại không phù hợp vớ i mô tả tại Điều 190 BLHS hiện hà nh.
Hồ sơ số 3928/ENV và 4969/ENV– Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo
dục Thiên nhiên (ENV)
53
Kinh doanh các loài ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣
hiê ̣n là ngành nghề cấm đầu tư , kinh doanh theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t Đ ầu tư
2014 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014). Tuy nhiên, nếu như hành vi “sản xuất”
“tàng trữ” trái phép hàng cấm được ghi nhâ ̣n trong BLHS thì hành vi “chế
biến” (tương tự với “sản xuất” ), “tàng trữ” ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm được
ưu tiên bảo vê ̣– cũng là một loại hàng cấm “đầu tư, kinh doanh” la ̣i không thể
xử lý bằng chế tài hình sự theo Điều 190. Điều này cũng thể hiê ̣n sự không
tương thích trong các quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 với các quy đi ̣nh khác của BLHS.
Một vấn đề khác ta ̣i Điều 190 BLHS hiê ̣n hành là Điều luâ ̣t này chỉ xử
lý đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣.
Điều này có nghĩa là vi pha ̣m đối với các loài ĐVHD thông thường dù
số lượng lớn đến mức độ nào cũng không thể xử lý hình sự . Theo Báo cáo số
683/BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 của Cục Kiểm lâm về Công tác quản lý
bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2015,
tuy số lượng các vụ vi phạm liên quan đến ĐVHD có chiều hướng giảm
nhưng số lượng ĐVHD bị tịch thu trong các vụ việc nói trên lại không đi theo
chiều hướng này. Mặt khác, số lượng tang vật ĐVHD bị tịch thu chủ yếu là
các loài ĐVHD thông thường. Điều này cho thấy tội phạm về ĐVHD hiện
nay đang có xu hướng mở rộng quy mô và các loài ĐVHD thông thường hiê ̣n
đang là đối tượng thường xuyên bi ̣buôn bán . Viê ̣c không thể sử dụng chế tài
hình sự để can thiệp và răn đe các đối tượng vi phạm đối với các loài ĐVHD
thông thường s ẽ sớm khiến các l oài này b ị đẩy vào nhóm loài nguy cấp cần
được “ưu tiên bảo vệ”. Và lúc đó, các biện pháp bảo vệ đối với nhóm loài này
sẽ là quá muộn. Quy đi ̣nh hiê ̣n hành ta ̣i Điều 190 chỉ giới hạn trong việc điều
chỉnh những quan hệ xã hội hiện đang tồn tại mà không hề dự liệu và có biện
pháp ngăn chặn nguy cơ tội phạm có thể xảy ra trong tương lai.
54
Vụ việc tham khảo
Năm 2012, đối tượng Lê Anh Chiến (sinh ngày 15/11/1971, thường trú
tại Hương Sơn, Hà Tĩnh) bị truy tố vì hành vi vận chuyển trái phép 209 kg
ngà voi – loài động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ và bị xử lý hình sự với mức án ba năm tù giam cho hưởng án treo. Tuy
nhiên, ngày 10/01/2013 (trong thờ i gian hưởng á n treo) đối tượng nà y tiếp tục
vận chuyển trái phép cá c loà i ĐVHD . Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ lần vi
phạm trước , trong lần phá t hiện thứ hai , đối tượng đang trên đườ ng vận
chuyển 148 cá thể ĐVHD gồm 80 cá thể kỳ đà hoa và 68 cá thể rùa răng
nặng 709,5 kg trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đây là cá c loà i hiện chưa “được ưu
tiên bảo vệ” nên đối tượng chỉ b ị xử phạt hành chính 150.000.000 đồng (một
trăm năm mươi triệu đồng).
Hồ sơ số 3715/ENV và 4660/ENV – Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục
Thiên nhiên (ENV)
Cũng tương tự như các loài ĐVHD thông thường , vi pha ̣m đối với các
loài ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm thuô ̣c Phụlục I của Công ước về buôn bán
quốc tế các loài đô ̣ng, thực vâ ̣t hoang dã nguy cấp (CITES) không có phân bố
trên lãnh thổ Viê ̣t N am nhưng thường xuyên bi ̣vâ ̣n chuyển , mua bán như
sừ ng tê giác hay ngà voi châu Phi sẽ không thể áp dụng quy đi ̣nh ta ̣i Điều luâ ̣t
“chuyên ngành” này để xử lý . Điều này có nghĩa là vi pha ̣m đối với ngà voi
châu Á sẽ được xử lý hình sự theo Điều 190 trong khi vi pha ̣m đối với ngà voi
châu Phi sẽ không thể áp dụng quy đi ̣nh này . Trong trường hợp đó , chỉ có thể
xem xét các loài ĐVHD không có nguồn gốc từ Viê ̣t Nam này là “hàng cấm”
để xử lý hình sự theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 153, 154, 155.
Tuy nhiên, việc xác định cụ thể loại ĐVHD nào được xem là “hàng
cấm” và việc áp dụng các quy định tại Điều 153, 154, 155 BLHS để xử lý tội
phạm về ĐVHD vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập.
55
Trước đây Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh ban hành kèm
theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ chỉ quy định
“chung chung” về ĐVHD được xem là hàng cấm gồm: “ĐVHD (bao gồm cả
vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến) thuộc danh mục điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định” và “động vật quý hiếm
thuộc danh mục cấm khai thác và sử dụng” theo quy định của Công ước
CITES và Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Nếu hiểu theo mô tả của Danh mục
này, tất cả các loài ĐVHD nguy cấp thuộc Phụ lục công ước CITES (Phụ lục
I, II, III) và thuộc Danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP (Nhóm IB) đều được
coi là “hàng cấm” và do đó, hành vi vận chuyển, buôn bán trái phép qua biên
giới hoặc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán các loại ĐVHD này ở mức
độ nhất định (gây hậu quả nghiêm trọng, hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị
xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm) thì sẽ bị xem xét xử lý hình sự
theo Điều 153, Điều 154, Điều 155 BLHS.
Việc xác định đối tượng ĐVHD bị tác động bởi tội phạm theo Điều 153,
154, 155 BLHS rất rộng nhưng lại chưa hợp lý (mức độ nguy cấp của các loài
thuộc 03 Phụ lục của CITES và cơ chế quản lý đối với chúng là rất khác biệt do
đó không thể coi tất cả các loài thuộc CITES là “hàng cấm”) và không có
hướng dẫn rõ ràng dẫn đến việc trên thực tế, các cơ quan thực thi pháp luật gần
như không áp dụng quy định này để xử lý các tội phạm về ĐVHD do quan ngại
có thể hiểu không đúng hoặc áp dụng sai Điều luật. Hiê ̣n nay, với viê ̣c ban
hành Luật Đầu tư 2014 và quy định cụ thể các loài ĐVHD cấm đầu tư kinh
doanh bao gồm các loài thuô ̣c Phụlục I của Công ước CITES và các loài
Nhóm I – Nhóm các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm cấm khai thác, sử dụng
vì mục đích đầu tư kinh doanh đã phần nào giải quyết vấn đề này.
Tuy nhiên, một vấn đề khác là c ấu thành tội phạm theo Điều 153, 154,
155 thuộc loại cấu thành tội phạm hỗn hợp, tức là phải xác định được hậu quả
56
của vi phạm hoặc đối tượng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý
hình sự (chưa được xóa án tích) cho một số hành vi tương tự như hành vi
phạm tội mà còn vi phạm thì mới đáp ứng cấu thành tội phạm theo Điều 153,
154, 155 BLHS. Theo đó, Điều 153, 154, 155 BLHS chỉ áp dụng cho vi phạm
đối với “hàng cấm” nếu „hàng cấm” này “có số lượng lớn” trở lên. Cho đến
thời điểm hiện nay, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể khối lượng, số lượng
ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm như thế nào thì được coi là “hàng cấm” “có số
lượng lớn”, “có số lượng rất lớn” hoặc “hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn”.
Chính vì vậy, một số lượng lớn các vụán buôn lâ ̣u sừ ng tê giác , ngà voi từ
nước ngoài về Viê ̣t Nam hiê ̣n đang không thể xử lý , làm giảm ý nghĩa răn đe ,
phòng ngừa đối với loại tội phạm này.
Vụ việc tham khảo
Chỉ tính riêng từ năm 2010 đến nay, cơ sở dữ liệu của ENV đã ghi
nhận 76 vụ vi phạm liên quan đến vận chuyển /buôn lậu ngà voi và sừ ng tê
giác được phát hiện . Tuy nhiên, ENV chỉ ghi nhận 2 vụ vi phạm về ngà voi
được đưa ra xét xử . Trong cá c vụ việc đã được đưa ra xét xử, các cơ quan
chứ c năng đều tiến hà nh đi ̣nh giá số ngà voi bi ̣ti ̣ch thu để á p dụng khung
hình phạt cho đối tượng vi phạm (tuy rằng đây là mặt hà ng cấm kinh doanh
nên không có giá thi ̣trườ ng để đối chiếu). Hình phạt tối đa được á p dụng đối
vớ i một đối tượng vi phạm là 18 tháng tù treo.
Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV).
Lưu ý : Số liệu trên được thống kê trên cơ sở dữ liệu quốc gia của ENV
thiết lập từ năm 2005. Không loại trừ trườ ng hợp một số vụ việc đã được xét
xử nhưng không được ENV ghi nhận.
Năm 2014, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã chủ trì soạn thảo Thông
tư hướng dẫn về khối lượng ngà voi, sừng tê giác như thế nào thì được coi là
“lớn”, “rất lớn” hoặc “đặc biệt lớn”. Thông tư hướng dẫn này ra đời sẽ tạo
57
điều kiện rất thuận lợi cho việc áp dụng các quy định tại Điều 153, 154, 155
để xử lý đối với các vi phạm liên quan đến sừng tê giác và ngà voi. Tuy
nhiên, quy định này lại không hề có ý nghĩa đối với các loài ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm được coi là “hàng cấm” khác.
Thứ ba, quy định “Tội huỷ hoạ nguồn lợi thuỷ sản” tại Điều 188 vẫn
còn nhiều thiếu sót.
Điều 188 BLHS quy định về “Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản” theo
đó, một trong các hành vi được xem là cấu thành tội phạm theo quy định của
Điều này là hành vi “Khai thác các loài thủy sản quý hiếm bị cấm theo quy
định của Chính phủ” nếu hành vi này “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được
xoá án tích mà còn vi phạm”. Tính tới thời điểm hiện tại, Bộ Nông Nghiệp và
Phát triển Nông thôn đã ban hành Danh mục các loài thủy sinh quý, hiếm có
nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ (đính kèm Quyết định 82/2008/QĐ-
BNN, sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 01/2011/TT-BNNPTNT) và Danh mục
các loài thủy sinh bị cấm khai thác (Phụ lục Thông tư 62/2008/TT-BNN).
Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ trong đó có liệt kê một số loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm
như rùa biển. Chính việc có nhiều danh mục các loài “thủy sản quý hiếm bị
cấm theo quy định của Chính phủ” trong khi không có hướng dẫn nào về việc
thực thi Điều 188 BLHS dẫn đến việc các cơ quan thực thi pháp luật gần như
không thể áp dụng quy định này để xử lý đối với các vi phạm liên quan đến
loài “thủy sản quý hiếm bị cấm” như trong cấu thành Điều 188 BLHS bởi lo
sợ “áp dụng nhầm” Danh mục, không đúng dụng ý của nhà làm luật.
Mặt khác, một trong các trường hợp để hành vi “khai thác thủy sản quý
hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ” được truy cứu trách nhiệm hình sự
theo Điều 188 BLHS là hành vi đó phải “gây hậu quả nghiêm trọng”. Tuy
58
nhiên, tương tự như đối với “danh mục loài thủy sản quý hiếm bị cấm”, hiện
nay vẫn chưa có hướng dẫn của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc
khai thác với hậu quả “bao nhiêu” và “như thế nào” thì được coi là khai thác
“gây hậu quả nghiêm trọng” hay “hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng” để áp dụng các khung hình phạt của Điều 188 BLHS. Chính vì
thế, tuy có quy định tại Điều 188 BLHS nhưng hầu hết các vi phạm liên quan
đến các loài thủy sản nguy cấp, quý hiếm đều chỉ bị xử phạt vi phạm hành
chính theo Nghị định 103/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày
12/09/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản
(sau đây gọi tắt là “Nghị định 103”).
Bên cạnh đó, theo quy định hiện hành của BLHS, chỉ hành vi “khai
thác” các loài thủy sản quý, hiếm bị cấm gây hậu quả nghiêm trọng mới được
xem xét xử lý hình sự. Các hành vi giết, mua bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu
giữ, nuôi, nhốt, chế biến không thể xem xét xử lý hình sự do không đáp ứng
được các hành vi cấu thành tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 188 BLHS.
Xét đến mục đích cao nhất của Điều 188 BLHS là nhằm bảo vệ và duy
trì số lượng quần thể các loài thủy sản quý, hiếm bị cấm, trong khi đó các
hành vi giết, mua bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, nuôi, nhốt, chế biến cũng
dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng số lượng quần thể của các loài này.
Thêm vào đó, xem xét trên tính hợp lý, hoạt động khai thác “gây hậu
quả nghiêm trọng” sẽ luôn đi kèm với các hành động giết, mua bán, vận
chuyển, tàng trữ/lưu giữ, nuôi, nhốt, chế biến bởi bản thân hoạt động này
không mang lại nhiều lợi ích cho các đối tượng vi phạm. Nói cách khác, hoạt
động khai thác “gây hậu quả nghiêm trọng” chỉ là hoạt động kéo theo do nhu
cầu mua, nuôi nhốt và được trợ giúp bởi hoạt động vận chuyển, tàng trữ/lưu
giữ, giết, chế biến. Các hành vi này có liên hệ một cách chặt chẽ, gây ảnh
hưởng trực tiếp đến số lượng quần thể các loài thủy sinh nguy cấp, quý hiếm
59
bị cấm và cần được quản lý một cách đồng bộ. Tuy nhiên, xử phạt hành chính
là không đủ sức răn đe so với tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi
khai thác, giết, mua, bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, nuôi, nhốt, chế biến
các loài thủy sản quý hiếm bị cấm. Tương tự như các loài ĐVHD khác, các
loài thủy sinh hoang dã quý hiếm trong nước sẽ sớm tuyệt chủng nếu như
pháp luật không có những sửa đổi kịp thời nhằm đưa ra những chế tài nghiêm
khắc, đủ tính răn đe cho các đối tượng vi phạm. Vì vậy, việc không quy định
xử lý hình sự hành vi giết, mua, bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, chế biến,
nuôi, nhốt các loại thủy sản quý hiếm bị cấm nếu gây hậu quả trọng hoặc đã
bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự mà còn tiếp tục vi phạm là
không tương thích với các quy định pháp luật khác của BLHS liên quan đến
“hàng cấm” và “loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Thứ năm, quy định về xử lý vi phạm hành chính trùng lặp, mâu thuẫn
Hiện tại các quy định về xử lý vi phạm hành chính về quản lý bảo tồn
ĐVHD được quy định rải rác trong rất nhiều văn bản pháp luật nên nguy cơ trùng
lặp, mâu thuẫn giữa chúng với các quy định là điều khó tránh khỏi. Cụ thể là:
- Xử lý vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ loài thực vật rừng, động
vật rừng nguy cấp, quý hiếm được thực hiện theo quy định của Nghị định số
157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
- Xử lý vi phạm các quy định về bảo vệ các loài thuỷ sản được thực
hiện theo Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 của Chính phủ
quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản;
- Xử lý vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh ĐVHD
nguy cấp, quý, hiếm là “hàng cấm” được thực hiện theo Nghị định số
185/2013/NĐ- CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả,
hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
60
- Xử lý vi phạm về lưu giữ sản phẩm, bộ phận loài ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được thực hiện theo quy định tại Nghị định
179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường (Điều 42, 43, 44).
Ví dụ cụ thể về sự mâu thuẫn, chồng chéo là hành vi buôn bán loài
ĐVHD thuỷ sinh thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ như rùa biển có thể xử lý theo quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị định 103/2013/NĐ-CP. Thậm chí, do
rùa biển cũng đồng thời thuộc danh mục đối tượng thuỷ sản cấm khai thác và
Danh mục thuỷ sinh nguy cấp quý, hiếm cần được bảo vệ, bảo tồn và phát
triển nên có đến hai quy định xử phạt vi phạm hành chính trong Nghị định
103/2013/NĐ-CP có thể được đồng thời áp dụng cho hành vi “buôn bán” rùa
biển là Điều 7 và Điều 28.
Thứ sáu, căn cứ xử lý vi phạm hành chính bất hợp lý
Hiện nay, giá trị bằng tiền là căn cứ xử lý hầu hết các vi phạm hành
chính trong lĩnh vực môi trường nói chung và bảo vệ ĐVHD nói riêng. Cụ
thể, hầu hết các mức hình phạt để xử lý vi phạm đối với ĐVHD nguy cấp, quý
hiếm đều căn cứ vào giá trị quy ra tiền của động vật, bộ phận hoặc dẫn xuất
của chúng (Nghị định 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, Nghị định 179/2013/NĐ- CP ngày
14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường).
Điều này là bất hợp lý khi quy định của Nghị định 157/2013/NĐ-CP được áp
dụng với các vi phạm liên quan đến loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
nhóm IB và Nghị định 179/2013/NĐ-CP được áp dụng đối với loài nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Bởi lẽ theo quy định của Nghị định
32/2006/NĐ-CP, các loài động vật rừng nhóm IB là loài “nghiêm cấm khai
thác, sử dụng vì mục đích thương mại” và theo quy định của Luật Đầu tư 2014
61
(có hiệu lực từ ngày 01/07/2015), kinh doanh loài thuộc Phụ lục 3 của Luật
(bao gồm tất cả các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) là ngành
nghề cấm đầu tư, kinh doanh. Điều này có nghĩa là các loài này là “hàng cấm”
và không có giá chính thống trên thị trường. Việc pháp luật cấm buôn bán các
loài này nhưng lại xử lý vi phạm liên quan đến “hàng cấm” đó dựa trên giá trị
xác định từ các giao dịch trái pháp luật là phi logic. Nếu pháp luật thừa nhận
giá trị giao dịch đó là có tồn tại thì cũng đồng nghĩa thừa nhận có một thị
trường chứa đựng giao dịch phi pháp đang tồn tại song song (thực tế được gọi
là thị trường chợ đen). Vấn đề đặt ra là nếu cơ quan thẩm quyền không xác
định được giá trị quy ra tiền của tang vật vi phạm là động vật, bộ phận hay
dẫn xuất của chúng thì đồng nghĩa với việc không xử lý được hành vi vi
phạm. Thực tế đã chứng minh hầu hết các vụ việc không xử lý được vì không
xác định được giá trị làm căn cứ vi phạm. Vì vậy, việc thay đổi căn cứ để xem
xét xử lý vi phạm là cần thiết. Trong đó, các yếu tố về trọng lượng (gam,
kilogam), yếu tố bộ, họ, loài hay số lượng cá thể động vật là tang vật, hoàn
toàn có thể áp dụng để xử lý hiệu quả để tránh được tình trạng trên. Ví dụ,
quy định về áp dụng kilogam tại Điều 7 Nghị định 103/2013/NĐ-CP có thể là
một giải pháp phù hợp với các loài nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác,
kinh doanh vì mục đích thương mại.
Thứ bảy, có sự chênh lệnh trong mức xử phạt vi phạm hành chính giữa
loài động vật rừng và ĐVHD thuỷ sinh.
Tuy cùng là các loài nguy cấp, quý, hiếm cần bảo vệ nhưng loài thủy
sinh có mức phạt thấp hơn nhiều so với loài động vật rừng. Ví dụ, mức tối đa
của khung hình phạt theo Nghị định 103 là 100 triệu đồng đối với cá nhân
(200 triệu đồng đối với tổ chức) chỉ bằng 1/5 mức tối đa của khung hình phạt
theo Nghị định 157 là 500 triệu đồng đối với cá nhân (1 tỷ đồng đối với tổ
chức). Điều này cũng phản ánh mức độ quan tâm tới bảo vệ các ĐVHD thủy
sinh còn chưa được tương xứng.
62
2.1.3. Thực trạng các quy định về xử lý tang vật và cứu hộ động vật
hoang dã
Thứ nhất, hiện nay, Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 của
Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn hướng dẫn xử lý tang vật là động
vật rừng sau khi xử lý tịch thu (sau đây gọi tắt là “Thông tư 90”) đang được
coi là “cẩm nang” được các cơ quan chức năng địa phương (chủ yếu là lực
lượng Kiểm lâm) áp dụng để tiến hành xử lý tang vật ĐVHD. Tuy nhiên, văn
bản này hiện đang bộc lộ nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu của
công tác bảo tồn các loài ĐVHD, cụ thể:
- Văn bản này hiện chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh trong việc xử lý
tang vật đối với các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB và IIB
ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính
phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (sau đây gọi
tắt là “Nghị định 32”), các loài động vật rừng thuộc Phụ lục I và II Công ước
về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES) và
các loài động vật rừng thông thường “sau khi xử lý tịch thu của các vụ xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý
lâm sản”. Điều này đồng nghĩa với việc Thông tư 90 không thể áp dụng đối
với tang vật loài động vật rừng tịch thu trong các vụ án hình sự và với tất cả
các loài ĐVHD thuỷ sinh.
- Thông tư 90 hiện đang cho phép “bán” và “bào chế thuốc” từ tang vật
ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Theo quy định tại Điểm c, d Khoản 1 và Điểm c,
d Khoản 2 Chương I, Phần B, Thông tư 90, tang vật là các loài ĐVHD thuộc
Nhóm IB – IIB còn sống sau khi tịch thu được phép bán cho các vườn thú; đơn
vị biểu diễn nghệ thuật; cơ sở gây nuôi sinh sản động vật; “tổ chức, cá nhân
kinh doanh động vật rừng hợp pháp” theo quy định của pháp luật. Sản phẩm,
bộ phận hoặc cá thể loài thuộc Nhóm IB - IIB đã chết được phép chuyển giao
63
cho cơ quan khoa học, cơ sở đào tạo, giáo dục môi trường, bảo tàng chuyên
ngành, cơ quan quản lý chuyên ngành, trung tâm cứu hộ loài đó để làm tiêu bản
hoặc chuyển giao cơ sở y tế để nghiên cứu, bào chế thuốc. Phương pháp này
được áp dụng tương tự với các loài thuộc Phụ lục I và Phụ lục II CITES.
Nhóm IB theo quy định tại Nghị định 32 là nhóm ĐVHD bị nghiêm cấm
khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP
ngày 12/06/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm
kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện thì ĐVHD (bao
gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến) thuộc Phụ lục
Công ước CITTES và danh mục cấm khai thác và sử dụng theo quy định của
Nghị định 32/2006/NĐ-CP đều được liệt kê là hàng cấm. Theo Điều 5, Nghị
định 59/2006/NĐ-CP, việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng
hóa, dịch vụ cấm kinh doanh phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép. Như
vậy, việc cho phép “bán” tang vật là các loài thuộc nhóm IB và Phụ lục Công
ước CITES là không phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước.
Ngoài ra, việc cho phép “bán” tang vật là các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm
sẽ vô tình biến các cơ quan chức năng trở thành một mắt xích để “hợp pháp
hóa” tang vật ĐVHD bất hợp pháp và đưa các tang vật này trở lại lưu thông
trên thị trường với tư cách là “sản phẩm hợp pháp”. Điều đó có nghĩa là
“chuỗi buôn bán trái phép ĐVHD” sẽ không cắt đứt sau khi đối tượng bị xử
phạt. Do đó, trong trường hợp này, việc tịch thu tang vật ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm không có ý nghĩa răn đe mà chỉ làm giảm lợi nhuận của các đối
tượng vi phạm khi phải “mua lại” ĐVHD bị tịch thu từ cơ quan chức năng.
Quan trọng hơn cả , hình thức xử lý này không phù hợp với mục tiêu bảo tồn
mà vô tình kích thích nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm ĐVHD và do đó tiếp tục
thúc đẩy hoạt động buôn bán, tiêu thụ trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm.
Tương tự như vậy, việc cho phép chuyển giao ĐVHD nhóm IB và
64
nhóm IIB đã chết, sản phẩm, bộ phận của chúng cho các cơ sở y tế để bào chế
thuốc, sau đó đưa sản phẩm vào sử dụng hay bán ra thị trường cũng góp phần
kích thích nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ĐVHD và vô hình trung thúc đẩy hoạt
động khai thác trái phép các loài ĐVHD.
+ Thông tư 90 quy định việc áp dụng các biện pháp xử lý tang vật theo
thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới, trong đó chỉ xem xét áp dụng biện pháp liệt
kê sau khi không thể xử lý được bằng biện pháp liệt kê trước. Tuy nhiên, trên
thực tế, các cơ quan chức năng không tiến hành tuần tự các bước như theo
quy định trong văn bản pháp luật. Thay vào đó, khi tịch thu các loài ĐVHD bị
thương, yếu, các cơ quan chức năng thường chọn phương án bán đấu giá
(biện pháp liệt kê sau) thay vì liên hệ với các cơ sở bảo tồn, cơ sở nghiên cứu
khoa học hay bảo tàng nhằm mục đích trưng bày, giáo dục môi trường (biện
pháp liệt kê trước).
Thứ hai, hướng dẫn về xử lý tang vật chưa đầy đủ đối với tất cả các
nhóm loài ĐVHD. Bên cạnh việc các vấn đề của văn bản nguồn, hiện chưa có
một văn bản thống nhất hướng dẫn xử lý tang vật chung đối với ĐVHD theo
phân nhóm (động vật rừng, ĐVHD thủy sinh), cấp độ bảo vệ (ĐVHD nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; ĐVHD quý hiếm khác; ĐVHD thông
thường) và theo chủng loại (cá thể, trứng, ấu trùng, bộ phận cơ thể, dịch thể
hoặc các sản phẩm, dẫn xuất). Ngoài ra, tác giả cũng ghi nhận nhiều vấn đề về
xử lý tang vật ĐVHD trong các văn bản khác. Ví dụ, về hình thức xử lý tang
vật là các loài thủy sinh trong vụ việc vi phạm hành chính, Nghị định
103/2013/NĐ-CP chỉ có quy định về việc tái thả những cá thể sống về môi
trường tự nhiên, tịch thu số thủy sinh quý hiếm và sản phẩm của chúng trong
trường hợp vi phạm quy định về quản lý các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng. Tuy nhiên, hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về hình thức xử
lý sau tịch thu tang vật nào được ban hành. Xét Nghị định 160/2013/NĐ-CP, các
65
quy phạm về xử lý tang vật chỉ áp dụng trong trường hợp ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ khi phát hiện còn sống, yếu, bị thương hoặc
chết trong quá trình cứu hộ mà không có quy định về việc xử lý đối với tang
vật là các cá thể đã chết (khi được phát hiện) hoặc trứng, ấu trùng, bộ phận cơ
thể, dịch thể hoặc các sản phẩm, dẫn xuất của các loài này.
Đồng thời, trong các văn bản về xử lý tang vật là ĐVHD hiện còn
chồng lấn. Mặc dù sau khi Nghị định 160 có hiệu lực, hơn 49 loài ĐVHD
đang được quản lý bởi Nghị định 32/2006/NĐ-CP đã chuyển sang chế độ bảo
vệ tại Nghị định 160/2013/NĐ-CP, các văn bản về xử lý tang vật lại không
kịp thời cập nhật thay đổi này. Việc này dẫn đến thực trạng nhiều loài ĐVHD
vẫn chưa được hưởng đầy đủ chế độ bảo vệ theo Nghị định 160. Lấy hai loài
tê tê Việt Nam làm điển hình, trong khi “tê tê vàng” và “tê tê Java” đã được
“nâng cấp” bảo vệ từ loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB thành loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160,
các cơ quan chức năng vẫn áp dụng quy định tại Thông tư 90 (đối với nhóm
IIB) để xử lý “phát mại” tê tê ngay khi phát hiện. Điều này đã gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến công tác bảo tồn loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm này.
Thứ ba, thờ i điểm xử lý tang v ật trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự còn chưa hợp lý . Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 76 Bô ̣luâ ̣t Tố tụng Hình sự 2003
(BLTTHS), việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án
được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án
được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định
ở giai đoạn xét xử.Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được
ghi vào biên bản. Điều này có nghĩa là trong các vụán bình thườ ng diễn ra
theo đúng quy trình (không bi ̣đình chỉ ) thì cơ quan duy nhất có thẩm quyền
xử lý vâ ̣t chứ ng là Hội đồng xét xử và vâ ̣t chứ ng được xử lý sau khi có quyết
đi ̣nh/bản án cuối cùng của Hội đồng xét xử. Trong thời gian điều tra, xử lý vụ
66
án, các cơ quan có liên quan có trách nhiệm bảo quản vật chứng nguyên v ẹn,
không để mất mát, lẫn lộn và hư hỏng (Điều 75 BLTTHS). Tuy nhiên, xét tính
chất tang vâ ̣t ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣, đối với các cá
thể còn sống cần ngay lâ ̣p tứ c được cứ u hô ̣và sau đó theo quy trình có thể
tiến hành tái thả về tự nhiên hoặc các cá thể chết cần được tiêu hủy. Viê ̣c phải
tiếp tục lưu giữ cá thể ĐVHD còn sống đã đủ điều kiê ̣n tái thả về tự nhiên
hoă ̣c cá thể ĐVHD đã chết đến khi có quyết đi ̣nh /bản án cuối cùng của Hội
đồng xét xử (có thể kéo dài đến vài tháng hoặc vài năm) là không cần thiết và
gây lãng phí. Đây hiê ̣n cũng là một vấ n đề cần thiết có hướng dẫn của các cơ
quan chứ c năng có thẩm quyền.
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở
Việt Nam
2.2.1. Thực tiễn thi hành các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã
Thứ nhất, các cơ quan chức năng địa phương không nắm rõ thứ tự ưu
tiên áp dụng pháp luật khi có mâu thuẫn giữa các văn bản có liên quan.
Khi Nghị định 160/2013/NĐ-CP (do Bộ Tài nguyên và Môi trường đề
xuất) được ban hành, đây được coi là Danh mục các loài ĐVHD được bảo vệ
cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vị trí này trước đây thuộc về
Nghị định 32/2006/NĐ-CP (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề
xuất). Theo quy định tại Khoản 3, Điều 19 của Nghị định 160/2013/NĐ-CP:
Chế độ quản lý đối với loài thuộc danh mục động vật rừng,
thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số
32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật,
động vật rừng nguy cấp quý hiếm được xác định là loài ưu tiên bảo
vệ được áp dụng theo quy định tại Nghị định này [10].
Như vậy, bất kỳ sự khác biệt nào về chế độ quản lý đối với loài ưu tiên
bảo vệ quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP với Nghị định 160/2013/NĐ-
67
CP thì sẽ áp dụng Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, trên thực tế, các
cơ quan chức năng địa phương vẫn không hề áp dụng quy định tại Nghị định
160/2013/NĐ-CP mà luôn coi danh mục loài được bảo vệ cao nhất theo quy
định của pháp luật Việt Nam là Danh mục động vật rừng của Nghị định
32/2006/NĐ-CP.
Vụ việc tham khảo
1. Vụ việc vận chuyển 16 bộ xương hoàn chỉnh của Vooc chà vá chân
đen đã được phát hiện ngày 12/11/2013 tại tỉnh Cao Bằng: vụ việc sau đó
được đưa lên Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử. Tuy nhiên, áp dụng
quy định tại Nghị định 157, vụ việc cuối cùng được chuyển về cho cơ quan
kiểm lâm sở tại xử lý hành chính với mức phạt 10 triệu đồng.
2.Vụ việc giết gấu tại Phú Thọ ngày 11/09/2013: Năm 2011 hạt Kiểm
lâm Thanh Sơn đã kiểm tra ông Tăng Đức (Thôn Đồng Dài, Xã Cự Thắng,
Huyện Thanh Sơn, Tỉnh Phú Thọ) và xử phạt gia đình 10 triệu đồng vì hành
vi nuôi nhốt gấu chưa được đăng ký, gắn chíp. Cơ quan này tiếp tục cho
phép gia đình nuôi cá thể gấu trên. Ngày10/09/2013 cá thể gấu ngựa (đồng
thời thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và nhóm
IB) của gia đình Ông Tăng Đức cắn đứt 2 cánh tay một cháu nhỏ là người
thân trong gia đình. Do đó, đến ngày 11/09/2013, ông Tăng Đức đã có giết
chết cá thể gấu đang được nuôi nhốt tại gia đình và sau đó chuyển giao xác
gấu cho một người tên Kiên ở Lâm Thao.Tháng 04/2014 ông Tăng Đức bị
xử phạt 40 triệu VND cho hành vi giết và bán gấu.
3. Vụ việc ông Nguyễn Văn Sơn vận chuyển 26 cá thể rắn hổ mang
chúa, trọng lượng 79kg tên khoa học Ophiophagus hannah là loài ĐVHD
đồng thời thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và
nhóm IB được phát hiện ngày 29/3/2014 tại Quảng Trị với mục đích chở ra
Móng Cái để tiêu thụ: áp dụng quy định của Nghị định 157, Chủ tịch UBND
68
tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đức Cường đã ký quyết định xử phạt vi phạm hành
chính đối với ông Sơn với mức phạt 150 triệu đồng cho hành vi vận chuyển
động vật rừng trái pháp luật.
Hồ sơ số 4981/ENV, 5395/ENV và 6474/ENV – Cơ sở dữ liệu Trung
tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV)
Thứ hai, việc quản lý các cơ sở gây nuôi ĐVHD còn lỏng lẻo.
Một trong những vấn đề lớn nhất của việc quản lý gây nuôi ĐVHD tại
Việt Nam là chưa có quy định cụ thể về việc nghiêm cấm gây nuôi thương mại
các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Chính vì vậy, bất chấp khả năng kiểm
soát hoạt động phi pháp tại các trang trại gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm,
trên thực tế, hiê ̣n nay một số loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP (nhóm loài được bảo vệ cao
nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam) như rắn hổ mang chúa
(Ophiophagus Hannah), rùa hộp trán vàng miền bắc (Cuora galbinifrons), tê tê
Java (Manis javanica), tê tê vàng (Manis pentadactyla) hay một số loài thuộc
Phụ lục I của CITES như rùa đầu to (Platysternum megacephalum) – là các loài
cực kì nguy cấp, quý hiếm và gần như không có khả năng sinh sản trong môi
trường có kiểm soát vẫn được Chi cục Kiểm lâm một số tỉnh như Hà Nội, Tây
Ninh cho phép gây nuôi vì mục đích thương mại tại các trang trại. Chính các
quy định pháp luật có phần “rộng mở” này đã tạo cơ hội rất lớn cho việc mở
trang trại nhằm “hợp pháp hóa” ĐVHD từ tự nhiên và sau đó lưu thông hợp
pháp trên thị trường, gây nhiều khó khăn cho các cơ quan thực thi trong việc
kiểm soát hoạt động kinh doanh, buôn bán ĐVHD trái phép.
Một số khó khăn khác trong thực thi pháp luật về gây nuôi ĐVHD có
thể kể đến bao gồm thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về điều kiện chuồng trại,
y tế, chăm sóc đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cũng như tiêu chí
xác định cơ sở nuôi, trại nuôi phù hợp với đặc tính sinh trưởng, phát triển của
69
loài nuôi. Bên cạnh đó, mẫu giấy phép đăng ký về ĐVHD nguy cấp, quý,
hiếm còn một số bất cập như chưa có hướng dẫn ghi thông tin đối với các trại
nuôi nhiều loài và hướng dẫn về cập nhật diễn biến hàng năm trên giấy phép
đăng ký. Không những vậy, thiếu thốn về nhân lực, vật lực của cơ quan chức
năng địa phương trong khi số lượng các cơ sở gây nuôi với quy mô nhỏ chiếm
số lượng lớn khiến các cơ quan chức năng khó khăn không thể kiểm soát tình
trạng gây nuôi ĐVHD tại các trang trại.
Liên quan đến vấn đề quản lý, thực thi pháp luật bảo vệ ĐVHD tại các
trang trại, bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên -
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai trong một cuộc phỏng vấn đã cho biết:
Phần lớn thịt rừng được bày bán ở các nhà hàng là thú
nuôi, tuy nhiên có một số nơi người ta cũng trà trộn thú rừng tự
nhiên… Việc quản lý săn bắt, mua bán, vận chuyển động vật
hoang dã đã khó, nhưng việc quản lý các sản phẩm từ động vật
hoang dã còn khó hơn [34].
Theo thông tin tiết lộ từ một đối tượng chuyên mua bán ĐVHD, một
trong những cách thức đối tượng thường sử dụng để “tuồn” ĐVHD vào các
trang trại đó là đăng ký tăng đàn với Kiểm lâm. Các trang trại sẽ “mượn tạm”
số ĐVHD từ các trang trại khác, sau đó đề nghị Kiểm lâm cấp giấy chứng nhận
tăng đàn (do sinh sản). Ngay sau đó, trang trại đã sở hữu một số lượng ĐVHD
(trên giấy tờ) rất lớn. Việc “nhập lậu” thêm các cá thể khác cho đúng với số
liệu của Kiểm lâm trở nên hết sức dễ dàng. Trong khi đó, cho đến thời điểm
hiện tại, vẫn chưa có cơ chế quản lý phù hợp để ngăn chặn tình trạng này.
Một ví dụ khác cũng diễn ra khá phổ biến hiến nay là nuôi nhốt ĐVHD
theo kiểu “tiền trảm hậu tấu”. Theo quy trình nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng
ĐVHD quy định tại Nghị định 82/2006/NĐ-CP (bổ sung bởi Nghị định
98/2011/NĐ-CP), chủ trang trại nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng ĐVHD phải
70
chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng tiêu chuẩn và thực hiện thủ tục đăng
ký trước khi bắt đầu nuôi các loài ĐVHD. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hầu hết các
trại nuôi hợp pháp đều được đăng ký theo quá trình ngược lại: nhập ĐVHD
bất hợp pháp và nuôi tại các trang trại, đến khi bị phát hiện thì bị xử phạt (nếu
có) và được đăng ký trại nuôi. Một vụ việc gần đây là trang trại nhân nuôi rùa
Trung bộ của ông Phạm Ngọc Hoàng tại địa chỉ 146 Nguyễn Trãi, thị trấn Hai
Riêng, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Theo hồ sơ của cơ quan kiểm lâm sở
tại, cơ sở chăn nuôi của ông Phạm Ngọc Hoàng đã tiến hành nuôi rùa Trung
Bộ từ những năm 1999, sau đó tiếp tục mua bán, nuôi nhốt rùa Trung Bộ mà
không được cấp giấy phép kể từ thời điểm đó đến nay (Giấy chứng nhận đăng
ký trại nuôi sinh sản/sinh trưởng ĐVHD thông thường số 01/2007 do Hạt
Kiểm lâm Sông Hinh cấp ngày 06/06/2007 và bị thu hồi tháng 4/2011 là Giấy
phép được cấp trái quy định pháp luật và không có hiệu lực pháp lý). Thế
nhưng vừa qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Yên đã đề
nghị cấp Giấy chứng nhận trại nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng cho trại nuôi
của ông Hoàng [38].
Sự thiếu kiểm soát tình trạng gây nuôi vì mục đích thương mại đã gây
ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trong quá khứ, gây ảnh hưởng lớn đến danh
tiếng của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Tiêu biểu là nạn nuôi nhốt gấu
nhằm trích hút mật và nuôi nhốt hổ trước đây. Gấu ngựa và gấu chó đều là
những loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ từ rất sớm, mọi
hành vi săn bắt các loài này đều bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, do buông lỏng
trong khâu quản lý ĐVHD, trong những năm 1990, tình trạng săn bắt gấu
hoang dã và nuôi nhốt nhằm trích hút mật đã xảy ra tại hầu hết các địa
phương trên cả nước. Theo thống kê năm 2005, có khoảng 4500 cá thể gấu
hoang dã bị nuôi nhốt tại Việt Nam [46]. Trước phản ứng và áp lực gay gắt từ
dư luận quốc tế, từ năm 2005, Nhà nước buộc phải thắt chặt quản lý nuôi nhốt
71
gấu. Với số lượng gấu nuôi nhốt quá lớn trong khi không có cơ sở vật chất kĩ
thuật để tịch thu toàn bộ 4500 cá thể, Nhà nước đã tiến hành gắn chip và đăng
ký quản lý cho các cá thể gấu được nuôi nhốt nhằm ngăn chặn nạn tiếp tục
săn bắt gấu từ tự nhiên, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi trích hút mật gấu
đối với cá thể gấu đang được nuôi. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay,
tình trạng lén lút trích hút mật gấu trái phép vẫn tiếp tục diễn ra tại các trang
trại, vấn nạn du lịch trích hút mật gấu tại điểm du lịch nổi tiếng Hạ Long chỉ
kết thúc vào giữa năm 2014. Cũng tương tự như gấu là tình trạng nuôi nhốt
hổ. Qua điều tra từ năm 2005 đến nay, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên
(ENV) đưa ra đánh giá các cơ quan chức năng địa phương không thể kiểm
soát được số lượng cá thể hổ tại tất cả các trạng hổ đăng ký hiện nay. Số
lượng cá thể hổ trên giấy tờ không khớp so với số lượng thực tế, số lượng cá
thể hổ chết hay được sinh ra tại các trang trại. Sau gần 10 năm, số lượng hổ
tại các trang trại hầu như không có thay đổi. Có thể xét đến ví dụ của trang
trại nuôi hổ Thanh Cảnh ở tỉnh Bình Dương. Theo hồ sơ lưu tại cơ quan chức
năng địa phương cho thấy, tính đến năm 2007 không có con hổ con nào được
sinh ra kể từ năm 1999 sau khi có 5 con hổ con ra đời. Tuy nhiên, trong
chuyến thăm quan trại hổ này vào tháng 5/2007, cán bộ điều tra của ENV phát
hiện một con hổ con nhốt trong chuồng đặt liền kề với khu vực nhà hàng [33].
Điều này chứng tỏ hổ con vẫn được sinh ra tại trang trại nhưng đã không
được báo cáo với cơ quan chức năng địa phương và câu hỏi đặt ra là đã có
bao nhiêu con hổ được sinh ra mà không được báo cáo và chúng đã đi về đâu?
Ngay trong điều tra gần nhất của ENV tại một trang trại hổ, cán bộ Trung tâm
này cũng phát hiện một cá thể hổ con bất hợp pháp tại trang trại. Đồng thời,
qua phỏng vấn, cán bộ thú y của trang trại cho biết họ thường xuyên buôn bán
hổ tại trang trại [20].
72
Thứ ba, việc tạm giữ phương tiện vận chuyển khó áp dụng trên thực tế
Việc tạm giữ phương tiện vận chuyển lâm sản trái pháp luật gặp khó khăn
trong trường hợp chủ phương tiện đã thế chấp phương tiện, giấy tờ xe tại ngân
hàng. Một số vụ đáng phải áp dụng hình thức tịch thu xe ô tô nhưng do chủ sở
hữu không có lỗi nên các cán bộ chuyên ngành cho rằng không thể áp dụng.
Thực tế giao dịch giữa chủ phương tiện với người vi phạm và quan hệ giữa
người vi phạm và cơ quan chức năng là hai quan hệ pháp luật độc lập. Điều này
khiến nhiều đối tượng vi phạm lợi dụng, thường xuyên câu kết, thuê, mượn xe
của các đối tượng khác để sử dụng trong việc vận chuyển ĐVHD trái phép.
2.2.2. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý vi phạm pháp luật về
động vật hoang dã
Thứ nhất, việc áp dụng các quy định xử phạt đối với các vụ vi phạm
pháp luật còn không hợp lý. Từ các khó khăn đã được phân tích ở mục 2.1.2
bao gồm không xác định được giá trị tang vật, không có quy định nào để áp
dụng xử lý hành vi vi phạm trong thực tế, các quy định của pháp luật chồng
chéo. Các khó khăn này đã dẫn đến việc xử lý không thống nhất, thậm chí là
trái luật các vi phạm về ĐVHD. Một ví dụ điển hình là vụ việc đã gây tranh
cãi trong hệ thống ngành toà án thành phố Hà Nội - vụ việc đối tượng Bàn
Văn Phúc bị bắt tại Hà Nội ngày 20/11/2013 khi đang trên đường vận chuyển
2 cá thể rắn hổ mang chúa – loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ đi tiêu thụ. Tại Bản án sơ thẩm số 65 ngày 10/4/2014, Toà án nhân
dân quận Cầu Giấy đã xử Phúc tội Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật
thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với mức phạt
30 tháng tù. Tuy nhiên, sau khi bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, Toà án
nhân dân Hà Nội đã ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và yêu cầu định giá 2
cá thể rắn hổ mang chúa (trên 100 triệu đồng mới xử lý hình sự) áp dụng
Nghị định 157/2013/NĐ-CP trong khi Nghị định này đã trái với quy định của
73
BLHS. Hiện vụ án đang được Viện Kiểm sát nhân dân Cầu Giấy kháng nghị
giám đốc thẩm và được tiến hành xét xử sơ thẩm trở lại, trong đó, Toà án
nhân dân quận Cầu Giấy đã tuyên y án sơ thẩm đối với vụ việc.
Thứ hai, việc áp dụng quy định xử lý hình sự các vi phạm về ĐVHD tại
Điều 190 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) chưa đủ sức răn đe
Theo kết quả đánh giá 93 vụ việc vi phạm về ĐVHD bị truy cứu trách
nhiệm hình sự trong khoảng thời gian từ tháng 1/2010 tới tháng 12/2013 của
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), có 30 vụ việc có hình thức xử lý là tù
giam đối với (các) đối tượng tham gia vào vụ việc. Các đối tượng trong 63 vụ
việc còn lại bị xử lý tù giam nhưng cho hưởng án treo (sau đây gọi tắt là tù
treo), cải tạo không giam giữ hoặc xử lý hình sự với hình thức phạt tiền [21].
Cũng theo đó, với tổng số 160 đối tượng bị đưa ra xét xử, 52 đối tượng
bị xử phạt tù giam và 108 đối tượng chỉ bị xử phạt tù cho hưởng treo, cải tạo
không giam giữ hoặc phạt tiền. Mức phạt tù giam trung bình là 24 tháng,
trong đó mức phạt thấp nhất là 5 tháng tù, mức cao nhất là 7 năm tù dành cho
một đối tượng tái phạm lần thứ 2 [21].
Biểu đồ 2.1: Số lượng vụ việc và đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về
ĐVHD trong giai đoạn 2010-2013
(Nguồn: Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (2014), Báo cáo “Phân
tích kết quả xử lý hình sự tội phạm về động vật hoang dã).
74
Trong khi đó, cũng theo thống kê của Cục Kiểm lâm và Vụ Thống kê
– Tổng hợp Toà án nhân dân tối cao, số lượng vi phạm liên quan đến loài
ĐVHD quý hiếm rất lớn nhưng số lượng các vụ án bị truy tố, xét xử còn ít.
Trong số các vụ việc đó, hình phạt tù cũng thường ít được áp dụng. Có thể
thấy cụ thể qua bảng sau:
Bảng 2.1: Số lượng vụ vi phạm liên quan đến động vật rừng trong giai
đoạn 2006-2014
Năm Số vụ ĐV hoang dã ĐV quý hiếm
2006 1528 Không thống kê Không thống kê
2007 1242 7701 1007
2008 1406 7848 587
2009 1285 12.930 724
2010 876 12.936 508
2011 1019 18.088 895
2012 942 19.132 1.081
2013 579 13.319 600
2014 432 8.051 598
(Nguồn: http://kiemlam.org.vn).
Bảng 2.2: Số lượng bị cáo và vụ việc liên quan đến ĐVHD bị đưa ra xét xử
trong giai đoạn 2009-2013
Năm Số vụ xét xử và
bị cáo
Hình phạt từ
03 năm trở
xuống
Hình phạt từ
3 – 7 năm
Án treo và các
hình phạt khác
2009 63 vụ/65 bị cáo 35 bị cáo 3 bị cáo 57 bị cáo
2010 65 vụ/ 92 bị cáo 37 bị cáo 4 bị cáo 51 bị cáo
2011 57 vụ/91 bị cáo 22 bị cáo 01 bị cáo 68 bị cáo
2012 68 vụ/106 bị cáo 21 bị cáo 7 bị cáo 78 bị cáo
2013 74 vụ/136 bị cáo 44 bị cáo 4 bị cáo 88 bị cáo
(Nguồn: Phạm Minh Tuyên (2014), Tham luận “Tội vi phạm các quy định
về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ -
Thực tiễn xét xử ở Việt Nam và một số kiến nghị)
75
Các con số thống kê nêu trên cho thấy việc áp dụng các quy định của
pháp luật trong xét xử các tội phạm về ĐVHD còn chưa nghiêm khắc, chưa
đem lại sự răn đe mạnh mẽ đối với các đối tượng vi phạm. Kết quả xét xử các
vụ việc cũng cho thấy những hạn chế trong việc điều tra, xử lý các đối tượng
đầu sỏ đứng sau các đường dây buôn bán và vận chuyển ĐVHD. Điểm đáng
chú ý là toàn b ộ các đối tượng bị xét xử trong 93 vụ án nói trên đ ều không
phải là các đối tượng đầu sỏ trong các đường dây buôn bán ĐVHD lớn.
37%
40%
19%
4%
Vai trò của các đối tượng bị xử lý (52)
Săn bắt (19)
Buôn bán (21)
Vận chuyển (10)
Vai trò khác (2)
Biểu đồ 2.2: Vai trò các đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về ĐVHD
(Nguồn: Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (2014), Báo cáo
“Phân tích kết quả xử lý hình sự tội phạm về động vật hoang dã).
Như vậy, vì nhiều nguyên nhân khác nhau , các cơ quan chứ c năng đã
chưa tâ ̣p trung điều tra và xử lý những đối tượng cầm đầu các đường dây
buôn lâ ̣u ĐVHD lớn.
2.2.3. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý tang vật và cứu hộ động
vật hoang dã
Thứ nhất, việc xử lý tang vật hiện còn gặp nhiều khó khăn. Đó là khó
khăn trong việc giám định xác định loài, nhận dạng đối với sản phẩm từ
ĐVHD. Công tác bảo quản tang vật là bộ phận của ĐVHD bị tịch thu chưa
đảm bảo, thiếu phương tiện để đảm bảo tang vật không bị hư hỏng. Các cơ
76
quan chức năng không có trang thiết bị để chăm sóc sức khỏe, cơ sở vật chất
thức ăn nước uống phù hợp, môi trường sống phù hợp, điều kiện kiểm dịch,
thú y kinh nghiệm chăm sóc, duy trì sức khỏe, sự sống cho các ĐVHD còn
sống là tang vật tịch thu nên các động vật bị yếu đi, bị bệnh, tăng nguy cơ
nhiễm bệnh hoặc ốm chết trong thời gian chờ quyết định xử lý. Hiện nay cũng
không có quy trình kỹ thuật hướng dẫn xử lý, cứu hộ và bảo quản, đặc biệt
khó khăn về địa bàn ở vùng sâu, vùng xa và thiếu hệ thống chuyên ngành về
cứu hộ, tạm nhốt ĐVHD tại các địa phương trong quá trình xử lý vụ việc. Các
trung tâm cứu hộ lại hạn chế về số lượng. Không những vậy, thủ tục chuyển
giao ĐVHD phức tạp cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng ĐVHD bị
chết trong quá trình chờ chuyển giao. Điển hình là vụ việc xảy ra vào tháng
3/2015, cơ quan cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Lâm Đồng đã kiểm tra và
phát hiện 8 cá thể cu li bị nuôi nhốt trái phép. Tuy nhiên, phải sau hơn 1 tháng
kể từ ngày bị phát hiện các cá thể này mới được chuyển giao về Trung tâm
cứu hộ linh trưởng Đảo Tiên – Vườn Quốc gia Cát Tiên. Thời gian dài chờ
cứu hộ đã dẫn đến việc một cá thể cu li chết trước khi được chuyển giao.
Ngoài ra, việc xác định nơi cưu trú của ĐVHD để cứu hộ và tái thả đồi hỏi
các phương pháp kỹ thuật, công nghệ phức tạp, tốn kém nên trong nhiều
trường hợp tái thả, phương pháp này không được áp dụng và do đó làm giảm
khả năng sống sót của ĐVHD sau khi chúng được thả về tự nhiên.
Thứ hai, tình trạng xử lý tang vật trái quy định pháp luật còn xảy ra tại
nhiều địa phương. Ví dụ, mặc dù đã được nâng cấp thành loài ĐVHD nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (không được phép bán đấu giá tang vật
theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP) nhưng tang vật tê tê vàng và tê tê Java (còn
sống) vẫn thường xuyên được các cơ quan chức năng địa phương bán đấu giá
do áp dụng quy định tại Thông tư 90/2008/TT-BNN đối với loài “động vật
rừng nguy cấp, quý, hiếm” nhóm IIB (Nghị định 32/2006/NĐ-CP). Việc ngày
77
02/02/2015, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh bán đấu giá “ngay trong đêm
toàn bộ 42 cá thể tê tê Java sau khi nhận chuyển giao từ Cục cảnh sát môi
trường – Bộ Công An đã gây phẫn nộ trong dư luận và được đưa tin trên hơn
110 trang báo trong nước. Bên cạnh tình trạng “bán đấu giá” ĐVHD trái pháp
luật như trên, trong mọi trường hợp khi pháp luật quy định được phép bán đấu
giá ĐVHD (tuy không phải là biện pháp được ưu tiên áp dụng), các cơ quan
chức năng liền ngay lập tức bán đấu giá tang vật. Cụ thể, theo quy định tại
Mục B Thông tư 90/2008/TT-BNN, nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý
tang vật là thực hiện theo thứ tự từ trước đến sau, chỉ thực hiện biện pháp sau
khi không thể xử lý được bằng biện pháp trước. Đối với tang vật là loài động
vật rừng nhóm IIB còn sống, các biện pháp được liệt kê theo thứ tự như sau:
(i) Thả lại nơi cư trú tự nhiên; (ii) Trong trường hợp động vật rừng bị thương,
ốm, yếu cần cứu hộ thì chuyển giao cho Trung tâm cứu hộ động vật; (iii)
Chuyển giao cho các cơ sở nghiên cứu khoa học (bao gồm cả cơ sở nghiên
cứu nhân giống), giáo dục môi trường; (iv) Bán cho các vườn thú; đơn vị biểu
diễn nghệ thuật; cơ sở gây nuôi sinh sản động vật; tổ chức, cá nhân kinh
doanh động vật rừng hợp pháp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thứ tự
đó không được thực hiện trong thực tế mà động vật rừng còn sống sẽ ngay lập
tức được bán. Đặc biệt là khi Nghị định 157/2013/NĐ-CP được ban hành và
có hiệu lực từ cuối tháng 12/2013 đã cho phép đối với tang vật là vật phẩm
tươi sống, động vật rừng bị yếu, bị thương không thuộc nhóm IB được ngay
lập tức bán đấu giá (Điều 6) thì tình trạng này càng trở nên phổ biến. Biện
pháp “bán đấu giá” ĐVHD sau khi tịch thu, đặc biệt đối với các loài ĐVHD
nguy cấp, quý, hiếm là một vấn đề pháp luật cần được cân nhắc kỹ lưỡng bởi
rõ ràng nó kích thích nhu cầu tiêu thụ các loài ĐVHD từ đó gia tăng nạn săn
bắt và đẩy ĐVHD vào con đường tuyệt chủng.
78
2.2.4. Nguyên nhân của hiện trạng thực thi pháp luật về động vật
hoang dã
Từ sự phân tích tại mục 2.2.1, 2.2.2 và 2.2.3 có thể thấy khả năng thực
thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD hiện nay còn khá yếu. Bên ca ̣nh khó khăn do
mâu thuẫn trong nội ta ̣i các quy pha ̣m pháp luâ ̣t v ề bảo vệ ĐVHD – nguyên
nhân chủ yếu làm giảm sút hiệu quả thực thi, tác giả còn nhận thấy có một số
nguyên nhân khác là (i) trình độ nhận thức và cập nhật văn bản quy phạm
pháp luật về bảo vệ ĐVHD củ a cơ quan chứ c năng còn thấp ; (ii) các cơ quan
chứ c năng chưa nhâ ̣n thứ c đúng tầm quan tro ̣ng của viê ̣c bảo vê ̣ĐVHD ; (iii)
cơ quan chứ c năng không nhâ ̣n được các hỗ trợcần thiết và hướng dẫn ki ̣p
thời để tháo gỡ khó khăn trong viê ̣c áp dụng pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ĐVHD ; (iv)
công tác phối hợp liên ngành trong xử lý vi phạm còn chưa hiệu quả; (v)
thiếu thốn trong cơ sở vật chất, kỹ thuật về bảo vệ ĐVHD.
Thứ nhất, trình độ nhận thức và cập nhật văn bản quy phạm pháp luậ t
về bảo vệĐVHD của cơ quan chứ c năng còn thấp
Một trong các khó khăn trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD là
viê ̣c các cơ quan chứ c năng đi ̣a phương không thường xuyên chủ động tiếp
câ ̣n, câ ̣p nhâ ̣t và hướng dẫn cụthể về cách thức áp dụng văn bản pháp luật.
Một ví dụcủa viê ̣c thiếu câ ̣p nhâ ̣t các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về
bảo vệ ĐVHD gây hậu quả nghiêm trọng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh
học là việc giải quyết mối quan hệ giữa BLHS, Nghị định 157/2013/NĐ-CP
và Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Như đã đề câ ̣p ở trên , theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều
190 BLHS, vi pha ̣m đối với loài nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣sẽ
bị ngay lập tức xem xét truy cứu trách nhiệm hì nh sự bất kể số lượng , khối
lượng, giá trị tang vật . Danh mục loài này chính là Danh mục ban hành kèm
theo Nghi đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, Nghị định 157/2013/NĐ-CP la ̣i
quy đi ̣nh vi pha ̣m đối với loài nguy cấp ,quý hiếm thu ộc nhóm IB của Ngh ị
79
định 32/2006/NĐ-CP sẽ bi ̣xử pha ̣t hành chính và chỉ có thể chuyển sang xử
lý hình sự nếu có giá trị trên 100 triê ̣u đồng . Do hầu hết các loài ĐVHD
thuô ̣c nhóm IB của Nghi ̣đi ̣nh 32/2006/NĐ-CP đều đã được liê ̣t kê trong
Danh mục loài nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣ban hành kèm theo
Nghị định 160/2013/NĐ-CP nên viê ̣c Nghi ̣đi ̣nh 157/2013/NĐ-CP không loa ̣i
trừ nhóm loài này khỏi pha ̣m vi điều chỉnh là trái với quy đi ̣nh của BLHS .
Theo quy định tại Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
2008 thì “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định
khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao
hơn”. Như vậy, nếu có sự khác biệt giữa Nghị định 157/2013/NĐ-CP và
BLHS về việc xử lý tội phạm về ĐVHD thì các cơ quan chức năng địa phương
cần áp dụng quy định trong BLHS và Nghi ̣đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP. Thế
nhưng, do không được câ ̣p nhâ ̣t về nội dung Nghi ̣đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP và ý
nghĩa của văn bản này trong viê ̣c xử lý hình sự các tội pha ̣m về ĐVHD nên
hầu hết các đi ̣a phương vẫn tiếp tục xử pha ̣t hành chính các vi pha ̣m nghiêm
trọng liên quan đến loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣cho đến khi
Nghị định 157/2013/NĐ-CP được sử a đổi bởi Nghi ̣đi ̣nh40/2015/NĐ-CP.
Thứ hai, các cơ quan chứ c năng chưa nhận thứ c đúng tầm quan trọng
của việc bảo vệ ĐVHD.
Do thường không coi vi pha ̣m về ĐVHD là các vi pha ̣m nghiêm
trọng nên trong quá trình thực thi , các cơ quan ch ức năng địa phương còn
chưa thực sự thể hiê ̣n sự quan tâm đến viê ̣c giải quyết các vi pha ̣m này . Ví
dụ, hành vi quảng cáo đ ộng vật rừng trái pháp luâ ̣t hay bày bán các bình
rượu ngâm đ ộng vật rừng là các vi phạm phổ biến , được quy đi ̣nh xử lý
bằng các biê ̣n pháp hành chính theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 15 và Điều 23 Nghị
đi ̣nh 157/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên , các vi phạm này thường xuyên không
bị xem xét xử lý .
80
Thứ ba, cơ quan chứ c năng không nhậ n được cá c hỗ trợ cần thiết và
hướ ng dẫn ki ̣p thờ i để thá o gỡ khó khăn trong việc á p dụng phá p luật về bảo
vệĐVHD
Trong bối cảnh pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ĐVHD còn chưa hoàn thiê ̣n , các
cơ quan chứ c năng đi ̣a phương la ̣i không đ ược hướng dẫn tháo gỡ những khó
khăn vướng mắc trong viê ̣c áp dụng pháp luâ ̣t .
Vụ việc tham khảo
Ngày 19/11/2015 và 19/12/2014, theo tin bá o từ ngườ i dân được
chuyển giao bởi ENV , các chiến sỹ thuộc C ục Cảnh sát Phòng chống tội
phạm về môi trường - Bộ Công An và Công an tỉnh Khá nh Hòa đã phát hi ện
cơ sở sản xuất đồ mỹ nghệtại xã Phướ c Đồng , thành phố Nha Trang đang
lưu giữ trái phép gần 7000 xác (tương đương vớ i hơn 10 tấn) rùa biển quý
hiếm. Bướ c đầu, Hoàng Tuấn Hải đứ ng ra nhận là chủ sở hữu của cơ sở nà y.
Ngày 7/8/2015, sau hơn 8 tháng vụ việc được phát hiện , Công an tỉnh
Khánh Hòa mới có thể ra quyết định khởi tố vụ việc . Sự chậm trễ trong việc
khởi tố một phần là do các cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa không biết
nên á p dụng quy đi ̣nh tại Điều 190 hay Điều 155 để xử lý hình sự đối tượng
vi phạm. Tuy nhiện vụ việc đã được khởi tố nhưng việc khởi tố , truy tố và xét
xử đối tượng vi phạ m vẫn chưa thể tiến hà nh do cá c cơ quan chứ c năng đi ̣a
phương tiếp tục tranh cãi về việc á p dụng Điều, Khoản của BLHS. Vụ việc có
thể được xử lý sớ m và nhanh gọn hơn nếu cá c Bộ , ban, ngành ở Trung ương
kịp thời hướng dẫn cơ quan chứ c năng tỉnh Khá nh Hòa để á p dụng đúng đắn
quy đi ̣nh hiện hà nh của phá p luật.
Hồ sơ số2001/ENV – Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV)
Thứ tư, công tác phối hợp liên ngành trong xử lý vi phạm còn chưa
hiệu quả. Những khó khăn gặp phải trong hoạt động phối hợp liên ngành với
các lực lượng liên quan khi tham gia quá trình xử lý các vụ vi phạm pháp luật
81
được chỉ ra phần lớn do thiếu cơ chế chia sẻ, trao đổi thông tin, không có
hướng dẫn quy trình phối hợp cụ thể và hạn chế kỹ thuật tài chính, không có
hướng dẫn quy trình phối hợp cụ thể,và hạn chế về kỹ thuật tài chính, sự
phức tạp trong chuyển giao hồ sơ và chồng chéo trong chức năng nhiệm vụ.
Ngoài các khó khăn kể trên, một số khó khăn cần xem xét khác đó là do địa
bàn hoạt động tại vùng sâu, biên giới, đồi núi nên quá trình phối hợp với các
lực lượng liên quan gặp khá nhiều hạn chế do đi lại khó khăn, trao đổi thông
tin hạn chế.
Thực tiễn cho thấy các khó khăn phát sinh trong quá trình phối hợp để
xử lý vi phạm được giải thích bởi sự phân cấp không tương đồng giữa các cơ
quan chức năng có liên quan. Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Nông
nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn , trong khi lực lượng Quân đội và Công an
trực thuộc UBND tỉnh; công tác phối hợp không thể diễn ra xuyên suốt vì
mỗi ngành, đơn vị đều có các công tác riêng của ngành; hạn chế về tài chính,
mỗi ngành đều có công việc khối lượng lớn nên việc phối hợp không thể kéo
dài; việc phối hợp thực thi pháp luật hiện nay chưa thực sự nhịp nhàng.
Thứ năm, thiếu thốn trong cơ sở vật chất, kỹ thuật về bảo vệ ĐVHD.
Một ví dụ cụ thể là các khó khăn gặp phải trong công tác cứu hộ ĐVHD
nguy cấp, quý, hiếm phần lớn là do thiếu kinh phí và thiếu hướng dẫn quy
trình kỹ thuật cụ thể. Ngoài ra việc phối hợp các bên liên quan và xác định cơ
sở cứu hộ nơi gần nhất, quy định phức tạp cũng là nguyên nhân làm cho công
tác cứu hộ gặp khó khăn. Ngoài ra, những khó khăn được liệt kê thêm là do
không có trang thiết bị cứu trợ phù hợp để bảo vệ an toàn cho ĐVHD. Thực
tế các lực lượng có liên quan đều thiếu cán bộ chuyên ngành về bảo tồn
ĐDSH, thiếu kiến thức quản lý thú y đối với ĐVHD. Đặc biệt hiện nay thiếu
hệ thống chuyên ngành về cứu hộ, tạm nhốt ĐVHD tại các địa phương trong
quá trình xử lý vụ việc.
82
Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM
3.1. Sự cần thiết phải hệ thống hoá và xây dựng khung pháp luật
thống nhất về bảo vệ động vật hoang dã
Hội nghị CoP16 đã rút ra nhận định vì lợi nhuận cao (không kém ma
túy) mà hình phạt thấp và không bị coi là tội phạm nguy hiểm ở nhiều quốc
gia, nên nhiều tổ chức tội phạm buôn lậu ma túy, buôn bán người đang
chuyển hướng hoạt động sang buôn lậu các loài hoang dã xuyên quốc gia. Tội
phạm trong lĩnh vực này đang diễn ra ngày một phổ biến với mức lợi nhuận
khổng lồ, ước tính khoảng 150 tỷ đô la Mỹ mỗi năm [24].
Trong hoàn cảnh nói trên, pháp luật về bảo vệ ĐVHD của Việt Nam lại
chưa hoàn thiện thể hiện ở các điểm sau (i) các quy phạm về bảo vệ ĐVHD
không được quy định tập trung mà nằm rải rác trong các văn bản quy phạm
pháp luật chuyên ngành; (ii) các quy định pháp luật hiện hành cũng còn nhiều
mâu thuẫn, chồng chéo và (iii) nội dung một số văn bản còn chưa phù hợp với
năng lực thực thi và hiện trạng bảo tồn các loài ĐVHD ở Việt Nam. Trong bối
cảnh đó, việc hoàn thiện khung pháp lý là hết sức cần thiết nhằm tạo tiền đề
để bảo vệ toàn diện các loài ĐVHD.
3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã
Thứ nhất, việc hoàn thiện khung chính sách, pháp luật về quản lý bảo
vệ ĐVHD cần phải chú trọng đến yếu tố nguy cấp của các loài ĐVHD. Theo
đó, đối với từng nhóm loài với mức độ ưu tiên bảo vệ khác nhau cũng cần
phải xây dựng các chế độ quản lý khác nhau. Ngoài ra, cần tuỳ thuộc vào tình
hình thực tiễn để xây dựng, điều chỉnh danh mục các loài ĐVHD như loài
nằm trong danh mục ưu tiên bảo vệ và loài nằm ngoài danh mục. Cũng theo
83
đó, tùy vào mức độ ưu tiên mà các loài nằm trong danh mục “được ưu tiên
bảo vệ” phải bị nghiêm cấm tuyệt đối việc khai thác, tiêu thụ, gây nuôi vì mục
đích thương mại. Đối với các loài nguy cấp quý hiếm những nằm ngoài danh
mục ưu tiên bảo vệ cũng phải có chế độ quản lý phù hợp, dần dần hạn chế
việc tiêu thụ hay việc gây nuôi.
Thứ hai, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD cũng
cần cân nhắc đến tính cấp bách, kịp thời phải có những quy phạm pháp luật
điều chỉnh để khắc phục những khoảng trống pháp luật, những điểm chồng
chéo bức thiết trước mắt và xem xét xây dựng một khung chiến lược lâu dài
trong vòng vài năm tới. Chính vì vậy, với những khoảng trống, điểm thiếu
yếu bất cập hiện nay có thể ban hành các văn bản hướng dẫn hoặc kịp thời sửa
đổi, bổ sung những văn bản hiện đang gây ra chồng chéo. Cần xem xét một
cách hệ thống hoá để tiến hành sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản từ Luật đến
các Nghị định, Thông tư. Trong quá trình sửa đổi các văn bản này cần tránh
tình trạng cục bộ, phân biệt giữa các bộ, ngành. Các bộ, ngành có liên quan
phải phối hợp chặt chẽ và vì một mục tiêu chung để tránh chồng chéo, mâu
thuẫn về phân công quản lý đặc biệt là giữa Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển
Nông thôn với Bộ Tài nguyên Môi trường.
Trong thời gian lâu dài, cần xem xét xây dựng luật chung về bảo vệ
ĐVHD như một giải pháp ưu việt làm cơ sở khắc phục những trùng lặp, chồng
chéo liên quan đến quản lý ĐVHD như đã nêu và là cầu nối đặt vấn đề bảo vệ
ĐVHD trong hệ thống quy phạm về bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường.
Thứ ba, việc ban hành, sửa đổi bổ sung các quy định cần đi đôi với việc
tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật để tránh tình trạng không nắm bắt
kịp thời và hiểu đúng các quy định mới được, sửa đổi, bổ sung ban hành thay
thế. Nhằm đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả thực thi, Chính phủ cần theo dõi sát
sao hoạt động bảo vệ ĐVHD và kịp thời ra các Chỉ thị, Nghị quyết cần thiết
cũng như điều phối sự phối hợp liên ngành trong bảo vệ ĐVHD.
84
3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ động
vật hoang dã
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định về quản lý bảo vệ động vật
hoang dã
Thứ nhất, cần ban hành các thông tư hướng dẫn về tổ chức, hướng dẫn
việc khảo sát, quan trắc đánh giá tình trạng các loài ĐVHD thuộc danh mục
loài được ưu tiên bảo vệ;
Thứ hai, cần điều chỉnh và thay thế Nghị định 32/2006/NĐ-CP để đáp
ứng yêu cầu quản lý các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ngoài phạm
vi loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Thứ ba, liên quan đến việc gây nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại,
pháp luật cần thể hiện rõ ràng và nhất quán quan điểm trong việc quản lý các
loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam. Theo đó:
- Nghiêm cấm hoàn toàn việc khai thác, gây nuôi, kinh doanh thương
mại đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB (chỉ cho phép gây
nuôi vì mục đích bảo tồn tại các cơ sở nghiên cứu khoa học với sự quản lý
chặt chẽ của Nhà nước).
- Cho phép khai thác vì mục đích nghiên cứu giống ban đầu, gây nuôi
và kinh doanh thương mại hạn chế đối với các sản phẩm ĐVHD nhóm IIB có
nguồn gốc gây nuôi nhân tạo (từ thế hệ F2) và thiết lập cơ chế chặt chẽ để
kiểm soát việc gây nuôi, đảm bảo việc gây nuôi thương mại các loài này
không làm ảnh hưởng đến quần thể loài trong tự nhiên.
Quan điểm này cần thiết được ghi nhận tại một trong các văn bản pháp
luật “nguồn” về bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm của Việt Nam để
tránh sự “không rõ ràng, không nhất quán” trong đường lối của Nhà nước về
bảo vệ ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm và cũng tạo điều kiện cho người dân, các
cơ quan thực thi pháp luật hiểu được quan điểm rõ ràng của Nhà nước để chấp
85
hành theo đúng chủ trương, chính sách của Nhà nước. Trong hoàn cảnh đó,
việc nghiêm cấm gây nuôi thương mại đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm
nhóm IB như phân tích ở trên là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu bảo tồn đa
dạng sinh học của đất nước. Người dân vẫn được khuyến khích và tạo điều
kiện gây nuôi các loài ĐVHD thông thường và một số loài nguy cấp, quý,
hiếm khác vì mục đích thương mại do đó, quan điểm này không hề vi phạm
các quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.
Thứ tư, cần ban hành hướng dẫn về quản lý hoạt động gây nuôi bảo
tồn các loài ĐVHD. Trong đó cần nhấn mạnh các giải pháp để nâng cao hiệu
quả quản lý, đề xuất tiêu chí xác định, đánh giá, thành lập và đóng cửa cơ sở
bảo tồn/gây nuôi ĐVHD; hướng dẫn kỹ thuật về tiêu chuẩn, điều kiện hoạt
động của cơ sở bảo tồn ĐDSH; hướng dẫn kỹ thuật đối với nuôi trồng và tái
thả lại nơi sinh sống tự nhiên đối với loài ĐVHD thuộc danh mục loài được
ưu tiên bảo vệ.
Thứ năm, xây dựng hướng dẫn kỹ thuật đối với việc vận chuyển ĐVHD
thuộc loài danh mục được ưu tiên bảo vệ. Theo đó, cần hướng dẫn cụ thể quy
định tại Khoản 6, Điều 12 Nghị định 160/2013/NĐ-CP và thay thế một phần
quy định về vận chuyển tại Thông tư 01 /2012/TT-BNNPTNT quy định hồ sơ
lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản, Thông tư 42/2012/TT-
BNNPTNT Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2012/TT-
BNNPTNT ngày 04/01/2012 Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra
nguồn gốc lâm sản;
3.3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định xử lý vi phạm pháp luật về
động vật hoang dã
Thứ nhất, cần sửa đổi kịp thời quy định tại Điều 190 BLHS.
Quy định tại Điều 190 BLHS đã được xây dựng khá khoa học, theo cấu
thành hình thức, có nghĩa là mọi hành vi (được liệt kê trong Điều 190) đối với
86
loài động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ sẽ
bị xử lý hình sự bất kể khối lượng, số lượng hay giá trị tang vật của các loài
ĐVHD này. Quy định như vậy đã phần nào đáp ứng mục tiêu răn đe, ngăn
chặn tội phạm liên quan đến các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Tuy nhiên,
quy định này cũng tồn tại một số hạn chế về mức độ, khung hình phạt, đối
tượng bị tác động của tội phạm, mô tả các hành vi vi phạm và do đó gây khó
khăn cho các cơ quan thực thi trong việc áp dụng quy định này để bảo vệ toàn
diện các loài ĐVHD.
Do đó, để tiếp tục kế thừa những điểm mạnh và nâng cao hiệu quả thực
thi Điều 190 BLHS, tác giả nhận thấy cần phải có sự sửa đổi theo hướng:
- Mở rộng đối tượng bị tác động của tội phạm theo Điều 190 BLHS gồm:
+ ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ĐVHD nguy cấp,
quý, hiếm thuộc Phụ lục I của Công ước CITES và sản phẩm, bộ phận, dẫn
xuất, trứng của loài này bất kể số lượng, khối lượng, giá trị tang vật (như quy
định hiện hành tại Điều 190 BLHS);
+ ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm khác theo quy định của Chính phủ
(không đồng thời thuộc “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ”), ĐVHD thông thường và sản phẩm, bộ phận, dẫn xuất, trứng của loài này
nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn tái phạm hoặc giá trị tang vật vi
phạm vượt quá giới hạn xử phạt vi phạm hành chính.
- Quy định rõ ràng khung hình phạt theo ba nhóm liên quan đến tang
vật vi phạm:
+ Vi phạm đối với cá thể ĐVHD (nguyên con, còn sống hay đã chết);
+ Vi phạm đối với bộ phận của ĐVHD;
+ Vi phạm đối với sản phẩm, dẫn xuất, trứng của ĐVHD.
Hành vi vi phạm đối với cả cá thể ĐVHD (còn sống hay đã chết) mang
tính chất nghiêm trọng hơn nhiều so với vi phạm liên quan đến bộ phận, sản
87
phẩm, dẫn xuất của loài ĐVHD. Do đó cần có sự phân biệt và cụ thể hóa mức
hình phạt đối với vi phạm liên quan đến từng loại đối tượng của tội phạm. Ví
dụ, đối với các vi phạm liên quan đến cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ (nguyên con, còn sống hay đã chết) hình thức xử phạt
duy nhất nên áp dụng là “phạt tù” (không được hưởng án treo) với thời hạn
phạt tù phụ thuộc số lượng cá thể ĐVHD bị vi phạm. Các vi phạm liên quan
đến cá thể loài ĐVHD khác (nguyên con, còn sống hay đã chết), hình thức xử
phạt có thể được áp dụng là “cải tạo không giam giữ” hoặc “tù có thời hạn”
(cho hưởng án treo). Trong khi đó, đối với bộ phận, sản phẩm hay dẫn xuất
của các loài ĐVHD, hình phạt này có thể là “phạt tiền”, “cải tạo không giam
giữ” hoặc “phạt tù” tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng.
Ngoài ra, với các vi phạm liên quan đến bộ phận của loài ĐVHD, cần
xem xét mức xử phạt nặng hơn, tương đương với mức hình phạt cho vi phạm
đối với cá thể ĐVHD nếu tang vật là các bộ phận của loài ĐVHD nhưng chỉ có
thể có được từ việc giết hại loài ĐVHD đó. Ví dụ, một bộ xương hổ hay voọc
hoàn chỉnh cần bị xem xét xử lý như vi phạm đối với cá thể voọc hay cá thể hổ.
- Bổ sung hành vi mua, tàng trữ/lưu giữ và chế biến ĐVHD trong quy
định tại Điều 190 BLHS để xem xét xử lý hình sự. Theo đó, giả kiến nghị các
hành vi sẽ bị xử lý hình sự theo Điều 190 BLHS sửa đổi bao gồm:
+ Hành vi săn, bắt, giết, chế biến, vận chuyển, nuôi, nhốt, tàng trữ/lưu
giữ, mua, bán ĐVHD;
+ Hành vi tàng trữ/lưu giữ, trưng bày, vận chuyển, mua, bán, chế biến
sản phẩm, bộ phận, dẫn xuất, trứng của ĐVHD.
- Tăng mức xử phạt đối với vi phạm theo Điều 190 BLHS lên 15 năm tù.
Theo quy định tại Điều 8 BLHS, tội phạm mô tả trong Điều 190 BLHS
là loại “tội phạm nghiêm trọng” - gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao
nhất của khung hình phạt là đến bảy năm tù. Điều này có nghĩa là dù hành vi
88
phạm tội gây hậu quả cực kì nghiêm trọng, thiệt hại hàng trăm cá thể ĐVHD
nguy cấp, quý, hiếm thì mức xử phạt đối với tội phạm cũng chỉ đến bảy năm
tù. Qua thực tiễn xử lý các vụ vi phạm cũng như qua lời khai của các đối
tượng vi phạm có thể thấy giá trị các loài ĐVHD bị buôn bán bất hợp pháp
thuộc loại cao nhất trong số các loại hàng hóa buôn lậu, có thể chỉ đứng sau
giá trị ma túy [25], thế nhưng nếu như các tội phạm ma túy được xem là “tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng” với mức tối đa của khung hình phạt lên đến tù
chung thân hoặc tử hình thì mức tối đa của khung hình phạt là bảy năm tù
theo Điều 190 BLHS sẽ chưa đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm.
- Phân biệt mức độ xử lý hình sự đối với hành vi gây hậu quả nghiêm
trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 190 BLHS thì dù
hành vi “gây hậu quả rất nghiêm trọng” hay “gây hậu quả đặc biệt nghiêm
trọng” đối tượng vi phạm chỉ bị xử lý hình sự theo Khoản 2 của Điều luật này.
Quy định như trên rõ ràng là không hợp lý bởi hành vi “gây hậu quả rất
nghiêm trọng” không thể gây nguy hại cho xã hội bằng hành vi “gây hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng” và do đó mức độ xử lý cho hai tính chất nguy hại khác
nhau này không thể được đặt cùng trong một khung hình phạt.
Thứ hai, làm rõ cách thức áp dụng Điều 153, 154, 155 BLHS liên quan
đến loài nguy cấp, quý, hiếm
Để tạo điều kiện áp dụng Điều 153, 154, 155 BLHS liên quan đến tội
phạm về ĐVHD, cần giải quyết một số vấn đề như sau:
- Hướng dẫn cụ thể danh sách các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là
đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 153, 154, 155 BLHS.
- Tách “hàng cấm” là ĐVHD thành một mục riêng trong từng khung
hình phạt theo Điều 153, 154, 155 BLHS và có hướng dẫn cụ thể về số
lượng/khối lượng ĐVHD cần thiết để áp dụng các khung hình phạt nói trên.
Ví dụ, cấu thành khoản 1 Điều 153 BLHS tương ứng với “hàng cấm có số
89
lượng lớn hoặc ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có khối lượng từ... đến... kg”; cấu
thành khoản 2 Điều 153 BLHS tương ứng với “hàng cấm có số lượng lớn
hoặc ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có khối lượng từ... đến... kg”.
Thứ ba, hoàn thiện Điều 188 BLHS để xử lý vi phạm đối với các loài
thuỷ sinh bị cấm theo hướng như sau:
- Cần có hướng dẫn thực thi đối với quy định tại Điều 188 BLHS đồng
thời với việc sửa đổi quy định tại Điều luật này.
- Bổ sung hành vi giết, mua, bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, chế
biến, nuôi, nhốt các loài thủy sản quý, hiếm bị cấm trong quy định tại Điều
188 BLHS để xem xét xử lý hình sự.
Thứ tư, giải quyết mối liên hệ giữa cấu thành tội phạm quy định tại
Điều 190 BLHS với các quy định tại Điều 153, 154, 155, 188 BLHS
Như đã phân tích ở trên, liên quan tới tội phạm về ĐVHD, ngoài quy
định tại Điều 190, trong BLHS hiện hành còn có quy định tại Điều 153, Điều
154, Điều 155 và Điều 188.
Cũng theo đó, đã có sự trùng lặp về đối tượng của tội phạm trong quy
định tại Điều 190 BLHS và Điều 153,154, 155, 188 BLHS vì một số loại
ĐVHD là đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 190 BLHS trùng với
Điều 153, 154, 155, 188 BLHS (ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm bị cấm).
Mặc dù Thông tư 19 đã giải thích ĐVHD được coi là “hàng cấm” để xử
lý theo Điều 153, 154, 155 BLHS nếu “các loại sản phẩm này đã được chế
biến, chế tác thành hàng hoá hoặc nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất” tuy
nhiên, ĐVHD thường được mua bán dưới dạng nguyên vẹn chưa qua chế tác,
chế biến (thịt ĐVHD, da, lông, móng, vẩy, sừng) vì vậy việc phân biệt “hàng
cấm” là ĐVHD theo Điều 153,154, 155 BLHS và loài ĐVHD, sản phẩm, bộ
phận của chúng theo Điều 190 là không rõ ràng và còn trùng lặp. Hay đối với
loài thủy sản bị cấm theo quy định của Chính phủ, nhiều loài đã đồng thời
90
cũng được ghi nhận trong “danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ” như vích, rùa da và một số loại rùa biển khác. Trong khi đó, một số
hành vi mô tả trong cấu thành Điều 153, 154, 155 BLHS (vận chuyển, buôn
bán), Điều 188 (khai thác) cũng trùng hoặc tương tự với hành vi mô tả trong
Điều 190 BLHS (lần lượt là: “vận chuyển”, “buôn bán”, “săn bắt”). Điều này
có nghĩa cùng là hành vi vi phạm đối với một đối tượng nhất định nhưng lại
có thể áp dụng các Điều luật khác nhau để xử lý. Ví dụ, hành vi vận chuyển
trái phép ngà voi (“hàng cấm” và đồng thời là “bộ phận của loài ĐVHD”) có
thể áp dụng quy định tại Điều 155 hoặc Điều 190 BLHS để xử lý với mức
hình phạt khác biệt. Hoặc là hành vi khai thác rùa biển cũng có thể áp dụng
quy định tại Điều 188 (hành vi “khai thác”) hoặc Điều 190 BLHS (hành vi
“săn bắt”) để xem xét xử lý. Sự trùng lặp nói trên đã dẫn đến khó khăn, chồng
chéo trong việc áp dụng các quy định pháp luật có liên quan về ĐVHD.
Vì vậy, cần giải quyết vấn đề nói trên trong đó ưu tiên áp dụng quy
định tại Điều 190 BLHS đối với các tội phạm về ĐVHD và khi không áp
dụng được quy định tại Điều 190 BLHS thì mới xem xét áp dụng quy định tại
Điều 153, 154, 155, 188 BLHS nếu hành vi vi phạm đáp ứng cấu thành tội
phạm theo quy định tại các Điều luật này.
Thứ năm, cần ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi Điều 190 về Tội
vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ của Bộ Luật Hình sự 2009 để thay thế quy định của
19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 8/3/2007
Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong
lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Ngoài ra, cũng cần
ban hành văn bản hướng dẫn quy chế phối hợp liên ngành trong việc phòng
chống vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD;
Thứ sáu, cần sửa đổi, bổ sung các Nghị định về xử phạt vi phạm hành
91
chính có liên quan theo hướng thay đổi căn cứ xử phạt vi phạm hành chính
dựa vào giá trị quy ra tiền của ĐVHD mà thay bằng các đơn vị định lượng
phù hợp khả thi khác như số con, số mẫu vật, trọng lượng. Đối với mỗi loài
cần tham khảo các ý kiến các nhà khoa học về mức độ nghiêm trọng và lựa
chọn đơn vị định lượng phù hợp để căn cứ làm mức xử phạt khác nhau, tránh
tình trạng như hiện nay không thể xử phạt được vi phạm vì khó khăn không
thể xác định được giá trị của tang vật.
Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi sửa đổi bổ sung các Nghị định trên,
có thể xem xét đến giải pháp ban hành Thông tư hướng dẫn cụ thể đối với
việc xác định giá trị cụ thể từng loài và sản phẩm của chúng theo danh mục
ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP và Nghị định 32/2006/NĐ-
CP trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các cơ quan chuyên
môn và những giá trị là căn cứ để xử lý các vụ việc vi phạm đã được giải
quyết trước đây nhằm cấp bách cung cấp cơ sở pháp lý để đảm bảo khả năng
thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD, tránh làm gián đoạn quá trình áp dụng
pháp luật như hiện nay.
Liên quan đến các quy định cụ thể, cần bổ sung các biện pháp xử phạt bổ
sung tại Điều 7 Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/ 2013 quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản để tăng cường tính răn
đe, nâng cao ý thức bảo vệ loài động vật thủy sinh quý, hiếm có nguy cơ tuyệt
chủng. Ngoài ra, cần tăng mức xử phạt vi phạm hành chính của Nghị định
103/2013/NĐ-CP lên 500.000.000 đồng (so với mức 100.000.000 đồng hiện
nay) để tương xứng với mức xử phạt áp dụng đối với các vi phạm về ĐDSH tại
điều 42, 43, 44 của Nghị định 179/2013/NĐ- CP và vi phạm đối với động vật
rừng theo quy định tại Điều 21, 22,23, 24 Nghị định 157/2013/NĐ-CP nhằm
đảm bảo sự quan tâm và mức độ ngang nhau giữa loài trên cạn và dưới nước,
giữa quy định về động vật rừng và động vật thủy sinh.
92
Thứ bảy, cần sửa đổi, bổ sung Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 theo
đó, cần có quy định cụ thể về mức phạt tối đa riêng cho lĩnh vực bảo vệ
ĐDSH tại Điều 24 về Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực nhằm khắc phục
tình trạng quy định mức phạt tối đa 100.000.000 đồng đối với lĩnh vực khai
thác thủy sản và hải sản trong khi mức phạt tối đa 500.000.000 đồng lại được
áp dụng đối với lâm sản như hiện nay. Ngoài ra, cần sửa đổi bổ sung Điều 43
Luật xử phạt vi phạm hành chính 2012 về thẩm quyền của các cơ quan kiểm
lâm cho phù hợp với thực tế. Ví dụ theo quy định hiện nay việc tịch thu tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền
50.000.000 đồng đối với Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội
Kiểm lâm đặc nhiệm thuộc Cục Kiểm lâm đã gây khó khăn cho việc thi hành
trên thực tế vì các phương tiện vi phạm hành chính phổ biến như hầu hết
phương tiện vận chuyển cơ giới thường có giá trị cao hơn 50.000.000 đồng.
3.3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định về xử lý tang vật, cứu hộ
động vật hoang dã
Thứ nhất, cần xây dựng mô ̣t Thông tư hư ớng dẫn chung về việc xử lý
tang vật là các loài ĐVHD trong đó bao quát các loài động vâ ̣t rừ ng , thủy
sinh; các loài ĐVHD thông thường , nguy cấ p, quý hiếm của Việt Nam và
quốc tế; tang vâ ̣t là cá thể, sản phẩm, bô ̣phâ ̣n, dẫn xuất, trứ ng của chúng; tang
vâ ̣t bi ̣ti ̣ch thu sau vi pha ̣m hành chính và hình sự. Trong Thông tư này, tác giả
cũng đề xuất loại bỏ biện pháp “bán” tang vật hoặc “bào chế thuốc” trong các
biện pháp xử lý tang vật đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm.
Thứ hai, cần ban hành Thông tư hướng dẫn kỹ thuật về cứu hộ, tái thả
lại loài được ưu tiên bảo vệ vào môi trường sống tự nhiên hoặc chuyển tới cơ
sở bảo tồn ĐDSH phù hợp. Trong đó cần xác định rõ, lập danh sách các cơ sở
cứu hộ và cung cấp địa chỉ, phổ biến thông tin liên lạc tới các bên liên quan
để kịp thời liên lạc trong trường hợp bắt giữ được tang vật vi phạm là ĐVHD.
93
Ngoài ra, cũng cần hướng dẫn tài chính cụ thể cho hoạt động liên quan đến
cứu hộ, tái thả loài ĐVHD.
3.3.4. Xây dựng đạo luật riêng về bảo vệ động vật hoang dã
Trong tình hình gia tăng tội phạm về ĐVHD như hiện nay, Việt Nam
cần có chế tài mạnh mẽ hơn nữa để chung tay với thế giới ngăn chặn hoạt
động vi phạm pháp luật nghiêm trọng này. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy các
văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam còn chưa mang
tính hệ thống và do đó chưa đáp ứng được yêu cầu này. Không chỉ gây khó
khăn trong quá trình thực thi, số lượng văn bản lớn và tình trạng các quy
phạm pháp luật nằm rải rác còn dẫn đến nguy cơ chồng chéo khi các quy
phạm pháp luật tại các văn bản khác nhau được tiến hành sửa đổi. Mặt khác,
nếu để tình trạng các quy phạm pháp luật còn rải rác trong nhiều văn bản pháp
luật, việc đảm bảo hoàn thiện khung pháp chế về bảo vệ ĐVHD sẽ tốn nhiều
thời gian và kinh phí của các cơ quan, tổ chức nhằm đối chiếu, so sánh và sửa
đổi từng văn bản khác nhau.
Thêm vào đó, trong quá trình nghiên cứu pháp luật của các quốc gia phát
triển trên thế giới, tác giả nhận thấy hầu hết các quốc gia này đều có đạo luật
thống nhất về bảo vệ ĐVHD như Endangered Wildlife Act (1973) của Mỹ, Law
of the People's Republic of China on the Protection of Wildlife (1988) của Trung
Quốc, Wildlife Protection and Hunting Law (1972) của Nhật Bản.
Học tập kinh nghiệm các quốc gia phát triển trên thế giới, đồng thời xét
tới những điểm bất cập trong số lượng lớn các văn bản quy phạm về bảo vệ
ĐVHD tại Việt Nam như phân tích ở trên, tác giả cho rằng Việt Nam cần phải
xây dựng một đạo luật chuyên biệt về bảo vệ ĐVHD với mô hình như sau:
Thứ nhất, về phạm vi áp dụng, Luật bảo vệ ĐVHD quy định về tiêu chí
xác định, quy chế quản lý các loài ĐVHD; hành vi vi phạm; hình thức xử
phạt; mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả; biện pháp xử lý tang vật đối
94
với hành vi vi phạm và thẩm quyền xử lý các vi phạm liên quan đến lĩnh vực
bảo vệ ĐVHD.
Thứ hai, về bố cục, Luật này có thể bao gồm 5 phần cơ bản trong đó:
- Phần thứ nhất: Phạm vi điều chỉnh, các điều khoản giải thích thuật
ngữ và các điều khoản khung.
- Phần thứ hai: Tiêu chí xác định và phân cấp các loài theo mức độ
nguy cấp
- Phần thứ ba: Chế độ quản lý các loài theo mức độ nguy cấp
+ Quy định quản lý hoạt động khai thác, vận chuyển, mua bán, tặng
cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu ĐVHD;
+ Quy định về quản lý hoạt động gây nuôi ĐVHD, gồm: Nuôi bảo tồn;
nuôi thương mại
+ Các hành vi bị cấm.
- Phần thứ tư: Hình thức xử phạt và hình thức xử lý tang vật;
- Phần thứ năm: Hiệu lực và Điều khoản thi hành
Thứ ba, về mặt nội dung, các vấn đề cơ bản luật này cần điều chỉnh
bao gồm:
Đối với phần thứ nhất, Luật này quy định về tiêu chí xác định, chế độ
quản lý và chế độ bảo vệ đối với tất cả các loài ĐVHD tại Việt Nam.
Đối với phần thứ hai, các loài ĐVHD ở Việt Nam được chia làm 3
nhóm theo các mức độ nguy cấp (có danh sách ban hành kèm theo Luật).
- Nhóm I: Nhóm loài nguy cấp cần đặc biệt bảo vệ.
- Nhóm II: Nhóm loài đe dọa nguy cấp nếu không có biện pháp bảo vệ.
- Nhóm III: Các loài ĐVHD thông thường (tất cả các loài ĐVHD còn lại).
Đối với phần thứ ba, chế độ quản lý các loài sẽ được quy định dựa theo
mức độ nguy cấp, trong đó cụ thể như sau:
- Hoạt động khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất,
nhập khẩu ĐVHD
95
Các loài thuộc nhóm I, nhóm II chỉ được phép khai thác, vận chuyển,
mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu không vì mục đích thương mại.
Việc khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu
phải được cấp phép trước bởi cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu
các loài ĐVHD thông thường thuộc nhóm III phải được cấp phép trước và
được thực hiện với số lượng, tại địa điểm và thời gian ghi trong giấy phép.
- Quy định quản lý hoạt động gây nuôi các loài ĐVHD
+ Hoạt động nuôi bảo tồn
Các loài ĐVHD được phép gây nuôi bảo tồn trong các trung tâm cứu
hộ, trung tâm bảo tồn, vườn thú, trung tâm nghiên cứu khoa học do Nhà nước
trực tiếp quản lý. Trong đó, các điều kiện về giấy phép, nguồn gốc hợp pháp
của động vật trong cơ sở và tính khoa học và tính bảo tồn của các phương
pháp gây nuôi nhân giống phải được đảm bảo.
Các cơ sở này không được phép buôn bán ĐVHD vì mục đích thương
mại. Tuy nhiên, ĐVHD có thể được chuyển giao giữa các trung tâm cứu hộ,
trung tâm bảo tồn, vườn thú, trung tâm nghiên cứu khoa học;
Các cơ sở này phải lập hồ sơ quản lý các cá thể ĐVHD có trong cơ sở
ghi nhận sự gia tăng, sụt giảm số lượng cá thể, chuyển đổi địa điểm của các cá
thể này.
Trong trường hợp có vi phạm xảy ra, giám đốc, chủ trung tâm chịu
trách nhiệm cá nhân.
+ Hoạt động gây nuôi thương mại
Chỉ áp dụng đối với những loài thuộc nhóm III của Luật này. Không áp
dụng đối với những loài thuộc nhóm I và nhóm II.
Nếu các loài có thể sinh sản tốt trong môi trường nuôi nhốt, sau khi đã
đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được phép gây nuôi trong
96
các trại nuôi thương mại (nuôi lấy thịt hoặc rạp xiếc) và được phép kinh
doanh thương mại tại các nhà hàng, quán ăn, khách sạn, địa điểm vui chơi…
Các cơ sở này phải lập hồ sơ quản lý các cá thể ĐVHD có trong cơ sở
và ghi nhận sự gia tăng, sụt giảm số lượng cá thể, chuyển đổi địa điểm của
các cá thể này.
Cơ quan quản lý có trách nhiệm kiểm tra định kì theo chu kỳ sinh sản
hoặc vòng đời của loài, lưu giữ, quản lý sổ sách.
- Các hành vi bị cấm
Mọi hành vi khai thác vì mục đích thương mại các loài thuộc nhóm I và
nhóm II; săn bắn, bẫy, chế biến, giết mổ, mua, bán, buôn lậu, tàng trữ, tiêu
thụ, quảng cáo và các loài/ bộ phận/ dẫn xuất của các loài thuộc nhóm III với
nguồn gốc không hợp pháp hoặc khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho,
tàng trữ, xuất, nhập khẩu các loài ĐVHD bất kể phân loại trái với các quy
định của luật này đều bị nghiêm cấm.
Đối với phần thứ tư về hình thức xử lý vi phạm và xử lý tang vật
Mọi hành vi vi phạm đối với loài thuộc nhóm I đều bị xem xét xử lý
hình sự với mức phạt tù tối đa 15 năm xác định trên số lượng tang vật. Trong
một số vi phạm đặc biệt áp dụng hình phạt tù bắt buộc. Tang vật thu được
không tiến hành bán đấu giá hay chuyển giao cho các cơ sở kinh doanh
thương mại.
Các hành vi vi phạm đối với loài thuộc nhóm II chỉ bị xem xét xử lý
hành chính. Chỉ trường hợp vi phạm với số lượng tang vật lớn hoặc đã từng
có tiền án vi phạm các tội về ĐVHD mới bị xem xét truy cứu trách nhiệm
hình sự với mức phạt tối đa 15 năm xác định trên số lượng tang vật. Tang vật
thu được không tiến hành bán đấu giá hay chuyển giao cho các cơ sở kinh
doanh thương mại.
Các vi phạm liên quan đến loài thuộc nhóm III sẽ bị xử phạt hành chính
97
dựa theo số lượng tang vật. Chỉ trong trường hợp vi phạm với số lượng tang vật
lớn hoặc đã từng có tiền án vi phạm các tội về ĐVHD mới bị xem xét truy cứu
trách nhiệm hình sự. Tang vật tịch thu có thể (nhưng không khuyến khích) tiến
hành bán đấu giá hay chuyển giao cho các cơ sở kinh doanh thương mại.
Trong trường hợp phát hiện vi phạm tại các cơ sở gây nuôi ĐVHD, tùy
theo mức độ nghiêm trọng của vi phạm, hình thức xử lý hành chính hoặc hình
sự sẽ được áp dụng. Trong một số trường hợp cần áp dụng biện pháp xử phạt
bổ sung là tước giấy phép gây nuôi bảo tồn/ nuôi thương mại các loài ĐVHD
của các cơ sở vi phạm.
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động
vật hoang dã
Việc phân nhóm các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
bảo vệ ĐVHD chỉ mang tính chất tương đối. Trên thực tế, các nhóm hành
động phải được tiến hành đồng thời và mang hiệu quả toàn diện trên các mặt
quản lý, xử lý vi phạm và xử lý tang vật.
3.4.1. Các giải pháp chung
Thứ nhất, xây dựng mạng lưới trao đổi thông tin, đầu mối thu thập,
cung cấp, trao đổi thông tin; Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên
ngành trong hoạt động kiểm soát săn bắt và buôn bán ĐVHD. Phân định chức
năng, nhiệm vụ rõ ràng giữa các ngành có liên quan đến hoạt động quản lý
bảo tồn ĐVHD là ngành tài nguyên môi trường và nông nghiệp phát triển
nông thôn. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm và cách thức phối hợp liên
ngành giữa các cơ quan thực thi gồm kiểm lâm, hải quan, quản lý thị trường,
cảnh sát môi trường, viện kiểm sát, tòa án.
Thứ hai, tiến hành hoạt động tuyên truyền sâu rộng và nâng cao nhận
thức về bảo tồn động thực vật hoang dã, phòng chống vi phạm về ĐVHD cho
cán bộ thực thi pháp luật và toàn thể cộng đồng thông qua việc thực hiện các
98
chiến dịch không tiêu thụ ĐVHD và sản phẩm của chúng. Đồng thời, phát
huy việc ủng hộ, hợp tác của người dân cộng đồng với cơ quan chức năng
trong quá trình thực thi pháp luật với các hình thức kêu gọi và khen thưởng
phù hợp. Xây dựng chính sách khuyến khích, khen thưởng đối với tổ chức cá
nhân cung cấp thông tin, khai báo các hành vi vi phạm pháp luật về loài được
ưu tiên bảo vệ;
Thứ ba, tăng cường tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực, kiến thức cho
đội ngũ cán bộ, công chức quản lý, bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý hiếm;
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế cung cấp tài chính rõ ràng, bền vững cho
các hoạt động liên quan đến việc quản lý bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý hiếm.
Nguồn tài chính này có thể được xây dựng dựa trên huy động đóng góp của
cộng đồng, từ nguồn ngân sách Nhà nước và tịch thu phương tiện, tang vật
trong các vụ việc vi phạm.
Thứ năm, xây dựng cẩm nang xác định và nhận diện các loài ĐVHD
nguy cấp, quý hiếm và các bộ phận, sản phẩm của chúng.
3.4.2. Các giải pháp cụ thể
3.4.2.1. Đối với hoạt động quản lý bảo vệ ĐVHD
Thứ nhất, tăng cường kiểm soát nguồn gốc, cứu hộ, kiểm dịch và thả lại
môi trường tự nhiên các ĐVHD nguy cấp quý hiếm thông qua việc xây dựng
và áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật và trình tự thủ tục liên quan và dựa trên
việc xem xét tham khảo các hướng dẫn kỹ thuật của IUCN và các tổ chức
quốc tế khác;
Thứ hai, xây dựng hệ thống các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật cụ thể đối
với các cơ sở gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm, được ưu tiên bảo vệ như
tiêu chuẩn chuồng trại, chăm sóc, ăn uống, thú y… bao gồm cả tiêu chuẩn xác
định cơ sở gây nuôi vì mục đích bảo tồn hay vì mục đích thương mại.
Thứ ba, tăng cường tiến hành rà soát lại việc triển khai các chương
99
trình kiểm soát ĐVHD trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
và tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, xử lý
nghiêm các hoạt động gây nuôi ĐVHD trái quy định hiện hành của pháp luật.
Thứ tư, cần nghiêm cấm các trang trại tiến hành gây nuôi các loài nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ vì mục đích thương mại và có những hình
phạt nghiêm khắc dành cho những chủ trang trại vi phạm các quy định pháp
luật về bảo vệ ĐVHD. Nhà nước cũng cần quy định cụ thể danh sách các loài
ĐVHD được phép gây nuôi vì mục đích thương mại. Các trang trại phải chịu
trách nhiệm về các tài liệu chứng minh nguồn gốc của các con giống được
gây nuôi. Bên cạnh đó, các địa phương cần phải có sự kiểm soát thận trọng
đối với sự phát triển hoạt động gây nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại.
Trong đó, các trang trại phải được kiểm tra định kỳ, lưu giữ hồ sơ cũng như
xử lý các trường hợp vi phạm. Ngoài ra, cũng cần xem xét xây dựng cơ chế
tài chính để các cơ sở hiện đang gây nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại
đóng góp cho việc bảo tồn ĐVHD.
Thứ năm, cần xây dựng các chương trình bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý
hiếm cụ thể theo từng mốc thời gian, có thể tiến hành thông qua các kế hoạch
5 năm hoặc 10 năm. Ngoài ra, cần tăng cường khảo sát, đánh giá hiện trạng,
phân bổ ĐVHD để đề xuất đưa vào hoặc loại bỏ các loài ĐVHD trong các
danh mục ĐVHD nguy cấp, quý hiếm.
3.4.2.1. Đối với hoạt động xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD
Thứ nhất, cần đặt vấn đề đấu tranh chống tội phạm về ĐVHD là một
vấn đề quan trọng của quốc gia. Từ đó, đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống
pháp luật làm cơ sở cho quá trình thực thi pháp luật về ĐVHD. Đồng thời,
các Bộ, ban, ngành Trung ương kịp thời hướng dẫn, giải quyết các vướng
mắc của cơ quan chức năng địa phương trong quá trình thực thi pháp luật
về bảo vệ ĐVHD.
100
Thứ hai, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp
luật về săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD, nguy
cấp quý hiếm thông qua việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra định kỳ,
đột xuất đối với các lực lượng thực thi pháp luật trực tiếp liên quan đến săn
bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD để tăng cường
trách nhiệm, thực thi đúng đắn pháp luật, tránh tình trạng tiêu cực, có sự tiếp
tay của cán bộ chuyên ngành trong các vụ việc vi phạm về ĐVHD. Thậm chí
trong một số trường hợp, các cán bộ thi hành pháp luật chính là những kẻ trực
tiếp vi phạm.
Thứ ba, thường xuyên tiến hành các chiến dịch truy quét tội phạm,
hành vi vi phạm pháp luật về săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất
hợp pháp ĐVHD. Đặc biệt, cần tập trung nguồn nhân lực vật lực để tiến hành
điều tra, xử lý các đường dây buôn bán ĐVHD xuyên quốc gia.
3.4.2.3. Đối với hoạt động xử lý tang vật và cứu hộ dộng vật hoang dã
Thứ nhất, cần có hướng dẫn cụ thể về cách thức xử lý tang vật là
ĐVHD còn sống và xây dựng các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về cứu
hộ ĐVHD là tang vật các vụ vi phạm. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý nhằm đáp
ứng khả năng tồn tại của các cá thể loài sau khi được thả về môi trường sống
tự nhiên. Do đó, khi tái thả phải tính đến đặc trưng của loài đó như về yêu cầu
sinh cảnh, phạm vi hoạt động trong môi trường sống tự nhiên, ví dụ như loài
voi, hổ Đông Dương...
Thứ hai, tăng cường cơ sở vật chất và tài chính cho các Trung tâm cứu
hộ ĐVHD bằng nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài
hoặc hợp tác quốc tế như mô hình Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam (Cục
Kiểm lâm đại diện Chính phủ Việt Nam đóng góp quyền sử dụng đất, tổ
chức động vật châu Á hỗ trợ nguồn vốn xây dựng cơ sở vật chất và kĩ thuật
vận hành hoạt động của Trung tâm). Thu hút có chọn lọc nguồn kinh phí của
101
các doanh nghiệp tư nhân để xúc tiến xây dựng mô hình công viên bán hoang
dã nhằm bảo tồn một số loài ĐVHD phù hợp cũng như kết hợp du lịch, giáo
dục môi trường và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần xây dựng quy
chuẩn và cơ chế giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở tư nhân để các đơn vị này
đóng góp cho công tác bảo vệ ĐVHD nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ đúng quy
định của pháp luật (về nguồn gốc hợp pháp của các loài ĐVHD và quy trình
đăng ký, quản lý).
102
KẾT LUẬN
ĐVHD là thành tố không thể thiếu của đa dạng sinh học và đóng vai trò
quan trọng trong hệ sinh thái. Sự mất đi của bất cứ loài ĐVHD nào cũng ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững và ổn định của hệ sinh thái. Chính vì vậy,
việc bảo vệ ĐVHD khỏi nguy cơ tuyệt chủng là vô cùng cần thiết. Hiện nay,
nguy cơ lớn nhất đối với ĐVHD là nạn săn bắt và tiêu thụ các loài này. Trong
khi đó, bên cạnh Trung Quốc, Việt Nam đã và đang bị quốc tế nhìn nhận là
điểm trung chuyển và tiêu thụ ĐVHD lớn trên thế giới. Nạn buôn bán, tiêu
thụ trái phép ĐVHD không những gây tác hại to lớn về sinh thái, môi trường
mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, sinh
thái, môi trường, sức khỏe, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và hình ảnh của
đất nước trong mắt bạn bè quốc tế. Trước những tác hại to lớn do nạn buôn
bán, tiêu thụ, sử dụng trái phép ĐVHD gây ra như đã phân tích ở trên thì việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam là vô cùng quan trọng. Hệ thống pháp
luật toàn diện và hợp lý sẽ là nền tảng để Nhà nước, các tổ chức, cá nhân
đóng góp vào công tác bảo vệ ĐVHD và cũng là cơ sở để nghiêm trị các hành
vi vi phạm pháp luật nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực này.
Pháp luật là tiền đề quan trọng, tuy nhiên, hiệu quả của công tác bảo vệ
ĐVHD sẽ thực sự đến từ công tác thực thi. Mỗi cán bộ thực thi pháp luật bên
cạnh việc hiểu rõ quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD còn cần tự nhận thức
được vai trò và sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD để từ đó áp dụng đúng và có
hiệu quả các quy định này để bảo vệ tốt nhất các loài ĐVHD ở Việt Nam.
Trong phạm vi luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả đã đưa đến cho Quý
Thầy, Cô và độc giả một cái nhìn tổng quan, toàn diện về hệ thống khái niệm,
sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD bằng các quy định pháp luật, tổng quan quy
định pháp luật hiện hành về bảo vệ ĐVHD. Trong luận văn, tác giả cũng đưa
103
ra các đánh giá của cá nhân về những chính sách, pháp luật hiện hành trong
lĩnh vực bảo vệ ĐVHD và phân tích những vướng mắc về thực thi pháp luật
trong hoạt động này để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và
tăng cường khả năng thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
Bản thân là một cán bộ hiện đang hoạt động trong một tổ chức chuyên
sâu về bảo tồn ĐVHD tại Việt Nam, tác giả đã dành nhiều tâm huyết nghiên
cứu đề tài pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam này. Vì vậy, tác giả hi vọng
Luận văn sẽ là một công trình nghiên cứu khoa học thực sự có ý nghĩa góp
phần vào công tác hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn.
104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1. Thái Trần Bái (2001), Giáo trình Động vật không xương sống, NXB giáo
dục, Hà Nội.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), Quyết định số
95/2008/QĐ-BNN ngày 29/09/2008 về việc ban hành Quy chế quản lý
gấu nuôi, Hà Nội.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), Thông tư số
47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 về quản lý khai thác từ tự nhiên
và nuôi động vật rừng thông thường, Hà Nội.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), Thông tư số
90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 hướng dẫn xử lý tang vật là động vật
rừng sau khi xử lý tịch thu, Hà Nội.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao (2007), Thông tư
Liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC
ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về
các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm
sản, Hà Nội.
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 về
quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Hà Nội.
7. Chính phủ (2006), Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 về
quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá
cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài
động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, Hà Nội.
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 về Quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản, Hà Nội.
105
9. Chính phủ (2013), Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy
định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản, Hà Nội.
10. Chính phủ (2013), Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về
tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, Hà Nội.
11. Chính phủ (2013), Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của
Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường, Hà Nội.
12. Cục Kiểm lâm, (2014) Báo cáo số 683 /BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 về
Công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng nhiệm vụ bảo
vệ rừng năm 2015.
13. Trần Kiên, Trần Hồng Việt (2001), Động vật học có xương sống, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
14. Liên Hiệp quốc (1973), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động,
thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES).
15. Liên Hiệp quốc (1992), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD).
16. Trương Hồng Quang (2009), Báo cáo rà soát, đánh giá văn bản quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, Viện khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
17. Quốc hội (2004), Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày
03 tháng 12 năm 2004, Hà Nội.
18. Quốc hội (2008), Luật đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng
11 năm 2008, Hà Nội.
19. Quốc hội (2009), Bộ Luật Hình Sự số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 06
năm 2009, Hà Nội.
20. Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (2010), Báo cáo tình trạng buôn bán hổ
tại Việt Nam.
106
21. Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (2014), Báo cáo “Phân tích kết quả xử lý
hình sự tội phạm về động vật hoang dã” công bố tại Tọa đàm về tăng
cường công tác đấu tranh với các tội phạm về ĐVHD do ENV tổ chức
ngày 28/03/2014 tại Hà Nội.
22. Phạm Minh Tuyên (2014), Tham luận “Tội vi phạm các quy định về bảo
vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ - Thực tiễn xét xử ở Việt Nam và một số kiến nghị” - trong Tọa đàm
về tăng cường công tác đấu tranh với các tội phạm về ĐVHD do ENV tổ
chức ngày 28/03/2014 tại Hà Nội.
II. Tài liệu tiếng Anh
23. Morgera, E. and Wingard, J. (2002), Principles for developing
sustainable wildlife management laws, FAO Legal Paper Online (tr. 75)
24. UNEP (2014), Illegal trade of wildlife, UNEP year book 2014 emerging
issues updated, p. 25. Nguồn http://www.unep.org/yearbook/2014/PDF
/chapt4.pdf
III. Trang thông tin điện tử
25. http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/2522-
26633552515309847500/Dong-vat---Thuc-vat/Dong-vat-la-gi.htm.
26. http://www.cites.org/eng/news/pr/2014/london-conference-20140214.php.
27. http://www.fao.org/docrep/005/y3844e/y3844e03.htm#TopOfPage.
28. http://kiemlam.org.vn/Desktop.aspx/List/Hanh-vi-vi-pham-Luat-BV-va-PT-rung/.
29. http://maxreading.com/sach-hay/viet-nam-moi-truong-va-cuoc-
song/rung-viet-nam-truoc-va-nay-11351.html.
30. http://moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.as
px?ItemID =487.
31. http://khotailieu.com/luan-van-do-an-bao-cao/luat/thuc-trang-phap-luat-
da-dang-sinh-hoc-cua-viet-nam-va-phuong-huong-hoan-thien.html, Thực
trạng pháp luật đa dạng sinh học của Việt Nam và phương hướng hoàn
thiện, (truy cập ngày 18/6/2014).
107
32. http://suckhoedoisong.vn/thoi-su/dong-vat-hoang-da-gay-nhieu-benh-
nguy-hiem-tren-nguoi-20140520161525331.htm.
33. https://www.savetherhino.org/latest_news/news/1190_1_215_rhinos_poa
ched_in_south_africa_during_2014.
34. http://tainguyenmoitruong.com.vn/tay-nguyen-dong-vat-hoang-da-
keu-cuu.html.
35. http://www.thefreedictionary.com/wildlife.
36. http://thethaovanhoa.vn/bong-da/cuu-loai-te-giac-nam-phi-huy-dong-
quan-doi-viet-nam-keu-goi-phu-nu-n20131022105450238.htm.
37. http://thiennhien.org/images/Tailieu/BantinbuonbanDVHD/bantinvenanb
uonbandvhdthang10nam2011.pdf.
38. http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/moi-truong/20120409/tien-ti-cung-
khong-ban-rua/486132.html.
39. http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/moi-truong/20130921/dung-mang-
xa-hoi-cuu-dong-vat-hoang-da/570157.html.
40. http://www.unodc.org/cld/index-sherloc.jspx.
41. http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/viet-nam-chi-con-khoang-30-con-
ho-tu-nhien-2181925.html.
42. https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_B%E1%BA%A3o_t
%E1%BB%93n_Thi%C3%AAn_nhi%C3%AAn_Qu%E1%BB%91c_t
%E1%BA%BF.
43.https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9B
c_Ramsar.
43. https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_v%
E1%BB% 81 _%C4%90a_d%E1%BA%A1ng_sinh_h%E1%BB%8Dc.
44. http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/bao-my-viet-ve-nan-buon-
thu-quy-hiem-cua-viet-nam-3175919.html.
108
45. http://vtv.vn/trong-nuoc/viet-nam-diem-nong-cua-nan-buon-lau-sung-te-
giac-85737.htm.
46. http://www.vusta.vn/vi/news/Lien-hiep-hoi-1733/Keu-goi-cham-dut-nan-
nuoi-nhot-gau-tai-Viet-Nam-45618.html.
47. http://assets.wnf.nl/downloads/wwf_wildlife_crime_scorecard_report.pdf.
48. https://www.unodc.org/documents/southeastasiaandpacific//vietnam/publ
ication/2014/CP_final_V.pdf.
109
PHỤ LỤC
Danh sách các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan trực tiếp đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD
Tên văn bản Ngày có hiệu lực
Luật Thuỷ sản 2003 Ngày 01/07/2004
Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 Ngày 01/04/2005
Luật Đa dạng sinh học 2008 Ngày 01/07/2009
Bộ luật Hình sự 2009 Ngày 01/01/2010
Luật Bảo vệ Môi trường 2014 Ngày 01/01/2015
Luật Đầu tư 2014 Ngày 01/07/2015
Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về
quản lý các loài động vật rừng, thực vật rừng hoang dã nguy
cấp, quý, hiếm.
Lưu ý: Một số nội dung của Nghị định liên quan đến các loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hiện được điều chỉnh
theo quy định của Nghị định 160/2013/NĐ-CP
Tháng 4/2006
Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về
quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất và nhập nội từ biển, quá
cảnh, gây nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản và trồng cấy nhân tạo
động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Lưu ý: Một số trình tự, thủ tục theo Nghị định này đã được sửa
đổi bởi Nghị định 98/2011/NĐ-CP
Tháng 9/2006
Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản
Ngày 01/11/2013
Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng,
bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản
Lưu ý: Một số nội dung của Nghị định này đã được sửa đổi bởi
Nghị định 40/2015/NĐ-CP
Ngày 25/12/2013
110
Nghị định 160/2013/ND-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ
về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ
Ngày 01/01/2014
Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
Ngày 30/12/2013
Nghị định 29/2014/NĐ-CP ngày 10/04/2014 quy định về thẩm
quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu của Nhà nước về tài sản và
quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước.
Ngày 01/06/2014
Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-
VKSNDTC-TANDTC ngày 08/3/2007 hướng dẫn áp dụng một
số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực
quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Tháng 04/2007
Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 của Bộ Nông
nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về việc sửa đổi một số điều của
Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/03/2006 của Bộ Thuỷ sản
ngày 20/03/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung của Nghị
định 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về điều
kiện sản xuất và kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản
Tháng 06/2008
Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 của Bộ Nông
nghiê ̣p và Phát triển Nông t hôn hướng dẫn xử lý tạng vật là
động vật rừng bị tịch thu.
Tháng 09/2008
Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 của Bộ
Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn quy định hồ sơ lâm sản
hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản
Lưu ý: Một số nội dung của Thông tư này đã được sửa đổi bởi
Thông tư 42/2012/TT-BNNPTNT
Tháng 03/2012
Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ
Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn quy định về khai thác và
gây nuôi động vật rừng thông thường.
Ngày 09/11/2012
111
Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT ngày 05/09/2013 của Bộ
Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về ban hành Danh mục
loài động và thực vật thuộc các phụ lục của Công ước về buôn
bán Quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
Ngày 25/10/2013
Thông tư 159/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định
29/2014/NĐ-CP quy định về thẩm quyền và trình tự thiết lập
quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản và quản lý, chuyển giao
các tài sản được xác lập quyền sỏ hữu Nhà nước
Ngày 12/12/2014
Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của Bộ Nông
nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về việc ban hành danh mục loài
thuỷ sinh nguy cấp cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển.
Lưu ý: Một số nội dung của Thông tư này đã được sửa đổi bởi
Thông tư 01/2011/TT-BNNPTNT
Tháng 08/2008
Quyết định 95/2008/QĐ-BNN của B ộ Nông nghiê ̣p và Phát
triển Nông thôn ngày 29/09/2008 ban hành Quy chế về quản lý
gấu nuôi.
Lưu ý: Một số nội dung của Thông tư này đã được sửa đổi bởi
Thông tư 25/2011/TT-BNNPTNT
Tháng 10/2008
Quyết định 11/2013/QĐ-BNN ngày 24/01/2013 về việc cấm
nhập khẩu, xuất khẩu và kinh doanh một số mẫu vật loài thuộc
các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động,
thực vật hoang dã nguy cấp
Ngày 15/03/2013

More Related Content

PDF
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
PDF
Pháp luật về bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm, 9đ
PDF
LUẬN VĂN TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC ...
PDF
Luận văn: Pháp luật về xử lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính
PDF
Luận văn: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, HAY
PDF
Luận văn: Bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với nông sản tại Quảng trị
PDF
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ môi trường qua tại cơ sở sản xuất
PDF
Luận văn: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật quý hiếm
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Pháp luật về bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm, 9đ
LUẬN VĂN TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC ...
Luận văn: Pháp luật về xử lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính
Luận văn: Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, HAY
Luận văn: Bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với nông sản tại Quảng trị
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ môi trường qua tại cơ sở sản xuất
Luận văn: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật quý hiếm

What's hot (20)

PDF
Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm trong kinh doanh, 9đ
PDF
Luận văn: Áp dụng án lệ trong giải quyết các tranh chấp dân sự
PDF
Luận văn: Quản lý về bảo vệ động vật hoang dã tại Quảng Bình
PDF
Luận văn: Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, HOT
PDF
Luận văn: Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật, HAY
PDF
Đề tài: Bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Phân loại thương nhân theo pháp luật Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Luật La Mã trong xây dựng chế định vật quyền, HOT
PDF
Luận văn thạc sĩ: Đương sự trong vụ án dân sự, HAY
PDF
Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí, HOT
PDF
Luận văn: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc
PDF
Giáo trình công pháp quốc tế, Q.1.pdf
DOCX
200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật Tại Tòa Án, 9 Điểm
PDF
Luận văn: Nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự, HAY
DOCX
Cơ sở lý luận về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.docx
DOCX
Báo Cáo Thực Tập Thủ Tục Giải Quyết Ly Hôn Tại Tòa Án, 9 Điểm.docx
PDF
Luận văn: Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam
PDF
Luan van phap luat ve bao ve rung nguy cap quy hiem, HOT
PDF
Luận văn: Hợp đồng thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam
DOCX
Đề tài: Pháp luật đăng ký thành lập doanh nghiệp, tư vấn thành lập DN
Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm trong kinh doanh, 9đ
Luận văn: Áp dụng án lệ trong giải quyết các tranh chấp dân sự
Luận văn: Quản lý về bảo vệ động vật hoang dã tại Quảng Bình
Luận văn: Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, HOT
Luận văn: Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trong pháp luật, HAY
Đề tài: Bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam, HOT
Luận văn: Phân loại thương nhân theo pháp luật Việt Nam, HOT
Luận văn: Luật La Mã trong xây dựng chế định vật quyền, HOT
Luận văn thạc sĩ: Đương sự trong vụ án dân sự, HAY
Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí, HOT
Luận văn: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài vụ việc
Giáo trình công pháp quốc tế, Q.1.pdf
200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật Tại Tòa Án, 9 Điểm
Luận văn: Nguồn chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự, HAY
Cơ sở lý luận về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.docx
Báo Cáo Thực Tập Thủ Tục Giải Quyết Ly Hôn Tại Tòa Án, 9 Điểm.docx
Luận văn: Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam
Luan van phap luat ve bao ve rung nguy cap quy hiem, HOT
Luận văn: Hợp đồng thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam
Đề tài: Pháp luật đăng ký thành lập doanh nghiệp, tư vấn thành lập DN
Ad

Similar to Đề tài: Pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam, HOT (20)

PDF
Luận văn: Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
PDF
đánh giá nguy cơ suy giảm sinh học
PDF
Luận văn: Bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự, HAY
PDF
Luận văn: Luật tục về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
PDF
Luận án: Luật tục về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
PDF
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam, HOT
PDF
Luận án: Khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng Quảng Ngãi, HAY
PDF
Mức độ đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái, HAY - Gửi miễn phí ...
PDF
Tài nguyên đa dạng sinh học và tình hình sử dụng các vùng đất ngập nước tự nh...
PDF
Luận án: Sinh thái học quần thể bảo tồn loài Rồng đất, HAY
PDF
Đề tài: Tội xâm phạm quy định về quản lý và bảo vệ rừng, HOT
PDF
Đa dạng loài, phân bố của hệ lưỡng cư và bò sát ở đèo Cù Mông
PDF
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam, HAY
DOCX
Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Trong Lĩnh Vực Nuôi Trồng Và Chế Biến Thủy Sản.
PDF
Luận văn: Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt tại Quảng Trị, HOT
PDF
Luận án: Pháp luật về trách nhiệm pháp lý về bảo vệ môi trường
PDF
Pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
DOCX
De án môi trường .
 
PDF
Quan điểm toàn cầu về đa dạng sinh học
Luận văn: Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
đánh giá nguy cơ suy giảm sinh học
Luận văn: Bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự, HAY
Luận văn: Luật tục về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Luận án: Luật tục về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam, HOT
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam, HOT
Luận án: Khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng Quảng Ngãi, HAY
Mức độ đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái, HAY - Gửi miễn phí ...
Tài nguyên đa dạng sinh học và tình hình sử dụng các vùng đất ngập nước tự nh...
Luận án: Sinh thái học quần thể bảo tồn loài Rồng đất, HAY
Đề tài: Tội xâm phạm quy định về quản lý và bảo vệ rừng, HOT
Đa dạng loài, phân bố của hệ lưỡng cư và bò sát ở đèo Cù Mông
Luận văn: Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam, HAY
Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Trong Lĩnh Vực Nuôi Trồng Và Chế Biến Thủy Sản.
Luận văn: Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt tại Quảng Trị, HOT
Luận án: Pháp luật về trách nhiệm pháp lý về bảo vệ môi trường
Pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
De án môi trường .
 
Quan điểm toàn cầu về đa dạng sinh học
Ad

More from Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO: 0909232620 (20)

DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Tiểu Luận Chuyên Viên Chính Về Bảo Hiểm Xã Hội Mới Nhất
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Quản Trị Nguồn Nhân Lực, 9 Điểm
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Văn Hóa Giúp Bạn Thêm Ý Tưởng
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Quản Lý Giáo Dục Dễ Làm Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Quan Hệ Lao Động Từ Sinh Viên Giỏi
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Nuôi Trồng Thủy Sản Dễ Làm Nhất
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Sư, Mới Nhất, Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Phòng, Chống Hiv, Mới Nhất, Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Phá Sản, Mới Nhất
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Nhà Ở, Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Ngân Hàng, Mới Nhất
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Môi Trường, Mới Nhất
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Hộ Tịch, Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Hình Sự , Dễ Làm Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Hành Chính, Dễ Làm Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Giáo Dục, Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đấu Thầu, Từ Sinh Viên Khá Giỏi
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đầu Tư, Dễ Làm Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đầu Tư Công, Dễ Làm Điểm Cao
DOCX
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đất Đai, Từ Sinh Viên Khá Giỏi
Danh Sách 200 Đề Tài Tiểu Luận Chuyên Viên Chính Về Bảo Hiểm Xã Hội Mới Nhất
Danh Sách 200 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Quản Trị Nguồn Nhân Lực, 9 Điểm
Danh Sách 200 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Văn Hóa Giúp Bạn Thêm Ý Tưởng
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Quản Lý Giáo Dục Dễ Làm Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Quan Hệ Lao Động Từ Sinh Viên Giỏi
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Nuôi Trồng Thủy Sản Dễ Làm Nhất
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Sư, Mới Nhất, Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Phòng, Chống Hiv, Mới Nhất, Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Phá Sản, Mới Nhất
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Nhà Ở, Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Ngân Hàng, Mới Nhất
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Môi Trường, Mới Nhất
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Hộ Tịch, Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Hình Sự , Dễ Làm Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Hành Chính, Dễ Làm Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Giáo Dục, Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đấu Thầu, Từ Sinh Viên Khá Giỏi
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đầu Tư, Dễ Làm Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đầu Tư Công, Dễ Làm Điểm Cao
Danh Sách 200 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Đất Đai, Từ Sinh Viên Khá Giỏi

Recently uploaded (20)

PDF
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
PDF
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
PDF
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
PDF
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Tổng quan về Giao tiếp
PDF
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...
PDF
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
PDF
DANH SACH TRUNG TUYEN DHCQ_DOT 1_2025_TUNG NGANH.pdf
PPTX
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
PDF
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
PDF
VIOLYMPIC TOÁN LỚP 2 NĂM 2025 - 2026 TỪ VÒNG 1 ĐẾN VÒNG 10
PDF
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
DOCX
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
PDF
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
DOCX
2021_CTDT_CNTT_150TC HCMUTE ngành Công Nghệ Thông Tin
PDF
10 phương pháp rèn luyên tâm trí vững vàng • Sống Vững Vàng #1
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PPT
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
PDF
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
PPT
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
PDF
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Tổng quan về Giao tiếp
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
DANH SACH TRUNG TUYEN DHCQ_DOT 1_2025_TUNG NGANH.pdf
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
VIOLYMPIC TOÁN LỚP 2 NĂM 2025 - 2026 TỪ VÒNG 1 ĐẾN VÒNG 10
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
2021_CTDT_CNTT_150TC HCMUTE ngành Công Nghệ Thông Tin
10 phương pháp rèn luyên tâm trí vững vàng • Sống Vững Vàng #1
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành

Đề tài: Pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam, HOT

  • 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÙI THỊ HÀ PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ §éNG VËT HOANG D· ë VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2015
  • 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÙI THỊ HÀ PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ §éNG VËT HOANG D· ë VIÖT NAM Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THU HẠNH HÀ NỘI - 2015
  • 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Bùi Thị Hà
  • 4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ ................................................................. 6 1.1. Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ động vật hoang dã........................ 6 1.1.1. Khái niệm động vật hoang dã............................................................... 6 1.1.2. Vai trò của động vật hoang dã.............................................................. 8 1.1.3. Phân loại động vật hoang dã ................................................................ 9 1.1.4. Mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với bảo vệ động vật hoang dã .............................................................................................12 1.1.5. Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật......................13 1.2. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam ........................................................................................18 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và tiêu chí đánh giá pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam...........................................................18 1.2.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam ...................................19 1.2.3. Tổng quan các quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam .........................................................................................22 1.2.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam..........................................................................................32
  • 5. 1.2.5. Xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam .........................................................35 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM ...................................................................................39 2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam......39 2.1.1. Thực trạng các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã.........39 2.1.2. Thực trạng các quy định xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã........................................................................................48 2.1.3. Thực trạng các quy định về xử lý tang vật và cứu hộ động vật hoang dã .............................................................................................62 2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam............................................................................................66 2.2.1. Thực tiễn thi hành các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã ......66 2.2.2. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý vi phạm pháp luật về động vật hoang dã........................................................................................72 2.2.3. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý tang vật và cứu hộ động vật hoang dã .......................................................................................75 2.2.4. Nguyên nhân của hiện trạng thực thi pháp luật về động vật hoang dã .............................................................................................78 Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM ............................................................82 3.1. Sự cần thiết phải hệ thống hoá và xây dựng khung pháp luật thống nhất về bảo vệ động vật hoang dã........................................82 3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ......82 3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã......................................................................................84
  • 6. 3.3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã .............................................................................................84 3.3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định xử lý vi phạm pháp luật về động vật hoang dã ..............................................................................85 3.3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định về xử lý tang vật, cứu hộ động vật hoang dã ..............................................................................92 3.3.4. Xây dựng đạo luật riêng về bảo vệ động vật hoang dã......................93 3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ............................................................................97 3.4.1. Các giải pháp chung...........................................................................97 3.4.2. Các giải pháp cụ thể...........................................................................98 KẾT LUẬN..................................................................................................102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................104 PHỤ LỤC.....................................................................................................109
  • 7. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự ĐDSH: Đa dạng Sinh học ĐHQG: Đại học Quốc gia ĐVHD: Động vật hoang dã
  • 8. DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 2.1: Số lượng vụ vi phạm liên quan đến động vật rừng trong giai đoạn 2006-2014 74 Bảng 2.2: Số lượng bị cáo và vụ việc liên quan đến ĐVHD bị đưa ra xét xử trong giai đoạn 2009-2013 74
  • 9. DANH MỤC CÁC BIỂ U ĐỒ Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ Trang Biểu đồ 1.1: Số lượng tê giác bị giết hại để lấy sừng tại Nam Phi từ 2007 – 8/2015 15 Biểu đồ 2.1: Số lượng vụ việc và đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về ĐVHD trong giai đoạn 2010-2013 73 Biểu đồ 2.2: Vai trò các đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về ĐVHD 75
  • 10. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Động vật hoang dã (ĐVHD) là một bộ phận quan trọng cấu thành nên đa dạng sinh học của Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng ĐVHD đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do nạn săn bắt, buôn bán trái phép các loài ĐVHD. Theo Báo cáo số 683/BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 của Cục Kiểm lâm về Công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2015, chỉ tính riêng trong năm 2014, các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 432 vụ vi phạm các quy định về quản lý ĐVHD, tịch thu 8.051 cá thể, tương đương 17.473 kg (trong đó có 598 cá thể động vật nguy cấp, quý hiếm) [12]. Trên trường quốc tế, Việt Nam hiện được đánh giá là “điểm trung chuyển” và “điểm đến” (tiêu thụ) của các loài ĐVHD [34]. Trong Báo cáo Đánh giá việc tuân thủ và thực hiện cam kết CITES về Hổ, Tê giác và Voi tại 23 quốc gia trong số nhiều quốc gia được coi là có sự phân bố, trung chuyển hoặc tiêu thụ các loài này, tổ chức WWF (Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên) đã đánh giá Việt Nam là một trong các quốc gia có việc thực thi đáng lo ngại nhất với thẻ màu đỏ đối với hai loài Tê giác và Hổ [47]. Nhìn nhận tính nghiêm trọng của tội phạm về ĐVHD và sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD , Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 trong đó đưa ra nhận định: “Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân” và từ đó đưa ra một trong các nhiệm vụ cụ thể, trọng tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”.
  • 11. 2 Trong bối cảnh như vâ ̣y , tác giả nhận thấy các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD hiện nay còn chưa mang tính hệ thống, tồn tại nhiều lỗ hổng cũng như chồng chéo và do đó không đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm nghiên cứu các vấn đề chủ yếu của pháp luật về bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật và từ đó kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này để kiểm soát tình trạng săn bắt và buôn bán ĐVHD trái phép hiện đang là nguyên nhân đẩy các loài ĐVHD của Việt Nam và thế giới đến nguy cơ tuyệt chủng. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Liên quan đến lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học (trong đó có ĐVHD), trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Sách “Bảo tồn đa dạng sinh học” của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn xuất bản năm 1999; Sách “Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên” của tác giả Lê Trọng Cúc xuất bản năm 2002; Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở hệ thống rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam” do tác giả Trần Thế Liên thực hiện năm 2006. Liên quan đến pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, đã có một số nghiên cứu như: Luận văn Thạc sỹ “Luật bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Thu Hải bảo vệ năm 2006; “Báo cáo rà soát, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học” của tác giả Trương Hồng Quang, Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thực hiện năm 2009; Chuyên đề “Thành tựu và thách thức qua 5 năm thực hiện Luật Đa dạng sinh học” của GS.TS Đặng Huy Huỳnh công bố năm 2013; Bài viết “Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, thực trạng và tồn tại
  • 12. 3 trước khi có Luật Đa dạng sinh học”, của TS. Nguyễn Văn Tài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008; Bài viết “Pháp luật về đa dạng sinh học một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”, của Thạc sĩ Huỳnh Thị Mai, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008.Trong đó, pháp luật về bảo vệ ĐVHD chỉ là một bộ phận nhỏ của các nghiên cứu này. Ngày 8/9/2014, Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách phát triển bền vững phối hợp với Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã công bố “Báo cáo tóm tắt về khung pháp lý và chính sách về quản lý bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm”. Tuy nhiên, Báo cáo chỉ tập trung vào các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ mà chưa xem xét toàn diện hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam. Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có một đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam. Việc đánh giá, xem xét một cách có hệ thống các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hết sức cần thiết để góp phần hoàn thiện lĩnh vực pháp luật mới được chú trọng trong thời gian gần đây ở Việt Nam. Do đó, tác giả nhận thấy đề tài mang tính mới và có nhiều ý nghĩa trên thực tiễn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận về động vật hoang dã, bảo vệ ĐVHD, pháp luật về bảo vệ ĐVHD; và thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam vào thời điểm thực hiện luận văn bao gồm các vấn đề về chính sách quản lý, xử lý vi phạm, xử lý tang vật các loài ĐVHD. Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy có đề cập đến nhưng chỉ ở mức khái quát kinh nghiệm quốc tế để rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.
  • 13. 4 4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn được xây dựng nhằm mục tiêu làm rõ những vấn đề lý luận về động vật hoang dã, sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD, tổng quan và đánh giá những bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như những khó khăn, tồn tại trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD và tăng cường thực thi pháp luật trong lĩnh vực này. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau: - Làm sáng tỏ các khái niệm có liên quan về ĐVHD; - Lý giải sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD và bảo vệ ĐVHD bằng các quy định của pháp luật; - Tìm hiểu xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ ĐVHD và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; - Phân tích và đánh giá hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam hiện nay; - Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD và lý giải nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam; - Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ ĐVHD. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để phân tích làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
  • 14. 5 Các phương pháp nghiên cứu chính để giải quyết vấn đề được sử dụng trong luận văn bao gồm: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh. 6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn Luận văn góp phần làm sáng tỏ các khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD bằng pháp luật và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến bảo vệ ĐVHD cũng như khả năng thực thi các quy định này trên thực tế. Đồng thời, luận văn cũng đề xuất những giải pháp mang tính sáng tạo để hoàn thiện pháp luật và nâng cao khả năng thực thi trong lĩnh vực này. Vì vậy, luận văn là một nguồn tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan nhà nước hữu quan trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam trong thời gian tới. Ngoài ra, luận văn cũng là một nguồn tài liệu tham khảo tốt cho việc giảng dạy, nghiên cứu tại Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo luật khác của Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về động vật hoang dã, bảo vệ động vật hoang dã và pháp luật về bảo vệ ĐVHD Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam
  • 15. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 1.1. Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ động vật hoang dã 1.1.1. Khái niệm động vật hoang dã Hiện nay, tại Việt Nam các học giả chưa đưa ra một khái niệm chính xác về ĐVHD. Do đó, trong nội dung này, tác giả sẽ tham khảo và phân tích các từ điển trong nước và quốc tế nhằm đưa ra một khái niệm tương đối về ĐVHD. Theo từ điển “American Heritage® Dictionary of the English Language, Fifth Edition”, ĐVHD được hiểu là những loài động vật chưa bị thuần hoá và thường sống trong môi trường tự nhiên [35]. Theo Bách khoa tri thức Việt Nam, “động vật là những cơ thể sống dinh dưỡng bằng những vật chất sống”. Phần lớn động vật có thể di chuyển được và có một hệ thần kinh. Khác với thực vật, động vật không tự tạo ra chất dinh dưỡng cho mình mà phải tồn tại nhờ nguồn thực vật trong thiên nhiên hoặc động vật khác mà chúng bắt được [26]. Bên cạnh đó, Điều 3 Luật đa dạng sinh học của Việt Nam năm 2008 cũng định nghĩa: “Loài hoang dã là loài động vâ ̣t, thực vâ ̣t, vi sinh vâ ̣t và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật”. Từ những khái niệm này, tác giả cho rằng có thể hiểu “ĐVHD” là những cơ thể sống dinh dưỡng theo quy luật trong tự nhiên, chưa bị con người thuần hóa (ví dụ như các loài hổ, báo, tê giác, tê tê…). Cần lưu ý rằng việc ĐVHD sống theo quy luật trong tự nhiên và chưa bị con người thuần hoá không có nghĩa là ĐVHD không hề chịu sự tác động của con người. Bên cạnh hoạt động săn bắt có chủ đích ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các loài ĐVHD, có thể dễ dàng nhận thấy những hoạt động sống của con người hiện
  • 16. 7 nay đang tác động lên mọi mặt của trái đất như tài nguyên, khí hậu, nguồn nước… và do đó đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các loài ĐVHD ở những mức độ khác nhau. Ví dụ, lượng khí thải nhà kính tăng cao từ các hoạt động “công nghiệp hóa” nhằm phát triển kinh tế của con người hiện đang dẫn đến tình trạng trái đất nóng lên, thời tiết khô hạn và một hệ quả tất yếu là cháy rừng. Hiện tượng này không những hủy họa môi trường sống của nhiều loài mà cũng trực tiếp giết chết các cá thể ĐVHD. Từ khái niệm ĐVHD được đúc kết ở trên cũng có thể thấy ĐVHD khác với động vật nuôi (ví dụ như trâu, bò, lợn, gà…) ở chỗ nó chưa được con người thuần hóa nhằm phục vụ một mục đích nào đó của con người (hỗ trợ lao động, làm thực phẩm…). Tuy nhiên, sự so sánh này cũng chỉ mang tính chất tương đối. Hiện nay, rất nhiều các quần thể ĐVHD vừa sinh sống trong tự nhiên và đồng thời một bộ phận cũng được con người “thuần hóa”, “gây nuôi” thành công nhằm phục vụ các nhu cầu của con người như cá sấu, nhím, trăn, rắn, ba ba trơn, lợn rừng…. Quần thể các loài này ngoài tự nhiên sẽ được gọi là ĐVHD trong khi các cá thể có nguồn gốc sinh sản từ các trang trại gây nuôi vì mục đích thương mại sẽ được gọi là động vật nuôi, ví dụ như nhím nuôi, rắn nuôi, lợn rừng nuôi… Thế giới ĐVHD rất phong phú và phân bố đa dạng trong các môi trường sống khác nhau. Việc nghiên cứu toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan đến những loài này là không khả thi. Chính vì vây, phạm vi luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các quy định về bảo vệ ĐVHD hiện được liệt kê trong các danh mục bảo vệ của Nhà nước. Các loài thủy sinh được coi là thực phẩm truyền thống của con người như các loài cua, mực, tôm biển vẫn đang được khai thác tự do trong các vùng biển của Việt Nam hay các loài côn trùng, giáp xác không được liệt kê trong các danh mục bảo vệ của Nhà nước sẽ không được nghiên cứu trong luận văn này.
  • 17. 8 Tác giả cho rằng các nhà làm luật của Việt Nam cần đưa ra một khái niệm rõ ràng về ĐVHD và danh sách các loài ĐVHD được bảo vệ (không chỉ bao gồm các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm mà còn bao gồm một số loài ĐVHD thông thường khác) nhằm tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu và thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Danh sách này có thể được thường xuyên sửa đổi, bổ sung tuỳ theo phát hiện mới của các nhà khoa học. 1.1.2. Vai trò của động vật hoang dã Là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái, ĐVHD có nhiều giá trị to lớn, trong đó giá trị quan trọng nhất chính tạo ra hệ sinh thái bền vững, diễn thế theo con đường tự nhiên. ĐVHD là thành tố của nhiều quá trình trao đổi chất quan trọng trong tự nhiên, tạo lên các mắt xích trong chuỗi thức ăn hay lưới thức ăn. Ngoài ra, nhiều loài ĐVHD đặc hữu mang các gen quý chứa đựng những tính trạng tốt mà các loài động vật khác không có. Thông qua các loài hoang dã này, con người có thể nghiên cứu, khai thác và sử dụng một cách hợp lý các gen này đạt hiệu quả cao nhất. Thêm vào đó, ĐVHD còn mang lại nhiều giá trị khác về mặt kinh tế như là nguồn thức ăn, nguyên liệu công nghiệp, phân bón, dược liệu quý hoặc được sử dụng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục… Bên cạnh các tác động tích cực này, ĐVHD trong một số trường hợp cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những bệnh dịch nguy hiểm cho con người. Một số đại dịch hiện nay như SARS, EBOLA, MER … đều có nguồn gốc từ ĐVHD [32]. Không những vậy, một số loài “thú dữ” cũng có thể gây hại, tấn công con người hoặc tàn phá lương thực, mùa màng. Tuy nhiên, có thể thấy ĐVHD có các tác động tích cực là chủ yếu và từ đó thúc đẩy nhiệm vụ phải bảo tồn các loài ĐVHD vì chính cuộc sống của con người.
  • 18. 9 1.1.3. Phân loại động vật hoang dã ĐVHD có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như đặc điểm sinh học, mức độ nguy cấp hay địa điểm phân bố. Tuy nhiên, luận văn chỉ tiến hành phân loại ĐVHD dựa trên mức độ nguy cấp và địa điểm phân bố của các loài này – là hai phương thức phân loại hiện đang được đề cập trong các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam. Thứ nhất, phân loại dựa trên mức độ nguy cấp của các loài ĐVHD Theo mức độ nguy cấp, có thể phân chia các loài ĐVHD thành ĐVHD thông thường và ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Trong đó, hiện nay pháp luật chưa đưa ra khái niệm ĐVHD thông thường nhưng có thể hiểu ĐVHD thông thường là các loài động vật sinh sống trong các môi trường tự nhiên khác nhau, số lượng cá thể còn nhiều trong tự nhiên và chưa bị đe doạ tuyệt chủng. Trong khi đó, hiện nay pháp luật Việt Nam đưa ra nhiều khái niệm có liên quan đến ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Nhìn chung, có thể thấy hai đặc tính cơ bản của loài nguy cấp, quý, hiếm nói chung là “có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học, môi trường” và “số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng”. Trong một số trường hợp, hai yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau bởi lẽ chính các “giá trị đặc biệt” đã khiến các loài ĐVHD này bị săn bắt, khai thác nhiều hơn trong tự nhiên và vì thế số lượng còn ít hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Trên thế giới, các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cũng được các tổ chức hoặc chuyên gia phân loại theo nhiều cách thức khác nhau. Một trong các cách thức phân loại thường được các nhà khoa học tham khảo là phân loại ĐVHD của Liên minh IUCN. Từ năm 1963, Liên minh IUCN thường xuyên phát hành Sách đỏ (tiếng Anh: IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red Listhay Red Data List)
  • 19. 10 là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới. Trong đó, các loài ĐVHD được chia thành các cấp độ nguy cấp như sau [42]: - Extinct EX (tuyệt chủng) - Extinct in the Wild EW (tuyệt chủng trong tự nhiên) - Critically Endangered CR (cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng) - Endangered EN (nguy cấp cao) - Vulnerable VU (bị đe dọa, sắp nguy cấp) - Near Threatened NT (sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ) - Least Concern LC (ít quan tâm) - Data Deficient DD (không đủ dữ liệu) - Not Evaluated NE (không phân loại hoặc không đánh giá) Tại Việt Nam, các nhà khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã xây dựng Sách đỏ Việt Nam trong đó các tiêu chuẩn được xây dựng trên nền tảng tiêu chuẩn của IUCN nhưng có nghiên cứu đến hiện trạng phân bố quần thể loài ở Việt Nam. Hiện nay, nhiều người cho rằng các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là các loài ĐVHD được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam hoặc Sách đỏ thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế các danh mục Sách đỏ này chỉ mang tính chất tham khảo và không có ý nghĩa trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Trong quy định của pháp luật Việt Nam, các loài ĐVHD sẽ được coi là nguy cấp, quý, hiếm và được pháp luật bảo vệ chặt chẽ nếu nằm trong các Phụ lục của CITES (các loài có tên trong các Phụ lục I, II); Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/ND- CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định số 160/2013/NĐ- CP); động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB và IIB Danh mục loài
  • 20. 11 động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý các loài động vật rừng, thực vật rừng hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 32/2006/NĐ- CP), các loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo tồn, bảo vệ và phát triển ban hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về việc ban hành danh mục loài thuỷ sinh nguy cấp cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển (Quyết định 82/2008/QĐ-BNN), các loài thuỷ sản bị cấm khai thác ban hành kèm theo Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn v ề việc sửa đổi một số điều của Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/03/2006 của Bộ Thuỷ sản ngày 20/03/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung của Nghị định 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất và kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản (Thông tư 62/2008/TT-BNN).. Hiện nay, Nghị định 160/2013/NĐ-CP là văn bản mới nhất của Chính phủ Việt Nam đưa ra hệ thống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - nhóm loài nguy cấp, quý, hiếm hiện được bảo vệ cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc đưa ra khái niệm “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” dẫn đến cách hiểu còn hai nhóm khác trong cách thức phân loại này là “loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm không được ưu tiên bảo vệ” và “loài ĐVHD thông thường”. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện tại vẫn chưa đề cập và đưa ra tiêu chí để thiết lập danh sách hai nhóm loài còn lại này. Thứ hai, phân loại dựa trên địa điểm phân bố Hiện nay, ở Việt Nam cũng không có sự phân định rõ ràng ĐVHD dựa trên phân bố. Tuy nhiên, dựa trên các danh mục ĐVHD được ban hành trong các quy phạm pháp luật có liên quan như Danh mục loài thuỷ sinh quý hiếm
  • 21. 12 có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển; Danh mục loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm… có thể hiểu một cách thức phân loại thứ tư là dựa trên đặc điểm phân bố. Dựa trên phân bố của các loài ĐVHD, có thể phân thành động vật rừng và động vật hoang dã thuỷ sinh. Các loài động vật rừng có phân bố trong rừng, bao gồm cả các loài thuỷ sinh tại các suối trong rừng như cá cóc Tam Đảo (tên khoa học: “Paramesotriton deloustali”). Động vật hoang dã thuỷ sinh phân bố ở biển hoặc các sông mà không nằm trong rừng. Tuy nhiên, cách thức phân loại này cũng không thực sự thích hợp bởi lẽ có một khoảng hổng lớn là một số loài ĐVHD không sinh sống trong rừng hay ở sông, biển như các loài chim di trú sẽ không được đặt trong nhóm động vật rừng hay động vật thuỷ sinh. Mặc dù vậy, đây là cách thức hiện đang được các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD sử dụng phổ biến để phân loại các loài ĐVHD bên cạnh cách thức phân loại dựa trên mức độ nguy cấp. 1.1.4. Mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với bảo vệ động vật hoang dã Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ ĐVHD có mối quan hệ mật thiết, bảo vệ ĐVHD chính là một phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Đa dạng sinh học là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống, loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất cả sự tập hợp phức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái. Có thể nói, đa dạng sinh học là sự giàu có, phong phú các nguồn gen, các loài và các hệ sinh thái trên bề mặt trái đất, có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái (Điều 3 Luật Đa dạng Sinh học 2008). Đa dạng sinh học là yếu tố đặc biệt quan trọng, sống còn với phát triển bền vững, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong quá khứ, hiện tại và
  • 22. 13 tương lai. Đa dạng sinh học có những giá trị kinh tế, giá trị môi trường, giá trị cuộc sống to lớn mà cho đến một vài thế kỷ gần đây chúng ta mới nhận thức được một cách đầy đủ [16]. Do đó, chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2013 đã chỉ rõ: “Đa dạng sinh học là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn đa dạng sinh học là một trong các giải pháp then chốt nhằm thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu”. Trong đó, các loài ĐVHD là một thành tố không thể thiếu của đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Các loài này đã trải qua nhiều triệu năm tiến hóa để thích nghi và tồn tại trong môi trường sống tự nhiên đầy khắc nghiệt. Mỗi loài biến mất sẽ làm những giá trị độc nhất bị mất đi vĩnh viễn, không thể phục hồi, kéo theo đó là những hậu quả về sinh thái. Khi một loài bị tiêu diệt, có thể sẽ kéo theo sự mất cân bằng sinh thái, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ cục bộ cho đến tất cả các hệ sinh thái và cuối cùng là cả trái đất. Khi các hệ sinh thái mất cân bằng, con người đương nhiên sẽ gánh chịu mọi hậu quả. Chính vì vậy bảo vệ ĐVHD là một vấn đề đang được thế giới đặc biệt quan tâm bởi nó là một mắt xích quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường nói chung. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Do đó, bảo vệ ĐVHD là một vấn đề đang được thế giới đặc biệt quan tâm. Đây cũng là vấn đề mang tầm quốc tế mà không phải của riêng quốc gia, dân tộc nào. 1.1.5. Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật Theo cách hiểu của tác giả, “bảo vệ ĐVHD” là hoạt động nhằm bảo vệ các loài động vật sinh sống và phát triển theo quy luật của tự nhiên tránh khỏi những nguy cơ bị buôn bán, săn bắt, nuôi nhốt trái phép. Việc bảo vệ ĐVHD cũng đồng thời nhằm tạo ra những điều kiện để các loài này sinh trưởng và phát triển nhằm tránh khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng.
  • 23. 14 ĐVHD là một thành tố quan trọng, không thể mất đi của hệ sinh thái, thế nhưng ĐVHD trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều mối đe dọa chính và tiềm tàng do hậu quả của mất sinh cảnh, nạn săn bắt, buôn bán trái phép. Mặc dù vậy, hiện nay nhận thức trong vấn đề bảo vệ ĐVHD vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Chặt phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản, xây dựng cơ sở hạ tầng và canh tác nông nghiệp là những nguyên nhân chính làm mất sinh cảnh của các loài ĐVHD. Nếu như diện tích rừng tự nhiên trước đây che phủ phần lớn đất nước, hiện tại diện tích rừng Việt Nam chỉ còn lại khoảng 43% [29]. Sinh cảnh bị mất và bị chia cắt bởi việc xây dựng đường xá đã cản đường di chuyển kiếm ăn và cơ hội giao phối trong mùa sinh sản của động vật. Tuy nhiên, nạn săn bắt, buôn bán ĐVHD mới là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài ĐVHD nói chung và ĐVHD ở Việt Nam nói riêng. Săn bắt ĐVHD là một hoạt động lao động chủ yếu nhằm đảm bảo sự tồn tại của con người từ hàng nghìn năm trước. Hiện nay, việc săn bắt ĐVHD không nhằm đảm bảo nhu cầu thức ăn của đại đa số con người mà chỉ nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ của một nhóm những người giàu có, mong muốn tìm kiếm các mặt hàng “đặc biệt”. Tuy nhiên, nạn săn bắt trái phép không kiểm soát đã vượt quá “ngưỡng bền vững” khi mà tốc độ tái tạo quần thể ĐVHD không kịp đáp ứng cho nhu cầu săn bắt ngày càng cao của con người. Tội phạm về ĐVHD đang là một vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm. Tội phạm trong lĩnh vực này đang diễn ra ngày một phổ biến với mức lợi nhuận khổng lồ, ước tính khoảng 150 tỷ đô la Mỹ mỗi năm [24]. Tình hình săn bắt, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp xuyên quốc gia các loài thuộc CITES, đặc biệt đối với các loài voi, hổ, tê giác và các sản phẩm, bộ phận, dẫn xuất của chúng, diễn biến rất phức tạp trong những năm gần đây. Hơn 25.000 cá thể voi châu Phi đã bị giết hại vào năm 2012, chủ yếu tại
  • 24. 15 Trung và Đông Phi (Voi châu Phi được CITES liệt kê vào danh sách động vật gần tuyệt chủng vì hiện chỉ còn khoảng 472.000 cá thể). Loài hổ cũng đang bị săn bắt quá mức để thỏa mãn nhu cầu lấy da, lông và nhiều bộ phận khác trên cơ thể như răng, xương, móng. Nhiều bộ phận trên cơ thể hổ dùng để nấu cao, chế thuốc và làm đồ trang trí phục vụ con người. Đối với tê giác, các nước có tê giác như Nam Phi, Kenya, Zimbabwe, Ấn Độ đứng trước cảnh báo nguy cơ tê giác tuyệt chủng. Nam Phi đang đứng đầu danh sách khi các nhà bảo tồn đã chính thức cảnh báo, cả tê giác trắng lẫn tê giác đen tự nhiên của nước này có thể biến mất trước năm 2016 [39]. Biểu đồ 1.1: Số lượng tê giác bị giết hại để lấy sừng tại Nam Phi từ 2007 – 8/2015 (Nguồn: https://www.savetherhino.org). Do không thể kiểm soát được nạn săn bắt trộm, Mozambique chính thức tuyên bố quần thể tê giác ở nước này đã tuyệt chủng [36]. Hội nghị các nước thành viên CITES lần thứ 16 (CoP16) tại Thái Lan vào tháng 3/2013 đã
  • 25. 16 rút ra nhận định vì lợi nhuận cao (không kém ma túy) mà hình phạt thấp và không bị coi là tội phạm nguy hiểm ở nhiều quốc gia, nên nhiều tổ chức tội phạm buôn lậu ma túy, buôn bán người đang chuyển hướng hoạt động sang buôn lậu các loài hoang dã xuyên quốc gia. Tình hình này nghiêm trọng đến mức Liên Hợp quốc công bố buôn bán trái phép ĐVHD là hình thức hoạt động mới của tội phạm xuyên quốc gia và xếp vào hàng tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nghiêm trọng nhất, bên cạnh tội phạm về ma túy, vũ khí và rửa tiền. Tại Hội nghị London về nạn buôn bán trái phép ĐVHD tổ chức ngày 14/2/2014, trước đại diện cấp cao từ 46 quốc gia và 11 tổ chức quốc tế, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việc bảo vệ ĐVHD và sự cần thiết phải ngăn chặn nạn săn bắt buôn bán ĐVHD trên phạm vi quốc tế: “Đây không phải là một khủng hoảng về môi trường đơn thuần. Đây là một “ngành công nghiệp tội phạm xuyên quốc gia”, sánh ngang với tội phạm về ma túy, vũ khí và buôn bán người” [26]. Đặc biệt ở Việt Nam, tình hình buôn bán ĐVHD đang diễn ra hết sức phức tạp, với nhiều thủ đoạn rất tinh vi đang đẩy các loài ĐVHD của Việt Nam đến nguy cơ tuyệt chủng. Cá thể tê giác Java cuối cùng của Việt Nam đã bị giết tại Vườn quốc gia Cát Tiên để lấy sừng vào năm 2010. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, số lượng hổ trong tự nhiên của Việt Nam cũng còn chưa đến 30 cá thể [41]. Các loài vượn, vọoc, gấu, tê tê đang dần theo bước chân của tê giác đến con đường tuyệt chủng do nạn săn bắt và buôn bán ĐVHD bất hợp pháp. Bên cạnh Trung Quốc, Việt Nam hiện đang được thế giới đánh giá là nước trung chuyển và là thị trường tiêu thụ ĐVHD lớn trên thế giới [44]. Theo thông tin từ Nam Phi, có đến 80% trong tổng số các đối tượng săn bắt, buôn bán, vận chuyển trái phép sừng tê giác tại Nam Phi là người Việt Nam [45]. Do đó, sự biến mất của các loài ĐVHD không những tác động trực tiếp đến đa
  • 26. 17 dạng sinh học của nước nhà mà còn đồng thời làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Chính vì vậy, hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 đã đưa ra nhận định: “Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân” từ đó đề ra một trong các nhiệm vụ cụ thể và trọng tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”. Dựa vào các nguy cơ khác dẫn đến sự diệt vong của các loài ĐVHD, có nhiều cách thức bảo vệ ĐVHD như bảo vệ, cải tạo rừng, biển và các môi trường sinh sống khác của ĐVHD; đầu tư nghiên cứu khoa học để bảo tồn nguồn gen các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm; tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về việc bảo vệ ĐVHD, giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ ĐVHD và các sản phẩm, bộ phận của những loài này…. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự suy giảm của các quần thể ĐVHD là nạn săn bắt, buôn bán và tiêu thụ ĐVHD do con người gây ra. Vì vậy, muốn bảo vệ ĐVHD trước hết là tác động đến hành vi con người. Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ ĐVHD. Chỉ các chế tài nghiêm khắc của pháp luật mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, trong các biện pháp bảo vệ ĐVHD, cách thức bảo vệ ĐVHD bằng pháp luật là hiệu quả và cấp thiết nhất. Bên cạnh việc gia nhập các công ước quốc tế về bảo vệ ĐVHD thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước thông qua xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hết sức cần thiết và phải khẩn trương triển khai thực hiện. Tuy nhiên,để bảo vệ có hiệu quả các loài
  • 27. 18 ĐVHD, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn phải gắn liền với tăng cường và đảm bảo thực thi pháp luật trong lĩnh vực này. 1.2. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và tiêu chí đánh giá pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam Theo cách hiểu của tác giả, pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định một số hành vi, một số hoạt động mà các chủ thể cần phải tiến hành trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD và các hậu quả pháp lý mà chủ thể phải gánh chịu nếu không thực hiện/thực hiện không đúng các hoạt động này. Pháp luật về bảo vệ ĐVHD mang những đặc điểm chung của pháp luật đó là có tính quy phạm phổ biến (tính bắt buộc chung), tính xác định chặt chẽ về hình thức và tính được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước. Trong đó, tính quy phạm phổ biến thể hiện ở việc các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD có tính chất bắt buộc chung đối với tất cả các đối tượng có hoạt động liên quan đến ĐVHD; tính xác định chặt chẽ về hình thức thể hiện ở việc các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD được quy định rõ ràng để đảm bảo mọi đối tượng đặt trong hoàn cảnh tương tự đều phải ứng xử tương tự; tính được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước thể hiện ở việc các đối tượng có liên quan bị buộc phải thực hiện quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD và sẽ phải chịu những chế tài/biện pháp cưỡng chế nhất định do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành nếu không thực hiện/thực hiện không đúng các quy phạm này. Bên cạnh đó, pháp luật về bảo vệ ĐVHD còn mang những đặc điểm riêng biệt, có thể kể đến như sau: Thứ nhất là tính cụ thể: Pháp luật về bảo vệ ĐVHD điều chỉnh các
  • 28. 19 quan hệ pháp luật liên quan đến việc bảo vệ ĐVHD – là một lĩnh vực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nên có tính cụ thể. Các nguyên tắc bảo vệ ĐVHD được quy định khá chi tiết trong các quy phạm pháp luật có liên quan. Thứ hai là tính phân tán: Các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD không nằm tập trung trong một văn bản luật nhất định mà nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật của các lĩnh vực chuyên ngành như lĩnh vực môi trường, lâm nghiệp và thủy sản. Một số tiêu chí có thể được xem xét khi đánh giá pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam là: Thứ nhất, tính chất phù hợp về mặt nội dung. Trong đó, cần đánh giá quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã có phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; có phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, phù hợp với năng lực thực thi của cơ quan chức năng có thẩm quyền hoặc phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế hay không. Thứ hai, tiêu chuẩn về mặt hình thức. Trong đó, cần đánh giá được các yếu tố như tính toàn diện của hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD, tính thống nhất, tính đồng bộ và hình thức thể hiện, kỹ thuật lập pháp của văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD. 1.2.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và chú trọng việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có việc bảo vệ các loài ĐVHD. Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng có thể coi là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến bảo vệ ĐVHD [5]. Tuy nhiên, ĐVHD chỉ được đề cập khá sơ sài trong văn bản đầu tiên này.
  • 29. 20 Ngay từ những năm xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, trong khi phải giải quyết nhiều vấn đề cấp bách đảm bảo dân sinh và sản xuất phục vụ chiến tranh vệ quốc, Nhà nước ta vẫn quan tâm và ra Nghị định 39/CP ngày 05/04/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng nhằm “bảo vệ và phát triển những loài có ích, hiếm và quý, đồng thời khai thác hợp lý tài nguyên về chim, thú rừng”. Chủ trương bảo vệ các loài ĐVHD tiếp tục được kế thừa và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước nhà. Trong những năm gần đây, trước tình trạng săn bắt và buôn bán ĐVHD diễn ra ngày càng phức tạp, Đảng và Nhà nước đã tiếp tục khẳng định quan điểm này trong nhiều văn kiện quan trọng như Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Luật Đa dạng sinh học (Luật số 20/2008/QH12) được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và gần đây nhất là Nghị quyết số 24 NQ/TW, ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” và Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20 tháng 2 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài ĐVHD, nguy cấp, quý, hiếm”. Dưới chủ trương, đường lối của Đảng, công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo vệ ĐVHD được các cơ quan chức năng triển khai tích cực bằng nhiều biện pháp như: - Tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD như CBD, CITES, thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Việt Nam trong việc chung tay cùng thế giới bảo vệ các loài ĐVHD nói riêng và đa dạng sinh học nói chung của quốc gia cũng như thế giới. - Thành lập và hoàn thiện cơ chế quản lý tại các vườn quốc gia, khu
  • 30. 21 bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo tồn toàn diện các hệ sinh thái đặc trưng, môi trường sống của những loài ĐVHD khỏi sự khai thác, can thiệp của con người và qua đó bảo vệ các loài ĐVHD đặc hữu hoặc đang nguy cấp tại khu vực đó. - Xây dựng và ban hành Sách đỏ Việt Nam - Danh sách các loài động vật, thực vật ở Việt Nam thuộc loại nguy cấp, quý, hiếm,đang suy giảm số lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Đây là căn cứ khoa học quan trọng để Nhà nước ban hành những Nghị định và Chỉ thị về việc quản lý bảo vệ và những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển những loài ĐVHD ở Việt Nam. - Rà soát, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật về buôn bán, tiêu thụ động vật, thực vật hoang dã trong đó chú trọng xây dựng các chế tài đủ mạnh, đủ sức răn đe các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này. - Tăng cường phối hợp thực thi luật pháp dưới sự điều phối của Ban chỉ đạo Việt Nam – WEN do Chính phủ thành lập. Các cơ quan liên ngành có liên quan bao gồm: Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Cục Kiểm lâm, Cục Thú y, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Cục An ninh nông nghiệp phát triển nông thôn, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Văn phòng Interpol (Bộ Công an), Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính), Cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương), Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã phối hợp hoạt động tích cực và đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong công tác đấu tranh kiểm soát buôn bán ĐVHD. - Xây dựng và triển khai nhiều chiến lược, kế hoạch hành động nhằm tăng cường nỗ lực bảo tồn và kiểm soát buôn bán, tiêu thụ trái phép các loài động, thực vật hoang dã như: Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013-2020” do Bộ nông nghiệp và nông thôn xây dựng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 763/QĐ-TTg ngày 21/05/2013; Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 đã
  • 31. 22 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/07/2013; Chương trình quốc gia về bảo tồn loài hổ đến năm 2022 được Bộ Nông nghiệp và Nông thôn xây dựng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 16/04/2014. Hiện nay, Tổng cục Thuỷ sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Nông thôn cũng đang xây dựng Kế hoạch hành động bảo tồn rùa biển giai đoạn 2015-2025 và dự kiến trình Bộ trưởng thông qua vào cuối năm 2015. Về mặt hợp tác quốc tế, trong năm 2013, Chính phủ Việt Nam và Nam Phi đã ký kế hoạch hành động chung (có hiệu lực đến năm 2017) về việc bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó có việc quản lý các hoạt động chung để bảo tồn các loài hoang dã, nhất là đối với những loài ĐVHD nguy cấp, quý hiếm như tê giác, voi, gấu, hổ. - Tăng cường công tác truyền thông giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ ĐVHD của cộng đồng và hướng dẫn, phổ biến các quy định pháp luật về bảo vệ động vật đến người dân cũng như cơ quan chức năng địa phương. Đây được xem là nhóm giải pháp cơ bản, được tiến hành thường xuyên với sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các cơ quan truyền thông, báo chí trên cả nước. 1.2.3. Tổng quan các quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam Các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD hiện đang có hiệu lực thi hành tại Việt Nam bao gồm các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và các quy phạm pháp luật trong nước có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến những văn bản có liên quan trực tiếp đến bảo vệ ĐVHD. Cụ thể như sau: 1.2.3.1. Các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan trực tiếp đến bảo vệ ĐVHD Trong số các công ước quốc tế có liên quan đến bảo vệ ĐVHD đã được đề cập ở Mục 1.4, hai công ước liên quan đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD sau đây
  • 32. 23 là một bộ phận không thể thiếu của pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam. Đó là Công ước về Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity - CBD) và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora - CITES) Công ước về buôn bán quốc tế các loài hoang dã nguy cấp (CITES) Công ước CITES là hiệp định liên chính phủ có ảnh hưởng lớn nhất với sự tham gia của nhiều nước trên thế giới, để thống nhất quy định về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp sao cho các loài này không bị tuyệt chủng do buôn bán thương mại. Đối với các loài bị đe dọa tuyệt chủng hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động thương mại (được liệt kê trong Phụ lục I của Công ước), giấy phép xuất khẩu chỉ được cấp trong một số trường hợp nhất định với yêu cầu nghiêm ngặt; việc nhập khẩu những loài này cũng đòi hỏi phải có giấy phép, trong khi đó, mọi hình thức xuất, nhập khẩu vì mục đích thương mại đều bị cấm. Đối với các loài có thể có nguy cơ tuyệt chủng nếu các hoạt động thương mại không được kiểm soát nghiêm ngặt (được liệt kê trong Phụ lục II), giấy phép xuất khẩu chỉ có thể được cấp nếu việc xuất khẩu không gây bất lợi cho sự tồn tại của loài đó và nếu mọi yêu cầu cho việc xuất khẩu được đáp ứng. Đối với các loài của các quốc gia cần hợp tác quốc tế để kiểm soát các hoạt động thương mại (được liệt kê trong Phụ lục III), giấy phép xuất khẩu có thể được cấp cho mẫu vật. Việc bổ sung và hay loại bỏ các loài từ Phụ lục I và II được thực hiện bởi Hội nghị các bên, theo tiêu chí thành lập Công ước. Công ước về Đa dạng Sinh học (CBD) Công ước CBD là một hiệp ước liên chính phủ có tính ràng buộc mà các bên tham gia Công ước có nghĩa vụ pháp lý phải tuân theo. Mục tiêu chính của Công ước nhằm bảo tồn đa dạng sinh học; sử dụng bền vững các
  • 33. 24 thành phần của đa dạng sinh học; và chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học. Theo quy định tại Điều 6 Công ước, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học đang được thực hiện hoặc bằng cách áp dụng các chiến lược cụ thể hoặc bằng cách kết hợp các vấn đề cấp bách có liên quan vào các kế hoạch, chương trình và chính sách. Theo quy định tại Điều 10, việc sử dụng bền vững đa dạng sinh học phải được xem xét trong việc ra các quyết định quốc gia. Các bên tham gia Công ước cũng được yêu cầu phải xác định và kiểm soát các nguồn tiềm năng của các tác động xấu đến đa dạng sinh học để điều tiết và quản lý chúng (Điều 7). Trong các nghĩa vụ đối với các bên tham gia Công ước, các bên được yêu cầu phải tiến hành phục hồi quần thể các loài bị đe doạ, đặc biệt cần xây dựng và áp dụng pháp luật để tập trung bảo vệ các loài nguy cấp (Điều 8). Các bên tham gia Công ước cũng đồng thời được yêu cầu đánh giá tác động môi trường của các dự án có khả năng có "tác dụng phụ đáng kể" về đa dạng sinh học được yêu cầu (Điều 14). 1.2.3.2. Các văn bản quy phạm pháp luật trong nước liên quan trực tiếp đến bảo vệ động vật hoang dã Các văn bản quy phạm pháp luật trong nước được liệt kê dưới đây sẽ được sắp xếp theo trình tự thời gian với hiệu lực pháp lý giảm dần. Các văn bản quy phạm pháp luật này điều chỉnh mọi hoạt động liên quan đến việc (i) quản lý ĐVHD từ danh mục các loài ĐVHD đến điều kiện, trình tự, thủ tục để đăng ký khai thác, vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt, tặng cho, xuất, nhập khẩu ĐVHD và quy trình quản lý các hoạt động này; (ii) xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến ĐVHD từ trách nhiệm hình sự đến hành chính; (iii) xử lý tang vật là ĐVHD. Trong đó, các quy phạm quản lý và xử lý tang vật được quy định trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Luật Đa dạng sinh học (2008) và các Nghị định, Thông tư trong lĩnh vực nông – lâm
  • 34. 25 nghiệp, thuỷ sản, đa dạng sinh học và môi trường. Các quy định về xử lý vi phạm liên quan đến loài ĐVHD được quy định trong Bộ luật Hình sự (1999, sửa đổi bổ sung 2009) và các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chuyên ngành. - Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) Luật bắt đầu có hiệu lực từ 01/04/2005. Theo đó, những hành vi săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép bị nghiêm cấm. Đồng thời Luật cũng quy định việc khai thác, động vật rừng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo tồn ĐVHD. Việc kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Hiện nay, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được Quốc hội đưa vào chương trình sửa đổi, mang tính tổng quát hơn với tên gọi “Luật Lâm nghiệp”. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là đầu mối xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật này. - Luật Đa dạng Sinh học (ĐDSH) năm 2008 Luật đa dạng sinh học được thông qua ngày 13/11/2008 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2009. Luật dành riêng một Chương IV với 18 điều quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật. Theo đó, các loài ĐVHD sẽ được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm bảo vệ những vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng, quy định loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên. Luật cũng quy định về khu bảo tồn, phân cấp khu bảo tồn và những hành vi bị cấm trong khu bảo tồn. - Bộ Luật Hình Sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã có quy định về Tội vi phạm các
  • 35. 26 quy định về bảo vệ ĐVHD quý hiếm tại Điều 190. Khi Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 190 được sửa đổi thành Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Theo đó, các hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm, bộ phận cơ thể của của loại động vật đó có thể bị phạt lên tới 7 năm tù giam. - Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nghị định đã phân chia động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 02 nhóm tùy theo mức độ nguy cấp và sự bảo vệ của pháp luật đối với các loài đó. Trong đó: Nhóm IB: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Nhóm IIB: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Nghị định cũng đồng thời quy định các nguyên tắc chung trong việc quản lý và bảo vệ các nhóm loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm này. Qua 8 năm thực hiện, từ đầu năm 2013, Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì xây dựng Nghị định thay thế Nghị định này. Tuy nhiên, do không giải quyết được vấn đề trùng lặp với Nghị định 160/2013/NĐ- CP (sẽ đề cập ở sau) nên văn bản này hiện đang bị tạm dừng. - Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 82/2006/NĐ-CP) Nghị định quy định trình tự, thủ tục cụ thể hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật (kể cả loài lai) hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, bao gồm:
  • 36. 27 + Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã quy định tại các Phụ lục I, II và III của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). + Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hiê ̣n nay, một số trình tự, thủ tục theo Nghị định này đã được sửa đổi , bổ sung bởi Nghi ̣đi ̣nh 98/2011/NĐ-CP ngày 26/10/2011 về sử a đổi, bổ sung một số điều các Nghi ̣đi ̣nh về Nông nghiê ̣p. - Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản (Nghị dịnh 103/2013/NĐ-CP) Nghị định 103/2013/NĐ-CP quy định các hành vi khai thác, mua bán, thu gom, nuôi, lưu giữ, sơ chế, chế biến các loài thủy sinh nguy cấp quý hiếm hoặc khai thác, thu gom, sơ chế, bảo quản, vận chuyển các loài thủy sản trong danh mục cấm khai thác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tối đa lên đến 100 triệu đồng tùy thuộc vào khối lượng của loài thủy sinh hoặc thủy sản. Toàn bộ số thủy sinh quý hiếm hoặc thủy sản sẽ bị tịch thu và thả lại môi trường sống của chúng (nếu còn sống) hoặc chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý (nếu đã chết) - Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Nghị định 157/2013/NĐ-CP) Nghị định 157/2013/NĐ-CP là văn bản quy định mức độ xử phạt hành chính đối với các vi phạm trong hoạt động quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (trong đó có ĐVHD). Theo đó, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm; các tình tiết tăng nặng,
  • 37. 28 giảm nhẹ mà các hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động vật rừng; giết động vật rừng; vận chuyển lâm sản trái pháp luật hoặc mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản không có hồ sơ hợp pháp hoặc có hồ sơ hợp pháp nhưng lâm sản không đúng nội dung hồ sơ sẽ bị xử phạt đến 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỉ đồng đối với tổ chức. - Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Nghị định quy định hệ thống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Theo đó, loài được đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nếu (i) Số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng và (ii) Là loài đặc hữu có một trong các giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn hóa – lịch sử. Nghị định cũng quy định nguyên tắc bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và cơ chế chặt chẽ để quản lý việc khai thác; trao đổi, mua bán, tặng cho, thuê, lưu giữ, vận chuyển mẫu vật; nuôi trồng và cứu hộ loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ. Một điểm đặc biệt là danh mục loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được ban hành kèm theo Nghị định này hầu hết là các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (đề cập ở trên). Chính vì vậy, Nghị định 160/2013/NĐ-CP đã quy định chế độ quản lý loài đối với loài đồng thời thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP sẽ được áp dụng theo quy định của Nghị định 160/2013/NĐ-CP. - Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Nghị định 179)
  • 38. 29 Nghị định 179/2013/NĐ-CP là văn bản quy định mức độ xử phạt hành chính đối với các vi phạm trong lĩnh vực môi trường. Trong đó, Điều 42 có quy định về mức độ xử phạt đối với hành vi lưu giữ trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài ĐVHD thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với mức xử phạt tối đa lên đến 500 triệu đồng đối với cá nhận và 1 tỉ đồng đối với tổ chức. - Thông tư Liên tịch 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC- TANDTC ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Thông tư 19) Thông tư liên tịch này hướng dẫn thực hiện Điều 190 Bộ luật Hình sự 1999 về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ ĐVHD quý, hiếm. Theo đó, những loài động vật quý hiếm là những loài thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Đồng thời thông tư cũng hướng dẫn cụ thể căn cứ để đánh giá hành vi vi phạm là gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng. Cụ thể, Thông tư ban hành Phụ lục về việc xác định số lượng cá thể động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB để làm căn cứ xác định. Ví dụ, hành vi vi phạm liên quan đến gấu, 1 cá thể là gây hậu quả nghiêm trọng, 2 đến 3 cá thể là hậu quả rất nghiêm trọng, từ 4 cá thể trở lên là đặc biệt nghiêm trọng; trong khi chỉ cần vi phạm đối với 1 cá thể hổ là đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Thông tư này hướng dẫn quy định tại Điều 190 BLHS 1999 đối với các vi phạm liên quan đến loài “bị cấm theo quy định của Chính phủ”. Khi Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009 điều chỉnh đối tượng tại Điều 190 thành “động vật trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, phần hướng dẫn của Thông tư liên quan đến vấn đề này đương nhiên hết hiệu lực. Tuy nhiên, không có bất cứ hướng dẫn nào sau khi Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 nên
  • 39. 30 hiện Thông tư này vẫn được các cơ quan chức năng địa phương tham khảo làm căn cứ xử lý các vi phạm hình sự về ĐVHD. - Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 02/2006/TT- BTS ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thị hành Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về Điều kiện sản xuất kinh doanh một số ngành nghề thủy sản (Thông tư 62/2008/TT-BNN) Trong Thông tư này có ban hành kèm theo Danh mục những đối tượng bị cấm khai thác (thủy sản). Đây là những loài thuỷ sinh nguy cấp có phân bố tự nhiên tại Việt Nam và mọi hoạt động khai thác các loài này trong ngành nghề thuỷ sản đều bị nghiêm cấm. Ngoài ra, Thông tư cũng ban hành danh mục các đối tượng thủy sản bị cấm khai thác có thời hạn trong năm. Thời hạn này thường là mùa sinh sản của các loài thủy sinh bị cấm để tạo điều kiện cho chúng khôi phục quần thể trong tự nhiên. - Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc công bố Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển (Quyết định 82/2008/QĐ-BNN) Quyết định này nhằm ban hành Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển qua việc áp dụng các tiêu chuẩn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN (Phiên bản 2.2, 1994) và Sách đỏ Việt Nam 2007 để đánh giá mức độ quý hiếm của loài thủy sinh theo các bậc: Tuyệt chủng (EX); Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW); Rất nguy cấp (CR); Nguy cấp (EN); Sẽ nguy cấp (VU). - Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu (Thông tư 90/2008/TT-BNN) Thông tư 90/2008/TT-BNN quy định những tang vật là động vật rừng
  • 40. 31 thu được trong các vụ vi phạm sẽ được xử lý lần lượt theo trình tự quy định tại thông tư này căn cứ mức độ nguy cấp, quý hiếm của từng nhóm (IB, IIB, Phụ lục I, II CITES hay động vật rừng thông thường). Việc xử lý cũng căn cứ vào loại tang vật là động vật rừng còn sống, đã chết hay bộ phận, sản phẩm của chúng, là loài trong nước hay nhập khẩu. - Quyết định 95/2008/QĐ-BNN ngày 29/09/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc ban hành Quy chế quản lý gấu nuôi (Quyết định 95/2008/QĐ-BNN) Quyết định này là sự kế thừa Quyết định 02/2005/QĐ-BNN ngày 05/01/2005 về việc ban hành Quy định về quản lý gấu nuôi nhốt trong đó thể hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc quản lý số lượng gấu đang nuôi nhốt và ngăn chặn gấu mới từ tự nhiên bị bắt vào các trang trại. Tại Quyết định này, mọi hành vi săn bắn, bẫy bắt, mua, bán, giết mổ, vận chuyển, quảng cáo, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất khẩu gấu và sản phẩm, dẫn xuất từ gấu trái với quy định của pháp luật đều bị nghiêm cấm. Ngoài ra, Quyết định cũng đặt ra quy định về điều kiện chuồng, trại, vệ sinh, thú ý và các điều kiện đăng ký trại nuôi gấu. Gấu là loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm duy nhất ở Việt Nam hiện nay có một văn bản quy phạm pháp luật quản lý chuyên biệt đối với chúng. Từ năm 2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang xây dựng Thông tư mới thay thế Quyết định này. Tuy nhiên, Thông tư mới hiện đang gặp phải phản đối mạnh mẽ từ các tổ chức bảo tồn bởi việc cho phép tiếp tục đăng ký các cá thể gấu con được nuôi tại trại sẽ tạo kẽ hở cho việc đưa gấu từ tự nhiên vào các trang trại nuôi nhốt. Do đó, văn bản này hiện tại vẫn đang bị tạm dừng. - Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường (Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT)
  • 41. 32 Ngày 25/09/2012, Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn đã b an hành Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường. Thông tư này liệt kê 160 loài động vật rừng thông thường được phép khai thác và gây nuôi vì mục đích thương mại theo các quy định, thủ tục được đưa ra trong thông tư. 1.2.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam Xét tổng quan pháp luật về bảo vệ ĐVHD như trên, tác giả tạm phân chia các quan hệ pháp luật về bảo vệ ĐVHD thành ba nhóm cơ bản, gồm: 1) Các quy định về quản lý bảo vệ ĐVHD; 2) Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD; và 3) Các quy định về xử lý tang vật và cứu hộ ĐVHD. Ba nhóm quy định này có mối quan hệ mật thiết với nhau nên sự phân chia chỉ mang tính chất tương đối, phục vụ công tác nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn này. 1.2.4.1. Các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã Các nội dung chủ yếu trong nhóm quy định quản lý bảo vệ ĐVHD bao gồm: quy định về thẩm quyền; nguyên tắc quản lý trong việc săn bắt, nuôi nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, tặng cho, xuất - nhập khẩu, nhập nội từ biển, bảo tồn nguồn gen ĐVHD và danh mục các loài ĐVHD, các quy chế quản lý đặc biệt đối với những loài ĐVHD đặc biệt nguy cấp, quý, hiếm. Cụ thể như sau: Thứ nhất, về mặt thẩm quyền, Bộ Tài nguyên và môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là hai Bộ được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý bảo vệ ĐVHD. Cụ thể, Bộ Tài nguyên và môi trường quản lý bảo vệ ĐVHD như là một bộ phận trong đa dạng sinh học theo quy định của Luật Đa dạng sinh học; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý các mảng về ĐVHD thuộc rừng và thuỷ sinh.
  • 42. 33 Thứ hai, về nguyên tắc quản lý, tất cả các hoạt động săn bắt, vận chuyển, buôn bán, tặng cho, xuất – nhập khẩu, nhập nội từ biển ĐVHD phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và phải đăng ký, được các cơ quan chức năng có thẩm quyền ở trung ương và địa phương theo dõi quản lý. Mọi hành vi săn bắt, vận chuyển, tàng trữ buôn bán, tặng cho, xuất – nhập khẩu, nhập nội từ biển ĐVHD trái phép đều bị nghiêm cấm. Pháp luật cũng xây dựng các quy phạm chuyên biệt để bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao. Nguyên tắc trong việc quản lý đối với loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác, mua bán, tặng cho, vận chuyển.. các loài này vì mục đích thương mại. Đối với các loài ĐVHD khác tuỳ theo mức độ nguy cấp có thể bị hạn chế khai thác hoặc được phép khai thác nếu đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Thứ ba, về danh mục các loài ĐVHD. Hiện nay, pháp luật mới chỉ quy định danh mục một số loài ĐVHD bao gồm Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP; Danh mục loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo tồn, bảo vệ và phát triển ban hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ- BNN 17/07/2008; Danh mục động vật rừng thông thường ban hành kèm theo Thông tư 47/2012/TT-BNN. Tuy nhiên, hiện nay cũng có một số loài ĐVHD không được ghi nhận trong bất kỳ danh mục chính thống nào của Nhà nước như các loài chim di trú gồm chim én, chim sẻ, vịt trời, chim mỏ nước, sâm cầm... Chúng liệu có được coi là động vật rừng? Vi phạm đối với chúng sẽ áp dụng quy định nào để xử lý? Điều này đã gây nhiều lúng túng cho cơ quan chức năng địa phương trong việc áp dụng pháp luật về quản lý và bảo vệ các loài này.
  • 43. 34 Thứ tư, về nguyên tắc quản lý gây nuôi ĐVHD. Hiện nay pháp luật vẫn quy định cho phép gây nuôi vì mục đích thương mại đối với tất cả các loài ĐVHD nếu đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Đối với loài nguy cấp, quý, hiếm, điều kiện và trình tự thủ tục được thực hiện theo quy định của Nghị định 82/2006/NĐ-CP. Đối với một số loài thông thường, quy trình được quy định tại Thông tư 47/2012/TT-BNN. Các loài ĐVHD không được liệt kê trong Thông tư 47/2012/TT-BNN được hiểu là sẽ không được phép khai thác và gây nuôi vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng gây nuôi các loài không được liệt kê (sâm cầm, chim sẻ, vịt trời...) vẫn xảy ra trên thực tế và hiện gây khó khăn cho các cơ quan chức năng do không có căn cứ xử lý. 1.2.4.2. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã Các chế tài xử lý vi phạm liên quan đến ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được chia thành chế tài hình sự và chế tài hành chính. Cụ thể như sau: - Chế tài hình sự chỉ áp dụng đối với các vi phạm liên quan đến loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm mà không áp dụng đối với ĐVHD thông thường. Các loài nguy cấp, quý, hiếm này có thể là loài “nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” theo quy định của Điều 190 BLHS 2009 hoặc “hàng cấm” theo quy định tại Điều 153,154,155; “loài thuỷ sản bị cấm” theo quy định tại Điều 188. Tuy nhiên, nhìn chung các hành vi bị xử lý hình sự bao gồm: săn, bắt, giết, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán, nuôi nhốt ĐVHD hoặc sản phẩm, bộ phận của chúng. Mức phạt cao nhất được áp dụng đối với vi phạm liên quan đến động vật hoang dã là 15 năm tù (theo quy định tại Điều 155) nhưng chưa bao giờ được áp dụng trên thực tế. - Chế tài hành chính được áp dụng đa dạng đối với vi phạm liên quan đến loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm hoặc thông thường. Nhìn chung, tất cả
  • 44. 35 những vi phạm không được quy định xử lý hình sự sẽ được giải quyết trong quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chuyên ngành như lĩnh vực bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, thuỷ sản. Mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa theo quy định của các nghị định xử phạt vi phạm hành chính chuyên ngành là 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức. Các hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính cũng tương tự các hành vi bị xử lý hình sự nhưng bổ sung thêm: chế biến, thu gom (Điều 7 Nghị định 103/2013/NĐ-CP); mua ĐVHD (Điều 23 Nghị định 157/2013/NĐ-CP). 1.2.4.3. Các quy định về xử lý tang vật động vật hoang dã Liên quan đến việc xử lý tang vật đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm, nguyên tắc chung là không “phát mại” đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác, kinh doanh thương mại. Thẩm quyền quyết định xử lý tang vật đối với các mẫu vật này là do Thủ tướng Chính phủ quyết định (Thông tư 159/2014/TT-BTC). Mỗi loài ĐVHD hoặc mỗi loại tang vật thu được (cá thể chết, sống, sản phẩm, bộ phận) sẽ có các cách thức xử lý khác nhau. Đối với các cá thể sống, nguyên tắc đầu tiên được xem xét là thả về tự nhiên nếu cá thể khoẻ mạnh, chuyển giao cho trung tâm cứu hộ nếu cá thể bị thương. Việc bán chỉ được áp dụng đối với các loài ĐVHD thông thường và loài hạn chế khai thác vì mục đích thương mại. Biện pháp tiêu huỷ ĐVHD luôn là biện pháp cuối cùng được xem xét nếu ĐVHD bị bệnh dịch hoặc không thể xử lý ĐVHD bằng các biện pháp khác (Thông tư 90/2008/TT-BNN). 1.2.5. Xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Theo thống kê không chính thức trên trang thông tin thử nghiệm chia sẻ thông tin về việc thực thi Công ước của Liên hợp quốc chống lại tội phạm có tổ chức và những quyết nghị của Công ước này [40], hiện có khoảng 56 quốc gia trên thế giới đang có các quy định pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực bảo vệ
  • 45. 36 ĐVHD. Những quy định về bảo vệ ĐVHD có thể nằm trong các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học hoặc là những quy định chuyên biệt về bảo vệ ĐVHD, thậm chí là quy định bảo vệ riêng từng nhóm loài ĐVHD cụ thể. Trong phần này, luận văn không đi vào phân tích cụ thể kinh nghiệm bảo vệ ĐVHD của các quốc gia nhất định mà nhìn vào xu hướng chung của pháp luật về bảo vệ ĐVHD trên thế giới để từ đó đúc kết các bài học trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này. Nhìn tổng quan pháp luật bảo vệ ĐVHD trên thế giới có thể thấy các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD từ lâu đã tồn tại trong hầu hết các hệ thống pháp luật. Ban đầu, vấn đề được chú ý là bảo vệ những loài nhất định hoặc khu vực sinh sống của các loài hoang dã. Tuy nhiên, gần đây, xu hướng chung trên thế giới là bảo vệ các loài ĐVHD một cách toàn diện. Việc bảo vệ ĐVHD được đặt trong tổng quan bảo vệ đa dạng sinh học [23]. Đây là một sự cải thiện toàn diện nền tảng pháp lý trong vấn đề bảo vệ ĐVHD và là một bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Việc bảo vệ ĐVHD cần phải tiến hành một cách toàn diện từ ngoài vào trong. Trước tiên, pháp luật về bảo vệ ĐVHD luôn phải song hành với pháp luật bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ ĐVHD cũng cần là một ưu tiên quốc gia thể hiện qua việc xây dựng quy phạm pháp luật chuyên biệt làm nền tảng chung cho hệ thống các quy định về bảo vệ ĐVHD. Đồng thời, đối với các loài hoặc nhóm loài ĐVHD đang được đặt trong tình trạng nguy cấp, Đảng và Nhà nước cần quan tâm xây dựng các quy phạm đặc biệt để bảo vệ. Bên cạnh đó, một xu hướng khác trong pháp luật về bảo vệ ĐVHD nói riêng và bảo vệ đa dạng sinh học nói chung là “phát triển bền vững” (sustainable development). Một nghiên cứu được xuất bản bởi FAO vào năm 1984 liên quan đến pháp luật về ĐVHD và các khu bảo tồn ở châu Phi đã ghi
  • 46. 37 nhận một xu hướng (trong hầu hết các quy định của pháp luật từ những năm 1970 trở đi) theo hướng tiếp tục xem xét “quản lý” (management) và “sử dụng” (utilization) ĐVHD. Điều này hoàn toàn trái ngược với sự quan tâm nghiêm ngặt đến hành vi săn bắt và bảo vệ các loài ĐVHD trước đó (FAO, 1984). Từ đó, mục tiêu của chính sách về bảo vệ ĐVHD dần trở thành quản lý hiệu quả ĐVHD để sử dụng vào các mục đích hữu ích mà không huỷ hoại nguồn tài nguyên này. Quan điểm này đã được thừa nhận rộng rãi từ cuối những năm 1980 như là những nguyên tắc cơ bản của “phát triển bền vững” [27]. Quan điểm này nên được xem xét áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc cân bằng giữa phát triển và bảo tồn ĐVHD bởi lẽ nếu quá chú trọng đến phát triển kinh tế sẽ rất dễ dẫn đến sự lạm dụng trong việc khai thác ĐVHD và phá vỡ thế “bền vững” của sự phát triển. Ngoài ra, một xu thế quan trọng trong việc bảo vệ ĐVHD là hợp tác quốc tế. Vấn đề bảo vệ ĐVHD không còn được gói gọn là vấn đề của các quốc gia có đa dạng sinh học phong phú mà là một vấn đề chung toàn cầu. Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đã hợp tác, xây dựng các công ước quốc tế quan trọng liên quan đến bảo vệ ĐVHD. Những cam kết quốc tế ràng buộc này cũng là yếu tố quan trọng nhằm rà soát và xây dựng hiệu quả hệ thống pháp luật quốc gia về bảo vệ ĐVHD. Trong các thỏa thuận quốc tế về ĐVHD đã được thông qua trên phạm vi toàn cầu hoặc khu vực, Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (Công ước CITES) được thông qua tại Washington vào năm 1973 là văn bản pháp lý quan trọng nhất. Công ước bảo vệ các loài bị đe dọa bằng cách hạn chế và điều tiết thương mại quốc tế thông qua hệ thống giấy phép xuất, nhập khẩu. Một thỏa thuận quốc tế quan trọng khác là Công ước về Bảo tồn các loài ĐVHD di cư, được thông qua tại Bonn năm 1979 (Công ước Bonn), đòi
  • 47. 38 hỏi sự hợp tác quốc tế đối với các loài di cư thường xuyên qua ranh giới quốc tế. Công ước về Đa dạng sinh học (Công ước CBD) tuy mới được kí kết năm 1992 và có hiệu lực từ năm 1993 nhưng được coi là văn kiện trọng yếu liên quan đến phát triển bền vững và bảo vệ ĐVHD. Đây là một hiệp ước đa phương với mục tiêu phát triển các chiến lược quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học trong đó có ĐVHD. Trong khi Công ước CITES, Công ước Bonn và CBD là điều ước quốc tế quan trọng điều chỉnh trực tiếp việc bảo vệ các loài ĐVHD, các quốc gia trên thế giới cũng đã cùng thoả thuận và ký kết một số công ước liên quan đến việc bảo vệ môi trường sống cụ thể quan trọng của ĐVHD như Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt là môi trường sống của chim nước năm 1971 (Công ước Ramsar), và các ước liên quan đến Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 (Công ước Paris). Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tham gia tích cực hơn nữa vào các công ước, hiệp định quốc tế đa phương hoặc song phương về bảo vệ ĐVHD để tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ ĐVHD.
  • 48. 39 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM 2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 2.1.1. Thực trạng các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã Thứ nhất, sự phân định trách nhiệm các bộ, ngành có liên quan còn chưa rõ ràng dẫn đến chồng chéo khi thực hiện chức năng nhiệm vụ và do đó hạn chế hiệu quả hoạt động quản lý và bảo vệ ĐVHD. Trong lĩnh vực quản lý ĐVHD, cơ quan Nhà nước đóng vai trò là đầu mối là Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn . Tuy nhiên, hai văn bản hiện hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ này đều có sự trùng lặp mâu thuẫn, chồng chéo. Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2013 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về quản lý nhà nước đối với ĐVHD như sau: - Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý loài ngoại lai xâm hại, bảo tồn đa dạng sinh học tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ không bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi; (Điểm i Khoản 8 Điều 2) - Lập, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền danh mục, chương trình bảo tồn loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ không bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; danh mục loài ngoại lai xâm hại; (Điểm l Khoản 8 Điều 2) Trong khi đó, Nghị định 199/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn quy định về quản lý ĐVHD cũng quy định một trong các chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn như sau:
  • 49. 40 - Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách phát triển lâm nghiệp; chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và danh mục những loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm theo quy định của pháp luật. Chủ trì phối hợp với Bộ, ngành liên quan quản lý hệ thống rừng đặc dụng, bảo vệ hệ sinh thái rừng, các loài sinh vật rừng theo quy định của pháp luật. - Hướng dẫn và kiểm tra thực hiện quy hoạch khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quy chế quản lý về khai thác, bảo vệ phát triển nguồn lợi thủy sản sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Quy định danh mục các loài thủy sản cần được bảo tồn, bảo vệ, cần được tái tạo, các biện pháp bảo vệ môi trường các hệ sinh thái thủy sản, bảo tồn quỹ gen, đa dạng thủy sản theo quy định của pháp luật. Từ hai quy định trên có thể nhìn thấy khoảng “trùng lặp” trong quản lý khi cả hai Bộ đều có thẩm quyền quản lý đối với loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Điều này được lý giải bởi việc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có nhiệm vụ quản lý thủy sản và rừng trong đó bao gồm hầu hết ĐVHD. Trong khi đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường lại là đầu mối quản lý đa dạng sinh học và ĐVHD cũng là một bộ phận quan trọng trong đa dạng sinh học. Tuy nhiên, việc không phân định rõ vai trò của từng Bộ trong việc quản lý cụ thể đối với ĐVHD đã dẫn đến tình trạng chồng chéo, thậm chí là “ganh đua” trong việc để giành quyền quản lý các loài ĐVHD, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm. Thứ hai, các văn bản về quản lý danh mục ĐVHD còn nhiều hạn chế. Hiện nay đang đồng thời tồn tại khá nhiều “danh mục” có bao gồm các loài ĐVHD. Một số danh mục có thể kể tên như Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP; Danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban
  • 50. 41 hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp được ban hành kèm theo Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT; Danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển được ban hành Quyết định 82/2008/QĐ-BNN; Danh mục loài thủy sản bị cấm khai thác ban hành kèm theo Thông tư 62/2008/TT-BNN. Trong số đó, riêng Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP đã có đến 69 loài động vật trùng với Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP; 9 loài trùng với Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển ban hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn và cũng có 6 loài trùng với đối tượng bị cấm khai thác ban hành kèm theo Thông tư 62/2008/TT-BNN. Ngoài ra, theo Luật ĐDSH 2008 cần ban hành Danh mục nữa gồm: i) Danh mục loài hoang dã bị cấm khai thác trong tự nhiên; và ii) Danh mục loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên theo Điều 44 Luật ĐDSH với thẩm quyền ban hành của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn , nhưng hiện nay vẫn chưa được ban hành. Tuy nhiên, một câu hỏi cũng cần được đặt ra là liệu việc ban hành thêm hai danh mục này là thực sự cần thiết trong bối cảnh đã có quá nhiều các loại danh mục ĐVHD như hiện nay? Việc tồn tại quá nhiều danh mục các loài ĐVHD, nguy cấp quý hiếm trong các văn bản pháp luật khác nhau (thậm chí một loài thuộc đồng thời nhiều danh mục trong khi đó cách thức xử lý vi phạm đối với mỗi nhóm loài lại rất khác biệt) trong bối cảnh thiếu những hướng dẫn cần thiết trong áp dụng pháp luật đã khiến các cơ quan thực thi lúng túng, đặc biệt là trong quá trình xử lý các vi phạm pháp luật có liên quan.
  • 51. 42 Bên cạnh đó, nếu như danh mục các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm thường bị trùng lặp thì danh mục các loài ĐVHD thông thường lại không đầy đủ. Hiện nay, liên quan đến nhóm loài ĐVHD thông thường này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Danh mục động vật rừng thông thường kèm theo Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT. Tuy nhiên, danh mục này chỉ bao gồm 160 loài động vật rừng, không bao gồm động vật thuỷ sinh. Như vậy, các loài động vật ngoài 160 loài được liệt kê của Thông tư 47/2012/TT- BNNPTNT như chim sẻ, kỳ nhông sẽ được coi là động vật rừng hay không? Việc khai thác và bảo vệ nhóm loài này được quy định như thế nào? Thứ ba, có sự không thống nhất trong thẩm quyền ban hành các Danh mục loài ĐVHD dẫn đến sự quan tâm không đúng mức giữa các loài khác nhau. Cụ thể, Luật ĐDSH 2008 do Quốc hội thông qua quyết định Chính phủ là cơ quan ban hành Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong đó bao gồm các loài ĐVHD thủy sinh và trên cạn (Do Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất). Luật BV&PT rừng 2004 và văn bản hướng dẫn thi hành cũng quy định Chính phủ là cơ quan ban hành Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm cần bảo vệ (Do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề xuất). Trong khi đó, đối với các loài thuỷ sinh nguy cấp, theo Luật Thủy sản 2003 và văn bản hướng dẫn thi hành thì “Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn) định kỳ công bố Danh mục các loài thuỷ sản đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và các loài thuỷ sản khác bị cấm khai thác; Danh mục các loài thuỷ sản bị cấm khai thác có thời hạn và thời gian cấm khai thác” (Điểm a Khoản 3 Điều 8, Luật Thủy sản 2003). Như vậy, giữa Danh mục loài trên cạn với loài dưới nước cần bảo vệ đã có sự khác biệt về thẩm quyền ban hành, dẫn đến có sự khác biệt về giá trị pháp lý của các văn bản ban hành.Trong khi các loài ĐVHD trên cạn được bảo vệ ở cấp độ cao hơn, quy định liên quan dến các loài thủy sinh lại đang khá “nhập nhèm”
  • 52. 43 khi chúng lúc thì được Chính phủ ban hành trong Danh mục loài nguy cấp quý, hiếm “được ưu tiên bảo vệ”, khi thì do Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) ban hành trong Danh mục loài thủy sản bị cấm khai thác hoặc loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo vệ, bảo tồn và phát triển. Điều này cũng lí giải thực tế vì sao các loài ĐVHD thủy sinh cũng luôn ít được quan tâm hơn các loài động vật rừng. Thứ tư, quy định quản lý gây nuôi ĐVHD còn tồn tại bất cập. Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam, có ba mục đích gây nuôi ĐVHD là gây nuôi vì mục đích thương mại và gây nuôi vì mục đích nghiên cứu khoa học, bảo tồn và nuôi ĐVHD làm cảnh. Tuy nhiên, các quy định quản lý hoạt động gây nuôi vì ba mục đích này đều chưa rõ ràng. Cụ thể, các quy định liên quan gây nuôi ĐVHD gồm có Nghị định 160/2013/NĐ-CP quy định hoạt động gây nuôi bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nghị định 82/2006/NĐ-CP (sửa đổi bởi 98/2011/NĐ-CP) quy định trình tự, thủ tục gây nuôi (không phân biệt mục đích) đối với loài nguy cấp, quý, hiếm thuộc Phụ lục CITES và loài nguy cấp, quý, hiếm thuộc các quy định của pháp luật Việt Nam; Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT quy định điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập trại nuôi, cơ sở nuôi và quản lý hoạt động gây nuôi với 160 loài động vật rừng thông thường (không phân biệt mục đích). Tuy nhiên, chỉ có Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT là quy định khá đầy đủ điều kiện, trình tự thủ tục thành lập trại nuôi, cơ sở nuôi và quản lý hoạt động gây nuôi thì các quy định còn lại chỉ mang tính chất khái quát chung mà chưa đi vào các tiêu chí, điều kiện, trình tự cụ thể để cho phép gây nuôi ĐVHD. Tuy vậy, như đã đề cập ở trên, Thông tư 47/2012/TT-BNN chỉ áp dụng đối với 160 loài động vật rừng nên quy trình, thủ tục gây nuôi các loài động vật rừng khác và loài ĐVHD thủy sinh thông thường hiện vẫn được bỏ ngỏ. Bên cạnh đó, đối với Nghị định 82/2006/NĐ-CP, do Nghị định này tách việc gây nuôi sinh sản và
  • 53. 44 nuôi sinh trưởng nên trong một số trường hợp xảy ra bất cập khi cơ sở được cấp phép nuôi sinh trưởng nhưng ĐVHD lại sinh sản nên phải tiến hành các thủ tục phức tạp để đăng ký. Mặt khác, trong hàng loạt các quy định về gây nuôi được ban hành (kể cả văn bản cụ thể nhất là Thông tư 47/2012/TT- BNNPTNT) cũng có thể thấy chưa có quy định nào về hướng dẫn tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế xây dựng chuồng trại nuôi nhốt cho các loài ĐVHD, ngoại trừ quy định riêng cho loài gấu (Quyết định 95/2008/QĐ-BNN). Do vậy, thực tế hiện nay cho thấy toàn bộ khâu kiểm tra chuồng trại đối với các loài thú hoang dã của cơ quan quản lý nhà nước đã bị bỏ qua hoặc không thể xử lý vì không có quy chuẩn để kết luận làm đúng hay vi phạm. Việc xác nhận của cơ quan thú y về tình trạng sức khỏe, dịch bệnh của các loài ĐVHD gây nuôi cũng còn hạn chế, bởi hiện chưa có cơ sở thú y nghiên cứu chuyên ngành. Vấn đề cho phép gây nuôi và kinh doanh thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được thể hiện trong nhiều văn bản từ Luật ĐDSH 2008, Nghị định 160/2013/NĐ-CP đến Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 và Nghị định 82/2006/NĐ-CP cũng không phù hợp với thực trạng thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Theo quan điểm của các văn bản này, cá nhân, tổ chức được phép gây nuôi và kinh doanh thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nếu có thể đáp ứng một số điều kiện nhất định của pháp luật. Quan điểm của tác giả là không phản đối việc gây nuôi thương mại các loài ĐVHD thông thường và một số loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm (không được ưu tiên bảo vệ) nhằm tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế nếu việc gây nuôi các loài này đáp ứng các điều kiện của pháp luật, được quản lý chặt chẽ và không làm ảnh hưởng tới quần thể loài trong tự nhiên. Tuy nhiên, tác giả không đồng tình với việc cho phép gây nuôi thương mại đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là vì đây là nhóm loài ĐVHD đặc biệt nguy cấp, quý, hiếm với số lượng quần thể trong tự nhiên còn lại rất
  • 54. 45 ít, chỉ riêng việc khai thác để nghiên cứu tạo nguồn giống ban đầu cũng có thể dẫn đến sự tận diệt các loài này trong tự nhiên. Trong khi đó, cơ chế vật chất, kỹ thuật và trình độ quản lý hiện tại ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý gây nuôi đối với những loài này. Đặc biệt, việc mở cửa thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm “một cách hợp pháp” sẽ dẫn đến hậu quả là cơ quan thực thi pháp luật không thể kiểm soát và phân biệt giữa các sản phẩm ĐVHD “hợp pháp” và sản phẩm “bất hợp pháp”. Rõ ràng, việc theo dõi hồ sơ và các giải pháp gắn chíp quản lý là không khả thi trong trường hợp ĐVHD đã được chế biến thành các sản phẩm và lưu thông trên thị trường. Trong một khảo sát được Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV) thực hiện tháng 7/2014 với sự hỗ trợ của 47 Chi cục Kiểm lâm trong cả nước, 79% các Chi cục cho rằng không nên cho phép gây nuôi và kinh doanh thương mại đối với ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm bởi cho rằng việc không thể phân biệt giữa cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm “hợp pháp” và “bất hợp pháp” sẽ tất yếu dẫn đến khả năng “nhập lậu”, “hợp pháp hóa” các loài ĐVHD từ tự nhiên vào trong trang trại. Do đó, các trang trại gây nuôi này không những không làm giảm áp lực khai thác từ tự nhiên mà còn đẩy nhanh các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm đến nguy cơ tuyệt chủng. Trong khi đó, ngày 31/07/2013, Thủ tướng đã có Quyết định số 1250/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là thực hiện tuyên truyền giảm nhu cầu tiêu thụ ĐVHD nhằm chấm dứt nạn khai thác, buôn bán và tiêu thụ trái phép ĐVHD. Tuy nhiên, việc cho phép gây nuôi các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm trong các trang trại và sau đó đưa vào lưu thông trên thị trường rõ ràng sẽ làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Như vậy, việc một mặt tuyên truyền giảm nhu cầu tiêu thụ và một mặt cho phép gây nuôi và kinh doanh
  • 55. 46 thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm rõ ràng thể hiện sự mâu thuẫn, không nhất quán trong chính sách bảo vệ ĐVHD ở nước ta. Trong thực tế, việc gây nuôi thương mại tràn lan một số loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm như hổ, gấu trong những năm trước đây do chính sách chưa rõ ràng và cơ chế quản lý “lỏng lẻo” đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế và khiến Nhà nước mất nhiều thời gian để khắc phục. Thứ năm, việc xá c đi ̣nh cơ quan chuyên môn thuộc Ủ y ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh chi ̣u trách nhiệm trong việc quản lý các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệhiện tại còn chưa rõ rà ng . Cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh là cơ quan chi ̣u trách nhiê ̣m kiểm tra , giám sát việc khai thác, cứ u hộ... các loài ĐVHD nhưng cơ quan này hiê ̣n ta ̣i chưa được cụthể hóa trong Nghi ̣đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP dẫn đến khó khăn cho cơ quan chứ c năng khi áp dụng . Mă ̣t khác, trong Nghị định 160/2013/NĐ-CP quy đi ̣nh UBND cấp tỉnh là cơ quan cấp phép nu ôi trồng, trao đổi, mua bán, tă ̣ng cho, lưu giữ nhưng trong mẫu hồ sơ đính kèm thì cơ quan cấp phép la ̣i là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh . Do đó , cần xem xét sử a đổi để thống nhất nội dung quy đi ̣nh ta ̣i Nghi ̣đi ̣nh 160 và các biểu mẫu đính kèm. Thứ sáu, một số văn bản phá p luật có liên quan đến bảo vệĐVHD chưa tương thích vớ i văn bản phá p luật chuyên ngà nh . Hiê ̣n nay, vấn đề bảo vê ̣ĐVHD không chỉ được quy đi ̣nh trong các văn bản pháp luâ ̣t chuyên ngành mà còn được quy định trong một số văn bản pháp luật khác có liên quan như các văn bản trong lĩnh vực đầu tư, thương ma ̣i, y tế... Tuy nhiên, các văn bản này hiê ̣n nay chưa thực sự tương thích với các văn bản pháp luâ ̣t chuyên ngành. Ví dụ, Quốc hội đã ban hành Luâ ̣t Đầu tư 2014 trong đó có Danh mục Các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích đầu tư kinh doanh (Phụ lục 3). Điều 6 Luâ ̣t Đầu tư quy đi ̣nh rõ nghiêm cấm đầu tư, kinh doanh các loài nhóm I của Phụlục 3 có nguồn
  • 56. 47 gốc từ tự nhiên. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là nhóm I của Phụlục 3 Phụ lục 3 không chỉ liê ̣t kê các loài ĐVHD được ưu tiên bảo vê ̣ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP mà còn bao gồm 02 loài ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm khác là kỳ đà hoa và kỳ đà vân . Đây là hai loài ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm thuộc nhóm IIB - Hạn chế khai thác , sử dụng vì mục đích thương ma ̣i của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Là loài nhóm IIB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP đồng nghĩa với viê ̣c hành vi khai thác , kinh doanh hay bán đấu giá kỳ đà hoa và kỳ đà vân có nguồn gốc từ tự nhiên là hợp pháp nếu đáp ứng các yêu cầu của pháp luật . Hiê ̣n nay, viê ̣c gây nuôi vì mục đích thương mại các loài kỳ đà hoa và kỳ đà vân diễn ra phổ biến tại các địa phương trên cả nước và các cá thể giống để gây nuôi đều có nguồn gốc từ tự nhiên . Luâ ̣t Đầu tư là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và đồng thời là văn bản mới nhất nên viê ̣c áp dụng văn bản này là đúng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t . Tuy nhiên, do đây không phải là loài ưu tiên bảo vê ̣và hê ̣thống pháp luâ ̣t chuyên ngành chỉ coi đây là loài “hạn chế khai thác , sử dụng vì mục đích thương mại” nên việc nghiêm cấm hoàn toàn đầu tư kinh doanh các cá thể có nguồn gốc từ tự nhiên của hai loài này là chưa có căn cứ . Thứ bảy, quy định về giấy phép vận chuyển đặc biệt còn chồng chéo. Điều 7 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP quy định “Khi vận chuyển động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng ra ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có Giấy phép vận chuyển đặc biệt do cơ quan kiểm lâm cấp tỉnh cấp”. Tuy nhiên, Điều 4, Thông tư 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn sửa đổi, bổ sung Điều 5 Quyết định 59/2005/QĐ-BNN ngày 20/10/2005 quy định Hạt Kiểm lâm huyện có thẩm quyền cấp giấy phép vận chuyển đặc biệt. Do đó, các cơ quan chức năng đã gặp lúng túng trong việc áp dụng quy định pháp luật về cấp giấy phép vận chuyển đặc biệt. Hiện nay, Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT
  • 57. 48 Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản thay thế Quyết định 59/2005/QĐ-BNN đã huỷ bỏ quy định về “Giấy phép vận chuyển đặc biệt”. Theo đó, việc vận chuyển các loại ĐVHD (bao gồm cả loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB) sẽ không đòi hỏi có “Giấy phép vận chuyển đặc biệt”. Trong bối cảnh Nghị định 32/2006/NĐ-CP có hiệu lực pháp lý cao hơn, nhưng Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT mới là văn bản mới nhất có liên quan quy định về hồ sơ lâm sản hợp pháp, do đó, các cơ quan chức năng địa phương tiếp tục gặp lúng túng trong việc nên chăng duy trì “Giấy phép vận chuyển đặc biệt” và cơ quan nào là cơ quan cấp loại giấy phép này. 2.1.2. Thực trạng các quy định xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã Thứ nhất, các quy định hiện hành có liên quan đến xử lý hình sự tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD còn chưa đồng bộ và do đó, dẫn đến việc các cơ quan chức năng có cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến nỗ lực bảo vệ các loài ĐVHD, đặc biệt là loài nguy cấp, quý, hiếm. Điều 190 Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 từ quy định về “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ ĐVHD quý hiếm” thành “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” để phù hợp với việc ban hành Luật Đa dạng sinh học (2008). Với việc sửa đổi nêu trên, phần nội dung hướng dẫn Điều 190 BLHS 1999 tại Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA- VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã đương nhiên mất hiệu lực do không phù hợp với đối tượng được mô tả tại Điều 190 BLHS 2009. Theo quy định của BLHS 2009, đối tượng được bảo vệ tại Điều 190 BLHS 2009 là “động vật thuộc danh mục loài hoang dã, nguy cấp, quý,
  • 58. 49 hiếm được ưu tiên bảo vệ”. Tuy nhiên, do được ban hành trước thời điểm BLHS sửa đổi, bổ sung, Thông tư 19 chỉ hướng dẫn về “các loài ĐVHD bị cấm theo quy định của Chính phủ”. Mặc dù phần hướng dẫn thực hiện Điều 190 BLHS tại Thông tư 19 đã đương nhiên mất hiệu lực do đối tượng được hướng dẫn không còn tồn tại nhưng từ khi BLHS được sửa đổi (năm 2009) các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa ban hành một văn bản hướng dẫn về “Danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ” nên trên thực tế các cơ quan thực thi pháp luật vẫn áp dụng Thông tư 19 để xử lý tội phạm có liên quan về ĐVHD theo Điều 190 BLHS 2009. Theo đó, vi phạm đối với các loài ĐVHD thuộc nhóm IB Nghị định 32/2006/NĐ-CP và các loài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) sẽ bị xử lý hình sự. Trong bối cảnh đó, Nghị định 157/2013/NĐ-CP được ban hành trong đó quy định vi phạm đối với loài nhóm IB (loài thuộc Phụ lục I của CITES được đối xử tương tự) chỉ được xem xét xử lý hình sự nếu giá trị tang vật trên 100 triệu đồng và có hiệu lực từ ngày 25/12/2013. Quy định của Nghị định 157/2013/NĐ-CP là trái với cấu thành tại Điều 190 của BLHS 2009 bởi theo quy định tại Điều 190, vi phạm đối với loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ phải bị xem xét xử lý hình sự bất kể số lượng, khối lượng, giá trị tang vật. Mâu thuẫn pháp luật đã trở thành đỉnh điểm khi Nghị định số 160/2013/NĐ- CP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014) đã ban hành Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoàn toàn phù hợp với đối tượng được đề cập đến trong Điều 190 BLHS 2009. Điều đó có nghĩa là vi phạm đối với loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ mô tả trong Điều 190 BLHS 2009 sẽ đương nhiên bị xử lý hình sự bất kể số lượng, khối lượng, giá trị tang vật. Tuy nhiên, hầu hết các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
  • 59. 50 vệ trong Nghị định này đều đồng thời thuộc Danh mục loài đ ộng vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Trong khi đó, Nghị định 157/2013/NĐ-CP không có quy định loại trừ các loài này ra khỏi phạm vi xử phạt vi phạm hành chính nên một số cơ quan thực thi pháp luật tại địa phương vẫn áp dụng Nghị định 157/2013/NĐ-CP để xử phạt hành chính đối với các vi phạm liên quan đến loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nếu giá trị tang vật không vượt quá 100 triệu đồng. Đến ngày 27/04/2015, Chính phủ mới ban hành Nghị định 40/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 157/2013/NĐ-CP, theo đó khẳng định các loài ĐVHD thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 157/2013/NĐ-CP nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa quy định tại Điều 190 BLHS và Nghị định 157/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc thực thi Nghị định 157/2013/NĐ-CP trong vòng hơn một năm rưỡi đã làm giảm tính răn đe và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của đất nước khi có hàng trăm vụ việc vi phạm đáng ra phải xử lý hình sự lại chỉ chịu mức xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, cho dù quy định hướng dẫn Điều 190 Bộ luật Hình sự không đương nhiên hết hiệu lực khi Bộ luật Hình sự 2009 được ban hành, hướng dẫn này cũng đã có nhiều hạn chế trong việc xử lý các vi phạm liên quan đến sản phẩm, bộ phận của loài ĐVHD. Vướng mắc lớn nhất trong viê ̣c áp dụng Thông tư 19 là bắt buộc phải định giá (thành tiền) tang vâ ̣t là sả n phẩm, bộ phâ ̣n của ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm để xác đi ̣nh khung hình pha ̣t . Tang vâ ̣t có giá trị dưới 50 triê ̣u đồng sẽ áp dụng khung hình pha ̣t theo Khoản 1 Điều 190 và vi phạm đối với tang vật có giá trị trên 50 triê ̣u đồng sẽ áp dụng Khoản 2 Điều 190. Vâ ̣n dụng quy đi ̣nh này vào thực tiễn , trong bất cứ vụbắt giữ sản phẩm, bộphâ ̣n của ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm nào, các cơ quan chức năng cũng yêu cầu định giá trị để lấy căn cứ truy tố bị can . Tuy nhiên, vì các loài
  • 60. 51 ĐVHD được bảo vê ̣trong quy đi ̣nh của BLHS hoă ̣c được liê ̣t kê ta ̣i Phụlục I CITES hoă ̣c các Nghi ̣đi ̣nh của của Chính phủ đều là mă ̣t hàng cấm kinh doanh thương ma ̣i và do đó , không có cơ sở giá trên thi ̣t rường để xác đi ̣nh giá trị nên không thể tiến hành truy tố , xét xử đối tượng vi phạm . Trong khi đó, ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB và loài thuộc Phụ lục I CITES là “hàng cấm” nhưng ranh giới giữa áp dụng quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 hay Điều 153,154,155 để xử lý vi phạm cũng không rõ ràng . Mă ̣c dù Thông tư 19 quy đi ̣nh “Trường hợp các loại sản phẩm này đã được chế biến, chế tác thành hàng hoá hoặc nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất... thì xử lý theo quy định của pháp luật đối với hàng cấm” nhưng các sản phẩm , bô ̣phâ ̣n ĐVHD thường được sử dụng luôn như một loa ̣i hàng hóa hoặc nguyên liệu nên sự phân biê ̣t này là không đủ rõ ràng để tách ba ̣ch viê ̣c áp dụng quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 và Điều 153,154,155. Thứ hai, quy định tội phạm về ĐVHD tại Điều 190 BLHS chưa hoàn thiện Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 hiê ̣n nay, chỉ hành vi “săn, bắt, giết, vâ ̣n chuyển, buôn bán” loài nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣hoă ̣c “vâ ̣n chuyển, buôn bán sản phẩm, bộ phận” của loài này mới bị xử lý hình sự. Điều này dẫn đến vướng mắc nếu đối tượng vi pha ̣m bi ̣phát hiê ̣n khi đang “tàng trữ” các cá thể nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣đã chết hoă ̣c đang “nấu cao” cá thể/bô ̣phâ ̣n loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣. Theo đúng quy đi ̣nh ta ̣i BLHS , không thể xử lý các hành vi vi phạm này b ằng chế tài hình s ự bởi chúng không đư ợc ghi nhận trong cấu thành tội phạm ta ̣i Điều 190. Nếu xem xét trên tí nh hợp lý có thể thấy hoa ̣t động “săn bắt , giết, vâ ̣n chuyển, buôn bán” tất yếu luôn đi kèm với hành vi “tàng trữ” . Trong khi đó , hành vi “nuôi nhốt” (đã được ghi nhâ ̣n trong BLHS ) tuy cũng mang ý nghĩa “tàng trữ” nhưng sẽ chỉ phù hợp với cá thể ĐVHD còn sống mà không phải là căn cứ để xử lý các vụviê ̣c liên quan đến cá thể ĐVHD đã chết.
  • 61. 52 Viê ̣c không quy đi ̣nh hành vi “tàng trữ” trong BLHS dẫn đến trường hợp khi phát hiê ̣n nghi pha ̣m “tàng trữ” ĐVH D nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣, để bắt và xử lý hình sự được đối tượng vi phạm theo đúng quy đi ̣nh pháp luâ ̣t, các cơ quan chức năng địa phương thường phải mất nhiều thời gian theo dõi và đảm bảo bắt đối tượng t rên đường “vâ ̣n chuyển” hoă ̣c “buôn bán” mà không thể tiến hành bắt giữ khi hàng hóa đang được lưu giữ tại kho. Trong khi đó , hành vi “nấu cao”, “chế biến” ĐVHD cũng gây nguy h ại lớn cho xã hội, tác động trực tiếp đến các loài ĐVHD tương tự như những hành vi khác được mô tả trong cấu thành Điều 190 của BLHS. Tuy không được ghi nhâ ̣n trong Điều 190 – đồng nghĩa với viê ̣c không thể xử lý hình sự đối với vi pha ̣m này nhưng xét thấy tính chất nguy ha ̣i của hành vi , nhiều đi ̣a phương đã có các quan điểm rất khác biê ̣t khi xử lý vi pha ̣m này. Vụ việc tham khảo Trong vụ việc “nấu cao hổ” với tang vật là da và thịt hổ đang được nấu trong nồi do ba đối tượng Đào Công Đức, Trương Đình Vinh, Nguyễn Văn Kiểm thực hiện ngày 17/05/2013 tại Hà Tĩnh, cơ quan chức năng huyện Nghi Xuân chỉ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng vi phạm vì cho rằng Điều 190 BLHS hiện hành không có xử lý đối vớ i hà nh vi “nấu cao”. Trong khi đó, trong vụ việc “nấu cao hổ” tại Thanh Xuân, Hà Nội do bị cáo Nguyễn Thị Thanh tiến hành ngày 09/01/2012, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đã tuyên 12 tháng tù giam đối với bị cáo Thanh theo Điều 190 BLHS hiện hà nh. Như vậy, cùng hành vi “nấu cao hổ” nhưng đã có hai cách thức xử lý khác biệt của các cơ quan chức năng địa phương. Trong đó, cách thứ c xử lý đầu tiên tuy đúng theo quy đi ̣nh của phá p luật nhưng không có ý nghĩa răn đe phòng ngừa tội phạm. Cách thức thứ hai tuy hợp lý nhưng hành vi lại không phù hợp vớ i mô tả tại Điều 190 BLHS hiện hà nh. Hồ sơ số 3928/ENV và 4969/ENV– Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV)
  • 62. 53 Kinh doanh các loài ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣ hiê ̣n là ngành nghề cấm đầu tư , kinh doanh theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t Đ ầu tư 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014). Tuy nhiên, nếu như hành vi “sản xuất” “tàng trữ” trái phép hàng cấm được ghi nhâ ̣n trong BLHS thì hành vi “chế biến” (tương tự với “sản xuất” ), “tàng trữ” ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣– cũng là một loại hàng cấm “đầu tư, kinh doanh” la ̣i không thể xử lý bằng chế tài hình sự theo Điều 190. Điều này cũng thể hiê ̣n sự không tương thích trong các quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 với các quy đi ̣nh khác của BLHS. Một vấn đề khác ta ̣i Điều 190 BLHS hiê ̣n hành là Điều luâ ̣t này chỉ xử lý đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣. Điều này có nghĩa là vi pha ̣m đối với các loài ĐVHD thông thường dù số lượng lớn đến mức độ nào cũng không thể xử lý hình sự . Theo Báo cáo số 683/BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 của Cục Kiểm lâm về Công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2015, tuy số lượng các vụ vi phạm liên quan đến ĐVHD có chiều hướng giảm nhưng số lượng ĐVHD bị tịch thu trong các vụ việc nói trên lại không đi theo chiều hướng này. Mặt khác, số lượng tang vật ĐVHD bị tịch thu chủ yếu là các loài ĐVHD thông thường. Điều này cho thấy tội phạm về ĐVHD hiện nay đang có xu hướng mở rộng quy mô và các loài ĐVHD thông thường hiê ̣n đang là đối tượng thường xuyên bi ̣buôn bán . Viê ̣c không thể sử dụng chế tài hình sự để can thiệp và răn đe các đối tượng vi phạm đối với các loài ĐVHD thông thường s ẽ sớm khiến các l oài này b ị đẩy vào nhóm loài nguy cấp cần được “ưu tiên bảo vệ”. Và lúc đó, các biện pháp bảo vệ đối với nhóm loài này sẽ là quá muộn. Quy đi ̣nh hiê ̣n hành ta ̣i Điều 190 chỉ giới hạn trong việc điều chỉnh những quan hệ xã hội hiện đang tồn tại mà không hề dự liệu và có biện pháp ngăn chặn nguy cơ tội phạm có thể xảy ra trong tương lai.
  • 63. 54 Vụ việc tham khảo Năm 2012, đối tượng Lê Anh Chiến (sinh ngày 15/11/1971, thường trú tại Hương Sơn, Hà Tĩnh) bị truy tố vì hành vi vận chuyển trái phép 209 kg ngà voi – loài động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và bị xử lý hình sự với mức án ba năm tù giam cho hưởng án treo. Tuy nhiên, ngày 10/01/2013 (trong thờ i gian hưởng á n treo) đối tượng nà y tiếp tục vận chuyển trái phép cá c loà i ĐVHD . Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ lần vi phạm trước , trong lần phá t hiện thứ hai , đối tượng đang trên đườ ng vận chuyển 148 cá thể ĐVHD gồm 80 cá thể kỳ đà hoa và 68 cá thể rùa răng nặng 709,5 kg trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Đây là cá c loà i hiện chưa “được ưu tiên bảo vệ” nên đối tượng chỉ b ị xử phạt hành chính 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Hồ sơ số 3715/ENV và 4660/ENV – Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) Cũng tương tự như các loài ĐVHD thông thường , vi pha ̣m đối với các loài ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm thuô ̣c Phụlục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài đô ̣ng, thực vâ ̣t hoang dã nguy cấp (CITES) không có phân bố trên lãnh thổ Viê ̣t N am nhưng thường xuyên bi ̣vâ ̣n chuyển , mua bán như sừ ng tê giác hay ngà voi châu Phi sẽ không thể áp dụng quy đi ̣nh ta ̣i Điều luâ ̣t “chuyên ngành” này để xử lý . Điều này có nghĩa là vi pha ̣m đối với ngà voi châu Á sẽ được xử lý hình sự theo Điều 190 trong khi vi pha ̣m đối với ngà voi châu Phi sẽ không thể áp dụng quy đi ̣nh này . Trong trường hợp đó , chỉ có thể xem xét các loài ĐVHD không có nguồn gốc từ Viê ̣t Nam này là “hàng cấm” để xử lý hình sự theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 153, 154, 155. Tuy nhiên, việc xác định cụ thể loại ĐVHD nào được xem là “hàng cấm” và việc áp dụng các quy định tại Điều 153, 154, 155 BLHS để xử lý tội phạm về ĐVHD vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập.
  • 64. 55 Trước đây Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh ban hành kèm theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ chỉ quy định “chung chung” về ĐVHD được xem là hàng cấm gồm: “ĐVHD (bao gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến) thuộc danh mục điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định” và “động vật quý hiếm thuộc danh mục cấm khai thác và sử dụng” theo quy định của Công ước CITES và Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Nếu hiểu theo mô tả của Danh mục này, tất cả các loài ĐVHD nguy cấp thuộc Phụ lục công ước CITES (Phụ lục I, II, III) và thuộc Danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP (Nhóm IB) đều được coi là “hàng cấm” và do đó, hành vi vận chuyển, buôn bán trái phép qua biên giới hoặc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán các loại ĐVHD này ở mức độ nhất định (gây hậu quả nghiêm trọng, hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm) thì sẽ bị xem xét xử lý hình sự theo Điều 153, Điều 154, Điều 155 BLHS. Việc xác định đối tượng ĐVHD bị tác động bởi tội phạm theo Điều 153, 154, 155 BLHS rất rộng nhưng lại chưa hợp lý (mức độ nguy cấp của các loài thuộc 03 Phụ lục của CITES và cơ chế quản lý đối với chúng là rất khác biệt do đó không thể coi tất cả các loài thuộc CITES là “hàng cấm”) và không có hướng dẫn rõ ràng dẫn đến việc trên thực tế, các cơ quan thực thi pháp luật gần như không áp dụng quy định này để xử lý các tội phạm về ĐVHD do quan ngại có thể hiểu không đúng hoặc áp dụng sai Điều luật. Hiê ̣n nay, với viê ̣c ban hành Luật Đầu tư 2014 và quy định cụ thể các loài ĐVHD cấm đầu tư kinh doanh bao gồm các loài thuô ̣c Phụlục I của Công ước CITES và các loài Nhóm I – Nhóm các loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích đầu tư kinh doanh đã phần nào giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, một vấn đề khác là c ấu thành tội phạm theo Điều 153, 154, 155 thuộc loại cấu thành tội phạm hỗn hợp, tức là phải xác định được hậu quả
  • 65. 56 của vi phạm hoặc đối tượng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý hình sự (chưa được xóa án tích) cho một số hành vi tương tự như hành vi phạm tội mà còn vi phạm thì mới đáp ứng cấu thành tội phạm theo Điều 153, 154, 155 BLHS. Theo đó, Điều 153, 154, 155 BLHS chỉ áp dụng cho vi phạm đối với “hàng cấm” nếu „hàng cấm” này “có số lượng lớn” trở lên. Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể khối lượng, số lượng ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm như thế nào thì được coi là “hàng cấm” “có số lượng lớn”, “có số lượng rất lớn” hoặc “hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn”. Chính vì vậy, một số lượng lớn các vụán buôn lâ ̣u sừ ng tê giác , ngà voi từ nước ngoài về Viê ̣t Nam hiê ̣n đang không thể xử lý , làm giảm ý nghĩa răn đe , phòng ngừa đối với loại tội phạm này. Vụ việc tham khảo Chỉ tính riêng từ năm 2010 đến nay, cơ sở dữ liệu của ENV đã ghi nhận 76 vụ vi phạm liên quan đến vận chuyển /buôn lậu ngà voi và sừ ng tê giác được phát hiện . Tuy nhiên, ENV chỉ ghi nhận 2 vụ vi phạm về ngà voi được đưa ra xét xử . Trong cá c vụ việc đã được đưa ra xét xử, các cơ quan chứ c năng đều tiến hà nh đi ̣nh giá số ngà voi bi ̣ti ̣ch thu để á p dụng khung hình phạt cho đối tượng vi phạm (tuy rằng đây là mặt hà ng cấm kinh doanh nên không có giá thi ̣trườ ng để đối chiếu). Hình phạt tối đa được á p dụng đối vớ i một đối tượng vi phạm là 18 tháng tù treo. Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV). Lưu ý : Số liệu trên được thống kê trên cơ sở dữ liệu quốc gia của ENV thiết lập từ năm 2005. Không loại trừ trườ ng hợp một số vụ việc đã được xét xử nhưng không được ENV ghi nhận. Năm 2014, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã chủ trì soạn thảo Thông tư hướng dẫn về khối lượng ngà voi, sừng tê giác như thế nào thì được coi là “lớn”, “rất lớn” hoặc “đặc biệt lớn”. Thông tư hướng dẫn này ra đời sẽ tạo
  • 66. 57 điều kiện rất thuận lợi cho việc áp dụng các quy định tại Điều 153, 154, 155 để xử lý đối với các vi phạm liên quan đến sừng tê giác và ngà voi. Tuy nhiên, quy định này lại không hề có ý nghĩa đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được coi là “hàng cấm” khác. Thứ ba, quy định “Tội huỷ hoạ nguồn lợi thuỷ sản” tại Điều 188 vẫn còn nhiều thiếu sót. Điều 188 BLHS quy định về “Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản” theo đó, một trong các hành vi được xem là cấu thành tội phạm theo quy định của Điều này là hành vi “Khai thác các loài thủy sản quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ” nếu hành vi này “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”. Tính tới thời điểm hiện tại, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Danh mục các loài thủy sinh quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ (đính kèm Quyết định 82/2008/QĐ- BNN, sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 01/2011/TT-BNNPTNT) và Danh mục các loài thủy sinh bị cấm khai thác (Phụ lục Thông tư 62/2008/TT-BNN). Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong đó có liệt kê một số loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm như rùa biển. Chính việc có nhiều danh mục các loài “thủy sản quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ” trong khi không có hướng dẫn nào về việc thực thi Điều 188 BLHS dẫn đến việc các cơ quan thực thi pháp luật gần như không thể áp dụng quy định này để xử lý đối với các vi phạm liên quan đến loài “thủy sản quý hiếm bị cấm” như trong cấu thành Điều 188 BLHS bởi lo sợ “áp dụng nhầm” Danh mục, không đúng dụng ý của nhà làm luật. Mặt khác, một trong các trường hợp để hành vi “khai thác thủy sản quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ” được truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 188 BLHS là hành vi đó phải “gây hậu quả nghiêm trọng”. Tuy
  • 67. 58 nhiên, tương tự như đối với “danh mục loài thủy sản quý hiếm bị cấm”, hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc khai thác với hậu quả “bao nhiêu” và “như thế nào” thì được coi là khai thác “gây hậu quả nghiêm trọng” hay “hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” để áp dụng các khung hình phạt của Điều 188 BLHS. Chính vì thế, tuy có quy định tại Điều 188 BLHS nhưng hầu hết các vi phạm liên quan đến các loài thủy sản nguy cấp, quý hiếm đều chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 103/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 12/09/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản (sau đây gọi tắt là “Nghị định 103”). Bên cạnh đó, theo quy định hiện hành của BLHS, chỉ hành vi “khai thác” các loài thủy sản quý, hiếm bị cấm gây hậu quả nghiêm trọng mới được xem xét xử lý hình sự. Các hành vi giết, mua bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, nuôi, nhốt, chế biến không thể xem xét xử lý hình sự do không đáp ứng được các hành vi cấu thành tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều 188 BLHS. Xét đến mục đích cao nhất của Điều 188 BLHS là nhằm bảo vệ và duy trì số lượng quần thể các loài thủy sản quý, hiếm bị cấm, trong khi đó các hành vi giết, mua bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, nuôi, nhốt, chế biến cũng dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng số lượng quần thể của các loài này. Thêm vào đó, xem xét trên tính hợp lý, hoạt động khai thác “gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ luôn đi kèm với các hành động giết, mua bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, nuôi, nhốt, chế biến bởi bản thân hoạt động này không mang lại nhiều lợi ích cho các đối tượng vi phạm. Nói cách khác, hoạt động khai thác “gây hậu quả nghiêm trọng” chỉ là hoạt động kéo theo do nhu cầu mua, nuôi nhốt và được trợ giúp bởi hoạt động vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, giết, chế biến. Các hành vi này có liên hệ một cách chặt chẽ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng quần thể các loài thủy sinh nguy cấp, quý hiếm
  • 68. 59 bị cấm và cần được quản lý một cách đồng bộ. Tuy nhiên, xử phạt hành chính là không đủ sức răn đe so với tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi khai thác, giết, mua, bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, nuôi, nhốt, chế biến các loài thủy sản quý hiếm bị cấm. Tương tự như các loài ĐVHD khác, các loài thủy sinh hoang dã quý hiếm trong nước sẽ sớm tuyệt chủng nếu như pháp luật không có những sửa đổi kịp thời nhằm đưa ra những chế tài nghiêm khắc, đủ tính răn đe cho các đối tượng vi phạm. Vì vậy, việc không quy định xử lý hình sự hành vi giết, mua, bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, chế biến, nuôi, nhốt các loại thủy sản quý hiếm bị cấm nếu gây hậu quả trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự mà còn tiếp tục vi phạm là không tương thích với các quy định pháp luật khác của BLHS liên quan đến “hàng cấm” và “loài hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Thứ năm, quy định về xử lý vi phạm hành chính trùng lặp, mâu thuẫn Hiện tại các quy định về xử lý vi phạm hành chính về quản lý bảo tồn ĐVHD được quy định rải rác trong rất nhiều văn bản pháp luật nên nguy cơ trùng lặp, mâu thuẫn giữa chúng với các quy định là điều khó tránh khỏi. Cụ thể là: - Xử lý vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm được thực hiện theo quy định của Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. - Xử lý vi phạm các quy định về bảo vệ các loài thuỷ sản được thực hiện theo Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; - Xử lý vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là “hàng cấm” được thực hiện theo Nghị định số 185/2013/NĐ- CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
  • 69. 60 - Xử lý vi phạm về lưu giữ sản phẩm, bộ phận loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được thực hiện theo quy định tại Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Điều 42, 43, 44). Ví dụ cụ thể về sự mâu thuẫn, chồng chéo là hành vi buôn bán loài ĐVHD thuỷ sinh thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ như rùa biển có thể xử lý theo quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị định 103/2013/NĐ-CP. Thậm chí, do rùa biển cũng đồng thời thuộc danh mục đối tượng thuỷ sản cấm khai thác và Danh mục thuỷ sinh nguy cấp quý, hiếm cần được bảo vệ, bảo tồn và phát triển nên có đến hai quy định xử phạt vi phạm hành chính trong Nghị định 103/2013/NĐ-CP có thể được đồng thời áp dụng cho hành vi “buôn bán” rùa biển là Điều 7 và Điều 28. Thứ sáu, căn cứ xử lý vi phạm hành chính bất hợp lý Hiện nay, giá trị bằng tiền là căn cứ xử lý hầu hết các vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường nói chung và bảo vệ ĐVHD nói riêng. Cụ thể, hầu hết các mức hình phạt để xử lý vi phạm đối với ĐVHD nguy cấp, quý hiếm đều căn cứ vào giá trị quy ra tiền của động vật, bộ phận hoặc dẫn xuất của chúng (Nghị định 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, Nghị định 179/2013/NĐ- CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường). Điều này là bất hợp lý khi quy định của Nghị định 157/2013/NĐ-CP được áp dụng với các vi phạm liên quan đến loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB và Nghị định 179/2013/NĐ-CP được áp dụng đối với loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Bởi lẽ theo quy định của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, các loài động vật rừng nhóm IB là loài “nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại” và theo quy định của Luật Đầu tư 2014
  • 70. 61 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2015), kinh doanh loài thuộc Phụ lục 3 của Luật (bao gồm tất cả các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) là ngành nghề cấm đầu tư, kinh doanh. Điều này có nghĩa là các loài này là “hàng cấm” và không có giá chính thống trên thị trường. Việc pháp luật cấm buôn bán các loài này nhưng lại xử lý vi phạm liên quan đến “hàng cấm” đó dựa trên giá trị xác định từ các giao dịch trái pháp luật là phi logic. Nếu pháp luật thừa nhận giá trị giao dịch đó là có tồn tại thì cũng đồng nghĩa thừa nhận có một thị trường chứa đựng giao dịch phi pháp đang tồn tại song song (thực tế được gọi là thị trường chợ đen). Vấn đề đặt ra là nếu cơ quan thẩm quyền không xác định được giá trị quy ra tiền của tang vật vi phạm là động vật, bộ phận hay dẫn xuất của chúng thì đồng nghĩa với việc không xử lý được hành vi vi phạm. Thực tế đã chứng minh hầu hết các vụ việc không xử lý được vì không xác định được giá trị làm căn cứ vi phạm. Vì vậy, việc thay đổi căn cứ để xem xét xử lý vi phạm là cần thiết. Trong đó, các yếu tố về trọng lượng (gam, kilogam), yếu tố bộ, họ, loài hay số lượng cá thể động vật là tang vật, hoàn toàn có thể áp dụng để xử lý hiệu quả để tránh được tình trạng trên. Ví dụ, quy định về áp dụng kilogam tại Điều 7 Nghị định 103/2013/NĐ-CP có thể là một giải pháp phù hợp với các loài nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác, kinh doanh vì mục đích thương mại. Thứ bảy, có sự chênh lệnh trong mức xử phạt vi phạm hành chính giữa loài động vật rừng và ĐVHD thuỷ sinh. Tuy cùng là các loài nguy cấp, quý, hiếm cần bảo vệ nhưng loài thủy sinh có mức phạt thấp hơn nhiều so với loài động vật rừng. Ví dụ, mức tối đa của khung hình phạt theo Nghị định 103 là 100 triệu đồng đối với cá nhân (200 triệu đồng đối với tổ chức) chỉ bằng 1/5 mức tối đa của khung hình phạt theo Nghị định 157 là 500 triệu đồng đối với cá nhân (1 tỷ đồng đối với tổ chức). Điều này cũng phản ánh mức độ quan tâm tới bảo vệ các ĐVHD thủy sinh còn chưa được tương xứng.
  • 71. 62 2.1.3. Thực trạng các quy định về xử lý tang vật và cứu hộ động vật hoang dã Thứ nhất, hiện nay, Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu (sau đây gọi tắt là “Thông tư 90”) đang được coi là “cẩm nang” được các cơ quan chức năng địa phương (chủ yếu là lực lượng Kiểm lâm) áp dụng để tiến hành xử lý tang vật ĐVHD. Tuy nhiên, văn bản này hiện đang bộc lộ nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo tồn các loài ĐVHD, cụ thể: - Văn bản này hiện chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh trong việc xử lý tang vật đối với các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB và IIB ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (sau đây gọi tắt là “Nghị định 32”), các loài động vật rừng thuộc Phụ lục I và II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES) và các loài động vật rừng thông thường “sau khi xử lý tịch thu của các vụ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”. Điều này đồng nghĩa với việc Thông tư 90 không thể áp dụng đối với tang vật loài động vật rừng tịch thu trong các vụ án hình sự và với tất cả các loài ĐVHD thuỷ sinh. - Thông tư 90 hiện đang cho phép “bán” và “bào chế thuốc” từ tang vật ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Theo quy định tại Điểm c, d Khoản 1 và Điểm c, d Khoản 2 Chương I, Phần B, Thông tư 90, tang vật là các loài ĐVHD thuộc Nhóm IB – IIB còn sống sau khi tịch thu được phép bán cho các vườn thú; đơn vị biểu diễn nghệ thuật; cơ sở gây nuôi sinh sản động vật; “tổ chức, cá nhân kinh doanh động vật rừng hợp pháp” theo quy định của pháp luật. Sản phẩm, bộ phận hoặc cá thể loài thuộc Nhóm IB - IIB đã chết được phép chuyển giao
  • 72. 63 cho cơ quan khoa học, cơ sở đào tạo, giáo dục môi trường, bảo tàng chuyên ngành, cơ quan quản lý chuyên ngành, trung tâm cứu hộ loài đó để làm tiêu bản hoặc chuyển giao cơ sở y tế để nghiên cứu, bào chế thuốc. Phương pháp này được áp dụng tương tự với các loài thuộc Phụ lục I và Phụ lục II CITES. Nhóm IB theo quy định tại Nghị định 32 là nhóm ĐVHD bị nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện thì ĐVHD (bao gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến) thuộc Phụ lục Công ước CITTES và danh mục cấm khai thác và sử dụng theo quy định của Nghị định 32/2006/NĐ-CP đều được liệt kê là hàng cấm. Theo Điều 5, Nghị định 59/2006/NĐ-CP, việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép. Như vậy, việc cho phép “bán” tang vật là các loài thuộc nhóm IB và Phụ lục Công ước CITES là không phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước. Ngoài ra, việc cho phép “bán” tang vật là các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm sẽ vô tình biến các cơ quan chức năng trở thành một mắt xích để “hợp pháp hóa” tang vật ĐVHD bất hợp pháp và đưa các tang vật này trở lại lưu thông trên thị trường với tư cách là “sản phẩm hợp pháp”. Điều đó có nghĩa là “chuỗi buôn bán trái phép ĐVHD” sẽ không cắt đứt sau khi đối tượng bị xử phạt. Do đó, trong trường hợp này, việc tịch thu tang vật ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm không có ý nghĩa răn đe mà chỉ làm giảm lợi nhuận của các đối tượng vi phạm khi phải “mua lại” ĐVHD bị tịch thu từ cơ quan chức năng. Quan trọng hơn cả , hình thức xử lý này không phù hợp với mục tiêu bảo tồn mà vô tình kích thích nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm ĐVHD và do đó tiếp tục thúc đẩy hoạt động buôn bán, tiêu thụ trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Tương tự như vậy, việc cho phép chuyển giao ĐVHD nhóm IB và
  • 73. 64 nhóm IIB đã chết, sản phẩm, bộ phận của chúng cho các cơ sở y tế để bào chế thuốc, sau đó đưa sản phẩm vào sử dụng hay bán ra thị trường cũng góp phần kích thích nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ĐVHD và vô hình trung thúc đẩy hoạt động khai thác trái phép các loài ĐVHD. + Thông tư 90 quy định việc áp dụng các biện pháp xử lý tang vật theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới, trong đó chỉ xem xét áp dụng biện pháp liệt kê sau khi không thể xử lý được bằng biện pháp liệt kê trước. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan chức năng không tiến hành tuần tự các bước như theo quy định trong văn bản pháp luật. Thay vào đó, khi tịch thu các loài ĐVHD bị thương, yếu, các cơ quan chức năng thường chọn phương án bán đấu giá (biện pháp liệt kê sau) thay vì liên hệ với các cơ sở bảo tồn, cơ sở nghiên cứu khoa học hay bảo tàng nhằm mục đích trưng bày, giáo dục môi trường (biện pháp liệt kê trước). Thứ hai, hướng dẫn về xử lý tang vật chưa đầy đủ đối với tất cả các nhóm loài ĐVHD. Bên cạnh việc các vấn đề của văn bản nguồn, hiện chưa có một văn bản thống nhất hướng dẫn xử lý tang vật chung đối với ĐVHD theo phân nhóm (động vật rừng, ĐVHD thủy sinh), cấp độ bảo vệ (ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; ĐVHD quý hiếm khác; ĐVHD thông thường) và theo chủng loại (cá thể, trứng, ấu trùng, bộ phận cơ thể, dịch thể hoặc các sản phẩm, dẫn xuất). Ngoài ra, tác giả cũng ghi nhận nhiều vấn đề về xử lý tang vật ĐVHD trong các văn bản khác. Ví dụ, về hình thức xử lý tang vật là các loài thủy sinh trong vụ việc vi phạm hành chính, Nghị định 103/2013/NĐ-CP chỉ có quy định về việc tái thả những cá thể sống về môi trường tự nhiên, tịch thu số thủy sinh quý hiếm và sản phẩm của chúng trong trường hợp vi phạm quy định về quản lý các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên, hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về hình thức xử lý sau tịch thu tang vật nào được ban hành. Xét Nghị định 160/2013/NĐ-CP, các
  • 74. 65 quy phạm về xử lý tang vật chỉ áp dụng trong trường hợp ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ khi phát hiện còn sống, yếu, bị thương hoặc chết trong quá trình cứu hộ mà không có quy định về việc xử lý đối với tang vật là các cá thể đã chết (khi được phát hiện) hoặc trứng, ấu trùng, bộ phận cơ thể, dịch thể hoặc các sản phẩm, dẫn xuất của các loài này. Đồng thời, trong các văn bản về xử lý tang vật là ĐVHD hiện còn chồng lấn. Mặc dù sau khi Nghị định 160 có hiệu lực, hơn 49 loài ĐVHD đang được quản lý bởi Nghị định 32/2006/NĐ-CP đã chuyển sang chế độ bảo vệ tại Nghị định 160/2013/NĐ-CP, các văn bản về xử lý tang vật lại không kịp thời cập nhật thay đổi này. Việc này dẫn đến thực trạng nhiều loài ĐVHD vẫn chưa được hưởng đầy đủ chế độ bảo vệ theo Nghị định 160. Lấy hai loài tê tê Việt Nam làm điển hình, trong khi “tê tê vàng” và “tê tê Java” đã được “nâng cấp” bảo vệ từ loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB thành loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160, các cơ quan chức năng vẫn áp dụng quy định tại Thông tư 90 (đối với nhóm IIB) để xử lý “phát mại” tê tê ngay khi phát hiện. Điều này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác bảo tồn loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm này. Thứ ba, thờ i điểm xử lý tang v ật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự còn chưa hợp lý . Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 76 Bô ̣luâ ̣t Tố tụng Hình sự 2003 (BLTTHS), việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử.Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. Điều này có nghĩa là trong các vụán bình thườ ng diễn ra theo đúng quy trình (không bi ̣đình chỉ ) thì cơ quan duy nhất có thẩm quyền xử lý vâ ̣t chứ ng là Hội đồng xét xử và vâ ̣t chứ ng được xử lý sau khi có quyết đi ̣nh/bản án cuối cùng của Hội đồng xét xử. Trong thời gian điều tra, xử lý vụ
  • 75. 66 án, các cơ quan có liên quan có trách nhiệm bảo quản vật chứng nguyên v ẹn, không để mất mát, lẫn lộn và hư hỏng (Điều 75 BLTTHS). Tuy nhiên, xét tính chất tang vâ ̣t ĐVHD nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣, đối với các cá thể còn sống cần ngay lâ ̣p tứ c được cứ u hô ̣và sau đó theo quy trình có thể tiến hành tái thả về tự nhiên hoặc các cá thể chết cần được tiêu hủy. Viê ̣c phải tiếp tục lưu giữ cá thể ĐVHD còn sống đã đủ điều kiê ̣n tái thả về tự nhiên hoă ̣c cá thể ĐVHD đã chết đến khi có quyết đi ̣nh /bản án cuối cùng của Hội đồng xét xử (có thể kéo dài đến vài tháng hoặc vài năm) là không cần thiết và gây lãng phí. Đây hiê ̣n cũng là một vấ n đề cần thiết có hướng dẫn của các cơ quan chứ c năng có thẩm quyền. 2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 2.2.1. Thực tiễn thi hành các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã Thứ nhất, các cơ quan chức năng địa phương không nắm rõ thứ tự ưu tiên áp dụng pháp luật khi có mâu thuẫn giữa các văn bản có liên quan. Khi Nghị định 160/2013/NĐ-CP (do Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất) được ban hành, đây được coi là Danh mục các loài ĐVHD được bảo vệ cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vị trí này trước đây thuộc về Nghị định 32/2006/NĐ-CP (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề xuất). Theo quy định tại Khoản 3, Điều 19 của Nghị định 160/2013/NĐ-CP: Chế độ quản lý đối với loài thuộc danh mục động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp quý hiếm được xác định là loài ưu tiên bảo vệ được áp dụng theo quy định tại Nghị định này [10]. Như vậy, bất kỳ sự khác biệt nào về chế độ quản lý đối với loài ưu tiên bảo vệ quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP với Nghị định 160/2013/NĐ-
  • 76. 67 CP thì sẽ áp dụng Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan chức năng địa phương vẫn không hề áp dụng quy định tại Nghị định 160/2013/NĐ-CP mà luôn coi danh mục loài được bảo vệ cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam là Danh mục động vật rừng của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Vụ việc tham khảo 1. Vụ việc vận chuyển 16 bộ xương hoàn chỉnh của Vooc chà vá chân đen đã được phát hiện ngày 12/11/2013 tại tỉnh Cao Bằng: vụ việc sau đó được đưa lên Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử. Tuy nhiên, áp dụng quy định tại Nghị định 157, vụ việc cuối cùng được chuyển về cho cơ quan kiểm lâm sở tại xử lý hành chính với mức phạt 10 triệu đồng. 2.Vụ việc giết gấu tại Phú Thọ ngày 11/09/2013: Năm 2011 hạt Kiểm lâm Thanh Sơn đã kiểm tra ông Tăng Đức (Thôn Đồng Dài, Xã Cự Thắng, Huyện Thanh Sơn, Tỉnh Phú Thọ) và xử phạt gia đình 10 triệu đồng vì hành vi nuôi nhốt gấu chưa được đăng ký, gắn chíp. Cơ quan này tiếp tục cho phép gia đình nuôi cá thể gấu trên. Ngày10/09/2013 cá thể gấu ngựa (đồng thời thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và nhóm IB) của gia đình Ông Tăng Đức cắn đứt 2 cánh tay một cháu nhỏ là người thân trong gia đình. Do đó, đến ngày 11/09/2013, ông Tăng Đức đã có giết chết cá thể gấu đang được nuôi nhốt tại gia đình và sau đó chuyển giao xác gấu cho một người tên Kiên ở Lâm Thao.Tháng 04/2014 ông Tăng Đức bị xử phạt 40 triệu VND cho hành vi giết và bán gấu. 3. Vụ việc ông Nguyễn Văn Sơn vận chuyển 26 cá thể rắn hổ mang chúa, trọng lượng 79kg tên khoa học Ophiophagus hannah là loài ĐVHD đồng thời thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và nhóm IB được phát hiện ngày 29/3/2014 tại Quảng Trị với mục đích chở ra Móng Cái để tiêu thụ: áp dụng quy định của Nghị định 157, Chủ tịch UBND
  • 77. 68 tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đức Cường đã ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Sơn với mức phạt 150 triệu đồng cho hành vi vận chuyển động vật rừng trái pháp luật. Hồ sơ số 4981/ENV, 5395/ENV và 6474/ENV – Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) Thứ hai, việc quản lý các cơ sở gây nuôi ĐVHD còn lỏng lẻo. Một trong những vấn đề lớn nhất của việc quản lý gây nuôi ĐVHD tại Việt Nam là chưa có quy định cụ thể về việc nghiêm cấm gây nuôi thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Chính vì vậy, bất chấp khả năng kiểm soát hoạt động phi pháp tại các trang trại gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm, trên thực tế, hiê ̣n nay một số loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP (nhóm loài được bảo vệ cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam) như rắn hổ mang chúa (Ophiophagus Hannah), rùa hộp trán vàng miền bắc (Cuora galbinifrons), tê tê Java (Manis javanica), tê tê vàng (Manis pentadactyla) hay một số loài thuộc Phụ lục I của CITES như rùa đầu to (Platysternum megacephalum) – là các loài cực kì nguy cấp, quý hiếm và gần như không có khả năng sinh sản trong môi trường có kiểm soát vẫn được Chi cục Kiểm lâm một số tỉnh như Hà Nội, Tây Ninh cho phép gây nuôi vì mục đích thương mại tại các trang trại. Chính các quy định pháp luật có phần “rộng mở” này đã tạo cơ hội rất lớn cho việc mở trang trại nhằm “hợp pháp hóa” ĐVHD từ tự nhiên và sau đó lưu thông hợp pháp trên thị trường, gây nhiều khó khăn cho các cơ quan thực thi trong việc kiểm soát hoạt động kinh doanh, buôn bán ĐVHD trái phép. Một số khó khăn khác trong thực thi pháp luật về gây nuôi ĐVHD có thể kể đến bao gồm thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về điều kiện chuồng trại, y tế, chăm sóc đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cũng như tiêu chí xác định cơ sở nuôi, trại nuôi phù hợp với đặc tính sinh trưởng, phát triển của
  • 78. 69 loài nuôi. Bên cạnh đó, mẫu giấy phép đăng ký về ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm còn một số bất cập như chưa có hướng dẫn ghi thông tin đối với các trại nuôi nhiều loài và hướng dẫn về cập nhật diễn biến hàng năm trên giấy phép đăng ký. Không những vậy, thiếu thốn về nhân lực, vật lực của cơ quan chức năng địa phương trong khi số lượng các cơ sở gây nuôi với quy mô nhỏ chiếm số lượng lớn khiến các cơ quan chức năng khó khăn không thể kiểm soát tình trạng gây nuôi ĐVHD tại các trang trại. Liên quan đến vấn đề quản lý, thực thi pháp luật bảo vệ ĐVHD tại các trang trại, bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai trong một cuộc phỏng vấn đã cho biết: Phần lớn thịt rừng được bày bán ở các nhà hàng là thú nuôi, tuy nhiên có một số nơi người ta cũng trà trộn thú rừng tự nhiên… Việc quản lý săn bắt, mua bán, vận chuyển động vật hoang dã đã khó, nhưng việc quản lý các sản phẩm từ động vật hoang dã còn khó hơn [34]. Theo thông tin tiết lộ từ một đối tượng chuyên mua bán ĐVHD, một trong những cách thức đối tượng thường sử dụng để “tuồn” ĐVHD vào các trang trại đó là đăng ký tăng đàn với Kiểm lâm. Các trang trại sẽ “mượn tạm” số ĐVHD từ các trang trại khác, sau đó đề nghị Kiểm lâm cấp giấy chứng nhận tăng đàn (do sinh sản). Ngay sau đó, trang trại đã sở hữu một số lượng ĐVHD (trên giấy tờ) rất lớn. Việc “nhập lậu” thêm các cá thể khác cho đúng với số liệu của Kiểm lâm trở nên hết sức dễ dàng. Trong khi đó, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có cơ chế quản lý phù hợp để ngăn chặn tình trạng này. Một ví dụ khác cũng diễn ra khá phổ biến hiến nay là nuôi nhốt ĐVHD theo kiểu “tiền trảm hậu tấu”. Theo quy trình nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng ĐVHD quy định tại Nghị định 82/2006/NĐ-CP (bổ sung bởi Nghị định 98/2011/NĐ-CP), chủ trang trại nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng ĐVHD phải
  • 79. 70 chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng tiêu chuẩn và thực hiện thủ tục đăng ký trước khi bắt đầu nuôi các loài ĐVHD. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hầu hết các trại nuôi hợp pháp đều được đăng ký theo quá trình ngược lại: nhập ĐVHD bất hợp pháp và nuôi tại các trang trại, đến khi bị phát hiện thì bị xử phạt (nếu có) và được đăng ký trại nuôi. Một vụ việc gần đây là trang trại nhân nuôi rùa Trung bộ của ông Phạm Ngọc Hoàng tại địa chỉ 146 Nguyễn Trãi, thị trấn Hai Riêng, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Theo hồ sơ của cơ quan kiểm lâm sở tại, cơ sở chăn nuôi của ông Phạm Ngọc Hoàng đã tiến hành nuôi rùa Trung Bộ từ những năm 1999, sau đó tiếp tục mua bán, nuôi nhốt rùa Trung Bộ mà không được cấp giấy phép kể từ thời điểm đó đến nay (Giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi sinh sản/sinh trưởng ĐVHD thông thường số 01/2007 do Hạt Kiểm lâm Sông Hinh cấp ngày 06/06/2007 và bị thu hồi tháng 4/2011 là Giấy phép được cấp trái quy định pháp luật và không có hiệu lực pháp lý). Thế nhưng vừa qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Yên đã đề nghị cấp Giấy chứng nhận trại nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng cho trại nuôi của ông Hoàng [38]. Sự thiếu kiểm soát tình trạng gây nuôi vì mục đích thương mại đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trong quá khứ, gây ảnh hưởng lớn đến danh tiếng của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Tiêu biểu là nạn nuôi nhốt gấu nhằm trích hút mật và nuôi nhốt hổ trước đây. Gấu ngựa và gấu chó đều là những loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ từ rất sớm, mọi hành vi săn bắt các loài này đều bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, do buông lỏng trong khâu quản lý ĐVHD, trong những năm 1990, tình trạng săn bắt gấu hoang dã và nuôi nhốt nhằm trích hút mật đã xảy ra tại hầu hết các địa phương trên cả nước. Theo thống kê năm 2005, có khoảng 4500 cá thể gấu hoang dã bị nuôi nhốt tại Việt Nam [46]. Trước phản ứng và áp lực gay gắt từ dư luận quốc tế, từ năm 2005, Nhà nước buộc phải thắt chặt quản lý nuôi nhốt
  • 80. 71 gấu. Với số lượng gấu nuôi nhốt quá lớn trong khi không có cơ sở vật chất kĩ thuật để tịch thu toàn bộ 4500 cá thể, Nhà nước đã tiến hành gắn chip và đăng ký quản lý cho các cá thể gấu được nuôi nhốt nhằm ngăn chặn nạn tiếp tục săn bắt gấu từ tự nhiên, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi trích hút mật gấu đối với cá thể gấu đang được nuôi. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, tình trạng lén lút trích hút mật gấu trái phép vẫn tiếp tục diễn ra tại các trang trại, vấn nạn du lịch trích hút mật gấu tại điểm du lịch nổi tiếng Hạ Long chỉ kết thúc vào giữa năm 2014. Cũng tương tự như gấu là tình trạng nuôi nhốt hổ. Qua điều tra từ năm 2005 đến nay, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đưa ra đánh giá các cơ quan chức năng địa phương không thể kiểm soát được số lượng cá thể hổ tại tất cả các trạng hổ đăng ký hiện nay. Số lượng cá thể hổ trên giấy tờ không khớp so với số lượng thực tế, số lượng cá thể hổ chết hay được sinh ra tại các trang trại. Sau gần 10 năm, số lượng hổ tại các trang trại hầu như không có thay đổi. Có thể xét đến ví dụ của trang trại nuôi hổ Thanh Cảnh ở tỉnh Bình Dương. Theo hồ sơ lưu tại cơ quan chức năng địa phương cho thấy, tính đến năm 2007 không có con hổ con nào được sinh ra kể từ năm 1999 sau khi có 5 con hổ con ra đời. Tuy nhiên, trong chuyến thăm quan trại hổ này vào tháng 5/2007, cán bộ điều tra của ENV phát hiện một con hổ con nhốt trong chuồng đặt liền kề với khu vực nhà hàng [33]. Điều này chứng tỏ hổ con vẫn được sinh ra tại trang trại nhưng đã không được báo cáo với cơ quan chức năng địa phương và câu hỏi đặt ra là đã có bao nhiêu con hổ được sinh ra mà không được báo cáo và chúng đã đi về đâu? Ngay trong điều tra gần nhất của ENV tại một trang trại hổ, cán bộ Trung tâm này cũng phát hiện một cá thể hổ con bất hợp pháp tại trang trại. Đồng thời, qua phỏng vấn, cán bộ thú y của trang trại cho biết họ thường xuyên buôn bán hổ tại trang trại [20].
  • 81. 72 Thứ ba, việc tạm giữ phương tiện vận chuyển khó áp dụng trên thực tế Việc tạm giữ phương tiện vận chuyển lâm sản trái pháp luật gặp khó khăn trong trường hợp chủ phương tiện đã thế chấp phương tiện, giấy tờ xe tại ngân hàng. Một số vụ đáng phải áp dụng hình thức tịch thu xe ô tô nhưng do chủ sở hữu không có lỗi nên các cán bộ chuyên ngành cho rằng không thể áp dụng. Thực tế giao dịch giữa chủ phương tiện với người vi phạm và quan hệ giữa người vi phạm và cơ quan chức năng là hai quan hệ pháp luật độc lập. Điều này khiến nhiều đối tượng vi phạm lợi dụng, thường xuyên câu kết, thuê, mượn xe của các đối tượng khác để sử dụng trong việc vận chuyển ĐVHD trái phép. 2.2.2. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý vi phạm pháp luật về động vật hoang dã Thứ nhất, việc áp dụng các quy định xử phạt đối với các vụ vi phạm pháp luật còn không hợp lý. Từ các khó khăn đã được phân tích ở mục 2.1.2 bao gồm không xác định được giá trị tang vật, không có quy định nào để áp dụng xử lý hành vi vi phạm trong thực tế, các quy định của pháp luật chồng chéo. Các khó khăn này đã dẫn đến việc xử lý không thống nhất, thậm chí là trái luật các vi phạm về ĐVHD. Một ví dụ điển hình là vụ việc đã gây tranh cãi trong hệ thống ngành toà án thành phố Hà Nội - vụ việc đối tượng Bàn Văn Phúc bị bắt tại Hà Nội ngày 20/11/2013 khi đang trên đường vận chuyển 2 cá thể rắn hổ mang chúa – loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ đi tiêu thụ. Tại Bản án sơ thẩm số 65 ngày 10/4/2014, Toà án nhân dân quận Cầu Giấy đã xử Phúc tội Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với mức phạt 30 tháng tù. Tuy nhiên, sau khi bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, Toà án nhân dân Hà Nội đã ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và yêu cầu định giá 2 cá thể rắn hổ mang chúa (trên 100 triệu đồng mới xử lý hình sự) áp dụng Nghị định 157/2013/NĐ-CP trong khi Nghị định này đã trái với quy định của
  • 82. 73 BLHS. Hiện vụ án đang được Viện Kiểm sát nhân dân Cầu Giấy kháng nghị giám đốc thẩm và được tiến hành xét xử sơ thẩm trở lại, trong đó, Toà án nhân dân quận Cầu Giấy đã tuyên y án sơ thẩm đối với vụ việc. Thứ hai, việc áp dụng quy định xử lý hình sự các vi phạm về ĐVHD tại Điều 190 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) chưa đủ sức răn đe Theo kết quả đánh giá 93 vụ việc vi phạm về ĐVHD bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong khoảng thời gian từ tháng 1/2010 tới tháng 12/2013 của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), có 30 vụ việc có hình thức xử lý là tù giam đối với (các) đối tượng tham gia vào vụ việc. Các đối tượng trong 63 vụ việc còn lại bị xử lý tù giam nhưng cho hưởng án treo (sau đây gọi tắt là tù treo), cải tạo không giam giữ hoặc xử lý hình sự với hình thức phạt tiền [21]. Cũng theo đó, với tổng số 160 đối tượng bị đưa ra xét xử, 52 đối tượng bị xử phạt tù giam và 108 đối tượng chỉ bị xử phạt tù cho hưởng treo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền. Mức phạt tù giam trung bình là 24 tháng, trong đó mức phạt thấp nhất là 5 tháng tù, mức cao nhất là 7 năm tù dành cho một đối tượng tái phạm lần thứ 2 [21]. Biểu đồ 2.1: Số lượng vụ việc và đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về ĐVHD trong giai đoạn 2010-2013 (Nguồn: Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (2014), Báo cáo “Phân tích kết quả xử lý hình sự tội phạm về động vật hoang dã).
  • 83. 74 Trong khi đó, cũng theo thống kê của Cục Kiểm lâm và Vụ Thống kê – Tổng hợp Toà án nhân dân tối cao, số lượng vi phạm liên quan đến loài ĐVHD quý hiếm rất lớn nhưng số lượng các vụ án bị truy tố, xét xử còn ít. Trong số các vụ việc đó, hình phạt tù cũng thường ít được áp dụng. Có thể thấy cụ thể qua bảng sau: Bảng 2.1: Số lượng vụ vi phạm liên quan đến động vật rừng trong giai đoạn 2006-2014 Năm Số vụ ĐV hoang dã ĐV quý hiếm 2006 1528 Không thống kê Không thống kê 2007 1242 7701 1007 2008 1406 7848 587 2009 1285 12.930 724 2010 876 12.936 508 2011 1019 18.088 895 2012 942 19.132 1.081 2013 579 13.319 600 2014 432 8.051 598 (Nguồn: http://kiemlam.org.vn). Bảng 2.2: Số lượng bị cáo và vụ việc liên quan đến ĐVHD bị đưa ra xét xử trong giai đoạn 2009-2013 Năm Số vụ xét xử và bị cáo Hình phạt từ 03 năm trở xuống Hình phạt từ 3 – 7 năm Án treo và các hình phạt khác 2009 63 vụ/65 bị cáo 35 bị cáo 3 bị cáo 57 bị cáo 2010 65 vụ/ 92 bị cáo 37 bị cáo 4 bị cáo 51 bị cáo 2011 57 vụ/91 bị cáo 22 bị cáo 01 bị cáo 68 bị cáo 2012 68 vụ/106 bị cáo 21 bị cáo 7 bị cáo 78 bị cáo 2013 74 vụ/136 bị cáo 44 bị cáo 4 bị cáo 88 bị cáo (Nguồn: Phạm Minh Tuyên (2014), Tham luận “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - Thực tiễn xét xử ở Việt Nam và một số kiến nghị)
  • 84. 75 Các con số thống kê nêu trên cho thấy việc áp dụng các quy định của pháp luật trong xét xử các tội phạm về ĐVHD còn chưa nghiêm khắc, chưa đem lại sự răn đe mạnh mẽ đối với các đối tượng vi phạm. Kết quả xét xử các vụ việc cũng cho thấy những hạn chế trong việc điều tra, xử lý các đối tượng đầu sỏ đứng sau các đường dây buôn bán và vận chuyển ĐVHD. Điểm đáng chú ý là toàn b ộ các đối tượng bị xét xử trong 93 vụ án nói trên đ ều không phải là các đối tượng đầu sỏ trong các đường dây buôn bán ĐVHD lớn. 37% 40% 19% 4% Vai trò của các đối tượng bị xử lý (52) Săn bắt (19) Buôn bán (21) Vận chuyển (10) Vai trò khác (2) Biểu đồ 2.2: Vai trò các đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về ĐVHD (Nguồn: Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (2014), Báo cáo “Phân tích kết quả xử lý hình sự tội phạm về động vật hoang dã). Như vậy, vì nhiều nguyên nhân khác nhau , các cơ quan chứ c năng đã chưa tâ ̣p trung điều tra và xử lý những đối tượng cầm đầu các đường dây buôn lâ ̣u ĐVHD lớn. 2.2.3. Thực tiễn thi hành các quy định xử lý tang vật và cứu hộ động vật hoang dã Thứ nhất, việc xử lý tang vật hiện còn gặp nhiều khó khăn. Đó là khó khăn trong việc giám định xác định loài, nhận dạng đối với sản phẩm từ ĐVHD. Công tác bảo quản tang vật là bộ phận của ĐVHD bị tịch thu chưa đảm bảo, thiếu phương tiện để đảm bảo tang vật không bị hư hỏng. Các cơ
  • 85. 76 quan chức năng không có trang thiết bị để chăm sóc sức khỏe, cơ sở vật chất thức ăn nước uống phù hợp, môi trường sống phù hợp, điều kiện kiểm dịch, thú y kinh nghiệm chăm sóc, duy trì sức khỏe, sự sống cho các ĐVHD còn sống là tang vật tịch thu nên các động vật bị yếu đi, bị bệnh, tăng nguy cơ nhiễm bệnh hoặc ốm chết trong thời gian chờ quyết định xử lý. Hiện nay cũng không có quy trình kỹ thuật hướng dẫn xử lý, cứu hộ và bảo quản, đặc biệt khó khăn về địa bàn ở vùng sâu, vùng xa và thiếu hệ thống chuyên ngành về cứu hộ, tạm nhốt ĐVHD tại các địa phương trong quá trình xử lý vụ việc. Các trung tâm cứu hộ lại hạn chế về số lượng. Không những vậy, thủ tục chuyển giao ĐVHD phức tạp cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng ĐVHD bị chết trong quá trình chờ chuyển giao. Điển hình là vụ việc xảy ra vào tháng 3/2015, cơ quan cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Lâm Đồng đã kiểm tra và phát hiện 8 cá thể cu li bị nuôi nhốt trái phép. Tuy nhiên, phải sau hơn 1 tháng kể từ ngày bị phát hiện các cá thể này mới được chuyển giao về Trung tâm cứu hộ linh trưởng Đảo Tiên – Vườn Quốc gia Cát Tiên. Thời gian dài chờ cứu hộ đã dẫn đến việc một cá thể cu li chết trước khi được chuyển giao. Ngoài ra, việc xác định nơi cưu trú của ĐVHD để cứu hộ và tái thả đồi hỏi các phương pháp kỹ thuật, công nghệ phức tạp, tốn kém nên trong nhiều trường hợp tái thả, phương pháp này không được áp dụng và do đó làm giảm khả năng sống sót của ĐVHD sau khi chúng được thả về tự nhiên. Thứ hai, tình trạng xử lý tang vật trái quy định pháp luật còn xảy ra tại nhiều địa phương. Ví dụ, mặc dù đã được nâng cấp thành loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (không được phép bán đấu giá tang vật theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP) nhưng tang vật tê tê vàng và tê tê Java (còn sống) vẫn thường xuyên được các cơ quan chức năng địa phương bán đấu giá do áp dụng quy định tại Thông tư 90/2008/TT-BNN đối với loài “động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” nhóm IIB (Nghị định 32/2006/NĐ-CP). Việc ngày
  • 86. 77 02/02/2015, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh bán đấu giá “ngay trong đêm toàn bộ 42 cá thể tê tê Java sau khi nhận chuyển giao từ Cục cảnh sát môi trường – Bộ Công An đã gây phẫn nộ trong dư luận và được đưa tin trên hơn 110 trang báo trong nước. Bên cạnh tình trạng “bán đấu giá” ĐVHD trái pháp luật như trên, trong mọi trường hợp khi pháp luật quy định được phép bán đấu giá ĐVHD (tuy không phải là biện pháp được ưu tiên áp dụng), các cơ quan chức năng liền ngay lập tức bán đấu giá tang vật. Cụ thể, theo quy định tại Mục B Thông tư 90/2008/TT-BNN, nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý tang vật là thực hiện theo thứ tự từ trước đến sau, chỉ thực hiện biện pháp sau khi không thể xử lý được bằng biện pháp trước. Đối với tang vật là loài động vật rừng nhóm IIB còn sống, các biện pháp được liệt kê theo thứ tự như sau: (i) Thả lại nơi cư trú tự nhiên; (ii) Trong trường hợp động vật rừng bị thương, ốm, yếu cần cứu hộ thì chuyển giao cho Trung tâm cứu hộ động vật; (iii) Chuyển giao cho các cơ sở nghiên cứu khoa học (bao gồm cả cơ sở nghiên cứu nhân giống), giáo dục môi trường; (iv) Bán cho các vườn thú; đơn vị biểu diễn nghệ thuật; cơ sở gây nuôi sinh sản động vật; tổ chức, cá nhân kinh doanh động vật rừng hợp pháp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thứ tự đó không được thực hiện trong thực tế mà động vật rừng còn sống sẽ ngay lập tức được bán. Đặc biệt là khi Nghị định 157/2013/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực từ cuối tháng 12/2013 đã cho phép đối với tang vật là vật phẩm tươi sống, động vật rừng bị yếu, bị thương không thuộc nhóm IB được ngay lập tức bán đấu giá (Điều 6) thì tình trạng này càng trở nên phổ biến. Biện pháp “bán đấu giá” ĐVHD sau khi tịch thu, đặc biệt đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là một vấn đề pháp luật cần được cân nhắc kỹ lưỡng bởi rõ ràng nó kích thích nhu cầu tiêu thụ các loài ĐVHD từ đó gia tăng nạn săn bắt và đẩy ĐVHD vào con đường tuyệt chủng.
  • 87. 78 2.2.4. Nguyên nhân của hiện trạng thực thi pháp luật về động vật hoang dã Từ sự phân tích tại mục 2.2.1, 2.2.2 và 2.2.3 có thể thấy khả năng thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD hiện nay còn khá yếu. Bên ca ̣nh khó khăn do mâu thuẫn trong nội ta ̣i các quy pha ̣m pháp luâ ̣t v ề bảo vệ ĐVHD – nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút hiệu quả thực thi, tác giả còn nhận thấy có một số nguyên nhân khác là (i) trình độ nhận thức và cập nhật văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD củ a cơ quan chứ c năng còn thấp ; (ii) các cơ quan chứ c năng chưa nhâ ̣n thứ c đúng tầm quan tro ̣ng của viê ̣c bảo vê ̣ĐVHD ; (iii) cơ quan chứ c năng không nhâ ̣n được các hỗ trợcần thiết và hướng dẫn ki ̣p thời để tháo gỡ khó khăn trong viê ̣c áp dụng pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ĐVHD ; (iv) công tác phối hợp liên ngành trong xử lý vi phạm còn chưa hiệu quả; (v) thiếu thốn trong cơ sở vật chất, kỹ thuật về bảo vệ ĐVHD. Thứ nhất, trình độ nhận thức và cập nhật văn bản quy phạm pháp luậ t về bảo vệĐVHD của cơ quan chứ c năng còn thấp Một trong các khó khăn trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD là viê ̣c các cơ quan chứ c năng đi ̣a phương không thường xuyên chủ động tiếp câ ̣n, câ ̣p nhâ ̣t và hướng dẫn cụthể về cách thức áp dụng văn bản pháp luật. Một ví dụcủa viê ̣c thiếu câ ̣p nhâ ̣t các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t về bảo vệ ĐVHD gây hậu quả nghiêm trọng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học là việc giải quyết mối quan hệ giữa BLHS, Nghị định 157/2013/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Như đã đề câ ̣p ở trên , theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 190 BLHS, vi pha ̣m đối với loài nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣sẽ bị ngay lập tức xem xét truy cứu trách nhiệm hì nh sự bất kể số lượng , khối lượng, giá trị tang vật . Danh mục loài này chính là Danh mục ban hành kèm theo Nghi đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, Nghị định 157/2013/NĐ-CP la ̣i quy đi ̣nh vi pha ̣m đối với loài nguy cấp ,quý hiếm thu ộc nhóm IB của Ngh ị
  • 88. 79 định 32/2006/NĐ-CP sẽ bi ̣xử pha ̣t hành chính và chỉ có thể chuyển sang xử lý hình sự nếu có giá trị trên 100 triê ̣u đồng . Do hầu hết các loài ĐVHD thuô ̣c nhóm IB của Nghi ̣đi ̣nh 32/2006/NĐ-CP đều đã được liê ̣t kê trong Danh mục loài nguy cấp , quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP nên viê ̣c Nghi ̣đi ̣nh 157/2013/NĐ-CP không loa ̣i trừ nhóm loài này khỏi pha ̣m vi điều chỉnh là trái với quy đi ̣nh của BLHS . Theo quy định tại Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 thì “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Như vậy, nếu có sự khác biệt giữa Nghị định 157/2013/NĐ-CP và BLHS về việc xử lý tội phạm về ĐVHD thì các cơ quan chức năng địa phương cần áp dụng quy định trong BLHS và Nghi ̣đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP. Thế nhưng, do không được câ ̣p nhâ ̣t về nội dung Nghi ̣đi ̣nh 160/2013/NĐ-CP và ý nghĩa của văn bản này trong viê ̣c xử lý hình sự các tội pha ̣m về ĐVHD nên hầu hết các đi ̣a phương vẫn tiếp tục xử pha ̣t hành chính các vi pha ̣m nghiêm trọng liên quan đến loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vê ̣cho đến khi Nghị định 157/2013/NĐ-CP được sử a đổi bởi Nghi ̣đi ̣nh40/2015/NĐ-CP. Thứ hai, các cơ quan chứ c năng chưa nhận thứ c đúng tầm quan trọng của việc bảo vệ ĐVHD. Do thường không coi vi pha ̣m về ĐVHD là các vi pha ̣m nghiêm trọng nên trong quá trình thực thi , các cơ quan ch ức năng địa phương còn chưa thực sự thể hiê ̣n sự quan tâm đến viê ̣c giải quyết các vi pha ̣m này . Ví dụ, hành vi quảng cáo đ ộng vật rừng trái pháp luâ ̣t hay bày bán các bình rượu ngâm đ ộng vật rừng là các vi phạm phổ biến , được quy đi ̣nh xử lý bằng các biê ̣n pháp hành chính theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 15 và Điều 23 Nghị đi ̣nh 157/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên , các vi phạm này thường xuyên không bị xem xét xử lý .
  • 89. 80 Thứ ba, cơ quan chứ c năng không nhậ n được cá c hỗ trợ cần thiết và hướ ng dẫn ki ̣p thờ i để thá o gỡ khó khăn trong việc á p dụng phá p luật về bảo vệĐVHD Trong bối cảnh pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ĐVHD còn chưa hoàn thiê ̣n , các cơ quan chứ c năng đi ̣a phương la ̣i không đ ược hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong viê ̣c áp dụng pháp luâ ̣t . Vụ việc tham khảo Ngày 19/11/2015 và 19/12/2014, theo tin bá o từ ngườ i dân được chuyển giao bởi ENV , các chiến sỹ thuộc C ục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường - Bộ Công An và Công an tỉnh Khá nh Hòa đã phát hi ện cơ sở sản xuất đồ mỹ nghệtại xã Phướ c Đồng , thành phố Nha Trang đang lưu giữ trái phép gần 7000 xác (tương đương vớ i hơn 10 tấn) rùa biển quý hiếm. Bướ c đầu, Hoàng Tuấn Hải đứ ng ra nhận là chủ sở hữu của cơ sở nà y. Ngày 7/8/2015, sau hơn 8 tháng vụ việc được phát hiện , Công an tỉnh Khánh Hòa mới có thể ra quyết định khởi tố vụ việc . Sự chậm trễ trong việc khởi tố một phần là do các cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa không biết nên á p dụng quy đi ̣nh tại Điều 190 hay Điều 155 để xử lý hình sự đối tượng vi phạm. Tuy nhiện vụ việc đã được khởi tố nhưng việc khởi tố , truy tố và xét xử đối tượng vi phạ m vẫn chưa thể tiến hà nh do cá c cơ quan chứ c năng đi ̣a phương tiếp tục tranh cãi về việc á p dụng Điều, Khoản của BLHS. Vụ việc có thể được xử lý sớ m và nhanh gọn hơn nếu cá c Bộ , ban, ngành ở Trung ương kịp thời hướng dẫn cơ quan chứ c năng tỉnh Khá nh Hòa để á p dụng đúng đắn quy đi ̣nh hiện hà nh của phá p luật. Hồ sơ số2001/ENV – Cơ sở dữ liệu Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) Thứ tư, công tác phối hợp liên ngành trong xử lý vi phạm còn chưa hiệu quả. Những khó khăn gặp phải trong hoạt động phối hợp liên ngành với các lực lượng liên quan khi tham gia quá trình xử lý các vụ vi phạm pháp luật
  • 90. 81 được chỉ ra phần lớn do thiếu cơ chế chia sẻ, trao đổi thông tin, không có hướng dẫn quy trình phối hợp cụ thể và hạn chế kỹ thuật tài chính, không có hướng dẫn quy trình phối hợp cụ thể,và hạn chế về kỹ thuật tài chính, sự phức tạp trong chuyển giao hồ sơ và chồng chéo trong chức năng nhiệm vụ. Ngoài các khó khăn kể trên, một số khó khăn cần xem xét khác đó là do địa bàn hoạt động tại vùng sâu, biên giới, đồi núi nên quá trình phối hợp với các lực lượng liên quan gặp khá nhiều hạn chế do đi lại khó khăn, trao đổi thông tin hạn chế. Thực tiễn cho thấy các khó khăn phát sinh trong quá trình phối hợp để xử lý vi phạm được giải thích bởi sự phân cấp không tương đồng giữa các cơ quan chức năng có liên quan. Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn , trong khi lực lượng Quân đội và Công an trực thuộc UBND tỉnh; công tác phối hợp không thể diễn ra xuyên suốt vì mỗi ngành, đơn vị đều có các công tác riêng của ngành; hạn chế về tài chính, mỗi ngành đều có công việc khối lượng lớn nên việc phối hợp không thể kéo dài; việc phối hợp thực thi pháp luật hiện nay chưa thực sự nhịp nhàng. Thứ năm, thiếu thốn trong cơ sở vật chất, kỹ thuật về bảo vệ ĐVHD. Một ví dụ cụ thể là các khó khăn gặp phải trong công tác cứu hộ ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm phần lớn là do thiếu kinh phí và thiếu hướng dẫn quy trình kỹ thuật cụ thể. Ngoài ra việc phối hợp các bên liên quan và xác định cơ sở cứu hộ nơi gần nhất, quy định phức tạp cũng là nguyên nhân làm cho công tác cứu hộ gặp khó khăn. Ngoài ra, những khó khăn được liệt kê thêm là do không có trang thiết bị cứu trợ phù hợp để bảo vệ an toàn cho ĐVHD. Thực tế các lực lượng có liên quan đều thiếu cán bộ chuyên ngành về bảo tồn ĐDSH, thiếu kiến thức quản lý thú y đối với ĐVHD. Đặc biệt hiện nay thiếu hệ thống chuyên ngành về cứu hộ, tạm nhốt ĐVHD tại các địa phương trong quá trình xử lý vụ việc.
  • 91. 82 Chương 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM 3.1. Sự cần thiết phải hệ thống hoá và xây dựng khung pháp luật thống nhất về bảo vệ động vật hoang dã Hội nghị CoP16 đã rút ra nhận định vì lợi nhuận cao (không kém ma túy) mà hình phạt thấp và không bị coi là tội phạm nguy hiểm ở nhiều quốc gia, nên nhiều tổ chức tội phạm buôn lậu ma túy, buôn bán người đang chuyển hướng hoạt động sang buôn lậu các loài hoang dã xuyên quốc gia. Tội phạm trong lĩnh vực này đang diễn ra ngày một phổ biến với mức lợi nhuận khổng lồ, ước tính khoảng 150 tỷ đô la Mỹ mỗi năm [24]. Trong hoàn cảnh nói trên, pháp luật về bảo vệ ĐVHD của Việt Nam lại chưa hoàn thiện thể hiện ở các điểm sau (i) các quy phạm về bảo vệ ĐVHD không được quy định tập trung mà nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành; (ii) các quy định pháp luật hiện hành cũng còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo và (iii) nội dung một số văn bản còn chưa phù hợp với năng lực thực thi và hiện trạng bảo tồn các loài ĐVHD ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện khung pháp lý là hết sức cần thiết nhằm tạo tiền đề để bảo vệ toàn diện các loài ĐVHD. 3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã Thứ nhất, việc hoàn thiện khung chính sách, pháp luật về quản lý bảo vệ ĐVHD cần phải chú trọng đến yếu tố nguy cấp của các loài ĐVHD. Theo đó, đối với từng nhóm loài với mức độ ưu tiên bảo vệ khác nhau cũng cần phải xây dựng các chế độ quản lý khác nhau. Ngoài ra, cần tuỳ thuộc vào tình hình thực tiễn để xây dựng, điều chỉnh danh mục các loài ĐVHD như loài nằm trong danh mục ưu tiên bảo vệ và loài nằm ngoài danh mục. Cũng theo
  • 92. 83 đó, tùy vào mức độ ưu tiên mà các loài nằm trong danh mục “được ưu tiên bảo vệ” phải bị nghiêm cấm tuyệt đối việc khai thác, tiêu thụ, gây nuôi vì mục đích thương mại. Đối với các loài nguy cấp quý hiếm những nằm ngoài danh mục ưu tiên bảo vệ cũng phải có chế độ quản lý phù hợp, dần dần hạn chế việc tiêu thụ hay việc gây nuôi. Thứ hai, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD cũng cần cân nhắc đến tính cấp bách, kịp thời phải có những quy phạm pháp luật điều chỉnh để khắc phục những khoảng trống pháp luật, những điểm chồng chéo bức thiết trước mắt và xem xét xây dựng một khung chiến lược lâu dài trong vòng vài năm tới. Chính vì vậy, với những khoảng trống, điểm thiếu yếu bất cập hiện nay có thể ban hành các văn bản hướng dẫn hoặc kịp thời sửa đổi, bổ sung những văn bản hiện đang gây ra chồng chéo. Cần xem xét một cách hệ thống hoá để tiến hành sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản từ Luật đến các Nghị định, Thông tư. Trong quá trình sửa đổi các văn bản này cần tránh tình trạng cục bộ, phân biệt giữa các bộ, ngành. Các bộ, ngành có liên quan phải phối hợp chặt chẽ và vì một mục tiêu chung để tránh chồng chéo, mâu thuẫn về phân công quản lý đặc biệt là giữa Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn với Bộ Tài nguyên Môi trường. Trong thời gian lâu dài, cần xem xét xây dựng luật chung về bảo vệ ĐVHD như một giải pháp ưu việt làm cơ sở khắc phục những trùng lặp, chồng chéo liên quan đến quản lý ĐVHD như đã nêu và là cầu nối đặt vấn đề bảo vệ ĐVHD trong hệ thống quy phạm về bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường. Thứ ba, việc ban hành, sửa đổi bổ sung các quy định cần đi đôi với việc tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật để tránh tình trạng không nắm bắt kịp thời và hiểu đúng các quy định mới được, sửa đổi, bổ sung ban hành thay thế. Nhằm đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả thực thi, Chính phủ cần theo dõi sát sao hoạt động bảo vệ ĐVHD và kịp thời ra các Chỉ thị, Nghị quyết cần thiết cũng như điều phối sự phối hợp liên ngành trong bảo vệ ĐVHD.
  • 93. 84 3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 3.3.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã Thứ nhất, cần ban hành các thông tư hướng dẫn về tổ chức, hướng dẫn việc khảo sát, quan trắc đánh giá tình trạng các loài ĐVHD thuộc danh mục loài được ưu tiên bảo vệ; Thứ hai, cần điều chỉnh và thay thế Nghị định 32/2006/NĐ-CP để đáp ứng yêu cầu quản lý các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ngoài phạm vi loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Thứ ba, liên quan đến việc gây nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại, pháp luật cần thể hiện rõ ràng và nhất quán quan điểm trong việc quản lý các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam. Theo đó: - Nghiêm cấm hoàn toàn việc khai thác, gây nuôi, kinh doanh thương mại đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB (chỉ cho phép gây nuôi vì mục đích bảo tồn tại các cơ sở nghiên cứu khoa học với sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước). - Cho phép khai thác vì mục đích nghiên cứu giống ban đầu, gây nuôi và kinh doanh thương mại hạn chế đối với các sản phẩm ĐVHD nhóm IIB có nguồn gốc gây nuôi nhân tạo (từ thế hệ F2) và thiết lập cơ chế chặt chẽ để kiểm soát việc gây nuôi, đảm bảo việc gây nuôi thương mại các loài này không làm ảnh hưởng đến quần thể loài trong tự nhiên. Quan điểm này cần thiết được ghi nhận tại một trong các văn bản pháp luật “nguồn” về bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm của Việt Nam để tránh sự “không rõ ràng, không nhất quán” trong đường lối của Nhà nước về bảo vệ ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm và cũng tạo điều kiện cho người dân, các cơ quan thực thi pháp luật hiểu được quan điểm rõ ràng của Nhà nước để chấp
  • 94. 85 hành theo đúng chủ trương, chính sách của Nhà nước. Trong hoàn cảnh đó, việc nghiêm cấm gây nuôi thương mại đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB như phân tích ở trên là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học của đất nước. Người dân vẫn được khuyến khích và tạo điều kiện gây nuôi các loài ĐVHD thông thường và một số loài nguy cấp, quý, hiếm khác vì mục đích thương mại do đó, quan điểm này không hề vi phạm các quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Thứ tư, cần ban hành hướng dẫn về quản lý hoạt động gây nuôi bảo tồn các loài ĐVHD. Trong đó cần nhấn mạnh các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý, đề xuất tiêu chí xác định, đánh giá, thành lập và đóng cửa cơ sở bảo tồn/gây nuôi ĐVHD; hướng dẫn kỹ thuật về tiêu chuẩn, điều kiện hoạt động của cơ sở bảo tồn ĐDSH; hướng dẫn kỹ thuật đối với nuôi trồng và tái thả lại nơi sinh sống tự nhiên đối với loài ĐVHD thuộc danh mục loài được ưu tiên bảo vệ. Thứ năm, xây dựng hướng dẫn kỹ thuật đối với việc vận chuyển ĐVHD thuộc loài danh mục được ưu tiên bảo vệ. Theo đó, cần hướng dẫn cụ thể quy định tại Khoản 6, Điều 12 Nghị định 160/2013/NĐ-CP và thay thế một phần quy định về vận chuyển tại Thông tư 01 /2012/TT-BNNPTNT quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản, Thông tư 42/2012/TT- BNNPTNT Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2012/TT- BNNPTNT ngày 04/01/2012 Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản; 3.3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định xử lý vi phạm pháp luật về động vật hoang dã Thứ nhất, cần sửa đổi kịp thời quy định tại Điều 190 BLHS. Quy định tại Điều 190 BLHS đã được xây dựng khá khoa học, theo cấu thành hình thức, có nghĩa là mọi hành vi (được liệt kê trong Điều 190) đối với
  • 95. 86 loài động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ sẽ bị xử lý hình sự bất kể khối lượng, số lượng hay giá trị tang vật của các loài ĐVHD này. Quy định như vậy đã phần nào đáp ứng mục tiêu răn đe, ngăn chặn tội phạm liên quan đến các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Tuy nhiên, quy định này cũng tồn tại một số hạn chế về mức độ, khung hình phạt, đối tượng bị tác động của tội phạm, mô tả các hành vi vi phạm và do đó gây khó khăn cho các cơ quan thực thi trong việc áp dụng quy định này để bảo vệ toàn diện các loài ĐVHD. Do đó, để tiếp tục kế thừa những điểm mạnh và nâng cao hiệu quả thực thi Điều 190 BLHS, tác giả nhận thấy cần phải có sự sửa đổi theo hướng: - Mở rộng đối tượng bị tác động của tội phạm theo Điều 190 BLHS gồm: + ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm thuộc Phụ lục I của Công ước CITES và sản phẩm, bộ phận, dẫn xuất, trứng của loài này bất kể số lượng, khối lượng, giá trị tang vật (như quy định hiện hành tại Điều 190 BLHS); + ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm khác theo quy định của Chính phủ (không đồng thời thuộc “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”), ĐVHD thông thường và sản phẩm, bộ phận, dẫn xuất, trứng của loài này nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn tái phạm hoặc giá trị tang vật vi phạm vượt quá giới hạn xử phạt vi phạm hành chính. - Quy định rõ ràng khung hình phạt theo ba nhóm liên quan đến tang vật vi phạm: + Vi phạm đối với cá thể ĐVHD (nguyên con, còn sống hay đã chết); + Vi phạm đối với bộ phận của ĐVHD; + Vi phạm đối với sản phẩm, dẫn xuất, trứng của ĐVHD. Hành vi vi phạm đối với cả cá thể ĐVHD (còn sống hay đã chết) mang tính chất nghiêm trọng hơn nhiều so với vi phạm liên quan đến bộ phận, sản
  • 96. 87 phẩm, dẫn xuất của loài ĐVHD. Do đó cần có sự phân biệt và cụ thể hóa mức hình phạt đối với vi phạm liên quan đến từng loại đối tượng của tội phạm. Ví dụ, đối với các vi phạm liên quan đến cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (nguyên con, còn sống hay đã chết) hình thức xử phạt duy nhất nên áp dụng là “phạt tù” (không được hưởng án treo) với thời hạn phạt tù phụ thuộc số lượng cá thể ĐVHD bị vi phạm. Các vi phạm liên quan đến cá thể loài ĐVHD khác (nguyên con, còn sống hay đã chết), hình thức xử phạt có thể được áp dụng là “cải tạo không giam giữ” hoặc “tù có thời hạn” (cho hưởng án treo). Trong khi đó, đối với bộ phận, sản phẩm hay dẫn xuất của các loài ĐVHD, hình phạt này có thể là “phạt tiền”, “cải tạo không giam giữ” hoặc “phạt tù” tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng. Ngoài ra, với các vi phạm liên quan đến bộ phận của loài ĐVHD, cần xem xét mức xử phạt nặng hơn, tương đương với mức hình phạt cho vi phạm đối với cá thể ĐVHD nếu tang vật là các bộ phận của loài ĐVHD nhưng chỉ có thể có được từ việc giết hại loài ĐVHD đó. Ví dụ, một bộ xương hổ hay voọc hoàn chỉnh cần bị xem xét xử lý như vi phạm đối với cá thể voọc hay cá thể hổ. - Bổ sung hành vi mua, tàng trữ/lưu giữ và chế biến ĐVHD trong quy định tại Điều 190 BLHS để xem xét xử lý hình sự. Theo đó, giả kiến nghị các hành vi sẽ bị xử lý hình sự theo Điều 190 BLHS sửa đổi bao gồm: + Hành vi săn, bắt, giết, chế biến, vận chuyển, nuôi, nhốt, tàng trữ/lưu giữ, mua, bán ĐVHD; + Hành vi tàng trữ/lưu giữ, trưng bày, vận chuyển, mua, bán, chế biến sản phẩm, bộ phận, dẫn xuất, trứng của ĐVHD. - Tăng mức xử phạt đối với vi phạm theo Điều 190 BLHS lên 15 năm tù. Theo quy định tại Điều 8 BLHS, tội phạm mô tả trong Điều 190 BLHS là loại “tội phạm nghiêm trọng” - gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến bảy năm tù. Điều này có nghĩa là dù hành vi
  • 97. 88 phạm tội gây hậu quả cực kì nghiêm trọng, thiệt hại hàng trăm cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm thì mức xử phạt đối với tội phạm cũng chỉ đến bảy năm tù. Qua thực tiễn xử lý các vụ vi phạm cũng như qua lời khai của các đối tượng vi phạm có thể thấy giá trị các loài ĐVHD bị buôn bán bất hợp pháp thuộc loại cao nhất trong số các loại hàng hóa buôn lậu, có thể chỉ đứng sau giá trị ma túy [25], thế nhưng nếu như các tội phạm ma túy được xem là “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” với mức tối đa của khung hình phạt lên đến tù chung thân hoặc tử hình thì mức tối đa của khung hình phạt là bảy năm tù theo Điều 190 BLHS sẽ chưa đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. - Phân biệt mức độ xử lý hình sự đối với hành vi gây hậu quả nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 190 BLHS thì dù hành vi “gây hậu quả rất nghiêm trọng” hay “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” đối tượng vi phạm chỉ bị xử lý hình sự theo Khoản 2 của Điều luật này. Quy định như trên rõ ràng là không hợp lý bởi hành vi “gây hậu quả rất nghiêm trọng” không thể gây nguy hại cho xã hội bằng hành vi “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” và do đó mức độ xử lý cho hai tính chất nguy hại khác nhau này không thể được đặt cùng trong một khung hình phạt. Thứ hai, làm rõ cách thức áp dụng Điều 153, 154, 155 BLHS liên quan đến loài nguy cấp, quý, hiếm Để tạo điều kiện áp dụng Điều 153, 154, 155 BLHS liên quan đến tội phạm về ĐVHD, cần giải quyết một số vấn đề như sau: - Hướng dẫn cụ thể danh sách các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 153, 154, 155 BLHS. - Tách “hàng cấm” là ĐVHD thành một mục riêng trong từng khung hình phạt theo Điều 153, 154, 155 BLHS và có hướng dẫn cụ thể về số lượng/khối lượng ĐVHD cần thiết để áp dụng các khung hình phạt nói trên. Ví dụ, cấu thành khoản 1 Điều 153 BLHS tương ứng với “hàng cấm có số
  • 98. 89 lượng lớn hoặc ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có khối lượng từ... đến... kg”; cấu thành khoản 2 Điều 153 BLHS tương ứng với “hàng cấm có số lượng lớn hoặc ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có khối lượng từ... đến... kg”. Thứ ba, hoàn thiện Điều 188 BLHS để xử lý vi phạm đối với các loài thuỷ sinh bị cấm theo hướng như sau: - Cần có hướng dẫn thực thi đối với quy định tại Điều 188 BLHS đồng thời với việc sửa đổi quy định tại Điều luật này. - Bổ sung hành vi giết, mua, bán, vận chuyển, tàng trữ/lưu giữ, chế biến, nuôi, nhốt các loài thủy sản quý, hiếm bị cấm trong quy định tại Điều 188 BLHS để xem xét xử lý hình sự. Thứ tư, giải quyết mối liên hệ giữa cấu thành tội phạm quy định tại Điều 190 BLHS với các quy định tại Điều 153, 154, 155, 188 BLHS Như đã phân tích ở trên, liên quan tới tội phạm về ĐVHD, ngoài quy định tại Điều 190, trong BLHS hiện hành còn có quy định tại Điều 153, Điều 154, Điều 155 và Điều 188. Cũng theo đó, đã có sự trùng lặp về đối tượng của tội phạm trong quy định tại Điều 190 BLHS và Điều 153,154, 155, 188 BLHS vì một số loại ĐVHD là đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 190 BLHS trùng với Điều 153, 154, 155, 188 BLHS (ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm bị cấm). Mặc dù Thông tư 19 đã giải thích ĐVHD được coi là “hàng cấm” để xử lý theo Điều 153, 154, 155 BLHS nếu “các loại sản phẩm này đã được chế biến, chế tác thành hàng hoá hoặc nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất” tuy nhiên, ĐVHD thường được mua bán dưới dạng nguyên vẹn chưa qua chế tác, chế biến (thịt ĐVHD, da, lông, móng, vẩy, sừng) vì vậy việc phân biệt “hàng cấm” là ĐVHD theo Điều 153,154, 155 BLHS và loài ĐVHD, sản phẩm, bộ phận của chúng theo Điều 190 là không rõ ràng và còn trùng lặp. Hay đối với loài thủy sản bị cấm theo quy định của Chính phủ, nhiều loài đã đồng thời
  • 99. 90 cũng được ghi nhận trong “danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” như vích, rùa da và một số loại rùa biển khác. Trong khi đó, một số hành vi mô tả trong cấu thành Điều 153, 154, 155 BLHS (vận chuyển, buôn bán), Điều 188 (khai thác) cũng trùng hoặc tương tự với hành vi mô tả trong Điều 190 BLHS (lần lượt là: “vận chuyển”, “buôn bán”, “săn bắt”). Điều này có nghĩa cùng là hành vi vi phạm đối với một đối tượng nhất định nhưng lại có thể áp dụng các Điều luật khác nhau để xử lý. Ví dụ, hành vi vận chuyển trái phép ngà voi (“hàng cấm” và đồng thời là “bộ phận của loài ĐVHD”) có thể áp dụng quy định tại Điều 155 hoặc Điều 190 BLHS để xử lý với mức hình phạt khác biệt. Hoặc là hành vi khai thác rùa biển cũng có thể áp dụng quy định tại Điều 188 (hành vi “khai thác”) hoặc Điều 190 BLHS (hành vi “săn bắt”) để xem xét xử lý. Sự trùng lặp nói trên đã dẫn đến khó khăn, chồng chéo trong việc áp dụng các quy định pháp luật có liên quan về ĐVHD. Vì vậy, cần giải quyết vấn đề nói trên trong đó ưu tiên áp dụng quy định tại Điều 190 BLHS đối với các tội phạm về ĐVHD và khi không áp dụng được quy định tại Điều 190 BLHS thì mới xem xét áp dụng quy định tại Điều 153, 154, 155, 188 BLHS nếu hành vi vi phạm đáp ứng cấu thành tội phạm theo quy định tại các Điều luật này. Thứ năm, cần ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi Điều 190 về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của Bộ Luật Hình sự 2009 để thay thế quy định của 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 8/3/2007 Hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Ngoài ra, cũng cần ban hành văn bản hướng dẫn quy chế phối hợp liên ngành trong việc phòng chống vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD; Thứ sáu, cần sửa đổi, bổ sung các Nghị định về xử phạt vi phạm hành
  • 100. 91 chính có liên quan theo hướng thay đổi căn cứ xử phạt vi phạm hành chính dựa vào giá trị quy ra tiền của ĐVHD mà thay bằng các đơn vị định lượng phù hợp khả thi khác như số con, số mẫu vật, trọng lượng. Đối với mỗi loài cần tham khảo các ý kiến các nhà khoa học về mức độ nghiêm trọng và lựa chọn đơn vị định lượng phù hợp để căn cứ làm mức xử phạt khác nhau, tránh tình trạng như hiện nay không thể xử phạt được vi phạm vì khó khăn không thể xác định được giá trị của tang vật. Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi sửa đổi bổ sung các Nghị định trên, có thể xem xét đến giải pháp ban hành Thông tư hướng dẫn cụ thể đối với việc xác định giá trị cụ thể từng loài và sản phẩm của chúng theo danh mục ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP và Nghị định 32/2006/NĐ- CP trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các cơ quan chuyên môn và những giá trị là căn cứ để xử lý các vụ việc vi phạm đã được giải quyết trước đây nhằm cấp bách cung cấp cơ sở pháp lý để đảm bảo khả năng thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD, tránh làm gián đoạn quá trình áp dụng pháp luật như hiện nay. Liên quan đến các quy định cụ thể, cần bổ sung các biện pháp xử phạt bổ sung tại Điều 7 Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/ 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản để tăng cường tính răn đe, nâng cao ý thức bảo vệ loài động vật thủy sinh quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Ngoài ra, cần tăng mức xử phạt vi phạm hành chính của Nghị định 103/2013/NĐ-CP lên 500.000.000 đồng (so với mức 100.000.000 đồng hiện nay) để tương xứng với mức xử phạt áp dụng đối với các vi phạm về ĐDSH tại điều 42, 43, 44 của Nghị định 179/2013/NĐ- CP và vi phạm đối với động vật rừng theo quy định tại Điều 21, 22,23, 24 Nghị định 157/2013/NĐ-CP nhằm đảm bảo sự quan tâm và mức độ ngang nhau giữa loài trên cạn và dưới nước, giữa quy định về động vật rừng và động vật thủy sinh.
  • 101. 92 Thứ bảy, cần sửa đổi, bổ sung Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 theo đó, cần có quy định cụ thể về mức phạt tối đa riêng cho lĩnh vực bảo vệ ĐDSH tại Điều 24 về Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực nhằm khắc phục tình trạng quy định mức phạt tối đa 100.000.000 đồng đối với lĩnh vực khai thác thủy sản và hải sản trong khi mức phạt tối đa 500.000.000 đồng lại được áp dụng đối với lâm sản như hiện nay. Ngoài ra, cần sửa đổi bổ sung Điều 43 Luật xử phạt vi phạm hành chính 2012 về thẩm quyền của các cơ quan kiểm lâm cho phù hợp với thực tế. Ví dụ theo quy định hiện nay việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền 50.000.000 đồng đối với Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm thuộc Cục Kiểm lâm đã gây khó khăn cho việc thi hành trên thực tế vì các phương tiện vi phạm hành chính phổ biến như hầu hết phương tiện vận chuyển cơ giới thường có giá trị cao hơn 50.000.000 đồng. 3.3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định về xử lý tang vật, cứu hộ động vật hoang dã Thứ nhất, cần xây dựng mô ̣t Thông tư hư ớng dẫn chung về việc xử lý tang vật là các loài ĐVHD trong đó bao quát các loài động vâ ̣t rừ ng , thủy sinh; các loài ĐVHD thông thường , nguy cấ p, quý hiếm của Việt Nam và quốc tế; tang vâ ̣t là cá thể, sản phẩm, bô ̣phâ ̣n, dẫn xuất, trứ ng của chúng; tang vâ ̣t bi ̣ti ̣ch thu sau vi pha ̣m hành chính và hình sự. Trong Thông tư này, tác giả cũng đề xuất loại bỏ biện pháp “bán” tang vật hoặc “bào chế thuốc” trong các biện pháp xử lý tang vật đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Thứ hai, cần ban hành Thông tư hướng dẫn kỹ thuật về cứu hộ, tái thả lại loài được ưu tiên bảo vệ vào môi trường sống tự nhiên hoặc chuyển tới cơ sở bảo tồn ĐDSH phù hợp. Trong đó cần xác định rõ, lập danh sách các cơ sở cứu hộ và cung cấp địa chỉ, phổ biến thông tin liên lạc tới các bên liên quan để kịp thời liên lạc trong trường hợp bắt giữ được tang vật vi phạm là ĐVHD.
  • 102. 93 Ngoài ra, cũng cần hướng dẫn tài chính cụ thể cho hoạt động liên quan đến cứu hộ, tái thả loài ĐVHD. 3.3.4. Xây dựng đạo luật riêng về bảo vệ động vật hoang dã Trong tình hình gia tăng tội phạm về ĐVHD như hiện nay, Việt Nam cần có chế tài mạnh mẽ hơn nữa để chung tay với thế giới ngăn chặn hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng này. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam còn chưa mang tính hệ thống và do đó chưa đáp ứng được yêu cầu này. Không chỉ gây khó khăn trong quá trình thực thi, số lượng văn bản lớn và tình trạng các quy phạm pháp luật nằm rải rác còn dẫn đến nguy cơ chồng chéo khi các quy phạm pháp luật tại các văn bản khác nhau được tiến hành sửa đổi. Mặt khác, nếu để tình trạng các quy phạm pháp luật còn rải rác trong nhiều văn bản pháp luật, việc đảm bảo hoàn thiện khung pháp chế về bảo vệ ĐVHD sẽ tốn nhiều thời gian và kinh phí của các cơ quan, tổ chức nhằm đối chiếu, so sánh và sửa đổi từng văn bản khác nhau. Thêm vào đó, trong quá trình nghiên cứu pháp luật của các quốc gia phát triển trên thế giới, tác giả nhận thấy hầu hết các quốc gia này đều có đạo luật thống nhất về bảo vệ ĐVHD như Endangered Wildlife Act (1973) của Mỹ, Law of the People's Republic of China on the Protection of Wildlife (1988) của Trung Quốc, Wildlife Protection and Hunting Law (1972) của Nhật Bản. Học tập kinh nghiệm các quốc gia phát triển trên thế giới, đồng thời xét tới những điểm bất cập trong số lượng lớn các văn bản quy phạm về bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam như phân tích ở trên, tác giả cho rằng Việt Nam cần phải xây dựng một đạo luật chuyên biệt về bảo vệ ĐVHD với mô hình như sau: Thứ nhất, về phạm vi áp dụng, Luật bảo vệ ĐVHD quy định về tiêu chí xác định, quy chế quản lý các loài ĐVHD; hành vi vi phạm; hình thức xử phạt; mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả; biện pháp xử lý tang vật đối
  • 103. 94 với hành vi vi phạm và thẩm quyền xử lý các vi phạm liên quan đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD. Thứ hai, về bố cục, Luật này có thể bao gồm 5 phần cơ bản trong đó: - Phần thứ nhất: Phạm vi điều chỉnh, các điều khoản giải thích thuật ngữ và các điều khoản khung. - Phần thứ hai: Tiêu chí xác định và phân cấp các loài theo mức độ nguy cấp - Phần thứ ba: Chế độ quản lý các loài theo mức độ nguy cấp + Quy định quản lý hoạt động khai thác, vận chuyển, mua bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu ĐVHD; + Quy định về quản lý hoạt động gây nuôi ĐVHD, gồm: Nuôi bảo tồn; nuôi thương mại + Các hành vi bị cấm. - Phần thứ tư: Hình thức xử phạt và hình thức xử lý tang vật; - Phần thứ năm: Hiệu lực và Điều khoản thi hành Thứ ba, về mặt nội dung, các vấn đề cơ bản luật này cần điều chỉnh bao gồm: Đối với phần thứ nhất, Luật này quy định về tiêu chí xác định, chế độ quản lý và chế độ bảo vệ đối với tất cả các loài ĐVHD tại Việt Nam. Đối với phần thứ hai, các loài ĐVHD ở Việt Nam được chia làm 3 nhóm theo các mức độ nguy cấp (có danh sách ban hành kèm theo Luật). - Nhóm I: Nhóm loài nguy cấp cần đặc biệt bảo vệ. - Nhóm II: Nhóm loài đe dọa nguy cấp nếu không có biện pháp bảo vệ. - Nhóm III: Các loài ĐVHD thông thường (tất cả các loài ĐVHD còn lại). Đối với phần thứ ba, chế độ quản lý các loài sẽ được quy định dựa theo mức độ nguy cấp, trong đó cụ thể như sau: - Hoạt động khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu ĐVHD
  • 104. 95 Các loài thuộc nhóm I, nhóm II chỉ được phép khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu không vì mục đích thương mại. Việc khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu phải được cấp phép trước bởi cơ quan chức năng có thẩm quyền. Khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu các loài ĐVHD thông thường thuộc nhóm III phải được cấp phép trước và được thực hiện với số lượng, tại địa điểm và thời gian ghi trong giấy phép. - Quy định quản lý hoạt động gây nuôi các loài ĐVHD + Hoạt động nuôi bảo tồn Các loài ĐVHD được phép gây nuôi bảo tồn trong các trung tâm cứu hộ, trung tâm bảo tồn, vườn thú, trung tâm nghiên cứu khoa học do Nhà nước trực tiếp quản lý. Trong đó, các điều kiện về giấy phép, nguồn gốc hợp pháp của động vật trong cơ sở và tính khoa học và tính bảo tồn của các phương pháp gây nuôi nhân giống phải được đảm bảo. Các cơ sở này không được phép buôn bán ĐVHD vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, ĐVHD có thể được chuyển giao giữa các trung tâm cứu hộ, trung tâm bảo tồn, vườn thú, trung tâm nghiên cứu khoa học; Các cơ sở này phải lập hồ sơ quản lý các cá thể ĐVHD có trong cơ sở ghi nhận sự gia tăng, sụt giảm số lượng cá thể, chuyển đổi địa điểm của các cá thể này. Trong trường hợp có vi phạm xảy ra, giám đốc, chủ trung tâm chịu trách nhiệm cá nhân. + Hoạt động gây nuôi thương mại Chỉ áp dụng đối với những loài thuộc nhóm III của Luật này. Không áp dụng đối với những loài thuộc nhóm I và nhóm II. Nếu các loài có thể sinh sản tốt trong môi trường nuôi nhốt, sau khi đã đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được phép gây nuôi trong
  • 105. 96 các trại nuôi thương mại (nuôi lấy thịt hoặc rạp xiếc) và được phép kinh doanh thương mại tại các nhà hàng, quán ăn, khách sạn, địa điểm vui chơi… Các cơ sở này phải lập hồ sơ quản lý các cá thể ĐVHD có trong cơ sở và ghi nhận sự gia tăng, sụt giảm số lượng cá thể, chuyển đổi địa điểm của các cá thể này. Cơ quan quản lý có trách nhiệm kiểm tra định kì theo chu kỳ sinh sản hoặc vòng đời của loài, lưu giữ, quản lý sổ sách. - Các hành vi bị cấm Mọi hành vi khai thác vì mục đích thương mại các loài thuộc nhóm I và nhóm II; săn bắn, bẫy, chế biến, giết mổ, mua, bán, buôn lậu, tàng trữ, tiêu thụ, quảng cáo và các loài/ bộ phận/ dẫn xuất của các loài thuộc nhóm III với nguồn gốc không hợp pháp hoặc khai thác, vận chuyển, mua, bán, tặng cho, tàng trữ, xuất, nhập khẩu các loài ĐVHD bất kể phân loại trái với các quy định của luật này đều bị nghiêm cấm. Đối với phần thứ tư về hình thức xử lý vi phạm và xử lý tang vật Mọi hành vi vi phạm đối với loài thuộc nhóm I đều bị xem xét xử lý hình sự với mức phạt tù tối đa 15 năm xác định trên số lượng tang vật. Trong một số vi phạm đặc biệt áp dụng hình phạt tù bắt buộc. Tang vật thu được không tiến hành bán đấu giá hay chuyển giao cho các cơ sở kinh doanh thương mại. Các hành vi vi phạm đối với loài thuộc nhóm II chỉ bị xem xét xử lý hành chính. Chỉ trường hợp vi phạm với số lượng tang vật lớn hoặc đã từng có tiền án vi phạm các tội về ĐVHD mới bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tối đa 15 năm xác định trên số lượng tang vật. Tang vật thu được không tiến hành bán đấu giá hay chuyển giao cho các cơ sở kinh doanh thương mại. Các vi phạm liên quan đến loài thuộc nhóm III sẽ bị xử phạt hành chính
  • 106. 97 dựa theo số lượng tang vật. Chỉ trong trường hợp vi phạm với số lượng tang vật lớn hoặc đã từng có tiền án vi phạm các tội về ĐVHD mới bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. Tang vật tịch thu có thể (nhưng không khuyến khích) tiến hành bán đấu giá hay chuyển giao cho các cơ sở kinh doanh thương mại. Trong trường hợp phát hiện vi phạm tại các cơ sở gây nuôi ĐVHD, tùy theo mức độ nghiêm trọng của vi phạm, hình thức xử lý hành chính hoặc hình sự sẽ được áp dụng. Trong một số trường hợp cần áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung là tước giấy phép gây nuôi bảo tồn/ nuôi thương mại các loài ĐVHD của các cơ sở vi phạm. 3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã Việc phân nhóm các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD chỉ mang tính chất tương đối. Trên thực tế, các nhóm hành động phải được tiến hành đồng thời và mang hiệu quả toàn diện trên các mặt quản lý, xử lý vi phạm và xử lý tang vật. 3.4.1. Các giải pháp chung Thứ nhất, xây dựng mạng lưới trao đổi thông tin, đầu mối thu thập, cung cấp, trao đổi thông tin; Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong hoạt động kiểm soát săn bắt và buôn bán ĐVHD. Phân định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng giữa các ngành có liên quan đến hoạt động quản lý bảo tồn ĐVHD là ngành tài nguyên môi trường và nông nghiệp phát triển nông thôn. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm và cách thức phối hợp liên ngành giữa các cơ quan thực thi gồm kiểm lâm, hải quan, quản lý thị trường, cảnh sát môi trường, viện kiểm sát, tòa án. Thứ hai, tiến hành hoạt động tuyên truyền sâu rộng và nâng cao nhận thức về bảo tồn động thực vật hoang dã, phòng chống vi phạm về ĐVHD cho cán bộ thực thi pháp luật và toàn thể cộng đồng thông qua việc thực hiện các
  • 107. 98 chiến dịch không tiêu thụ ĐVHD và sản phẩm của chúng. Đồng thời, phát huy việc ủng hộ, hợp tác của người dân cộng đồng với cơ quan chức năng trong quá trình thực thi pháp luật với các hình thức kêu gọi và khen thưởng phù hợp. Xây dựng chính sách khuyến khích, khen thưởng đối với tổ chức cá nhân cung cấp thông tin, khai báo các hành vi vi phạm pháp luật về loài được ưu tiên bảo vệ; Thứ ba, tăng cường tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực, kiến thức cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý, bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý hiếm; Thứ tư, cần xây dựng cơ chế cung cấp tài chính rõ ràng, bền vững cho các hoạt động liên quan đến việc quản lý bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý hiếm. Nguồn tài chính này có thể được xây dựng dựa trên huy động đóng góp của cộng đồng, từ nguồn ngân sách Nhà nước và tịch thu phương tiện, tang vật trong các vụ việc vi phạm. Thứ năm, xây dựng cẩm nang xác định và nhận diện các loài ĐVHD nguy cấp, quý hiếm và các bộ phận, sản phẩm của chúng. 3.4.2. Các giải pháp cụ thể 3.4.2.1. Đối với hoạt động quản lý bảo vệ ĐVHD Thứ nhất, tăng cường kiểm soát nguồn gốc, cứu hộ, kiểm dịch và thả lại môi trường tự nhiên các ĐVHD nguy cấp quý hiếm thông qua việc xây dựng và áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật và trình tự thủ tục liên quan và dựa trên việc xem xét tham khảo các hướng dẫn kỹ thuật của IUCN và các tổ chức quốc tế khác; Thứ hai, xây dựng hệ thống các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật cụ thể đối với các cơ sở gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm, được ưu tiên bảo vệ như tiêu chuẩn chuồng trại, chăm sóc, ăn uống, thú y… bao gồm cả tiêu chuẩn xác định cơ sở gây nuôi vì mục đích bảo tồn hay vì mục đích thương mại. Thứ ba, tăng cường tiến hành rà soát lại việc triển khai các chương
  • 108. 99 trình kiểm soát ĐVHD trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, xử lý nghiêm các hoạt động gây nuôi ĐVHD trái quy định hiện hành của pháp luật. Thứ tư, cần nghiêm cấm các trang trại tiến hành gây nuôi các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ vì mục đích thương mại và có những hình phạt nghiêm khắc dành cho những chủ trang trại vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Nhà nước cũng cần quy định cụ thể danh sách các loài ĐVHD được phép gây nuôi vì mục đích thương mại. Các trang trại phải chịu trách nhiệm về các tài liệu chứng minh nguồn gốc của các con giống được gây nuôi. Bên cạnh đó, các địa phương cần phải có sự kiểm soát thận trọng đối với sự phát triển hoạt động gây nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại. Trong đó, các trang trại phải được kiểm tra định kỳ, lưu giữ hồ sơ cũng như xử lý các trường hợp vi phạm. Ngoài ra, cũng cần xem xét xây dựng cơ chế tài chính để các cơ sở hiện đang gây nuôi ĐVHD vì mục đích thương mại đóng góp cho việc bảo tồn ĐVHD. Thứ năm, cần xây dựng các chương trình bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý hiếm cụ thể theo từng mốc thời gian, có thể tiến hành thông qua các kế hoạch 5 năm hoặc 10 năm. Ngoài ra, cần tăng cường khảo sát, đánh giá hiện trạng, phân bổ ĐVHD để đề xuất đưa vào hoặc loại bỏ các loài ĐVHD trong các danh mục ĐVHD nguy cấp, quý hiếm. 3.4.2.1. Đối với hoạt động xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD Thứ nhất, cần đặt vấn đề đấu tranh chống tội phạm về ĐVHD là một vấn đề quan trọng của quốc gia. Từ đó, đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cơ sở cho quá trình thực thi pháp luật về ĐVHD. Đồng thời, các Bộ, ban, ngành Trung ương kịp thời hướng dẫn, giải quyết các vướng mắc của cơ quan chức năng địa phương trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD.
  • 109. 100 Thứ hai, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật về săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD, nguy cấp quý hiếm thông qua việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra định kỳ, đột xuất đối với các lực lượng thực thi pháp luật trực tiếp liên quan đến săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD để tăng cường trách nhiệm, thực thi đúng đắn pháp luật, tránh tình trạng tiêu cực, có sự tiếp tay của cán bộ chuyên ngành trong các vụ việc vi phạm về ĐVHD. Thậm chí trong một số trường hợp, các cán bộ thi hành pháp luật chính là những kẻ trực tiếp vi phạm. Thứ ba, thường xuyên tiến hành các chiến dịch truy quét tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật về săn bắt, tiêu thụ, vận chuyển, kinh doanh bất hợp pháp ĐVHD. Đặc biệt, cần tập trung nguồn nhân lực vật lực để tiến hành điều tra, xử lý các đường dây buôn bán ĐVHD xuyên quốc gia. 3.4.2.3. Đối với hoạt động xử lý tang vật và cứu hộ dộng vật hoang dã Thứ nhất, cần có hướng dẫn cụ thể về cách thức xử lý tang vật là ĐVHD còn sống và xây dựng các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về cứu hộ ĐVHD là tang vật các vụ vi phạm. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý nhằm đáp ứng khả năng tồn tại của các cá thể loài sau khi được thả về môi trường sống tự nhiên. Do đó, khi tái thả phải tính đến đặc trưng của loài đó như về yêu cầu sinh cảnh, phạm vi hoạt động trong môi trường sống tự nhiên, ví dụ như loài voi, hổ Đông Dương... Thứ hai, tăng cường cơ sở vật chất và tài chính cho các Trung tâm cứu hộ ĐVHD bằng nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài hoặc hợp tác quốc tế như mô hình Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam (Cục Kiểm lâm đại diện Chính phủ Việt Nam đóng góp quyền sử dụng đất, tổ chức động vật châu Á hỗ trợ nguồn vốn xây dựng cơ sở vật chất và kĩ thuật vận hành hoạt động của Trung tâm). Thu hút có chọn lọc nguồn kinh phí của
  • 110. 101 các doanh nghiệp tư nhân để xúc tiến xây dựng mô hình công viên bán hoang dã nhằm bảo tồn một số loài ĐVHD phù hợp cũng như kết hợp du lịch, giáo dục môi trường và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần xây dựng quy chuẩn và cơ chế giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở tư nhân để các đơn vị này đóng góp cho công tác bảo vệ ĐVHD nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật (về nguồn gốc hợp pháp của các loài ĐVHD và quy trình đăng ký, quản lý).
  • 111. 102 KẾT LUẬN ĐVHD là thành tố không thể thiếu của đa dạng sinh học và đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Sự mất đi của bất cứ loài ĐVHD nào cũng ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững và ổn định của hệ sinh thái. Chính vì vậy, việc bảo vệ ĐVHD khỏi nguy cơ tuyệt chủng là vô cùng cần thiết. Hiện nay, nguy cơ lớn nhất đối với ĐVHD là nạn săn bắt và tiêu thụ các loài này. Trong khi đó, bên cạnh Trung Quốc, Việt Nam đã và đang bị quốc tế nhìn nhận là điểm trung chuyển và tiêu thụ ĐVHD lớn trên thế giới. Nạn buôn bán, tiêu thụ trái phép ĐVHD không những gây tác hại to lớn về sinh thái, môi trường mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, sinh thái, môi trường, sức khỏe, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và hình ảnh của đất nước trong mắt bạn bè quốc tế. Trước những tác hại to lớn do nạn buôn bán, tiêu thụ, sử dụng trái phép ĐVHD gây ra như đã phân tích ở trên thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam là vô cùng quan trọng. Hệ thống pháp luật toàn diện và hợp lý sẽ là nền tảng để Nhà nước, các tổ chức, cá nhân đóng góp vào công tác bảo vệ ĐVHD và cũng là cơ sở để nghiêm trị các hành vi vi phạm pháp luật nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực này. Pháp luật là tiền đề quan trọng, tuy nhiên, hiệu quả của công tác bảo vệ ĐVHD sẽ thực sự đến từ công tác thực thi. Mỗi cán bộ thực thi pháp luật bên cạnh việc hiểu rõ quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD còn cần tự nhận thức được vai trò và sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD để từ đó áp dụng đúng và có hiệu quả các quy định này để bảo vệ tốt nhất các loài ĐVHD ở Việt Nam. Trong phạm vi luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả đã đưa đến cho Quý Thầy, Cô và độc giả một cái nhìn tổng quan, toàn diện về hệ thống khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD bằng các quy định pháp luật, tổng quan quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ ĐVHD. Trong luận văn, tác giả cũng đưa
  • 112. 103 ra các đánh giá của cá nhân về những chính sách, pháp luật hiện hành trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD và phân tích những vướng mắc về thực thi pháp luật trong hoạt động này để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường khả năng thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam. Bản thân là một cán bộ hiện đang hoạt động trong một tổ chức chuyên sâu về bảo tồn ĐVHD tại Việt Nam, tác giả đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu đề tài pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam này. Vì vậy, tác giả hi vọng Luận văn sẽ là một công trình nghiên cứu khoa học thực sự có ý nghĩa góp phần vào công tác hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam. Trân trọng cảm ơn.
  • 113. 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu tiếng Việt 1. Thái Trần Bái (2001), Giáo trình Động vật không xương sống, NXB giáo dục, Hà Nội. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), Quyết định số 95/2008/QĐ-BNN ngày 29/09/2008 về việc ban hành Quy chế quản lý gấu nuôi, Hà Nội. 3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường, Hà Nội. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), Thông tư số 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu, Hà Nội. 5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao (2007), Thông tư Liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Hà Nội. 6. Chính phủ (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Hà Nội. 7. Chính phủ (2006), Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, Hà Nội. 8. Chính phủ (2013), Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 về Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản, Hà Nội.
  • 114. 105 9. Chính phủ (2013), Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Hà Nội. 10. Chính phủ (2013), Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, Hà Nội. 11. Chính phủ (2013), Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội. 12. Cục Kiểm lâm, (2014) Báo cáo số 683 /BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 về Công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2015. 13. Trần Kiên, Trần Hồng Việt (2001), Động vật học có xương sống, NXB Giáo dục, Hà Nội. 14. Liên Hiệp quốc (1973), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES). 15. Liên Hiệp quốc (1992), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD). 16. Trương Hồng Quang (2009), Báo cáo rà soát, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 17. Quốc hội (2004), Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004, Hà Nội. 18. Quốc hội (2008), Luật đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008, Hà Nội. 19. Quốc hội (2009), Bộ Luật Hình Sự số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 06 năm 2009, Hà Nội. 20. Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (2010), Báo cáo tình trạng buôn bán hổ tại Việt Nam.
  • 115. 106 21. Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (2014), Báo cáo “Phân tích kết quả xử lý hình sự tội phạm về động vật hoang dã” công bố tại Tọa đàm về tăng cường công tác đấu tranh với các tội phạm về ĐVHD do ENV tổ chức ngày 28/03/2014 tại Hà Nội. 22. Phạm Minh Tuyên (2014), Tham luận “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - Thực tiễn xét xử ở Việt Nam và một số kiến nghị” - trong Tọa đàm về tăng cường công tác đấu tranh với các tội phạm về ĐVHD do ENV tổ chức ngày 28/03/2014 tại Hà Nội. II. Tài liệu tiếng Anh 23. Morgera, E. and Wingard, J. (2002), Principles for developing sustainable wildlife management laws, FAO Legal Paper Online (tr. 75) 24. UNEP (2014), Illegal trade of wildlife, UNEP year book 2014 emerging issues updated, p. 25. Nguồn http://www.unep.org/yearbook/2014/PDF /chapt4.pdf III. Trang thông tin điện tử 25. http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/2522- 26633552515309847500/Dong-vat---Thuc-vat/Dong-vat-la-gi.htm. 26. http://www.cites.org/eng/news/pr/2014/london-conference-20140214.php. 27. http://www.fao.org/docrep/005/y3844e/y3844e03.htm#TopOfPage. 28. http://kiemlam.org.vn/Desktop.aspx/List/Hanh-vi-vi-pham-Luat-BV-va-PT-rung/. 29. http://maxreading.com/sach-hay/viet-nam-moi-truong-va-cuoc- song/rung-viet-nam-truoc-va-nay-11351.html. 30. http://moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.as px?ItemID =487. 31. http://khotailieu.com/luan-van-do-an-bao-cao/luat/thuc-trang-phap-luat- da-dang-sinh-hoc-cua-viet-nam-va-phuong-huong-hoan-thien.html, Thực trạng pháp luật đa dạng sinh học của Việt Nam và phương hướng hoàn thiện, (truy cập ngày 18/6/2014).
  • 116. 107 32. http://suckhoedoisong.vn/thoi-su/dong-vat-hoang-da-gay-nhieu-benh- nguy-hiem-tren-nguoi-20140520161525331.htm. 33. https://www.savetherhino.org/latest_news/news/1190_1_215_rhinos_poa ched_in_south_africa_during_2014. 34. http://tainguyenmoitruong.com.vn/tay-nguyen-dong-vat-hoang-da- keu-cuu.html. 35. http://www.thefreedictionary.com/wildlife. 36. http://thethaovanhoa.vn/bong-da/cuu-loai-te-giac-nam-phi-huy-dong- quan-doi-viet-nam-keu-goi-phu-nu-n20131022105450238.htm. 37. http://thiennhien.org/images/Tailieu/BantinbuonbanDVHD/bantinvenanb uonbandvhdthang10nam2011.pdf. 38. http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/moi-truong/20120409/tien-ti-cung- khong-ban-rua/486132.html. 39. http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/moi-truong/20130921/dung-mang- xa-hoi-cuu-dong-vat-hoang-da/570157.html. 40. http://www.unodc.org/cld/index-sherloc.jspx. 41. http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/viet-nam-chi-con-khoang-30-con- ho-tu-nhien-2181925.html. 42. https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_minh_B%E1%BA%A3o_t %E1%BB%93n_Thi%C3%AAn_nhi%C3%AAn_Qu%E1%BB%91c_t %E1%BA%BF. 43.https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9B c_Ramsar. 43. https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_v% E1%BB% 81 _%C4%90a_d%E1%BA%A1ng_sinh_h%E1%BB%8Dc. 44. http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/bao-my-viet-ve-nan-buon- thu-quy-hiem-cua-viet-nam-3175919.html.
  • 117. 108 45. http://vtv.vn/trong-nuoc/viet-nam-diem-nong-cua-nan-buon-lau-sung-te- giac-85737.htm. 46. http://www.vusta.vn/vi/news/Lien-hiep-hoi-1733/Keu-goi-cham-dut-nan- nuoi-nhot-gau-tai-Viet-Nam-45618.html. 47. http://assets.wnf.nl/downloads/wwf_wildlife_crime_scorecard_report.pdf. 48. https://www.unodc.org/documents/southeastasiaandpacific//vietnam/publ ication/2014/CP_final_V.pdf.
  • 118. 109 PHỤ LỤC Danh sách các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD Tên văn bản Ngày có hiệu lực Luật Thuỷ sản 2003 Ngày 01/07/2004 Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 Ngày 01/04/2005 Luật Đa dạng sinh học 2008 Ngày 01/07/2009 Bộ luật Hình sự 2009 Ngày 01/01/2010 Luật Bảo vệ Môi trường 2014 Ngày 01/01/2015 Luật Đầu tư 2014 Ngày 01/07/2015 Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý các loài động vật rừng, thực vật rừng hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Lưu ý: Một số nội dung của Nghị định liên quan đến các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hiện được điều chỉnh theo quy định của Nghị định 160/2013/NĐ-CP Tháng 4/2006 Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất và nhập nội từ biển, quá cảnh, gây nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản và trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Lưu ý: Một số trình tự, thủ tục theo Nghị định này đã được sửa đổi bởi Nghị định 98/2011/NĐ-CP Tháng 9/2006 Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản Ngày 01/11/2013 Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản Lưu ý: Một số nội dung của Nghị định này đã được sửa đổi bởi Nghị định 40/2015/NĐ-CP Ngày 25/12/2013
  • 119. 110 Nghị định 160/2013/ND-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Ngày 01/01/2014 Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Ngày 30/12/2013 Nghị định 29/2014/NĐ-CP ngày 10/04/2014 quy định về thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu của Nhà nước về tài sản và quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước. Ngày 01/06/2014 Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA- VKSNDTC-TANDTC ngày 08/3/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Tháng 04/2007 Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về việc sửa đổi một số điều của Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/03/2006 của Bộ Thuỷ sản ngày 20/03/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung của Nghị định 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất và kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản Tháng 06/2008 Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông t hôn hướng dẫn xử lý tạng vật là động vật rừng bị tịch thu. Tháng 09/2008 Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản Lưu ý: Một số nội dung của Thông tư này đã được sửa đổi bởi Thông tư 42/2012/TT-BNNPTNT Tháng 03/2012 Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn quy định về khai thác và gây nuôi động vật rừng thông thường. Ngày 09/11/2012
  • 120. 111 Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT ngày 05/09/2013 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về ban hành Danh mục loài động và thực vật thuộc các phụ lục của Công ước về buôn bán Quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp Ngày 25/10/2013 Thông tư 159/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 29/2014/NĐ-CP quy định về thẩm quyền và trình tự thiết lập quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản và quản lý, chuyển giao các tài sản được xác lập quyền sỏ hữu Nhà nước Ngày 12/12/2014 Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn về việc ban hành danh mục loài thuỷ sinh nguy cấp cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. Lưu ý: Một số nội dung của Thông tư này đã được sửa đổi bởi Thông tư 01/2011/TT-BNNPTNT Tháng 08/2008 Quyết định 95/2008/QĐ-BNN của B ộ Nông nghiê ̣p và Phát triển Nông thôn ngày 29/09/2008 ban hành Quy chế về quản lý gấu nuôi. Lưu ý: Một số nội dung của Thông tư này đã được sửa đổi bởi Thông tư 25/2011/TT-BNNPTNT Tháng 10/2008 Quyết định 11/2013/QĐ-BNN ngày 24/01/2013 về việc cấm nhập khẩu, xuất khẩu và kinh doanh một số mẫu vật loài thuộc các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp Ngày 15/03/2013