1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU HỒNG SƠN
QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU HỒNG SƠN
QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Ngô Huy Cƣơng
Hà Nội - 2015
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
CHU HỒNG SƠN
4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG
CHỨNG VIÊN VÀ QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN
7
1.1 Tổng quan về Công chứng viên và Quy chế công chứng viên 7
1.1.1 Khái niệm về "Công chứng viên" và "Quy chế công chứng viên" 7
1.1.2 Lý luận chung. 8
1.2
Quá trình hình thành và phát triển công chứng viên và quy
chế công chứng viên
18
1.2.1.
Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy chế công chứng
viên tại một số nước trên thế giới
18
1.2.2
Quá trình hình thành và phát triển công chứng viên trong các
chế độ cũ ở Việt Nam
38
Chƣơng 2: QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN THEO PHÁP
LUẬT CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
42
2.1
Quy định của pháp luật về công chứng viên trƣớc khi có Luật
Công chứng
42
2.1.1
Quy định của pháp luật về công chứng viên trong giai đoạn 1945
- 1975
42
2.1.2
Quy định của pháp luật về công chứng viên sau năm 1976 (của
nước CHXHCN Việt Nam)
47
2.1.3
Nhận xét tổng quát về các đặc điểm nổi bật của quy chế công
chứng viên Việt Nam trước khi có Luật Công chứng đầu tiên
(2006)
58
5
2.2. Quy chế công chứng viên sau khi có Luật Công chứng (2006) 60
2.2.1
Một số điểm nổi bật của quy chế công chứng viên từ khi có Luật
Công chứng 2006 đến trước khi có Luật Công chứng hiện hành
(2014)
60
2.2.2
Quy chế công chứng viên từ khi có Luật Công chứng 2014 (tức
quy chế công chứng viên hiện hành).
70
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN
90
3.1.
Quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng
viên
90
3.2. Kiến nghị về quy tắc đạo đức hành nghề công chứng viên. 92
3.3.
Kiến nghị quy định về việc tham gia tổ chức xã hội nghề
nghiệp của công chứng viên.
93
3.4. Kiến nghị về công tác quản lý công chứng viên 93
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chế định công chứng viên là một chế định quan trọng đã xuất hiện và phát
triển từ khá lâu đời trên thế giới, nhất là tại các quốc gia có nền văn minh và hệ
thống pháp luật phát triển, nó luôn song hành với các chế định pháp luật khác
trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam tên gọi chính thức phổ
biến cho chức danh tư pháp này mới chỉ có từ hai thập kỷ gần đây (khoảng
những năm 1989, 1990) trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng thực ra,
công việc của một công chứng viên đã tồn tại trong thời kỳ Pháp thuộc tại nước
ta, nhưng với một tên gọi khác và một chức năng không hoàn toàn giống như
chức năng của công chứng viên hiện tại. Theo pháp luật của đa số các quốc gia
có chế định này, nhất là các quốc gia theo hệ thống luật La tinh (hệ thống luật
thiên về sử dụng các văn bản pháp luật) thì chế định này thường được quy định
nhiều hơn và phát triển hơn so với các quốc gia theo hệ thống luật Commom
Law (luật Anh - Mỹ). Việt Nam ta cũng là quốc gia có hệ thống luật dựa trên thể
thức văn bản pháp luật là chủ yếu nên chế định công chứng và công chứng viên
vì thế trở nên rất quan trọng và cần thiết, ngày càng có xu thế phát triển mạnh.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực khoa học pháp lý của nước ta, chế định công chứng
viên lại rất ít có những công trình nghiên cứu, phân tích sâu và toàn diện về chế
định này. Do vậy trên hoạt động thực tế hành nghề công chứng tại nước ta, sự
thiếu hụt việc nghiên cứu này đã bị trả giá khá nhiều trong quá trình thực thi
pháp luật về công chứng, chứng thực của các công chứng viên và các tổ chức
hành nghề công chứng, gây ra những hậu quả nặng nề về uy tín, làm suy giảm
nghiêm trọng sự tin tưởng của công dân vào pháp luật công chứng nói riêng và
cả hệ thống pháp luật nói chung. Và đương nhiên, những sai lầm đó đã kéo theo
những thiệt hại về kinh tế là vô cùng lớn (một ví dụ điển hình như vụ việc công
chứng viên vi phạm quy chế trong vụ án EPCO Minh Phụng trong những năm
2000, 2001 đã làm thiệt hại kinh tế với con số khổng lồ là hàng nghìn tỷ đồng
7
vào thời điểm đó.......). Như mỗi chúng ta đều đã biết, với mỗi quốc gia thì bộ
luật dân sự bao giờ cũng là một trong những bộ luật đòi hỏi sự đầu tư nhiều thời
gian và công sức nhất để xây dựng và hoàn thiện, do đó cũng có thể coi bộ luật
dân sự là bộ luật quan trọng nhất trong hệ thống luật pháp, nó có thể biểu hiện
được trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như trình độ pháp lý của những nhà
xây dựng luật pháp của quốc gia đó. Và trong việc thực thi pháp luật dân sự,
cùng với những chế định thẩm phán, luật sư, ... thì chế định công chứng viên thật
sự có tầm quan trọng không kém. Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam, sự quan
tâm đến chế định công chứng viên của những nhà xây dựng pháp luật và trong
những nhà nghiên cứu khoa học pháp lý của chúng ta hiện nay còn chưa được
thoả đáng.
Trong thời kỳ cả nước đang tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy
mạnh cải cách tư pháp, kinh tế đang phát triển rất mạnh và nhanh theo nền kinh
tế thị trường, đẩy mạnh xã hội hoá nhiều dịch vụ công (trong đó có lĩnh vực công
chứng) thì việc củng cố, hoàn thiện chế định công chứng nói chung và quy chế
công chứng viên nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp
luật hiện hành cũng như trong tương lai. Tuy nhiên, quy chế công chứng viên
của ta như đã nói ở trên thì lại khá mới mẻ, không nhiều các công trình, không
nhiều các đề tài khoa học đi sâu nghiên cứu về chế định này, trong khi hầu hết
người dân trong xã hội nói chung và thậm chí ngay cả những người quản lý,
những cơ quan, tổ chức nằm trong bộ máy nhà nước và bộ máy tư pháp của
chúng ta còn chưa hoàn toàn hiểu rõ, chưa nhận thức đầy đủ về khái niệm, chức
năng, nhiệm vụ của chức danh tư pháp này.
Với những trình bày như trên, việc nghiên cứu đề tài khoa học về quy
chế công chứng viên, nhằm làm rõ bản chất pháp lý, tính khoa học, tính hệ
thống và tầm quan trọng của vấn đề, để từ đó ta sẽ thấy được việc xây dựng
và hoàn thiện quy chế công chứng viên ở Việt Nam ta hiện nay là một vấn đề
khoa học cần thiết và cấp bách, đáp ứng nhu cầu tất yếu của đời sống pháp
8
luật nói riêng và đời sống xã hội nói chung của Việt Nam ta hiện nay cũng
như trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nói đến đề tài công chứng viên (mà rộng ra chính là quy chế công chứng
viên) theo một cách nhỏ lẻ, tiểu tiết thì đã có khá nhiểu bài báo, tác phẩm pháp
luật, các bài phân tích, các cuộc toạ đàm, ... và thậm chí còn có đã có khá nhiều
văn bản quy phạm pháp luật như sắc lệnh, nghị định, thông tư và gần đây nhất là
Luật công chứng năm 2006 và Luật công chứng năm 2014 đề cập đến vấn đề
này. Tuy nhiên, nhưng văn bản đó đều mang tính rời rạc, mô tả hiện tượng, biểu
hiện bên ngoài hoặc chỉ mang tính quy định chung chung về vấn đề hoặc có phân
tích thì cũng chỉ dừng lại phân tích sâu theo một khía cạnh nhỏ nào đó của chức
danh công chứng viên theo quy định của pháp luật hiện hành vào chính thời
điểm đó chứ không mang tính khoa học pháp lý toàn diện, không thể hiện được
tính lý luận xuyên suốt của vấn đề.
Thực tế cho đến nay, dù ít dù nhiều cũng đã có những công trình khoa
học, những điều luật có liên quan đến vấn đề này, bởi xuất phát từ đời sống thực
tiễn cũng như xuất phát từ yêu cầu cấu thành các bộ phận trong hệ thống pháp
luật thì chế định công chứng viên luôn tồn tại song hành với chế định công
chứng nói riêng và các chế định về các chức danh tư pháp khác trong hệ thống
pháp luật nói chung. Nhất là trong khoảng thời gian 15 năm trở lại đây, khi mà
các giao dịch dân sự trong xã hội tăng cao đột biến, kéo theo nó là nhu cầu công
chứng dần dần trở nên rất cấp thiết thì các đề tài khoa học về công chứng và
công chứng viên đã xuất hiện nhiều hơn, một số các công trình này cũng đã phân
tích sâu một khía cạnh nào đó về công chứng viên và quy chế công chứng viên
nhưng thường chỉ một vài khía cạnh đó thôi. Một số các văn bản pháp luật và các
công trình nghiên cứu, tác phẩm, bài viết pháp luật đã có đề cập đến một cách
khá cụ thể một số quy định liên quan đến quy chế công chứng viên, đặc biệt và
trước tiên nhất có thể dẫn chiếu ra là các điều luật từ Điều 13 đến Điều 22 trong
Luật Công chứng năm 2006, sau đó là tại Chương II - từ Điều 8 đến Điều 27 của
9
Luật Công chứng năm 2014 đã chỉ ra chi tiết các tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm,
miễn nhiệm cũng như quyền và nghĩa vụ của công chứng viên. Ngoài ra, cũng có
nhiều tác phẩm, bài viết đăng trên các diễn đàn, tạp chí pháp luật như trong bài
viết "Về vai trò của công chứng viên" của tác giả Dương Khánh (2000) (tạp chí
"Dân chủ và pháp luật"), hay tác phẩm "Thẩm quyền thực hiện công chứng"
cũng của tác giả Dương Khánh (2001) (Toà án nhân dân), hoặc tác phẩm "Hoàn
thiện các quy định về trách nhiệm dân sự trong hoạt động công chứng" của Tiến
sỹ Tuấn Đạo Thanh (Nhà xuất bản Tư pháp 2013), ... nhưng các tác phẩm này
đều phân tích rộng hơn về toàn bộ chế định công chứng, nếu có đề cập đến quy
định về công chứng viên thì cũng không phân tích nhiều hoặc chỉ dừng lại phân
tích, nghiên cứu về một khía cạnh riêng biệt nào đó về công chứng viên, hoặc về
một phần quy chế công chứng viên tại thời điểm toàn bộ các công chứng viên là
viên chức nhà nước nằm trong chế định công chứng nhà nước.
Sau khi tham khảo và nghiên cứu các tài liệu nói trên cũng như nhiều tác
phẩm và văn bản pháp luật khác, chúng ta vẫn thấy thiếu những sự phân tích
khoa học, nhất là sự "kết nối" một cách khoa học về lý luận giữa các công trình,
tác phẩm nói trên trên để tạo nên một lý luận chung có tính thuyết phục về chức
danh công chứng viên cũng như về quy chế công chứng viên. Do vậy, với mong
muốn thực hiện được công việc một cách toàn diện nhất, khoa học nhất và mang
tính khả thi cao nhât có thể, luận văn này sẽ cố gắng nghiên cứu một cách tổng
thể hệ thống lý luận cũng như toàn bộ tình hình thực tiễn có liên quan để làm rõ
hơn lý luận khoa học của vấn đề, qua đó có thể lý giải và bình luận về cơ sở pháp
lý về quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam cho đến thời điểm hiện
tại. Đồng thời, từ đó cũng xin mạnh dạn đưa ra một số đề xuất, một số giải pháp
nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về quy chế công chứng viên hiện tại, cố
gắng phục những bất cập, những khiếm khuyết để quy chế công chứng viên được
ngày càng hoàn chỉnh, mang tính khoa học được cao hơn, hoà kịp vào xu thế
chung hội nhập quốc tế với công chứng viên của các nước tiên tiến trên thế giới.
10
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Khi nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, tác giả xác định mục đích
chính của luận văn là phân tích, đánh giá một cách chi tiết và có hệ thống các
quy định pháp luật Việt Nam từ trước đến nay về chức danh công chứng viên và
quy chế công chứng viên, đánh giá các điểm bất cập phát sinh trên thực tế có thể
gây ra những sai lầm, những khiểm khuyết, thiếu sót trong quy định về công
chứng viên cũng như quy chế công chứng viên, điều có thể gây ra những sai
phạm, những thiệt hại có thể vô cùng lớn cho các công dân, tổ chức trong xã hội
cũng như cho toàn bộ nền kinh tế xã hội, qua đó đóng góp một số ý kiến nhằm
hoàn thiện các quy định về quy chế công chứng viên, cố gắng khắc phục những
khiếm khuyết, bất cập nói trên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy chế về công chứng viên theo hệ
thống pháp luật Việt Nam nói chung (có tham khảo quy chế công chứng viên
một số nước trên thế giới) nhưng trọng tâm vẫn là quy chế công chứng viên theo
pháp luật Việt Nam hiện hành.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn sẽ nghiên cứu về lý luận và thực tiễn tất cả các quy định về quy
chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và theo các quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trong đó có phân tích về mặt luận, dẫn
chiếu các quy định trong các văn bản pháp luật và sự thi hành trên thực tiễn (có
cả một số ví dụ về quy định của pháp luật nước ngoài) để làm vững chắc thêm về
lý luận, phong phú thêm về thực tiễn cho đề tài nghiên cứu.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1. Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời luận văn còn kế
thừa các công trình nghiên cứu của tập thể và các cá nhân liên quan đến đề tài.
11
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành luận văn này tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng các phương pháp sau: khảo sát thực
tiễn, thống kê xã hội học, phân tích, so sánh, tổng hợp, nhận xét, đưa ra kết luận.
12
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN
1.1. Tổng quan về Công chứng viên và Quy chế công chứng viên
1.1.1. Khái niệm về "Công chứng viên" và "Quy chế công chứng viên"
Công chứng viên là một chức danh tư pháp trong hệ thống pháp luật của
mỗi quốc gia. Cùng với các chức danh tư pháp khác như thẩm phán, công tố viên
(hay kiểm sát viên), chấp hành viên, luật sư, ... thì công chứng viên là một chức
danh tư pháp chỉ đến những người có trình độ pháp lý, kiến thức pháp luật và
trình độ nghiệp vụ nhất định để đáp ứng được những công việc thực thi pháp luật
trong một lĩnh vực pháp luật nhất định - lĩnh vực công chứng, được Nhà nước
đương thời cho phép hành nghề, thừa nhận hoặc quyết định bổ nhiệm bằng
quyền lực của mình. Theo pháp luật hiện tại của Việt Nam ta và của nhiều nước
trên thế giới thì Công chứng viên là những nhà chuyên môn về pháp luật có đủ
tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được bổ nhiệm để hành nghề công
chứng. Còn công chứng là hành động công chứng viên chứng nhận tính chất xác
thực, hợp pháp của văn bản (hợp đồng, giao dịch) do người yêu cầu công chứng
đề nghị hoặc do pháp luật quy định phải công chứng, chứng thực. Tuy nhiên,
trên thực tế, khái niệm "công chứng viên" không có định nghĩa chung trong tất
cả các quốc gia vì hệ thống pháp luật và phạm vi hoạt động của công chứng viên
tại mỗi quốc gia đều có sự khác nhau. Hơn nữa, khái niệm "công chứng viên"
của mỗi quốc gia cũng có thể thay đổi theo thời gian khi pháp luật tương ứng của
quốc gia đó thay đổi. Do vậy, mỗi khi được đề cập đến khái niệm "công chứng
viên" thì chúng ta buộc phải mô tả theo quy định cụ thể của từng quốc gia hoặc
nhóm các quốc gia có hệ tư tưởng pháp luật tương ứng. Nhưng qua nghiên cứu,
tựu chung, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm khá tổng quát như sau: "Công
chứng viên là một chức danh tư pháp dành cho những người có kiến thức chuyên
môn đủ rộng và đủ sâu về pháp luật để đảm đương được việc chứng nhận hoặc
13
tư vấn về tính chân thực, tính phù hợp với pháp luật và có thể thêm tính phù hợp
đạo đức xã hội của những giao dịch dân sự diễn ra trong lòng xã hội của một
quốc gia, hoặc có thể thêm chức năng xác nhận tính hợp pháp, chân thực của một
số loại văn bản được phép lưu hành trong lòng xã hội đó".
Còn quy chế công chứng viên, theo khái niệm "quy chế" trong từ điển (ví
dụ, theo Từ điển Tiếng Việt do NXB Văn hoá - Thông tin xuất bản năm 2012:
"Quy chế là những điều định ra để nhiều người, nhiều nơi cùng theo đó mà
làm"), kết hợp với tính quy định của pháp luật của từng quốc gia thì có thể đưa
ra khái niệm như sau: "Quy chế công chứng viên là tất cả những quy định của
pháp luật và những quy ước khác của xã hội về công chứng viên và tất cả những
vấn đề liên quan đến công chứng viên của một quốc gia".
Như vậy có thể thấy, khi đề cập đến bất kỳ vấn đề gì liên quan đến công
chứng viên thì đương nhiên vô hình chung cũng đã đề cập đến quy chế công
chứng viên của quốc gia đó.
Trên thực tế, công chứng viên là chức danh tư pháp hoạt động thiên về
lĩnh vực pháp luật dân sự, thương mại, được giành cho những người có đủ trình
độ về pháp luật, về sức khoẻ, về đạo đức và sự tự tin để tự mình có thể đứng ra
"chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp, tính không trái đạo đức xã hội" của
một hợp đồng, một giao dịch dân sự trong xã hội bằng các văn bản công chứng,
hoặc thuần tuý là chứng nhận tính chính xác, tính chân thực của một văn bản sao
so với văn bản chính, hoặc là tính chính xác, tính tự nguyện của một người công
dân muốn được chứng thực chữ ký của bản thân mình nhằm thể hiện ý chí của
mình trong một văn bản, giấy tờ nào đó để lưu hành trong xã hội (tham khảo
Luật Công chứng một số nước và Điều 2, khoản 1, Luật Công chứng năm 2014
của CHXHCN Việt Nam). Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, trên thế giới có
những quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia xây dựng hệ thống pháp luật của
quốc gia mình trên những hệ quan điểm pháp lý khác nhau (điển hình nhất là
giữa nhóm các quốc gia dựa trên hệ quan điểm pháp luật viết thành văn và nhóm
các quốc gia dựa trên hệ quan điểm pháp luật dựa trên hệ thống án lệ) nên xảy ra
14
một thực tế là có sự quy định khác nhau về vị trí pháp lý, tính chất và mức độ
quyền hạn thực thi pháp luật của các chức danh tư pháp tại mỗi quốc gia này,
trong đó có chức danh công chứng viên. Ở Việt Nam ta thì sự khác biệt, sự thay đổi
còn có thể nhiều hơn so với các quốc gia khác do đặc điểm lịch sử có nhiều biến
động dẫn đến đặc điểm có nhiều sự thay đổi về các bộ luật, các luật qua các thời kỳ,
kèm theo đó là khả năng và trình độ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của ta
còn chưa theo kịp với các quốc gia có lịch sử xây dựng pháp luật lâu đời khác trên
thế giới. Cũng trong bối cảnh chung đó nên các quy định về quy chế chức danh
công chứng viên theo pháp luật của nước ta cho đến nay vẫn còn tồn tại khá nhiều
vấn đề khiếm khuyết, những "lỗ hổng" khá sâu và khá rộng cần phải sửa đổi, bổ
sung và hoàn thiện.
1.1.2. Lý luận chung về "Công chứng viên" và "Quy chế công chứng viên"
Kết hợp với khái niệm "công chứng viên" và "quy chế công chứng viên"
đã nêu ở phần trên, chúng ta sẽ phân tích sâu hơn về nhu cầu thực tiễn xã hội,
quá trình phát triển khoa pháp lý trên thế giới từ xa xưa đến ngày nay liên quan
đến công chứng viên để qua đó rút ra những lý luận chung nhất về công chứng
viên và quy chế công chứng viên.
Công chứng viên (theo Từ điển Việt - Anh của nhiều nhà xuất bản có tên
Tiếng Anh là "Notary" hoặc "Notary public"). Theo nhiều tài liệu của nhiều tác
giả trên thế giới thì Công chứng là một nghề xuất hiện từ rất xưa. Cách đây hàng
ngàn năm ở Hy Lạp, Ai Cập, và đặc biệt là ở La Mã đã có những người làm
những công việc "dịch vụ văn tự" - đó có thể được coi là hình thức "công chứng"
đầu tiên trong lịch sử, và người thực hiện "dịch vụ văn tự" đó có thể được hiểu
có vai trò gần giống như là một "công chứng viên" trong pháp luật hiện nay. Tuy
nhiên, trên thực tế nghề công chứng chỉ bắt đầu phát triển tương đối mạnh vào
khoảng thế kỷ XIV, XV. Trong thời gian này đã xuất hiện những việc chứng cần
phải nhận bản sao giấy tờ, nhưng nhiều nhất, chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là
việc xuất hiện rất nhiều các nhu cầu về chứng nhận các hợp đồng, giao dịch do
các quan hệ trong xã hội đặt ra. Thuật ngữ "Notariat" (trong tiếng Pháp, tiếng
15
Đức,...) hay "Notary" (trong tiếng Anh), đều có gốc Latinh là "Notarius" có
nghĩa là "ghi chép". Và cho đến hiện tại, như chúng ta đều biết, nghề công chứng
và toàn bộ hành vi của công chứng viên cũng đều chỉ để sản sinh ra một "sản
phẩm" duy nhất được xã hội yêu cầu và công nhận - đó là văn bản công chứng -
một sản phẩm bằng văn viết. Thực chất hơn nữa, các văn bản công chứng có giá
trị pháp lý này do các công chứng viên trên khắp thế giới từ trước đến nay, bằng
kiến thức pháp luật của mình đã lập ra để phục vụ nhu cầu của các bên tham gia
giao dịch, suy cho cùng, cũng đều chỉ những sự "ghi chép" lại với một cách có
"trật tự" các hành vi, các nhu cầu thoả thuận dân sự mà các bên dân sự giao kết
với nhau đã "nhờ" công chứng viên thực hiện việc chứng nhận "giúp" về tính rõ
ràng về quyền và nghĩa vụ, tính tự nguyện, tính dứt khoát, tính trung thực và tính
hợp pháp của những giao dịch dân sự đó, hay đơn giản chỉ là tính hợp pháp của
những văn bản do các cơ quan, tổ chức khác trong xã hội ban hành nhưng được
các bên dân sự yêu cầu.
Như vậy, có thể thấy ngay một điều hiển nhiên là, công chứng viên phải là
những người nắm rất vững về hệ thống pháp luật nói chung, trong đó đặc biệt là
phải rất tinh thông về pháp luật thương mại và rộng hơn là pháp luật dân sự.
Đồng thời cũng phải là những người thật sự trung thực, vô tư, khách quan đối
với mọi đối tượng giao dịch, chủ thể giao dịch, mọi quan hệ giao dịch được yêu
cầu công chứng. Đây chính là đòi hỏi đầu tiên và cơ bản nhất của quy chế về
công chứng viên mà cả các công chứng viên từ trước đến nay trên toàn thế giới
phải tuân theo, dù ở trong bất cứ hệ thống pháp luật nào, thậm chí ở cả trong các
hệ thống pháp luật khác biệt nhau hoàn toàn về quan điểm pháp lý cũng như
cách thức tổ chức hệ thống pháp luật của quốc gia đó.
Từ sự đòi hỏi khách quan về các phẩm chất cần thiết của công chứng viên
như vậy, nên ở bất cứ quốc gia nào, nhất là các quốc gia có lịch sử phát triển
pháp luật lâu đời thì quy chế về công chứng viên luôn luôn được pháp luật đặc
biệt coi trọng. Trên thực tế, trong bất cứ một hệ thống pháp luật của quốc gia nào
có quy định về chế định về công chứng thì hành vi công chứng của công chứng
16
viên bao giờ cũng là hành vi "khởi đầu" cho một loạt các hành vi của những
người thừa hành pháp luật khác, mang đến tính hợp pháp cho các giao dịch dân
sự mà pháp luật nước đó quy định. Đồng thời, hành vi của công chứng viên cũng
nhằm tới một mục đích rất quan trọng khác, đó là bảo đảm cho việc tránh xa
những tranh chấp, những hậu quả pháp lý đáng tiếc, những thiệt hại vật chất mà
các giao dịch dân sự đó có thể mang lại, tức là hành vi của công chứng viên sẽ
nhằm mang lại tính an toàn về pháp lý, an toàn về mặt tài sản cho giao dịch dân
sự cũng như cho các bên tham gia giao dịch dân sự. Do đó, theo suy luận lô gich
về mặt pháp luật, công chứng viên có một vị trí pháp lý giống như một "thẩm
phán phòng ngừa". Tức là những người phải "đi tiên phong" trong việc ngăn
ngừa trước những sự vi phạm pháp luật có thể xảy ra, ngăn ngừa những hậu quả
pháp lý và hậu quả tài sản đáng tiếc có thể xảy ra trong tương lai do các quan hệ
giao dịch dân sự mang lại. Hơn thế nữa, khó khăn hơn, là công chứng viên phải
quyết định xử lý việc công chứng công việc với một khoảng thời gian rất ngắn,
với một tâm thế hoàn toàn "bị động" do các bên yêu cầu công chứng đề ra không
hẹn trước, nên không có một sự chuẩn bị trước nào cả, trong khi đó những giao
dịch dân sự như tất cả chúng ta đều biết là nó luôn phức tạp, mang đủ những tình
tiết tiềm ẩn những "góc khuất", những nguy cơ khó lường có thể gây ra những
hậu quả pháp lý, thiệt hại kinh tế vô cùng lớn cho cá nhân, tổ chức tham gia giao
dịch, thậm chí cho cả nền kinh tế quốc dân cũng như cho toàn xã hội.
Cũng chính vì vị trí pháp lý quan trọng, khá đặc biệt nói trên của công
chứng viên mà trên thế giới, tại nhiều quốc gia, họ đặc biệt coi trọng toàn bộ các
quy định liên quan đến chế định công chứng viên. Về mặt từ ngữ, toàn bộ các
quy định này, nếu theo từ điển Tiếng Việt thì có thể được gọi quy chế công
chứng viên. (Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học do NXB Đà
Nẵng phát hành năm 2007, Trang 1260 do NXB Đà Nẵng phát hành năm 2007:
"Quy chế là những điều đã được quy định thành chế độ để mọi người theo đó mà
thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó", hay theo Từ điển Tiếng Việt
17
do NXB Văn hoá - Thông tin xuất bản năm 2012: "Quy chế là những điều định
ra để nhiều người, nhiều nơi cùng theo đó mà làm").
Trên thế giới, ngoài một số quốc gia trong quy chế của mình vẫn quy định
công chứng viên phải là viên chức nhà nước thì rất nhiều quốc gia chỉ coi công
chứng viên là những người hành nghề tự do nhưng họ lại đặt ra quy chế rất ngặt
nghèo về công chứng viên mà trước tiên phải kể đến là ngoài yêu cầu về chất
lượng thì chính Luật của quốc gia đó chí ít thì chính phủ của quốc gia đó sẽ quy
định cụ thể nhằm khống chế về số lượng công chứng viên trên từng khu vực lãnh
thổ của quốc gia mình dựa theo các tiêu chí về diện tích lãnh thổ, số lượng dân
cư và các chỉ số xã hội khác trên một vùng lãnh thổ nhất định. Chỉ điều này thôi
chúng ta cũng đã thấy quy chế công chứng viên ở các quốc gia đó là rất chặt chẽ
dù cho họ có thể là các quốc gia luôn đi tiên phong trong các chế độ tự do kinh
doanh, tự do nhân quyền, tự do phát triển. Hướng tới điều này, các quốc gia đó
đã thể hiện là họ đã có rất nhiều kinh nghiệm và độ sâu sắc về kiến thức pháp
luật để bảo đảm cho quy chế công chứng viên của quốc gia mình luôn luôn có
được hiệu quả cao nhất, tính ổn định cao nhất và mang lại lợi ích nhiều nhất
trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội nói chung. Bởi lẽ, với quy định như vậy,
ngoài việc yêu cầu cao về trình độ pháp lý, kiến thức pháp luật của công chứng
viên, họ còn bảo đảm được tính ổn định xã hội, tính cạnh tranh lành mạnh của
một trong những nghề luật rất nhạy cảm và quan trọng là nghề công chứng, từ đó
tạo ra một uy tín rất lớn cho nghề công chứng và trên hết là đóng góp vô cùng to
lớn cho sự ổn định xã hội của một quốc gia hiện đại.
Tổng quan một số quy định cơ bản về công chứng viên trên thế giới:
Theo quá trình phát triển của pháp luật thế giới nói chung, mỗi quốc
gia, vùng lãnh thổ đều có cho mình những hệ thống pháp luật (luật lệ) riêng từ
những thời kỳ sơ khai (thời chiếm hữu nô lệ), đã biết bắt đầu xuất hiện những
người thực hiện việc công chứng nhưng với tên gọi khác chứ chưa có khái
niệm công chứng viên như bây giờ. Cho đến thời kỳ phong kiến ở một số
quốc gia giàu có, phát triển (ví dụ như ở Pháp) đã bắt đầu xuất hiện những
18
người hành nghề công chứng viên. Và từ thời kỳ đó đến nay, người hành nghề
tư pháp với chức danh công chứng viên đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia
trên khắp thế giới, hoặc do tự học hỏi, hoặc do được đào tạo bài bản, nhưng
những này (có thể dưới một tên gọi tương đương khác tuỳ theo từng vùng
miền, từng quốc gia và từng giai đoạn lịch sử) bao giờ cũng phải được nhà
nước đương thời (kể cả nhà nước phong kiến, hoặc nhà nước tư bản hay nhà
nước khác), hoặc một cơ quan, tổ chức, hay một cá nhân đại diện cho quyền
lực nhà nước này bổ nhiệm hoặc thừa nhận bằng một quyết định, một văn bản
mang tính quyền lực nhà nước, đánh dấu việc được nhà nước chính thức cho
phép hành nghề công chứng viên. Từ đó, các văn bản mà họ lập ra sẽ được
nhà nước đó, người dân và toàn xã hội đương thời của nước đó thừa nhận,
được thi hành như một văn bản pháp luật của nhà nước ban hành.
Nhưng cũng do từ lịch sử đến hiện đại, trên thế giới đã từng và hiện nay
vẫn tồn tại 3 hệ thống pháp luật (xuất phát từ 3 hệ quan điểm pháp luật khác
nhau) nên công chứng cũng tồn tại 3 hệ thống tương ứng với 3 hệ thống pháp
luật, đó là hệ thống công chứng La tinh (Luật viết), hệ thống công chứng Anglo-
Sacxon (Anh - Mỹ) và hệ thống công chứng nhà nước bao cấp (Colectiviste).
Chúng ta sẽ điểm qua một số nét chính về quy chế công chứng viên trong các hệ
thống pháp này, ứng với việc viện dẫn quy chế công chứng viên của một số quốc
gia tương có hệ thống pháp luật tương ứng.
Tuy nhiên, dù nẳm ở trong hệ thống pháp luật nào, công chứng viên cũng
có những đặc trưng chính như sau:
Nét đặc trưng đầu tiên là, công chứng viên bao giờ cũng là cá nhân một
công dân (hoặc một viên chức công) được Nhà nước đương thời bổ nhiệm để
chuyên lập (hoặc chứng nhận) các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên giao
dịch dân sự phải bảo đảm tính xác thực của văn bản giao dịch đó, bảo đảm cho
văn bản đó luôn có hiệu lực pháp luật giống như các văn bản của các cơ quan
19
công quyền khác của Nhà nước đó và đảm bảo việc lưu giữ, cấp bản sao của văn
bản đó.
a/ Vị trí, vai trò và tính chất hành nghề của công chứng viên
- Theo hệ thống công chứng Latinh (ví dụ : Đức, Áo, Bỉ, Tây Ban Nha,
Pháp, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha và Cộng hòa Séc), công chứng viên vừa
là công chức, vừa là người hành nghề tự do. Tính chất nghề nghiệp này không
chỉ đúng với công chứng viên dân luật ở các nước phương Tây mà còn được áp
dụng với công chứng viên của Trung Quốc, Mông Cổ và nhiều nước Châu Á
khác. Nói cách khác, tính chất chung của nghề công chứng viên là hoạt động
công vụ chứ không phải là hoạt động kinh doanh đơn thuần. Do vậy, công chứng
viên tại một số nước được sử dụng con dấu công vụ, con dấu có hình quốc huy
(ví dụ như: Ba Lan, .... Tại Ba Lan, công chứng viên được hưởng chế độ như các
viên chức công khác, được gọi là “công chức làm chứng”).
- Công chứng viên được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Bộ Tư pháp và
được coi như công chức dù không hưởng lương từ ngân sách nhà nước Đây là một
điểm rất đặc biệt của quy chế về công chứng viên của rất nhiều nước. Nói cách
khác, công chứng viên là một công chức đặc biệt vì công chứng viên do nhà nước
bổ nhiệm, phải tuân theo quy định của Nhà nước, đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ
của Nhà nước nhưng lại hành nghề với tư cách tự do (tự hành nghề, tự đầu tư cơ sở
vật chất, tự nuôi bộ máy giúp việc, thu nhập từ nguồn khách hàng…).
- Công chứng viên là một nhà chuyên môn hoạt động gần như trong mọi
lĩnh vực pháp luật, công chứng viên là một luật gia đầy đủ, không đơn thuần là
người soạn thảo văn bản mà còn là người làm nhiệm vụ công chứng, chứng thực,
người tư vấn pháp luật và người thu thuế cho nhà nước. Ngoài ra, công chứng
viên còn có thể thực hiện một số nhiệm vụ khác do khách hàng hoặc các cơ quan
xét xử yêu cầu. Công chứng viên là người hợp thức hóa thỏa thuận của các bên
và có thẩm quyền đóng con dấu xác thực vào toàn bộ các văn bản mà mình tiếp
nhận. Công chứng viên cũng bảo đảm lưu giữ toàn bộ các dự thảo văn bản.
Ngoài chức năng xác thực tính hợp lệ và bảo đảm an toàn cho các văn bản nói
20
trên, các công chứng viên còn có thể can thiệp với phạm vi rộng hơn; họ là các
chuyên gia về pháp luật tổng quát với một tầm nhìn tổng thể về các vấn đề pháp
lý. Họ có thể can thiệp vào khuôn khổ pháp lý nói chung và khuôn khổ pháp lý
về thuế, điều đó khiến họ trở nên đặc biệt hiệu quả trong việc tư vấn cho khách
hàng của mình.
- Hầu hết tại các nước theo hệ thống luật La tinh, công chứng viên là
công chức do Nhà nước bổ nhiệm, chuyên tư vấn một cách độc lập, trung lập và
khách quan cho các giao dịch pháp lý quan trọng. Công chứng viên đóng vai trò
then chốt trong luật về bất động sản, luật thế chấp, luật về hợp đồng, luật công ty
cũng như các luật khác về gia đình và thừa kế. Các công chứng viên dân luật là
các cố vấn độc lập, trung lập và khách quan cho tất cả các bên tham gia giao
dịch. Họ kiểm tra ý định của các bên, dự thảo hợp đồng và các công cụ cần thiết
để thực hiện giao dịch dự kiến và bảo đảm các quy định trong hợp đồng tuân thủ
với luật. Các công chứng viên dân luật cũng xác minh năng lực đầy đủ của các
bên để ký kết thỏa thuận dự kiến và để hiểu đầy đủ những hệ lụy về pháp lý của
các cam kết mà họ đưa ra. Nếu không, luật pháp yêu cầu công chứng viên dân
luật phải từ chối sự tham gia của người đó.
- Ngoài ra, tại một số nước (ví dụ: Tây Ban Nha), công chứng viên là một
công chức có thẩm quyền cung cấp bằng chứng về các hợp đồng và các hoạt
động ngoài tố tụng khác. Là một công chức, công chứng viên phải bảo đảm độ
chính xác của những gì công chứng viên nhìn thấy, nghe thấy, quan sát thấy hoặc
cảm nhận được; tính xác thực và hiệu lực bằng chứng đối với các lời khai thể
hiện ý chí của các bên trong các văn bản được soạn thảo theo luật. Sau đó, công
chứng viên có thẩm quyền hành động và chứng từ hóa toàn bộ các loại tình tiết,
hành vi, hợp đồng và nói chung là mọi hoạt động kinh doanh hợp pháp trong
phạm vi luật pháp ngoài tố tụng. Không có loại công chức nào khác có thể hành
động với phạm vi rộng như vậy trong lĩnh vực này.
- Cũng tại một số nước (Trung Quốc), công chứng viên vừa là công chức
vừa là những người hành nghề tự do. Với tư cách là công chức, họ được bổ
21
nhiệm bởi một cơ quan chính phủ, phải chịu các nghĩa vụ kỷ luật, trách nhiệm
dân sự hoặc hình sự. Với tư cách người hành nghề tự do, công chứng viên có thể
lựa chọn địa điểm thành lập văn phòng của mình, tuyển dụng nhân viên cũng
như mua sắm các trang thiết bị cần thiết. Họ được khách hàng trả tiền và trích lại
một phần để nộp cho nhà nước.
b/ Chức năng, nhiệm vụ của công chứng viên
Thông thường (nhất là những quốc gia theo hệ thống Luật Latinh), công
chứng viên là những cán bộ chuyên môn bảo đảm được hiệu quả và tính chắc
chắn về mặt pháp lý của những hợp đồng giao dịch và thay mặt Nhà nước thu
thuế chuyển nhượng, thu phí đăng ký và trả thuế này cho cơ quan thuế trong
khoảng thời gian rất ngắn. Nhờ đó, chính quyền thường xuyên nhận được những
khoản thanh toán này một cách rất hiệu quả và nếu những khoản này không được
thanh toán, công chứng viên phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với chính quyền
về việc thanh toán những khoản thuế này.
Ví dụ như đã dẫn chiếu ở trên, theo quy định của Tây Ban Nha, công
chứng viên là công chức có thẩm quyền cung cấp bằng chứng theo quy định của
pháp luật về các hợp đồng và các hoạt động ngoại tụng khác. Điều này có nghĩa
là, công chứng viên là một người hành nghề luật độc lập, có nhiệm vụ đánh giá
một cách công tâm không thiên vị những người yêu cầu cung cấp dịch vụ và tư
vấn cho họ những công cụ pháp lý phù hợp nhất để đạt được kết quả hợp pháp
mà họ mong muốn. Sau đó, công chứng viên có thẩm quyền hành động và chứng
từ hóa toàn bộ các tình tiết, hành vi mà nói chung là mọi hoạt động kinh doanh
hợp pháp trong phạm vi luật pháp ngoài tố tụng.
Một ví dụ khác, trong xã hội Pháp, chức năng tư vấn của công chứng viên
đã có bước phát triển rất mạnh mẽ. Hoạt động tư vấn của công chứng viên đã
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân trong mọi lĩnh vực (hôn
nhân gia đình, thương mại, bất động sản hay trong quản lý tài sản…). Công
chứng viên có nghĩa vụ tư vấn cho mọi khách hàng, không phân biệt trình độ
hiểu biết; đưa ra những lời tư vấn phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng
22
đồng thời cũng có lợi nhất cho khách hàng. Công chứng viên phải giải thích để
các bên hiểu rõ tính chất của thỏa thuận, những hệ quả của thỏa thuận mà họ ký
kết với nhau trước khi công chứng, đồng thời cũng phải giúp khách hàng thực
hiện thỏa thuận đó.
Ngoài nhiệm vụ soạn thảo, công chứng văn bản và tư vấn, công chứng
viên còn có thể thực hiện một số nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Tòa án hoặc
theo yêu cầu của khách hàng. Theo yêu cầu của Tòa án, công chứng viên có thể
lập dự thảo phân chia tài sản trong một vụ ly hôn, làm giám định viên trong vụ ly
hôn, hỗ trợ thẩm phán đánh giá giá trị bất động sản, làm người giám hộ, người
quản lý tài sản của người bị mất năng lực hành vi mà không có gia đình. Theo
yêu cầu của khách hàng, công chứng viên có thể tìm nguồn vốn vay cho khách
hàng, giúp khách hàng chuyển vốn vào tổ chức đầu tư, thương lượng bán bất
động sản hoặc sản nghiệp thương mại, lập bản kê khai tài sản thừa kế…
Ở Trung Quốc, công chứng viên có nhiệm vụ cung cấp tư vấn cho các
bên trước khi thông báo về phạm vi và hậu quả của chứng thư mà họ ký. Ngoài
ra, công chứng viên phải lưu trữ bằng chứng của thông báo này. Điều này cho
thấy chính quyền Trung Quốc đã quyết định áp dụng triệt để nhiệm vụ tư vấn
nhưng, bằng cách giữ bằng chứng về trách nhiệm tư vấn, họ cũng ngăn chặn bất
kỳ sự lạm dụng nào từ các khách hàng không trung thực.
Như vậy, có thể thấy, với nhiệm vụ cung cấp bằng chứng, tư vấn, hòa giải,
lập văn bản và thu thuế, công chứng viên có phạm vi hoạt động tương đối rộng so
với các công chức khác. Hoạt động pháp luật duy nhất mà công chứng viên không
được làm là bào chữa trong các vụ kiện. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp để bảo
đảm tính độc lập trong hoạt động của công chứng viên. Với việc trao cho công
chứng viên chức năng, nhiệm vụ đặc biệt như trên, Nhà nước đặt ra những yêu cầu,
tiêu chuẩn khắt khe đối với hoạt động của công chứng viên, đồng thời, tạo lập một
vị trí xứng đáng cho chức danh này trong xã hội, nơi mà người dân tin tưởng và coi
công chứng viên là những “thẩm phán hợp đồng”, “bác sĩ tài sản” của họ.
23
c/ Tiêu chuẩn công chứng viên
Tuy có những điểm khác nhau về thể chế, hầu hết các nước đều công nhận
công chứng là một nghề rất khó. Công chứng viên đều là những nhà luật học
giỏi, những chuyên gia pháp luật có kiến thức pháp lý sâu rộng và áp dụng pháp
luật nhuần nhuyễn, linh hoạt. Do vậy, việc gia nhập đội ngũ công chứng viên là
một quy trình có tính cạnh tranh rất cao, được lựa chọn theo các tiêu chuẩn hết
sức nghiêm ngặt (Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc…).
- Tiêu chuẩn chung: Pháp luật các nước có khá nhiều điểm tương đồng
trong quy định về tiêu chuẩn công chứng viên. Cụ thể, công chứng viên phải là
công dân của nước đó, không thuộc trường hợp mất năng lực hoặc không có khả
năng thực hiện vai trò của công chứng viên, là tiến sĩ hoặc người tốt nghiệp luật,
có nhân cách và năng lực phù hợp với chức danh, đã trải qua khóa đào tạo nghề
dài và chuyên sâu, hoàn thành thời gian tập sự hành nghề công chứng và vượt
qua kỳ thi tuyển công chứng viên.
- Tiêu chuẩn về trình độ: Để khẳng định vị trí của chức danh công chứng
viên, một số nước quy định tất cả các công chứng viên phải đủ điều kiện chuyên
môn làm thẩm phán và luật sư (Đức) hoặc đã làm công chứng viên dự bị với một
thời gian nhất định (ít nhất 2 năm theo Luật của Ba Lan) hoặc phải là người đã
được bổ nhiệm trong hơn 10 năm vào các công việc được quy định theo Luật
(Hàn Quốc)… Với một số đối tượng như giáo sư, tiến sỹ luật học, thẩm phán,
luật sư, tư vấn pháp luật có thâm niên ít nhất 3 năm… thì một số tiêu chuẩn có
thể được xem xét giảm bớt, ví dụ như tiêu chuẩn về thời gian làm công chứng
viên dự bị hoặc được miễn khóa đào tạo nghề, miễn thời gian tập sự hành nghề
(Ba Lan, Trung Quốc).
- Tiêu chuẩn về tuổi: Về tuổi bổ nhiệm, theo thông lệ phương Tây, lợi thế về
độ tuổi được xem xét vì nghề này đòi hỏi phải có một nền tảng vững chắc và kinh
nghiệm đáng kể. Ví dụ như: công chứng viên tại Đức phải là người ít nhất 35 tuổi
và không quá 70 tuổi khi bổ nhiệm lần đầu. Tại Ba Lan thì ít nhất 26 tuổi mới được
bổ nhiệm. Tại Tây Ban Nha độ tuổi trung bình thấp nhất để được bổ nhiệm công
24
chứng viên từ 27 đến 28 tuổi. Còn tại Nhật Bản, nhiều công chứng viên được bổ
nhiệm khi họ khoảng 58 đến 62 tuổi và làm công chứng viên trong vòng 8 đến 10
năm. Tại Hàn Quốc, chỉ những người ở độ tuổi trung niên mới được bổ nhiệm làm
công chứng viên. Về tuổi hành nghề, đa số các nước đều quy định độ tuổi tối đa là
65 hoặc 70 (Trung Quốc, Tây Ban Nha, Đức, Nhật Bản).
Ngoài các tiêu chuẩn nêu trên, các nước như Pháp, Đức, Tây Ban Nha đều
quy định công chứng viên phải khẳng định được uy tín của mình. Khách hàng
khi đến yêu cầu công chứng phải có niềm tin vào người công chứng viên về việc
người này rất minh bạch, không thiên vị, hoàn toàn tin tưởng.
Tại Đức, một người muốn trở thành công chứng viên thì phải có thêm điều kiện
là thi đỗ kỳ thi tuyển quốc gia II và hoàn thành tập sự 3 năm tại một Văn phòng công
chứng; người muốn là công chứng viên - luật sư thì phải là luật sư ít nhất 5 năm, trong
đó có ít nhất 3 năm đã hành nghề tại địa bàn mà luật sư đó muốn trở thành công chứng
viên, đồng thời phải trải qua kỳ thi mà không cần tập sự (nhưng vẫn phải chứng minh
có ít nhất 160 giờ làm việc tại một Văn phòng công chứng).
Nhật Bản có thể được coi là một ngoại lệ với việc quy định điều kiện khá
dễ dàng để trở thành công chứng viên. Theo đó, mặc dù về nguyên tắc, bất cứ ai
vượt qua kỳ thi do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề ra và hoàn thành khóa đào tạo kéo
dài hơn 06 tháng đều có thể có đủ điều kiện làm công chứng viên. Tuy nhiên, kỳ
thi này vẫn chưa được tổ chức vì thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư có thể
được bổ nhiệm làm công chứng viên mà không cần thi hoặc hoàn thành khóa đào
tạo này. Hơn nữa, những người đã tham gia các sự vụ pháp lý lâu năm và có nền
tảng học vấn tương tự như các chuyên gia pháp lý cũng có thể được bổ nhiệm
làm công chứng viên.
(Có tham khảo và trích dẫn lại từ: Nguyễn Thảo (Ban Nội chính Trung ương) -
Trang (Nguồn: www.noichinh.vn): "Ban chỉ đạo Trung ương về Đẩy mạnh cải cách
chế độ công vụ, công chức", caicachcongvu.gov.vn.).
25
1.2. Quá trình hình thành và phát triển công chứng viên và quy chế
công chứng viên
1.2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy chế công chứng viên
tại một số nước trên thế giới
Như phần đầu đã nêu, thì công chứng là một nghề đã xuất hiện từ rất xã
xưa, cách đây hàng ngàn năm, và cũng bắt đầu ở Hy Lạp, Ai Cập, và đặc biệt là
ở La Mã - là những nơi đã được xác định là những "cái nôi" của nền văn minh
nói chung và nền pháp luật nhân loại nói riêng. Ở đó đã xuất hiện đầu tiên những
người làm các "dịch vụ văn tự" mà cho đến này chúng ta hiểu chính là một hình
thức gần giống như các văn bản mà luật sư, công chứng viên thường làm bây
giờ. Tuy nhiên, phải đến những năm của thế kỷ XIV, XV thì nghề công chứng
mới bắt đầu phát triển tương đối mạnh. Trong thời gian này, ngoài các nhu cầu
về việc sao giấy tờ trong dân chúng thì đã xuất hiện rất nhiều và rất cấp thiết các
nhu cầu về chứng nhận các hợp đồng, giao dịch do các quan hệ trong xã hội đặt
ra lúc bấy giờ do nền kinh tế, thương mại, giao dịch dân sự thời đó đã bắt đầu
phát triển mạnh.
* Các hệ thống công chứng trên thế giới:
Theo thời gian và trải qua tất cả các thời kỳ lịch sử xã hội, lịch sử pháp
luật của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có cho mình những hệ thống pháp luật
riêng từ những thời kỳ sơ khai như chiếm hữu nô lệ. Như chúng ta đã biết, pháp
luật đã xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, do vậy ngay từ khi có
những nhà nước sơ khai ra đời, tại một số nhà nước đã có những người thực hiện
việc công chứng, nhưng tất nhiên là với các tên gọi khác chứ chưa có khái niệm
là công chứng viên như bây giờ. Cho đến thời kỳ phong kiến ở một số quốc gia
giàu có, phát triển (ví dụ như ở Pháp) đã bắt đầu xuất hiện những người thực sự
hành nghề công chứng viên. Và từ thời kỳ đó đến nay, người hành nghề về pháp
luật với chức danh công chứng viên đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên
khắp thế giới. Họ do tự học hỏi, hoặc do được đào tạo bài bản, nhưng những
người bắt đầu được hành nghề công chứng với chức danh công chứng viên chính
26
thức (hoặc một tên gọi tương đương khác tuỳ theo từng vùng miền, từng quốc
gia và từng giai đoạn lịch sử) thì bao giờ cũng phải được một nhà nước (kể cả
nhà nước phong kiến, hoặc nhà nước tư bản hay nhà nước khác), hoặc một cơ
quan, tổ chức, hay một cá nhân đại diện cho quyền lực nhà nước đó bổ nhiệm
hoặc thừa nhận bằng một quyết định, một văn bản mang tính quyền lực nhà
nước, đánh dấu việc được nhà nước chính thức cho phép hành nghề công chứng
viên. Từ đó, các văn bản mà họ lập ra sẽ được nhà nước đó, người dân và toàn xã
hội đương thời của nước đó thừa nhận, được thi hành như một văn bản pháp luật
của nhà nước ban hành.
Nhưng cũng do từ lịch sử đến hiện đại, trên thế giới đã từng và hiện nay
vẫn tồn tại 3 hệ thống pháp luật (xuất phát từ 3 hệ quan điểm pháp luật khác
nhau) nên công chứng cũng tồn tại 3 hệ thống tương ứng với 3 hệ thống pháp
luật, đó là hệ thống công chứng La tinh (Luật viết), hệ thống công chứng Anglo-
Sacxon (Anh - Mỹ) và hệ thống công chứng nhà nước bao cấp (Colectiviste).
Chúng ta sẽ điểm qua một số nét chính về quy chế công chứng viên trong các hệ
thống pháp này, ứng với việc viện dẫn quy chế công chứng viên của một số quốc
gia tương có hệ thống pháp luật tương ứng.
a/ Hệ thống Công chứng La tinh
Ở các nước theo hệ La tinh, Công chứng viên được Nhà nước ủy thác một
phần quyền lực và giao cho con dấu riêng có khắc tên của chính công chứng viên
đó. Với tư cách là ủy viên công quyền (officier public), công chứng viên có
nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, thể hiện ở chỗ công chứng viên được người
đứng đầu Nhà nước hoặc Bộ trưởng Tư pháp bổ nhiệm và hoạt động của họ
được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Công chứng trong khuôn khổ một nghề tự do được thể hiện rõ trong việc
công chứng viên thực hiện chức năng mang tính công thông qua quyền tự do tổ
chức hoạt động trong nội bộ phòng công chứng, trong việc trả tiền công tính theo
lao động, trong khả năng cạnh tranh lành mạnh, trong trách nhiệm cá nhân về bồi
thường thiệt hại do văn bản đã được công chứng gây ra. Theo quy chế, với tư
27
cách là người hành nghề tự do, công chứng viên thực sự là một chủ doanh
nghiệp, thu nhập của công chứng viên là tiền thù lao do họ tự thu từ khách hàng;
công chứng viên tổ chức văn phòng theo cách riêng của mình, tuyển dụng nhân
viên, thuê trụ sở, sắp đặt tài liệu, hồ sơ, trang thiết bị văn phòng theo cách riêng.
Theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện của khách hàng, công
chứng viên đem lại cho các văn bản và hợp đồng một tính đích thực, có giá trị
như văn bản do các cơ quan công quyền khác cấp, đảm bảo cho các hợp đồng
một sự an toàn trong mọi tình huống, hạn chế được đến mức thấp nhất những
tranh chấp dân sự, làm giảm bớt gánh nặng quá tải về xét xử của các Tòa án,
giảm bớt chi phí xã hội. Các văn bản hợp đồng, giao dịch do công chứng viên
thực hiện có hiệu lực thi hành ngay, có giá trị như một phán quyết của tòa án.
Công chứng viên giữ vai trò quan trọng để đảm bảo trật tự pháp lý, đó là
vai trò bổ trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh
chấp. Chính vai trò mang tính chất phòng ngừa này của công chứng viên là một
điểm thuận lợi trong hệ thống luật Châu Âu lục địa so với các hệ thống luật khác.
Nhiệm vụ cơ bản của công chứng viên là chứng nhận các hợp đồng.
Chứng nhận là khái niệm bao hàm kỹ thuật tác nghiệp trong nghề công chứng.
Chứng nhận là xác nhận sự thỏa thuận giữa các bên, xác minh tính hợp pháp của
thỏa thuận đó, xác minh các bên giao kết có tự nguyện không, xác minh những
người có mặt chính là đại diện của các bên để ký hợp đồng không, xác minh
thẩm quyền, năng lực pháp luật của các bên, kiểm tra xem trong hợp đồng có
chứa những điều khoản có nội dung mà pháp luật cấm không, kiểm tra xem việc
ký kết hợp đồng có tuân thủ tất cả các trình tự, thủ tục cần thiết không. Ngoài ra,
công chứng viên còn phải ký vào hợp đồng, ghi vào hợp đồng ngày tháng chính
xác của việc ký kết, thừa nhận giá trị chứng cứ của hợp đồng, hiệu lực thi hành
của hợp đồng.
Công chứng viên là những nhà luật pháp rất gần gũi với cuộc sống. Sứ
mệnh của họ là giúp mọi người lựa chọn và định đoạt tài sản của mình theo cách
hợp lý nhất, đồng thời họ có nghĩa vụ tư vấn cho các bên giao kết hợp đồng một
28
cách vô tư, không thiên vị, lưu ý họ về phạm vi, các hệ quả, rủi ro mà hợp đồng
có thể đặt ra để bảo vệ lợi ích của tất cả các bên trong hợp đồng, dù đó là bên
bán hay bên mua. Với nghĩa vụ tư vấn này, công chứng viên không những làm
nhiệm vụ cùng ký vào hợp đồng, xác nhận ý chí của các bên trong hợp đồng, mà
còn có nhiệm vụ giúp đỡ các bên thể hiện ý chí đó trong hợp đồng, lựa chọn các
thể thức ký kết hợp đồng phù hợp tùy thuộc vào mục đích của hợp đồng, vào các
quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng, thông tin cho các bên biết về những
hệ quả pháp lý, thuế khóa mà hợp đồng đặt ra (ở những nước phát triển, những
hệ quả về thuế rất quan trọng).
Công chứng viên có nhiệm vụ hòa giải sự bất đồng về quan điểm của các
bên trong quá trình soạn thảo hợp đồng, để đảm bảo sự công bằng trong hợp
đồng, đảm bảo tôn trọng quyền lợi chính đáng của mỗi bên giao kết. Yêu cầu về
hợp đồng công bằng là một yêu cầu rất quan trọng của công chứng, do vậy, công
chứng viên thực sự giữ vai trò trọng tài và trung gian hòa giải các bên. Hoạt
động này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho các bên giao kết, làm cho quan
điểm của các bên xích lại gần nhau, sớm đạt được sự thống nhất, tránh xa tranh
chấp hợp đồng sau này.
Công chứng viên có nhiệm vụ bảo quản lâu dài các văn bản. Công chứng
viên phải cấp bản sao từ bản gốc của các văn bản do mình ký. Các văn bản do
công chứng viên lập là các văn bản công, không thuộc sở hữu của công chứng
viên, cũng không thuộc sỡ hữu của các bên mà thuộc về kho lưu trữ của Nhà
nước. Như vậy, công chứng viên là người quản giữ các tư liệu đó. Nhiệm vụ này
cũng xuất phát từ chức năng dịch vụ công của công chứng.
Công chứng viên có nghĩa vụ tuân thủ biểu giá về thù lao (lệ phí công
chứng) đã được ấn định, không thể tự ý tăng, giảm thù lao. Thực vậy, chế độ tự
do mặc cả về thù lao không phù hợp với chế độ dịch vụ công, vì nếu theo chế độ
tự do về lệ phí thì công chứng viên có quyền từ chối nhận văn bản khi thấy tiền
thù lao nhận được từ văn bản đó không thỏa đáng. Ở một số nước mà công
chứng viên có thể thương lượng hợp đồng với khách hàng, thì có thể nảy sinh
29
hiện tượng dùng tiền để móc ngoặc với nhau, điều này cũng hoàn toàn trái với
dịch vụ công.
Công chứng viên không chỉ là người có đủ tinh thông về kỹ thuật mà còn
có sự thanh khiết về đạo đức. Trình độ tinh thông thể hiện ở chỗ, nhà thực hành
phải biết đào tạo nghiệp vụ cơ bản, thường xuyên cập nhật và hoàn thiện những
kiến thức pháp luật. Nhưng sự trong sáng về đạo đức còn quan trọng hơn nhiều,
nó đòi hỏi ở công chứng viên không chỉ lòng trung thực mà cả thái độ công
minh, vô tư, sự tôn trọng triệt để các bí mật được giao. Lòng can đảm để đảm
nhận những trách nhiệm.
Hiện nay ảnh hưởng của hệ thống công chứng la tinh trong thế giới hiện
đại là khá lớn. Các quốc gia mang hệ thống pháp luật La tinh đã cùng nhau lập ra
Liên đoàn công chứng La tinh quốc tế (UTNL), là một tổ chức phi chính phủ,
được thành lập để cổ vũ, hợp tác và phát triển hoạt động công chứng trên phạm
vi quốc tế, nhằm phối hợp chặt chẽ giữa công chứng viên của các nước thành
viên, bảo đảm uy tín và tính độc lập, đem lại sự phục vụ tốt nhất cho các cá nhân
và cộng đồng, liên đoàn là người đại diện cho sự thống nhất về ý chí và tổ chức
của công chứng theo hệ La Tinh, đại diện cho các chuyên gia về hợp đồng, các
nhà tư vấn độc lập và không thiên vị, những người thừa ủy quyền của Nhà nước
đem lại cho các hợp đồng tính đích thực, sự an toàn pháp lý và quyền tự do giao
kết.
Tại Đại hội lần thứ nhất, khai mạc ngày 2/10/1948, liên đoàn được thành
lập theo sáng kiến của ông Hôxenegri, Chủ tịch hội đồng công chứng thành phố
Buenôt Airet – thủ đô của Argentima. Sau đó, Đại hội đồng của liên đoàn đã
quyết định trụ sở của Liên đoàn đặt tại trụ sở của thành phố Nam Mỹ này.
* Liên đoàn công chứng La tinh quốc tế đã đề ra các Mục tiêu hoạt
động, các cơ quan của Liên đoàn:
Khi mới thành lập, Liên đoàn chỉ có 20 nước tham gia, đến nay số thành
viên đã lên tới 62 nước, trong số đó có 21 thành viên mới được kết nạp trong
vòng 8 năm gần đây. Các nước thành viên chủ yếu tập trung ở Châu Âu, Châu
30
Mỹ La tinh, các nước thuộc địa cũ của Pháp ở Châu Phi. Riêng ở Bắc Mỹ chỉ có
hai thành viên là vùng Quebec của Canada và bang Luisane của Hoa Kỳ; ở Châu
Á có 3 nước tham gia là Nhật Bản, Trung Hoa và Thổ Nhĩ Kỳ.
Đầu năm 1995, Ủy ban hợp tác quốc tế đã nhận và xét đơn gia nhập Liên
đoàn công chứng quốc tế hệ La tinh của công chứng liên bang Nga, Estonia,
Panama, Croatia, Ucraina, Ghinê, Trung Hoa. Một số nước đang trên đường tiến
tới việc thiết lập lại hệ thống công chứng tự do như: Rumani, Bungari,
Belaruxia, Mondova. Ở Châu Á, Ủy ban này đang có mối liên hệ và khích lệ
công chứng các nước: Indoneisa, Lào, Việt Nam. Hội đồng thường trực đã quyết
định tổ chức ở La Habana hai cuộc hội thảo từ 21 đến 25/3/1995 để bàn về việc
công chứng Cuba sẽ tái nhập Liên đoàn sau gần 40 năm vắng bóng.
Sự phát triển hùng mạnh của hệ thống công chứng La tinh được thể hiện
qua những ưu điểm hiển nhiên của nó so với hệ thống Anglo-sacxon. Những ưu
điểm đó được thấy rõ ở chỗ công chứng viên hoạt động với tư cách cá nhân về
mặt tài chính, chịu trách nhiệm về hành vi công chứng đã thực hiện, họ hoạt
động nhân danh nhà nước, phục vụ lợi ích công, tạo ra sự tin cậy và an toàn pháp
lý cho các giao dịch, giảm đến mức thấp nhất những tranh chấp về hợp đồng đã
công chứng.
Phương châm ngành công chứng tự trang trải về mặt tài chính đã chẳng
những trút bỏ được gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà ngược lại còn bổ sung
cho ngân sách thông qua việc nộp một khối lượng thuế đáng kể của các công
chứng viên và tạo điều kiện để Nhà nước thu một khối lượng thuế trước bạ rất
lớn gắn liền với việc chuyển quyền sở hữu bất động sản.
* Một số ví dụ điển hình công chứng hệ la tinh - Quy chế công chứng
viên ở Cộng hoà Pháp:
Ở Pháp, công chứng là một nghề đã có từ thế kỷ XII, nó trải qua sự thăng
trầm của nhiều chế độ khác nhau, qua nhiều cuộc cách mạng và chiến tranh.
Năm 1803, chính thể Bonaperte đã cho ra đời luật VENTOSE, đây là đạo luật
đầu tiên của Pháp về tổ chức và hoạt động mang tính kỹ thuật cao mà một số
31
điều khoản cơ bản của nó vẫn còn có hiệu lực đến ngày nay. Sau đó, Luật này
được sửa đổi bổ sung bằng Pháp lệnh cải cách công chứng năm 1945 và nhiều
pháp lệnh khác.
Công chứng chiếm vị trí hàng đầu trong số các nghề luật ở Pháp, doanh
thu của ngành Công chứng đạt 27 tỷ FF mỗi năm chiếm khoảng 45% tổng số
doanh thu của các nghề luật ( luật sư, tư vấn, thừa phát lại, bán đấu giá ...). Hiện
có hơn 7.800 công chứng viên, trong đó có khoảng 1.200 công chứng viên nữ, sử
dụng hơn 43.000 nhân viên nghĩa là có tất cả trên 51.000 người làm việc trong
ngành công chứng so với 32.000 trong ngành luật sư và 17.000 trong ngành tư
vấn pháp luật. Có khoảng gần 4.550 phòng công chứng được phân bố trên khắp
lãnh thổ và gần 60% công chứng hành nghề trong các hiệp hội nghề nghiệp dân
sự. Hoạt động công chứng chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, hôn nhân và gia
đình. Tuy nhiên từ nhiều năm nay, nó phát triển khá mạnh trong lĩnh vực luật
kinh doanh, tư vấn pháp luật.
Phạm vi hoạt động của công chứng viên
Ở Cộng hoà Pháp, pháp luật chỉ quy định có tính nguyên tắc về phạm vi
các việc công chứng, để từ đó công chứng viên bằng sự tinh vi, sáng suốt và nội
tâm nghề nghiệp mà chấp nhận thực hiện hoặc từ chối mỗi yêu cầu của khách
hàng (xác định mục đích có trái pháp luật, trái với tập quán tốt lành và gây hại
cho người thứ ba hoặc cho cộng đồng, cho nhà nước hay không).
Bốn lĩnh vực bao trùm hoạt động công chứng của công chứng viên tại
Pháp là:
- Lĩnh vực gia đình (mọi vấn đề liên quan đến gia sản - công chứng viên
xác nhận quyền sở hữu hoặc quản lý tài sản (nhà, đất, máy móc thiết bị, định giá
tài sản, kê khai, thu nhập …, hoặc định đoạt tài sản)). Lập hôn ước, thay đổi chế
độ tài sản trong hôn nhân, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc sau
khi chết. Công chứng viên đưa ra lời khuyên về cơ chế quản lý tài sản, đồng thời
là người trọng tài trung gian hỗ trợ cho nhiều chủ đề khác nhau trong luật gia
32
đình và thừa kế. Ngoài ra, công chứng viên còn có vai trò giải quyết những vấn
đề pháp lý khác nhau như công nhận con ngoài giá thú, con nuôi, đỡ đầu …
- Lĩnh vực bất động sản (quan trọng thứ hai của ngành công chứng): Công
chứng viên được khách hàng yêu cầu ở mọi mức độ của hoạt động về bất động
sản (xây dựng, mua bán đất đai, công chứng viên tạo nên căn cứ về sở hữu, làm
môi giới để người mua và người bán gặp nhau, lập hợp đồng mua bán thông qua
tín dụng. Ngoài ra, công chứng viên còn tham gia vào việc quản lý bất động sản,
họ chỉ dẫn cho đương sự biết về trị giá của đất đai và nhà cửa thông qua những
chuyên gia giám định theo mặt bằng giá thị trường.
- Trong lĩnh vực kinh doanh: Công chứng bắt buộc chứng nhận khai vốn
để thành lập công ty. Ngoài ra công chứng viên còn làm các việc: chứng nhận
việc thành lập các tổ chức xã hội, lập hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại,
hợp đồng cho thuê, tăng vốn điều lệ, nhượng vốn kinh doanh, giải thể một công
ty,… tư vấn cho đại hội đồng công ty, lập biên bản cuộc họp.
- Trong lĩnh vực tư vấn: Tư vấn pháp luật, đưa ra lời khuyên vô tư cho các
bên và làm cho các bên hiểu rõ ý nghĩa và hậu quả pháp lý của hợp đồng.
Quy định về tiêu chuẩn Công chứng viên tại CH Pháp
Công chứng viên ở Pháp vừa là viên chức hoạt động nhân danh Nhà nước,
vừa là thành viên của nghề tự do, có nghĩa là người làm dịch vụ, người tư vấn
đáng tin cậy của cá nhân, công ty và tổ chức. Công chứng viên là viên chức công
có nhiệm vụ đem lại tính đích thực cho các văn bản và hợp đồng của cá nhân, tổ
chức. Công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân và thực hiện chức năng của
mình một cách độc lập trong khuôn khổ một nghề tự do.
Tính hai mặt của chức năng công chứng là rất cơ bản:
-Với tư cách là viên chức công (ủy viên công quyền), công chứng viên
đem lại cho khách hàng một sự an toàn trong các quan hệ về hợp đồng, đem lại
một tính đích thực cho các văn bản do mình lập, có giá trị như những văn bản do
các công lại khác lập.
33
-Với tư cách là người làm nghề tự do, công chứng viên hoạt động bằng
nguồn kinh phí tư nhân, thiết lập với khách hàng những quan hệ riêng và bảo
đảm cho hoạt động của phòng công chứng có hiệu quả và sự đa dạng hóa hoạt
động của mình.
Khái niệm viên chức công đã được xác định ở Điều 1 Pháp lệnh ngày 2 tháng
9 năm 1995, lấy lại gần như nguyên văn định nghĩa trong Luật 25 Ventose năm 1803:
Công chứng viên là viên chức công (officier public) được Nhà nước bổ
nhiệm để lập văn bản và hợp đồng do pháp luật quy định phải công chứng hoặc
do khách hàng tự nguyện yêu cầu, đem lại tính đích thực cho các văn bản và hợp
đồng đó, có giá trị như văn bản của cơ quan công quyền để đảm bảo chính xác
ngày tháng, năm, lưu trữ lâu dài và cấp các bản sao công chứng từ bản gốc.
Với tư cách là người đem lại tính đích thực cho văn bản, đem lại một hiệu
lực chấp hành riêng biệt, công chứng viên có nhiệm vụ rất nặng nề trong hệ
thống các tổ chức hoạt động về luật pháp của Pháp. Công chứng viên là những
người tư vấn cho các bên do luật quy định và các bên có nghĩa vụ tin tưởng vào
công chứng viên. Công chứng viên không chỉ đem lại tính đích thực cho văn bản
và hợp đồng, với niềm tin và căn cứ vững chắc, luật pháp đã giao cho họ một vai
trò xứng đáng hơn, cao hơn cả, đó là vai trò của một người được coi là vô tư
đáng tin cậy của các bên.
Công chứng viên đóng vai trò của một người đã tuyên thệ với những lời
thề rất thiêng liêng, cao thượng, nên không thể có những nghi ngờ về sự thiếu
trung thực hoặc có những mờ ám trong giao kết. Công chứng viên đã phải đi sâu
vào một quá trình làm việc căng thẳng, nặng nề để tránh những sai sót cho dù là
nhỏ nhất. Do vậy, một văn bản công chứng khó có thể bị phản bác, trong khi đó
những điều khoản của hợp đồng được ký dưới hình thức tư chứng thư dễ bị bác
bỏ trước tòa.
Quy hoạch công chứng viên tại CH Pháp
Theo đề nghị của Hội đồng công chứng tối cao, Bộ trưởng Tư pháp quyết
định những biện pháp để phân bố một cách hợp lý nhất các phòng công chứng,
34
phân bố công chứng viên theo vị trí địa lý và mật độ dân số và nhu cầu công
chứng trong phạm vi toàn lãnh thổ.
Việc thành lập, di chuyển, xóa bỏ một phòng công chứng, việc thành lập,
thay đổi hoặc xóa bỏ một chi nhánh của phòng công chứng, việc chỉ định nơi đặt
trụ sở của phòng công chứng hoặc chi nhánh đều phải được công bố bằng quyết
định của Chưởng ấn – Bộ tư pháp.
Bổ nhiệm công chứng viên tại CH Pháp
Theo quy định của Điều 41 Sắc lệnh ngày 5/7/1973, Chưởng ấn – Bộ Tư
pháp bổ nhiệm công chứng viên bằng Quyết định đăng trên công báo.
Trong thực tế, một người đã có bằng hành nghề công chứng và có đủ các
điều kiện khác do luật yêu cầu, song họ chưa thể được Bộ Tư pháp bổ nhiệm
công chứng viên một cách dễ dàng và nhanh chóng khác hẳn với một số nghề tư
nhân khác (luật sư, kiểm toán, bác sỹ, dược sỹ…) Một mặt, do số lượng phòng
công chứng rất hạn chế, mặt khác do yêu cầu tuyển chọn kỹ lưỡng và nghiêm
ngặt, nên họ chỉ bổ nhiệm trong một số tình huống và Chưởng ấn –Bộ Tư pháp
có vai trò quản lý Nhà nước rất quan trọng trong việc bổ nhiệm và phân bố công
chứng viên.
Đối với việc bổ nhiệm công chứng viên cho những phòng bị khuyết (do bị
chết hoặc bị cách chức) hoặc do những phòng mới được thành lập thêm, thì Bộ
trưởng Tư pháp chỉ có thể xem xét và bổ nhiệm sau khi đã có ý kiến của phòng
quản lý công chứng cấp tỉnh và Hội đồng công chứng khu vực, và theo đề nghị
của ban giám khảo kỳ thi tuyển công chứng viên.
35
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG CHỨNG Ở CỘNG HÒA PHÁP
b/ Hệ thống Công chứng Anglo-Sacxon
Hệ thống công chứng Anglo-Sacxon (hệ Anh - Mỹ) không thừa nhận thể
chế công chứng, có nghĩa là không thừa nhận thể chế mà người lập văn bản, hợp
đồng chuyên biệt được trang bị một quyền năng, thay mặt nhà nước và cho phép
người đó đem lại tính xác thực cho những văn bản được chứng nhận. Chức năng
công chứng ở các nước theo hệ thống này được giao cho các luật sư hoặc hộ tịch
viên hoặc cố vấn pháp lý của giáo hội thực hiện theo phương thức kiêm nhiệm.
Đó là những “công chứng viên” không chuyên biệt. Trước khi được bổ
nhiệm làm công chứng viên, họ phải có thâm niên tối thiểu một số năm hành
nghề luật sư thuộc Hiệp hội luật sư hoặc là hộ tịch viên hay cố vấn pháp lý của
Giáo hội.
Bộ Trƣởng tƣ pháp
(Vụ quản lý các nghề
Dân sự và con dấu
(DACS)
Hội đồng
Công chứng tối cao
Tòa Rộng quyền
(85)
Tòa Thƣợng thẩm
(33)
Hội đồng
Công chứng khu vực
(33)
Phòng Q.L.C.C cấp tỉnh
(85)
Phòng công
chứng có một
công chứng viên
Phòng công
chứng có nhiều
cổ đông
36
Mặt khác, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền
thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài. Các nước có thể chế công
chứng theo mô hình này gồm: Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (trừ
bang Louisane), Canada, (trừ bang Quebec), Ấn Độ, Singapore, Hàn Quốc, Thái
Lan, Đài Loan…
Ở các nước theo hệ Anglo-Sacxon, quyền tự do thỏa thuận về tiền
thù lao và sự giải quyết nhanh chóng công việc là ưu điểm trong việc tổ chức và
hành nghề công chứng. Khi thực hiện công chứng, các luật sư và hộ tịch viên
hoặc cố vấn pháp lý của Giáo hội chỉ công chứng về mặt hình thức như: nhận
diện đúng khách hàng, ghi đúng ngày tháng, ghi lại một cách trung thành thỏa
thuận của các bên và ý chí của từng bên. Họ không quan tâm đến việc xác định
tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng, không cần biết thỏa thuận có trái
pháp luật, đạo đức xã hội hay không, không chịu trách nhiệm nếu có điều khoản
nào đó trong hợp đồng bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba.
Trong hệ thống luật Anglo-Sacxon, khi soạn thảo hợp đồng, các bên gặp
nhau, có sự trợ giúp của người tư vấn riêng của mình và khi có tranh chấp hoặc
khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên yêu cầu sự can thiệp của
thẩm phán.
Những hợp đồng, văn bản được lập bởi những người kiêm thực hiện công
chứng mang lại sự an toàn pháp lý thấp, không được coi là chứng cứ xác thực,
hiển nhiên trước tòa án, tỷ lệ tranh chấp xảy ra nhiều hơn so với công chứng của
các hệ thống khác.
Theo số liệu chính thức được công bố trong một báo cáo mà Phó tổng
thống Mỹ đã gửi cho Thượng Nghị viện năm 1999: trong 5 năm, số lượng các
tranh chấp về hợp đồng tăng từ 25% đến 27% hàng năm. Còn ở Anh, cũng có
tình trạng như vậy: trong 20 năm, số lượng các tranh chấp về bất động sản đã
tăng từ 10% lên 30% và cuộc chiến về giá cả, sự phá giá giữa các luật sư và các
chức danh khác kiêm nhiệm chức năng công chứng đã kéo theo những hậu quả
37
đặc biệt tai hại đối với chất lượng dịch vụ và là nguyên nhân làm phát sinh ngày
càng nhiều tranh chấp.
c/ Công chứng viên trong hệ thống công chứng Nhà nƣớc bao cấp
Hệ thống công chứng nhà nước bao cấp (hệ colectiviste) là mô hình công
chứng được tổ chưc khá chặt chẽ hoạt động chuyên nghiệp bằng sự bao cấp của
nhà nước thông qua việc cấp ngân sách hành chính để hoạt động. Tổ chức công
chứng là một loại hình cơ quan bổ trợ tư pháp trong bộ máy hành pháp của
Chính phủ.
Công chứng viên (và cả nhân viên nghiệp vụ hoặc thư ký công chứng) đều
là công chức nhà nước, hưởng lương từ nguồn ngân sách quốc gia và được
hưởng mọi chế độ chính sách như những công chức khác. Công chứng viên được
bổ nhiệm để chứng nhận hợp đồng và văn bản, giúp đỡ pháp lý cho cá nhân, tổ
chức, tạo ra sự an toàn pháp lý và sự tin cậy cho các giao dịch, phòng ngừa tranh
chấp, vi phạm pháp luật.
Điển hình của hệ thống này là công chứng viên của các nước trong hệ
thống xã hội chủ nghĩa. Hệ thống này phát triển mạnh nhất vào những năm 1970
đến 1989 bao gồm: công chứng Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết,
Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri, Ru-ma-ni, Cu
Ba, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam…Sau khi Liên Xô bị sụp đổ, hệ
thống xã hội chũ nghĩa không còn, hệ thống công chứng này cũng dần dần bị thu
hẹp và đi vào cải cách để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường.
Trong hệ thống công chứng Nhà nước bao cấp, Nhà nước đảm bảo cơ sở
vật chất của phòng công chứng như trụ sở, phương tiện, thiết bị văn phòng, kinh
phí hoạt động bao gồm cả quỹ lương và nhà nước cũng chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Các phòng công chứng đăt dưới sự quản lý song trùng trực
thuộc: vừa đặt dưới sự quản lý nghiệp vụ, chuyên môn của Bộ Tư pháp, vừa đặt
dưới sự quản lý của chính quyền địa phương.
Cùng với các phòng công chứng chuyên trách, một số cơ quan hành chính
được giao thực hiện kiêm nhiệm thêm một số việc công chứng đơn giản ở những
38
nơi tập trung dân cư nhưng chưa thành lập phòng công chứng . Mặt khác, môt số
nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền thực hiện một số việc
công chứng ở nước ngoài.
Hoạt động công chứng của các nước theo hệ thống này mang tính kỹ
thuật đơn giản, có nghĩa là công chứng viên chỉ là người thực hiện hành vi chứng
nhận đơn giản, chứng nhận một văn bản chỉ chú trọng đến hình thức, tính hợp
pháp của văn bản, căn cứ vào các giấy tờ do người yêu cầu xuất trình, hoặc nộp
để nhận dạng, xác định năng lực hành vi dân sự, tình trạng pháp lý của tài sản và
là người ghi chép vào sổ những sự kiện đã thực hiện, ít chú trọng đến việc tư
vấn, xác minh.
Công chứng ở nƣớc Cộng hòa Ba Lan - một ví dụ về Cải cách công
chứng
Ngày 25.04.1989, Nhà nước Ba Lan đã ban hành Luật số 176 về cải cách
tổ chức và hoạt động công chứng. Đó là bước ngoặc lớn về sự phát triển của
công chứng ở Ba Lan, quá độ chuyển đổi cơ chế từ hệ thống công chứng Nhà
nước bao cấp, trong đó công chứng viên là công chức Nhà nước sang mô hình
công chứng mới vừa tồn tại các phòng công chứng Nhà nước, vừa phát triển các
phòng công chứng hành nghề tự do, theo khuôn mẫu của công chứng hệ La tinh.
Việc cải cách này nhằm đáp ứng và theo kịp những yêu cầu và biến đổi của nền
kinh tế thị trường mà theo đó, quyền sở hữu tư nhân được thừa nhận, quyền tự
do kinh doanh của các cá nhân và pháp nhân được khẳng định và nhằm phục vụ
chính sách mở cửa giao lưu quốc tế của Nhà nước Ba Lan.
Về tổ chức và hoạt động, thì công chứng Ba Lan được đổi mới chiếu theo
mô hình công chứng của Cộng hòa Pháp, Liên bang Đức, Argentina… tuy nhiên
có tính đến những điều kiện riêng biệt mang màu sắc riêng của Ba Lan và một
thực tế là đang tồn tại một số lượng đáng kể phòng công chứng Nhà nước và một
đội ngũ công chứng viên là công chức Nhà nước.
Mục tiêu quan trọng nhất của đạo luật này là tạo ra một hệ thống công
chứng tư nhân, đồng thời sử dụng có hiệu quả số lượng phòng công chứng Nhà
39
nước hiện có để dần dần tư nhân hóa các cơ sở đó, chuyển công chứng viên Nhà
nước thành công chứng viên hành nghề trong khuôn khổ một nghề tự do; nâng
cao hiểu biết pháp luật và trình độ chuyên môn cho công chứng viên đang hành
nghề và đổi mới phương thức đào tạo công chứng viên và thư ký công chứng
theo những tiêu chuẩn quốc tế.
Luật tổ chức công chứng của Ba Lan năm 1989 là kết quả của công tác
nghiên cứu nghiêm túc, khẩn trương của nhiều luật gia, chuyên viên nghiên cứu,
công chứng viên, thư ký công chứng dựa trên cơ sở và phạm vi điều chỉnh của
Bộ Luật Dân sự mới, đồng thời tham khảo pháp luật công chứng, kinh nghiệm
nghề nghiệp của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là công chứng của các nước có
truyền thống lâu đời trong liên minh châu Âu.
- Công chứng viên ở Ba Lan là những công chức công, song song tồn tại
hai loại :
+ Công chứng viên Nhà nước (notaire – fonctionnaire)
Đó là những viên chức được bổ nhiệm từ trước năm 1989 đang làm việc
tại trụ sở các phòng công chứng Nhà nước, họ được Nhà nước trả lương từ
nguồn ngân sách Nhà nước và hoạt động được bảo đảm bằng cơ sở vật chất (trụ
sở, phương tiện) và kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp. Toàn bộ lệ phí thu
được đều nộp vào ngân sách Nhà nước.
+ Công chứng viên tư nhân (notaire privé)
Đó là những người mới được bổ nhiệm hoặc là những người được chuyển
từ công chứng viên Nhà nước; họ có trụ sở riêng, tài khoản và kinh phí hoạt
động riêng; họ là chủ quản lý phòng công chứng, họ thu lệ phí theo bảng giá do
Nhà nước ấn định và nộp các khoản thuế theo quy định của luật thuế hiện hành.
* Những người hội đủ những điều kiện sau đây có thể được Bộ trưởng Tư
pháp bổ nhiệm làm công chứng viên:
(1) Có quốc tịch Ba Lan;
(2) Có bằng cử nhân luật;
(3) Đã tham gia công tác công chứng;
40
(4) Có tư cách, phẩm chất, đạo đức tốt;
(5) Thi đỗ kỳ thi tuyển công chứng;
(6) Cam kết sẽ tự giác thực hiện mọi trách nhiệm bồi thường thiệt hại;
(7) Đã là công chứng viên tập sự ít nhất một năm;
(8) Có đủ 26 tuổi đời.
Phạm vi hoạt động công chứng của công chứng viên tại Ba Lan:
Luật số 176 đã quy định 8 nhóm việc công chứng mà cơ bản trong các
luật trước đã quy định:
(1) Soạn thảo và chứng nhận các hợp đồng;
(2) Thực hiện việc thị thực các giấy tờ và hành vi pháp lý;
(3) Lập biên bản các sự kiện;
(4) Chứng nhận ngân phiếu, thương phiếu;
(5) Nhận quản giữ các giấy tờ tài liệu;
(6) Cấp các bản sao công chứng;
(7) Thảo đơn từ cho các bên khách hàng;
(8) Các việc công chứng khác do pháp luật quy định.
Như vậy, về nguyên tắc thì công chứng viên Ba Lan có nhiệm vụ chứng
nhận các hợp đồng, các hành vi công chứng mà pháp luật quy định buộc phải
công chứng, đồng thời chứng nhận những hành vi công chứng tuy pháp luật
không bắt buộc nhưng do khách hàng tự nguyện yêu cầu. Tuy nhiên, công chứng
viên có quyền từ chối công chứng khi nhận thấy yêu cầu công chứng trái pháp
luật hoặc trái với thuần phong mỹ tục.
Riêng đối với các hành vi thị thực, pháp luật đã quy định một số việc
thường gặp:
(1) Thị thực chữ ký;
(2) Thị thực bản sao từ bản chính;
(3) Thụ thực ngày xuất trình giấy tờ;
(4) Thị thực sự trình diện hoặc nơi ở của khách hàng.
41
Song song với việc thị thực của các công chứng viên, Chính phủ có thể ủy
quyền cho một số cơ quan hành chính và ngân hàng (ở những nơi chưa có phòng
công chứng) để thực hiện một số hành vi thị thực nêu trên.
* Những đặc trưng và ưu điểm của hệ thống công chứng Latinh:
Thông qua việc nghiên cứu công chứng của hệ thống công chứng La tinh
trong đó có một điển hình là công chứng Pháp, chúng ta có thể rút ra một số nét
đặc trưng và những ưu điểm của hệ thống công chứng này như sau :
- Công chứng trong khuôn khổ một nghề tự do được thể hiện rõ trong việc
thực hiện chức năng mang tính công thông qua quyền tự do tổ chức hoạt động
trong nội bộ phòng công chứng, trong việc chi trả tiền công tính theo lao động;
Trong khả năng cạnh tranh lành mạnh, không cần phô trương, quảng cáo một
khái niệm về độc quyền và quyền tự do lựa chọn khách hàng; trong sự phát triển
chính đáng từ nguồn khách hàng thường xuyên và nhất là trong trách nhiệm cá
nhân của công chứng viên đối với hành vi công chứng do mình thực hiện được
hỗ trợ bằng quỹ bồi thường trách nhiệm của toàn ngành công chứng.
- Công chứng viên là viên chức được Nhà nước trao cho một phần quyền
năng để lập các văn bản, hợp đồng trong sự tiến triển của các hợp đồng pháp
luật, kinh tế và xã hội mà theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện
của khách hàng muốn đem lại cho các văn bản và hợp đồng đó một tính đích
thực có giá trị như văn bản do các cơ quan công quyền khác cấp, hạn chế được
đến mức thấp nhất những tranh chấp dân sự, làm giảm bớt gánh nặng quá tải về
xét xử của các Tòa án.
- Công chứng viên là những nhà pháp luật gần gũi nhất với cuộc sống. Sứ
mệnh của họ là giúp mọi người lựa chọn và định đoạt tài sản của mình theo cách
hợp lý nhất, đồng thời họ cũng là những người tư vấn vô tư nhất cho các cá nhân
và các chủ thể kinh tế khác trong lĩnh vực kinh doanh và bảo hộ tài sản và các
quyền về tài sản.
- Công chứng viên là người có đủ tinh thông về kỹ thuật và sự thanh khiết về
đạo đức. Trình độ tinh thông thể hiện ở chỗ nhà thực hành phải biết tự đào tạo
42
nghiệp vụ cơ bản, thường xuyên cập nhật và hoàn thiện những kiến thức pháp luật.
Nhưng sự trong sáng về đạo đức còn quan trọng hơn nhiều, nó đòi hỏi ở công
chứng viên không chỉ lòng trung thành mà cả thái độ công minh, sự tôn trọng triệt
để các bí mật được giao, lòng can đảm để đảm nhận những trách nhiệm.
- Trong một thế giới ngày càng văn minh, khi mà các quan hệ xã hội được
pháp luật bảo hộ bằng những quy định rất chi tiết, trong một đất nước tự do nơi mà
các cá nhân, tổ chức luôn luôn có nhu cầu được Nhà nước bảo vệ, trong một môi
trường luôn biến động nơi mà an toàn pháp lý trở thành vấn đề cấp thiết, thì ngành
công chứng phải đóng một vai trò trọng yếu trong số các ngành của luật tư pháp.
- Ở Cộng hòa Ba Lan và một số nước xã hội chủ nghĩa cũ khác, công
chứng đã và đang được thay đổi từ hệ thống công chứng Nhà nước bao cấp thành
công chứng hoạt động tự do theo khuôn mẫu La tinh. Sự chuyển đổi này là một
tất yếu trong xu thế phát triển của kinh tế thị trường, để phù hợp với sự tiến triển
của những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật, sau sự xuất hiện của
một loạt quan hệ theo Bộ luật Dân sự, gắn liền với việc thừa nhận quyền sở hữu
tư nhân về tài sản.
- Phạm vi hoạt động của công chứng ở các nước mới được cải cách, dần
dần bị thu hẹp đối với các hành vi thị thực. Tuy nhiên, hoạt động công chứng tập
trung và phát triển trong đời sống các hợp đồng dân sự, đặc biệt là những giao
dịch liên quan đến việc bảo vệ, chuyển quyền sở hữu tài sản và tư vấn pháp luật.
- Sự gia nhập Liên đoàn công chứng quốc tế hệ La tinh của công chứng
Ba Lan và một số nước xã hội chủ nghĩa cũ đã làm tăng sức mạnh của Liên
đoàn, bổ sung vào pháp điển hóa luật công chứng, làm giàu thêm kho tàng và
kinh nghiệm nghề nghiệp, thúc đẩy quá trình hòa nhập với kinh tế thế giới.
- Sự phát triển hùng mạnh của hệ thống công chứng La tinh được thể hiện
qua những ưu điểm hiển nhiên của nó so với hệ thống công chứng Anglo-
sacxon và hệ thống công chứng Nhà nước bao cấp. Những ưu điểm đó được thấy
rõ nhất ở chỗ công chứng viên trong hoạt động với tư cách cá nhân về mặt tài
chính, chịu trách nhiệm cá nhân bằng tài sản của chính mình về hành vi công
43
chứng đã thực hiện, họ vẫn hoạt động nhân danh Nhà nước, chịu sự kiểm tra
giám sát của các cơ quan Nhà nước và phục vụ lợi ích công.
- Trong xu thế phát triển mới của thế giới, một số nước thuộc địa cũ của
Pháp sau khi giành được độc lập đã cải cách kinh tế, và theo đó đã tổ chức lại hệ
thống công chứng trên cơ sở cấu trúc do Pháp đã đặt nền móng và xây dựng từ
đầu thế kỷ XIX. Mặc dù ở mỗi nước có sự khác nhau về chế độ chính trị, điều
kiện kinh tế, xã hội, pháp luật, trình độ dân trí và ý thức pháp luật của nhân dân,
nhưng ở các nước đó vẫn có điểm chung nhất: công chứng viên là viên chức
công - người được Nhà nước ủy quyền để thực hiện một quyền năng công
chứng, hoạt động trong khuôn khổ một nghề tự do.
- Phương châm ngành công chứng tự trang trải về mặt tài chính đã chẳng
những trút bỏ được gánh nặng cho ngân sách Nhà nước mà ngược lại còn bổ
sung cho ngân sách thông qua việc nộp một khối lượng thuế đáng kể của các
công chứng. Như vậy, ở Ba Lan cũng như ở một số nước xã hội chủ nghĩa cũ
khác, hoạt động công chứng dưới hình thức một nghề tự do là cách tốt nhất để
tăng khối lượng và chất lượng phục vụ.
- Thực tiễn áp dụng những cải cách mới về tổ chức và hoạt động công
chứng ở một số nước xã hội chủ nghĩa cũ này chứng tỏ rằng sự phục hồi công
chứng tự do đã nâng cao khả năng làm việc của công chứng, đáp ứng những yêu
cầu bảo vệ lợi ích của các cá nhân và pháp nhân được ghi trong trong Hiến pháp.
Nhiều công chứng viên đã có liên hệ với các nhà chuyên môn về luật và các thực
tập sinh, trang bị hệ thống máy vi tính và những phương tiện làm việc hiện đại
nâng cao khả năng đảm nhiệm công việc lên nhiều lần.
- Việc chuyển từ mô hình công chứng Nhà nước sang mô hình công
chứng tư nhân được thực hiện trên ba nguyên tắc: vừa bảo vệ được quyền và lợi
ích của các chủ sở hữu, vừa hoàn thiện hoạt động chức năng của hệ thống công
chứng và vừa phù hợp với tinh thần của luật công chứng quốc tế.
- Những sửa đổi không làm nghiêm trọng thêm tình hình của các tầng lớp
xã hội, đồng thời chú ý bảo vệ quyền tiếp tục làm việc của những công chứng
44
viên Nhà nước để dần dần chuyển họ thành công chứng viên tư nhân thực thụ.
Ngoài ra, những quy định mới đều được kế thừa từ pháp luật công chứng Nhà
nước và tôn trọng tính truyền thống, tập quán và ý thức pháp luật của nhân dân
mỗi nước. Trong thời kỳ đầu chuyển đổi cơ chế, Nhà nước đã dành một khoản
ngân sách để tu bổ và hỗ trợ giúp nâng cấp phòng công chứng Nhà nước có từ
trước để dần dần tư nhân hóa những cơ sở đó thành những phòng công chứng tư
nhân hoặc thành phòng công chứng của nhiều cổ đông. Công chứng ở những
nước này đang phấn đấu để một tương lai không xa, có được một hệ thống công
chứng theo đúng ý nghĩa đầy đủ của nó: đó là công chứng viên hoạt động trong
khuôn khổ một nghề hoàn toàn tự do, với tư cách là viên chức công - người được
Nhà nước giao cho một quyền năng, họ hoàn toàn độc lập khi thực hiện chức
năng và chỉ biết tuân theo pháp luật.
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triên công chứng viên trong các
chế độ cũ ở Việt Nam
1.2.2.1. "Công chứng viên" thời kỳ phong kiến Việt Nam
Trên thế giới, công chứng viên là một nghề đã có từ rất lâu đời. Còn ở
Việt Nam, qua nghiên cứu lịch sử chúng ta có thể thấy rằng từ thế kỷ thứ XV
đến thế kỷ thứ XVIII nếu xét về một số nội dung liên quan đến sở hữu tài sản thì
đã thấy có manh nha hoạt động gần giống như hoạt động của công chứng viên
ngày nay (tất nhiên với tên gọi khác). Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chỉ
xét riêng về mặt luật lệ, qua nghiên cứu Lịch triều hiến chương loại chí, Cổ luật
Việt Nam, Pháp chế sử Việt Nam [55], [101] chưa thấy xuất hiện thuật ngữ công
chứng giống như lịch sử cổ đại và phong kiến ở nhiều nước trên thế giới và do
đó cũng không có khái niệm công chứng viên. Nhưng dựa trên những văn kiện,
những sự kiện xảy ra trên thực tế lịch sử, một số tác giả nghiên cứu cho rằng loại
hình công chứng là việc lập các công chứng thư bởi các viên chức nhà nước, nó
có hiệu lực pháp lý ngay để thực hiện, phân biệt với những người lập "tư chứng
thư" của những người hành nghề làm chứng tự do hoàn toàn mà giá trị văn bản
của họ chỉ có thể được các cơ quan, quan lại, viên chức nhà nước tham khảo khi
45
xảy ra các vụ kiện tụng mà thôi. [3], [103, tr. 95]. Điều này đã rất đúng so với
trên thực tiễn. Tuy vậy, nếu xét về lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước
phong kiến ở Việt Nam thì thấy đã có manh nha về hoạt động công chứng. Dưới
thời Lê, di chúc được làm dưới dạng một tài liệu được gọi là chúc thư. Để có giá
trị, chúc thư phải được lập thành văn bản có hình thức nhất định, nếu người làm
chúc thư không biết chữ thì chúc thư cần phải được xã trưởng viết hộ và chứng
thực nhằm ngăn ngừa khả năng gian lận có thể xảy ra đối với chúc thư bởi người
thứ ba. Pháp luật thời kỳ này cũng đã quy định việc xử phạt đối với việc làm giả
mạo giấy tờ [57], [58]. Trong các văn tự mua, bán, cầm cố ruộng đất, nhà cửa
cũng được quy định phải có chứng nhận của xã trưởng - mà xét về mặt dân sự
đây chính là một dạng thức công chứng.
Qua nghiên cứu lịch sử chúng ta có cơ sở khẳng định, Việt Nam là một
quốc gia có các quy định của pháp luật phát triển không ngừng [53]. Có hệ thống
pháp luật tiến bộ tương đương về chức năng so với những quan niệm pháp luật
phương tây cận đại [117].
Thật vậy, ngay từ trong thực tế lịch sử thời kỳ phong kiến nước ta cũng
vậy. Một mặt, nhà nước vẫn khuyến khích nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ
khi có yêu cầu (loại hoạt động này chúng ta đều biết đã xuất hiện từ thời cổ đại
và tồn tại cho đến tận ngày nay), ví dụ: trong "Quốc triều thư khế" (Thể thức giấy
tờ, khế ước dùng trong triều) như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố
ruộng đất, văn ước vay nợ, giấy giao kèo, văn ước bán trâu, bò... đều quy định
người chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải điểm chỉ vào văn tự [69,
tr. 61], [70], [78]. Nhưng mặt khác, trong các giao dịch nói trên của nhân dân,
những giao dịch nào quan trọng thì nhà nước đó vẫn đòi hỏi phải có sự thị thực
(bản chất như công chứng) của những viên chức nhà nước giao nhiệm vụ thực
hiện (bản chất giống như công chứng viên bây giờ). Ví dụ như trong bộ luật
"Hoàng Việt Luật lệ" (thời vua Gia Long nhà Nguyễn, 1944 ), phần Hộ luật,
Điều thứ 521 đã ghi: "Những khoản-ước về việc di-chuyển bất-động-sản, về việc
lưu-chuyển hay lập ra những vật-quyền về bất-động-sản, thời phải có viên-chức
thị-thực để đăng-ký và sổ bảo-tồn điền-trạch mới có giá trị", Ngoài ra, cũng
46
trong bộ luật này cũng có rất nhiều điều quy định các giao dịch quan trọng trong
dân chúng đều phải có thị thực bởi viên chức nhà nước được giao quyền thì mới
được luật pháp công nhận. Mà trong lịch sử, tinh thần của Bộ luật này là do quan
lại nhà Nguyễn vận dụng từ thời "Quốc triều hình luật" và "Quốc triều thư khế"
có sửa đổi để ban hành. [53, tr. 21].
Như vậy, tuy thời kỳ phong kiến nước ta chưa có chế định (quy chế) công
chứng viên một cách rõ ràng nhưng về mặt lý luận thì đã có những quy định cơ
bản về quy chế này, ví dụ: Những người thực hiện công chứng (tương đương
công chứng viên) phải là viên chức nhà nước (quan, lại).
1.2.2.2. Công chứng viên Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
Đến thời kỳ Pháp thuộc, sau Hòa ước Giáp thân ngày 06/06/1884 được ký
kết với Pháp. Nước Việt Nam mất hẳn tính cách một quốc gia độc lập về phương
diện pháp lý, vì đã trở thành một nước dưới sự bảo hộ của Pháp quốc. Thời kỳ
này công chứng với tư cách là thể chế bắt đầu xuất hiện và được áp dụng ở Việt
Nam cùng với sự thành lập tổ chức và hoạt động của Tòa án Pháp tại Việt Nam,
mô hình công chứng được tổ chức theo mô hình công chứng của Pháp [3], [89].
Và cũng từ đó, tên gọi công chứng viên và các quy chế về công chứng viên bắt
đầu chính thức xuất hiện ở nước ta.
Tổ chức và hoạt động công chứng trong giai đoạn này được xác lập bằng
Sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng
được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7/10/1931 của viên toàn
quyền Đông Dương. Ở Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng tại Hà Nội,
ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn, ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, Nam
Định, Đà Nẵng thì các việc công chứng do chánh lục sự Tòa án sơ thẩm kiêm
nhiệm. Có thể coi đây là văn bản pháp lý đầu tiên làm cơ sở cho việc thiết lập hệ
thống công chứng ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc.
Tổ chức và hoạt động công chứng ở các nước thuộc địa của Pháp chịu sự
chi phối bởi pháp luật công chứng của Pháp. Chưởng ấn Bộ trưởng Tư pháp, bổ
nhiệm công chứng viên, thành lập văn phòng công chứng, giám sát hoạt động
nghề nghiệp của công chứng viên. Hội đồng công chứng tối cao được đặt bên
47
cạnh Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm quản lý điều hành hội đồng công chứng các
khu vực. Hội đồng công chứng các khu vực chịu sự giám sát của Tòa thượng
thẩm. Ở các nước thuộc địa không có văn phòng quản lý công chứng cấp tỉnh,
mà chỉ có một số thành phố lớn có văn phòng công chứng của các công chứng
viên do tổng thống Pháp bổ nhiệm, công chứng viên là người Pháp. Mô hình
công chứng được thiết lập theo mô hình công chứng hệ La tinh, công chứng viên
đứng ra tổ chức và điều hành mọi hoạt động của văn phòng công chứng và chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi công chứng của mình gây ra.
Công chứng viên cuối cùng người Pháp tại Việt Nam là ông DEROCHE,
là công chứng viên người Pháp tại văn phòng công chứng ở Hà Nội.
1.2.2.3. Công chứng viên thời kỳ Miền Nam Việt Nam
Ở miền Nam Việt Nam, sau Hiệp định Giơnevơ 1954, ngày 29/11/1954
Bảo Đại ký Dụ số 43 quy định thể thế chưởng khế, chưởng khế là người Việt
Nam, là viên chức hưởng lương chưởng khế (thể chế công chứng nhà nước).
Quốc gia chịu trách nhiệm dân sự về lỗi do chưởng khế phạm phải khi hành sự,
hoặc những công việc họ được phó thác vì chức vụ chưởng khế [111]. Ở Sài Gòn
trước 1975 còn tồn tại 1 Phòng chưởng khế, các văn bản được công chứng, thị
thực bởi chưởng khế của Phòng chưởng khế này.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Công chứng là một nghề đã có từ hàng ngàn năm. Công chứng viên và
quy chế công chứng viên là một chế định rất quan trọng và là một tất yếu khách
quan không thể thiếu hệ thống pháp luật và trong lòng xã hội. Ở Việt Nam, qua
nghiên cứu lịch sử chúng tôi thấy rằng từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XVIII
nếu xét về khía cạnh quản lý của nhà nước phong kiến đương thời đối với các
giao dịch dân sự đã thấy có manh nha quy định về hoạt động công chứng, nhất là
thể chế công chứng được hình thành từ thời Pháp thuộc càng cho thấy việc phát
triển lý luận về công chứng viên và quy chế công chứng viên là khía cạnh khoa
học đã có từ lâu đời và rất cần được phát triển trong tương lai.
48
Chƣơng 2
QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN
THEO PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
(TỨC TỪ 1945 ĐẾN NAY, KHÔNG TÍNH ĐẾN CHẾ ĐỘ NGUỴ QUYỀN MIỀN NAM)
(A)
2.1. Quy định của pháp luật về công chứng viên trƣớc khi có Luật
Công chứng
2.1.1.Quyđịnhcủaphápluậtvềcôngchứngviêntronggiaiđoạn1945-1975
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 1/10/1945, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Nghị
định bãi chức công chứng viên của ông DEROCHE là công chứng viên người
Pháp tại văn phòng công chứng ở Hà Nội, đồng thời bổ nhiệm ông Vũ Quý Vỹ
người mang Quốc tịch Việt Nam làm công chứng viên tại Hà Nội. Trong Nghị
định này quy định: Các luật lệ cũ về công chứng vẫn được thi hành, trừ những
điều khoản không phù hợp với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Việt
Nam. Tại Điều 5 nghị định nói trên quy định: "Ông Vũ Quý Vỹ phải ký quỹ một
số tiền bảo đảm như viên công chứng cũ hoặc có thể lấy bất động sản bảo đảm
thay vào số tiền đó...". (Tức là ngay tại thời điểm đầu tiên của công chứng Việt
Nam này, công chứng viên đã phải tự cam kết bảo đảm cho việc hành nghề công
chứng của mình bằng chính tài sản của mình).
Như vậy có thể nói rằng, đây là công chứng viên và cũng là tổ chức công
chứng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tổ chức công chứng
lúc này mang đậm dấu ấn của công chứng Pháp. Các nguyên tắc, quy chế hoạt
động công chứng vẫn như cũ, trừ những quy định trái với nền độc lập và chính
thể dân chủ cộng hòa của nước ta lúc bấy giờ. Lần đầu tiên, bằng một văn bản
pháp luật Nhà nước ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ "công chứng viên" và tổ
chức hoạt động với danh nghĩa là một tổ chức công chứng.
Nhưng do điều kiện hoàn cảnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
lúc bấy giờ nên văn phòng công chứng nói trên hoạt động không có hiệu quả,
49
hơn nữa nó chỉ có thể thực hiện trong phạm vi rất nhỏ là nội thành Hà Nội, trong
khi đó cả nước lại vẫn đang trong thời kỳ kháng chiến toàn quốc.
Trước tình hình đó, ngày 15/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt
Chính phủ lâm thời ký ban hành Sắc lệnh số 59/SL ấn định “Thể lệ về thị thực
các giấy tờ". Nhưng xét cả về nội dung, thủ tục, thẩm quyền thì việc thị thực này
chỉ là thủ tục hành chính, trong đó kể cả các khế ước chuyển dịch quyền sở hữu
bất động sản. Cụ thể:
"Điều thứ 1:
Trong các làng, quyền Thị thực các giấy tờ, trước do hương chức trong
làng thi hành, nay thuộc Uỷ ban nhân dân của làng. Ở các Thành phố, quyền thị
thực trước do Trưởng phố hay Hộ phố thi hành, nay cũng thuộc về Uỷ ban Nhân
dân hàng phố. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân sẽ phụ trách việc thị thực này, và phải
đề cử một hay là hai Uỷ viên để thay mình khi vắng mặt, hoặc khi chính mình là
người đương sự có giấy cần đem thị thực, hoặc khi người đương sự đối với mình
có thân thuộc về Trực hệ như cha mẹ, ông bà, vân v.v...hay bằng hệ bằng vai,
chú bác, cô dì, anh em ruột và anh em thúc bá, hay là đối với mình là bố mẹ nuôi
hay Con nuôi. Riêng ở các thành phố, chữ thị thực của Uỷ ban các phố phải có
thêm Uỷ ban nhân dân Thị xã Chứng nhận. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã sẽ
phụ trách việc chứng nhận này, hoặc cử một uỷ viên phụ trách thay mình.
Điều thứ 2:
Các Uỷ ban có quyền thị thực tất cả các giấy mà trong địa phương mình,
bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về Quốc tịch nào. Tuy nhiên, Uỷ
ban thị thực phải là Uỷ ban ở Trú quán một bên đương sự lập ước, và việc Bất
động sản phải là Uỷ ban ở nơi sở tại bất động sản. Nếu có nhiều bất động sản ở
nhiều nơi khác nhau, thì giấy tờ làm ra về những bất động sản ấy phải do Uỷ
ban mỗi nơi thị thực."
Hơn nữa, tại Điều 3 Sắc lệnh 59/SL (15/11/1945) nêu rõ: "Các Ủy ban thị
thực phải chịu trách nhiệm về việc thị thực và không đúng về căn cứ của đương
sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố.
50
Nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ của làng hay
của hàng phố phải bồi thường" [28]. Việc thị thực được thu một khoản lệ phí
theo tỷ lệ 0,1% đến 1% theo giá bất động sản ghi trong khế ước hoặc 1 đồng đối
với nhất loạt các khế ước khác. Việc thị thực theo Sắc lệnh 59/SL càng về sau
này càng mang tính hình thức, chủ yếu là xác nhận thời gian, địa điểm, chữ ký
của đương sự [28]. Ngày 29/2/1952 Chính phủ ban hành Sắc lệnh 85/SL về "các
việc mua bán cho, đổi nhà cửa, ruộng đất" [29], (trong đó có “thể lệ trước bạ về
việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất”). Theo thể lệ này Ủy ban kháng
chiến hành chính (cấp xã) có thẩm quyền nhận thực vào văn tự theo hai nội
dung: Chữ ký của các bên mua bán cho đổi, người đứng ra bán, cho đổi là chủ
những nhà cửa ruộng đất đem bán cho hay đổi. Cụ thể là:
"Điều 3:
Trước khi đem trước bạ, văn tự phải đưa Ủy ban kháng chiến hành chính
xã hay thị xã nhận thực chữ ký của các người mua, bán, cho, nhận đổi và nhận
thực những người bán, cho hay đổi là chủ những nhà cửa, ruộng đất đem bán,
cho hay đổi.
Việc nhận thực này không nộp một khoản tiền nào".
Tuy thể lệ này chỉ được áp dụng ở vùng tự do hoặc ở những nơi vẫn duy
trì được Ủy ban kháng chiến hành chính đến tận cấp xã. Còn ở thủ đô Hà Nội và
các vùng tạm chiếm, thực dân Pháp đã dựng lên chính quyền tay sai và áp dụng
luật lệ của chúng. Chính vì vậy mà tổ chức và hoạt động công chứng trong giai
đoạn này không được chú trọng và trong suốt 37 năm (từ 1945 - 1981) cũng
không có một văn bản pháp quy nào quy định về tổ chức và hoạt động công
chứng của Nhà nước.
Như vậy, hai Sắc lệnh nói trên là cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động thị
thực của Ủy ban hành chính kháng chiến và sau này là Ủy ban nhân dân trong
gần nửa thế kỷ. Và có thể hình dung, trong thời gian đó, mọi công việc có tính
chất công chứng đều do Ủy ban nhân dân cấp cơ sở thực hiện theo hình thức thị
thực, chứng thực. Trong đó, những người thực hiện việc thị thực, chứng thực các
51
giấy tờ là các Uỷ viên uỷ ban, nhưng ít nhiều chúng ta cũng đã thấy bóng dáng
phần nào quy chế quy định về việc công chứng và những người thực hiện việc
công chứng trong giai đoạn này (ví dụ: phải là uỷ viên uỷ ban hành chính, uỷ
viên thư ký, hoặc không được chứng thực (công chứng) cho những người "thân
thuộc về trực hệ như cha mẹ, ông bà, vân v.v...hay bằng hệ bằng vai, chú bác, cô
dì, anh em ruột và anh em thúc bá, hay là đối với mình là bố mẹ nuôi hay con
nuôi"..., hay "phải chịu trách nhiệm về việc thị thực và không đúng về căn cứ
của đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán
hay cầm cố. Nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ
của làng hay của hàng phố phải bồi thường"... (dù phải chịu trách nhiệm tập thể:
là Uỷ ban)...
Nguyên nhân của tổ chức và hoạt động công chứng không được phát triển
trong giai đoạn này là: Một mặt là do điều kiện kinh tế, xã hội, cũng như hoàn
cảnh chiến tranh của nước ta trong thời kỳ này; mặt khác chúng ta không chấp
nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể. Vì
vậy tổ chức công chứng không được thành lập, giai đoạn này hoạt động công
chứng rất đơn giản là ít phải chứng thực các quan hệ thuộc sở hữu tư nhân. Mọi
giao lưu kinh tế dân sự đều dựa trên quan hệ hành chính, sản phẩm xã hội mang
tính hàng hóa, các giao lưu dân sự thương mại hầu như không phát triển. Do đó
trong xã hội không có nhu cầu phải thiết lập một thể chế công chứng.
Như vậy, theo Sắc lệnh 59/SL (15/11/1945) thì hoạt động công chứng
trong thời gian này do các uỷ viên của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện thực
hiện và Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện phải chịu trách nhiệm tập thể về việc
thị thực không đúng. Vấn đề hết sức quan trọng về mặt lý luận cần thấy rằng, do
điều kiện lịch sử của nước ta trong thời điểm này, việc giao cho các uỷ viên Ủy
ban nhân dân cấp huyện, xã thực hiện các việc công chứng là một nhu cầu tất
yếu, khách quan. Cùng với việc xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, xác
lập lại các quan hệ sở hữu, nhất là việc quốc hữu hóa đất đai, tịch thu tài sản của
địa chủ phong kiến chia cho dân nghèo, thực hiện các chính sách về ruộng đất.
52
Việc giao cho các văn phòng công chứng tổ chức theo mô hình của Pháp là một
điều không tưởng trong thời khắc lịch sử này. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh
số 59/SL (15/11/1945) là một giải pháp hợp lý đối với việc mua bán, cho, đổi
ruộng đất, thị thực, cầm cố bất động sản. Còn nguyên nhân về tổ chức và hoạt
động công chứng không phát triển như vừa nêu trên cũng là một thực tế khách
quan của điều kiện kinh tế, xã hội và từ đó đã xuất hiện một giải pháp đúng đắn
về việc xác thực các hoạt động giao dịch trong điều kiện lịch sử của một nhà
nước nhất định. Tổ chức và hoạt động công chứng chuyên trách lúc này đã được
chuyển sang hoạt động kiêm nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã và vẫn
hoạt động để đáp ứng được nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước ta là xác
lập lại quan hệ sở hữu. Tuy nhiên, việc chúng ta áp dụng mô hình tổ chức và
thực hiện công chứng theo Sắc lệnh SL/59 trong một thời kỳ quá dài của nền
quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và vẫn còn tồn tại cho
đến hôm nay cũng là một vấn đề cần phải được giải quyết.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây nói chung và ở nước ta nói riêng,
đã chịu ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng duy ý chí, nhất là việc chuyển giao
nhiều chức năng quản lý kinh tế của nhà nước cho các thiết chế xã hội và tập thể
một cách thiếu tính toán. Vì vậy, hậu quả là rất nghèo các đòn bẩy và cơ chế
quản lý hành chính, rất thiếu các thủ tục thể hiện vai trò kiểm soát kinh tế có
hiệu quả của nhà nước, không đủ các thủ tục tài phán hành chính để điều hòa
đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, chúng ta phải trả giá cho việc
chủ quan duy ý chí, bảo thủ trì trệ. Chúng ta đã không nhìn nhận và đánh giá
khách quan, kìm hãm sự phát triển của các thành phần kinh tế phi nhà nước, từ
đó dẫn tới một loạt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không phù
hợp với thực tế cuộc sống. Cơ chế quản lý tập trung bao cấp ở miền Bắc trong
thời kỳ chiến tranh vẫn được duy trì trong một thời gian quá dài đã làm suy giảm
nghiêm trọng hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, nhất là trong
lĩnh vực quản lý kinh tế. Từ sau năm 1954 kéo dài đến cuối những năm 70, Nhà
nước ta thiết lập một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng cách phát
53
triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế
nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Điểm nổi bật của thời kỳ
này tuy vẫn thừa nhận tồn tại bốn loại hình sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất: sở
hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của
nhà tư sản dân tộc. Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa
với mục tiêu nhanh chóng xóa bỏ các hình thức phi sở hữu xã hội chủ nghĩa.
Thời kỳ này các hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện theo kế hoạch của Nhà
nước, các giao lưu dân sự không có điều kiện phát triển - đây chính là lý do làm
cho hoạt động công chứng không có cơ sở tồn tại.
2.1.2. Quy định của pháp luật về công chứng viên sau năm 1976 (của
nước CHXHCN Việt Nam)
2.1.2.1. Công chứng viên theo hoạt động công chứng Nhà nước từ 1976 - 1991
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, hai miền Bắc, Nam chung về một
mối, đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam, toàn bộ đất nước chỉ có chung một
hệ thống pháp luật sau kỳ họp quốc hội thống nhất năm 1976. Tuy nhiên do hoàn
cảnh đặc thù của đất nước mới thống nhất, toàn bộ hệ thống pháp luật lúc đó chủ
yếu tập trung vào các lĩnh vực nhằm thống nhất và ổn định về hệ thống chính trị,
bộ máy quản lý nhà nước, quản lý và phát triển nền kinh tế sau một thời gian dài
chiến tranh. Do vậy, những năm đầu thống nhất các quy định về công chứng viên
và chế định về công chứng vẫn áp dụng theo những quy định trước đó. Cho mãi
đến năm 1981, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, căn cứ vào
các quy định tại nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là chính phủ) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức
tư pháp, ngay sau khi bắt đầu công cuộc đổi mới, hoạt động công chứng ở Việt
Nam đã được triển khai, ngày 10/10/1987 Bộ Tư pháp đã ra thông tư số
574/QLTPK về công chứng Nhà nước. Công tác công chứng của ủy ban nhân
dân các địa phương (do các Uỷ viên thư ký được uỷ quyền thực hiện) được cải
tiến và nâng cao chất lượng, đồng thời thành lập phòng công chứng Nhà nước tại
thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có
54
nhu cầu lớn về công chứng và có đủ điều kiện cần thiết. Cụ thể, tại Mục II của
Thông tư nói trên thì:
"Mục: II.
Thành lập Phòng Công chứng nhà nước chuyên trách ở thành phố Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có nhu cầu lớn về
công chứng và có đủ điều kiện cần thiết.
Phòng Công chứng nhà nước là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, có tư cách pháp nhân,có con dấu
riêng in hình quốc huy. Công chứng viên và cán bộ khác của Phòng Công chứng
nhà nước là người trong biên chế nhà nước. Công chứng viên phải là công dân
Việt Nam có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực và tinh thần trách
nhiệm cao, công minh, liêm khiết, có trình độ đại học pháp lý và tương đương, đã
được bồi dưỡng về nghiệp vụ công chứng. Sở Tư pháp chuẩn bị mọi điều kiện cần
thiết và dự thảo kế hoạch thành lập Phòng Công chứng nhà nước báo cáo Bộ Tư
pháp. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Bộ, Sở Tư pháp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập Phòng Công
chứng nhà nước và công nhận danh sách công chứng viên. Mỗi Phòng Công chứng
nhà nước bước đầu có từ 5 đến 7 người (kể cả công chứng viên và nhân viên phục
vụ). Biên chế của Phòng này nằm trong tổng biên chế đã được quy định của tỉnh,
thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương".
Sau đó, chi tiết hơn, để hướng dẫn thực hiện một số việc theo thông tư
574/QLTPK nói trên, Bộ Tư pháp đã ban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK vào
ngày 15-10-1987 với một số nội dung có liên quan như sau:
"I. Những yêu cầu cơ bản đối với việc làm công chứng:
1. Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Khi thực hiện các
việc làm công chứng, công chứng viên và những người được Uỷ ban nhân dân
giao nhiệm vụ thực hiện các việc làm công chứng (dưới đây gọi chung là công
chứng viên) phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật hiện hành, phải kiểm tra
xem những yêu cầu của đương sự có phù hợp với những quy định chung của
55
Nhà nước hay không. Công chứng viên không chứng nhận các hợp đồng, các
văn bản hoặc chứng thực các bản sao trái với pháp luật; không nhận giữ giấy
tờ, tài liệu mà nội dung tiết lộ bí mật quốc gia, làm mất danh dự, nhân phẩm
của công dân. Trong trường hợp nghi ngờ các giấy tờ, tài liệu là giả mạo, thì
công chứng viên có quyền yêu cầu giám định các loại giấy tờ, tài liệu nghi ngờ
đó, từ chối thực hiện việc làm công chứng có liên quan đến các giấy tờ, tài
liệu đó và thông báo cho các cơ quan có trách nhiệm để xác minh, xử lý. Công
chứng viên chỉ tuân theo pháp luật, không ai có quyền buộc công chứng viên
thực hiện các việc làm công chứng không phù hợp với pháp luật.
2.Giúp đỡ công dân, các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội trong việc
thực hiện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Để tránh trường hợp do không hiểu
pháp luật, đương sự tự gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, khi
thực hiện các việc làm công chứng, công chứng viên phải giải thích cho đương sự
hiểu quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời phân tích cho họ hiểu
hậu quả pháp lý của những việc làm công chứng không thích hợp đó.
3. Giữ bí mật việc làm công chứng Công chứng viên và cán bộ của cơ
quan công chứng phải giữ bí mật nội dung và việc đương sự đến yêu cầu thực
hiện các việc làm công chứng; những thông tin về các việc làm công chứng chỉ
cấp cho chính đương sự hay người đại diện hợp pháp của đương sự. Các cơ
quan điều tra truy tố, xét xử khi đang thụ lý, giải quyết những vụ việc có liên
quan đến những việc làm công chứng đó.
4. Địa điểm thực hiện các việc làm công chứng.
Nói chung, các việc làm công chứng phải được làm tại trụ sở của các cơ
quan công chứng. Song, nếu có lý do chính đáng, đương sự không thể đến công
chứng được, thì công chứng viên có thể đến tại nơi đương sự yêu cầu, trong
trường hợp này đương sự phải chịu mọi phí tổn đi lại theo quy định của Nhà
nước và phải trả lệ phí gấp hai lần so với lệ phí đã quy định.
5. Đảm bảo thời hạn thực hiện các việc làm công chứng"...
56
Và cũng từ đây, khi quyết định thành lập các phòng công chứng Nhà
nước, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
có Phòng công chứng quyết định bổ nhiệm mới hoặc bổ nhiệm bổ sung các công
chứng viên làm việc gắn liền với các phòng công chứng nào đó của tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương đó (Ví dụ: Quyết định: "Bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A
làm công chứng viên Phòng Công chứng Nhà nước số 1 T.P. Hồ Chí Minh"...).
Và tất nhiên, cùng với tên gọi là các "Phòng công chứng nhà nước" thì các công
chứng viên này đương nhiên là phải được lựa chọn trong số các cán bộ, công
chức của địa phương tỉnh, thành phố đó để bổ nhiệm.. Sau mấy chục năm
(khoảng nửa thế kỷ) không tổ chức hoạt động công chứng, thì đây là bước cần
thiết để rút những kinh nghiệm tiếp tục từng bước xây dựng tổ chức và hoạt
động công chứng (mà đầu tiên là công chứng nhà nước) ở nước ta. [15], [41].
2.1.1.2. Công chứng viên theo hoạt động công chứng nhà nước từ 1991
đến nay
Từ giữa những năm 1980, Đảng và Nhà nước ta sau. Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (1986) đã mở ra một giai đoạn đổi mới quản lý kinh tế, xây dựng
nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), đặc biệt là cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã vạch ra những định
hướng lớn về kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Theo đó là một cuộc chuyển đổi sâu sắc, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý
tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước và đã thu được những kết quả rất quan trọng. Nền kinh tế thị trường đã tạo
ra những quan hệ mới trong lĩnh vực phát triển và quản lý nền kinh tế, các giao
lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển rất sôi động.
Để khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển đó, đòi hỏi phải có thể
chế pháp luật phù hợp. Về lĩnh vực công chứng cũng vậy, đã đặt một tình hình
và nhiệm vụ mới: Cần phải có một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp với nguyên
tắc tổ chức và hoạt động đặc thù chứ không để cho Ủy ban nhân dân kiêm nhiệm
57
các công việc về công chứng như trước đây. Để giải quyêt yêu cầu nhiệm vụ này,
ngày 27/2/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định
số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Đây là văn bản
pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta quy định cơ sở pháp lý có thể nói là toàn diện
đầy đủ về tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta, trong đó có quy định khá chi
tiết về công chứng viên.
Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) quy định về tổ chức và hoạt động
công chứng nhà nước; trình tự thủ tục thực hiện các việc công chứng; quản
lý tổ chức và hoạt động công chứng; giá trị pháp của văn bản công chứng;
đặc biệt là quy định đối với công chứng viên. Cùng với những quy định
trong các văn bản pháp luật khác về công chứng Nghị định 45/HĐBT
(27/2/1991) như là một bản văn tuyên bố về tổ chức và hoạt động công
chứng Việt Nam, đánh dấu một sự tiến triển của những mối liên hệ giữa hoạt
động phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán. Công chứng viên lần đầu
tiên có những quy định riêng, chặt chẽ và lãnh hội một sứ mạng to lớn của
một nhà thực hành về pháp luật, khác hẳn với nhiệm vụ của luật sư trong các
hoạt động tố tụng, công chứng viên là người hướng dẫn, tuyên truyền và
thực thi áp dụng luật pháp trong một số lĩnh vực dân sự. (Tuy vẫn cho phép
Ủy ban nhân dân được tiếp tục thực hiện một số việc công chứng ở nơi chưa
thành lập Phòng công chứng). Những điểm nổi bật trong quy chế về công
chứng viên trong Nghị định này được quy định khá cụ thể như: tiêu chuẩn bổ
nhiệm, những việc không được làm của công chứng viên. Cụ thể:
"Điều 14. Những người có đủ các điều kiện sau đây có thể được bổ nhiệm
làm công chứng viên:
1- Là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
2- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
3- Tốt nghiệp đại học pháp lý;
4- Đã làm công tác pháp luật từ 5 năm trở lên và được huấn luyện nghiệp
vụ công chứng.
58
Công chứng viên được cấp và sử dụng thẻ công chứng viên trong khi làm
nhiệm vụ".
hay:
"Điều 18. Công chứng viên không được thực hiện công chứng trong các
trường hợp sau đây:
1- Những việc không thuộc phạm vi công chứng;
2- Những yêu cầu công chứng trái pháp luật;
3- Những việc liên quan đến bản thân mình, vợ hoặc chồng; anh chị em
ruột (kể cả anh chị em vợ hoặc chồng, anh chị em nuôi), cha, mẹ (kể cả cha, mẹ
vợ hoặc cha, mẹ chồng, cha, mẹ nuôi), ông bà nội, ông bà ngoại; con (kể cả con
nuôi, con dâu, con rể); cháu (các con của con trai, con gái, con nuôi);
4- Những việc mà đương sự chưa nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ,
tài liệu hợp pháp cần thiết để thực hiện công chứng".
Như vậy chỉ cần thông qua nội dung Điều 14 nói trên chúng ta đã có thể
thấy rõ ngay một trong các nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng nên quy chế
công chứng viên ở Việt Nam đã được hình thành và xác định tương đối rõ ràng
trong giai đoạn này. Đó chính là điều kiện - là yếu tố đầu tiên - để một người có
thể được trở thành một công chứng viên.
Còn trước đó, tại các Điểu 12 và Điều 13 thì đã quy định thẩm quyền bổ
nhiệm, miễn nhiệm, chế độ lương của công chứng viên: "Điều 12. Chủ tịch Uỷ
ban Nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập phòng công chứng Nhà nước; bổ
nhiệm và miễm nhiệm các công chứng viên, Trưởng phòng công chứng Nhà
nước sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp", "Điều 13. ... Trưởng
phòng công chứng Nhà nước phải được chọn trong số các công chứng viên. ...
Công chứng viên được hưởng lương theo chế độ chuyên viên".
Ngoài ra, chi tiết hơn, Nghị định còn quy định cụ thể trước những việc
công chứng viên có nhiệm vụ phải làm, các quyền khi thực hiện việc công chứng
và các trường hợp (về đối tượng, chủ thể) mà công chứng viên không được thực
hiện việc công chứng:
"Điều 16. Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có nhiệm vụ:
59
1- Tiếp nhận, kiểm tra các giấy tờ, tài liệu do đương sự nộp, xuất trình;
trường hợp cần thiết phải tiến hành xác minh. Trực tiếp soạn thảo hoặc hướng
dẫn cho đương sự soạn thảo hợp đồng và giấy tờ nếu họ đề nghị.
2- Trực tiếp thực hiện công chứng, ký văn bản công chứng, đóng dấu
phòng công chứng Nhà nước và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về
việc công chứng do mình thực hiện;
3- Ghi việc công chứng đã thực hiện vào sổ công chứng;
4- Lưu giữ các văn bản công chứng;
5- Trường hợp cần thiết giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa pháp lý của việc công chứng.
Điều 17. Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có quyền:
1- Yêu cầu đương sự nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cần
thiết cho việc thực hiện công chứng.
2- Yêu cầu các cơ quan Nhà nước, tổ chức khác cung cấp giấy tờ, tài liệu
cần thiết để thực hiện công chứng.
3- Yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định hoặc làm tư vấn khi thấy cần thiết.
4- Từ chối thực hiện công chứng đối với các trường hợp quy định tại điều
18 của Nghị định này.
Điều 18. Công chứng viên không được thực hiện công chứng trong các
trường hợp sau đây:
1- Những việc không thuộc phạm vi công chứng;
2- Những yêu cầu công chứng trái pháp luật;
3- Những việc liên quan đến bản thân mình, vợ hoặc chồng; anh chị em
ruột (kể cả anh chị em vợ hoặc chồng, anh chị em nuôi), cha, mẹ (kể cả cha, mẹ
vợ hoặc cha, mẹ chồng, cha, mẹ nuôi), ông bà nội, ông bà ngoại; con (kể cả con
nuôi, con dâu, con rể); cháu (các con của con trai, con gái, con nuôi);
4- Những việc mà đương sự chưa nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ,
tài liệu hợp pháp cần thiết để thực hiện công chứng".
Vì là văn bản pháp luật đầu tiên về công chứng và công chứng viên
nên việc quy định như trên thực sự vẫn mang tính liệt kê, tính chỉ đạo hành chính
60
cụ thể của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà vẫn chưa thể hiện được tính
phổ quát, tính khoa học pháp lý về chế định công chứng viên và quy chế công
chứng viên.
Tuy vậy, thông qua các quy định về riêng công chứng viên trong
Nghị định này chúng ta thấy Nhà được đã bắt đầu rất coi trọng chức danh công
chứng viên trong hệ thống pháp luật, đã dành nhiều điều để quy định về công
chứng viên. Tuy nhiên, vì chế định công chứng thời điểm đó là chế định công
chứng Nhà nước, nên ngoài các quy định về nguyên tắc, tiêu chuẩn, điều kiện bổ
nhiệm ... có tính chất pháp lý (có bằng đại học pháp lý, có thâm niên pháp luật
tối thiểu 5 năm lại phải qua đào tạo nghiệm vụ công chứng, ...) thì nghị định còn
quy định thêm điều kiện về mặt địa vị hành chính của ông chứng viên, đó là:
công chứng viên phải là chuyên viên (công chức Nhà nước). Vào thời điểm khó
khăn về hệ thống pháp luật nói riêng và về mặt kinh tế xã hội, tổ chức bộ máy
nhà nước nói chung như những năm 1990- 1991 thì đây là một yêu cầu đã khá
cao vể số lượng chất lượng của công chứng viên, do vậy số lượng công chứng
viên trên toàn quốc chỉ vỏn vẹn dưới một trăm người. (cụ thể cho đến năm 1991
chỉ có 97 công chứng viên). Còn các quy định, quy chế về mặt chất lượng của
công chứng viên thì nghị định cũng chưa đề cập đến.
Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện nghị định này, công tác công chứng đã có
được kết quả bước đầu đáng phấn khởi; trên toàn quốc đã hình thành hệ thống các
Phòng công chứng nhà nước ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều
đã thành lập ít nhất một Phòng công chứng nhà nước. Công tác công chứng đã đáp
ứng được một phần yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức [9].
Tuy nhiên, sự phát triển của các quan hệ gia đình đặc biệt là trong điều
kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển sôi động ở nước ta đã làm cho bản
thân Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) trở thành không đầy đủ. Ngày 18/5/1996
Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/CP (18/5/1996) về tổ chức và hoạt động
công chứng nhà nước thay thế cho Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991). Đặc biệt
trong Nghị định này đã có riêng hẳn một chương (Chương IV) quy định về riêng
61
công chứng viên và những đối tượng người khác được làm các công việc tương
đương với công chứng viên. Và cũng trong nghị định này, ngoài việc quy định
thêm phẩm chất "công minh, trung thực, liêm khiết, khách quan" thì lần đầu tiên
pháp luật quy định công chứng viên phải là người làm việc chuyên trách, không
kiêm nhiệm và không được làm nghề tự do. Đây cũng là một quy định mới, tiến
bộ hơn so với Nghị định 45/HĐBT nhằm chuyên trách hoá (không kiêm nhiệm)
nghiệp vụ của công chứng viên, giúp tăng cường chất lượng công việc của công
chứng viên:
"Điều 17. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu
chuẩn sau đây được xem xét tuyển chọn và bổ nhiệm làm công chứng viên:
1. Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, công minh, trung thực, liêm khiết,
khách quan.
2. Tốt nghiệp Đại học Luật;
3. Có thời gian công tác pháp luật từ 5 năm trở lên;
4. Đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.
Công chứng viên phải hoạt động chuyên trách, không được kiêm nhiệm
công việc khác tại các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, và không được hành
nghề tự do"...
Ngoài ra, các quy định cụ thể các nhiệm vụ (Điều 21), các quyền (Điều
22) và các việc công chứng viên không được làm (Điều 23), ..., thì nhìn chung
vẫn gần như được giữ nguyên như những quy định trong Nghị định 45/HĐBT
ngày 27/02/1991.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng,
chứng thực, góp phần phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đồng
thời tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, chứng thực,
tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng, chứng
thực. Ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
(8/12/2000) về công chứng, chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi
công chứng, chứng thực, tổ chức Phòng công chứng, nguyên tắc hoạt động, thủ
62
tục, trình tự thực hiện việc công chứng, chứng thực, công tác chứng thực của Ủy
ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân
cấp xã, phường, thị trấn.
Tuy nhiên, trong nghị định 75/2000/NĐ-CP chỉ quy định chủ yếu về khía
cạnh quản lý và phạm vi công việc mà công chứng viên được làm hay không
được làm, không có điều khoản riêng nào quy định thêm về công chứng viên.
Nhưng nẳm rải rác trong những điều khoản chung khác thì công chứng viên theo
nghị định này đã có thêm một số quyền so với quyền quy định tại Nghị định
31/CP - đó là thêm một số quyền chứng thực như thẩm quyền của Uỷ ban nhân
dân cấp phường, xã hoặc cấp quận, huyện. Còn về mặt quy chế, theo nghị định
này quy định về công chứng viên vẫn là công chức (hay viên chức) Nhà nước và
chưa có gì thay đổi đặc biệt so với quy định đối với công chứng viên theo Nghị
định 31/CP.
Cũng cần chú ý thêm, các Nghị định này không phải là văn bản pháp luật
về công chứng đầy đủ nhất, tập trung nhất. Ngoài các Nghị định đã nêu, các quy
định có liên quan đến hoạt động công chứng còn nằm rải rác trong các văn bản
pháp luật khác mà công chứng viên buộc phải biết để thực hiện, đặc biệt là trong
các luật về dân sự (ví dụ: đặc biệt Bộ Luật Dân sự năm 1995 có tới 29 điều nói
đến công chứng, đó là các điều : 133, 139,316, 322, 330, 347, 367, 400, 403,
417, 443, 455, 459, 463, 477, 489, 506, 563, 586, 645, 653,655, 660, 661,662,
663, 664, 668 và 675. Rồi tiếp theo là các văn bản về Luật đất đai, luật thương
mại, luật hôn nhân gia đình, ... trong thời kỳ tương ứng). Những quy định trong
các văn bản có liên quan này tất nhiên không quy định trực tiếp về công chứng
viên, nhưng cũng thể hiện được một phần quy chế công chứng viên khi quy định
về những công việc mà công chứng viên phải làm hoặc có thể được làm.
Như vậy, xét về thể chế, quy chế công chứng viên cho đến thời điểm này
có một số đặc điểm chính được rút ra như sau:
- Các công chứng viên trực tiếp thực hiện các việc công chứng tại các
Phòng công chứng Nhà nước (tuy từ Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) chỉ
63
gọi là Phòng công chứng). Các Phòng công chứng đó là một tổ chức có tư cách
pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, công chứng viên được sử dụng con
dấu của các Phòng công chứng trong văn bản công chứng của mình, tuy nhiên
tính độc lập của các công chứng viên đã khá cao: "công chứng viên chịu trách
nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện" [21].
Ngoài công chứng viên, một số chuyên viên của cơ quan chuyên trách
theo quy định của Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) và Bộ luật dân sự như
các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước ta ở nước ngoài cũng có thẩm
quyền công chứng một số việc, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã có thẩm
quyền chứng thực.
Tuy nhiên, các chuyên viên cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có
thẩm quyền công chứng (đúng nghĩa chỉ là chứng nhận) các việc theo quy định
của pháp lệnh lãnh sự và Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) trừ các việc
mua, bán, tặng, cho, trao đổi bất động sản tại Việt Nam. Nhưng nghị định này
cũng kèm theo quy định: Ở các nước hoặc địa bàn có nhiều yêu cầu công chứng.
Bộ Ngoại giao có trách nhiệm cử viên chức lãnh sự có bằng cử nhân luật đã qua bồi
dưỡng nghiệp vụ công chứng để chuyên trách thực hiện công chứng tại cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài, văn bản công chứng do cơ quan đại diện Việt Nam ở
nước ngoài thực hiện có giá trị như văn bản công chứng, văn bản chứng thực ở
trong nước [22].
Theo số liệu thống kê năm năm 2000, số công chứng viên trong cả nước
cho đến năm 1991 là 97 công chứng viên, đến năm 1992 có 101 công chứng
viên; năm 1993 có 126 công chứng viên; năm 1996 có 202 công chứng viên;
năm 1997 có 237 công chứng viên; và đến năm 2000 đã có 244 công chứng viên
(làm việc trong 95 Phòng công chứng nhà nước, trong đó có 61 phòng số 1; 23
phòng số 2, 9 phòng số 3; 2 phòng số 4, trong tổng số biên chế là nhà nước là 664
người). Ngoài hệ thống các Phòng công chứng nhà nước chuyên trách, còn có
hơn 600 Ủy ban nhân dân cấp huyện, 13.000 Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ
64
quan sứ quán, lãnh sự của nước ta ở nước ngoài cũng có chuyên viên thực hiện
một số việc công chứng [12].
Công chứng viên nước ta cho đến thời điểm này, xét về mặt địa vị pháp lý
thì vẫn là người thuộc biên chế nhà nước (do thể chế công chứng nhà nước),
Phòng công chứng là cơ quan Nhà nước, công chứng viên là viên chức nhà nước,
công chứng viên đi theo Phòng công chứng được lập ra theo từng khu vực cụ
thể. Công chứng viên tuy nằm trong khối cơ quan có chức năng quản lý nhà
nước nhưng chỉ là những người có chức năng chính là chứng nhận tính xác thực
các loại công việc theo quy định của pháp luật [115]. Do vậy tính chất hoạt động
của công chứng viên đã bắt đầu mang đậm tính hỗ trợ cho hoạt động tư pháp.
Trong giai đoạn này, vể mặt quy định của pháp luật, hoạt động của công chứng
viên với tư cách là một chủ thể hoạt động độc lập không bị chi phối bởi bất kỳ
một yếu tố nào (thể hiện vị trí của cơ quan công chứng trong lĩnh vực hỗ trợ tư
pháp). Tuy nhiên, trên thực tế, vì vẫn là viên chức Nhà nước nên các hoạt động
của công chứng viên giai đoạn này vẫn còn mang nặng cách thức và tư tưởng
của một "viên chức nhà nước", chưa hoàn toàn mang tính chuyên nghiệp và
đương nhiên còn phải chịu cả sự chi phối của Luật cán bộ, công chức hoặc Luật
về viên chức.
Thêm vào đó, quy định của pháp luật về công chứng cho đến giai đoạn
này ở nước ta vẫn còn những nét khác biệt với quy định về công chứng của
nhiều nước khác, ví dụ đó là: một số chuyên viên cơ quan khác không phải là
công chứng viên cũng có nhiệm vụ thực hiện một phần chức năng của công
chứng viên. Việc thực hiện các việc công chứng của các chuyên viên trong các
cơ quan khác được Nhà nước giao thực hiện một phần chức năng công chứng nói
trên đang có rất nhiều những bất cập cần phải được nghiên cứu để xác định lại
cho phù hợp với chứng năng nhiệm vụ, chất lượng của các chuyên viên này.
2.1.3. Nhận xét tổng quát về các đặc điểm nổi bật của quy chế công chứng
viên Việt Nam trong giai đoạn này (trước khi có Luật Công chứng 2006).
65
Qua những phân tích trên đây, ta thấy công chứng viên Việt Nam
toàn trong toàn bộ thời kỳ trước khi có Luật Công chứng năm 2006 có một số
điểm đặc trưng cơ bản như sau:
- Về mặt thể chế, Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 là văn bản pháp
luật đầu tiên quy định một cách đầy đủ về Công chứng viên ở Việt Nam như một
quy chế luật định.
- Về khái niệm, đã quy định khá cụ thể: Công chứng viên là người làm
việc tại các Phòng công chứng, có chức năng chứng nhận tính xác thực của hợp
đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế,
thương mại và quan hệ xã hội khác, và thực hiện các việc khác theo quy định của
pháp luật công chứng.
- Công chứng viên là công chức (hoặc viên chức) Nhà nước do thể chế
công chứng ở nước ta là công chứng nhà nước (có thể tuy Nghị định
75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) không dùng từ nhà nước, song cơ cấu tổ chức và
kinh phí hoạt động công chứng vẫn do nhà nước thực hiện).
- Ngoài các việc Công chứng viên có thẩm quyền công chứng các giao
dịch, văn bản theo quy định của pháp luật nói chung, công chứng viên còn được
quyền công chứng các giao dịch, văn bản do công dân, tổ chức yêu cầu (tất nhiên
là chỉ được công chứng những giao dịch, văn bản không vi phạm pháp luật,
không trái đạo đức xã hội).
- Giá trị pháp lý của văn bản do Công chứng viên thực hiện có giá trị pháp
lý là chứng cứ. Hợp đồng, văn bản đã được công chứng, chứng thực bởi công
chứng viên có giá trị thi hành đối với các bên giao kết.
- Do sự hình thành và phát triển của hệ thống công chứng ở Việt Nam là
một quá trình diễn biến khá phức tạp và không ít những khó khăn nhất là từ khi
thiết lập hệ thống là công chứng nhà nước thống nhất trên phạm vi toàn quốc, do
vậy các công việc của các tổ chức công chứng cũng như của các công chứng viên
cũng chưa được xác định rõ ràng, còn chắp vá lẫn lộn với các hành vi quản lý hoặc
bị chi phối, ảnh hưởng bởi các cơ quan hành chính nhà nước khác. Tổ chức và
66
hoạt động công chứng cũng như bản thân các công chứng viên chưa được xác
định đúng với tính chất, vị trí vai trò của và đáp ứng được nhu cầu thực tế xã hội
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường giai đoạn này.
- Số lượng công chứng viên tuy vẫn có tăng lên hàng năm, nhưng số
lượng tính theo đầu dân số còn thấp, theo số liệu thống kê năm cho đến năm
2000, số lượng công chứng viên trong toàn quốc cụ thể như sau: đến năm 1991
có 97 công chứng viên, đến năm 1992 có 101 công chứng viên; năm 1993 có 126
công chứng viên; năm 1996 có 202 công chứng viên; năm 1997 có 237 công
chứng viên, đến năm 2000 có 244 công chứng viên; và cho đến ngày 10/02/2006
là 380 công chứng viên (làm việc trong 123 Phòng Công chứng).
Tóm lại, qua một thời gian hoạt động công chứng, đã bộc lộ nhiều vấn đề
cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Ngoài việc cần nghiên cứu làm rõ
về khái niệm, xác định chính xác vị trí, vai trò, đặc điểm, tính chất, mục đích, ý
nghĩa, phạm vi hoạt động của công chứng viên thì việc đào tạo, quy định một
quy chế hoàn chỉnh đối với công chứng viên Việt Nam là một trong những nội
dung hết sức quan trọng, tạo cơ sở cho việc thiết lập một hệ thống công chứng
viên phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
(B)
2.2. Quy chế công chứng viên sau khi có Luật Công chứng (2006 )
2.2.1. Một số điểm nổi bật của quy chế công chứng viên từ khi có Luật
Công chứng 2006 đến trước khi có Luật Công chứng 2014
Ngày 29/11/2006, Luật công chứng đã được Quốc Hội khóa 11 kỳ
họp thứ 10 thông qua có hiệu lực từ 01/07/2007 - là một văn bản quy phạm pháp
luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực
công chứng nói chung và công chứng viên nói riêng. Lần đầu tiên trong lịch sử
nước ta đã có một Luật đầy đủ quy định về công chứng và công chứng viên,
đồng thời đây cũng là lần đầu tiên, là mốc thời gian rất đáng nhớ đánh dấu việc
67
xã hội hoá nền công chứng Việt Nam, trong đó tất nhiên bao gồm luân cả xã hội
hoá chức danh công chứng viên. Từ thời điểm này trở đi, khái niệm công chứng
Nhà nước sau bao nhiêu năm tồn tại, từ chế độ phong kiến, đến thời Pháp thuộc,
đến cả chính quyền miền Nam Việt Nam, cho đến thời kỳ Việt Nam dân chủ
Cộng hoà, rồi Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trên lãnh thổ nước ta đã
xuất hiện loại hình "Văn phòng công chứng" tư nhân đầu tiên cùng song song
tồn tại với các Phòng công chứng Nhà nước và sau đó sẽ dần thay thế hoàn toàn
các Phòng Công chứng Nhà nước do Nhà nước thành lập ra này.
Và cũng chính vì tầm quan trọng của công chứng viên theo chế định mới
này nên lần đầu tiên, trong Luật Công chứng 2006, chức danh công chứng viên
được đặt ở vị trí trọng tâm của Luật, ở ngay những điều đầu tiên của Luật này,
thậm chí ngay trong khái niệm công chứng:
"Điều 2. Công chứng
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp
pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng
văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức
tự nguyện yêu cầu công chứng."
Không những thế đây cũng là lần đầu tiên, quy định lớn nhất trong quy
chế về công chứng viên được đưa lên phần đầu của Luật, đó là "nguyên tắc hành
nghề công chứng" - là nguyên tắc xuyên suốt, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động
của công chứng viên:
"Điều 3. Nguyên tắc hành nghề công chứng
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
2. Khách quan, trung thực.
3. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng.
4. Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng".
Ngay sau nguyên tắc đối với công chứng viên và những người hành nghề
công chứng nói chung ở trên thì các quy định tiếp theo của Luật này đã tạo nên
68
một bộ khung quy chế mới cho công chứng viên. Cụ thể chúng ta sẽ phân tích
sau đây.
2.2.1.1. Quy định về điều kiện được hành nghề công chứng:
Điều kiện đầu tiên của người muốn được hành nghề công chứng là phải có
bằng cử nhân Luật và đương nhiên phải tuân theo Điều 3 của Luật này - tức
nguyên tắc hành nghề công chứng: "Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật", "Khách
quan, trung thực".
Tuy điều kiện hành nghề này nghe có vẻ chỉ mang tính nguyên tắc chung
chung, nhưng đây lại là một điều kiện vô cùng cần thiết cho người được quyền
hành nghề công chứng. Vì nếu như áp dụng một cách triệt để điều kiện này thì
tất cả những người đã từng vi phạm hiến pháp, pháp luật, hoặc đã từng bị kết án
hoạc quy trách nhiệm một cách chính thức là "thiếu khách quan, thiếu trung
thực" thì sẽ rất khó được hành nghề hoặc được trở thành công chứng viên.
2.2.1.2. Quy định việc mới vào hành nghề công chứng:
Việc mới vào hành nghề công chứng của một người muốn trở thành công
chứng viên tất nhiên phải có bằng cử nhân Luật và phải có đầy đủ các phẩm chất
cá nhân đáp ứng được nguyên tắc hành nghề công chứng như Điều 3 của Luật
công chứng 2006 đã quy định. Thêm vào đó, người mới vào hành nghề công
chứng đương nhiên phải được một tổ chức, một cơ quan pháp luật nhận vào làm
việc, bởi lẽ theo quy định, muốn được bổ nhiệm công chứng viên phải "có thời
gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên".
2.2.1.3. Quy định về điều kiện được tham gia khoá đào tạo nghiệp vụ
công chứng viên:
- Theo Điều 14, Luật Công chứng 2006 thì quy định này rõ ràng như sau:
"Điều 14. Đào tạo nghề công chứng
1. Người có bằng cử nhân luật được đăng ký tham dự khoá đào tạo nghề
công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng."
Tức là, chỉ có những người đã có bằng cử nhân Luật rồi mới được tham
gia khoá đào tạo nghiệp vụ công chứng - có thể hiểu là đào tạo nghề công chứng
69
viên. Chỉ qua quy định này cũng có thể thấy việc muốn trở thành một công
chứng viên thì phải trải qua một quy trình chặt chẽ và có yêu cầu rất cao về trình
độ, chất lượng, mà có thể nói là yêu cầu cao nhất về quy định đối với một nghề
nghiệp (cao như đối với yêu cầu về thẩm phán vậy). Đó là chưa kể, trên thực tế,
các cử nhân này còn phải được các cơ sở đào tạo nghề công chứng chiêu sinh
theo từng đợt, từng năm, phải được kiểm tra bằng cấp cẩn thận, kỹ lưỡng theo
quy định của Bộ Tư pháp.
Tuy nhiên, cũng có một số đối tượng được miễn đào tạo khoá nghiệp vụ
công chứng do đã có trình độ chuyên môn hoặc trình độ nghiệp pháp luật cao, cụ
thể là:
"Điều 15. Người được miễn đào tạo nghề công chứng
1. Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ
ba năm trở lên.
2. Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật.
3. Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành
kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp
trong lĩnh vực pháp luật".
Về mặt khoa học pháp lý, quy định này là phù hợp vì trên lý thuyết,
những đối tượng này đã hội tụ được khá đầy đủ những kiến thức pháp luật.
Nhưng trên thực tế, rất nhiều công chứng viên thuộc đối tượng này đã mắc phải
những lỗi nghiệp vụ công chứng nghiêm trọng, gây hậu quả pháp lý rất nặng nề,
còn bản thân công chứng viên thậm chí đã phải rơi vào vòng lao lý rất đáng
buồn, trong khi những lỗi này các công chứng viên được đào tạo trước đây gần
như không bao giờ mắc phải. Do vậy, có thể nói đây chính là một trong những
khiếm khuyết đáng tiếc của quy chế công chứng viên giai đoạn này. Dễ thấy lý
do của khiếm khuyết này là việc "sơ hở", việc đánh giá chưa đúng thực tế tính
phức tạp, tính "nguy hiểm" trong nghề công chứng của những cơ quan ban hành
pháp luật.
2.2.1.4. Quy định về việc đào tạo nghiệp vụ công chứng viên:
70
Quy định này cụ thể như sau:
"Điều 14. Đào tạo nghề công chứng
1. Người có bằng cử nhân luật được đăng ký tham dự khoá đào tạo nghề
công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng."
2. Thời gian của khoá đào tạo nghề công chứng là sáu tháng.
Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề công chứng được cơ sở đào
tạo nghề công chứng cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng.
3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về chương trình khung của khoá đào
tạo nghề công chứng và quy định việc công nhận đào tạo nghề công chứng ở
nước ngoài".
2.2.1.5. Quy định về tập sự hành nghề công chứng viên:
Theo Điều 16 của Luật:
"Điều 16. Tập sự hành nghề công chứng
1. Người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng thì
được tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng. Thời gian tập sự hành nghề
công chứng là mười hai tháng, kể từ ngày tập sự tại tổ chức hành nghề công
chứng. Người tập sự hành nghề công chứng phải đăng ký tại Sở Tư pháp nơi có
tổ chức hành nghề công chứng mà mình tập sự.
2. Người tập sự có thể tự liên hệ tập sự hành nghề công chứng tại một tổ
chức hành nghề công chứng hoặc đề nghị Sở Tư pháp bố trí tập sự tại một tổ
chức hành nghề công chứng.
3. Người tập sự hành nghề công chứng được thực hiện các công việc liên
quan đến công chứng do công chứng viên hướng dẫn phân công và chịu trách
nhiệm trước công chứng viên hướng dẫn về những công việc đó; không được ký
văn bản công chứng.
Khi hết thời gian tập sự, người tập sự hành nghề công chứng phải báo
cáo kết quả tập sự bằng văn bản có nhận xét của công chứng viên hướng dẫn về
năng lực chuyên môn, tư cách đạo đức gửi Sở Tư pháp nơi đăng ký tập sự".
71
Tuy nhiên, cũng có một số đối tượng được miễn phải trải qua giai đoạn
tập sự hành nghề công chứng này:
"Điều 17. Người được miễn tập sự hành nghề công chứng
Người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại Điều 15 của Luật
này được miễn tập sự hành nghề công chứng".
2.2.1.6. Quy định về điều kiện bổ nhiệm công chứng viên:
Đây điều quan trọng nhất trong toàn bộ các điều quy định trong quy chế
về công chứng viên:
"Điều 13. Tiêu chuẩn công chứng viên
1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc,
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu
chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên:
a) Có bằng cử nhân luật;
b) Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức;
c) Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng;
d) Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng;
đ) Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng.
2. Thời gian đào tạo nghề công chứng và tập sự hành nghề công chứng
được tính vào thời gian công tác pháp luật".
Qua quy định này có thể thấy rõ là không phải bất kỳ ai có bằng cử nhân
Luật, thậm chí có bằng cấp cao hơn, thậm chí đã qua khoá đào tạo, đã qua thời
gian tập sự là cũng có thể được Nhà nước cho phép hành nghề công chứng. Bởi
ngoài quy định về quốc tịch và các yếu tố nêu trên còn có quy chế về mặt pháp
luật (phải "tuân thủ hiến pháp và pháp luật", cũng có thể hiểu là không hoặc chưa
bao giờ vi phạm Hiến pháp và pháp luật), nhưng đặc biệt hơn phải là người "có
phẩm chất đạo đức tốt". Đây là một quy định xét về mặt pháp lý thì có vẻ chung
chung nhưng nếu áp dụng một cách triệt để thì cũng là một quy định mang tính
pháp chế rất cao, bởi lẽ "phẩm chất đạo đức" ở đây sẽ vừa là một bộ quy chế do
Nhà nước ban hành để các công chứng viên buộc phải áp dụng, nhưng đồng thời
72
cũng vừa là một phạm trù được cả xã hội quan tâm theo dõi thông qua dư luận xã
hội. Mà đã thông qua dư luận xã hội thì tính khách quan sẽ cao hơn, đòi hỏi của
người dân và toàn xã hội đối với công chứng viên cũng chặt chẽ và sát sao hơn
nên không phải ai cũng có thể đáp ứng được một cách triệt để quy định này.
Nhưng rất đáng tiếc, trên thực tế, rất nhiều công chứng viên không đáp ứng được
tiêu chuẩn về đạo đức này, dư luận xã hội đã có nhiều bất bình liên quan đến
việc nhiều công chứng viên vi phạm tiêu chuẩn này trong quy chế chung về công
chứng viên.
2.2.1.7. Quy định về thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiêm, tạm đình chỉ công
chứng viên:
"Điều 18. Bổ nhiệm công chứng viên
1. Người hoàn thành tập sự hành nghề công chứng có quyền đề nghị Bộ
trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công
chứng viên gửi Sở Tư pháp ở địa phương nơi đăng ký tập sự, gồm có:
a) Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên;
b) Bản sao bằng cử nhân luật hoặc bằng thạc sỹ luật;
c) Giấy tờ chứng minh về thời gian công tác pháp luật;
d) Bản sao Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng;
đ) Báo cáo kết quả tập sự hành nghề công chứng có nhận xét của công
chứng viên hướng dẫn;
e) Sơ yếu lý lịch;
g) Giấy chứng nhận sức khoẻ.
2. Người được miễn đào tạo nghề công chứng, người được miễn tập sự
hành nghề công chứng có quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công
chứng viên. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên gửi Bộ Tư pháp, gồm có:
a) Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên;
b) Bản sao bằng cử nhân luật hoặc bằng thạc sỹ luật hoặc bằng tiến sỹ luật;
c) Giấy tờ chứng minh là người được miễn đào tạo nghề công chứng,
miễn tập sự hành nghề công chứng;
73
d) Giấy tờ chứng minh về thời gian công tác pháp luật;
đ) Sơ yếu lý lịch;
e) Giấy chứng nhận sức khoẻ.
3. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ
nhiệm công chứng viên quy định tại khoản 1 Điều này, Sở Tư pháp phải có văn bản
đề nghị bổ nhiệm công chứng viên kèm theo hồ sơ gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ
sơ. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
4. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ
nhiệm công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định bổ nhiệm
công chứng viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý
do cho Sở Tư pháp, người nộp hồ sơ. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo
quy định của pháp luật.
Người được bổ nhiệm công chứng viên thì được Bộ trưởng Bộ Tư pháp
cấp thẻ công chứng viên.
Điều 19. Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên
1. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa
được xoá án tích về tội phạm do vô ý; đã bị kết án về tội phạm do cố ý.
2. Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
3. Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
4. Cán bộ, công chức, viên chức bị buộc thôi việc.
5. Người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng
hình thức xoá tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, bị tước quyền sử dụng
chứng chỉ hành nghề luật sư.
Điều 20. Miễn nhiệm công chứng viên
1. Công chứng viên được miễn nhiệm theo nguyện vọng của cá nhân hoặc
chuyển làm công việc khác.
2. Công chứng viên bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:
74
a) Không còn đủ tiêu chuẩn công chứng viên theo quy định tại Điều 13
của Luật này;
b) Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
c) Kiêm nhiệm công việc khác;
d) Không hành nghề công chứng kể từ ngày được bổ nhiệm công chứng
viên từ hai năm trở lên hoặc không hành nghề công chứng liên tục từ một năm
trở lên;
đ) Đã bị xử phạt hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề
công chứng mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo
trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc;
e) Bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình hoặc theo đề nghị của Sở Tư pháp ở địa
phương nơi công chứng viên đang hành nghề công chứng, của Sở Tư pháp nơi
đề nghị bổ nhiệm công chứng viên trong trường hợp công chứng viên chưa hành
nghề công chứng quyết định miễn nhiệm công chứng viên.
Hồ sơ đề nghị miễn nhiệm công chứng viên trong các trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều này phải có đơn xin miễn nhiệm của công chứng viên, văn
bản đề nghị của Sở Tư pháp.
Hồ sơ của Sở Tư pháp đề nghị miễn nhiệm công chứng viên trong các
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này phải có văn bản đề nghị của Sở Tư
pháp và các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc đề nghị miễn nhiệm.
4. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề
nghị miễn nhiệm công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định
miễn nhiệm công chứng viên và quyết định thu hồi thẻ công chứng viên.
Điều 21. Tạm đình chỉ hành nghề công chứng
1. Sở Tư pháp quyết định tạm đình chỉ hành nghề công chứng đối với
công chứng viên thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d
và đ khoản 2 Điều 20 của Luật này hoặc công chứng viên đang bị truy cứu trách
75
nhiệm hình sự, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Sở Tư pháp quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ hành nghề công
chứng đối với công chứng viên trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và đ
khoản 2 Điều 20 của Luật này;
b) Có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc khi có bản án đã
có hiệu lực của Toà án tuyên không có tội;
c) Không còn bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
3. Quyết định tạm đình chỉ và quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ
hành nghề công chứng phải được gửi cho công chứng viên, tổ chức hành nghề công
chứng nơi công chứng viên làm việc, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp".
Về mặt pháp chế, những quy định này cũng tương đồng, phù hợp với một số
chức danh tư pháp khác cũng như phù hợp chung với hệ thống pháp luật về hành
chính, hình sự, ... đang hiện hành.
2.2.1.8. Quy định về điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của công
chứng viên:
- Điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ của công chứng viên đươc quy định
tại Điều 22, Luật Công chứng 2006, cụ thể như sau:
"Điều 22. Quyền và nghĩa vụ của công chứng viên
1. Công chứng viên có các quyền sau đây:
a) Được lựa chọn nơi để hành nghề công chứng, trừ công chứng viên của
Phòng công chứng;
b) Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài
liệu để thực hiện việc công chứng;
c) Các quyền khác quy định tại Luật này.
2. Công chứng viên có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân thủ nguyên tắc hành nghề công chứng;
76
b) Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng;
c) Giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu
cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;
d) Hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng".
Đây cũng là một quy định rõ ràng và phù hợp với hệ thống pháp luật
chung.
2.2.1.9. Quy định về các trách nhiệm của công chứng viên (đối với văn
bản công chứng, đối với người yêu cầu công chứng, đối với tổ chức hành nghề
công chứng, đối với tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên, đối với
các cá nhân, tổ chức và các cơ quan nhà nước có liên quan (phát sinh thông qua
các văn bản công chứng), các hành vi bị nghiêm cấm của công chứng viên, xử lý
vi phạm đối với công chứng viên:
- "Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng" (Điều 3,
khoản 3).
- Ngoài ra công chứng viên còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối
với người yêu cầu công chứng, với tổ chức hành nghề công chứng mà mình đang
làm việc và với cả các cơ có quan liên quan thông qua hậu quả pháp lý mà văn
bản công chứng do mình thực hiện.
- Luật còn quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên:
"Điều 12. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Nghiêm cấm công chứng viên thực hiện các hành vi sau đây:
a) Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng mà mình biết được khi hành
nghề, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc
pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin đó để xâm hại quyền, lợi ích hợp
pháp của người khác;
b) Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;
c) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người yêu cầu
công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được
xác định, thoả thuận;
77
d) Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp
đồng, giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; công chứng liên quan
đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ
hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi, con dâu, con rể, ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của
vợ hoặc chồng, cháu là con của con trai, con gái, con nuôi".
Đây là một quy định khoa học, phù hợp với hệ thống pháp luật về tố tụng
trong hệ thống phápl uật nước ta.
- Luật còn quy định cho các công chứng viên có quyền từ chối công
chứng (ví dụ tại Điều 35), nhưng cũng quy định công chứng viên cũng có thể bị
khiếu nại và hành vi từ chối công chứng (Điều 63). Trên thực tế đã xảy ra những
vụ kiện mà hành vi từ chối công chứng của công chứng viên không đúng với quy
định của pháp luật và đã bị Toà án có thẩm quyền tuyên là đó là hành vi từ chối
sai và đã phải bồi thường cho người yêu cầu công chứng. Đây là một điểm rất
đặc thù trong quy chế công chứng viên hiện đại, tuy là hành nghề trong khuôn
khổ nghề tự do nhưng vẫn bị ràng buộc trách nhiệm khi từ chối thực hiện công
việc mà mình đăng ký hoạt động khi có người yêu cầu. Tuy nhiên, khoa học
pháp lý còn phải nghiên cứu sâu thêm về quy định này vì đây là vấn đề rất phức
tạp phát sinh từ sự "chồng chéo" trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay.
2.2.2. Quy chế công chứng viên từ khi có Luật Công chứng 2014 (quy
chế công chứng viên hiện hành)
Ngày 20/06/2014, Luật Công chứng mới (số: 53/2014/QH13) đã được
Quốc Hội khóa 13 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 - đã thay thế
hoàn toàn cho Luật Công chứng 2006. Đây là Luật về cơ bản vẫn mang tinh thần
chung là chuyên nghiệp hoá và xã hội hoá cao về công chứng giống như Luật
Công chứng 2006 nhưng đã được sửa đổi, bổ sung rất nhiều (nên mới có tên là
Luật công chứng 2014 chứ không phải là Luật công chứng sửa đổi). Sự ra đời
78
của Luật này nhằm khắc phục tốt nhất những nhược điểm của Luật Công chứng
2006 và để phù hợp với sự phát triển của cả hệ thống luật pháp, phù hợp với sự
phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới, trong đó đặc biệt nhất là nhằm
nâng cao chất lượng công chứng viên, mở rộng phạm vi công việc cho công
chứng viên, quy hoạch tổng thể số lượng công chứng viên và tổ chức hành nghề
công chứng, xã hội hoá hoàn toàn nghề công chứng trong thời gian sớm nhất.
Về mặt phạm vi công việc được hành nghề, điều đáng chú ý là Luật Công
chứng 2014 quy định thêm (so với Luật Công chứng 2006) cho công chứng viên
có thêm chức năng chứng thực sao y bản chính và chứng thực chữ ký người yêu
cầu chứng thực và chữ ký người dịch văn bản (tức quay lại phần phạm vi công
việc gần giống như giai đoạn do Nghị định 75/2000/NĐ-CP quy định).
Riêng về công chứng viên, Luật Công chứng 2014 đã cố gắng hoàn chỉnh
tốt nhất theo xu hướng xã hội hoá, chất lượng hoá và quy hoạch hoá một cách tốt
nhất có thể nhằm đáp ứng cho toàn bộ xã hội trong giai đoạn chuyển mình hội
nhập quốc tế mà trong đó bản thân nền công chứng Việt Nam cũng đã chính thức
là thành viên của Liên minh công chứng Quốc tế. Ngoài những điểm chính vẫn
được giữ lại từ Luật Công chứng 2006, Luật Công chứng mới (2014) này còn bổ
sung một số điểm mới đáng chú ý sau đây về công chứng viên:
- Quy định mang tính tổng quát về "Chức năng xã hội của công chứng
viên" (Điều 3):
"Điều 3. Chức năng xã hội của công chứng viên
Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện
nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch;
phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội".
Đây là một quy định mang tính khái quát cao, một khái niệm về mặt xã
hội của công chứng viên, nhưng vẫn chưa phải là một khái niệm và quy định cụ
thể, nhưng dù sao cũng cho thấy tầm quan trọng của công chứng viên trong xã
hội.
79
- Tiếp theo, cụ thể hơn, công chứng viên được bổ sung thêm về phạm vi
công việc hành nghề so với Luật Công chứng trước đây, đây cũng là một điều
hợp lý, vì trên thực tế các công chứng viên là những "chuyên gia" về pháp luật
nên đủ sức đảm đương thêm được các công việc này tốt hơn những đối tượng
làm việc "kiêm nhiệm" trước đây (Điều 2, khoản 1):
"1. Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công
chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác
bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp,
không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng
nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch)
mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự
nguyện yêu cầu công chứng".
- Nhưng công chứng viên lại phải chịu thêm trách nhiệm trước pháp luật
về người yêu cầu công chứng so với Luật trước đây (Điều 4, khoản 4):
"4. Chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn
bản công chứng".
2.2.1.1. Quy định về điều kiện được hành nghề công chứng:
- Quy định này vẫn được giữ nguyên như quy định tại Luật Công chứng
2006: phải có bằng cử nhân Luật (Điều 8, khoản 1) và phải là người có phẩm
chất "Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật", "Khách quan, trung thực" (Điều 4).
2.2.1.2. Quy định về việc người mới bước vào hành nghề công chứng :
- Cũng giống như Luật Công chứng 2006: Việc mới vào hành nghề công
chứng của một người muốn trở thành công chứng viên phải có bằng cử nhân Luật
và phải có đầy đủ các phẩm chất cá nhân đáp ứng được nguyên tắc hành nghề công
chứng như Điều 8 của Luật công chứng năm 2014 đã quy định. Thêm vào đó, người
mới vào hành nghề công chứng đương nhiên phải được một tổ chức, một cơ quan
pháp luật nhận vào làm việc, bởi lẽ theo quy định, muốn được bổ nhiệm công
chứng viên phải "có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên".
80
2.2.1.3. Quy định về điều kiện được tham gia khoá đào tạo nghiệp vụ
công chứng viên:
- Quy định về điều kiện tham gia khoá đào tạo cũng giống theo Luật Công
chứng 2006 nhưng một số đối tượng được miễn đào tạo thì phải có 05 (năm)
năm hành nghề tư pháp khác thay vì 03 (ba) năm như Luật Công chứng 2006 và
dù có trong đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng thì vẫn phải tham gia
một khoá bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng là 03 (ba) tháng (Điều 10, khoản 1.,
mục a), b), khoản 2.):
"a) Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ
05 năm trở lên;
b) Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên;
.......
2. Người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại khoản 1 Điều này
phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và quy tắc đạo đức
hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị bổ
nhiệm công chứng viên. Thời gian bồi dưỡng nghề công chứng là 03 tháng".
Những đổi mới trong quy định này so với Luật công chứng cũ năm
2006 thực sự đã chặt chẽ hơn, "siết chặt" hơn việc được miễn đào tạo đối với các
đối tượng được miễn đào tạo. Quy định này đã được nghiên cứu rất kỹ lưỡng bởi
những nhà lập pháp sau khi nhận được sự phản hồi từ dư luận xã hội và nhất là
từ hậu quả thực tiễn khi thi hành Luật Công chứng năm 2006, đó là, có quá nhiều
sai phạm trong việc hành nghề công chứng của những công chứng viên được
miễn đào tạo theo quy định tại Luật Công chứng năm 2006 (số lượng các vụ sai
phạm do các công chứng viên được miễn đào tạo chiếm đến 80% toàn bộ tổng số
vụ sai phạm về lĩnh vực công chứng, tính đến năm 2012 như sẽ trích dẫn ở phần
dưới đây).
2.2.1.4. Quy định về việc đào tạo nghiệp vụ công chứng viên:
- Quy định này về "Thời gian đào tạo là 12 (mười hai) tháng" (Điều 9, khoản
2), đã tăng thêm thời gian đào tạo so với Luật Công chứng năm 2006 thời gian đào
81
tạo chỉ là 06 (sáu tháng) góp phần củng cố thêm nghiệp vụ cho công chứng viên,
nâng cao chất lượng công chứng viên khi bước vào hành nghề chính thức.
2.2.1.5. Quy định về tập sự hành nghề công chứng viên:
- Quy định này về thời gian tập sự là 12 tháng đối với người có giấy
chứng nhận tốt nghiệp khoá đào tạo nghiệp vụ hành nghề công chứng và là 06
tháng đối với người đã có giấy chứng nhận tốt nghiệp lớp bồi dường nghiệp vụ
công chứng (Điều 11, khoản 1) là cũng đã tăng thêm và quy định thêm về thời
gian cho người tập sự công chứng viên.
- Ngoài ra chi tiết nội dung tập sự phải theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp (Điều 11, khoản 6), đây cũng là một điểm mới so với năm 2006.
Như vậy, theo Luật Công chứng 2014, việc tập sự hành nghề công chứng
là bắt buộc đối với mọi đối tượng, kể cả những đối tượng được miễn đào tạo
nghiệp vụ. Tất cả những điểm mới trong các quy định nói trên đều nhắm tới một
mục đích là tăng thêm chất lượng nghiệp vụ cho các công chứng viên trong
tương lai khi hành nghề.
2.2.1.6. Quy định về điều kiện bổ nhiệm công chứng viên:
Quy định này chủ yếu theo Điều 8. (Tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng
viên). Về hình thức quy định này vẫn giữ giống như Luật Công chứng 2006
nhưng đã có một số thay đổi về nội dung để phù hợp với hệ thống pháp luật nói
chung. Cụ thể:
- Về từ ngữ, đã bỏ đi cụm từ "trung thành với Tổ quốc" vì đây là điều kiện
đương nhiên, bắt buộc phải có đối với mỗi công dân nói chung. và thắt chặt hơn
điều kiện bổ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng công chứng viên.
- Về tiêu chuẩn bổ nhiệm:
+ Đã bổ sung thêm điều kiện "sau khi có bằng cử nhân Luật" vào sau điều
kiện "Có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ
chức" của Luật Công chứng 2006. (Điều 5, khoản 2 - Luật Công chứng 2014).
Đây là quy định thắt chặt hơn nhằm nâng cao chất lượng công chứng viên so với
Luật Công chứng 2006: Thời gian công tác pháp luật phải từ 05 năm trở lên kể
82
từ khi "có bằng cử nhân Luật", còn khoảng thời gian công tác pháp luật khi chưa
có bằng cử nhân Luật thì không được tính.
+ Bổ sung thêm điều kiện "... hoàn thành khoá bồi dưỡng nghề công
chứng" đối với những người được miễn đào tạo nghề công chứng (theo khoản 2,
Điều 10) tại Điều 8. Và bổ sung thêm khoản 4, Điều 8: "4. Đạt yêu cầu kiểm tra
kết quả tập sự hành nghề công chứng".
Xét về mặt khoa học pháp lý, những bổ sung mới này của Luật Công
chứng 2014 là hoàn toàn lô gích, hợp lý. Bởi lẽ, như đã phân tích tại phần tổng
quan về nghề công chứng thì nghề công chứng là một nghề đòi hỏi không những
phải đủ kiến thức của một ngành luật cụ thể nào trong hệ thống luật dân sự mà
nó còn đòi hỏi phải biết khá nhiều các kiến thức trong rất nhiều ngành luật khác
có liên quan trong hệ thống pháp luật (thậm chí còn liên quan đến các văn bản
quy phạm pháp luật khác hẳn dân sự như Luật hành chính, Tố tụng hành chính,
Tố tụng hình sự, Luật quốc tế, ...). Trong khí đó, việc tiếp nhận và giải quyết
công việc công chứng của các chủ thể yêu cầu lại đòi hỏi rất nhanh, gần như là
phải giải quyết tức thời, hoặc chỉ trong một, hai ngày như thực tế yêu cầu đặt ra
như trong Luật Công chứng đã dự liệu và quy định. Xét về mặt thực tiễn, hệ
thống pháp luật nước ta vẫn chưa hoàn toàn đồng bộ, các văn bản quy phạm do
các cơ quan ban hành còn có nhiều điểm bất cập, chồng chéo nhau, cách áp dụng
pháp luật của các cơ quan còn chưa hoàn toàn thống nhất trong khi các nhu cầu
công chứng của người dân lại vô cùng đa dạng và ngày càng phức tạp do xã hội
ngày càng phát triển, nhất là trong xu thế kinh tế thị trường, tất cả đều có những
sự cạnh tranh, tiềm ẩn những nguy cơ nhất định nên việc công chứng viên phải
nắm bắt được phương thức giải quyết và lựa chọn giải pháp thực hiện các yêu
cầu công chứng của người dân phải đòi hỏi có một sự "cọ sát" thực tế nhất định.
Theo "Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật công chứng" do Bộ Tư pháp thực hiện năm 2012 (theo khung phân
tích đánh giá tác động pháp luật (gọi tắt là RIA) tối thiểu dựa trên tài liệu hướng
dẫn thực hiện đánh giá RIA ở Việt Nam do GTZ biên soạn) để trình Chính phủ
83
và Quốc Hội sửa đổi Luật Công chứng 2006 thì: "... tỷ lệ sai phạm trong hoạt
động công chứng chủ yếu tập trung ở nhóm công chứng viên miễn đào tạo, miễn
tập sự (chiếm tới hơn 80% tổng số sai phạm)" trong toàn bộ các sai phạm về
công chứng của công chứng viên thực hiện trong giai đoạn từ khi Luật Công
chứng năm 2006 có hiệu lực cho đến năm 2012.
Chỉ riêng qua con số thống kê trên cũng đủ để thấy việc Luật công chứng
2014 qui định bổ sung việc bắt buộc phải tập sự đối với những đối tượng được
miễn đào tạo nghề công chứng, hay phải đạt kết quả tập sự hành nghề công
chứng là vô cùng cần thiết và cấp bách.
2.2.1.7. Quy định về thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, tạm đình chỉ công
chứng viên:
- Quy định về thời gian chờ bổ nhiệm công chứng viên cũng kéo dài hơn,
tăng lên từ 20 ngày lên thành 30 ngày so với Luật Công chứng 2006 (Điều 12,
khoản 4).
- Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên cũng được
quy định rộng hơn so với năm 2006, còn về cơ bản thì vẫn giữ nguyên:
"Điều 13. Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên
1. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị kết tội bằng bản án
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do vô ý mà chưa được xóa án
tích hoặc về tội phạm do cố ý.
2. Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
3. Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
4. Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, công chức, viên chức bị kỷ
luật bằng hình thức buộc thôi việc hoặc sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sỹ quan, hạ sỹ
quan, công nhân, viên chức trong đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật
bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân, danh hiệu Công an nhân dân hoặc
đưa ra khỏi ngành.
84
5. Người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng
hình thức xóa tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, người bị tước quyền sử dụng
chứng chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định
thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư có hiệu lực hoặc kể từ ngày chấp hành xong
quyết định tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư".
Như vậy, có thể thấy Luật Công chứng 2014 đã quy định có phần chặt chẽ
và nhất là đã "phù hợp với thực tế" hơn so với Luật Công chứng 2006 về việc bổ
nhiệm công chứng viên, việc này - theo lý giải của những người xây dựng dự
thảo pháp luật - là nhằm góp phần củng cố và tăng cường chất lượng, phẩm chất
đạo đức của công chứng viên được bổ nhiệm. Điều này thực sự là cần thiết và
cũng mang tính khoa học cao.
- Vể miễn nhiệm và tạm đình chỉ hành nghề công chứng:
" Điều 15. Miễn nhiệm công chứng viên
1. Công chứng viên được miễn nhiệm theo nguyện vọng của cá nhân hoặc
chuyển làm công việc khác.
Công chứng viên nộp đơn đề nghị miễn nhiệm tại Sở Tư pháp ở nơi mình
đăng ký hành nghề. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị
miễn nhiệm của công chứng viên, Sở Tư pháp có văn bản đề nghị kèm theo đơn
đề nghị miễn nhiệm của công chứng viên gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
2. Công chứng viên bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ tiêu chuẩn công chứng viên theo quy định tại Điều 8 của
Luật này;
b) Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
c) Kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác;
d) Không hành nghề công chứng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày được
bổ nhiệm công chứng viên hoặc không hành nghề công chứng liên tục từ 12
tháng trở lên;
đ) Hết thời hạn tạm đình chỉ hành nghề công chứng quy định tại khoản 2
Điều 14 của Luật này mà lý do tạm đình chỉ hành nghề công chứng vẫn còn;
85
e) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động
hành nghề công chứng mà còn tiếp tục vi phạm; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức
từ cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc
thôi việc;
g) Bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
h) Thuộc các trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên quy định
tại Điều 13 của Luật này tại thời điểm được bổ nhiệm.
3. Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát, kiểm tra việc bảo đảm tiêu chuẩn
hành nghề của công chứng viên tại địa phương mình.
Khi có căn cứ cho rằng công chứng viên thuộc trường hợp bị miễn nhiệm
quy định tại khoản 2 Điều này, Sở Tư pháp có văn bản đề nghị miễn nhiệm công
chứng viên kèm theo các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc đề nghị miễn
nhiệm gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn
nhiệm công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định việc miễn
nhiệm công chứng viên".
Như vậy, so với Luật Công chứng 2006, Luật công chứng hiện tại đã
thêm 02 quy định miễn nhiệm công chứng viên là khoản là mục đ) và mục h) tại
khoản 2, Điều 15, đó miễn nhiệm trong các trường hợp: "đ) Hết thời hạn tạm
đình chỉ hành nghề công chứng quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật này mà lý
do tạm đình chỉ hành nghề công chứng vẫn còn", và: "h) Thuộc các trường hợp
không được bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Điều 13 của Luật này tại
thời điểm được bổ nhiệm". Và tất nhiên, đó cũng là những quy định nhằm thắt
chặt hơn về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên.
- Nhưng khoa học hơn và tiến bộ hơn so với Luật Công chứng năm 2006,
Luật công chứng năm 2014 đã quy định về việc tái bổ nhiệm và những trường
hợp không được tái bổ nhiệm công chứng viên nhằm tạo ra một khuôn khổ mềm
dẻo hơn cho những trường hợp tạm thời phải xin miễn nhiệm công chứng viên
để làm việc khác, sau đó sẽ yêu cầu bổ nhiệm lại, nhưng cũng có những quy định
86
chặt chẽ đối với những trường hợp này để loại trừ những đối tượng không thể
được bổ nhiệm lại (Điều 15, Điều 16 - Luật công chứng 2014):
"Điều 16. Bổ nhiệm lại công chứng viên
1. Người được miễn nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 1
Điều 15 của Luật này được xem xét bổ nhiệm lại công chứng viên khi có đề nghị
bổ nhiệm lại.
2. Người bị miễn nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 2 Điều
15 của Luật này được xem xét bổ nhiệm lại công chứng viên khi đáp ứng đủ tiêu
chuẩn công chứng viên quy định tại Điều 8 của Luật này và lý do miễn nhiệm
không còn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Người bị miễn nhiệm công chứng viên do bị kết tội bằng bản án đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do cố ý, bị xử phạt vi phạm hành
chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề công chứng mà còn tiếp tục vi
phạm, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn
tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc thì không được bổ nhiệm lại công
chứng viên.
4. Thủ tục bổ nhiệm lại công chứng viên được thực hiện theo quy định tại
Điều 12 của Luật này. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên gồm:
a) Đơn đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên theo mẫu do Bộ trưởng Bộ
Tư pháp quy định;
b) Phiếu lý lịch tư pháp;
c) Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp;
d) Bản sao quyết định miễn nhiệm công chứng viên;
đ) Bản sao các giấy tờ chứng minh lý do miễn nhiệm không còn, trừ
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này".
2.2.1.8. Quy định về điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của công
chứng viên:
- Điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ của công chứng viên đươc quy
định tại Điều 17, Luật Công chứng 2014, vẫn giống như Luật năm 2006.
87
2.2.1.9. Quy định về các trách nhiệm của công chứng viên (đối với văn
bản công chứng, đối với người yêu cầu công chứng, đối với tổ chức hành nghề
công chứng, đối với tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên, đối với
các cá nhân, tổ chức và các cơ quan nhà nước có liên quan (phát sinh thông qua
các văn bản công chứng), các hành vi bị nghiêm cấm của công chứng viên, xử lý
vi phạm đối với công chứng viên:
- Cũng giống như Luật Công chứng năm 2006, trách nhiệm của công
chứng viên là rất cao đối với văn bản công chứng của mình (gần như là phải chịu
trách nhiệm hoàn toàn với tư cách cá nhân), trừ những trường hợp bất khả kháng
đối với công chứng viên mà thôi.
- Trách nhiệm mua bảo hiểm, bồi thường thiệt hại và tham gia vào tổ
chứng xã hội nghề nghiệp của công chứng viên:
So với Luật Công chứng 2006, Luật Công chứng 2014 đã quy định cụ thể
hơn và chặt chẽ hơn về các trách nhiệm này của công chứng viên (Điều 37, Điều
38), thậm chí còn quy định thêm cả "bồi hoàn" trong hoạt động công chứng,
nghĩa là công chứng viên phải bồi hoàn lại cho Tổ chức hành nghề công chứng
nơi mình đang làm việc một khoản chi phí mà Tổ chức hành nghề công chứng đó
đã phải chi ra để bồi thường cho các bên liên quan do hành vi công chứng của
công chứng viên gây thiệt hại cho họ.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Ngoài các hành vi bị nghiêm cấm chặt chẽ
hơn trong Luật năm 2006, Luật công chứng 2014 còn quy định thêm một số
hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực chứng thực (Điều 7).
- Cuối cùng, công chứng viên chứng viên còn có thể phải chịu các mức
phạt do hành vi vi phạm hành chính, hay hành vi vi phạm quy định về công
chứng viên theo quy định của Chính phủ thông qua Nghị định số 110/2013/NĐ-
CP ban hành ngày 24/09/2013 (tại Mục 3 - các điều: Điều 12, Điều 13, Điều 14)
và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/08/2015 (để sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định 110/2013/NĐ-CP).
88
2.2.2.10. Quy tắc đạo đức hành nghề hiện hành của công chứng viên
Sau một thời gian nghiên cứu và tổng hợp các ý kiến từ nhiều đối tượng
khác nhau trong trong xã hội, ngày 30/10/2012 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông
tư số: 11/2012/TT-BTP để lần đầu tiên chính thức quy định về "Quy tắc đạo đức
hành nghề công chứng", trong đó chủ yếu quy định về quy tắc đạo đức hành
nghề của công chứng viên.
Ngoài các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, thì bộ quy tắc
này sau khi có hiệu lực như các văn bản quy phạm pháp luật khác, chính thức trở
thành một thành phần quan trọng trong toàn bộ quy chế công chứng viên hiện
hành theo pháp luật Việt Nam.
Các số điểm chính liên quan đến công chứng viên trong bộ quy tắc này cụ
thể như sau:
"Công chứng là một nghề cao quý, bởi hoạt động công chứng bảo đảm
tính an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng,
giao dịch, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức.
Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng quy định các chuẩn mực đạo đức,
hành vi ứng xử của công chứng viên trong hành nghề công chứng, là cơ sở để công
chứng viên tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong hành nghề và trong đời sống
xã hội nhằm nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên, nâng cao uy
tín của công chứng viên, góp phần tôn vinh nghề công chứng trong xã hội.
- Đi vào cụ thể của bộ quy tắc trên, tại Chương I - Quy tắc chung quy định:
"Điều 1. Bảo vệ quyền, lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức
Công chứng viên có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, vì lợi ích của nhân
dân, bằng hoạt động nghề nghiệp của mình góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Điều 2. Nguyên tắc hành nghề công chứng
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed
by 0.15 pt
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed
by 0.2 pt
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
89
Công chứng viên phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Khách quan, trung thực khi thực hiện công chứng, không vì bất kỳ lý do
nào mà làm ảnh hưởng đến chất lượng việc công chứng cũng như phân biệt đối
xử với người yêu cầu công chứng.
3. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng, bồi thường
thiệt hại do lỗi của mình trong trường hợp việc công chứng dẫn đến thiệt hại cho
người yêu cầu công chứng.
4. Tuân thủ các quy định của Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng này
và các quy định của tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng.
Điều 3. Tôn trọng, bảo vệ uy tín, thanh danh nghề nghiệp
1. Công chứng viên có trách nhiệm coi trọng, giữ gìn uy tín nghề nghiệp,
không được có hành vi làm tổn hại đến danh dự, uy tín cá nhân, thanh danh
nghề nghiệp.
2. Công chứng viên cần phải ứng xử văn minh, lịch sự trong hành nghề;
lành mạnh trong lối sống để nhận được sự yêu quý, tôn trọng, tin cậy và vinh
danh của đồng nghiệp, người yêu cầu công chứng và toàn thể xã hội.
Điều 4. Rèn luyện, tu dưỡng bản thân
Công chứng viên phải không ngừng trau dồi đạo đức, nâng cao trình độ
chuyên môn, tích cực tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và nỗ lực
tìm tòi để nâng cao chất lượng công việc và phục vụ người yêu cầu công chứng."
- Còn về đạo đức của công chứng viên đối với những người yêu cầu công
chứng được quy định tại Chương II - Quan hệ với người yêu cầu công chứng
của bộ quy tắc này, cụ thể có thể trích dẫn:
"Điều 5. Trách nhiệm nghề nghiệp
1. Công chứng viên phải tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng
kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp để bảo đảm tốt nhất tính an toàn
pháp lý cho hợp đồng, giao dịch; có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết yêu cầu
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed
by 0.15 pt
90
công chứng của cá nhân, tổ chức một cách nhanh chóng, kịp thời khi yêu cầu công
chứng đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Công chứng viên sẵn sàng tiếp nhận và giải quyết kịp thời yêu cầu công
chứng của người yêu cầu công chứng bằng cách luôn có mặt tại trụ sở tổ chức
hành nghề công chứng trong giờ làm việc theo quy định của pháp luật.
3. Công chứng viên có nghĩa vụ giải thích cho người yêu cầu công chứng
hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ, hậu quả pháp lý phát sinh của hợp đồng, giao dịch
được yêu cầu công chứng; giải đáp một cách rõ ràng những thắc mắc của người
yêu cầu công chứng nhằm đảm bảo cho hợp đồng, giao dịch đúng với ý chí của
các bên giao kết hợp đồng, giao dịch; đảm bảo các bên có nhận thức đúng về
pháp luật có liên quan và giá trị pháp lý của văn bản công chứng trước khi công
chứng viên công chứng.
4. Công chứng viên có trách nhiệm cung cấp cho người yêu cầu công
chứng các thông tin có liên quan về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp
của công chứng viên trong hành nghề công chứng theo yêu cầu của người yêu
cầu công chứng.
Điều 6. Bảo mật thông tin, bảo quản hồ sơ công chứng
1. Công chứng viên có trách nhiệm giữ bí mật các thông tin trong hồ sơ
yêu cầu công chứng, hồ sơ công chứng và tất cả thông tin biết được về nội dung
công chứng trong quá trình hành nghề cũng như khi không còn là công chứng
viên; trừ trường hợp được sự đồng ý bằng văn bản của người yêu cầu công
chứng hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Công chứng viên có trách nhiệm bảo quản hồ sơ công chứng trong quá
trình giải quyết yêu cầu công chứng và bàn giao đầy đủ hồ sơ công chứng để lưu
trữ theo quy định của pháp luật.
3. Công chứng viên có trách nhiệm hướng dẫn nhân viên thuộc tổ chức
hành nghề công chứng của mình không được tiết lộ bí mật thông tin về việc công
chứng mà họ biết theo nội quy, quy chế của tổ chức hành nghề công chứng, quy
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color:
Auto
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
91
định của pháp luật; đồng thời, giải thích rõ trách nhiệm pháp lý của họ trong
trường hợp tiết lộ những thông tin đó.
Điều 7. Đối xử bình đẳng giữa những người yêu cầu công chứng
Công chứng viên không được phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, chủng
tộc, tôn giáo, quốc tịch, địa vị xã hội, khả năng tài chính, tuổi tác giữa những
người yêu cầu công chứng khi họ đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định pháp
luật để thực hiện việc công chứng, bảo đảm đối xử bình đẳng giữa những người
yêu cầu công chứng.
Điều 8. Thu phí, thù lao công chứng
Công chứng viên có trách nhiệm thu đúng, thu đủ và công khai phí, thù
lao công chứng theo quy định đã được niêm yết; khi thu phí, thù lao công chứng
phải ghi hóa đơn, chứng từ đầy đủ và thông báo cho người yêu cầu công chứng
biết rõ về các khoản thu và số tiền mà họ phải nộp.
Điều 9. Những việc công chứng viên không được làm trong quan hệ với
người yêu cầu công chứng
1. Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng.
2. Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người yêu cầu
công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được
quy định, xác định, thoả thuận.
3. Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích vật chất nào khác từ người thứ ba để thực
hiện hoặc không thực hiện việc công chứng dẫn tới hậu quả gây thiệt hại đến lợi
ích chính đáng của người yêu cầu công chứng và các bên liên quan.
4. Sử dụng thông tin biết được từ việc công chứng để mưu cầu lợi ích cá nhân.
5. Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp
đồng, giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội.
6. Đưa ra những lời hứa hẹn nhằm lôi kéo người yêu cầu công chứng
hoặc tự ý thu tăng hoặc giảm phí công chứng, thù lao công chứng so với quy
định và sự thoả thuận.
Formatted: Font: 13.5 pt
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed
by 0.3 pt
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
92
7. Công chứng các hợp đồng, giao dịch có liên quan về mặt lợi ích giữa
công chứng viên và người yêu cầu công chứng.
8. Thông đồng, tạo điều kiện cho người yêu cầu công chứng xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
9. Trả tiền hoa hồng, chiết khấu cho người yêu cầu công chứng hoặc
người môi giới.
10. Câu kết với người yêu cầu công chứng, những người có liên quan làm
sai lệch nội dung của văn bản công chứng và hồ sơ đã công chứng."
Đây là những quy định khá rõ ràng và chặt chẽ đối với công chứng viên
khi tiếp xúc và làm việc với người yêu cầu công chứng, cũng là những quy định
nhằm bảo đảm tính "cao quý" của người công chứng viên. Nhưng trên thực tế thì
phải kiểm nghiệm kết quả của những quy định này thì mới đạt được mục đích
của quy định.
- Còn đạo đức công chứng viên trong quan hệ với đồng nghiệp, với tổ
chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng, tổ chức, cá
nhân khác thì bộ quy tắc này quy định tại Chương III, cụ thể như sau:
"Điều 10. Quan hệ của công chứng viên với đồng nghiệp, tổ chức hành
nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng
1. Tôn trọng, bảo vệ danh dự của đồng nghiệp; giữ gìn và phát huy tinh
thần đoàn kết, thân thiện, hợp tác giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ.
2. Công chứng viên có trách nhiệm giám sát lẫn nhau trong hành nghề,
tận tâm và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những hành vi sai trái trong hoạt động
công chứng trên cơ sở tôn trọng đồng nghiệp, bảo đảm bí mật nghề nghiệp, vì sự
phát triển bền vững của nghề công chứng.
3. Khi phát hiện đồng nghiệp có sai sót trong hành nghề, công chứng viên
có nghĩa vụ góp ý thẳng thắn nhưng không được hạ thấp danh dự, uy tín của
đồng nghiệp và báo cáo với người có trách nhiệm nếu đó là hành vi vi phạm
pháp luật hoặc gây tổn hại đến nghề nghiệp.
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
93
4. Chấp hành các nội quy, quy chế của tổ chức hành nghề công chứng, tổ
chức xã hội nghề nghiệp công chứng.
5. Hướng dẫn, giúp đỡ những đồng nghiệp mới vào nghề.
6. Tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội khác do
Nhà nước, tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp tổ chức
hoặc phát động nhằm đóng góp vào sự phát triển chung của nghề công chứng.
7. Đóng phí thành viên tổ chức xã hội nghề nghiệp theo quy định.
8. Phối hợp với tổ chức hành nghề công chứng mua bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp để dự phòng giải quyết rủi ro, tai nạn nghề nghiệp.
Điều 11. Quan hệ với người tập sự hành nghề công chứng
1. Công chứng viên có bổn phận tham gia vào công tác hướng dẫn tập sự
hành nghề công chứng; nêu cao trách nhiệm, tận tâm truyền đạt kiến thức và
kinh nghiệm nghề nghiệp đối với người tập sự hành nghề công chứng.
2. Công chứng viên hướng dẫn tập sự không được thực hiện những việc sau:
a. Phân biệt, đối xử mang tính cá nhân với những người đang tập sự hành
nghề công chứng do mình hướng dẫn.
b. Đòi hỏi lợi ích vật chất, tiền bạc từ người tập sự hành nghề công chứng.
c. Thông đồng với người tập sự hành nghề công chứng để báo cáo sai sự
thật, báo cáo khống về kết quả tập sự hành nghề công chứng.
d. Lợi dụng tư cách là công chứng viên hướng dẫn để buộc người tập sự
phải làm những việc không thuộc phạm vi tập sự hoặc những hành vi vi phạm
pháp luật trái đạo đức xã hội nhằm đạt được những lợi ích cho mình.
Điều 12. Những việc công chứng viên không được làm trong quan hệ
với đồng nghiệp, tổ chức hành nghề công chứng
1. Xúc phạm hoặc có hành vi làm tổn hại uy tín của đồng nghiệp, tổ chức
hành nghề công chứng.
2. Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, trái
đạo đức xã hội với đồng nghiệp để giành lợi thế cho mình trong hành nghề.
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color:
Auto
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed
by 0.2 pt
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed
by 0.2 pt
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color:
Auto
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
94
3. Hợp tác với cá nhân, tổ chức có khả năng gây áp lực buộc người yêu
cầu công chứng phải đến tổ chức hành nghề công chứng của mình để công
chứng vì mục đích lợi nhuận.
4. Tiến hành bất kỳ hành vi quảng cáo bản thân và tổ chức hành nghề
công chứng của mình dưới mọi hình thức không đúng quy định của pháp luật.
5. Hoạt động môi giới, nhận hoặc đòi tiền hoa hồng khi giới thiệu cho
đồng nghiệp về yêu cầu công chứng mà mình không đảm nhận.
6. Mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác
ngoài trụ sở tổ chức hành nghề công chứng.
7. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác.
Điều 13. Quan hệ với cá nhân, tổ chức khác
Công chứng viên phải tuân thủ quy định của pháp luật trong khi làm việc
với các cơ quan nhà nước, cá nhân tổ chức khác; có thái độ lịch sự, tôn trọng
công chức nhà nước, cá nhân, tổ chức khác khi hợp tác với công chứng viên
trong quá trình thi hành công vụ, liên hệ công tác."
Những quy định này cũng làm cho đội ngũ công chứng viên Việt Nam
hướng tới trở thành một đội ngũ thực thi pháp luật một cách văn minh, lịch sự,
vô tư, khách quan và có trách nhiệm tích cực với xã hội.
- Ngoài ra, vì vị trí chức năng là thực hiện công tác "bổ trợ tư pháp" trong
bộ máy hành pháp nên công chứng viên còn phải chịu sự kiểm tra, giám sát,
khen thưởng vả xử lý vi phạm của các cơ quan hành pháp có thẩm quyền. Vấn
đề này được quy định tại Chương IV của bộ quy tắc đạo đức hành nghề công
chứng. Đó là:
"Điều 14. Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Quy tắc đạo đức hành nghề
công chứng
1. Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, thanh tra,
giám sát việc tuân thủ Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng trong phạm vi
toàn quốc.
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color:
Auto
95
2. Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy tắc đạo đức hành nghề công
chứng đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi
địa phương quản lý.
3. Tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng có trách nhiệm giám sát việc
thực hiện Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng đối với công chứng viên trong
tổ chức mình.
4. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm giám sát việc thực hiện
Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng đối với công chứng viên tại tổ chức mình.
Điều 15. Khen thưởng và xử lý vi phạm
1. Công chứng viên gương mẫu trong thực hiện Quy tắc đạo đức hành
nghề công chứng thì được Nhà nước, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng
viên ghi nhận và vinh danh.
2. Công chứng viên thực hiện không đúng Quy tắc đạo đức hành nghề
công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị nhắc nhở, phê bình,
khiển trách, xử lý kỷ luật theo Điều lệ của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công
chứng viên, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật".
Đây cũng là một đặc thù trong hệ thống pháp luật nước ta.
- Để bình luận về ưu và nhược điểm của quy tắc đạo đức công chứng viên
hiện hành, chúng ta thấy, tuy rằng hầu như với những quy định chỉ mang nặng
tính nguyên tắc, chưa hoàn toàn cụ thể, nhưng bộ quy tắc hành nghề công chứng
này đã lần đầu tiên chính thức quy định vấn đề đạo đức của công chứng viên
phải được đảm bảo thể hiện, phải được thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc
như việc thực hiện áp dụng các điều luật khi hành nghề công chứng vậy. Điều
này sẽ góp phần làm cho đội ngũ công chứng viên Việt Nam tăng cao được uy
tín về nghề nghiệp trong tương lai.
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color:
Auto, Condensed by 0.2 pt
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color:
Auto
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
Formatted: Font: 13.5 pt
96
Chƣơng 3
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN
Như đã phân tích, trình bày ở các phần trước đây, quy chế về công chứng
viên hiện hành của nước ta về hình thức đã tương đối toàn diện, bao hàm các quy
định gần như đủ cho mọi khía cạnh để tạo nên một quy chế hoàn chỉnh cho công
chứng viên Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như các phân tích đi kèm với nó, thì về
nội dung vẫn cần phải có những quy định chi tiết hơn, cụ thể để làm rõ hoặc để
củng cố vững chắc cho mục đích các điều khoản đã đưa ra thì lại thiếu hụt nhiều,
gây ra tình trạng quy mang tính chung chung, tính nguyên tắc, thiên nhiều về
tính định tính mà thiếu đi phần định lượng, nên việc áp dụng cho công chứng
viên và các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội nghề nghiệp của công
chứng viên rất khó thực hiện đúng theo tinh thần, mục đích của các quy định
trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về công chứng viên.
Trong nhiều những quy định như đã nói trên, luận văn này xin được đưa
ra một số kiến nghị và đóng góp về quan điểm, về một số nội dung cụ thể với
mục đích nhằm cố gắng cụ thể hoá, hiện thực hoá một số điều về quy chế công
chứng viên, hướng tới việc hoàn thiện dần quy chế này.
3.1. Quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên.
- Tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ:
Nhìn chung, những quy định có trong quy chế công chứng viên hiện nay là
khá đúng đắn, hợp lý và cũng khá tương đồng với tiêu chuẩn đối với một số chức
danh tư pháp khác. Tuy nhiên, như đã phân tích, hoạt động công chứng là một hoạt
động đặc thù chỉ do một cá nhân (công chứng viên) tiếp nhận, tự quyết định xử lý
và thực hiện việc công chứng từ đầu đến cuối, đồng thời phải tự "chịu trách nhiệm
trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng" (khoản 4,
Điều 4). Như vậy, có thể hình dung ngay được sức ép về kiến thức pháp luật, về
97
kinh nghiệm áp dụng pháp luật, kinh nghiệm phân tích các mối quan hê xã hội và cả
sức ép về tâm lý đối với công chứng viên khi thực hiện công chứng là rất lớn. Thêm
vào đó, Luật công chứng lại còn khống chế cả thời hạn phải thực hiện việc công
chứng: "Thời hạn công chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao
dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không
quá 10 ngày làm việc" (Điều 43, khoản 2). Hơn nữa, vì là dịch vụ đã được xã hội
hoá, xuất hiện thêm yếu tố cạnh tranh nên việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu
công chứng đòi hỏi phải được giải quyết gần như là tức thời, nếu không có các quy
định phải khống chế thời gian của pháp luật. Với tất cả những sức ép như trên, liệu
rằng những quy định về tiêu chuẩn công chứng viên trong Luật nói trên đã đủ chưa?
Có thể thấy ngay câu trả lời là: quy định như vậy còn quá sơ sài, khó đáp ứng được
với những diễn biến vô cùng phức tạp trong thực tiễn xã hội, dễ đẩy công chứng
viên, nhất là các công chứng viên mới vào nghề mắc phải những sai phạm do thiếu
kinh nghiệm, thiếu bản lĩnh nghề nghiệp.
Hơn nữa, vì công chứng viên chỉ là một cá nhân được trao cho một phần
quyền lực công của Nhà nước (thực hiện dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm)
để thực hiện việc công chứng (nay thêm chức năng chứng thực) công chứng viên
đòi hỏi một trình độ chuyên môn cao, kiến thức pháp luật lại phải rất rộng và đặc
biệt là phải vững vàng. Thêm vào đó, yếu tố kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm
thực tiễn cũng phải đầy đủ và chắc chắn. Do vậy, như quy định về tiêu chuẩn
công chứng viên tại Điều 8 Luật Công chứng hiện hành nên được sửa đổi, bổ
sung nhằm cụ thể hơn các quy định và nhất là tăng cường, củng cố thêm yếu tố
chất lượng của công chứng viên. Cụ thể, tại khoản 2 - Điều 8, Luật Công chứng
2014 quy định: "Có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ
quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật". Rõ ràng, quy định này là không
đủ và chưa hợp lý so với quy định các đối tượng được miễn đào tạo nghề công
chứng (Điều 10): "Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra
viên từ 05 năm trở lên" hoặc "Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên". Những
đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng này có thể xác định được số năm
98
công tác pháp luật của họ tối thiểu phải 08 đến 10 năm mới có thể được bổ
nhiệm làm công chứng viên, Trong khi tại khoản 2 Điều 8 nói trên lại quy định
chỉ cần 05 năm công tác pháp luật. Đây rõ ràng là một sự thiếu sót, "khập
khiễng" của điều khoản này. Do vậy, để thống nhất về mặt định lượng trong hệ
thống văn bản pháp luật và để thực hiện đúng tinh thần của điều luật là nhằm
nâng cao chất lượng công chứng viên thì phải quy định lại Điều luật này. (Ví dụ,
nên quy định: phải có đủ từ 05 năm làm giúp việc nghiệp vụ trực tiếp cho công
chứng viên, hoặc chí ít thì cũng phải quy định: phải có ít nhất 05 năm làm việc
tại tổ chức hành nghề công chứng, chứ không nên quy định chung chung là 05
năm công tác pháp luật như Luật hiện tại).
- Tiêu chuẩn về đạo đức công chứng viên:
Như đã phân tích ở phần bình luận về tiêu chuẩn đạo đức của công chứng
viên cũng tại Điều 8, Luật Công chứng 2014: "có phẩm chất đạo đức tốt" là một
quy định hoàn toàn chung chung, không hề có tính định lượng, rất khó thực hiện
trên thực tiễn, tuy rằng tiêu chuẩn này rất cần. Do vậy cũng nên phải nghiên cứu
và quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn (nhưng phải phân biệt với Điều 13 - "Những
trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên").
3.2. Kiến nghị về quy tắc đạo đức hành nghề công chứng viên.
Tất cả các quy định trong bộ quy tắc đạo đức hành nghề công chứng này
đều khá rõ ràng, mạch lạc, rất phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung theo quy
định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với truyền thống đạo đức dân tộc, đạo đức
xã hội và đạo đức con người. Tuy nhiên, vì là một bộ quy tắc đạo đức áp dụng để
hành nghề nên các quy định trong bộ quy tắc này dường như thiếu đi những quy
định đòi hỏi phải có sự cụ thể. Trong một phạm vi nhỏ, ví dụ chúng ta sẽ chỉ ra
quy định về sự "kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm" (được quy
định trong Chương IV của quy chế). Đó là:
+ Thứ nhất: quy định về các việc kiểm tra, thanh tra, giám sát. khen
thưởng, xử lý vi phạm còn chung chung, chưa đề ra được lịch trình, tiêu chí và
thành phần những người tham gia đánh giá cụ thể vào đoàn thanh tra, kiểm tra,
99
giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm. Điều này rất quan trọng, vì nó sẽ bảo đảm
cho việc đánh giá được chính xác, kịp thời và quan trọng nhất là phải thật sự
công tâm, khách quan và chuẩn mực. Muốn như thế, ngoài các cơ quan quản lý
Nhà nước như Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp hoặc Tổ chức xã hội nghề nghiệp hay
chính Tổ chức hành nghề công chứng ra thì trong quy chế nên quy định thêm:
trong thành phần đoàn thanh tra, kiểm tra, hay hội đồng giám sát, khen thưởng,
xử lý vi phạm phải có mặt thêm các cơ quan báo chí, truyền thông, những người
chuyên làm công tác xã hội và nhất là những người yêu cầu công chứng (người
yêu cầu ngẫu nhiên và người yêu cầu thường xuyên), ... Có như vậy thì việc
thanh tra, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm mới được chính xác,
quy chế mới thực sự phát huy được tác dụng.
+ Thứ hai: Với quy định "Công chứng viên thực hiện không đúng Quy tắc
đạo đức hành nghề công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị nhắc
nhở, phê bình, khiển trách, xử lý kỷ luật theo Điều lệ của tổ chức xã hội nghề
nghiệp của công chứng viên, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật" thì cũng nên quy định thêm việc phải thành
lập đoàn hay hội đồng xử lý vi phạm để cùng quyết định việc xử lý vi phạm.
Đồng thời, nêu quy định chi tiết hơn từng vi phạm của thể của công chứng viên
sẽ phải chịu mức xử phạt nào, mức độ bao nhiêu...
+ Thứ ba, đối với quy định "phải có phẩm chất đạo đức tốt" thì cũng phải
quy định cụ thể hơn rất nhiều. Chuẩn mực đạo đức xã hội chúng ta có thể đã biết
nhiều, chuẩn mực đạo đức trong pháp luật chúng ta cũng có thể trích dẫn ra từ một
số các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm, nhưng đối với tiêu chuẩn công
chứng viên thì nên đặt chuẩn mực đạo đức phải cao hơn một mức so với các đối
tượng thông thường khác, tức phải quy định rõ hơn thế nào là đạo đức tốt. Ví dụ, có
thể quy định thêm về tiêu chuẩn đạo đức tốt như: chưa từng bị kết án tù giam vì
lỗi cố ý trong lĩnh vực công chứng, không bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần
thứ ba trong lĩnh vực công chứng vì lỗi cố ý, hoặc chưa từng phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng, hoặc những người không có hành vi gây ra những dư luận xấu có
tác động tiêu cực đến xã hội, ...
100
3.3. Kiến nghị quy định về việc tham gia tổ chức xã hội nghề nghiệp
của công chứng viên
Thúc đẩy nhanh và triệt để việc thành lập các Hội công chứng viên tại tất
cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh, và Hiệp hội công chứng viên toàn quốc để có
một sự thống nhất về việc thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ giữa các công chứng
viên dưới sự chỉ đạo chung của cơ quan chuyên môn của Nhà nước, bảo vệ
quyền lợi cho từng công chứng viên. Đồng thời, thống nhất các tiêu chí hoạt
động khác trong khuôn khổ quy định của pháp luật giữa hoạt động của các công
chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh và trên toàn
quốc. Các Hội và Hiệp hội công chứng sẽ đóng góp vai trò to lớn trong việc chia
sẻ thông tin nghiệp vụ giữa các công chứng viên và các tổ chức hành nghề công
chứng, tránh việc hoạt động không thống nhất, tránh cạnh tranh không lành
mạnh, giải quyết các mối quan hệ nội bộ trong các Tổ chức hành nghề công
chứng hay các Hội công chứng cũng như giữa các công chứng viên với nhau,
bảo đảm hoạt động công chứng với tư cách là một nghề cao quý, đáng tin cậy và
phát triển, ổn định.
3.4. Kiến nghị về công tác quản lý công chứng viên.
- Tuy trong Luật Công chứng 2014 không quy định, nhưng trên thực tế
cho đến thời điểm hiện tại, khi bổ nhiệm công chứng viên, Bộ Tư pháp thường ra
quyết định bổ nhiệm chức danh công chứng viên cho một công chứng viên kèm
theo tên địa bàn mà công chứng viên đó phải làm việc. Đây là một khía cạnh rất
thiếu tính khoa học pháp lý, bởi khi đã được bổ nhiệm chức danh công chứng
viên thì công chứng viên đó đã được công nhận là người có đầy đủ năng lực và
phẩm chất của công chứng viên rồi, họ có quyền làm việc, hành nghề ở bất cứ
đâu trên toàn quốc theo quy định của hiến pháp và pháp luật như những công
dân khác, được lựa chọn nơi hành nghề công chứng, lựa chọn tổ chức hành nghề
công chứng theo đúng quy định của Luật Công chứng hiện hành quy định tại
điểm a, khoản 1, Điều 22. Do vậy, khi quyết định bổ nhiệm công chứng viên, Bộ
101
Tư pháp không nên ghi phạm vi địa bàn hoạt động công chứng, vì công chứng
viên khi được bổ nhiệm.
- Tăng cường hơn nữa việc quản lý chặt chẽ về chuyên môn của công
chứng viên bằng các biện pháp tổ chức hội thảo, kiểm tra và bồi dưỡng thường
xuyên về kiến thức, nghiệp vụ cho công chứng viên. Quản lý chặt chẽ mối quan
hệ giữa công chứng viên Tổ chức hành nghề công chứng của mình, bảo đảm cho
mối quan hệ này luôn đúng pháp luật, luôn thuận lợi nhất nhưng cũng phải luôn
minh bạch. Thanh tra, kiểm tra nghiêm minh, xử lý công bằng các sai phạm của
công chứng viên và các Tổ chức hành nghề công chứng. Công khai quy hoạch
công chứng viên và các Tổ chức hành nghề công chứng, đối xử bình đẳng đối
với tất cả các công chứng viên và Tổ chức hành nghề công chứng.
- Kịp thời giải thích pháp luật về công chứng và các pháp luật khác có liên
quan cho công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh và
trên toàn quốc để không ngừng nâng cao và hoàn thiện kiến thức pháp luật thực
tế cho các công chứng viên, đồng thời tạo nên sự thống nhất trong việc công
chứng giữa các công chứng viên với nhau và sự thống nhất giữa các tổ chức
hành nghề công chứng trên địa bàn một tỉnh và trên toàn quốc, nhất là trong giai
đoạn hiện nay, việc pháp luật có những quy định "chồng chéo" nhau khá nhiều
trong các lĩnh vực có liên quan đến việc công chứng.
- Tăng cường phối hợp, kết hợp với các bộ, ngành, các cơ quan quản lý
Nhà nước khác để kịp thời ban hành các văn bản quy phạm nhằm làm thống
nhất, phù hợp với nhau giữa các cơ quan, tổ chức khác với công việc công chứng
do của các công chứng viên, tránh việc hành nghề một cách không thống nhất
giữa các công chứng viên với các cơ quan, tổ chức có liên quan này.
- Xây dựng hệ thống thông tin về văn bản pháp luật công chứng và các
thông tin khác có liên quan đến công chứng viên, liên quan đến nghiệp vụ công
chứng, liên quan đến các giao dịch, tài sản có liên quan đến công chứng trong
phạm vi địa bàn tứng tỉnh và trên địa bàn toàn quốc.
102
KẾT LUẬN
Công chứng viên Việt Nam hiện là một chức danh tư pháp được Nhà nước
bổ nhiệm, làm việc và hoạt động trực thuộc hoặc chịu sự quản lý của ngành bổ
trợ tư pháp - một ngành thuộc khối các cơ quan hành chính Nhà nước. Do vậy,
công chứng viên Việt Nam hiện tại gần như đang chịu sự quản lý hoàn toàn của
các cơ quan hành chính Nhà nước, tuy rằng sự quản lý này chỉ được trao cho của
một số cơ quan hành chính nhất định ở địa phương và ở trung ương.
Công chứng viên tại Việt Nam là một chức danh tư pháp khá mới mẻ,
chưa có chiều dài và chiều sâu phát triển như công chứng viên nhiều nước trên
thế giới. Tuy nhiên, với sự cố gắng của Nhà nước và toàn xã hội, hiện tại công
chứng viên Việt Nam đang tồn tại, hoạt động và phát triển theo một quy chế khá
chặt chẽ được quy định bởi Hiến pháp, các Luật mà trực tiếp nhất là Luật Công
chứng 2014, thêm vào đó là các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyển ban hành nhằm củng cố và phát triển về chất lượng và
số lượng ngày càng tiến bộ, tiến tới đáp ứng được với thực tiễn xã hội trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng. Với việc xã hội
hoá công chứng và tham gia vào liên minh công chứng quốc tế, công chứng viên
Việt Nam hiện tại đang có cơ hội lớn để tự hoàn thiện và phát triển mình theo
kịp với trình độ phát triển chung của xã hội, học tập và cố gắng theo kịp với trình
độ công chứng viên của nhiều nước có nền pháp luật và nền công chứng đã được
thực tiễn kiểm nghiệm là tiên tiến trên thế giới.
Tuy nhiên, để công chứng viên Việt Nam được phát triển như vậy, các
nhà khoa học pháp lý và nhất là những nhà xây dựng luật pháp ở nước ta phải
đầu tư thêm nhiều công sức, vận dụng được nhiều những kiến thức đúng đắn và
thực tiễn xã hội đa dạng, cũng như tận dụng được những kinh nghiệm quý báu từ
chính những công chứng viên có kiến thức pháp luật tốt và bề dày kinh nghiệm
để tiếp tục xây dựng, bổ sung nhằm hướng tới sự hoàn chỉnh một quy chế về
công chứng viên trong tương lai sao cho hoàn thiện hơn, góp phần tạo dựng cho
nước nhà một đội ngũ công chứng viên có trình độ chuyên môn giỏi, đáp ứng
103
được chuẩn mực ngày càng cao đối với công chứng viên thời hiện đại, có thể
tiếp cận và hoà nhập được với thế giới, học tập và hội nhập được với các công
chứng viên của các nước có nền pháp luật công chứng ưu việt. Thêm vào đó, quy
chế công chứng viên trong tương lai phải cố gắng sàng lọc, lựa chọn được những
người có đạo đức nghề nghiệp trong sáng, vô tư, mẫn cán, không hám danh,
không tham lợi để bổ sung vào đội ngũ công chứng viên Việt Nam, để cho xã
hội thực sự coi trọng đội ngũ này, coi trọng chức danh tư pháp này, coi nghề
công chứng là một trong những nghề cao quý, là một trọng những nghề đáng tin
cậy nhất, coi công chứng viên là những người chuẩn mực về đạo đức, là một
trong những người có chức danh đáng trân trọng nhất trong xã hội như các nước
phát triển trên thế giới đã làm được. Tất nhiên, muốn thực hiện được điều này thì
việc giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên liên tục cho đội ngũ công chứng viên về
cả chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phải được đưa lên hàng đầu. Đây sẽ là
trách nhiệm lớn của rất nhiều các cơ quan và của toàn xã hội./.
Với kiến thức còn hạn hẹp một học viên cao học, việc thực hiện đề tài
thông qua bản luận văn này chỉ nêu bật được một khía cạnh nhỏ trong lĩnh vực
bổ trợ tư pháp, mà bổ trợ tư pháp lại còn rất nhiều các lĩnh vực khác nữa. Nhưng
vì chỉ mới bước đầu thực hiện một công việc nghiên cứu nên chắc chắn luận văn
này của em sẽ còn thiếu sót rất nhiều. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của bản thân, đặc
biệt là với sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của thày giáo hướng dẫn khoa học - Phó
giáo sư, Tiến sỹ Ngô Huy Cương - em cũng đã cố gắng rất nhiều trong việc thu
thập tài liệu, nghiên cứu, đánh giá, trích dẫn, phân tích và trình bày và hoàn
chỉnh bản luận văn này với sự quyết tâm, cố gắng nhất có thể trong phạm vi
năng lực của mình. Em rất mong các thầy, các cô giáo, các giáo sư, phó giáo sư,
tiến sỹ và cả các đồng nghiệp chỉ dẫn thêm, đóng góp cho em những ý kiến,
những kiến thức mà em còn thiếu, những phương pháp hoặc những góp ý khác
để em sẽ hoàn thiện hơn nội dung của đề tài này trong tương lai, giúp em có thể
phát triển hơn đề tài này về sau hoặc giúp em sẽ đưa những kiến thức mới nhận
được từ các thày, các cô để áp dụng trong thực tiễn công việc.
104
Em xin trân trọng cám ơn các thẩy, các cô trong Ban chủ nhiệm
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng toàn thể các thày giáo, cô giáo đã
trực tiếp hay gián tiếp giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ cho em trong suốt quá trình
học tập và thực hiện luận văn này. Em xin kính chúc tất cả các thày, các cô cùng
gia đình luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc và ngày càng thu được nhiều thành tích
trong công tác giảng dạy, nghiên cứu.
----------------
105
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
- Chu Hồng Sơn (14/10/2015), "Đôi điều về năng lực và đạo đức nghề nghiệp
của công chứng viên", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Hà Nội,
(http://moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/CaiCachTuPhap/View_detail.aspx?ItemID
=415), (16/10/2015).
106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tài liệu tham khảo Tiếng Việt:
1. Đào Duy Anh (1992), Từ điển Hán - Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. Vũ Tuấn Anh (Chủ biên) (1998), "Vai trò của Nhà nước trong trật tự kinh
tế thị trường ở Việt Nam", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
3. Vũ Huy Bằng (1999), Những cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện công
chứng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
4. Nguyễn Thanh Bình (1994), Tập bài giảng về công chứng, luật sư, giám
định, hộ tịch, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
5. Nguyễn Văn Bình (1999), "Hoạt động công chứng". Tạp chí dân chủ và
pháp luật, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
6. Bộ Nội vụ (1989), Thông tư số 11-TT/BNV (C13) ngày 7/2/1989 về con dấu
của Phòng công chứng nhà nước, Hà Nội.
7. Bộ Tài chính - Tư pháp, Thông tư liên bộ số 84/TTLB ngày 18/12/1992 về
thu lệ phí công chứng, Hà Nội.
8. Bộ Tài chính - Tư pháp (2012), Thông tư (liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-
BTP, ngày 19/01/2012 hướng dẫn hướng dẫn về mức thu, nộp, quản lý và
sử dụng phí công chứng), Hà Nội.
9. Bộ Tư pháp (1994), Báo cáo công tác tư pháp năm 1994, Hà Nội.
10. Bộ Tư pháp (1995), Báo cáo công tác tư pháp năm 1995, Hà Nội.
11. Bộ Tư pháp (1996), Báo cáo công tác tư pháp năm 1996, Hà Nội.
12. Bộ Tư pháp (2000), Báo cáo công tác tư pháp năm 2000, Hà Nội.
13. Bộ Tư pháp (1993), Giáo trình Luật Dân sự của Pháp, Tài liệu nghiên cứu
của Bộ Tư pháp, Hà Nội.
14. Bộ Tư pháp (1945), Nghị định 1/10/1945 của Bộ Tư pháp, Công báo năm
1945, Hà Nội.
15. Bộ Tư pháp, Thông tư 57/QLTPK ngày 10/10/1987 quy định về công tác
công chứng, Hà Nội.
107
16. Bộ Tư pháp, Thông tư 276-QLTPK ngày 20/4/1991 về tổ chức và hoạt động
công chứng, Hà Nội.
17. Bộ Tư pháp, Thông tư 1411 ngày 3/10/1996 về hướng dẫn thực hiện Nghị
định 31/CP, Hà Nội.
18. Bộ Tư pháp, Thông tư số 11/2012/TT-BTP, ngày 30/10/2012 (Ban hành
Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng), Hà Nội.
19. Bộ Tư pháp, Thông tư số 04/2015/TT-BTP, ngày 15/04/2015 (Hướng dẫn
tập sự hành nghề công chứng), Hà Nội.
20. Chính phủ (1996), Nghị định 86/CP ngày 10/2/1996 về việc bán đấu giá tài
sản, Hà Nội.
21. Chính phủ (1996), Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt
động công chứng nhà nước, Hà Nội.
22. Chính phủ (2000), Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/2/2000 quy định về
công chứng, chứng thực, Hà Nội.
23. Chính phủ (2008), Nghị định (số: 02/2008/NĐ-CP, ngày 04/01/2008,
hướng dẫn một số điều của Luật Công chứng năm 2006), Hà Nội.
24. Chính phủ (2013), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, ngày 24/09/2013 (Quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp), ..., Hà
Nội.
25. Chính phủ (2015), Nghị định số 67/2015/NĐ-CP, ngày 14/08/2015 (Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày
24/09/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bổ trợ tư pháp, ....), Hà Nội.
26. Chính phủ (2015), Nghị định (số: 29/2015/NĐ-CP, ngày 15/05/2015,
hướng dẫn một số điều của Luật Công chứng năm 2014), Hà Nội.
27. Chính phủ (1994), Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 (về cải cách một
bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân, tổ
chức), Hà Nội.
Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold
108
28. Công báo năm 1946, Sắc lệnh 59/SL ngày 15/11/1945, ấn định thể lệ và thị
thực giấy tờ, Hà Nội.
29. Công báo năm 1952, Sắc lệnh 85/SL ngày 29/2/1952, ban hành về các việc
mua bán, cho và đổi nhà cửa ruộng đất, Hà Nội.
30. Cộng hoà Bê Nanh (1968), Điều lệ công chứng, ban hành kèm theo lệnh số
48 FR của Tổng thống nước Cộng hòa Bê Nanh, Bê Nanh.
31. Hà Hùng Cường (2001), Trả lời phỏng vấn Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
số 1-2001, Hà Nội.
32. Bùi Đình Dũng - Nguyễn Hữu Tráng (1993), Việc thực hiện chức năng
công chứng của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở
nước ngoài, Đề tài khoa học mã số 92-98-224, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
33. Đặng Minh Đạo (1996), "Hệ thống công chứng ở Nhật Bản", Pháp luật, Hà
Nội.
34. Bùi Xuân Đức (1992), "Tổ chức cơ quan chính quyền địa phương trong
Hiến pháp sửa đổi", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
35. Bùi Xuân Đức (1993), "Vấn đề tổ chức cơ quan chính quyền địa phương ở
nước ta hiện nay", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
36. Bùi Xuân Đức (2000), "Vấn đề hoàn thiện bộ máy nhà nước ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
37. Nguyễn Duy Gia (chủ biên) (1997), Một số vấn đề cơ bản hoàn thiện bộ
máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Học viện Hành chính Quốc gia (1993), Nội dung và phương thức tổ chức
hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội, Đề tài KX-05-08, Hà Nội.
39. Nguyễn Ngọc Hiến (1996), Một số vấn đề chung về công chứng nhà nước,
Tài liệu nghiệp vụ, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
40. Nguyễn Văn Hoạt (1998), "Công chứng hợp đồng thế chấp tài sản vay vốn
Ngân hàng", Dân chủ Pháp luật, Hà Nội.
109
41. Hội đồng Bộ trưởng (1981), Nghị định 143/HĐBT ngày 22/11/1981 quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp, Hà Nội.
42. Hội đồng Bộ trưởng (1991), Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ
chức và hoạt động công chứng nhà nước, Hà Nội.
43. Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế (1989), Nxb Sự
thật, Hà Nội.
44. Hội đồng Nhà nước (1990), Pháp lệnh Lãnh sự, Nxb Sự thật, Hà Nội.
45. Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
46. Đặng Văn Khanh (1993), Giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta
hiện nay, Đề tài khoa học về công chứng, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
47. Đặng Văn Khanh (1999), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác
định phạm vi, nội dung hành vi công chứng, và giá trị pháp lý của văn bản
công chứng ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội.
48. Dương Khánh (2000), "Bàn về giá trị pháp lý của văn bản công chứng",
Kiểm sát, Hà Nội.
49. Dương Khánh (2000), "Về vai trò của công chứng viên", Dân chủ và Pháp
luật, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
50. Dương Khánh (2001), "Thẩm quyền thực hiện công chứng", Tòa án nhân
dân, Hà Nội.
51. Khoa Luật trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (1998), Giáo
trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, công chứng, luật sư, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội.
52. Liên đoàn công chứng Latinh (1948), Điều lệ Liên đoàn công chứng hệ La
tinh (UTNL), Argentina.
53. Nguyễn Đình Lộc (1996), Bộ Luật Dân sự Việt Nam quá trình xây dựng và
các quan điểm chỉ đạo, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Bộ Tư
pháp, Hà Nội.
110
54. Đinh Văn Mậu (1995), "Xây dựng nền hành chính phục vụ công dân",
Quản lý nhà nước, Hà Nội.
55. Vũ Văn Mẫu (1973), Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, Nxb Khai trí,
Sài Gòn.
56. Lê Tuyết Nga (1995), Giới thiệu tóm tắt Luật công chứng ngày 28/8/1969
của Công hòa Liên bang Đức, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
57. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (1995), Lịch sử Việt Nam 1930 - 1945, Hà
Nội.
58. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (1996), Luật và xã hội Việt Nam từ thế kỷ
XVII - XVIII, Hà Nội.
59. Nhà Xuất bản Tư pháp (1995), Luật về công chứng nhà nước của nước
Ucraina về công chứng nhà nước, Hà Nội.
60. Nhà Xuất bản Tư pháp (1995), Luật ngày 19/7/1993 của Liên bang Nga về hệ
thống công chứng nhà nước, Hà Nội.
61. Nhà pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, Hà
Nội.
62. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ BCH
TW Đảng (khóa VIII), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 BCHTW Đảng, Hà Nội.
63. Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia (1995), Nền hành chính và cải cách nền
hành chính của Nhật Bản, Việt Nam và Trung Quốc, Hà Nội.
64. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Văn kiện Đại hội Vũ Huy Bằng (1999),
Những cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện công chứng ở Việt Nam hiện
nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
65. Đảng lần thứ IX (2001), Hà Nội.
66. Nhà Xuất bản Giáo dục, Sổ tay thuật ngữ Pháp lý thông dụng (1996), Hà
Nội.
67. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Từ điển tiếng Việt (1974), Viện nghiên cứu
Ngữ học, (in lần thứ 3), Hà Nội.
68. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Từ điển tiếng Việt (1994), Hà Nội.
111
69. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (1994), Một số văn bản Pháp lệnh Việt
Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Hà Nội.
70. Nhà Xuất bản Khoa học xã hội (1994), Nghiên cứu hệ thống Pháp luật Việt
Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Hà Nội.
71. Nhà Xuất bản Pháp lý (1986), Thuật ngữ pháp lý phổ thông (tập 1), Hà Nội.
72. Nhà Xuất bản Thế giới, Từ điển Pháp luật hành chính (1992), Hà Nội.
73. Phạm Hữu Nghị (1995), "Giao dịch dân sự, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân
sự", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
74. Nguyễn Như Phát (1995), "Chủ thể của Luật Dân sự", Nhà nước và Pháp
luật, Hà Nội.
75. Phòng Công chứng số 1 T.P. Hà Nội (1996), Báo cáo công tác của Phòng
công chứng nhà nước số 1 thành phố Hà Nội, Hà Nội.
76. Phòng Công chứng số 1 T.P. Hồ Chí Minh (1996), Báo cáo công tác của
Phòng công chứng nhà nước số 1 thành phố Hồ Chí Minh, T.P. Hồ Chí Minh.
77. Phòng Công chứng số 1 Tỉnh Thanh Hoá (1997), Báo cáo công tác của
Phòng công chứng nhà nước số 1 tỉnh Thanh Hóa, Thanh Hoá.
78. Vũ Thị Phụng (1997), Lịch sử Nhà nước Pháp luật Việt Nam, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội.
79. Quốc hội (1995), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
80. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
81. Quốc hội (2006), Luật Công chứng, Hà Nội.
82. Quốc hội (2014), Luật Công chứng, Hà Nội.
83. Quốc hội (1995), Luật doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội.
84. Quốc hội (1999), Luật doanh nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
85. Quốc hội (2005), Luật Nhà ở, Hà Nội.
86. Quốc hội (2010), Luật Thanh tra, Hà Nội.
87. Quốc Hội, Luật Thương mại (1997), Hà Nội.
88. Quốc Hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi)
(1994). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
112
89. Dương Trung Quốc (1989), Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách
mạng 8/1945, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
90. Lê Kim Thanh (1993), Công chứng nhà nước thuộc các nước XHCN (cũ),
Viện Nghiên cứu KHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
91. Tuấn Đạo Thanh (2013), Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự
trong hoạt động công chứng, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
92. Dương Đình Thành (1998), Công chứng nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
93. Nguyễn Thảo (2013), Quy định về công chứng viên của một số nước trên
thế giới", Ban Nội chính Trung ương (website: www.noichinh.vn).
94. Nguyễn Thảo (2013), Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, Ban
Nội chính Trung ương (website: www.noichinh.vn), Ban chỉ đạo Trung
ương về Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức (website: www.
caicachcongvu.gov.vn.)
95. Trần Thất (1995), Những vấn đề cơ bản về công chứng, Thông tin KHPL,
Bộ Tư pháp, Hà Nội.
96. Trần Thất (1995), Nghị định 5/HĐBT về công chứng nhà nước và những
vấn đề đặt ra hiện nay, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp,
Hà Nội.
97. Trần Thất - Đặng Văn Khanh (1998), "Các quy định của pháp luật hiện
hành về công chứng nhà nước", Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Hà
Nội.
98. Lê Minh Thông (1998), "Hoàn thiện pháp luật về quyền con người trong
điều kiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay", Nhà nước và Pháp luật,
Hà Nội.
99. Lê Minh Thông (2000), "Một số vấn đề về hoàn thiện các cơ sở Hiến định
của tổ chức bộ máy Nhà nước ở nước ta hiện nay", Nhà nước và Pháp luật,
Hà Nội.
113
100. Lê Minh Thông (1998), "Vai trò của Nhà nước trong trật tự kinh tế thị
trường", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
101. Vũ Quốc Thông (1973), Pháp chế Việt Nam, Đại học Luật khoa, Sài Gòn.
102. Toà án Nhân dân tối cao (1997), Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối
cao, Hà Nội.
103. Nguyễn Khánh Toàn (1995), Văn bản công chứng ở Pháp, Ba Lan, chuyên
đề công chứng, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
104. Bùi Ngọc Toàn (1993), Công chứng đối với việc quản lý và phát triển các
quan hệ hợp đồng ở nước ta, Viện nghiên cứu KHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
105. Nguyễn Khánh Toàn (1995), Văn bản công chứng ở Pháp, Ba Lan, chuyên
đề công chứng, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
106. Đoàn Trọng Truyến (1996), Một số vấn đề xây dựng và cải cách đơn vị
hành chính nhà nước ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
107. Nguyễn Văn Tuân (1993), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công
chứng nhà nước ở Việt Nam, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
108. Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý (1992), Giới thiệu tóm tắt luật công
chứng của Cộng hòa Singapore, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
109. Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý (1995), Giới thiệu vài nét về đề tài: Xây
dựng và hoàn thiện công tác công chứng nhà nước trên địa bàn thành phố
Hà Nội, (Chuyên đề công chứng của Viện NCKHPL), Bộ Tư pháp, Hà Nội.
110. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (1997), Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam (1997), Bộ Tư pháp, Hà Nội.
111. Viện Sử học Việt Nam, Quốc Triều Hình luật (1991), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
112. Việt Nam cộng hoà (1954), Dụ số 43, "Ấn định quy chế chung cho ngạch
chưởng khế", Công báo Việt Nam, số 11 tháng Chạp 1954, Sài Gòn.
113. Việt Nam Cộng Hoà (1962), Các văn bản tổ chức Tư pháp, Sài Gòn.
114. Việt Nam Cộng Hoà (1973), Bộ luật Dân sự của Việt Nam Cộng hòa, Sài
Gòn.
114
115. Nguyễn Văn Yểu - Dương Đình Thành (1992), Những điều cần biết về
công chứng nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
* Tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài:
116. Bernard Maugain (1995), Trách nhiệm dân sự, bảo đảm trách nhiệm dân
sự, hủy bỏ chứng thư công chứng, Tài liệu hội thảo công chứng, Nhà Pháp
luật Việt - Pháp, Hà Nội.
117. Http://lexinter.net/ ENGLISH/civil_code.htm "Civil Code of France",
Article 2130 and Article 2133.
118. Http://en.wikisource.org/wiki/Civil_Code_of_Japan, "Civil Code of
Japan".
119. Http://en.wikipedia.org/wiki/Future_interest, "Future interest".
120. Mi Chen Corderl (1995), Tổ chức công chứng ở Pháp, tài liệu hội thảo về
công chứng tại nhà pháp luật Việt - Pháp, Hà Nội.
121. The American Law Institute, "Restatement of the Law", "Property
Copyright (c) 1936, Rules and Principles", Division 3 - Future Interests.
_______________________

More Related Content

PPTX
Diabetes Mellitus
PPTX
Hypertension
PPTX
Republic Act No. 11313 Safe Spaces Act (Bawal Bastos Law).pptx
PPTX
Power Point Presentation on Artificial Intelligence
PDF
Caça palavras - Bullying
PDF
Atividade ortográfica - Caçada aos erros
PPTX
Diabetes Mellitus
Hypertension
Republic Act No. 11313 Safe Spaces Act (Bawal Bastos Law).pptx
Power Point Presentation on Artificial Intelligence
Caça palavras - Bullying
Atividade ortográfica - Caçada aos erros

What's hot (20)

PDF
Luận văn: Thực hiện pháp luật công chứng tại Hà Nội, HAY
PDF
Đề tài: Pháp luật về tổ chức hành nghề công chứng tại Phú Yên
PDF
Báo cáo kiến tập tại Phòng Công chứng số 6 Thành phố Hồ Chí Minh
PDF
Đề tài: Hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, HOT
PDF
Luận văn: Giao đất, cho thuê đất theo luật đất đai năm 2013, HAY
PDF
Luận văn: Công chứng, chứng thực các giao dịch về đất đai, HAY
PDF
Luận văn: Hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai, 9đ
DOCX
99 đề tài báo cáo thực tập ngành luật, luật dân sự, kinh tế, hình sự, quốc tế..
PDF
Luận văn: Trách nhiệm bồi thường do công chứng viên gây ra, HAY
DOCX
Báo cáo thực tập công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
PDF
Luận văn: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh bất động sản, HOT
PDF
Luận văn: Giải quyết tranh chấp tài sản trong các vụ án ly hôn
PDF
Vấn đề về hợp đồng mua bán nhà ở theo pháp luật hiện hành
DOC
Hoạt động công chứng các văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.Thực tiễ...
PDF
Đề tài: Chất lượng dịch vụ công chứng của Văn phòng công chứng
PDF
Luận văn: Hợp đồng mua bán nhà ở chung cư trong các dự án, 9đ
PDF
Luận văn: Quản lý nhà nước về công chứng tại tỉnh Quảng Ngãi, 9đ
PDF
Luận văn: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải, 9đ
DOCX
Báo cáo thực tập tại viện kiểm sát nhân dân, 9 điểm
PDF
Luận văn: Pháp luật về xử lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính
Luận văn: Thực hiện pháp luật công chứng tại Hà Nội, HAY
Đề tài: Pháp luật về tổ chức hành nghề công chứng tại Phú Yên
Báo cáo kiến tập tại Phòng Công chứng số 6 Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài: Hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, HOT
Luận văn: Giao đất, cho thuê đất theo luật đất đai năm 2013, HAY
Luận văn: Công chứng, chứng thực các giao dịch về đất đai, HAY
Luận văn: Hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai, 9đ
99 đề tài báo cáo thực tập ngành luật, luật dân sự, kinh tế, hình sự, quốc tế..
Luận văn: Trách nhiệm bồi thường do công chứng viên gây ra, HAY
Báo cáo thực tập công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Luận văn: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh bất động sản, HOT
Luận văn: Giải quyết tranh chấp tài sản trong các vụ án ly hôn
Vấn đề về hợp đồng mua bán nhà ở theo pháp luật hiện hành
Hoạt động công chứng các văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.Thực tiễ...
Đề tài: Chất lượng dịch vụ công chứng của Văn phòng công chứng
Luận văn: Hợp đồng mua bán nhà ở chung cư trong các dự án, 9đ
Luận văn: Quản lý nhà nước về công chứng tại tỉnh Quảng Ngãi, 9đ
Luận văn: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải, 9đ
Báo cáo thực tập tại viện kiểm sát nhân dân, 9 điểm
Luận văn: Pháp luật về xử lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính
Ad

Similar to Luận văn: Quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam, HAY (20)

DOC
Luận văn thạc sĩ - Quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam.doc
PDF
Luận văn: Xã hội hóa công chứng từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình, HAY
PDF
Tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá
PDF
Luận án: Chế định Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam
PDF
Luận án: Chế định Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp
PDF
Đề tài: Pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư
PDF
Luận văn: Các quy định của Phần chung luật hình sự Việt Nam, HAY
PDF
Luận án: Hoàn thiện các quy định của Phần chung luật hình sự
PDF
Luận văn: Các quan niệm phổ biến về pháp luật trên thế giới, HOT
PDF
Luận văn: Chứng thực của UBND xã huyện Mỹ Đức, Hà Nội, 9đ
PDF
Pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
PDF
Luận văn: Hoạt động thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, HOT
PDF
Luận văn: Xây dựng và áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp dân sự
PDF
Luận văn: Xây dựng và áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp dân sự ở Việt Nam h...
PDF
Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong cải cách tư pháp
PDF
Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự.pdf
DOCX
Xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế
PDF
Luận án: Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, HAY
PDF
Luận văn: Thời hạn tố tụng dân sự theo pháp luật, HOT
PDF
Luận văn: Những người tham gia tố tụng trong luật tố tụng, HOT
Luận văn thạc sĩ - Quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam.doc
Luận văn: Xã hội hóa công chứng từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình, HAY
Tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá
Luận án: Chế định Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam
Luận án: Chế định Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp
Đề tài: Pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư
Luận văn: Các quy định của Phần chung luật hình sự Việt Nam, HAY
Luận án: Hoàn thiện các quy định của Phần chung luật hình sự
Luận văn: Các quan niệm phổ biến về pháp luật trên thế giới, HOT
Luận văn: Chứng thực của UBND xã huyện Mỹ Đức, Hà Nội, 9đ
Pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
Luận văn: Hoạt động thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, HOT
Luận văn: Xây dựng và áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp dân sự
Luận văn: Xây dựng và áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp dân sự ở Việt Nam h...
Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong cải cách tư pháp
Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự.pdf
Xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế
Luận án: Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, HAY
Luận văn: Thời hạn tố tụng dân sự theo pháp luật, HOT
Luận văn: Những người tham gia tố tụng trong luật tố tụng, HOT
Ad

More from Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864 (20)

DOC
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
DOC
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
DOC
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
DOC
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
DOC
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
DOC
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
DOC
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
DOC
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
DOC
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
DOC
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
DOC
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
DOC
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...

Recently uploaded (20)

PPTX
Cách viết mô tả chi tiết và thêm nhiều thẻ để tăng điểm số nội dung trên hệ t...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PDF
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Phong Cách Giao Tiếp
PDF
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Tổng quan về Giao tiếp
PPT
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
PPTX
Báo cáo Brucella sữa - trọng nghĩa..pptx
PDF
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
PDF
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
PDF
Bai giang tieng trung HSK4-BAI1 - zhenzhengdeaiqing
PDF
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 THEO FORM THI MỚI BGD - TẬP 2 - NĂM HỌC 2025-202...
PDF
CHƯƠNG 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TẸEEEEEEEEEEE
PDF
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
PPTX
GIỚI THIỆU SÁCH GIÁO KHOA TOÁN 4_CTST.pptx
PDF
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
PPTX
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
PDF
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
PPTX
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
PDF
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án
Cách viết mô tả chi tiết và thêm nhiều thẻ để tăng điểm số nội dung trên hệ t...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Phong Cách Giao Tiếp
Slide bài giảng môn Tâm lý Học Giao tiếp - Chủ đề Tổng quan về Giao tiếp
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
Báo cáo Brucella sữa - trọng nghĩa..pptx
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
Bai giang tieng trung HSK4-BAI1 - zhenzhengdeaiqing
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 THEO FORM THI MỚI BGD - TẬP 2 - NĂM HỌC 2025-202...
CHƯƠNG 2 ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TẸEEEEEEEEEEE
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
GIỚI THIỆU SÁCH GIÁO KHOA TOÁN 4_CTST.pptx
CĐHA GAN 1, Benh GAN KHU TRU, 04.2025.pdf
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án

Luận văn: Quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam, HAY

  • 1. 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT CHU HỒNG SƠN QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội - 2015
  • 2. 2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT CHU HỒNG SƠN QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật dân sự Mã số : 60 38 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Ngô Huy Cƣơng Hà Nội - 2015
  • 3. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN CHU HỒNG SƠN
  • 4. 4 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN 7 1.1 Tổng quan về Công chứng viên và Quy chế công chứng viên 7 1.1.1 Khái niệm về "Công chứng viên" và "Quy chế công chứng viên" 7 1.1.2 Lý luận chung. 8 1.2 Quá trình hình thành và phát triển công chứng viên và quy chế công chứng viên 18 1.2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy chế công chứng viên tại một số nước trên thế giới 18 1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển công chứng viên trong các chế độ cũ ở Việt Nam 38 Chƣơng 2: QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN THEO PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM 42 2.1 Quy định của pháp luật về công chứng viên trƣớc khi có Luật Công chứng 42 2.1.1 Quy định của pháp luật về công chứng viên trong giai đoạn 1945 - 1975 42 2.1.2 Quy định của pháp luật về công chứng viên sau năm 1976 (của nước CHXHCN Việt Nam) 47 2.1.3 Nhận xét tổng quát về các đặc điểm nổi bật của quy chế công chứng viên Việt Nam trước khi có Luật Công chứng đầu tiên (2006) 58
  • 5. 5 2.2. Quy chế công chứng viên sau khi có Luật Công chứng (2006) 60 2.2.1 Một số điểm nổi bật của quy chế công chứng viên từ khi có Luật Công chứng 2006 đến trước khi có Luật Công chứng hiện hành (2014) 60 2.2.2 Quy chế công chứng viên từ khi có Luật Công chứng 2014 (tức quy chế công chứng viên hiện hành). 70 Chƣơng 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN 90 3.1. Quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên 90 3.2. Kiến nghị về quy tắc đạo đức hành nghề công chứng viên. 92 3.3. Kiến nghị quy định về việc tham gia tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên. 93 3.4. Kiến nghị về công tác quản lý công chứng viên 93 KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
  • 6. 6 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chế định công chứng viên là một chế định quan trọng đã xuất hiện và phát triển từ khá lâu đời trên thế giới, nhất là tại các quốc gia có nền văn minh và hệ thống pháp luật phát triển, nó luôn song hành với các chế định pháp luật khác trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam tên gọi chính thức phổ biến cho chức danh tư pháp này mới chỉ có từ hai thập kỷ gần đây (khoảng những năm 1989, 1990) trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng thực ra, công việc của một công chứng viên đã tồn tại trong thời kỳ Pháp thuộc tại nước ta, nhưng với một tên gọi khác và một chức năng không hoàn toàn giống như chức năng của công chứng viên hiện tại. Theo pháp luật của đa số các quốc gia có chế định này, nhất là các quốc gia theo hệ thống luật La tinh (hệ thống luật thiên về sử dụng các văn bản pháp luật) thì chế định này thường được quy định nhiều hơn và phát triển hơn so với các quốc gia theo hệ thống luật Commom Law (luật Anh - Mỹ). Việt Nam ta cũng là quốc gia có hệ thống luật dựa trên thể thức văn bản pháp luật là chủ yếu nên chế định công chứng và công chứng viên vì thế trở nên rất quan trọng và cần thiết, ngày càng có xu thế phát triển mạnh. Tuy nhiên, trong lĩnh vực khoa học pháp lý của nước ta, chế định công chứng viên lại rất ít có những công trình nghiên cứu, phân tích sâu và toàn diện về chế định này. Do vậy trên hoạt động thực tế hành nghề công chứng tại nước ta, sự thiếu hụt việc nghiên cứu này đã bị trả giá khá nhiều trong quá trình thực thi pháp luật về công chứng, chứng thực của các công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng, gây ra những hậu quả nặng nề về uy tín, làm suy giảm nghiêm trọng sự tin tưởng của công dân vào pháp luật công chứng nói riêng và cả hệ thống pháp luật nói chung. Và đương nhiên, những sai lầm đó đã kéo theo những thiệt hại về kinh tế là vô cùng lớn (một ví dụ điển hình như vụ việc công chứng viên vi phạm quy chế trong vụ án EPCO Minh Phụng trong những năm 2000, 2001 đã làm thiệt hại kinh tế với con số khổng lồ là hàng nghìn tỷ đồng
  • 7. 7 vào thời điểm đó.......). Như mỗi chúng ta đều đã biết, với mỗi quốc gia thì bộ luật dân sự bao giờ cũng là một trong những bộ luật đòi hỏi sự đầu tư nhiều thời gian và công sức nhất để xây dựng và hoàn thiện, do đó cũng có thể coi bộ luật dân sự là bộ luật quan trọng nhất trong hệ thống luật pháp, nó có thể biểu hiện được trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như trình độ pháp lý của những nhà xây dựng luật pháp của quốc gia đó. Và trong việc thực thi pháp luật dân sự, cùng với những chế định thẩm phán, luật sư, ... thì chế định công chứng viên thật sự có tầm quan trọng không kém. Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam, sự quan tâm đến chế định công chứng viên của những nhà xây dựng pháp luật và trong những nhà nghiên cứu khoa học pháp lý của chúng ta hiện nay còn chưa được thoả đáng. Trong thời kỳ cả nước đang tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách tư pháp, kinh tế đang phát triển rất mạnh và nhanh theo nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh xã hội hoá nhiều dịch vụ công (trong đó có lĩnh vực công chứng) thì việc củng cố, hoàn thiện chế định công chứng nói chung và quy chế công chứng viên nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật hiện hành cũng như trong tương lai. Tuy nhiên, quy chế công chứng viên của ta như đã nói ở trên thì lại khá mới mẻ, không nhiều các công trình, không nhiều các đề tài khoa học đi sâu nghiên cứu về chế định này, trong khi hầu hết người dân trong xã hội nói chung và thậm chí ngay cả những người quản lý, những cơ quan, tổ chức nằm trong bộ máy nhà nước và bộ máy tư pháp của chúng ta còn chưa hoàn toàn hiểu rõ, chưa nhận thức đầy đủ về khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của chức danh tư pháp này. Với những trình bày như trên, việc nghiên cứu đề tài khoa học về quy chế công chứng viên, nhằm làm rõ bản chất pháp lý, tính khoa học, tính hệ thống và tầm quan trọng của vấn đề, để từ đó ta sẽ thấy được việc xây dựng và hoàn thiện quy chế công chứng viên ở Việt Nam ta hiện nay là một vấn đề khoa học cần thiết và cấp bách, đáp ứng nhu cầu tất yếu của đời sống pháp
  • 8. 8 luật nói riêng và đời sống xã hội nói chung của Việt Nam ta hiện nay cũng như trong tương lai. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nói đến đề tài công chứng viên (mà rộng ra chính là quy chế công chứng viên) theo một cách nhỏ lẻ, tiểu tiết thì đã có khá nhiểu bài báo, tác phẩm pháp luật, các bài phân tích, các cuộc toạ đàm, ... và thậm chí còn có đã có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật như sắc lệnh, nghị định, thông tư và gần đây nhất là Luật công chứng năm 2006 và Luật công chứng năm 2014 đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, nhưng văn bản đó đều mang tính rời rạc, mô tả hiện tượng, biểu hiện bên ngoài hoặc chỉ mang tính quy định chung chung về vấn đề hoặc có phân tích thì cũng chỉ dừng lại phân tích sâu theo một khía cạnh nhỏ nào đó của chức danh công chứng viên theo quy định của pháp luật hiện hành vào chính thời điểm đó chứ không mang tính khoa học pháp lý toàn diện, không thể hiện được tính lý luận xuyên suốt của vấn đề. Thực tế cho đến nay, dù ít dù nhiều cũng đã có những công trình khoa học, những điều luật có liên quan đến vấn đề này, bởi xuất phát từ đời sống thực tiễn cũng như xuất phát từ yêu cầu cấu thành các bộ phận trong hệ thống pháp luật thì chế định công chứng viên luôn tồn tại song hành với chế định công chứng nói riêng và các chế định về các chức danh tư pháp khác trong hệ thống pháp luật nói chung. Nhất là trong khoảng thời gian 15 năm trở lại đây, khi mà các giao dịch dân sự trong xã hội tăng cao đột biến, kéo theo nó là nhu cầu công chứng dần dần trở nên rất cấp thiết thì các đề tài khoa học về công chứng và công chứng viên đã xuất hiện nhiều hơn, một số các công trình này cũng đã phân tích sâu một khía cạnh nào đó về công chứng viên và quy chế công chứng viên nhưng thường chỉ một vài khía cạnh đó thôi. Một số các văn bản pháp luật và các công trình nghiên cứu, tác phẩm, bài viết pháp luật đã có đề cập đến một cách khá cụ thể một số quy định liên quan đến quy chế công chứng viên, đặc biệt và trước tiên nhất có thể dẫn chiếu ra là các điều luật từ Điều 13 đến Điều 22 trong Luật Công chứng năm 2006, sau đó là tại Chương II - từ Điều 8 đến Điều 27 của
  • 9. 9 Luật Công chứng năm 2014 đã chỉ ra chi tiết các tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm cũng như quyền và nghĩa vụ của công chứng viên. Ngoài ra, cũng có nhiều tác phẩm, bài viết đăng trên các diễn đàn, tạp chí pháp luật như trong bài viết "Về vai trò của công chứng viên" của tác giả Dương Khánh (2000) (tạp chí "Dân chủ và pháp luật"), hay tác phẩm "Thẩm quyền thực hiện công chứng" cũng của tác giả Dương Khánh (2001) (Toà án nhân dân), hoặc tác phẩm "Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự trong hoạt động công chứng" của Tiến sỹ Tuấn Đạo Thanh (Nhà xuất bản Tư pháp 2013), ... nhưng các tác phẩm này đều phân tích rộng hơn về toàn bộ chế định công chứng, nếu có đề cập đến quy định về công chứng viên thì cũng không phân tích nhiều hoặc chỉ dừng lại phân tích, nghiên cứu về một khía cạnh riêng biệt nào đó về công chứng viên, hoặc về một phần quy chế công chứng viên tại thời điểm toàn bộ các công chứng viên là viên chức nhà nước nằm trong chế định công chứng nhà nước. Sau khi tham khảo và nghiên cứu các tài liệu nói trên cũng như nhiều tác phẩm và văn bản pháp luật khác, chúng ta vẫn thấy thiếu những sự phân tích khoa học, nhất là sự "kết nối" một cách khoa học về lý luận giữa các công trình, tác phẩm nói trên trên để tạo nên một lý luận chung có tính thuyết phục về chức danh công chứng viên cũng như về quy chế công chứng viên. Do vậy, với mong muốn thực hiện được công việc một cách toàn diện nhất, khoa học nhất và mang tính khả thi cao nhât có thể, luận văn này sẽ cố gắng nghiên cứu một cách tổng thể hệ thống lý luận cũng như toàn bộ tình hình thực tiễn có liên quan để làm rõ hơn lý luận khoa học của vấn đề, qua đó có thể lý giải và bình luận về cơ sở pháp lý về quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại. Đồng thời, từ đó cũng xin mạnh dạn đưa ra một số đề xuất, một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về quy chế công chứng viên hiện tại, cố gắng phục những bất cập, những khiếm khuyết để quy chế công chứng viên được ngày càng hoàn chỉnh, mang tính khoa học được cao hơn, hoà kịp vào xu thế chung hội nhập quốc tế với công chứng viên của các nước tiên tiến trên thế giới.
  • 10. 10 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn Khi nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, tác giả xác định mục đích chính của luận văn là phân tích, đánh giá một cách chi tiết và có hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam từ trước đến nay về chức danh công chứng viên và quy chế công chứng viên, đánh giá các điểm bất cập phát sinh trên thực tế có thể gây ra những sai lầm, những khiểm khuyết, thiếu sót trong quy định về công chứng viên cũng như quy chế công chứng viên, điều có thể gây ra những sai phạm, những thiệt hại có thể vô cùng lớn cho các công dân, tổ chức trong xã hội cũng như cho toàn bộ nền kinh tế xã hội, qua đó đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định về quy chế công chứng viên, cố gắng khắc phục những khiếm khuyết, bất cập nói trên. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy chế về công chứng viên theo hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung (có tham khảo quy chế công chứng viên một số nước trên thế giới) nhưng trọng tâm vẫn là quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam hiện hành. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ nghiên cứu về lý luận và thực tiễn tất cả các quy định về quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trong đó có phân tích về mặt luận, dẫn chiếu các quy định trong các văn bản pháp luật và sự thi hành trên thực tiễn (có cả một số ví dụ về quy định của pháp luật nước ngoài) để làm vững chắc thêm về lý luận, phong phú thêm về thực tiễn cho đề tài nghiên cứu. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời luận văn còn kế thừa các công trình nghiên cứu của tập thể và các cá nhân liên quan đến đề tài.
  • 11. 11 5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành luận văn này tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng các phương pháp sau: khảo sát thực tiễn, thống kê xã hội học, phân tích, so sánh, tổng hợp, nhận xét, đưa ra kết luận.
  • 12. 12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN 1.1. Tổng quan về Công chứng viên và Quy chế công chứng viên 1.1.1. Khái niệm về "Công chứng viên" và "Quy chế công chứng viên" Công chứng viên là một chức danh tư pháp trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Cùng với các chức danh tư pháp khác như thẩm phán, công tố viên (hay kiểm sát viên), chấp hành viên, luật sư, ... thì công chứng viên là một chức danh tư pháp chỉ đến những người có trình độ pháp lý, kiến thức pháp luật và trình độ nghiệp vụ nhất định để đáp ứng được những công việc thực thi pháp luật trong một lĩnh vực pháp luật nhất định - lĩnh vực công chứng, được Nhà nước đương thời cho phép hành nghề, thừa nhận hoặc quyết định bổ nhiệm bằng quyền lực của mình. Theo pháp luật hiện tại của Việt Nam ta và của nhiều nước trên thế giới thì Công chứng viên là những nhà chuyên môn về pháp luật có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được bổ nhiệm để hành nghề công chứng. Còn công chứng là hành động công chứng viên chứng nhận tính chất xác thực, hợp pháp của văn bản (hợp đồng, giao dịch) do người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc do pháp luật quy định phải công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, trên thực tế, khái niệm "công chứng viên" không có định nghĩa chung trong tất cả các quốc gia vì hệ thống pháp luật và phạm vi hoạt động của công chứng viên tại mỗi quốc gia đều có sự khác nhau. Hơn nữa, khái niệm "công chứng viên" của mỗi quốc gia cũng có thể thay đổi theo thời gian khi pháp luật tương ứng của quốc gia đó thay đổi. Do vậy, mỗi khi được đề cập đến khái niệm "công chứng viên" thì chúng ta buộc phải mô tả theo quy định cụ thể của từng quốc gia hoặc nhóm các quốc gia có hệ tư tưởng pháp luật tương ứng. Nhưng qua nghiên cứu, tựu chung, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm khá tổng quát như sau: "Công chứng viên là một chức danh tư pháp dành cho những người có kiến thức chuyên môn đủ rộng và đủ sâu về pháp luật để đảm đương được việc chứng nhận hoặc
  • 13. 13 tư vấn về tính chân thực, tính phù hợp với pháp luật và có thể thêm tính phù hợp đạo đức xã hội của những giao dịch dân sự diễn ra trong lòng xã hội của một quốc gia, hoặc có thể thêm chức năng xác nhận tính hợp pháp, chân thực của một số loại văn bản được phép lưu hành trong lòng xã hội đó". Còn quy chế công chứng viên, theo khái niệm "quy chế" trong từ điển (ví dụ, theo Từ điển Tiếng Việt do NXB Văn hoá - Thông tin xuất bản năm 2012: "Quy chế là những điều định ra để nhiều người, nhiều nơi cùng theo đó mà làm"), kết hợp với tính quy định của pháp luật của từng quốc gia thì có thể đưa ra khái niệm như sau: "Quy chế công chứng viên là tất cả những quy định của pháp luật và những quy ước khác của xã hội về công chứng viên và tất cả những vấn đề liên quan đến công chứng viên của một quốc gia". Như vậy có thể thấy, khi đề cập đến bất kỳ vấn đề gì liên quan đến công chứng viên thì đương nhiên vô hình chung cũng đã đề cập đến quy chế công chứng viên của quốc gia đó. Trên thực tế, công chứng viên là chức danh tư pháp hoạt động thiên về lĩnh vực pháp luật dân sự, thương mại, được giành cho những người có đủ trình độ về pháp luật, về sức khoẻ, về đạo đức và sự tự tin để tự mình có thể đứng ra "chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp, tính không trái đạo đức xã hội" của một hợp đồng, một giao dịch dân sự trong xã hội bằng các văn bản công chứng, hoặc thuần tuý là chứng nhận tính chính xác, tính chân thực của một văn bản sao so với văn bản chính, hoặc là tính chính xác, tính tự nguyện của một người công dân muốn được chứng thực chữ ký của bản thân mình nhằm thể hiện ý chí của mình trong một văn bản, giấy tờ nào đó để lưu hành trong xã hội (tham khảo Luật Công chứng một số nước và Điều 2, khoản 1, Luật Công chứng năm 2014 của CHXHCN Việt Nam). Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, trên thế giới có những quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia xây dựng hệ thống pháp luật của quốc gia mình trên những hệ quan điểm pháp lý khác nhau (điển hình nhất là giữa nhóm các quốc gia dựa trên hệ quan điểm pháp luật viết thành văn và nhóm các quốc gia dựa trên hệ quan điểm pháp luật dựa trên hệ thống án lệ) nên xảy ra
  • 14. 14 một thực tế là có sự quy định khác nhau về vị trí pháp lý, tính chất và mức độ quyền hạn thực thi pháp luật của các chức danh tư pháp tại mỗi quốc gia này, trong đó có chức danh công chứng viên. Ở Việt Nam ta thì sự khác biệt, sự thay đổi còn có thể nhiều hơn so với các quốc gia khác do đặc điểm lịch sử có nhiều biến động dẫn đến đặc điểm có nhiều sự thay đổi về các bộ luật, các luật qua các thời kỳ, kèm theo đó là khả năng và trình độ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của ta còn chưa theo kịp với các quốc gia có lịch sử xây dựng pháp luật lâu đời khác trên thế giới. Cũng trong bối cảnh chung đó nên các quy định về quy chế chức danh công chứng viên theo pháp luật của nước ta cho đến nay vẫn còn tồn tại khá nhiều vấn đề khiếm khuyết, những "lỗ hổng" khá sâu và khá rộng cần phải sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. 1.1.2. Lý luận chung về "Công chứng viên" và "Quy chế công chứng viên" Kết hợp với khái niệm "công chứng viên" và "quy chế công chứng viên" đã nêu ở phần trên, chúng ta sẽ phân tích sâu hơn về nhu cầu thực tiễn xã hội, quá trình phát triển khoa pháp lý trên thế giới từ xa xưa đến ngày nay liên quan đến công chứng viên để qua đó rút ra những lý luận chung nhất về công chứng viên và quy chế công chứng viên. Công chứng viên (theo Từ điển Việt - Anh của nhiều nhà xuất bản có tên Tiếng Anh là "Notary" hoặc "Notary public"). Theo nhiều tài liệu của nhiều tác giả trên thế giới thì Công chứng là một nghề xuất hiện từ rất xưa. Cách đây hàng ngàn năm ở Hy Lạp, Ai Cập, và đặc biệt là ở La Mã đã có những người làm những công việc "dịch vụ văn tự" - đó có thể được coi là hình thức "công chứng" đầu tiên trong lịch sử, và người thực hiện "dịch vụ văn tự" đó có thể được hiểu có vai trò gần giống như là một "công chứng viên" trong pháp luật hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế nghề công chứng chỉ bắt đầu phát triển tương đối mạnh vào khoảng thế kỷ XIV, XV. Trong thời gian này đã xuất hiện những việc chứng cần phải nhận bản sao giấy tờ, nhưng nhiều nhất, chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là việc xuất hiện rất nhiều các nhu cầu về chứng nhận các hợp đồng, giao dịch do các quan hệ trong xã hội đặt ra. Thuật ngữ "Notariat" (trong tiếng Pháp, tiếng
  • 15. 15 Đức,...) hay "Notary" (trong tiếng Anh), đều có gốc Latinh là "Notarius" có nghĩa là "ghi chép". Và cho đến hiện tại, như chúng ta đều biết, nghề công chứng và toàn bộ hành vi của công chứng viên cũng đều chỉ để sản sinh ra một "sản phẩm" duy nhất được xã hội yêu cầu và công nhận - đó là văn bản công chứng - một sản phẩm bằng văn viết. Thực chất hơn nữa, các văn bản công chứng có giá trị pháp lý này do các công chứng viên trên khắp thế giới từ trước đến nay, bằng kiến thức pháp luật của mình đã lập ra để phục vụ nhu cầu của các bên tham gia giao dịch, suy cho cùng, cũng đều chỉ những sự "ghi chép" lại với một cách có "trật tự" các hành vi, các nhu cầu thoả thuận dân sự mà các bên dân sự giao kết với nhau đã "nhờ" công chứng viên thực hiện việc chứng nhận "giúp" về tính rõ ràng về quyền và nghĩa vụ, tính tự nguyện, tính dứt khoát, tính trung thực và tính hợp pháp của những giao dịch dân sự đó, hay đơn giản chỉ là tính hợp pháp của những văn bản do các cơ quan, tổ chức khác trong xã hội ban hành nhưng được các bên dân sự yêu cầu. Như vậy, có thể thấy ngay một điều hiển nhiên là, công chứng viên phải là những người nắm rất vững về hệ thống pháp luật nói chung, trong đó đặc biệt là phải rất tinh thông về pháp luật thương mại và rộng hơn là pháp luật dân sự. Đồng thời cũng phải là những người thật sự trung thực, vô tư, khách quan đối với mọi đối tượng giao dịch, chủ thể giao dịch, mọi quan hệ giao dịch được yêu cầu công chứng. Đây chính là đòi hỏi đầu tiên và cơ bản nhất của quy chế về công chứng viên mà cả các công chứng viên từ trước đến nay trên toàn thế giới phải tuân theo, dù ở trong bất cứ hệ thống pháp luật nào, thậm chí ở cả trong các hệ thống pháp luật khác biệt nhau hoàn toàn về quan điểm pháp lý cũng như cách thức tổ chức hệ thống pháp luật của quốc gia đó. Từ sự đòi hỏi khách quan về các phẩm chất cần thiết của công chứng viên như vậy, nên ở bất cứ quốc gia nào, nhất là các quốc gia có lịch sử phát triển pháp luật lâu đời thì quy chế về công chứng viên luôn luôn được pháp luật đặc biệt coi trọng. Trên thực tế, trong bất cứ một hệ thống pháp luật của quốc gia nào có quy định về chế định về công chứng thì hành vi công chứng của công chứng
  • 16. 16 viên bao giờ cũng là hành vi "khởi đầu" cho một loạt các hành vi của những người thừa hành pháp luật khác, mang đến tính hợp pháp cho các giao dịch dân sự mà pháp luật nước đó quy định. Đồng thời, hành vi của công chứng viên cũng nhằm tới một mục đích rất quan trọng khác, đó là bảo đảm cho việc tránh xa những tranh chấp, những hậu quả pháp lý đáng tiếc, những thiệt hại vật chất mà các giao dịch dân sự đó có thể mang lại, tức là hành vi của công chứng viên sẽ nhằm mang lại tính an toàn về pháp lý, an toàn về mặt tài sản cho giao dịch dân sự cũng như cho các bên tham gia giao dịch dân sự. Do đó, theo suy luận lô gich về mặt pháp luật, công chứng viên có một vị trí pháp lý giống như một "thẩm phán phòng ngừa". Tức là những người phải "đi tiên phong" trong việc ngăn ngừa trước những sự vi phạm pháp luật có thể xảy ra, ngăn ngừa những hậu quả pháp lý và hậu quả tài sản đáng tiếc có thể xảy ra trong tương lai do các quan hệ giao dịch dân sự mang lại. Hơn thế nữa, khó khăn hơn, là công chứng viên phải quyết định xử lý việc công chứng công việc với một khoảng thời gian rất ngắn, với một tâm thế hoàn toàn "bị động" do các bên yêu cầu công chứng đề ra không hẹn trước, nên không có một sự chuẩn bị trước nào cả, trong khi đó những giao dịch dân sự như tất cả chúng ta đều biết là nó luôn phức tạp, mang đủ những tình tiết tiềm ẩn những "góc khuất", những nguy cơ khó lường có thể gây ra những hậu quả pháp lý, thiệt hại kinh tế vô cùng lớn cho cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch, thậm chí cho cả nền kinh tế quốc dân cũng như cho toàn xã hội. Cũng chính vì vị trí pháp lý quan trọng, khá đặc biệt nói trên của công chứng viên mà trên thế giới, tại nhiều quốc gia, họ đặc biệt coi trọng toàn bộ các quy định liên quan đến chế định công chứng viên. Về mặt từ ngữ, toàn bộ các quy định này, nếu theo từ điển Tiếng Việt thì có thể được gọi quy chế công chứng viên. (Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học do NXB Đà Nẵng phát hành năm 2007, Trang 1260 do NXB Đà Nẵng phát hành năm 2007: "Quy chế là những điều đã được quy định thành chế độ để mọi người theo đó mà thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó", hay theo Từ điển Tiếng Việt
  • 17. 17 do NXB Văn hoá - Thông tin xuất bản năm 2012: "Quy chế là những điều định ra để nhiều người, nhiều nơi cùng theo đó mà làm"). Trên thế giới, ngoài một số quốc gia trong quy chế của mình vẫn quy định công chứng viên phải là viên chức nhà nước thì rất nhiều quốc gia chỉ coi công chứng viên là những người hành nghề tự do nhưng họ lại đặt ra quy chế rất ngặt nghèo về công chứng viên mà trước tiên phải kể đến là ngoài yêu cầu về chất lượng thì chính Luật của quốc gia đó chí ít thì chính phủ của quốc gia đó sẽ quy định cụ thể nhằm khống chế về số lượng công chứng viên trên từng khu vực lãnh thổ của quốc gia mình dựa theo các tiêu chí về diện tích lãnh thổ, số lượng dân cư và các chỉ số xã hội khác trên một vùng lãnh thổ nhất định. Chỉ điều này thôi chúng ta cũng đã thấy quy chế công chứng viên ở các quốc gia đó là rất chặt chẽ dù cho họ có thể là các quốc gia luôn đi tiên phong trong các chế độ tự do kinh doanh, tự do nhân quyền, tự do phát triển. Hướng tới điều này, các quốc gia đó đã thể hiện là họ đã có rất nhiều kinh nghiệm và độ sâu sắc về kiến thức pháp luật để bảo đảm cho quy chế công chứng viên của quốc gia mình luôn luôn có được hiệu quả cao nhất, tính ổn định cao nhất và mang lại lợi ích nhiều nhất trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội nói chung. Bởi lẽ, với quy định như vậy, ngoài việc yêu cầu cao về trình độ pháp lý, kiến thức pháp luật của công chứng viên, họ còn bảo đảm được tính ổn định xã hội, tính cạnh tranh lành mạnh của một trong những nghề luật rất nhạy cảm và quan trọng là nghề công chứng, từ đó tạo ra một uy tín rất lớn cho nghề công chứng và trên hết là đóng góp vô cùng to lớn cho sự ổn định xã hội của một quốc gia hiện đại. Tổng quan một số quy định cơ bản về công chứng viên trên thế giới: Theo quá trình phát triển của pháp luật thế giới nói chung, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có cho mình những hệ thống pháp luật (luật lệ) riêng từ những thời kỳ sơ khai (thời chiếm hữu nô lệ), đã biết bắt đầu xuất hiện những người thực hiện việc công chứng nhưng với tên gọi khác chứ chưa có khái niệm công chứng viên như bây giờ. Cho đến thời kỳ phong kiến ở một số quốc gia giàu có, phát triển (ví dụ như ở Pháp) đã bắt đầu xuất hiện những
  • 18. 18 người hành nghề công chứng viên. Và từ thời kỳ đó đến nay, người hành nghề tư pháp với chức danh công chứng viên đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên khắp thế giới, hoặc do tự học hỏi, hoặc do được đào tạo bài bản, nhưng những này (có thể dưới một tên gọi tương đương khác tuỳ theo từng vùng miền, từng quốc gia và từng giai đoạn lịch sử) bao giờ cũng phải được nhà nước đương thời (kể cả nhà nước phong kiến, hoặc nhà nước tư bản hay nhà nước khác), hoặc một cơ quan, tổ chức, hay một cá nhân đại diện cho quyền lực nhà nước này bổ nhiệm hoặc thừa nhận bằng một quyết định, một văn bản mang tính quyền lực nhà nước, đánh dấu việc được nhà nước chính thức cho phép hành nghề công chứng viên. Từ đó, các văn bản mà họ lập ra sẽ được nhà nước đó, người dân và toàn xã hội đương thời của nước đó thừa nhận, được thi hành như một văn bản pháp luật của nhà nước ban hành. Nhưng cũng do từ lịch sử đến hiện đại, trên thế giới đã từng và hiện nay vẫn tồn tại 3 hệ thống pháp luật (xuất phát từ 3 hệ quan điểm pháp luật khác nhau) nên công chứng cũng tồn tại 3 hệ thống tương ứng với 3 hệ thống pháp luật, đó là hệ thống công chứng La tinh (Luật viết), hệ thống công chứng Anglo- Sacxon (Anh - Mỹ) và hệ thống công chứng nhà nước bao cấp (Colectiviste). Chúng ta sẽ điểm qua một số nét chính về quy chế công chứng viên trong các hệ thống pháp này, ứng với việc viện dẫn quy chế công chứng viên của một số quốc gia tương có hệ thống pháp luật tương ứng. Tuy nhiên, dù nẳm ở trong hệ thống pháp luật nào, công chứng viên cũng có những đặc trưng chính như sau: Nét đặc trưng đầu tiên là, công chứng viên bao giờ cũng là cá nhân một công dân (hoặc một viên chức công) được Nhà nước đương thời bổ nhiệm để chuyên lập (hoặc chứng nhận) các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên giao dịch dân sự phải bảo đảm tính xác thực của văn bản giao dịch đó, bảo đảm cho văn bản đó luôn có hiệu lực pháp luật giống như các văn bản của các cơ quan
  • 19. 19 công quyền khác của Nhà nước đó và đảm bảo việc lưu giữ, cấp bản sao của văn bản đó. a/ Vị trí, vai trò và tính chất hành nghề của công chứng viên - Theo hệ thống công chứng Latinh (ví dụ : Đức, Áo, Bỉ, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha và Cộng hòa Séc), công chứng viên vừa là công chức, vừa là người hành nghề tự do. Tính chất nghề nghiệp này không chỉ đúng với công chứng viên dân luật ở các nước phương Tây mà còn được áp dụng với công chứng viên của Trung Quốc, Mông Cổ và nhiều nước Châu Á khác. Nói cách khác, tính chất chung của nghề công chứng viên là hoạt động công vụ chứ không phải là hoạt động kinh doanh đơn thuần. Do vậy, công chứng viên tại một số nước được sử dụng con dấu công vụ, con dấu có hình quốc huy (ví dụ như: Ba Lan, .... Tại Ba Lan, công chứng viên được hưởng chế độ như các viên chức công khác, được gọi là “công chức làm chứng”). - Công chứng viên được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Bộ Tư pháp và được coi như công chức dù không hưởng lương từ ngân sách nhà nước Đây là một điểm rất đặc biệt của quy chế về công chứng viên của rất nhiều nước. Nói cách khác, công chứng viên là một công chức đặc biệt vì công chứng viên do nhà nước bổ nhiệm, phải tuân theo quy định của Nhà nước, đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước nhưng lại hành nghề với tư cách tự do (tự hành nghề, tự đầu tư cơ sở vật chất, tự nuôi bộ máy giúp việc, thu nhập từ nguồn khách hàng…). - Công chứng viên là một nhà chuyên môn hoạt động gần như trong mọi lĩnh vực pháp luật, công chứng viên là một luật gia đầy đủ, không đơn thuần là người soạn thảo văn bản mà còn là người làm nhiệm vụ công chứng, chứng thực, người tư vấn pháp luật và người thu thuế cho nhà nước. Ngoài ra, công chứng viên còn có thể thực hiện một số nhiệm vụ khác do khách hàng hoặc các cơ quan xét xử yêu cầu. Công chứng viên là người hợp thức hóa thỏa thuận của các bên và có thẩm quyền đóng con dấu xác thực vào toàn bộ các văn bản mà mình tiếp nhận. Công chứng viên cũng bảo đảm lưu giữ toàn bộ các dự thảo văn bản. Ngoài chức năng xác thực tính hợp lệ và bảo đảm an toàn cho các văn bản nói
  • 20. 20 trên, các công chứng viên còn có thể can thiệp với phạm vi rộng hơn; họ là các chuyên gia về pháp luật tổng quát với một tầm nhìn tổng thể về các vấn đề pháp lý. Họ có thể can thiệp vào khuôn khổ pháp lý nói chung và khuôn khổ pháp lý về thuế, điều đó khiến họ trở nên đặc biệt hiệu quả trong việc tư vấn cho khách hàng của mình. - Hầu hết tại các nước theo hệ thống luật La tinh, công chứng viên là công chức do Nhà nước bổ nhiệm, chuyên tư vấn một cách độc lập, trung lập và khách quan cho các giao dịch pháp lý quan trọng. Công chứng viên đóng vai trò then chốt trong luật về bất động sản, luật thế chấp, luật về hợp đồng, luật công ty cũng như các luật khác về gia đình và thừa kế. Các công chứng viên dân luật là các cố vấn độc lập, trung lập và khách quan cho tất cả các bên tham gia giao dịch. Họ kiểm tra ý định của các bên, dự thảo hợp đồng và các công cụ cần thiết để thực hiện giao dịch dự kiến và bảo đảm các quy định trong hợp đồng tuân thủ với luật. Các công chứng viên dân luật cũng xác minh năng lực đầy đủ của các bên để ký kết thỏa thuận dự kiến và để hiểu đầy đủ những hệ lụy về pháp lý của các cam kết mà họ đưa ra. Nếu không, luật pháp yêu cầu công chứng viên dân luật phải từ chối sự tham gia của người đó. - Ngoài ra, tại một số nước (ví dụ: Tây Ban Nha), công chứng viên là một công chức có thẩm quyền cung cấp bằng chứng về các hợp đồng và các hoạt động ngoài tố tụng khác. Là một công chức, công chứng viên phải bảo đảm độ chính xác của những gì công chứng viên nhìn thấy, nghe thấy, quan sát thấy hoặc cảm nhận được; tính xác thực và hiệu lực bằng chứng đối với các lời khai thể hiện ý chí của các bên trong các văn bản được soạn thảo theo luật. Sau đó, công chứng viên có thẩm quyền hành động và chứng từ hóa toàn bộ các loại tình tiết, hành vi, hợp đồng và nói chung là mọi hoạt động kinh doanh hợp pháp trong phạm vi luật pháp ngoài tố tụng. Không có loại công chức nào khác có thể hành động với phạm vi rộng như vậy trong lĩnh vực này. - Cũng tại một số nước (Trung Quốc), công chứng viên vừa là công chức vừa là những người hành nghề tự do. Với tư cách là công chức, họ được bổ
  • 21. 21 nhiệm bởi một cơ quan chính phủ, phải chịu các nghĩa vụ kỷ luật, trách nhiệm dân sự hoặc hình sự. Với tư cách người hành nghề tự do, công chứng viên có thể lựa chọn địa điểm thành lập văn phòng của mình, tuyển dụng nhân viên cũng như mua sắm các trang thiết bị cần thiết. Họ được khách hàng trả tiền và trích lại một phần để nộp cho nhà nước. b/ Chức năng, nhiệm vụ của công chứng viên Thông thường (nhất là những quốc gia theo hệ thống Luật Latinh), công chứng viên là những cán bộ chuyên môn bảo đảm được hiệu quả và tính chắc chắn về mặt pháp lý của những hợp đồng giao dịch và thay mặt Nhà nước thu thuế chuyển nhượng, thu phí đăng ký và trả thuế này cho cơ quan thuế trong khoảng thời gian rất ngắn. Nhờ đó, chính quyền thường xuyên nhận được những khoản thanh toán này một cách rất hiệu quả và nếu những khoản này không được thanh toán, công chứng viên phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với chính quyền về việc thanh toán những khoản thuế này. Ví dụ như đã dẫn chiếu ở trên, theo quy định của Tây Ban Nha, công chứng viên là công chức có thẩm quyền cung cấp bằng chứng theo quy định của pháp luật về các hợp đồng và các hoạt động ngoại tụng khác. Điều này có nghĩa là, công chứng viên là một người hành nghề luật độc lập, có nhiệm vụ đánh giá một cách công tâm không thiên vị những người yêu cầu cung cấp dịch vụ và tư vấn cho họ những công cụ pháp lý phù hợp nhất để đạt được kết quả hợp pháp mà họ mong muốn. Sau đó, công chứng viên có thẩm quyền hành động và chứng từ hóa toàn bộ các tình tiết, hành vi mà nói chung là mọi hoạt động kinh doanh hợp pháp trong phạm vi luật pháp ngoài tố tụng. Một ví dụ khác, trong xã hội Pháp, chức năng tư vấn của công chứng viên đã có bước phát triển rất mạnh mẽ. Hoạt động tư vấn của công chứng viên đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân trong mọi lĩnh vực (hôn nhân gia đình, thương mại, bất động sản hay trong quản lý tài sản…). Công chứng viên có nghĩa vụ tư vấn cho mọi khách hàng, không phân biệt trình độ hiểu biết; đưa ra những lời tư vấn phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng
  • 22. 22 đồng thời cũng có lợi nhất cho khách hàng. Công chứng viên phải giải thích để các bên hiểu rõ tính chất của thỏa thuận, những hệ quả của thỏa thuận mà họ ký kết với nhau trước khi công chứng, đồng thời cũng phải giúp khách hàng thực hiện thỏa thuận đó. Ngoài nhiệm vụ soạn thảo, công chứng văn bản và tư vấn, công chứng viên còn có thể thực hiện một số nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Tòa án hoặc theo yêu cầu của khách hàng. Theo yêu cầu của Tòa án, công chứng viên có thể lập dự thảo phân chia tài sản trong một vụ ly hôn, làm giám định viên trong vụ ly hôn, hỗ trợ thẩm phán đánh giá giá trị bất động sản, làm người giám hộ, người quản lý tài sản của người bị mất năng lực hành vi mà không có gia đình. Theo yêu cầu của khách hàng, công chứng viên có thể tìm nguồn vốn vay cho khách hàng, giúp khách hàng chuyển vốn vào tổ chức đầu tư, thương lượng bán bất động sản hoặc sản nghiệp thương mại, lập bản kê khai tài sản thừa kế… Ở Trung Quốc, công chứng viên có nhiệm vụ cung cấp tư vấn cho các bên trước khi thông báo về phạm vi và hậu quả của chứng thư mà họ ký. Ngoài ra, công chứng viên phải lưu trữ bằng chứng của thông báo này. Điều này cho thấy chính quyền Trung Quốc đã quyết định áp dụng triệt để nhiệm vụ tư vấn nhưng, bằng cách giữ bằng chứng về trách nhiệm tư vấn, họ cũng ngăn chặn bất kỳ sự lạm dụng nào từ các khách hàng không trung thực. Như vậy, có thể thấy, với nhiệm vụ cung cấp bằng chứng, tư vấn, hòa giải, lập văn bản và thu thuế, công chứng viên có phạm vi hoạt động tương đối rộng so với các công chức khác. Hoạt động pháp luật duy nhất mà công chứng viên không được làm là bào chữa trong các vụ kiện. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp để bảo đảm tính độc lập trong hoạt động của công chứng viên. Với việc trao cho công chứng viên chức năng, nhiệm vụ đặc biệt như trên, Nhà nước đặt ra những yêu cầu, tiêu chuẩn khắt khe đối với hoạt động của công chứng viên, đồng thời, tạo lập một vị trí xứng đáng cho chức danh này trong xã hội, nơi mà người dân tin tưởng và coi công chứng viên là những “thẩm phán hợp đồng”, “bác sĩ tài sản” của họ.
  • 23. 23 c/ Tiêu chuẩn công chứng viên Tuy có những điểm khác nhau về thể chế, hầu hết các nước đều công nhận công chứng là một nghề rất khó. Công chứng viên đều là những nhà luật học giỏi, những chuyên gia pháp luật có kiến thức pháp lý sâu rộng và áp dụng pháp luật nhuần nhuyễn, linh hoạt. Do vậy, việc gia nhập đội ngũ công chứng viên là một quy trình có tính cạnh tranh rất cao, được lựa chọn theo các tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt (Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc…). - Tiêu chuẩn chung: Pháp luật các nước có khá nhiều điểm tương đồng trong quy định về tiêu chuẩn công chứng viên. Cụ thể, công chứng viên phải là công dân của nước đó, không thuộc trường hợp mất năng lực hoặc không có khả năng thực hiện vai trò của công chứng viên, là tiến sĩ hoặc người tốt nghiệp luật, có nhân cách và năng lực phù hợp với chức danh, đã trải qua khóa đào tạo nghề dài và chuyên sâu, hoàn thành thời gian tập sự hành nghề công chứng và vượt qua kỳ thi tuyển công chứng viên. - Tiêu chuẩn về trình độ: Để khẳng định vị trí của chức danh công chứng viên, một số nước quy định tất cả các công chứng viên phải đủ điều kiện chuyên môn làm thẩm phán và luật sư (Đức) hoặc đã làm công chứng viên dự bị với một thời gian nhất định (ít nhất 2 năm theo Luật của Ba Lan) hoặc phải là người đã được bổ nhiệm trong hơn 10 năm vào các công việc được quy định theo Luật (Hàn Quốc)… Với một số đối tượng như giáo sư, tiến sỹ luật học, thẩm phán, luật sư, tư vấn pháp luật có thâm niên ít nhất 3 năm… thì một số tiêu chuẩn có thể được xem xét giảm bớt, ví dụ như tiêu chuẩn về thời gian làm công chứng viên dự bị hoặc được miễn khóa đào tạo nghề, miễn thời gian tập sự hành nghề (Ba Lan, Trung Quốc). - Tiêu chuẩn về tuổi: Về tuổi bổ nhiệm, theo thông lệ phương Tây, lợi thế về độ tuổi được xem xét vì nghề này đòi hỏi phải có một nền tảng vững chắc và kinh nghiệm đáng kể. Ví dụ như: công chứng viên tại Đức phải là người ít nhất 35 tuổi và không quá 70 tuổi khi bổ nhiệm lần đầu. Tại Ba Lan thì ít nhất 26 tuổi mới được bổ nhiệm. Tại Tây Ban Nha độ tuổi trung bình thấp nhất để được bổ nhiệm công
  • 24. 24 chứng viên từ 27 đến 28 tuổi. Còn tại Nhật Bản, nhiều công chứng viên được bổ nhiệm khi họ khoảng 58 đến 62 tuổi và làm công chứng viên trong vòng 8 đến 10 năm. Tại Hàn Quốc, chỉ những người ở độ tuổi trung niên mới được bổ nhiệm làm công chứng viên. Về tuổi hành nghề, đa số các nước đều quy định độ tuổi tối đa là 65 hoặc 70 (Trung Quốc, Tây Ban Nha, Đức, Nhật Bản). Ngoài các tiêu chuẩn nêu trên, các nước như Pháp, Đức, Tây Ban Nha đều quy định công chứng viên phải khẳng định được uy tín của mình. Khách hàng khi đến yêu cầu công chứng phải có niềm tin vào người công chứng viên về việc người này rất minh bạch, không thiên vị, hoàn toàn tin tưởng. Tại Đức, một người muốn trở thành công chứng viên thì phải có thêm điều kiện là thi đỗ kỳ thi tuyển quốc gia II và hoàn thành tập sự 3 năm tại một Văn phòng công chứng; người muốn là công chứng viên - luật sư thì phải là luật sư ít nhất 5 năm, trong đó có ít nhất 3 năm đã hành nghề tại địa bàn mà luật sư đó muốn trở thành công chứng viên, đồng thời phải trải qua kỳ thi mà không cần tập sự (nhưng vẫn phải chứng minh có ít nhất 160 giờ làm việc tại một Văn phòng công chứng). Nhật Bản có thể được coi là một ngoại lệ với việc quy định điều kiện khá dễ dàng để trở thành công chứng viên. Theo đó, mặc dù về nguyên tắc, bất cứ ai vượt qua kỳ thi do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đề ra và hoàn thành khóa đào tạo kéo dài hơn 06 tháng đều có thể có đủ điều kiện làm công chứng viên. Tuy nhiên, kỳ thi này vẫn chưa được tổ chức vì thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên mà không cần thi hoặc hoàn thành khóa đào tạo này. Hơn nữa, những người đã tham gia các sự vụ pháp lý lâu năm và có nền tảng học vấn tương tự như các chuyên gia pháp lý cũng có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên. (Có tham khảo và trích dẫn lại từ: Nguyễn Thảo (Ban Nội chính Trung ương) - Trang (Nguồn: www.noichinh.vn): "Ban chỉ đạo Trung ương về Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức", caicachcongvu.gov.vn.).
  • 25. 25 1.2. Quá trình hình thành và phát triển công chứng viên và quy chế công chứng viên 1.2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy chế công chứng viên tại một số nước trên thế giới Như phần đầu đã nêu, thì công chứng là một nghề đã xuất hiện từ rất xã xưa, cách đây hàng ngàn năm, và cũng bắt đầu ở Hy Lạp, Ai Cập, và đặc biệt là ở La Mã - là những nơi đã được xác định là những "cái nôi" của nền văn minh nói chung và nền pháp luật nhân loại nói riêng. Ở đó đã xuất hiện đầu tiên những người làm các "dịch vụ văn tự" mà cho đến này chúng ta hiểu chính là một hình thức gần giống như các văn bản mà luật sư, công chứng viên thường làm bây giờ. Tuy nhiên, phải đến những năm của thế kỷ XIV, XV thì nghề công chứng mới bắt đầu phát triển tương đối mạnh. Trong thời gian này, ngoài các nhu cầu về việc sao giấy tờ trong dân chúng thì đã xuất hiện rất nhiều và rất cấp thiết các nhu cầu về chứng nhận các hợp đồng, giao dịch do các quan hệ trong xã hội đặt ra lúc bấy giờ do nền kinh tế, thương mại, giao dịch dân sự thời đó đã bắt đầu phát triển mạnh. * Các hệ thống công chứng trên thế giới: Theo thời gian và trải qua tất cả các thời kỳ lịch sử xã hội, lịch sử pháp luật của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có cho mình những hệ thống pháp luật riêng từ những thời kỳ sơ khai như chiếm hữu nô lệ. Như chúng ta đã biết, pháp luật đã xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, do vậy ngay từ khi có những nhà nước sơ khai ra đời, tại một số nhà nước đã có những người thực hiện việc công chứng, nhưng tất nhiên là với các tên gọi khác chứ chưa có khái niệm là công chứng viên như bây giờ. Cho đến thời kỳ phong kiến ở một số quốc gia giàu có, phát triển (ví dụ như ở Pháp) đã bắt đầu xuất hiện những người thực sự hành nghề công chứng viên. Và từ thời kỳ đó đến nay, người hành nghề về pháp luật với chức danh công chứng viên đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên khắp thế giới. Họ do tự học hỏi, hoặc do được đào tạo bài bản, nhưng những người bắt đầu được hành nghề công chứng với chức danh công chứng viên chính
  • 26. 26 thức (hoặc một tên gọi tương đương khác tuỳ theo từng vùng miền, từng quốc gia và từng giai đoạn lịch sử) thì bao giờ cũng phải được một nhà nước (kể cả nhà nước phong kiến, hoặc nhà nước tư bản hay nhà nước khác), hoặc một cơ quan, tổ chức, hay một cá nhân đại diện cho quyền lực nhà nước đó bổ nhiệm hoặc thừa nhận bằng một quyết định, một văn bản mang tính quyền lực nhà nước, đánh dấu việc được nhà nước chính thức cho phép hành nghề công chứng viên. Từ đó, các văn bản mà họ lập ra sẽ được nhà nước đó, người dân và toàn xã hội đương thời của nước đó thừa nhận, được thi hành như một văn bản pháp luật của nhà nước ban hành. Nhưng cũng do từ lịch sử đến hiện đại, trên thế giới đã từng và hiện nay vẫn tồn tại 3 hệ thống pháp luật (xuất phát từ 3 hệ quan điểm pháp luật khác nhau) nên công chứng cũng tồn tại 3 hệ thống tương ứng với 3 hệ thống pháp luật, đó là hệ thống công chứng La tinh (Luật viết), hệ thống công chứng Anglo- Sacxon (Anh - Mỹ) và hệ thống công chứng nhà nước bao cấp (Colectiviste). Chúng ta sẽ điểm qua một số nét chính về quy chế công chứng viên trong các hệ thống pháp này, ứng với việc viện dẫn quy chế công chứng viên của một số quốc gia tương có hệ thống pháp luật tương ứng. a/ Hệ thống Công chứng La tinh Ở các nước theo hệ La tinh, Công chứng viên được Nhà nước ủy thác một phần quyền lực và giao cho con dấu riêng có khắc tên của chính công chứng viên đó. Với tư cách là ủy viên công quyền (officier public), công chứng viên có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, thể hiện ở chỗ công chứng viên được người đứng đầu Nhà nước hoặc Bộ trưởng Tư pháp bổ nhiệm và hoạt động của họ được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Công chứng trong khuôn khổ một nghề tự do được thể hiện rõ trong việc công chứng viên thực hiện chức năng mang tính công thông qua quyền tự do tổ chức hoạt động trong nội bộ phòng công chứng, trong việc trả tiền công tính theo lao động, trong khả năng cạnh tranh lành mạnh, trong trách nhiệm cá nhân về bồi thường thiệt hại do văn bản đã được công chứng gây ra. Theo quy chế, với tư
  • 27. 27 cách là người hành nghề tự do, công chứng viên thực sự là một chủ doanh nghiệp, thu nhập của công chứng viên là tiền thù lao do họ tự thu từ khách hàng; công chứng viên tổ chức văn phòng theo cách riêng của mình, tuyển dụng nhân viên, thuê trụ sở, sắp đặt tài liệu, hồ sơ, trang thiết bị văn phòng theo cách riêng. Theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện của khách hàng, công chứng viên đem lại cho các văn bản và hợp đồng một tính đích thực, có giá trị như văn bản do các cơ quan công quyền khác cấp, đảm bảo cho các hợp đồng một sự an toàn trong mọi tình huống, hạn chế được đến mức thấp nhất những tranh chấp dân sự, làm giảm bớt gánh nặng quá tải về xét xử của các Tòa án, giảm bớt chi phí xã hội. Các văn bản hợp đồng, giao dịch do công chứng viên thực hiện có hiệu lực thi hành ngay, có giá trị như một phán quyết của tòa án. Công chứng viên giữ vai trò quan trọng để đảm bảo trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp. Chính vai trò mang tính chất phòng ngừa này của công chứng viên là một điểm thuận lợi trong hệ thống luật Châu Âu lục địa so với các hệ thống luật khác. Nhiệm vụ cơ bản của công chứng viên là chứng nhận các hợp đồng. Chứng nhận là khái niệm bao hàm kỹ thuật tác nghiệp trong nghề công chứng. Chứng nhận là xác nhận sự thỏa thuận giữa các bên, xác minh tính hợp pháp của thỏa thuận đó, xác minh các bên giao kết có tự nguyện không, xác minh những người có mặt chính là đại diện của các bên để ký hợp đồng không, xác minh thẩm quyền, năng lực pháp luật của các bên, kiểm tra xem trong hợp đồng có chứa những điều khoản có nội dung mà pháp luật cấm không, kiểm tra xem việc ký kết hợp đồng có tuân thủ tất cả các trình tự, thủ tục cần thiết không. Ngoài ra, công chứng viên còn phải ký vào hợp đồng, ghi vào hợp đồng ngày tháng chính xác của việc ký kết, thừa nhận giá trị chứng cứ của hợp đồng, hiệu lực thi hành của hợp đồng. Công chứng viên là những nhà luật pháp rất gần gũi với cuộc sống. Sứ mệnh của họ là giúp mọi người lựa chọn và định đoạt tài sản của mình theo cách hợp lý nhất, đồng thời họ có nghĩa vụ tư vấn cho các bên giao kết hợp đồng một
  • 28. 28 cách vô tư, không thiên vị, lưu ý họ về phạm vi, các hệ quả, rủi ro mà hợp đồng có thể đặt ra để bảo vệ lợi ích của tất cả các bên trong hợp đồng, dù đó là bên bán hay bên mua. Với nghĩa vụ tư vấn này, công chứng viên không những làm nhiệm vụ cùng ký vào hợp đồng, xác nhận ý chí của các bên trong hợp đồng, mà còn có nhiệm vụ giúp đỡ các bên thể hiện ý chí đó trong hợp đồng, lựa chọn các thể thức ký kết hợp đồng phù hợp tùy thuộc vào mục đích của hợp đồng, vào các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng, thông tin cho các bên biết về những hệ quả pháp lý, thuế khóa mà hợp đồng đặt ra (ở những nước phát triển, những hệ quả về thuế rất quan trọng). Công chứng viên có nhiệm vụ hòa giải sự bất đồng về quan điểm của các bên trong quá trình soạn thảo hợp đồng, để đảm bảo sự công bằng trong hợp đồng, đảm bảo tôn trọng quyền lợi chính đáng của mỗi bên giao kết. Yêu cầu về hợp đồng công bằng là một yêu cầu rất quan trọng của công chứng, do vậy, công chứng viên thực sự giữ vai trò trọng tài và trung gian hòa giải các bên. Hoạt động này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho các bên giao kết, làm cho quan điểm của các bên xích lại gần nhau, sớm đạt được sự thống nhất, tránh xa tranh chấp hợp đồng sau này. Công chứng viên có nhiệm vụ bảo quản lâu dài các văn bản. Công chứng viên phải cấp bản sao từ bản gốc của các văn bản do mình ký. Các văn bản do công chứng viên lập là các văn bản công, không thuộc sở hữu của công chứng viên, cũng không thuộc sỡ hữu của các bên mà thuộc về kho lưu trữ của Nhà nước. Như vậy, công chứng viên là người quản giữ các tư liệu đó. Nhiệm vụ này cũng xuất phát từ chức năng dịch vụ công của công chứng. Công chứng viên có nghĩa vụ tuân thủ biểu giá về thù lao (lệ phí công chứng) đã được ấn định, không thể tự ý tăng, giảm thù lao. Thực vậy, chế độ tự do mặc cả về thù lao không phù hợp với chế độ dịch vụ công, vì nếu theo chế độ tự do về lệ phí thì công chứng viên có quyền từ chối nhận văn bản khi thấy tiền thù lao nhận được từ văn bản đó không thỏa đáng. Ở một số nước mà công chứng viên có thể thương lượng hợp đồng với khách hàng, thì có thể nảy sinh
  • 29. 29 hiện tượng dùng tiền để móc ngoặc với nhau, điều này cũng hoàn toàn trái với dịch vụ công. Công chứng viên không chỉ là người có đủ tinh thông về kỹ thuật mà còn có sự thanh khiết về đạo đức. Trình độ tinh thông thể hiện ở chỗ, nhà thực hành phải biết đào tạo nghiệp vụ cơ bản, thường xuyên cập nhật và hoàn thiện những kiến thức pháp luật. Nhưng sự trong sáng về đạo đức còn quan trọng hơn nhiều, nó đòi hỏi ở công chứng viên không chỉ lòng trung thực mà cả thái độ công minh, vô tư, sự tôn trọng triệt để các bí mật được giao. Lòng can đảm để đảm nhận những trách nhiệm. Hiện nay ảnh hưởng của hệ thống công chứng la tinh trong thế giới hiện đại là khá lớn. Các quốc gia mang hệ thống pháp luật La tinh đã cùng nhau lập ra Liên đoàn công chứng La tinh quốc tế (UTNL), là một tổ chức phi chính phủ, được thành lập để cổ vũ, hợp tác và phát triển hoạt động công chứng trên phạm vi quốc tế, nhằm phối hợp chặt chẽ giữa công chứng viên của các nước thành viên, bảo đảm uy tín và tính độc lập, đem lại sự phục vụ tốt nhất cho các cá nhân và cộng đồng, liên đoàn là người đại diện cho sự thống nhất về ý chí và tổ chức của công chứng theo hệ La Tinh, đại diện cho các chuyên gia về hợp đồng, các nhà tư vấn độc lập và không thiên vị, những người thừa ủy quyền của Nhà nước đem lại cho các hợp đồng tính đích thực, sự an toàn pháp lý và quyền tự do giao kết. Tại Đại hội lần thứ nhất, khai mạc ngày 2/10/1948, liên đoàn được thành lập theo sáng kiến của ông Hôxenegri, Chủ tịch hội đồng công chứng thành phố Buenôt Airet – thủ đô của Argentima. Sau đó, Đại hội đồng của liên đoàn đã quyết định trụ sở của Liên đoàn đặt tại trụ sở của thành phố Nam Mỹ này. * Liên đoàn công chứng La tinh quốc tế đã đề ra các Mục tiêu hoạt động, các cơ quan của Liên đoàn: Khi mới thành lập, Liên đoàn chỉ có 20 nước tham gia, đến nay số thành viên đã lên tới 62 nước, trong số đó có 21 thành viên mới được kết nạp trong vòng 8 năm gần đây. Các nước thành viên chủ yếu tập trung ở Châu Âu, Châu
  • 30. 30 Mỹ La tinh, các nước thuộc địa cũ của Pháp ở Châu Phi. Riêng ở Bắc Mỹ chỉ có hai thành viên là vùng Quebec của Canada và bang Luisane của Hoa Kỳ; ở Châu Á có 3 nước tham gia là Nhật Bản, Trung Hoa và Thổ Nhĩ Kỳ. Đầu năm 1995, Ủy ban hợp tác quốc tế đã nhận và xét đơn gia nhập Liên đoàn công chứng quốc tế hệ La tinh của công chứng liên bang Nga, Estonia, Panama, Croatia, Ucraina, Ghinê, Trung Hoa. Một số nước đang trên đường tiến tới việc thiết lập lại hệ thống công chứng tự do như: Rumani, Bungari, Belaruxia, Mondova. Ở Châu Á, Ủy ban này đang có mối liên hệ và khích lệ công chứng các nước: Indoneisa, Lào, Việt Nam. Hội đồng thường trực đã quyết định tổ chức ở La Habana hai cuộc hội thảo từ 21 đến 25/3/1995 để bàn về việc công chứng Cuba sẽ tái nhập Liên đoàn sau gần 40 năm vắng bóng. Sự phát triển hùng mạnh của hệ thống công chứng La tinh được thể hiện qua những ưu điểm hiển nhiên của nó so với hệ thống Anglo-sacxon. Những ưu điểm đó được thấy rõ ở chỗ công chứng viên hoạt động với tư cách cá nhân về mặt tài chính, chịu trách nhiệm về hành vi công chứng đã thực hiện, họ hoạt động nhân danh nhà nước, phục vụ lợi ích công, tạo ra sự tin cậy và an toàn pháp lý cho các giao dịch, giảm đến mức thấp nhất những tranh chấp về hợp đồng đã công chứng. Phương châm ngành công chứng tự trang trải về mặt tài chính đã chẳng những trút bỏ được gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà ngược lại còn bổ sung cho ngân sách thông qua việc nộp một khối lượng thuế đáng kể của các công chứng viên và tạo điều kiện để Nhà nước thu một khối lượng thuế trước bạ rất lớn gắn liền với việc chuyển quyền sở hữu bất động sản. * Một số ví dụ điển hình công chứng hệ la tinh - Quy chế công chứng viên ở Cộng hoà Pháp: Ở Pháp, công chứng là một nghề đã có từ thế kỷ XII, nó trải qua sự thăng trầm của nhiều chế độ khác nhau, qua nhiều cuộc cách mạng và chiến tranh. Năm 1803, chính thể Bonaperte đã cho ra đời luật VENTOSE, đây là đạo luật đầu tiên của Pháp về tổ chức và hoạt động mang tính kỹ thuật cao mà một số
  • 31. 31 điều khoản cơ bản của nó vẫn còn có hiệu lực đến ngày nay. Sau đó, Luật này được sửa đổi bổ sung bằng Pháp lệnh cải cách công chứng năm 1945 và nhiều pháp lệnh khác. Công chứng chiếm vị trí hàng đầu trong số các nghề luật ở Pháp, doanh thu của ngành Công chứng đạt 27 tỷ FF mỗi năm chiếm khoảng 45% tổng số doanh thu của các nghề luật ( luật sư, tư vấn, thừa phát lại, bán đấu giá ...). Hiện có hơn 7.800 công chứng viên, trong đó có khoảng 1.200 công chứng viên nữ, sử dụng hơn 43.000 nhân viên nghĩa là có tất cả trên 51.000 người làm việc trong ngành công chứng so với 32.000 trong ngành luật sư và 17.000 trong ngành tư vấn pháp luật. Có khoảng gần 4.550 phòng công chứng được phân bố trên khắp lãnh thổ và gần 60% công chứng hành nghề trong các hiệp hội nghề nghiệp dân sự. Hoạt động công chứng chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên từ nhiều năm nay, nó phát triển khá mạnh trong lĩnh vực luật kinh doanh, tư vấn pháp luật. Phạm vi hoạt động của công chứng viên Ở Cộng hoà Pháp, pháp luật chỉ quy định có tính nguyên tắc về phạm vi các việc công chứng, để từ đó công chứng viên bằng sự tinh vi, sáng suốt và nội tâm nghề nghiệp mà chấp nhận thực hiện hoặc từ chối mỗi yêu cầu của khách hàng (xác định mục đích có trái pháp luật, trái với tập quán tốt lành và gây hại cho người thứ ba hoặc cho cộng đồng, cho nhà nước hay không). Bốn lĩnh vực bao trùm hoạt động công chứng của công chứng viên tại Pháp là: - Lĩnh vực gia đình (mọi vấn đề liên quan đến gia sản - công chứng viên xác nhận quyền sở hữu hoặc quản lý tài sản (nhà, đất, máy móc thiết bị, định giá tài sản, kê khai, thu nhập …, hoặc định đoạt tài sản)). Lập hôn ước, thay đổi chế độ tài sản trong hôn nhân, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc sau khi chết. Công chứng viên đưa ra lời khuyên về cơ chế quản lý tài sản, đồng thời là người trọng tài trung gian hỗ trợ cho nhiều chủ đề khác nhau trong luật gia
  • 32. 32 đình và thừa kế. Ngoài ra, công chứng viên còn có vai trò giải quyết những vấn đề pháp lý khác nhau như công nhận con ngoài giá thú, con nuôi, đỡ đầu … - Lĩnh vực bất động sản (quan trọng thứ hai của ngành công chứng): Công chứng viên được khách hàng yêu cầu ở mọi mức độ của hoạt động về bất động sản (xây dựng, mua bán đất đai, công chứng viên tạo nên căn cứ về sở hữu, làm môi giới để người mua và người bán gặp nhau, lập hợp đồng mua bán thông qua tín dụng. Ngoài ra, công chứng viên còn tham gia vào việc quản lý bất động sản, họ chỉ dẫn cho đương sự biết về trị giá của đất đai và nhà cửa thông qua những chuyên gia giám định theo mặt bằng giá thị trường. - Trong lĩnh vực kinh doanh: Công chứng bắt buộc chứng nhận khai vốn để thành lập công ty. Ngoài ra công chứng viên còn làm các việc: chứng nhận việc thành lập các tổ chức xã hội, lập hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại, hợp đồng cho thuê, tăng vốn điều lệ, nhượng vốn kinh doanh, giải thể một công ty,… tư vấn cho đại hội đồng công ty, lập biên bản cuộc họp. - Trong lĩnh vực tư vấn: Tư vấn pháp luật, đưa ra lời khuyên vô tư cho các bên và làm cho các bên hiểu rõ ý nghĩa và hậu quả pháp lý của hợp đồng. Quy định về tiêu chuẩn Công chứng viên tại CH Pháp Công chứng viên ở Pháp vừa là viên chức hoạt động nhân danh Nhà nước, vừa là thành viên của nghề tự do, có nghĩa là người làm dịch vụ, người tư vấn đáng tin cậy của cá nhân, công ty và tổ chức. Công chứng viên là viên chức công có nhiệm vụ đem lại tính đích thực cho các văn bản và hợp đồng của cá nhân, tổ chức. Công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân và thực hiện chức năng của mình một cách độc lập trong khuôn khổ một nghề tự do. Tính hai mặt của chức năng công chứng là rất cơ bản: -Với tư cách là viên chức công (ủy viên công quyền), công chứng viên đem lại cho khách hàng một sự an toàn trong các quan hệ về hợp đồng, đem lại một tính đích thực cho các văn bản do mình lập, có giá trị như những văn bản do các công lại khác lập.
  • 33. 33 -Với tư cách là người làm nghề tự do, công chứng viên hoạt động bằng nguồn kinh phí tư nhân, thiết lập với khách hàng những quan hệ riêng và bảo đảm cho hoạt động của phòng công chứng có hiệu quả và sự đa dạng hóa hoạt động của mình. Khái niệm viên chức công đã được xác định ở Điều 1 Pháp lệnh ngày 2 tháng 9 năm 1995, lấy lại gần như nguyên văn định nghĩa trong Luật 25 Ventose năm 1803: Công chứng viên là viên chức công (officier public) được Nhà nước bổ nhiệm để lập văn bản và hợp đồng do pháp luật quy định phải công chứng hoặc do khách hàng tự nguyện yêu cầu, đem lại tính đích thực cho các văn bản và hợp đồng đó, có giá trị như văn bản của cơ quan công quyền để đảm bảo chính xác ngày tháng, năm, lưu trữ lâu dài và cấp các bản sao công chứng từ bản gốc. Với tư cách là người đem lại tính đích thực cho văn bản, đem lại một hiệu lực chấp hành riêng biệt, công chứng viên có nhiệm vụ rất nặng nề trong hệ thống các tổ chức hoạt động về luật pháp của Pháp. Công chứng viên là những người tư vấn cho các bên do luật quy định và các bên có nghĩa vụ tin tưởng vào công chứng viên. Công chứng viên không chỉ đem lại tính đích thực cho văn bản và hợp đồng, với niềm tin và căn cứ vững chắc, luật pháp đã giao cho họ một vai trò xứng đáng hơn, cao hơn cả, đó là vai trò của một người được coi là vô tư đáng tin cậy của các bên. Công chứng viên đóng vai trò của một người đã tuyên thệ với những lời thề rất thiêng liêng, cao thượng, nên không thể có những nghi ngờ về sự thiếu trung thực hoặc có những mờ ám trong giao kết. Công chứng viên đã phải đi sâu vào một quá trình làm việc căng thẳng, nặng nề để tránh những sai sót cho dù là nhỏ nhất. Do vậy, một văn bản công chứng khó có thể bị phản bác, trong khi đó những điều khoản của hợp đồng được ký dưới hình thức tư chứng thư dễ bị bác bỏ trước tòa. Quy hoạch công chứng viên tại CH Pháp Theo đề nghị của Hội đồng công chứng tối cao, Bộ trưởng Tư pháp quyết định những biện pháp để phân bố một cách hợp lý nhất các phòng công chứng,
  • 34. 34 phân bố công chứng viên theo vị trí địa lý và mật độ dân số và nhu cầu công chứng trong phạm vi toàn lãnh thổ. Việc thành lập, di chuyển, xóa bỏ một phòng công chứng, việc thành lập, thay đổi hoặc xóa bỏ một chi nhánh của phòng công chứng, việc chỉ định nơi đặt trụ sở của phòng công chứng hoặc chi nhánh đều phải được công bố bằng quyết định của Chưởng ấn – Bộ tư pháp. Bổ nhiệm công chứng viên tại CH Pháp Theo quy định của Điều 41 Sắc lệnh ngày 5/7/1973, Chưởng ấn – Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên bằng Quyết định đăng trên công báo. Trong thực tế, một người đã có bằng hành nghề công chứng và có đủ các điều kiện khác do luật yêu cầu, song họ chưa thể được Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên một cách dễ dàng và nhanh chóng khác hẳn với một số nghề tư nhân khác (luật sư, kiểm toán, bác sỹ, dược sỹ…) Một mặt, do số lượng phòng công chứng rất hạn chế, mặt khác do yêu cầu tuyển chọn kỹ lưỡng và nghiêm ngặt, nên họ chỉ bổ nhiệm trong một số tình huống và Chưởng ấn –Bộ Tư pháp có vai trò quản lý Nhà nước rất quan trọng trong việc bổ nhiệm và phân bố công chứng viên. Đối với việc bổ nhiệm công chứng viên cho những phòng bị khuyết (do bị chết hoặc bị cách chức) hoặc do những phòng mới được thành lập thêm, thì Bộ trưởng Tư pháp chỉ có thể xem xét và bổ nhiệm sau khi đã có ý kiến của phòng quản lý công chứng cấp tỉnh và Hội đồng công chứng khu vực, và theo đề nghị của ban giám khảo kỳ thi tuyển công chứng viên.
  • 35. 35 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG CHỨNG Ở CỘNG HÒA PHÁP b/ Hệ thống Công chứng Anglo-Sacxon Hệ thống công chứng Anglo-Sacxon (hệ Anh - Mỹ) không thừa nhận thể chế công chứng, có nghĩa là không thừa nhận thể chế mà người lập văn bản, hợp đồng chuyên biệt được trang bị một quyền năng, thay mặt nhà nước và cho phép người đó đem lại tính xác thực cho những văn bản được chứng nhận. Chức năng công chứng ở các nước theo hệ thống này được giao cho các luật sư hoặc hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của giáo hội thực hiện theo phương thức kiêm nhiệm. Đó là những “công chứng viên” không chuyên biệt. Trước khi được bổ nhiệm làm công chứng viên, họ phải có thâm niên tối thiểu một số năm hành nghề luật sư thuộc Hiệp hội luật sư hoặc là hộ tịch viên hay cố vấn pháp lý của Giáo hội. Bộ Trƣởng tƣ pháp (Vụ quản lý các nghề Dân sự và con dấu (DACS) Hội đồng Công chứng tối cao Tòa Rộng quyền (85) Tòa Thƣợng thẩm (33) Hội đồng Công chứng khu vực (33) Phòng Q.L.C.C cấp tỉnh (85) Phòng công chứng có một công chứng viên Phòng công chứng có nhiều cổ đông
  • 36. 36 Mặt khác, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài. Các nước có thể chế công chứng theo mô hình này gồm: Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (trừ bang Louisane), Canada, (trừ bang Quebec), Ấn Độ, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan… Ở các nước theo hệ Anglo-Sacxon, quyền tự do thỏa thuận về tiền thù lao và sự giải quyết nhanh chóng công việc là ưu điểm trong việc tổ chức và hành nghề công chứng. Khi thực hiện công chứng, các luật sư và hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của Giáo hội chỉ công chứng về mặt hình thức như: nhận diện đúng khách hàng, ghi đúng ngày tháng, ghi lại một cách trung thành thỏa thuận của các bên và ý chí của từng bên. Họ không quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng, không cần biết thỏa thuận có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không, không chịu trách nhiệm nếu có điều khoản nào đó trong hợp đồng bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba. Trong hệ thống luật Anglo-Sacxon, khi soạn thảo hợp đồng, các bên gặp nhau, có sự trợ giúp của người tư vấn riêng của mình và khi có tranh chấp hoặc khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên yêu cầu sự can thiệp của thẩm phán. Những hợp đồng, văn bản được lập bởi những người kiêm thực hiện công chứng mang lại sự an toàn pháp lý thấp, không được coi là chứng cứ xác thực, hiển nhiên trước tòa án, tỷ lệ tranh chấp xảy ra nhiều hơn so với công chứng của các hệ thống khác. Theo số liệu chính thức được công bố trong một báo cáo mà Phó tổng thống Mỹ đã gửi cho Thượng Nghị viện năm 1999: trong 5 năm, số lượng các tranh chấp về hợp đồng tăng từ 25% đến 27% hàng năm. Còn ở Anh, cũng có tình trạng như vậy: trong 20 năm, số lượng các tranh chấp về bất động sản đã tăng từ 10% lên 30% và cuộc chiến về giá cả, sự phá giá giữa các luật sư và các chức danh khác kiêm nhiệm chức năng công chứng đã kéo theo những hậu quả
  • 37. 37 đặc biệt tai hại đối với chất lượng dịch vụ và là nguyên nhân làm phát sinh ngày càng nhiều tranh chấp. c/ Công chứng viên trong hệ thống công chứng Nhà nƣớc bao cấp Hệ thống công chứng nhà nước bao cấp (hệ colectiviste) là mô hình công chứng được tổ chưc khá chặt chẽ hoạt động chuyên nghiệp bằng sự bao cấp của nhà nước thông qua việc cấp ngân sách hành chính để hoạt động. Tổ chức công chứng là một loại hình cơ quan bổ trợ tư pháp trong bộ máy hành pháp của Chính phủ. Công chứng viên (và cả nhân viên nghiệp vụ hoặc thư ký công chứng) đều là công chức nhà nước, hưởng lương từ nguồn ngân sách quốc gia và được hưởng mọi chế độ chính sách như những công chức khác. Công chứng viên được bổ nhiệm để chứng nhận hợp đồng và văn bản, giúp đỡ pháp lý cho cá nhân, tổ chức, tạo ra sự an toàn pháp lý và sự tin cậy cho các giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật. Điển hình của hệ thống này là công chứng viên của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Hệ thống này phát triển mạnh nhất vào những năm 1970 đến 1989 bao gồm: công chứng Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri, Ru-ma-ni, Cu Ba, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam…Sau khi Liên Xô bị sụp đổ, hệ thống xã hội chũ nghĩa không còn, hệ thống công chứng này cũng dần dần bị thu hẹp và đi vào cải cách để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường. Trong hệ thống công chứng Nhà nước bao cấp, Nhà nước đảm bảo cơ sở vật chất của phòng công chứng như trụ sở, phương tiện, thiết bị văn phòng, kinh phí hoạt động bao gồm cả quỹ lương và nhà nước cũng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Các phòng công chứng đăt dưới sự quản lý song trùng trực thuộc: vừa đặt dưới sự quản lý nghiệp vụ, chuyên môn của Bộ Tư pháp, vừa đặt dưới sự quản lý của chính quyền địa phương. Cùng với các phòng công chứng chuyên trách, một số cơ quan hành chính được giao thực hiện kiêm nhiệm thêm một số việc công chứng đơn giản ở những
  • 38. 38 nơi tập trung dân cư nhưng chưa thành lập phòng công chứng . Mặt khác, môt số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài. Hoạt động công chứng của các nước theo hệ thống này mang tính kỹ thuật đơn giản, có nghĩa là công chứng viên chỉ là người thực hiện hành vi chứng nhận đơn giản, chứng nhận một văn bản chỉ chú trọng đến hình thức, tính hợp pháp của văn bản, căn cứ vào các giấy tờ do người yêu cầu xuất trình, hoặc nộp để nhận dạng, xác định năng lực hành vi dân sự, tình trạng pháp lý của tài sản và là người ghi chép vào sổ những sự kiện đã thực hiện, ít chú trọng đến việc tư vấn, xác minh. Công chứng ở nƣớc Cộng hòa Ba Lan - một ví dụ về Cải cách công chứng Ngày 25.04.1989, Nhà nước Ba Lan đã ban hành Luật số 176 về cải cách tổ chức và hoạt động công chứng. Đó là bước ngoặc lớn về sự phát triển của công chứng ở Ba Lan, quá độ chuyển đổi cơ chế từ hệ thống công chứng Nhà nước bao cấp, trong đó công chứng viên là công chức Nhà nước sang mô hình công chứng mới vừa tồn tại các phòng công chứng Nhà nước, vừa phát triển các phòng công chứng hành nghề tự do, theo khuôn mẫu của công chứng hệ La tinh. Việc cải cách này nhằm đáp ứng và theo kịp những yêu cầu và biến đổi của nền kinh tế thị trường mà theo đó, quyền sở hữu tư nhân được thừa nhận, quyền tự do kinh doanh của các cá nhân và pháp nhân được khẳng định và nhằm phục vụ chính sách mở cửa giao lưu quốc tế của Nhà nước Ba Lan. Về tổ chức và hoạt động, thì công chứng Ba Lan được đổi mới chiếu theo mô hình công chứng của Cộng hòa Pháp, Liên bang Đức, Argentina… tuy nhiên có tính đến những điều kiện riêng biệt mang màu sắc riêng của Ba Lan và một thực tế là đang tồn tại một số lượng đáng kể phòng công chứng Nhà nước và một đội ngũ công chứng viên là công chức Nhà nước. Mục tiêu quan trọng nhất của đạo luật này là tạo ra một hệ thống công chứng tư nhân, đồng thời sử dụng có hiệu quả số lượng phòng công chứng Nhà
  • 39. 39 nước hiện có để dần dần tư nhân hóa các cơ sở đó, chuyển công chứng viên Nhà nước thành công chứng viên hành nghề trong khuôn khổ một nghề tự do; nâng cao hiểu biết pháp luật và trình độ chuyên môn cho công chứng viên đang hành nghề và đổi mới phương thức đào tạo công chứng viên và thư ký công chứng theo những tiêu chuẩn quốc tế. Luật tổ chức công chứng của Ba Lan năm 1989 là kết quả của công tác nghiên cứu nghiêm túc, khẩn trương của nhiều luật gia, chuyên viên nghiên cứu, công chứng viên, thư ký công chứng dựa trên cơ sở và phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Dân sự mới, đồng thời tham khảo pháp luật công chứng, kinh nghiệm nghề nghiệp của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là công chứng của các nước có truyền thống lâu đời trong liên minh châu Âu. - Công chứng viên ở Ba Lan là những công chức công, song song tồn tại hai loại : + Công chứng viên Nhà nước (notaire – fonctionnaire) Đó là những viên chức được bổ nhiệm từ trước năm 1989 đang làm việc tại trụ sở các phòng công chứng Nhà nước, họ được Nhà nước trả lương từ nguồn ngân sách Nhà nước và hoạt động được bảo đảm bằng cơ sở vật chất (trụ sở, phương tiện) và kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp. Toàn bộ lệ phí thu được đều nộp vào ngân sách Nhà nước. + Công chứng viên tư nhân (notaire privé) Đó là những người mới được bổ nhiệm hoặc là những người được chuyển từ công chứng viên Nhà nước; họ có trụ sở riêng, tài khoản và kinh phí hoạt động riêng; họ là chủ quản lý phòng công chứng, họ thu lệ phí theo bảng giá do Nhà nước ấn định và nộp các khoản thuế theo quy định của luật thuế hiện hành. * Những người hội đủ những điều kiện sau đây có thể được Bộ trưởng Tư pháp bổ nhiệm làm công chứng viên: (1) Có quốc tịch Ba Lan; (2) Có bằng cử nhân luật; (3) Đã tham gia công tác công chứng;
  • 40. 40 (4) Có tư cách, phẩm chất, đạo đức tốt; (5) Thi đỗ kỳ thi tuyển công chứng; (6) Cam kết sẽ tự giác thực hiện mọi trách nhiệm bồi thường thiệt hại; (7) Đã là công chứng viên tập sự ít nhất một năm; (8) Có đủ 26 tuổi đời. Phạm vi hoạt động công chứng của công chứng viên tại Ba Lan: Luật số 176 đã quy định 8 nhóm việc công chứng mà cơ bản trong các luật trước đã quy định: (1) Soạn thảo và chứng nhận các hợp đồng; (2) Thực hiện việc thị thực các giấy tờ và hành vi pháp lý; (3) Lập biên bản các sự kiện; (4) Chứng nhận ngân phiếu, thương phiếu; (5) Nhận quản giữ các giấy tờ tài liệu; (6) Cấp các bản sao công chứng; (7) Thảo đơn từ cho các bên khách hàng; (8) Các việc công chứng khác do pháp luật quy định. Như vậy, về nguyên tắc thì công chứng viên Ba Lan có nhiệm vụ chứng nhận các hợp đồng, các hành vi công chứng mà pháp luật quy định buộc phải công chứng, đồng thời chứng nhận những hành vi công chứng tuy pháp luật không bắt buộc nhưng do khách hàng tự nguyện yêu cầu. Tuy nhiên, công chứng viên có quyền từ chối công chứng khi nhận thấy yêu cầu công chứng trái pháp luật hoặc trái với thuần phong mỹ tục. Riêng đối với các hành vi thị thực, pháp luật đã quy định một số việc thường gặp: (1) Thị thực chữ ký; (2) Thị thực bản sao từ bản chính; (3) Thụ thực ngày xuất trình giấy tờ; (4) Thị thực sự trình diện hoặc nơi ở của khách hàng.
  • 41. 41 Song song với việc thị thực của các công chứng viên, Chính phủ có thể ủy quyền cho một số cơ quan hành chính và ngân hàng (ở những nơi chưa có phòng công chứng) để thực hiện một số hành vi thị thực nêu trên. * Những đặc trưng và ưu điểm của hệ thống công chứng Latinh: Thông qua việc nghiên cứu công chứng của hệ thống công chứng La tinh trong đó có một điển hình là công chứng Pháp, chúng ta có thể rút ra một số nét đặc trưng và những ưu điểm của hệ thống công chứng này như sau : - Công chứng trong khuôn khổ một nghề tự do được thể hiện rõ trong việc thực hiện chức năng mang tính công thông qua quyền tự do tổ chức hoạt động trong nội bộ phòng công chứng, trong việc chi trả tiền công tính theo lao động; Trong khả năng cạnh tranh lành mạnh, không cần phô trương, quảng cáo một khái niệm về độc quyền và quyền tự do lựa chọn khách hàng; trong sự phát triển chính đáng từ nguồn khách hàng thường xuyên và nhất là trong trách nhiệm cá nhân của công chứng viên đối với hành vi công chứng do mình thực hiện được hỗ trợ bằng quỹ bồi thường trách nhiệm của toàn ngành công chứng. - Công chứng viên là viên chức được Nhà nước trao cho một phần quyền năng để lập các văn bản, hợp đồng trong sự tiến triển của các hợp đồng pháp luật, kinh tế và xã hội mà theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện của khách hàng muốn đem lại cho các văn bản và hợp đồng đó một tính đích thực có giá trị như văn bản do các cơ quan công quyền khác cấp, hạn chế được đến mức thấp nhất những tranh chấp dân sự, làm giảm bớt gánh nặng quá tải về xét xử của các Tòa án. - Công chứng viên là những nhà pháp luật gần gũi nhất với cuộc sống. Sứ mệnh của họ là giúp mọi người lựa chọn và định đoạt tài sản của mình theo cách hợp lý nhất, đồng thời họ cũng là những người tư vấn vô tư nhất cho các cá nhân và các chủ thể kinh tế khác trong lĩnh vực kinh doanh và bảo hộ tài sản và các quyền về tài sản. - Công chứng viên là người có đủ tinh thông về kỹ thuật và sự thanh khiết về đạo đức. Trình độ tinh thông thể hiện ở chỗ nhà thực hành phải biết tự đào tạo
  • 42. 42 nghiệp vụ cơ bản, thường xuyên cập nhật và hoàn thiện những kiến thức pháp luật. Nhưng sự trong sáng về đạo đức còn quan trọng hơn nhiều, nó đòi hỏi ở công chứng viên không chỉ lòng trung thành mà cả thái độ công minh, sự tôn trọng triệt để các bí mật được giao, lòng can đảm để đảm nhận những trách nhiệm. - Trong một thế giới ngày càng văn minh, khi mà các quan hệ xã hội được pháp luật bảo hộ bằng những quy định rất chi tiết, trong một đất nước tự do nơi mà các cá nhân, tổ chức luôn luôn có nhu cầu được Nhà nước bảo vệ, trong một môi trường luôn biến động nơi mà an toàn pháp lý trở thành vấn đề cấp thiết, thì ngành công chứng phải đóng một vai trò trọng yếu trong số các ngành của luật tư pháp. - Ở Cộng hòa Ba Lan và một số nước xã hội chủ nghĩa cũ khác, công chứng đã và đang được thay đổi từ hệ thống công chứng Nhà nước bao cấp thành công chứng hoạt động tự do theo khuôn mẫu La tinh. Sự chuyển đổi này là một tất yếu trong xu thế phát triển của kinh tế thị trường, để phù hợp với sự tiến triển của những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật, sau sự xuất hiện của một loạt quan hệ theo Bộ luật Dân sự, gắn liền với việc thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về tài sản. - Phạm vi hoạt động của công chứng ở các nước mới được cải cách, dần dần bị thu hẹp đối với các hành vi thị thực. Tuy nhiên, hoạt động công chứng tập trung và phát triển trong đời sống các hợp đồng dân sự, đặc biệt là những giao dịch liên quan đến việc bảo vệ, chuyển quyền sở hữu tài sản và tư vấn pháp luật. - Sự gia nhập Liên đoàn công chứng quốc tế hệ La tinh của công chứng Ba Lan và một số nước xã hội chủ nghĩa cũ đã làm tăng sức mạnh của Liên đoàn, bổ sung vào pháp điển hóa luật công chứng, làm giàu thêm kho tàng và kinh nghiệm nghề nghiệp, thúc đẩy quá trình hòa nhập với kinh tế thế giới. - Sự phát triển hùng mạnh của hệ thống công chứng La tinh được thể hiện qua những ưu điểm hiển nhiên của nó so với hệ thống công chứng Anglo- sacxon và hệ thống công chứng Nhà nước bao cấp. Những ưu điểm đó được thấy rõ nhất ở chỗ công chứng viên trong hoạt động với tư cách cá nhân về mặt tài chính, chịu trách nhiệm cá nhân bằng tài sản của chính mình về hành vi công
  • 43. 43 chứng đã thực hiện, họ vẫn hoạt động nhân danh Nhà nước, chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan Nhà nước và phục vụ lợi ích công. - Trong xu thế phát triển mới của thế giới, một số nước thuộc địa cũ của Pháp sau khi giành được độc lập đã cải cách kinh tế, và theo đó đã tổ chức lại hệ thống công chứng trên cơ sở cấu trúc do Pháp đã đặt nền móng và xây dựng từ đầu thế kỷ XIX. Mặc dù ở mỗi nước có sự khác nhau về chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội, pháp luật, trình độ dân trí và ý thức pháp luật của nhân dân, nhưng ở các nước đó vẫn có điểm chung nhất: công chứng viên là viên chức công - người được Nhà nước ủy quyền để thực hiện một quyền năng công chứng, hoạt động trong khuôn khổ một nghề tự do. - Phương châm ngành công chứng tự trang trải về mặt tài chính đã chẳng những trút bỏ được gánh nặng cho ngân sách Nhà nước mà ngược lại còn bổ sung cho ngân sách thông qua việc nộp một khối lượng thuế đáng kể của các công chứng. Như vậy, ở Ba Lan cũng như ở một số nước xã hội chủ nghĩa cũ khác, hoạt động công chứng dưới hình thức một nghề tự do là cách tốt nhất để tăng khối lượng và chất lượng phục vụ. - Thực tiễn áp dụng những cải cách mới về tổ chức và hoạt động công chứng ở một số nước xã hội chủ nghĩa cũ này chứng tỏ rằng sự phục hồi công chứng tự do đã nâng cao khả năng làm việc của công chứng, đáp ứng những yêu cầu bảo vệ lợi ích của các cá nhân và pháp nhân được ghi trong trong Hiến pháp. Nhiều công chứng viên đã có liên hệ với các nhà chuyên môn về luật và các thực tập sinh, trang bị hệ thống máy vi tính và những phương tiện làm việc hiện đại nâng cao khả năng đảm nhiệm công việc lên nhiều lần. - Việc chuyển từ mô hình công chứng Nhà nước sang mô hình công chứng tư nhân được thực hiện trên ba nguyên tắc: vừa bảo vệ được quyền và lợi ích của các chủ sở hữu, vừa hoàn thiện hoạt động chức năng của hệ thống công chứng và vừa phù hợp với tinh thần của luật công chứng quốc tế. - Những sửa đổi không làm nghiêm trọng thêm tình hình của các tầng lớp xã hội, đồng thời chú ý bảo vệ quyền tiếp tục làm việc của những công chứng
  • 44. 44 viên Nhà nước để dần dần chuyển họ thành công chứng viên tư nhân thực thụ. Ngoài ra, những quy định mới đều được kế thừa từ pháp luật công chứng Nhà nước và tôn trọng tính truyền thống, tập quán và ý thức pháp luật của nhân dân mỗi nước. Trong thời kỳ đầu chuyển đổi cơ chế, Nhà nước đã dành một khoản ngân sách để tu bổ và hỗ trợ giúp nâng cấp phòng công chứng Nhà nước có từ trước để dần dần tư nhân hóa những cơ sở đó thành những phòng công chứng tư nhân hoặc thành phòng công chứng của nhiều cổ đông. Công chứng ở những nước này đang phấn đấu để một tương lai không xa, có được một hệ thống công chứng theo đúng ý nghĩa đầy đủ của nó: đó là công chứng viên hoạt động trong khuôn khổ một nghề hoàn toàn tự do, với tư cách là viên chức công - người được Nhà nước giao cho một quyền năng, họ hoàn toàn độc lập khi thực hiện chức năng và chỉ biết tuân theo pháp luật. 1.2.2. Quá trình hình thành và phát triên công chứng viên trong các chế độ cũ ở Việt Nam 1.2.2.1. "Công chứng viên" thời kỳ phong kiến Việt Nam Trên thế giới, công chứng viên là một nghề đã có từ rất lâu đời. Còn ở Việt Nam, qua nghiên cứu lịch sử chúng ta có thể thấy rằng từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XVIII nếu xét về một số nội dung liên quan đến sở hữu tài sản thì đã thấy có manh nha hoạt động gần giống như hoạt động của công chứng viên ngày nay (tất nhiên với tên gọi khác). Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chỉ xét riêng về mặt luật lệ, qua nghiên cứu Lịch triều hiến chương loại chí, Cổ luật Việt Nam, Pháp chế sử Việt Nam [55], [101] chưa thấy xuất hiện thuật ngữ công chứng giống như lịch sử cổ đại và phong kiến ở nhiều nước trên thế giới và do đó cũng không có khái niệm công chứng viên. Nhưng dựa trên những văn kiện, những sự kiện xảy ra trên thực tế lịch sử, một số tác giả nghiên cứu cho rằng loại hình công chứng là việc lập các công chứng thư bởi các viên chức nhà nước, nó có hiệu lực pháp lý ngay để thực hiện, phân biệt với những người lập "tư chứng thư" của những người hành nghề làm chứng tự do hoàn toàn mà giá trị văn bản của họ chỉ có thể được các cơ quan, quan lại, viên chức nhà nước tham khảo khi
  • 45. 45 xảy ra các vụ kiện tụng mà thôi. [3], [103, tr. 95]. Điều này đã rất đúng so với trên thực tiễn. Tuy vậy, nếu xét về lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước phong kiến ở Việt Nam thì thấy đã có manh nha về hoạt động công chứng. Dưới thời Lê, di chúc được làm dưới dạng một tài liệu được gọi là chúc thư. Để có giá trị, chúc thư phải được lập thành văn bản có hình thức nhất định, nếu người làm chúc thư không biết chữ thì chúc thư cần phải được xã trưởng viết hộ và chứng thực nhằm ngăn ngừa khả năng gian lận có thể xảy ra đối với chúc thư bởi người thứ ba. Pháp luật thời kỳ này cũng đã quy định việc xử phạt đối với việc làm giả mạo giấy tờ [57], [58]. Trong các văn tự mua, bán, cầm cố ruộng đất, nhà cửa cũng được quy định phải có chứng nhận của xã trưởng - mà xét về mặt dân sự đây chính là một dạng thức công chứng. Qua nghiên cứu lịch sử chúng ta có cơ sở khẳng định, Việt Nam là một quốc gia có các quy định của pháp luật phát triển không ngừng [53]. Có hệ thống pháp luật tiến bộ tương đương về chức năng so với những quan niệm pháp luật phương tây cận đại [117]. Thật vậy, ngay từ trong thực tế lịch sử thời kỳ phong kiến nước ta cũng vậy. Một mặt, nhà nước vẫn khuyến khích nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu (loại hoạt động này chúng ta đều biết đã xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay), ví dụ: trong "Quốc triều thư khế" (Thể thức giấy tờ, khế ước dùng trong triều) như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng đất, văn ước vay nợ, giấy giao kèo, văn ước bán trâu, bò... đều quy định người chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải điểm chỉ vào văn tự [69, tr. 61], [70], [78]. Nhưng mặt khác, trong các giao dịch nói trên của nhân dân, những giao dịch nào quan trọng thì nhà nước đó vẫn đòi hỏi phải có sự thị thực (bản chất như công chứng) của những viên chức nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện (bản chất giống như công chứng viên bây giờ). Ví dụ như trong bộ luật "Hoàng Việt Luật lệ" (thời vua Gia Long nhà Nguyễn, 1944 ), phần Hộ luật, Điều thứ 521 đã ghi: "Những khoản-ước về việc di-chuyển bất-động-sản, về việc lưu-chuyển hay lập ra những vật-quyền về bất-động-sản, thời phải có viên-chức thị-thực để đăng-ký và sổ bảo-tồn điền-trạch mới có giá trị", Ngoài ra, cũng
  • 46. 46 trong bộ luật này cũng có rất nhiều điều quy định các giao dịch quan trọng trong dân chúng đều phải có thị thực bởi viên chức nhà nước được giao quyền thì mới được luật pháp công nhận. Mà trong lịch sử, tinh thần của Bộ luật này là do quan lại nhà Nguyễn vận dụng từ thời "Quốc triều hình luật" và "Quốc triều thư khế" có sửa đổi để ban hành. [53, tr. 21]. Như vậy, tuy thời kỳ phong kiến nước ta chưa có chế định (quy chế) công chứng viên một cách rõ ràng nhưng về mặt lý luận thì đã có những quy định cơ bản về quy chế này, ví dụ: Những người thực hiện công chứng (tương đương công chứng viên) phải là viên chức nhà nước (quan, lại). 1.2.2.2. Công chứng viên Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc Đến thời kỳ Pháp thuộc, sau Hòa ước Giáp thân ngày 06/06/1884 được ký kết với Pháp. Nước Việt Nam mất hẳn tính cách một quốc gia độc lập về phương diện pháp lý, vì đã trở thành một nước dưới sự bảo hộ của Pháp quốc. Thời kỳ này công chứng với tư cách là thể chế bắt đầu xuất hiện và được áp dụng ở Việt Nam cùng với sự thành lập tổ chức và hoạt động của Tòa án Pháp tại Việt Nam, mô hình công chứng được tổ chức theo mô hình công chứng của Pháp [3], [89]. Và cũng từ đó, tên gọi công chứng viên và các quy chế về công chứng viên bắt đầu chính thức xuất hiện ở nước ta. Tổ chức và hoạt động công chứng trong giai đoạn này được xác lập bằng Sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7/10/1931 của viên toàn quyền Đông Dương. Ở Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng tại Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn, ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng thì các việc công chứng do chánh lục sự Tòa án sơ thẩm kiêm nhiệm. Có thể coi đây là văn bản pháp lý đầu tiên làm cơ sở cho việc thiết lập hệ thống công chứng ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc. Tổ chức và hoạt động công chứng ở các nước thuộc địa của Pháp chịu sự chi phối bởi pháp luật công chứng của Pháp. Chưởng ấn Bộ trưởng Tư pháp, bổ nhiệm công chứng viên, thành lập văn phòng công chứng, giám sát hoạt động nghề nghiệp của công chứng viên. Hội đồng công chứng tối cao được đặt bên
  • 47. 47 cạnh Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm quản lý điều hành hội đồng công chứng các khu vực. Hội đồng công chứng các khu vực chịu sự giám sát của Tòa thượng thẩm. Ở các nước thuộc địa không có văn phòng quản lý công chứng cấp tỉnh, mà chỉ có một số thành phố lớn có văn phòng công chứng của các công chứng viên do tổng thống Pháp bổ nhiệm, công chứng viên là người Pháp. Mô hình công chứng được thiết lập theo mô hình công chứng hệ La tinh, công chứng viên đứng ra tổ chức và điều hành mọi hoạt động của văn phòng công chứng và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi công chứng của mình gây ra. Công chứng viên cuối cùng người Pháp tại Việt Nam là ông DEROCHE, là công chứng viên người Pháp tại văn phòng công chứng ở Hà Nội. 1.2.2.3. Công chứng viên thời kỳ Miền Nam Việt Nam Ở miền Nam Việt Nam, sau Hiệp định Giơnevơ 1954, ngày 29/11/1954 Bảo Đại ký Dụ số 43 quy định thể thế chưởng khế, chưởng khế là người Việt Nam, là viên chức hưởng lương chưởng khế (thể chế công chứng nhà nước). Quốc gia chịu trách nhiệm dân sự về lỗi do chưởng khế phạm phải khi hành sự, hoặc những công việc họ được phó thác vì chức vụ chưởng khế [111]. Ở Sài Gòn trước 1975 còn tồn tại 1 Phòng chưởng khế, các văn bản được công chứng, thị thực bởi chưởng khế của Phòng chưởng khế này. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Công chứng là một nghề đã có từ hàng ngàn năm. Công chứng viên và quy chế công chứng viên là một chế định rất quan trọng và là một tất yếu khách quan không thể thiếu hệ thống pháp luật và trong lòng xã hội. Ở Việt Nam, qua nghiên cứu lịch sử chúng tôi thấy rằng từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XVIII nếu xét về khía cạnh quản lý của nhà nước phong kiến đương thời đối với các giao dịch dân sự đã thấy có manh nha quy định về hoạt động công chứng, nhất là thể chế công chứng được hình thành từ thời Pháp thuộc càng cho thấy việc phát triển lý luận về công chứng viên và quy chế công chứng viên là khía cạnh khoa học đã có từ lâu đời và rất cần được phát triển trong tương lai.
  • 48. 48 Chƣơng 2 QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN THEO PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƢỚC VIỆT NAM (TỨC TỪ 1945 ĐẾN NAY, KHÔNG TÍNH ĐẾN CHẾ ĐỘ NGUỴ QUYỀN MIỀN NAM) (A) 2.1. Quy định của pháp luật về công chứng viên trƣớc khi có Luật Công chứng 2.1.1.Quyđịnhcủaphápluậtvềcôngchứngviêntronggiaiđoạn1945-1975 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 1/10/1945, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Nghị định bãi chức công chứng viên của ông DEROCHE là công chứng viên người Pháp tại văn phòng công chứng ở Hà Nội, đồng thời bổ nhiệm ông Vũ Quý Vỹ người mang Quốc tịch Việt Nam làm công chứng viên tại Hà Nội. Trong Nghị định này quy định: Các luật lệ cũ về công chứng vẫn được thi hành, trừ những điều khoản không phù hợp với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Việt Nam. Tại Điều 5 nghị định nói trên quy định: "Ông Vũ Quý Vỹ phải ký quỹ một số tiền bảo đảm như viên công chứng cũ hoặc có thể lấy bất động sản bảo đảm thay vào số tiền đó...". (Tức là ngay tại thời điểm đầu tiên của công chứng Việt Nam này, công chứng viên đã phải tự cam kết bảo đảm cho việc hành nghề công chứng của mình bằng chính tài sản của mình). Như vậy có thể nói rằng, đây là công chứng viên và cũng là tổ chức công chứng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tổ chức công chứng lúc này mang đậm dấu ấn của công chứng Pháp. Các nguyên tắc, quy chế hoạt động công chứng vẫn như cũ, trừ những quy định trái với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa của nước ta lúc bấy giờ. Lần đầu tiên, bằng một văn bản pháp luật Nhà nước ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ "công chứng viên" và tổ chức hoạt động với danh nghĩa là một tổ chức công chứng. Nhưng do điều kiện hoàn cảnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lúc bấy giờ nên văn phòng công chứng nói trên hoạt động không có hiệu quả,
  • 49. 49 hơn nữa nó chỉ có thể thực hiện trong phạm vi rất nhỏ là nội thành Hà Nội, trong khi đó cả nước lại vẫn đang trong thời kỳ kháng chiến toàn quốc. Trước tình hình đó, ngày 15/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời ký ban hành Sắc lệnh số 59/SL ấn định “Thể lệ về thị thực các giấy tờ". Nhưng xét cả về nội dung, thủ tục, thẩm quyền thì việc thị thực này chỉ là thủ tục hành chính, trong đó kể cả các khế ước chuyển dịch quyền sở hữu bất động sản. Cụ thể: "Điều thứ 1: Trong các làng, quyền Thị thực các giấy tờ, trước do hương chức trong làng thi hành, nay thuộc Uỷ ban nhân dân của làng. Ở các Thành phố, quyền thị thực trước do Trưởng phố hay Hộ phố thi hành, nay cũng thuộc về Uỷ ban Nhân dân hàng phố. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân sẽ phụ trách việc thị thực này, và phải đề cử một hay là hai Uỷ viên để thay mình khi vắng mặt, hoặc khi chính mình là người đương sự có giấy cần đem thị thực, hoặc khi người đương sự đối với mình có thân thuộc về Trực hệ như cha mẹ, ông bà, vân v.v...hay bằng hệ bằng vai, chú bác, cô dì, anh em ruột và anh em thúc bá, hay là đối với mình là bố mẹ nuôi hay Con nuôi. Riêng ở các thành phố, chữ thị thực của Uỷ ban các phố phải có thêm Uỷ ban nhân dân Thị xã Chứng nhận. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã sẽ phụ trách việc chứng nhận này, hoặc cử một uỷ viên phụ trách thay mình. Điều thứ 2: Các Uỷ ban có quyền thị thực tất cả các giấy mà trong địa phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về Quốc tịch nào. Tuy nhiên, Uỷ ban thị thực phải là Uỷ ban ở Trú quán một bên đương sự lập ước, và việc Bất động sản phải là Uỷ ban ở nơi sở tại bất động sản. Nếu có nhiều bất động sản ở nhiều nơi khác nhau, thì giấy tờ làm ra về những bất động sản ấy phải do Uỷ ban mỗi nơi thị thực." Hơn nữa, tại Điều 3 Sắc lệnh 59/SL (15/11/1945) nêu rõ: "Các Ủy ban thị thực phải chịu trách nhiệm về việc thị thực và không đúng về căn cứ của đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố.
  • 50. 50 Nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ của làng hay của hàng phố phải bồi thường" [28]. Việc thị thực được thu một khoản lệ phí theo tỷ lệ 0,1% đến 1% theo giá bất động sản ghi trong khế ước hoặc 1 đồng đối với nhất loạt các khế ước khác. Việc thị thực theo Sắc lệnh 59/SL càng về sau này càng mang tính hình thức, chủ yếu là xác nhận thời gian, địa điểm, chữ ký của đương sự [28]. Ngày 29/2/1952 Chính phủ ban hành Sắc lệnh 85/SL về "các việc mua bán cho, đổi nhà cửa, ruộng đất" [29], (trong đó có “thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất”). Theo thể lệ này Ủy ban kháng chiến hành chính (cấp xã) có thẩm quyền nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: Chữ ký của các bên mua bán cho đổi, người đứng ra bán, cho đổi là chủ những nhà cửa ruộng đất đem bán cho hay đổi. Cụ thể là: "Điều 3: Trước khi đem trước bạ, văn tự phải đưa Ủy ban kháng chiến hành chính xã hay thị xã nhận thực chữ ký của các người mua, bán, cho, nhận đổi và nhận thực những người bán, cho hay đổi là chủ những nhà cửa, ruộng đất đem bán, cho hay đổi. Việc nhận thực này không nộp một khoản tiền nào". Tuy thể lệ này chỉ được áp dụng ở vùng tự do hoặc ở những nơi vẫn duy trì được Ủy ban kháng chiến hành chính đến tận cấp xã. Còn ở thủ đô Hà Nội và các vùng tạm chiếm, thực dân Pháp đã dựng lên chính quyền tay sai và áp dụng luật lệ của chúng. Chính vì vậy mà tổ chức và hoạt động công chứng trong giai đoạn này không được chú trọng và trong suốt 37 năm (từ 1945 - 1981) cũng không có một văn bản pháp quy nào quy định về tổ chức và hoạt động công chứng của Nhà nước. Như vậy, hai Sắc lệnh nói trên là cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động thị thực của Ủy ban hành chính kháng chiến và sau này là Ủy ban nhân dân trong gần nửa thế kỷ. Và có thể hình dung, trong thời gian đó, mọi công việc có tính chất công chứng đều do Ủy ban nhân dân cấp cơ sở thực hiện theo hình thức thị thực, chứng thực. Trong đó, những người thực hiện việc thị thực, chứng thực các
  • 51. 51 giấy tờ là các Uỷ viên uỷ ban, nhưng ít nhiều chúng ta cũng đã thấy bóng dáng phần nào quy chế quy định về việc công chứng và những người thực hiện việc công chứng trong giai đoạn này (ví dụ: phải là uỷ viên uỷ ban hành chính, uỷ viên thư ký, hoặc không được chứng thực (công chứng) cho những người "thân thuộc về trực hệ như cha mẹ, ông bà, vân v.v...hay bằng hệ bằng vai, chú bác, cô dì, anh em ruột và anh em thúc bá, hay là đối với mình là bố mẹ nuôi hay con nuôi"..., hay "phải chịu trách nhiệm về việc thị thực và không đúng về căn cứ của đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố. Nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ của làng hay của hàng phố phải bồi thường"... (dù phải chịu trách nhiệm tập thể: là Uỷ ban)... Nguyên nhân của tổ chức và hoạt động công chứng không được phát triển trong giai đoạn này là: Một mặt là do điều kiện kinh tế, xã hội, cũng như hoàn cảnh chiến tranh của nước ta trong thời kỳ này; mặt khác chúng ta không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể. Vì vậy tổ chức công chứng không được thành lập, giai đoạn này hoạt động công chứng rất đơn giản là ít phải chứng thực các quan hệ thuộc sở hữu tư nhân. Mọi giao lưu kinh tế dân sự đều dựa trên quan hệ hành chính, sản phẩm xã hội mang tính hàng hóa, các giao lưu dân sự thương mại hầu như không phát triển. Do đó trong xã hội không có nhu cầu phải thiết lập một thể chế công chứng. Như vậy, theo Sắc lệnh 59/SL (15/11/1945) thì hoạt động công chứng trong thời gian này do các uỷ viên của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện thực hiện và Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện phải chịu trách nhiệm tập thể về việc thị thực không đúng. Vấn đề hết sức quan trọng về mặt lý luận cần thấy rằng, do điều kiện lịch sử của nước ta trong thời điểm này, việc giao cho các uỷ viên Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã thực hiện các việc công chứng là một nhu cầu tất yếu, khách quan. Cùng với việc xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, xác lập lại các quan hệ sở hữu, nhất là việc quốc hữu hóa đất đai, tịch thu tài sản của địa chủ phong kiến chia cho dân nghèo, thực hiện các chính sách về ruộng đất.
  • 52. 52 Việc giao cho các văn phòng công chứng tổ chức theo mô hình của Pháp là một điều không tưởng trong thời khắc lịch sử này. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 59/SL (15/11/1945) là một giải pháp hợp lý đối với việc mua bán, cho, đổi ruộng đất, thị thực, cầm cố bất động sản. Còn nguyên nhân về tổ chức và hoạt động công chứng không phát triển như vừa nêu trên cũng là một thực tế khách quan của điều kiện kinh tế, xã hội và từ đó đã xuất hiện một giải pháp đúng đắn về việc xác thực các hoạt động giao dịch trong điều kiện lịch sử của một nhà nước nhất định. Tổ chức và hoạt động công chứng chuyên trách lúc này đã được chuyển sang hoạt động kiêm nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã và vẫn hoạt động để đáp ứng được nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước ta là xác lập lại quan hệ sở hữu. Tuy nhiên, việc chúng ta áp dụng mô hình tổ chức và thực hiện công chứng theo Sắc lệnh SL/59 trong một thời kỳ quá dài của nền quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay cũng là một vấn đề cần phải được giải quyết. Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây nói chung và ở nước ta nói riêng, đã chịu ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng duy ý chí, nhất là việc chuyển giao nhiều chức năng quản lý kinh tế của nhà nước cho các thiết chế xã hội và tập thể một cách thiếu tính toán. Vì vậy, hậu quả là rất nghèo các đòn bẩy và cơ chế quản lý hành chính, rất thiếu các thủ tục thể hiện vai trò kiểm soát kinh tế có hiệu quả của nhà nước, không đủ các thủ tục tài phán hành chính để điều hòa đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, chúng ta phải trả giá cho việc chủ quan duy ý chí, bảo thủ trì trệ. Chúng ta đã không nhìn nhận và đánh giá khách quan, kìm hãm sự phát triển của các thành phần kinh tế phi nhà nước, từ đó dẫn tới một loạt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không phù hợp với thực tế cuộc sống. Cơ chế quản lý tập trung bao cấp ở miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh vẫn được duy trì trong một thời gian quá dài đã làm suy giảm nghiêm trọng hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Từ sau năm 1954 kéo dài đến cuối những năm 70, Nhà nước ta thiết lập một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bằng cách phát
  • 53. 53 triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Điểm nổi bật của thời kỳ này tuy vẫn thừa nhận tồn tại bốn loại hình sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư sản dân tộc. Nhà nước chủ trương đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với mục tiêu nhanh chóng xóa bỏ các hình thức phi sở hữu xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ này các hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện theo kế hoạch của Nhà nước, các giao lưu dân sự không có điều kiện phát triển - đây chính là lý do làm cho hoạt động công chứng không có cơ sở tồn tại. 2.1.2. Quy định của pháp luật về công chứng viên sau năm 1976 (của nước CHXHCN Việt Nam) 2.1.2.1. Công chứng viên theo hoạt động công chứng Nhà nước từ 1976 - 1991 Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, hai miền Bắc, Nam chung về một mối, đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam, toàn bộ đất nước chỉ có chung một hệ thống pháp luật sau kỳ họp quốc hội thống nhất năm 1976. Tuy nhiên do hoàn cảnh đặc thù của đất nước mới thống nhất, toàn bộ hệ thống pháp luật lúc đó chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nhằm thống nhất và ổn định về hệ thống chính trị, bộ máy quản lý nhà nước, quản lý và phát triển nền kinh tế sau một thời gian dài chiến tranh. Do vậy, những năm đầu thống nhất các quy định về công chứng viên và chế định về công chứng vẫn áp dụng theo những quy định trước đó. Cho mãi đến năm 1981, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, căn cứ vào các quy định tại nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức tư pháp, ngay sau khi bắt đầu công cuộc đổi mới, hoạt động công chứng ở Việt Nam đã được triển khai, ngày 10/10/1987 Bộ Tư pháp đã ra thông tư số 574/QLTPK về công chứng Nhà nước. Công tác công chứng của ủy ban nhân dân các địa phương (do các Uỷ viên thư ký được uỷ quyền thực hiện) được cải tiến và nâng cao chất lượng, đồng thời thành lập phòng công chứng Nhà nước tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có
  • 54. 54 nhu cầu lớn về công chứng và có đủ điều kiện cần thiết. Cụ thể, tại Mục II của Thông tư nói trên thì: "Mục: II. Thành lập Phòng Công chứng nhà nước chuyên trách ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác có nhu cầu lớn về công chứng và có đủ điều kiện cần thiết. Phòng Công chứng nhà nước là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, có tư cách pháp nhân,có con dấu riêng in hình quốc huy. Công chứng viên và cán bộ khác của Phòng Công chứng nhà nước là người trong biên chế nhà nước. Công chứng viên phải là công dân Việt Nam có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao, công minh, liêm khiết, có trình độ đại học pháp lý và tương đương, đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ công chứng. Sở Tư pháp chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết và dự thảo kế hoạch thành lập Phòng Công chứng nhà nước báo cáo Bộ Tư pháp. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Bộ, Sở Tư pháp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập Phòng Công chứng nhà nước và công nhận danh sách công chứng viên. Mỗi Phòng Công chứng nhà nước bước đầu có từ 5 đến 7 người (kể cả công chứng viên và nhân viên phục vụ). Biên chế của Phòng này nằm trong tổng biên chế đã được quy định của tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương". Sau đó, chi tiết hơn, để hướng dẫn thực hiện một số việc theo thông tư 574/QLTPK nói trên, Bộ Tư pháp đã ban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK vào ngày 15-10-1987 với một số nội dung có liên quan như sau: "I. Những yêu cầu cơ bản đối với việc làm công chứng: 1. Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Khi thực hiện các việc làm công chứng, công chứng viên và những người được Uỷ ban nhân dân giao nhiệm vụ thực hiện các việc làm công chứng (dưới đây gọi chung là công chứng viên) phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật hiện hành, phải kiểm tra xem những yêu cầu của đương sự có phù hợp với những quy định chung của
  • 55. 55 Nhà nước hay không. Công chứng viên không chứng nhận các hợp đồng, các văn bản hoặc chứng thực các bản sao trái với pháp luật; không nhận giữ giấy tờ, tài liệu mà nội dung tiết lộ bí mật quốc gia, làm mất danh dự, nhân phẩm của công dân. Trong trường hợp nghi ngờ các giấy tờ, tài liệu là giả mạo, thì công chứng viên có quyền yêu cầu giám định các loại giấy tờ, tài liệu nghi ngờ đó, từ chối thực hiện việc làm công chứng có liên quan đến các giấy tờ, tài liệu đó và thông báo cho các cơ quan có trách nhiệm để xác minh, xử lý. Công chứng viên chỉ tuân theo pháp luật, không ai có quyền buộc công chứng viên thực hiện các việc làm công chứng không phù hợp với pháp luật. 2.Giúp đỡ công dân, các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội trong việc thực hiện và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Để tránh trường hợp do không hiểu pháp luật, đương sự tự gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, khi thực hiện các việc làm công chứng, công chứng viên phải giải thích cho đương sự hiểu quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời phân tích cho họ hiểu hậu quả pháp lý của những việc làm công chứng không thích hợp đó. 3. Giữ bí mật việc làm công chứng Công chứng viên và cán bộ của cơ quan công chứng phải giữ bí mật nội dung và việc đương sự đến yêu cầu thực hiện các việc làm công chứng; những thông tin về các việc làm công chứng chỉ cấp cho chính đương sự hay người đại diện hợp pháp của đương sự. Các cơ quan điều tra truy tố, xét xử khi đang thụ lý, giải quyết những vụ việc có liên quan đến những việc làm công chứng đó. 4. Địa điểm thực hiện các việc làm công chứng. Nói chung, các việc làm công chứng phải được làm tại trụ sở của các cơ quan công chứng. Song, nếu có lý do chính đáng, đương sự không thể đến công chứng được, thì công chứng viên có thể đến tại nơi đương sự yêu cầu, trong trường hợp này đương sự phải chịu mọi phí tổn đi lại theo quy định của Nhà nước và phải trả lệ phí gấp hai lần so với lệ phí đã quy định. 5. Đảm bảo thời hạn thực hiện các việc làm công chứng"...
  • 56. 56 Và cũng từ đây, khi quyết định thành lập các phòng công chứng Nhà nước, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có Phòng công chứng quyết định bổ nhiệm mới hoặc bổ nhiệm bổ sung các công chứng viên làm việc gắn liền với các phòng công chứng nào đó của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đó (Ví dụ: Quyết định: "Bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A làm công chứng viên Phòng Công chứng Nhà nước số 1 T.P. Hồ Chí Minh"...). Và tất nhiên, cùng với tên gọi là các "Phòng công chứng nhà nước" thì các công chứng viên này đương nhiên là phải được lựa chọn trong số các cán bộ, công chức của địa phương tỉnh, thành phố đó để bổ nhiệm.. Sau mấy chục năm (khoảng nửa thế kỷ) không tổ chức hoạt động công chứng, thì đây là bước cần thiết để rút những kinh nghiệm tiếp tục từng bước xây dựng tổ chức và hoạt động công chứng (mà đầu tiên là công chứng nhà nước) ở nước ta. [15], [41]. 2.1.1.2. Công chứng viên theo hoạt động công chứng nhà nước từ 1991 đến nay Từ giữa những năm 1980, Đảng và Nhà nước ta sau. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã mở ra một giai đoạn đổi mới quản lý kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), đặc biệt là cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã vạch ra những định hướng lớn về kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó là một cuộc chuyển đổi sâu sắc, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và đã thu được những kết quả rất quan trọng. Nền kinh tế thị trường đã tạo ra những quan hệ mới trong lĩnh vực phát triển và quản lý nền kinh tế, các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển rất sôi động. Để khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển đó, đòi hỏi phải có thể chế pháp luật phù hợp. Về lĩnh vực công chứng cũng vậy, đã đặt một tình hình và nhiệm vụ mới: Cần phải có một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù chứ không để cho Ủy ban nhân dân kiêm nhiệm
  • 57. 57 các công việc về công chứng như trước đây. Để giải quyêt yêu cầu nhiệm vụ này, ngày 27/2/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta quy định cơ sở pháp lý có thể nói là toàn diện đầy đủ về tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta, trong đó có quy định khá chi tiết về công chứng viên. Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) quy định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; trình tự thủ tục thực hiện các việc công chứng; quản lý tổ chức và hoạt động công chứng; giá trị pháp của văn bản công chứng; đặc biệt là quy định đối với công chứng viên. Cùng với những quy định trong các văn bản pháp luật khác về công chứng Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) như là một bản văn tuyên bố về tổ chức và hoạt động công chứng Việt Nam, đánh dấu một sự tiến triển của những mối liên hệ giữa hoạt động phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán. Công chứng viên lần đầu tiên có những quy định riêng, chặt chẽ và lãnh hội một sứ mạng to lớn của một nhà thực hành về pháp luật, khác hẳn với nhiệm vụ của luật sư trong các hoạt động tố tụng, công chứng viên là người hướng dẫn, tuyên truyền và thực thi áp dụng luật pháp trong một số lĩnh vực dân sự. (Tuy vẫn cho phép Ủy ban nhân dân được tiếp tục thực hiện một số việc công chứng ở nơi chưa thành lập Phòng công chứng). Những điểm nổi bật trong quy chế về công chứng viên trong Nghị định này được quy định khá cụ thể như: tiêu chuẩn bổ nhiệm, những việc không được làm của công chứng viên. Cụ thể: "Điều 14. Những người có đủ các điều kiện sau đây có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên: 1- Là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 2- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; 3- Tốt nghiệp đại học pháp lý; 4- Đã làm công tác pháp luật từ 5 năm trở lên và được huấn luyện nghiệp vụ công chứng.
  • 58. 58 Công chứng viên được cấp và sử dụng thẻ công chứng viên trong khi làm nhiệm vụ". hay: "Điều 18. Công chứng viên không được thực hiện công chứng trong các trường hợp sau đây: 1- Những việc không thuộc phạm vi công chứng; 2- Những yêu cầu công chứng trái pháp luật; 3- Những việc liên quan đến bản thân mình, vợ hoặc chồng; anh chị em ruột (kể cả anh chị em vợ hoặc chồng, anh chị em nuôi), cha, mẹ (kể cả cha, mẹ vợ hoặc cha, mẹ chồng, cha, mẹ nuôi), ông bà nội, ông bà ngoại; con (kể cả con nuôi, con dâu, con rể); cháu (các con của con trai, con gái, con nuôi); 4- Những việc mà đương sự chưa nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ, tài liệu hợp pháp cần thiết để thực hiện công chứng". Như vậy chỉ cần thông qua nội dung Điều 14 nói trên chúng ta đã có thể thấy rõ ngay một trong các nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng nên quy chế công chứng viên ở Việt Nam đã được hình thành và xác định tương đối rõ ràng trong giai đoạn này. Đó chính là điều kiện - là yếu tố đầu tiên - để một người có thể được trở thành một công chứng viên. Còn trước đó, tại các Điểu 12 và Điều 13 thì đã quy định thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ lương của công chứng viên: "Điều 12. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập phòng công chứng Nhà nước; bổ nhiệm và miễm nhiệm các công chứng viên, Trưởng phòng công chứng Nhà nước sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp", "Điều 13. ... Trưởng phòng công chứng Nhà nước phải được chọn trong số các công chứng viên. ... Công chứng viên được hưởng lương theo chế độ chuyên viên". Ngoài ra, chi tiết hơn, Nghị định còn quy định cụ thể trước những việc công chứng viên có nhiệm vụ phải làm, các quyền khi thực hiện việc công chứng và các trường hợp (về đối tượng, chủ thể) mà công chứng viên không được thực hiện việc công chứng: "Điều 16. Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có nhiệm vụ:
  • 59. 59 1- Tiếp nhận, kiểm tra các giấy tờ, tài liệu do đương sự nộp, xuất trình; trường hợp cần thiết phải tiến hành xác minh. Trực tiếp soạn thảo hoặc hướng dẫn cho đương sự soạn thảo hợp đồng và giấy tờ nếu họ đề nghị. 2- Trực tiếp thực hiện công chứng, ký văn bản công chứng, đóng dấu phòng công chứng Nhà nước và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện; 3- Ghi việc công chứng đã thực hiện vào sổ công chứng; 4- Lưu giữ các văn bản công chứng; 5- Trường hợp cần thiết giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa pháp lý của việc công chứng. Điều 17. Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có quyền: 1- Yêu cầu đương sự nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện công chứng. 2- Yêu cầu các cơ quan Nhà nước, tổ chức khác cung cấp giấy tờ, tài liệu cần thiết để thực hiện công chứng. 3- Yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định hoặc làm tư vấn khi thấy cần thiết. 4- Từ chối thực hiện công chứng đối với các trường hợp quy định tại điều 18 của Nghị định này. Điều 18. Công chứng viên không được thực hiện công chứng trong các trường hợp sau đây: 1- Những việc không thuộc phạm vi công chứng; 2- Những yêu cầu công chứng trái pháp luật; 3- Những việc liên quan đến bản thân mình, vợ hoặc chồng; anh chị em ruột (kể cả anh chị em vợ hoặc chồng, anh chị em nuôi), cha, mẹ (kể cả cha, mẹ vợ hoặc cha, mẹ chồng, cha, mẹ nuôi), ông bà nội, ông bà ngoại; con (kể cả con nuôi, con dâu, con rể); cháu (các con của con trai, con gái, con nuôi); 4- Những việc mà đương sự chưa nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ, tài liệu hợp pháp cần thiết để thực hiện công chứng". Vì là văn bản pháp luật đầu tiên về công chứng và công chứng viên nên việc quy định như trên thực sự vẫn mang tính liệt kê, tính chỉ đạo hành chính
  • 60. 60 cụ thể của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà vẫn chưa thể hiện được tính phổ quát, tính khoa học pháp lý về chế định công chứng viên và quy chế công chứng viên. Tuy vậy, thông qua các quy định về riêng công chứng viên trong Nghị định này chúng ta thấy Nhà được đã bắt đầu rất coi trọng chức danh công chứng viên trong hệ thống pháp luật, đã dành nhiều điều để quy định về công chứng viên. Tuy nhiên, vì chế định công chứng thời điểm đó là chế định công chứng Nhà nước, nên ngoài các quy định về nguyên tắc, tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm ... có tính chất pháp lý (có bằng đại học pháp lý, có thâm niên pháp luật tối thiểu 5 năm lại phải qua đào tạo nghiệm vụ công chứng, ...) thì nghị định còn quy định thêm điều kiện về mặt địa vị hành chính của ông chứng viên, đó là: công chứng viên phải là chuyên viên (công chức Nhà nước). Vào thời điểm khó khăn về hệ thống pháp luật nói riêng và về mặt kinh tế xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước nói chung như những năm 1990- 1991 thì đây là một yêu cầu đã khá cao vể số lượng chất lượng của công chứng viên, do vậy số lượng công chứng viên trên toàn quốc chỉ vỏn vẹn dưới một trăm người. (cụ thể cho đến năm 1991 chỉ có 97 công chứng viên). Còn các quy định, quy chế về mặt chất lượng của công chứng viên thì nghị định cũng chưa đề cập đến. Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện nghị định này, công tác công chứng đã có được kết quả bước đầu đáng phấn khởi; trên toàn quốc đã hình thành hệ thống các Phòng công chứng nhà nước ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập ít nhất một Phòng công chứng nhà nước. Công tác công chứng đã đáp ứng được một phần yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức [9]. Tuy nhiên, sự phát triển của các quan hệ gia đình đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển sôi động ở nước ta đã làm cho bản thân Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991) trở thành không đầy đủ. Ngày 18/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/CP (18/5/1996) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước thay thế cho Nghị định 45/HĐBT (27/2/1991). Đặc biệt trong Nghị định này đã có riêng hẳn một chương (Chương IV) quy định về riêng
  • 61. 61 công chứng viên và những đối tượng người khác được làm các công việc tương đương với công chứng viên. Và cũng trong nghị định này, ngoài việc quy định thêm phẩm chất "công minh, trung thực, liêm khiết, khách quan" thì lần đầu tiên pháp luật quy định công chứng viên phải là người làm việc chuyên trách, không kiêm nhiệm và không được làm nghề tự do. Đây cũng là một quy định mới, tiến bộ hơn so với Nghị định 45/HĐBT nhằm chuyên trách hoá (không kiêm nhiệm) nghiệp vụ của công chứng viên, giúp tăng cường chất lượng công việc của công chứng viên: "Điều 17. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây được xem xét tuyển chọn và bổ nhiệm làm công chứng viên: 1. Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, công minh, trung thực, liêm khiết, khách quan. 2. Tốt nghiệp Đại học Luật; 3. Có thời gian công tác pháp luật từ 5 năm trở lên; 4. Đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng. Công chứng viên phải hoạt động chuyên trách, không được kiêm nhiệm công việc khác tại các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, và không được hành nghề tự do"... Ngoài ra, các quy định cụ thể các nhiệm vụ (Điều 21), các quyền (Điều 22) và các việc công chứng viên không được làm (Điều 23), ..., thì nhìn chung vẫn gần như được giữ nguyên như những quy định trong Nghị định 45/HĐBT ngày 27/02/1991. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, chứng thực, góp phần phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đồng thời tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, chứng thực, tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công chứng, chứng thực. Ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) về công chứng, chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực, tổ chức Phòng công chứng, nguyên tắc hoạt động, thủ
  • 62. 62 tục, trình tự thực hiện việc công chứng, chứng thực, công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, trong nghị định 75/2000/NĐ-CP chỉ quy định chủ yếu về khía cạnh quản lý và phạm vi công việc mà công chứng viên được làm hay không được làm, không có điều khoản riêng nào quy định thêm về công chứng viên. Nhưng nẳm rải rác trong những điều khoản chung khác thì công chứng viên theo nghị định này đã có thêm một số quyền so với quyền quy định tại Nghị định 31/CP - đó là thêm một số quyền chứng thực như thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp phường, xã hoặc cấp quận, huyện. Còn về mặt quy chế, theo nghị định này quy định về công chứng viên vẫn là công chức (hay viên chức) Nhà nước và chưa có gì thay đổi đặc biệt so với quy định đối với công chứng viên theo Nghị định 31/CP. Cũng cần chú ý thêm, các Nghị định này không phải là văn bản pháp luật về công chứng đầy đủ nhất, tập trung nhất. Ngoài các Nghị định đã nêu, các quy định có liên quan đến hoạt động công chứng còn nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác mà công chứng viên buộc phải biết để thực hiện, đặc biệt là trong các luật về dân sự (ví dụ: đặc biệt Bộ Luật Dân sự năm 1995 có tới 29 điều nói đến công chứng, đó là các điều : 133, 139,316, 322, 330, 347, 367, 400, 403, 417, 443, 455, 459, 463, 477, 489, 506, 563, 586, 645, 653,655, 660, 661,662, 663, 664, 668 và 675. Rồi tiếp theo là các văn bản về Luật đất đai, luật thương mại, luật hôn nhân gia đình, ... trong thời kỳ tương ứng). Những quy định trong các văn bản có liên quan này tất nhiên không quy định trực tiếp về công chứng viên, nhưng cũng thể hiện được một phần quy chế công chứng viên khi quy định về những công việc mà công chứng viên phải làm hoặc có thể được làm. Như vậy, xét về thể chế, quy chế công chứng viên cho đến thời điểm này có một số đặc điểm chính được rút ra như sau: - Các công chứng viên trực tiếp thực hiện các việc công chứng tại các Phòng công chứng Nhà nước (tuy từ Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) chỉ
  • 63. 63 gọi là Phòng công chứng). Các Phòng công chứng đó là một tổ chức có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, công chứng viên được sử dụng con dấu của các Phòng công chứng trong văn bản công chứng của mình, tuy nhiên tính độc lập của các công chứng viên đã khá cao: "công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện" [21]. Ngoài công chứng viên, một số chuyên viên của cơ quan chuyên trách theo quy định của Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) và Bộ luật dân sự như các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước ta ở nước ngoài cũng có thẩm quyền công chứng một số việc, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền chứng thực. Tuy nhiên, các chuyên viên cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền công chứng (đúng nghĩa chỉ là chứng nhận) các việc theo quy định của pháp lệnh lãnh sự và Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) trừ các việc mua, bán, tặng, cho, trao đổi bất động sản tại Việt Nam. Nhưng nghị định này cũng kèm theo quy định: Ở các nước hoặc địa bàn có nhiều yêu cầu công chứng. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm cử viên chức lãnh sự có bằng cử nhân luật đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng để chuyên trách thực hiện công chứng tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, văn bản công chứng do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện có giá trị như văn bản công chứng, văn bản chứng thực ở trong nước [22]. Theo số liệu thống kê năm năm 2000, số công chứng viên trong cả nước cho đến năm 1991 là 97 công chứng viên, đến năm 1992 có 101 công chứng viên; năm 1993 có 126 công chứng viên; năm 1996 có 202 công chứng viên; năm 1997 có 237 công chứng viên; và đến năm 2000 đã có 244 công chứng viên (làm việc trong 95 Phòng công chứng nhà nước, trong đó có 61 phòng số 1; 23 phòng số 2, 9 phòng số 3; 2 phòng số 4, trong tổng số biên chế là nhà nước là 664 người). Ngoài hệ thống các Phòng công chứng nhà nước chuyên trách, còn có hơn 600 Ủy ban nhân dân cấp huyện, 13.000 Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ
  • 64. 64 quan sứ quán, lãnh sự của nước ta ở nước ngoài cũng có chuyên viên thực hiện một số việc công chứng [12]. Công chứng viên nước ta cho đến thời điểm này, xét về mặt địa vị pháp lý thì vẫn là người thuộc biên chế nhà nước (do thể chế công chứng nhà nước), Phòng công chứng là cơ quan Nhà nước, công chứng viên là viên chức nhà nước, công chứng viên đi theo Phòng công chứng được lập ra theo từng khu vực cụ thể. Công chứng viên tuy nằm trong khối cơ quan có chức năng quản lý nhà nước nhưng chỉ là những người có chức năng chính là chứng nhận tính xác thực các loại công việc theo quy định của pháp luật [115]. Do vậy tính chất hoạt động của công chứng viên đã bắt đầu mang đậm tính hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Trong giai đoạn này, vể mặt quy định của pháp luật, hoạt động của công chứng viên với tư cách là một chủ thể hoạt động độc lập không bị chi phối bởi bất kỳ một yếu tố nào (thể hiện vị trí của cơ quan công chứng trong lĩnh vực hỗ trợ tư pháp). Tuy nhiên, trên thực tế, vì vẫn là viên chức Nhà nước nên các hoạt động của công chứng viên giai đoạn này vẫn còn mang nặng cách thức và tư tưởng của một "viên chức nhà nước", chưa hoàn toàn mang tính chuyên nghiệp và đương nhiên còn phải chịu cả sự chi phối của Luật cán bộ, công chức hoặc Luật về viên chức. Thêm vào đó, quy định của pháp luật về công chứng cho đến giai đoạn này ở nước ta vẫn còn những nét khác biệt với quy định về công chứng của nhiều nước khác, ví dụ đó là: một số chuyên viên cơ quan khác không phải là công chứng viên cũng có nhiệm vụ thực hiện một phần chức năng của công chứng viên. Việc thực hiện các việc công chứng của các chuyên viên trong các cơ quan khác được Nhà nước giao thực hiện một phần chức năng công chứng nói trên đang có rất nhiều những bất cập cần phải được nghiên cứu để xác định lại cho phù hợp với chứng năng nhiệm vụ, chất lượng của các chuyên viên này. 2.1.3. Nhận xét tổng quát về các đặc điểm nổi bật của quy chế công chứng viên Việt Nam trong giai đoạn này (trước khi có Luật Công chứng 2006).
  • 65. 65 Qua những phân tích trên đây, ta thấy công chứng viên Việt Nam toàn trong toàn bộ thời kỳ trước khi có Luật Công chứng năm 2006 có một số điểm đặc trưng cơ bản như sau: - Về mặt thể chế, Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 là văn bản pháp luật đầu tiên quy định một cách đầy đủ về Công chứng viên ở Việt Nam như một quy chế luật định. - Về khái niệm, đã quy định khá cụ thể: Công chứng viên là người làm việc tại các Phòng công chứng, có chức năng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác, và thực hiện các việc khác theo quy định của pháp luật công chứng. - Công chứng viên là công chức (hoặc viên chức) Nhà nước do thể chế công chứng ở nước ta là công chứng nhà nước (có thể tuy Nghị định 75/2000/NĐ-CP (8/12/2000) không dùng từ nhà nước, song cơ cấu tổ chức và kinh phí hoạt động công chứng vẫn do nhà nước thực hiện). - Ngoài các việc Công chứng viên có thẩm quyền công chứng các giao dịch, văn bản theo quy định của pháp luật nói chung, công chứng viên còn được quyền công chứng các giao dịch, văn bản do công dân, tổ chức yêu cầu (tất nhiên là chỉ được công chứng những giao dịch, văn bản không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội). - Giá trị pháp lý của văn bản do Công chứng viên thực hiện có giá trị pháp lý là chứng cứ. Hợp đồng, văn bản đã được công chứng, chứng thực bởi công chứng viên có giá trị thi hành đối với các bên giao kết. - Do sự hình thành và phát triển của hệ thống công chứng ở Việt Nam là một quá trình diễn biến khá phức tạp và không ít những khó khăn nhất là từ khi thiết lập hệ thống là công chứng nhà nước thống nhất trên phạm vi toàn quốc, do vậy các công việc của các tổ chức công chứng cũng như của các công chứng viên cũng chưa được xác định rõ ràng, còn chắp vá lẫn lộn với các hành vi quản lý hoặc bị chi phối, ảnh hưởng bởi các cơ quan hành chính nhà nước khác. Tổ chức và
  • 66. 66 hoạt động công chứng cũng như bản thân các công chứng viên chưa được xác định đúng với tính chất, vị trí vai trò của và đáp ứng được nhu cầu thực tế xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường giai đoạn này. - Số lượng công chứng viên tuy vẫn có tăng lên hàng năm, nhưng số lượng tính theo đầu dân số còn thấp, theo số liệu thống kê năm cho đến năm 2000, số lượng công chứng viên trong toàn quốc cụ thể như sau: đến năm 1991 có 97 công chứng viên, đến năm 1992 có 101 công chứng viên; năm 1993 có 126 công chứng viên; năm 1996 có 202 công chứng viên; năm 1997 có 237 công chứng viên, đến năm 2000 có 244 công chứng viên; và cho đến ngày 10/02/2006 là 380 công chứng viên (làm việc trong 123 Phòng Công chứng). Tóm lại, qua một thời gian hoạt động công chứng, đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Ngoài việc cần nghiên cứu làm rõ về khái niệm, xác định chính xác vị trí, vai trò, đặc điểm, tính chất, mục đích, ý nghĩa, phạm vi hoạt động của công chứng viên thì việc đào tạo, quy định một quy chế hoàn chỉnh đối với công chứng viên Việt Nam là một trong những nội dung hết sức quan trọng, tạo cơ sở cho việc thiết lập một hệ thống công chứng viên phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta trong giai đoạn hiện nay. (B) 2.2. Quy chế công chứng viên sau khi có Luật Công chứng (2006 ) 2.2.1. Một số điểm nổi bật của quy chế công chứng viên từ khi có Luật Công chứng 2006 đến trước khi có Luật Công chứng 2014 Ngày 29/11/2006, Luật công chứng đã được Quốc Hội khóa 11 kỳ họp thứ 10 thông qua có hiệu lực từ 01/07/2007 - là một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực công chứng nói chung và công chứng viên nói riêng. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta đã có một Luật đầy đủ quy định về công chứng và công chứng viên, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên, là mốc thời gian rất đáng nhớ đánh dấu việc
  • 67. 67 xã hội hoá nền công chứng Việt Nam, trong đó tất nhiên bao gồm luân cả xã hội hoá chức danh công chứng viên. Từ thời điểm này trở đi, khái niệm công chứng Nhà nước sau bao nhiêu năm tồn tại, từ chế độ phong kiến, đến thời Pháp thuộc, đến cả chính quyền miền Nam Việt Nam, cho đến thời kỳ Việt Nam dân chủ Cộng hoà, rồi Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trên lãnh thổ nước ta đã xuất hiện loại hình "Văn phòng công chứng" tư nhân đầu tiên cùng song song tồn tại với các Phòng công chứng Nhà nước và sau đó sẽ dần thay thế hoàn toàn các Phòng Công chứng Nhà nước do Nhà nước thành lập ra này. Và cũng chính vì tầm quan trọng của công chứng viên theo chế định mới này nên lần đầu tiên, trong Luật Công chứng 2006, chức danh công chứng viên được đặt ở vị trí trọng tâm của Luật, ở ngay những điều đầu tiên của Luật này, thậm chí ngay trong khái niệm công chứng: "Điều 2. Công chứng Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng." Không những thế đây cũng là lần đầu tiên, quy định lớn nhất trong quy chế về công chứng viên được đưa lên phần đầu của Luật, đó là "nguyên tắc hành nghề công chứng" - là nguyên tắc xuyên suốt, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công chứng viên: "Điều 3. Nguyên tắc hành nghề công chứng 1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. 2. Khách quan, trung thực. 3. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng. 4. Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng". Ngay sau nguyên tắc đối với công chứng viên và những người hành nghề công chứng nói chung ở trên thì các quy định tiếp theo của Luật này đã tạo nên
  • 68. 68 một bộ khung quy chế mới cho công chứng viên. Cụ thể chúng ta sẽ phân tích sau đây. 2.2.1.1. Quy định về điều kiện được hành nghề công chứng: Điều kiện đầu tiên của người muốn được hành nghề công chứng là phải có bằng cử nhân Luật và đương nhiên phải tuân theo Điều 3 của Luật này - tức nguyên tắc hành nghề công chứng: "Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật", "Khách quan, trung thực". Tuy điều kiện hành nghề này nghe có vẻ chỉ mang tính nguyên tắc chung chung, nhưng đây lại là một điều kiện vô cùng cần thiết cho người được quyền hành nghề công chứng. Vì nếu như áp dụng một cách triệt để điều kiện này thì tất cả những người đã từng vi phạm hiến pháp, pháp luật, hoặc đã từng bị kết án hoạc quy trách nhiệm một cách chính thức là "thiếu khách quan, thiếu trung thực" thì sẽ rất khó được hành nghề hoặc được trở thành công chứng viên. 2.2.1.2. Quy định việc mới vào hành nghề công chứng: Việc mới vào hành nghề công chứng của một người muốn trở thành công chứng viên tất nhiên phải có bằng cử nhân Luật và phải có đầy đủ các phẩm chất cá nhân đáp ứng được nguyên tắc hành nghề công chứng như Điều 3 của Luật công chứng 2006 đã quy định. Thêm vào đó, người mới vào hành nghề công chứng đương nhiên phải được một tổ chức, một cơ quan pháp luật nhận vào làm việc, bởi lẽ theo quy định, muốn được bổ nhiệm công chứng viên phải "có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên". 2.2.1.3. Quy định về điều kiện được tham gia khoá đào tạo nghiệp vụ công chứng viên: - Theo Điều 14, Luật Công chứng 2006 thì quy định này rõ ràng như sau: "Điều 14. Đào tạo nghề công chứng 1. Người có bằng cử nhân luật được đăng ký tham dự khoá đào tạo nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng." Tức là, chỉ có những người đã có bằng cử nhân Luật rồi mới được tham gia khoá đào tạo nghiệp vụ công chứng - có thể hiểu là đào tạo nghề công chứng
  • 69. 69 viên. Chỉ qua quy định này cũng có thể thấy việc muốn trở thành một công chứng viên thì phải trải qua một quy trình chặt chẽ và có yêu cầu rất cao về trình độ, chất lượng, mà có thể nói là yêu cầu cao nhất về quy định đối với một nghề nghiệp (cao như đối với yêu cầu về thẩm phán vậy). Đó là chưa kể, trên thực tế, các cử nhân này còn phải được các cơ sở đào tạo nghề công chứng chiêu sinh theo từng đợt, từng năm, phải được kiểm tra bằng cấp cẩn thận, kỹ lưỡng theo quy định của Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, cũng có một số đối tượng được miễn đào tạo khoá nghiệp vụ công chứng do đã có trình độ chuyên môn hoặc trình độ nghiệp pháp luật cao, cụ thể là: "Điều 15. Người được miễn đào tạo nghề công chứng 1. Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên. 2. Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật. 3. Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật". Về mặt khoa học pháp lý, quy định này là phù hợp vì trên lý thuyết, những đối tượng này đã hội tụ được khá đầy đủ những kiến thức pháp luật. Nhưng trên thực tế, rất nhiều công chứng viên thuộc đối tượng này đã mắc phải những lỗi nghiệp vụ công chứng nghiêm trọng, gây hậu quả pháp lý rất nặng nề, còn bản thân công chứng viên thậm chí đã phải rơi vào vòng lao lý rất đáng buồn, trong khi những lỗi này các công chứng viên được đào tạo trước đây gần như không bao giờ mắc phải. Do vậy, có thể nói đây chính là một trong những khiếm khuyết đáng tiếc của quy chế công chứng viên giai đoạn này. Dễ thấy lý do của khiếm khuyết này là việc "sơ hở", việc đánh giá chưa đúng thực tế tính phức tạp, tính "nguy hiểm" trong nghề công chứng của những cơ quan ban hành pháp luật. 2.2.1.4. Quy định về việc đào tạo nghiệp vụ công chứng viên:
  • 70. 70 Quy định này cụ thể như sau: "Điều 14. Đào tạo nghề công chứng 1. Người có bằng cử nhân luật được đăng ký tham dự khoá đào tạo nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng." 2. Thời gian của khoá đào tạo nghề công chứng là sáu tháng. Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề công chứng được cơ sở đào tạo nghề công chứng cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng. 3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về chương trình khung của khoá đào tạo nghề công chứng và quy định việc công nhận đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài". 2.2.1.5. Quy định về tập sự hành nghề công chứng viên: Theo Điều 16 của Luật: "Điều 16. Tập sự hành nghề công chứng 1. Người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng thì được tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng. Thời gian tập sự hành nghề công chứng là mười hai tháng, kể từ ngày tập sự tại tổ chức hành nghề công chứng. Người tập sự hành nghề công chứng phải đăng ký tại Sở Tư pháp nơi có tổ chức hành nghề công chứng mà mình tập sự. 2. Người tập sự có thể tự liên hệ tập sự hành nghề công chứng tại một tổ chức hành nghề công chứng hoặc đề nghị Sở Tư pháp bố trí tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng. 3. Người tập sự hành nghề công chứng được thực hiện các công việc liên quan đến công chứng do công chứng viên hướng dẫn phân công và chịu trách nhiệm trước công chứng viên hướng dẫn về những công việc đó; không được ký văn bản công chứng. Khi hết thời gian tập sự, người tập sự hành nghề công chứng phải báo cáo kết quả tập sự bằng văn bản có nhận xét của công chứng viên hướng dẫn về năng lực chuyên môn, tư cách đạo đức gửi Sở Tư pháp nơi đăng ký tập sự".
  • 71. 71 Tuy nhiên, cũng có một số đối tượng được miễn phải trải qua giai đoạn tập sự hành nghề công chứng này: "Điều 17. Người được miễn tập sự hành nghề công chứng Người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại Điều 15 của Luật này được miễn tập sự hành nghề công chứng". 2.2.1.6. Quy định về điều kiện bổ nhiệm công chứng viên: Đây điều quan trọng nhất trong toàn bộ các điều quy định trong quy chế về công chứng viên: "Điều 13. Tiêu chuẩn công chứng viên 1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên: a) Có bằng cử nhân luật; b) Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức; c) Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng; d) Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng; đ) Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng. 2. Thời gian đào tạo nghề công chứng và tập sự hành nghề công chứng được tính vào thời gian công tác pháp luật". Qua quy định này có thể thấy rõ là không phải bất kỳ ai có bằng cử nhân Luật, thậm chí có bằng cấp cao hơn, thậm chí đã qua khoá đào tạo, đã qua thời gian tập sự là cũng có thể được Nhà nước cho phép hành nghề công chứng. Bởi ngoài quy định về quốc tịch và các yếu tố nêu trên còn có quy chế về mặt pháp luật (phải "tuân thủ hiến pháp và pháp luật", cũng có thể hiểu là không hoặc chưa bao giờ vi phạm Hiến pháp và pháp luật), nhưng đặc biệt hơn phải là người "có phẩm chất đạo đức tốt". Đây là một quy định xét về mặt pháp lý thì có vẻ chung chung nhưng nếu áp dụng một cách triệt để thì cũng là một quy định mang tính pháp chế rất cao, bởi lẽ "phẩm chất đạo đức" ở đây sẽ vừa là một bộ quy chế do Nhà nước ban hành để các công chứng viên buộc phải áp dụng, nhưng đồng thời
  • 72. 72 cũng vừa là một phạm trù được cả xã hội quan tâm theo dõi thông qua dư luận xã hội. Mà đã thông qua dư luận xã hội thì tính khách quan sẽ cao hơn, đòi hỏi của người dân và toàn xã hội đối với công chứng viên cũng chặt chẽ và sát sao hơn nên không phải ai cũng có thể đáp ứng được một cách triệt để quy định này. Nhưng rất đáng tiếc, trên thực tế, rất nhiều công chứng viên không đáp ứng được tiêu chuẩn về đạo đức này, dư luận xã hội đã có nhiều bất bình liên quan đến việc nhiều công chứng viên vi phạm tiêu chuẩn này trong quy chế chung về công chứng viên. 2.2.1.7. Quy định về thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiêm, tạm đình chỉ công chứng viên: "Điều 18. Bổ nhiệm công chứng viên 1. Người hoàn thành tập sự hành nghề công chứng có quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên gửi Sở Tư pháp ở địa phương nơi đăng ký tập sự, gồm có: a) Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên; b) Bản sao bằng cử nhân luật hoặc bằng thạc sỹ luật; c) Giấy tờ chứng minh về thời gian công tác pháp luật; d) Bản sao Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng; đ) Báo cáo kết quả tập sự hành nghề công chứng có nhận xét của công chứng viên hướng dẫn; e) Sơ yếu lý lịch; g) Giấy chứng nhận sức khoẻ. 2. Người được miễn đào tạo nghề công chứng, người được miễn tập sự hành nghề công chứng có quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên gửi Bộ Tư pháp, gồm có: a) Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên; b) Bản sao bằng cử nhân luật hoặc bằng thạc sỹ luật hoặc bằng tiến sỹ luật; c) Giấy tờ chứng minh là người được miễn đào tạo nghề công chứng, miễn tập sự hành nghề công chứng;
  • 73. 73 d) Giấy tờ chứng minh về thời gian công tác pháp luật; đ) Sơ yếu lý lịch; e) Giấy chứng nhận sức khoẻ. 3. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên quy định tại khoản 1 Điều này, Sở Tư pháp phải có văn bản đề nghị bổ nhiệm công chứng viên kèm theo hồ sơ gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. 4. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định bổ nhiệm công chứng viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Sở Tư pháp, người nộp hồ sơ. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Người được bổ nhiệm công chứng viên thì được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp thẻ công chứng viên. Điều 19. Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên 1. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý; đã bị kết án về tội phạm do cố ý. 2. Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 3. Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. 4. Cán bộ, công chức, viên chức bị buộc thôi việc. 5. Người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư. Điều 20. Miễn nhiệm công chứng viên 1. Công chứng viên được miễn nhiệm theo nguyện vọng của cá nhân hoặc chuyển làm công việc khác. 2. Công chứng viên bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:
  • 74. 74 a) Không còn đủ tiêu chuẩn công chứng viên theo quy định tại Điều 13 của Luật này; b) Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; c) Kiêm nhiệm công việc khác; d) Không hành nghề công chứng kể từ ngày được bổ nhiệm công chứng viên từ hai năm trở lên hoặc không hành nghề công chứng liên tục từ một năm trở lên; đ) Đã bị xử phạt hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề công chứng mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc; e) Bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. 3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình hoặc theo đề nghị của Sở Tư pháp ở địa phương nơi công chứng viên đang hành nghề công chứng, của Sở Tư pháp nơi đề nghị bổ nhiệm công chứng viên trong trường hợp công chứng viên chưa hành nghề công chứng quyết định miễn nhiệm công chứng viên. Hồ sơ đề nghị miễn nhiệm công chứng viên trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải có đơn xin miễn nhiệm của công chứng viên, văn bản đề nghị của Sở Tư pháp. Hồ sơ của Sở Tư pháp đề nghị miễn nhiệm công chứng viên trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này phải có văn bản đề nghị của Sở Tư pháp và các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc đề nghị miễn nhiệm. 4. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn nhiệm công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định miễn nhiệm công chứng viên và quyết định thu hồi thẻ công chứng viên. Điều 21. Tạm đình chỉ hành nghề công chứng 1. Sở Tư pháp quyết định tạm đình chỉ hành nghề công chứng đối với công chứng viên thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 20 của Luật này hoặc công chứng viên đang bị truy cứu trách
  • 75. 75 nhiệm hình sự, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 2. Sở Tư pháp quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ hành nghề công chứng đối với công chứng viên trong các trường hợp sau đây: a) Không còn thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều 20 của Luật này; b) Có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc khi có bản án đã có hiệu lực của Toà án tuyên không có tội; c) Không còn bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 3. Quyết định tạm đình chỉ và quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ hành nghề công chứng phải được gửi cho công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng nơi công chứng viên làm việc, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp". Về mặt pháp chế, những quy định này cũng tương đồng, phù hợp với một số chức danh tư pháp khác cũng như phù hợp chung với hệ thống pháp luật về hành chính, hình sự, ... đang hiện hành. 2.2.1.8. Quy định về điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên: - Điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ của công chứng viên đươc quy định tại Điều 22, Luật Công chứng 2006, cụ thể như sau: "Điều 22. Quyền và nghĩa vụ của công chứng viên 1. Công chứng viên có các quyền sau đây: a) Được lựa chọn nơi để hành nghề công chứng, trừ công chứng viên của Phòng công chứng; b) Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng; c) Các quyền khác quy định tại Luật này. 2. Công chứng viên có các nghĩa vụ sau đây: a) Tuân thủ nguyên tắc hành nghề công chứng;
  • 76. 76 b) Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng; c) Giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; d) Hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng". Đây cũng là một quy định rõ ràng và phù hợp với hệ thống pháp luật chung. 2.2.1.9. Quy định về các trách nhiệm của công chứng viên (đối với văn bản công chứng, đối với người yêu cầu công chứng, đối với tổ chức hành nghề công chứng, đối với tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên, đối với các cá nhân, tổ chức và các cơ quan nhà nước có liên quan (phát sinh thông qua các văn bản công chứng), các hành vi bị nghiêm cấm của công chứng viên, xử lý vi phạm đối với công chứng viên: - "Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng" (Điều 3, khoản 3). - Ngoài ra công chứng viên còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với người yêu cầu công chứng, với tổ chức hành nghề công chứng mà mình đang làm việc và với cả các cơ có quan liên quan thông qua hậu quả pháp lý mà văn bản công chứng do mình thực hiện. - Luật còn quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên: "Điều 12. Các hành vi bị nghiêm cấm 1. Nghiêm cấm công chứng viên thực hiện các hành vi sau đây: a) Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng mà mình biết được khi hành nghề, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin đó để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; b) Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng; c) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thoả thuận;
  • 77. 77 d) Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; công chứng liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của vợ hoặc chồng, cháu là con của con trai, con gái, con nuôi". Đây là một quy định khoa học, phù hợp với hệ thống pháp luật về tố tụng trong hệ thống phápl uật nước ta. - Luật còn quy định cho các công chứng viên có quyền từ chối công chứng (ví dụ tại Điều 35), nhưng cũng quy định công chứng viên cũng có thể bị khiếu nại và hành vi từ chối công chứng (Điều 63). Trên thực tế đã xảy ra những vụ kiện mà hành vi từ chối công chứng của công chứng viên không đúng với quy định của pháp luật và đã bị Toà án có thẩm quyền tuyên là đó là hành vi từ chối sai và đã phải bồi thường cho người yêu cầu công chứng. Đây là một điểm rất đặc thù trong quy chế công chứng viên hiện đại, tuy là hành nghề trong khuôn khổ nghề tự do nhưng vẫn bị ràng buộc trách nhiệm khi từ chối thực hiện công việc mà mình đăng ký hoạt động khi có người yêu cầu. Tuy nhiên, khoa học pháp lý còn phải nghiên cứu sâu thêm về quy định này vì đây là vấn đề rất phức tạp phát sinh từ sự "chồng chéo" trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. 2.2.2. Quy chế công chứng viên từ khi có Luật Công chứng 2014 (quy chế công chứng viên hiện hành) Ngày 20/06/2014, Luật Công chứng mới (số: 53/2014/QH13) đã được Quốc Hội khóa 13 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 - đã thay thế hoàn toàn cho Luật Công chứng 2006. Đây là Luật về cơ bản vẫn mang tinh thần chung là chuyên nghiệp hoá và xã hội hoá cao về công chứng giống như Luật Công chứng 2006 nhưng đã được sửa đổi, bổ sung rất nhiều (nên mới có tên là Luật công chứng 2014 chứ không phải là Luật công chứng sửa đổi). Sự ra đời
  • 78. 78 của Luật này nhằm khắc phục tốt nhất những nhược điểm của Luật Công chứng 2006 và để phù hợp với sự phát triển của cả hệ thống luật pháp, phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới, trong đó đặc biệt nhất là nhằm nâng cao chất lượng công chứng viên, mở rộng phạm vi công việc cho công chứng viên, quy hoạch tổng thể số lượng công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng, xã hội hoá hoàn toàn nghề công chứng trong thời gian sớm nhất. Về mặt phạm vi công việc được hành nghề, điều đáng chú ý là Luật Công chứng 2014 quy định thêm (so với Luật Công chứng 2006) cho công chứng viên có thêm chức năng chứng thực sao y bản chính và chứng thực chữ ký người yêu cầu chứng thực và chữ ký người dịch văn bản (tức quay lại phần phạm vi công việc gần giống như giai đoạn do Nghị định 75/2000/NĐ-CP quy định). Riêng về công chứng viên, Luật Công chứng 2014 đã cố gắng hoàn chỉnh tốt nhất theo xu hướng xã hội hoá, chất lượng hoá và quy hoạch hoá một cách tốt nhất có thể nhằm đáp ứng cho toàn bộ xã hội trong giai đoạn chuyển mình hội nhập quốc tế mà trong đó bản thân nền công chứng Việt Nam cũng đã chính thức là thành viên của Liên minh công chứng Quốc tế. Ngoài những điểm chính vẫn được giữ lại từ Luật Công chứng 2006, Luật Công chứng mới (2014) này còn bổ sung một số điểm mới đáng chú ý sau đây về công chứng viên: - Quy định mang tính tổng quát về "Chức năng xã hội của công chứng viên" (Điều 3): "Điều 3. Chức năng xã hội của công chứng viên Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội". Đây là một quy định mang tính khái quát cao, một khái niệm về mặt xã hội của công chứng viên, nhưng vẫn chưa phải là một khái niệm và quy định cụ thể, nhưng dù sao cũng cho thấy tầm quan trọng của công chứng viên trong xã hội.
  • 79. 79 - Tiếp theo, cụ thể hơn, công chứng viên được bổ sung thêm về phạm vi công việc hành nghề so với Luật Công chứng trước đây, đây cũng là một điều hợp lý, vì trên thực tế các công chứng viên là những "chuyên gia" về pháp luật nên đủ sức đảm đương thêm được các công việc này tốt hơn những đối tượng làm việc "kiêm nhiệm" trước đây (Điều 2, khoản 1): "1. Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng". - Nhưng công chứng viên lại phải chịu thêm trách nhiệm trước pháp luật về người yêu cầu công chứng so với Luật trước đây (Điều 4, khoản 4): "4. Chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng". 2.2.1.1. Quy định về điều kiện được hành nghề công chứng: - Quy định này vẫn được giữ nguyên như quy định tại Luật Công chứng 2006: phải có bằng cử nhân Luật (Điều 8, khoản 1) và phải là người có phẩm chất "Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật", "Khách quan, trung thực" (Điều 4). 2.2.1.2. Quy định về việc người mới bước vào hành nghề công chứng : - Cũng giống như Luật Công chứng 2006: Việc mới vào hành nghề công chứng của một người muốn trở thành công chứng viên phải có bằng cử nhân Luật và phải có đầy đủ các phẩm chất cá nhân đáp ứng được nguyên tắc hành nghề công chứng như Điều 8 của Luật công chứng năm 2014 đã quy định. Thêm vào đó, người mới vào hành nghề công chứng đương nhiên phải được một tổ chức, một cơ quan pháp luật nhận vào làm việc, bởi lẽ theo quy định, muốn được bổ nhiệm công chứng viên phải "có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên".
  • 80. 80 2.2.1.3. Quy định về điều kiện được tham gia khoá đào tạo nghiệp vụ công chứng viên: - Quy định về điều kiện tham gia khoá đào tạo cũng giống theo Luật Công chứng 2006 nhưng một số đối tượng được miễn đào tạo thì phải có 05 (năm) năm hành nghề tư pháp khác thay vì 03 (ba) năm như Luật Công chứng 2006 và dù có trong đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng thì vẫn phải tham gia một khoá bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng là 03 (ba) tháng (Điều 10, khoản 1., mục a), b), khoản 2.): "a) Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; b) Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên; ....... 2. Người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại khoản 1 Điều này phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và quy tắc đạo đức hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng viên. Thời gian bồi dưỡng nghề công chứng là 03 tháng". Những đổi mới trong quy định này so với Luật công chứng cũ năm 2006 thực sự đã chặt chẽ hơn, "siết chặt" hơn việc được miễn đào tạo đối với các đối tượng được miễn đào tạo. Quy định này đã được nghiên cứu rất kỹ lưỡng bởi những nhà lập pháp sau khi nhận được sự phản hồi từ dư luận xã hội và nhất là từ hậu quả thực tiễn khi thi hành Luật Công chứng năm 2006, đó là, có quá nhiều sai phạm trong việc hành nghề công chứng của những công chứng viên được miễn đào tạo theo quy định tại Luật Công chứng năm 2006 (số lượng các vụ sai phạm do các công chứng viên được miễn đào tạo chiếm đến 80% toàn bộ tổng số vụ sai phạm về lĩnh vực công chứng, tính đến năm 2012 như sẽ trích dẫn ở phần dưới đây). 2.2.1.4. Quy định về việc đào tạo nghiệp vụ công chứng viên: - Quy định này về "Thời gian đào tạo là 12 (mười hai) tháng" (Điều 9, khoản 2), đã tăng thêm thời gian đào tạo so với Luật Công chứng năm 2006 thời gian đào
  • 81. 81 tạo chỉ là 06 (sáu tháng) góp phần củng cố thêm nghiệp vụ cho công chứng viên, nâng cao chất lượng công chứng viên khi bước vào hành nghề chính thức. 2.2.1.5. Quy định về tập sự hành nghề công chứng viên: - Quy định này về thời gian tập sự là 12 tháng đối với người có giấy chứng nhận tốt nghiệp khoá đào tạo nghiệp vụ hành nghề công chứng và là 06 tháng đối với người đã có giấy chứng nhận tốt nghiệp lớp bồi dường nghiệp vụ công chứng (Điều 11, khoản 1) là cũng đã tăng thêm và quy định thêm về thời gian cho người tập sự công chứng viên. - Ngoài ra chi tiết nội dung tập sự phải theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (Điều 11, khoản 6), đây cũng là một điểm mới so với năm 2006. Như vậy, theo Luật Công chứng 2014, việc tập sự hành nghề công chứng là bắt buộc đối với mọi đối tượng, kể cả những đối tượng được miễn đào tạo nghiệp vụ. Tất cả những điểm mới trong các quy định nói trên đều nhắm tới một mục đích là tăng thêm chất lượng nghiệp vụ cho các công chứng viên trong tương lai khi hành nghề. 2.2.1.6. Quy định về điều kiện bổ nhiệm công chứng viên: Quy định này chủ yếu theo Điều 8. (Tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên). Về hình thức quy định này vẫn giữ giống như Luật Công chứng 2006 nhưng đã có một số thay đổi về nội dung để phù hợp với hệ thống pháp luật nói chung. Cụ thể: - Về từ ngữ, đã bỏ đi cụm từ "trung thành với Tổ quốc" vì đây là điều kiện đương nhiên, bắt buộc phải có đối với mỗi công dân nói chung. và thắt chặt hơn điều kiện bổ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng công chứng viên. - Về tiêu chuẩn bổ nhiệm: + Đã bổ sung thêm điều kiện "sau khi có bằng cử nhân Luật" vào sau điều kiện "Có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức" của Luật Công chứng 2006. (Điều 5, khoản 2 - Luật Công chứng 2014). Đây là quy định thắt chặt hơn nhằm nâng cao chất lượng công chứng viên so với Luật Công chứng 2006: Thời gian công tác pháp luật phải từ 05 năm trở lên kể
  • 82. 82 từ khi "có bằng cử nhân Luật", còn khoảng thời gian công tác pháp luật khi chưa có bằng cử nhân Luật thì không được tính. + Bổ sung thêm điều kiện "... hoàn thành khoá bồi dưỡng nghề công chứng" đối với những người được miễn đào tạo nghề công chứng (theo khoản 2, Điều 10) tại Điều 8. Và bổ sung thêm khoản 4, Điều 8: "4. Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng". Xét về mặt khoa học pháp lý, những bổ sung mới này của Luật Công chứng 2014 là hoàn toàn lô gích, hợp lý. Bởi lẽ, như đã phân tích tại phần tổng quan về nghề công chứng thì nghề công chứng là một nghề đòi hỏi không những phải đủ kiến thức của một ngành luật cụ thể nào trong hệ thống luật dân sự mà nó còn đòi hỏi phải biết khá nhiều các kiến thức trong rất nhiều ngành luật khác có liên quan trong hệ thống pháp luật (thậm chí còn liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật khác hẳn dân sự như Luật hành chính, Tố tụng hành chính, Tố tụng hình sự, Luật quốc tế, ...). Trong khí đó, việc tiếp nhận và giải quyết công việc công chứng của các chủ thể yêu cầu lại đòi hỏi rất nhanh, gần như là phải giải quyết tức thời, hoặc chỉ trong một, hai ngày như thực tế yêu cầu đặt ra như trong Luật Công chứng đã dự liệu và quy định. Xét về mặt thực tiễn, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa hoàn toàn đồng bộ, các văn bản quy phạm do các cơ quan ban hành còn có nhiều điểm bất cập, chồng chéo nhau, cách áp dụng pháp luật của các cơ quan còn chưa hoàn toàn thống nhất trong khi các nhu cầu công chứng của người dân lại vô cùng đa dạng và ngày càng phức tạp do xã hội ngày càng phát triển, nhất là trong xu thế kinh tế thị trường, tất cả đều có những sự cạnh tranh, tiềm ẩn những nguy cơ nhất định nên việc công chứng viên phải nắm bắt được phương thức giải quyết và lựa chọn giải pháp thực hiện các yêu cầu công chứng của người dân phải đòi hỏi có một sự "cọ sát" thực tế nhất định. Theo "Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng" do Bộ Tư pháp thực hiện năm 2012 (theo khung phân tích đánh giá tác động pháp luật (gọi tắt là RIA) tối thiểu dựa trên tài liệu hướng dẫn thực hiện đánh giá RIA ở Việt Nam do GTZ biên soạn) để trình Chính phủ
  • 83. 83 và Quốc Hội sửa đổi Luật Công chứng 2006 thì: "... tỷ lệ sai phạm trong hoạt động công chứng chủ yếu tập trung ở nhóm công chứng viên miễn đào tạo, miễn tập sự (chiếm tới hơn 80% tổng số sai phạm)" trong toàn bộ các sai phạm về công chứng của công chứng viên thực hiện trong giai đoạn từ khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực cho đến năm 2012. Chỉ riêng qua con số thống kê trên cũng đủ để thấy việc Luật công chứng 2014 qui định bổ sung việc bắt buộc phải tập sự đối với những đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng, hay phải đạt kết quả tập sự hành nghề công chứng là vô cùng cần thiết và cấp bách. 2.2.1.7. Quy định về thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, tạm đình chỉ công chứng viên: - Quy định về thời gian chờ bổ nhiệm công chứng viên cũng kéo dài hơn, tăng lên từ 20 ngày lên thành 30 ngày so với Luật Công chứng 2006 (Điều 12, khoản 4). - Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên cũng được quy định rộng hơn so với năm 2006, còn về cơ bản thì vẫn giữ nguyên: "Điều 13. Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên 1. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do vô ý mà chưa được xóa án tích hoặc về tội phạm do cố ý. 2. Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 3. Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. 4. Cán bộ bị kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm, công chức, viên chức bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc hoặc sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sỹ quan, hạ sỹ quan, công nhân, viên chức trong đơn vị thuộc Công an nhân dân bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu quân nhân, danh hiệu Công an nhân dân hoặc đưa ra khỏi ngành.
  • 84. 84 5. Người bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư, người bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm kể từ ngày quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư có hiệu lực hoặc kể từ ngày chấp hành xong quyết định tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư". Như vậy, có thể thấy Luật Công chứng 2014 đã quy định có phần chặt chẽ và nhất là đã "phù hợp với thực tế" hơn so với Luật Công chứng 2006 về việc bổ nhiệm công chứng viên, việc này - theo lý giải của những người xây dựng dự thảo pháp luật - là nhằm góp phần củng cố và tăng cường chất lượng, phẩm chất đạo đức của công chứng viên được bổ nhiệm. Điều này thực sự là cần thiết và cũng mang tính khoa học cao. - Vể miễn nhiệm và tạm đình chỉ hành nghề công chứng: " Điều 15. Miễn nhiệm công chứng viên 1. Công chứng viên được miễn nhiệm theo nguyện vọng của cá nhân hoặc chuyển làm công việc khác. Công chứng viên nộp đơn đề nghị miễn nhiệm tại Sở Tư pháp ở nơi mình đăng ký hành nghề. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị miễn nhiệm của công chứng viên, Sở Tư pháp có văn bản đề nghị kèm theo đơn đề nghị miễn nhiệm của công chứng viên gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp. 2. Công chứng viên bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây: a) Không còn đủ tiêu chuẩn công chứng viên theo quy định tại Điều 8 của Luật này; b) Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; c) Kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác; d) Không hành nghề công chứng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày được bổ nhiệm công chứng viên hoặc không hành nghề công chứng liên tục từ 12 tháng trở lên; đ) Hết thời hạn tạm đình chỉ hành nghề công chứng quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật này mà lý do tạm đình chỉ hành nghề công chứng vẫn còn;
  • 85. 85 e) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề công chứng mà còn tiếp tục vi phạm; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc; g) Bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; h) Thuộc các trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Điều 13 của Luật này tại thời điểm được bổ nhiệm. 3. Sở Tư pháp có trách nhiệm rà soát, kiểm tra việc bảo đảm tiêu chuẩn hành nghề của công chứng viên tại địa phương mình. Khi có căn cứ cho rằng công chứng viên thuộc trường hợp bị miễn nhiệm quy định tại khoản 2 Điều này, Sở Tư pháp có văn bản đề nghị miễn nhiệm công chứng viên kèm theo các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc đề nghị miễn nhiệm gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp. 4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn nhiệm công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định việc miễn nhiệm công chứng viên". Như vậy, so với Luật Công chứng 2006, Luật công chứng hiện tại đã thêm 02 quy định miễn nhiệm công chứng viên là khoản là mục đ) và mục h) tại khoản 2, Điều 15, đó miễn nhiệm trong các trường hợp: "đ) Hết thời hạn tạm đình chỉ hành nghề công chứng quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật này mà lý do tạm đình chỉ hành nghề công chứng vẫn còn", và: "h) Thuộc các trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên quy định tại Điều 13 của Luật này tại thời điểm được bổ nhiệm". Và tất nhiên, đó cũng là những quy định nhằm thắt chặt hơn về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên. - Nhưng khoa học hơn và tiến bộ hơn so với Luật Công chứng năm 2006, Luật công chứng năm 2014 đã quy định về việc tái bổ nhiệm và những trường hợp không được tái bổ nhiệm công chứng viên nhằm tạo ra một khuôn khổ mềm dẻo hơn cho những trường hợp tạm thời phải xin miễn nhiệm công chứng viên để làm việc khác, sau đó sẽ yêu cầu bổ nhiệm lại, nhưng cũng có những quy định
  • 86. 86 chặt chẽ đối với những trường hợp này để loại trừ những đối tượng không thể được bổ nhiệm lại (Điều 15, Điều 16 - Luật công chứng 2014): "Điều 16. Bổ nhiệm lại công chứng viên 1. Người được miễn nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật này được xem xét bổ nhiệm lại công chứng viên khi có đề nghị bổ nhiệm lại. 2. Người bị miễn nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật này được xem xét bổ nhiệm lại công chứng viên khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn công chứng viên quy định tại Điều 8 của Luật này và lý do miễn nhiệm không còn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. 3. Người bị miễn nhiệm công chứng viên do bị kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về tội phạm do cố ý, bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề công chứng mà còn tiếp tục vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc thì không được bổ nhiệm lại công chứng viên. 4. Thủ tục bổ nhiệm lại công chứng viên được thực hiện theo quy định tại Điều 12 của Luật này. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên gồm: a) Đơn đề nghị bổ nhiệm lại công chứng viên theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định; b) Phiếu lý lịch tư pháp; c) Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp; d) Bản sao quyết định miễn nhiệm công chứng viên; đ) Bản sao các giấy tờ chứng minh lý do miễn nhiệm không còn, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này". 2.2.1.8. Quy định về điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên: - Điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ của công chứng viên đươc quy định tại Điều 17, Luật Công chứng 2014, vẫn giống như Luật năm 2006.
  • 87. 87 2.2.1.9. Quy định về các trách nhiệm của công chứng viên (đối với văn bản công chứng, đối với người yêu cầu công chứng, đối với tổ chức hành nghề công chứng, đối với tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên, đối với các cá nhân, tổ chức và các cơ quan nhà nước có liên quan (phát sinh thông qua các văn bản công chứng), các hành vi bị nghiêm cấm của công chứng viên, xử lý vi phạm đối với công chứng viên: - Cũng giống như Luật Công chứng năm 2006, trách nhiệm của công chứng viên là rất cao đối với văn bản công chứng của mình (gần như là phải chịu trách nhiệm hoàn toàn với tư cách cá nhân), trừ những trường hợp bất khả kháng đối với công chứng viên mà thôi. - Trách nhiệm mua bảo hiểm, bồi thường thiệt hại và tham gia vào tổ chứng xã hội nghề nghiệp của công chứng viên: So với Luật Công chứng 2006, Luật Công chứng 2014 đã quy định cụ thể hơn và chặt chẽ hơn về các trách nhiệm này của công chứng viên (Điều 37, Điều 38), thậm chí còn quy định thêm cả "bồi hoàn" trong hoạt động công chứng, nghĩa là công chứng viên phải bồi hoàn lại cho Tổ chức hành nghề công chứng nơi mình đang làm việc một khoản chi phí mà Tổ chức hành nghề công chứng đó đã phải chi ra để bồi thường cho các bên liên quan do hành vi công chứng của công chứng viên gây thiệt hại cho họ. - Các hành vi bị nghiêm cấm: Ngoài các hành vi bị nghiêm cấm chặt chẽ hơn trong Luật năm 2006, Luật công chứng 2014 còn quy định thêm một số hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực chứng thực (Điều 7). - Cuối cùng, công chứng viên chứng viên còn có thể phải chịu các mức phạt do hành vi vi phạm hành chính, hay hành vi vi phạm quy định về công chứng viên theo quy định của Chính phủ thông qua Nghị định số 110/2013/NĐ- CP ban hành ngày 24/09/2013 (tại Mục 3 - các điều: Điều 12, Điều 13, Điều 14) và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/08/2015 (để sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 110/2013/NĐ-CP).
  • 88. 88 2.2.2.10. Quy tắc đạo đức hành nghề hiện hành của công chứng viên Sau một thời gian nghiên cứu và tổng hợp các ý kiến từ nhiều đối tượng khác nhau trong trong xã hội, ngày 30/10/2012 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số: 11/2012/TT-BTP để lần đầu tiên chính thức quy định về "Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng", trong đó chủ yếu quy định về quy tắc đạo đức hành nghề của công chứng viên. Ngoài các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, thì bộ quy tắc này sau khi có hiệu lực như các văn bản quy phạm pháp luật khác, chính thức trở thành một thành phần quan trọng trong toàn bộ quy chế công chứng viên hiện hành theo pháp luật Việt Nam. Các số điểm chính liên quan đến công chứng viên trong bộ quy tắc này cụ thể như sau: "Công chứng là một nghề cao quý, bởi hoạt động công chứng bảo đảm tính an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng quy định các chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử của công chứng viên trong hành nghề công chứng, là cơ sở để công chứng viên tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong hành nghề và trong đời sống xã hội nhằm nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên, nâng cao uy tín của công chứng viên, góp phần tôn vinh nghề công chứng trong xã hội. - Đi vào cụ thể của bộ quy tắc trên, tại Chương I - Quy tắc chung quy định: "Điều 1. Bảo vệ quyền, lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Công chứng viên có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, vì lợi ích của nhân dân, bằng hoạt động nghề nghiệp của mình góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Điều 2. Nguyên tắc hành nghề công chứng Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed by 0.15 pt Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
  • 89. 89 Công chứng viên phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây: 1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, không trái đạo đức xã hội. 2. Khách quan, trung thực khi thực hiện công chứng, không vì bất kỳ lý do nào mà làm ảnh hưởng đến chất lượng việc công chứng cũng như phân biệt đối xử với người yêu cầu công chứng. 3. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng, bồi thường thiệt hại do lỗi của mình trong trường hợp việc công chứng dẫn đến thiệt hại cho người yêu cầu công chứng. 4. Tuân thủ các quy định của Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng này và các quy định của tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng. Điều 3. Tôn trọng, bảo vệ uy tín, thanh danh nghề nghiệp 1. Công chứng viên có trách nhiệm coi trọng, giữ gìn uy tín nghề nghiệp, không được có hành vi làm tổn hại đến danh dự, uy tín cá nhân, thanh danh nghề nghiệp. 2. Công chứng viên cần phải ứng xử văn minh, lịch sự trong hành nghề; lành mạnh trong lối sống để nhận được sự yêu quý, tôn trọng, tin cậy và vinh danh của đồng nghiệp, người yêu cầu công chứng và toàn thể xã hội. Điều 4. Rèn luyện, tu dưỡng bản thân Công chứng viên phải không ngừng trau dồi đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, tích cực tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và nỗ lực tìm tòi để nâng cao chất lượng công việc và phục vụ người yêu cầu công chứng." - Còn về đạo đức của công chứng viên đối với những người yêu cầu công chứng được quy định tại Chương II - Quan hệ với người yêu cầu công chứng của bộ quy tắc này, cụ thể có thể trích dẫn: "Điều 5. Trách nhiệm nghề nghiệp 1. Công chứng viên phải tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp để bảo đảm tốt nhất tính an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch; có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết yêu cầu Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed by 0.15 pt
  • 90. 90 công chứng của cá nhân, tổ chức một cách nhanh chóng, kịp thời khi yêu cầu công chứng đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội. 2. Công chứng viên sẵn sàng tiếp nhận và giải quyết kịp thời yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng bằng cách luôn có mặt tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng trong giờ làm việc theo quy định của pháp luật. 3. Công chứng viên có nghĩa vụ giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ, hậu quả pháp lý phát sinh của hợp đồng, giao dịch được yêu cầu công chứng; giải đáp một cách rõ ràng những thắc mắc của người yêu cầu công chứng nhằm đảm bảo cho hợp đồng, giao dịch đúng với ý chí của các bên giao kết hợp đồng, giao dịch; đảm bảo các bên có nhận thức đúng về pháp luật có liên quan và giá trị pháp lý của văn bản công chứng trước khi công chứng viên công chứng. 4. Công chứng viên có trách nhiệm cung cấp cho người yêu cầu công chứng các thông tin có liên quan về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên trong hành nghề công chứng theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng. Điều 6. Bảo mật thông tin, bảo quản hồ sơ công chứng 1. Công chứng viên có trách nhiệm giữ bí mật các thông tin trong hồ sơ yêu cầu công chứng, hồ sơ công chứng và tất cả thông tin biết được về nội dung công chứng trong quá trình hành nghề cũng như khi không còn là công chứng viên; trừ trường hợp được sự đồng ý bằng văn bản của người yêu cầu công chứng hoặc pháp luật có quy định khác. 2. Công chứng viên có trách nhiệm bảo quản hồ sơ công chứng trong quá trình giải quyết yêu cầu công chứng và bàn giao đầy đủ hồ sơ công chứng để lưu trữ theo quy định của pháp luật. 3. Công chứng viên có trách nhiệm hướng dẫn nhân viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng của mình không được tiết lộ bí mật thông tin về việc công chứng mà họ biết theo nội quy, quy chế của tổ chức hành nghề công chứng, quy Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
  • 91. 91 định của pháp luật; đồng thời, giải thích rõ trách nhiệm pháp lý của họ trong trường hợp tiết lộ những thông tin đó. Điều 7. Đối xử bình đẳng giữa những người yêu cầu công chứng Công chứng viên không được phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, địa vị xã hội, khả năng tài chính, tuổi tác giữa những người yêu cầu công chứng khi họ đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định pháp luật để thực hiện việc công chứng, bảo đảm đối xử bình đẳng giữa những người yêu cầu công chứng. Điều 8. Thu phí, thù lao công chứng Công chứng viên có trách nhiệm thu đúng, thu đủ và công khai phí, thù lao công chứng theo quy định đã được niêm yết; khi thu phí, thù lao công chứng phải ghi hóa đơn, chứng từ đầy đủ và thông báo cho người yêu cầu công chứng biết rõ về các khoản thu và số tiền mà họ phải nộp. Điều 9. Những việc công chứng viên không được làm trong quan hệ với người yêu cầu công chứng 1. Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng. 2. Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được quy định, xác định, thoả thuận. 3. Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích vật chất nào khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng dẫn tới hậu quả gây thiệt hại đến lợi ích chính đáng của người yêu cầu công chứng và các bên liên quan. 4. Sử dụng thông tin biết được từ việc công chứng để mưu cầu lợi ích cá nhân. 5. Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội. 6. Đưa ra những lời hứa hẹn nhằm lôi kéo người yêu cầu công chứng hoặc tự ý thu tăng hoặc giảm phí công chứng, thù lao công chứng so với quy định và sự thoả thuận. Formatted: Font: 13.5 pt Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed by 0.3 pt Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
  • 92. 92 7. Công chứng các hợp đồng, giao dịch có liên quan về mặt lợi ích giữa công chứng viên và người yêu cầu công chứng. 8. Thông đồng, tạo điều kiện cho người yêu cầu công chứng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. 9. Trả tiền hoa hồng, chiết khấu cho người yêu cầu công chứng hoặc người môi giới. 10. Câu kết với người yêu cầu công chứng, những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng và hồ sơ đã công chứng." Đây là những quy định khá rõ ràng và chặt chẽ đối với công chứng viên khi tiếp xúc và làm việc với người yêu cầu công chứng, cũng là những quy định nhằm bảo đảm tính "cao quý" của người công chứng viên. Nhưng trên thực tế thì phải kiểm nghiệm kết quả của những quy định này thì mới đạt được mục đích của quy định. - Còn đạo đức công chứng viên trong quan hệ với đồng nghiệp, với tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng, tổ chức, cá nhân khác thì bộ quy tắc này quy định tại Chương III, cụ thể như sau: "Điều 10. Quan hệ của công chứng viên với đồng nghiệp, tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng 1. Tôn trọng, bảo vệ danh dự của đồng nghiệp; giữ gìn và phát huy tinh thần đoàn kết, thân thiện, hợp tác giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. 2. Công chứng viên có trách nhiệm giám sát lẫn nhau trong hành nghề, tận tâm và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những hành vi sai trái trong hoạt động công chứng trên cơ sở tôn trọng đồng nghiệp, bảo đảm bí mật nghề nghiệp, vì sự phát triển bền vững của nghề công chứng. 3. Khi phát hiện đồng nghiệp có sai sót trong hành nghề, công chứng viên có nghĩa vụ góp ý thẳng thắn nhưng không được hạ thấp danh dự, uy tín của đồng nghiệp và báo cáo với người có trách nhiệm nếu đó là hành vi vi phạm pháp luật hoặc gây tổn hại đến nghề nghiệp. Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
  • 93. 93 4. Chấp hành các nội quy, quy chế của tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng. 5. Hướng dẫn, giúp đỡ những đồng nghiệp mới vào nghề. 6. Tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội khác do Nhà nước, tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức xã hội nghề nghiệp tổ chức hoặc phát động nhằm đóng góp vào sự phát triển chung của nghề công chứng. 7. Đóng phí thành viên tổ chức xã hội nghề nghiệp theo quy định. 8. Phối hợp với tổ chức hành nghề công chứng mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để dự phòng giải quyết rủi ro, tai nạn nghề nghiệp. Điều 11. Quan hệ với người tập sự hành nghề công chứng 1. Công chứng viên có bổn phận tham gia vào công tác hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng; nêu cao trách nhiệm, tận tâm truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp đối với người tập sự hành nghề công chứng. 2. Công chứng viên hướng dẫn tập sự không được thực hiện những việc sau: a. Phân biệt, đối xử mang tính cá nhân với những người đang tập sự hành nghề công chứng do mình hướng dẫn. b. Đòi hỏi lợi ích vật chất, tiền bạc từ người tập sự hành nghề công chứng. c. Thông đồng với người tập sự hành nghề công chứng để báo cáo sai sự thật, báo cáo khống về kết quả tập sự hành nghề công chứng. d. Lợi dụng tư cách là công chứng viên hướng dẫn để buộc người tập sự phải làm những việc không thuộc phạm vi tập sự hoặc những hành vi vi phạm pháp luật trái đạo đức xã hội nhằm đạt được những lợi ích cho mình. Điều 12. Những việc công chứng viên không được làm trong quan hệ với đồng nghiệp, tổ chức hành nghề công chứng 1. Xúc phạm hoặc có hành vi làm tổn hại uy tín của đồng nghiệp, tổ chức hành nghề công chứng. 2. Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội với đồng nghiệp để giành lợi thế cho mình trong hành nghề. Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13.5 pt, Italic
  • 94. 94 3. Hợp tác với cá nhân, tổ chức có khả năng gây áp lực buộc người yêu cầu công chứng phải đến tổ chức hành nghề công chứng của mình để công chứng vì mục đích lợi nhuận. 4. Tiến hành bất kỳ hành vi quảng cáo bản thân và tổ chức hành nghề công chứng của mình dưới mọi hình thức không đúng quy định của pháp luật. 5. Hoạt động môi giới, nhận hoặc đòi tiền hoa hồng khi giới thiệu cho đồng nghiệp về yêu cầu công chứng mà mình không đảm nhận. 6. Mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở tổ chức hành nghề công chứng. 7. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác. Điều 13. Quan hệ với cá nhân, tổ chức khác Công chứng viên phải tuân thủ quy định của pháp luật trong khi làm việc với các cơ quan nhà nước, cá nhân tổ chức khác; có thái độ lịch sự, tôn trọng công chức nhà nước, cá nhân, tổ chức khác khi hợp tác với công chứng viên trong quá trình thi hành công vụ, liên hệ công tác." Những quy định này cũng làm cho đội ngũ công chứng viên Việt Nam hướng tới trở thành một đội ngũ thực thi pháp luật một cách văn minh, lịch sự, vô tư, khách quan và có trách nhiệm tích cực với xã hội. - Ngoài ra, vì vị trí chức năng là thực hiện công tác "bổ trợ tư pháp" trong bộ máy hành pháp nên công chứng viên còn phải chịu sự kiểm tra, giám sát, khen thưởng vả xử lý vi phạm của các cơ quan hành pháp có thẩm quyền. Vấn đề này được quy định tại Chương IV của bộ quy tắc đạo đức hành nghề công chứng. Đó là: "Điều 14. Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng 1. Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát việc tuân thủ Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng trong phạm vi toàn quốc. Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color: Auto
  • 95. 95 2. Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi địa phương quản lý. 3. Tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng đối với công chứng viên trong tổ chức mình. 4. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng đối với công chứng viên tại tổ chức mình. Điều 15. Khen thưởng và xử lý vi phạm 1. Công chứng viên gương mẫu trong thực hiện Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng thì được Nhà nước, tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng viên ghi nhận và vinh danh. 2. Công chứng viên thực hiện không đúng Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị nhắc nhở, phê bình, khiển trách, xử lý kỷ luật theo Điều lệ của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật". Đây cũng là một đặc thù trong hệ thống pháp luật nước ta. - Để bình luận về ưu và nhược điểm của quy tắc đạo đức công chứng viên hiện hành, chúng ta thấy, tuy rằng hầu như với những quy định chỉ mang nặng tính nguyên tắc, chưa hoàn toàn cụ thể, nhưng bộ quy tắc hành nghề công chứng này đã lần đầu tiên chính thức quy định vấn đề đạo đức của công chứng viên phải được đảm bảo thể hiện, phải được thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc như việc thực hiện áp dụng các điều luật khi hành nghề công chứng vậy. Điều này sẽ góp phần làm cho đội ngũ công chứng viên Việt Nam tăng cao được uy tín về nghề nghiệp trong tương lai. Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color: Auto, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13.5 pt, Italic, Font color: Auto Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt, Italic Formatted: Font: 13.5 pt
  • 96. 96 Chƣơng 3 HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUY CHẾ CÔNG CHỨNG VIÊN Như đã phân tích, trình bày ở các phần trước đây, quy chế về công chứng viên hiện hành của nước ta về hình thức đã tương đối toàn diện, bao hàm các quy định gần như đủ cho mọi khía cạnh để tạo nên một quy chế hoàn chỉnh cho công chứng viên Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như các phân tích đi kèm với nó, thì về nội dung vẫn cần phải có những quy định chi tiết hơn, cụ thể để làm rõ hoặc để củng cố vững chắc cho mục đích các điều khoản đã đưa ra thì lại thiếu hụt nhiều, gây ra tình trạng quy mang tính chung chung, tính nguyên tắc, thiên nhiều về tính định tính mà thiếu đi phần định lượng, nên việc áp dụng cho công chứng viên và các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên rất khó thực hiện đúng theo tinh thần, mục đích của các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về công chứng viên. Trong nhiều những quy định như đã nói trên, luận văn này xin được đưa ra một số kiến nghị và đóng góp về quan điểm, về một số nội dung cụ thể với mục đích nhằm cố gắng cụ thể hoá, hiện thực hoá một số điều về quy chế công chứng viên, hướng tới việc hoàn thiện dần quy chế này. 3.1. Quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên. - Tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ: Nhìn chung, những quy định có trong quy chế công chứng viên hiện nay là khá đúng đắn, hợp lý và cũng khá tương đồng với tiêu chuẩn đối với một số chức danh tư pháp khác. Tuy nhiên, như đã phân tích, hoạt động công chứng là một hoạt động đặc thù chỉ do một cá nhân (công chứng viên) tiếp nhận, tự quyết định xử lý và thực hiện việc công chứng từ đầu đến cuối, đồng thời phải tự "chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng" (khoản 4, Điều 4). Như vậy, có thể hình dung ngay được sức ép về kiến thức pháp luật, về
  • 97. 97 kinh nghiệm áp dụng pháp luật, kinh nghiệm phân tích các mối quan hê xã hội và cả sức ép về tâm lý đối với công chứng viên khi thực hiện công chứng là rất lớn. Thêm vào đó, Luật công chứng lại còn khống chế cả thời hạn phải thực hiện việc công chứng: "Thời hạn công chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc" (Điều 43, khoản 2). Hơn nữa, vì là dịch vụ đã được xã hội hoá, xuất hiện thêm yếu tố cạnh tranh nên việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu công chứng đòi hỏi phải được giải quyết gần như là tức thời, nếu không có các quy định phải khống chế thời gian của pháp luật. Với tất cả những sức ép như trên, liệu rằng những quy định về tiêu chuẩn công chứng viên trong Luật nói trên đã đủ chưa? Có thể thấy ngay câu trả lời là: quy định như vậy còn quá sơ sài, khó đáp ứng được với những diễn biến vô cùng phức tạp trong thực tiễn xã hội, dễ đẩy công chứng viên, nhất là các công chứng viên mới vào nghề mắc phải những sai phạm do thiếu kinh nghiệm, thiếu bản lĩnh nghề nghiệp. Hơn nữa, vì công chứng viên chỉ là một cá nhân được trao cho một phần quyền lực công của Nhà nước (thực hiện dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm) để thực hiện việc công chứng (nay thêm chức năng chứng thực) công chứng viên đòi hỏi một trình độ chuyên môn cao, kiến thức pháp luật lại phải rất rộng và đặc biệt là phải vững vàng. Thêm vào đó, yếu tố kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn cũng phải đầy đủ và chắc chắn. Do vậy, như quy định về tiêu chuẩn công chứng viên tại Điều 8 Luật Công chứng hiện hành nên được sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hơn các quy định và nhất là tăng cường, củng cố thêm yếu tố chất lượng của công chứng viên. Cụ thể, tại khoản 2 - Điều 8, Luật Công chứng 2014 quy định: "Có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật". Rõ ràng, quy định này là không đủ và chưa hợp lý so với quy định các đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng (Điều 10): "Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên" hoặc "Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên". Những đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng này có thể xác định được số năm
  • 98. 98 công tác pháp luật của họ tối thiểu phải 08 đến 10 năm mới có thể được bổ nhiệm làm công chứng viên, Trong khi tại khoản 2 Điều 8 nói trên lại quy định chỉ cần 05 năm công tác pháp luật. Đây rõ ràng là một sự thiếu sót, "khập khiễng" của điều khoản này. Do vậy, để thống nhất về mặt định lượng trong hệ thống văn bản pháp luật và để thực hiện đúng tinh thần của điều luật là nhằm nâng cao chất lượng công chứng viên thì phải quy định lại Điều luật này. (Ví dụ, nên quy định: phải có đủ từ 05 năm làm giúp việc nghiệp vụ trực tiếp cho công chứng viên, hoặc chí ít thì cũng phải quy định: phải có ít nhất 05 năm làm việc tại tổ chức hành nghề công chứng, chứ không nên quy định chung chung là 05 năm công tác pháp luật như Luật hiện tại). - Tiêu chuẩn về đạo đức công chứng viên: Như đã phân tích ở phần bình luận về tiêu chuẩn đạo đức của công chứng viên cũng tại Điều 8, Luật Công chứng 2014: "có phẩm chất đạo đức tốt" là một quy định hoàn toàn chung chung, không hề có tính định lượng, rất khó thực hiện trên thực tiễn, tuy rằng tiêu chuẩn này rất cần. Do vậy cũng nên phải nghiên cứu và quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn (nhưng phải phân biệt với Điều 13 - "Những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên"). 3.2. Kiến nghị về quy tắc đạo đức hành nghề công chứng viên. Tất cả các quy định trong bộ quy tắc đạo đức hành nghề công chứng này đều khá rõ ràng, mạch lạc, rất phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với truyền thống đạo đức dân tộc, đạo đức xã hội và đạo đức con người. Tuy nhiên, vì là một bộ quy tắc đạo đức áp dụng để hành nghề nên các quy định trong bộ quy tắc này dường như thiếu đi những quy định đòi hỏi phải có sự cụ thể. Trong một phạm vi nhỏ, ví dụ chúng ta sẽ chỉ ra quy định về sự "kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm" (được quy định trong Chương IV của quy chế). Đó là: + Thứ nhất: quy định về các việc kiểm tra, thanh tra, giám sát. khen thưởng, xử lý vi phạm còn chung chung, chưa đề ra được lịch trình, tiêu chí và thành phần những người tham gia đánh giá cụ thể vào đoàn thanh tra, kiểm tra,
  • 99. 99 giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm. Điều này rất quan trọng, vì nó sẽ bảo đảm cho việc đánh giá được chính xác, kịp thời và quan trọng nhất là phải thật sự công tâm, khách quan và chuẩn mực. Muốn như thế, ngoài các cơ quan quản lý Nhà nước như Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp hoặc Tổ chức xã hội nghề nghiệp hay chính Tổ chức hành nghề công chứng ra thì trong quy chế nên quy định thêm: trong thành phần đoàn thanh tra, kiểm tra, hay hội đồng giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm phải có mặt thêm các cơ quan báo chí, truyền thông, những người chuyên làm công tác xã hội và nhất là những người yêu cầu công chứng (người yêu cầu ngẫu nhiên và người yêu cầu thường xuyên), ... Có như vậy thì việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm mới được chính xác, quy chế mới thực sự phát huy được tác dụng. + Thứ hai: Với quy định "Công chứng viên thực hiện không đúng Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị nhắc nhở, phê bình, khiển trách, xử lý kỷ luật theo Điều lệ của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật" thì cũng nên quy định thêm việc phải thành lập đoàn hay hội đồng xử lý vi phạm để cùng quyết định việc xử lý vi phạm. Đồng thời, nêu quy định chi tiết hơn từng vi phạm của thể của công chứng viên sẽ phải chịu mức xử phạt nào, mức độ bao nhiêu... + Thứ ba, đối với quy định "phải có phẩm chất đạo đức tốt" thì cũng phải quy định cụ thể hơn rất nhiều. Chuẩn mực đạo đức xã hội chúng ta có thể đã biết nhiều, chuẩn mực đạo đức trong pháp luật chúng ta cũng có thể trích dẫn ra từ một số các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm, nhưng đối với tiêu chuẩn công chứng viên thì nên đặt chuẩn mực đạo đức phải cao hơn một mức so với các đối tượng thông thường khác, tức phải quy định rõ hơn thế nào là đạo đức tốt. Ví dụ, có thể quy định thêm về tiêu chuẩn đạo đức tốt như: chưa từng bị kết án tù giam vì lỗi cố ý trong lĩnh vực công chứng, không bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ ba trong lĩnh vực công chứng vì lỗi cố ý, hoặc chưa từng phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, hoặc những người không có hành vi gây ra những dư luận xấu có tác động tiêu cực đến xã hội, ...
  • 100. 100 3.3. Kiến nghị quy định về việc tham gia tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên Thúc đẩy nhanh và triệt để việc thành lập các Hội công chứng viên tại tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh, và Hiệp hội công chứng viên toàn quốc để có một sự thống nhất về việc thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ giữa các công chứng viên dưới sự chỉ đạo chung của cơ quan chuyên môn của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi cho từng công chứng viên. Đồng thời, thống nhất các tiêu chí hoạt động khác trong khuôn khổ quy định của pháp luật giữa hoạt động của các công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh và trên toàn quốc. Các Hội và Hiệp hội công chứng sẽ đóng góp vai trò to lớn trong việc chia sẻ thông tin nghiệp vụ giữa các công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng, tránh việc hoạt động không thống nhất, tránh cạnh tranh không lành mạnh, giải quyết các mối quan hệ nội bộ trong các Tổ chức hành nghề công chứng hay các Hội công chứng cũng như giữa các công chứng viên với nhau, bảo đảm hoạt động công chứng với tư cách là một nghề cao quý, đáng tin cậy và phát triển, ổn định. 3.4. Kiến nghị về công tác quản lý công chứng viên. - Tuy trong Luật Công chứng 2014 không quy định, nhưng trên thực tế cho đến thời điểm hiện tại, khi bổ nhiệm công chứng viên, Bộ Tư pháp thường ra quyết định bổ nhiệm chức danh công chứng viên cho một công chứng viên kèm theo tên địa bàn mà công chứng viên đó phải làm việc. Đây là một khía cạnh rất thiếu tính khoa học pháp lý, bởi khi đã được bổ nhiệm chức danh công chứng viên thì công chứng viên đó đã được công nhận là người có đầy đủ năng lực và phẩm chất của công chứng viên rồi, họ có quyền làm việc, hành nghề ở bất cứ đâu trên toàn quốc theo quy định của hiến pháp và pháp luật như những công dân khác, được lựa chọn nơi hành nghề công chứng, lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng theo đúng quy định của Luật Công chứng hiện hành quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 22. Do vậy, khi quyết định bổ nhiệm công chứng viên, Bộ
  • 101. 101 Tư pháp không nên ghi phạm vi địa bàn hoạt động công chứng, vì công chứng viên khi được bổ nhiệm. - Tăng cường hơn nữa việc quản lý chặt chẽ về chuyên môn của công chứng viên bằng các biện pháp tổ chức hội thảo, kiểm tra và bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức, nghiệp vụ cho công chứng viên. Quản lý chặt chẽ mối quan hệ giữa công chứng viên Tổ chức hành nghề công chứng của mình, bảo đảm cho mối quan hệ này luôn đúng pháp luật, luôn thuận lợi nhất nhưng cũng phải luôn minh bạch. Thanh tra, kiểm tra nghiêm minh, xử lý công bằng các sai phạm của công chứng viên và các Tổ chức hành nghề công chứng. Công khai quy hoạch công chứng viên và các Tổ chức hành nghề công chứng, đối xử bình đẳng đối với tất cả các công chứng viên và Tổ chức hành nghề công chứng. - Kịp thời giải thích pháp luật về công chứng và các pháp luật khác có liên quan cho công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh và trên toàn quốc để không ngừng nâng cao và hoàn thiện kiến thức pháp luật thực tế cho các công chứng viên, đồng thời tạo nên sự thống nhất trong việc công chứng giữa các công chứng viên với nhau và sự thống nhất giữa các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn một tỉnh và trên toàn quốc, nhất là trong giai đoạn hiện nay, việc pháp luật có những quy định "chồng chéo" nhau khá nhiều trong các lĩnh vực có liên quan đến việc công chứng. - Tăng cường phối hợp, kết hợp với các bộ, ngành, các cơ quan quản lý Nhà nước khác để kịp thời ban hành các văn bản quy phạm nhằm làm thống nhất, phù hợp với nhau giữa các cơ quan, tổ chức khác với công việc công chứng do của các công chứng viên, tránh việc hành nghề một cách không thống nhất giữa các công chứng viên với các cơ quan, tổ chức có liên quan này. - Xây dựng hệ thống thông tin về văn bản pháp luật công chứng và các thông tin khác có liên quan đến công chứng viên, liên quan đến nghiệp vụ công chứng, liên quan đến các giao dịch, tài sản có liên quan đến công chứng trong phạm vi địa bàn tứng tỉnh và trên địa bàn toàn quốc.
  • 102. 102 KẾT LUẬN Công chứng viên Việt Nam hiện là một chức danh tư pháp được Nhà nước bổ nhiệm, làm việc và hoạt động trực thuộc hoặc chịu sự quản lý của ngành bổ trợ tư pháp - một ngành thuộc khối các cơ quan hành chính Nhà nước. Do vậy, công chứng viên Việt Nam hiện tại gần như đang chịu sự quản lý hoàn toàn của các cơ quan hành chính Nhà nước, tuy rằng sự quản lý này chỉ được trao cho của một số cơ quan hành chính nhất định ở địa phương và ở trung ương. Công chứng viên tại Việt Nam là một chức danh tư pháp khá mới mẻ, chưa có chiều dài và chiều sâu phát triển như công chứng viên nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, với sự cố gắng của Nhà nước và toàn xã hội, hiện tại công chứng viên Việt Nam đang tồn tại, hoạt động và phát triển theo một quy chế khá chặt chẽ được quy định bởi Hiến pháp, các Luật mà trực tiếp nhất là Luật Công chứng 2014, thêm vào đó là các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyển ban hành nhằm củng cố và phát triển về chất lượng và số lượng ngày càng tiến bộ, tiến tới đáp ứng được với thực tiễn xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng. Với việc xã hội hoá công chứng và tham gia vào liên minh công chứng quốc tế, công chứng viên Việt Nam hiện tại đang có cơ hội lớn để tự hoàn thiện và phát triển mình theo kịp với trình độ phát triển chung của xã hội, học tập và cố gắng theo kịp với trình độ công chứng viên của nhiều nước có nền pháp luật và nền công chứng đã được thực tiễn kiểm nghiệm là tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, để công chứng viên Việt Nam được phát triển như vậy, các nhà khoa học pháp lý và nhất là những nhà xây dựng luật pháp ở nước ta phải đầu tư thêm nhiều công sức, vận dụng được nhiều những kiến thức đúng đắn và thực tiễn xã hội đa dạng, cũng như tận dụng được những kinh nghiệm quý báu từ chính những công chứng viên có kiến thức pháp luật tốt và bề dày kinh nghiệm để tiếp tục xây dựng, bổ sung nhằm hướng tới sự hoàn chỉnh một quy chế về công chứng viên trong tương lai sao cho hoàn thiện hơn, góp phần tạo dựng cho nước nhà một đội ngũ công chứng viên có trình độ chuyên môn giỏi, đáp ứng
  • 103. 103 được chuẩn mực ngày càng cao đối với công chứng viên thời hiện đại, có thể tiếp cận và hoà nhập được với thế giới, học tập và hội nhập được với các công chứng viên của các nước có nền pháp luật công chứng ưu việt. Thêm vào đó, quy chế công chứng viên trong tương lai phải cố gắng sàng lọc, lựa chọn được những người có đạo đức nghề nghiệp trong sáng, vô tư, mẫn cán, không hám danh, không tham lợi để bổ sung vào đội ngũ công chứng viên Việt Nam, để cho xã hội thực sự coi trọng đội ngũ này, coi trọng chức danh tư pháp này, coi nghề công chứng là một trong những nghề cao quý, là một trọng những nghề đáng tin cậy nhất, coi công chứng viên là những người chuẩn mực về đạo đức, là một trong những người có chức danh đáng trân trọng nhất trong xã hội như các nước phát triển trên thế giới đã làm được. Tất nhiên, muốn thực hiện được điều này thì việc giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên liên tục cho đội ngũ công chứng viên về cả chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phải được đưa lên hàng đầu. Đây sẽ là trách nhiệm lớn của rất nhiều các cơ quan và của toàn xã hội./. Với kiến thức còn hạn hẹp một học viên cao học, việc thực hiện đề tài thông qua bản luận văn này chỉ nêu bật được một khía cạnh nhỏ trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, mà bổ trợ tư pháp lại còn rất nhiều các lĩnh vực khác nữa. Nhưng vì chỉ mới bước đầu thực hiện một công việc nghiên cứu nên chắc chắn luận văn này của em sẽ còn thiếu sót rất nhiều. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của bản thân, đặc biệt là với sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của thày giáo hướng dẫn khoa học - Phó giáo sư, Tiến sỹ Ngô Huy Cương - em cũng đã cố gắng rất nhiều trong việc thu thập tài liệu, nghiên cứu, đánh giá, trích dẫn, phân tích và trình bày và hoàn chỉnh bản luận văn này với sự quyết tâm, cố gắng nhất có thể trong phạm vi năng lực của mình. Em rất mong các thầy, các cô giáo, các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ và cả các đồng nghiệp chỉ dẫn thêm, đóng góp cho em những ý kiến, những kiến thức mà em còn thiếu, những phương pháp hoặc những góp ý khác để em sẽ hoàn thiện hơn nội dung của đề tài này trong tương lai, giúp em có thể phát triển hơn đề tài này về sau hoặc giúp em sẽ đưa những kiến thức mới nhận được từ các thày, các cô để áp dụng trong thực tiễn công việc.
  • 104. 104 Em xin trân trọng cám ơn các thẩy, các cô trong Ban chủ nhiệm Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng toàn thể các thày giáo, cô giáo đã trực tiếp hay gián tiếp giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này. Em xin kính chúc tất cả các thày, các cô cùng gia đình luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc và ngày càng thu được nhiều thành tích trong công tác giảng dạy, nghiên cứu. ----------------
  • 105. 105 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN - Chu Hồng Sơn (14/10/2015), "Đôi điều về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Hà Nội, (http://moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/CaiCachTuPhap/View_detail.aspx?ItemID =415), (16/10/2015).
  • 106. 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO * Tài liệu tham khảo Tiếng Việt: 1. Đào Duy Anh (1992), Từ điển Hán - Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 2. Vũ Tuấn Anh (Chủ biên) (1998), "Vai trò của Nhà nước trong trật tự kinh tế thị trường ở Việt Nam", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 3. Vũ Huy Bằng (1999), Những cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện công chứng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội. 4. Nguyễn Thanh Bình (1994), Tập bài giảng về công chứng, luật sư, giám định, hộ tịch, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 5. Nguyễn Văn Bình (1999), "Hoạt động công chứng". Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 6. Bộ Nội vụ (1989), Thông tư số 11-TT/BNV (C13) ngày 7/2/1989 về con dấu của Phòng công chứng nhà nước, Hà Nội. 7. Bộ Tài chính - Tư pháp, Thông tư liên bộ số 84/TTLB ngày 18/12/1992 về thu lệ phí công chứng, Hà Nội. 8. Bộ Tài chính - Tư pháp (2012), Thông tư (liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC- BTP, ngày 19/01/2012 hướng dẫn hướng dẫn về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng), Hà Nội. 9. Bộ Tư pháp (1994), Báo cáo công tác tư pháp năm 1994, Hà Nội. 10. Bộ Tư pháp (1995), Báo cáo công tác tư pháp năm 1995, Hà Nội. 11. Bộ Tư pháp (1996), Báo cáo công tác tư pháp năm 1996, Hà Nội. 12. Bộ Tư pháp (2000), Báo cáo công tác tư pháp năm 2000, Hà Nội. 13. Bộ Tư pháp (1993), Giáo trình Luật Dân sự của Pháp, Tài liệu nghiên cứu của Bộ Tư pháp, Hà Nội. 14. Bộ Tư pháp (1945), Nghị định 1/10/1945 của Bộ Tư pháp, Công báo năm 1945, Hà Nội. 15. Bộ Tư pháp, Thông tư 57/QLTPK ngày 10/10/1987 quy định về công tác công chứng, Hà Nội.
  • 107. 107 16. Bộ Tư pháp, Thông tư 276-QLTPK ngày 20/4/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng, Hà Nội. 17. Bộ Tư pháp, Thông tư 1411 ngày 3/10/1996 về hướng dẫn thực hiện Nghị định 31/CP, Hà Nội. 18. Bộ Tư pháp, Thông tư số 11/2012/TT-BTP, ngày 30/10/2012 (Ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng), Hà Nội. 19. Bộ Tư pháp, Thông tư số 04/2015/TT-BTP, ngày 15/04/2015 (Hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng), Hà Nội. 20. Chính phủ (1996), Nghị định 86/CP ngày 10/2/1996 về việc bán đấu giá tài sản, Hà Nội. 21. Chính phủ (1996), Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Hà Nội. 22. Chính phủ (2000), Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/2/2000 quy định về công chứng, chứng thực, Hà Nội. 23. Chính phủ (2008), Nghị định (số: 02/2008/NĐ-CP, ngày 04/01/2008, hướng dẫn một số điều của Luật Công chứng năm 2006), Hà Nội. 24. Chính phủ (2013), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, ngày 24/09/2013 (Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp), ..., Hà Nội. 25. Chính phủ (2015), Nghị định số 67/2015/NĐ-CP, ngày 14/08/2015 (Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, ....), Hà Nội. 26. Chính phủ (2015), Nghị định (số: 29/2015/NĐ-CP, ngày 15/05/2015, hướng dẫn một số điều của Luật Công chứng năm 2014), Hà Nội. 27. Chính phủ (1994), Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 (về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân, tổ chức), Hà Nội. Formatted: Font: 13.5 pt, Not Bold
  • 108. 108 28. Công báo năm 1946, Sắc lệnh 59/SL ngày 15/11/1945, ấn định thể lệ và thị thực giấy tờ, Hà Nội. 29. Công báo năm 1952, Sắc lệnh 85/SL ngày 29/2/1952, ban hành về các việc mua bán, cho và đổi nhà cửa ruộng đất, Hà Nội. 30. Cộng hoà Bê Nanh (1968), Điều lệ công chứng, ban hành kèm theo lệnh số 48 FR của Tổng thống nước Cộng hòa Bê Nanh, Bê Nanh. 31. Hà Hùng Cường (2001), Trả lời phỏng vấn Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 1-2001, Hà Nội. 32. Bùi Đình Dũng - Nguyễn Hữu Tráng (1993), Việc thực hiện chức năng công chứng của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, Đề tài khoa học mã số 92-98-224, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 33. Đặng Minh Đạo (1996), "Hệ thống công chứng ở Nhật Bản", Pháp luật, Hà Nội. 34. Bùi Xuân Đức (1992), "Tổ chức cơ quan chính quyền địa phương trong Hiến pháp sửa đổi", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 35. Bùi Xuân Đức (1993), "Vấn đề tổ chức cơ quan chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 36. Bùi Xuân Đức (2000), "Vấn đề hoàn thiện bộ máy nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 37. Nguyễn Duy Gia (chủ biên) (1997), Một số vấn đề cơ bản hoàn thiện bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Học viện Hành chính Quốc gia (1993), Nội dung và phương thức tổ chức hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đề tài KX-05-08, Hà Nội. 39. Nguyễn Ngọc Hiến (1996), Một số vấn đề chung về công chứng nhà nước, Tài liệu nghiệp vụ, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 40. Nguyễn Văn Hoạt (1998), "Công chứng hợp đồng thế chấp tài sản vay vốn Ngân hàng", Dân chủ Pháp luật, Hà Nội.
  • 109. 109 41. Hội đồng Bộ trưởng (1981), Nghị định 143/HĐBT ngày 22/11/1981 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp, Hà Nội. 42. Hội đồng Bộ trưởng (1991), Nghị định 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Hà Nội. 43. Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế (1989), Nxb Sự thật, Hà Nội. 44. Hội đồng Nhà nước (1990), Pháp lệnh Lãnh sự, Nxb Sự thật, Hà Nội. 45. Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Nxb Sự thật, Hà Nội. 46. Đặng Văn Khanh (1993), Giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học về công chứng, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 47. Đặng Văn Khanh (1999), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng, và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội. 48. Dương Khánh (2000), "Bàn về giá trị pháp lý của văn bản công chứng", Kiểm sát, Hà Nội. 49. Dương Khánh (2000), "Về vai trò của công chứng viên", Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 50. Dương Khánh (2001), "Thẩm quyền thực hiện công chứng", Tòa án nhân dân, Hà Nội. 51. Khoa Luật trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (1998), Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, công chứng, luật sư, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. 52. Liên đoàn công chứng Latinh (1948), Điều lệ Liên đoàn công chứng hệ La tinh (UTNL), Argentina. 53. Nguyễn Đình Lộc (1996), Bộ Luật Dân sự Việt Nam quá trình xây dựng và các quan điểm chỉ đạo, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Hà Nội.
  • 110. 110 54. Đinh Văn Mậu (1995), "Xây dựng nền hành chính phục vụ công dân", Quản lý nhà nước, Hà Nội. 55. Vũ Văn Mẫu (1973), Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, Nxb Khai trí, Sài Gòn. 56. Lê Tuyết Nga (1995), Giới thiệu tóm tắt Luật công chứng ngày 28/8/1969 của Công hòa Liên bang Đức, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 57. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (1995), Lịch sử Việt Nam 1930 - 1945, Hà Nội. 58. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (1996), Luật và xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII - XVIII, Hà Nội. 59. Nhà Xuất bản Tư pháp (1995), Luật về công chứng nhà nước của nước Ucraina về công chứng nhà nước, Hà Nội. 60. Nhà Xuất bản Tư pháp (1995), Luật ngày 19/7/1993 của Liên bang Nga về hệ thống công chứng nhà nước, Hà Nội. 61. Nhà pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật Dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 62. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ BCH TW Đảng (khóa VIII), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 BCHTW Đảng, Hà Nội. 63. Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia (1995), Nền hành chính và cải cách nền hành chính của Nhật Bản, Việt Nam và Trung Quốc, Hà Nội. 64. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Văn kiện Đại hội Vũ Huy Bằng (1999), Những cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện công chứng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội. 65. Đảng lần thứ IX (2001), Hà Nội. 66. Nhà Xuất bản Giáo dục, Sổ tay thuật ngữ Pháp lý thông dụng (1996), Hà Nội. 67. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Từ điển tiếng Việt (1974), Viện nghiên cứu Ngữ học, (in lần thứ 3), Hà Nội. 68. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Từ điển tiếng Việt (1994), Hà Nội.
  • 111. 111 69. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội (1994), Một số văn bản Pháp lệnh Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Hà Nội. 70. Nhà Xuất bản Khoa học xã hội (1994), Nghiên cứu hệ thống Pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, Hà Nội. 71. Nhà Xuất bản Pháp lý (1986), Thuật ngữ pháp lý phổ thông (tập 1), Hà Nội. 72. Nhà Xuất bản Thế giới, Từ điển Pháp luật hành chính (1992), Hà Nội. 73. Phạm Hữu Nghị (1995), "Giao dịch dân sự, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 74. Nguyễn Như Phát (1995), "Chủ thể của Luật Dân sự", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 75. Phòng Công chứng số 1 T.P. Hà Nội (1996), Báo cáo công tác của Phòng công chứng nhà nước số 1 thành phố Hà Nội, Hà Nội. 76. Phòng Công chứng số 1 T.P. Hồ Chí Minh (1996), Báo cáo công tác của Phòng công chứng nhà nước số 1 thành phố Hồ Chí Minh, T.P. Hồ Chí Minh. 77. Phòng Công chứng số 1 Tỉnh Thanh Hoá (1997), Báo cáo công tác của Phòng công chứng nhà nước số 1 tỉnh Thanh Hóa, Thanh Hoá. 78. Vũ Thị Phụng (1997), Lịch sử Nhà nước Pháp luật Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. 79. Quốc hội (1995), Bộ luật Dân sự, Hà Nội. 80. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội. 81. Quốc hội (2006), Luật Công chứng, Hà Nội. 82. Quốc hội (2014), Luật Công chứng, Hà Nội. 83. Quốc hội (1995), Luật doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội. 84. Quốc hội (1999), Luật doanh nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 85. Quốc hội (2005), Luật Nhà ở, Hà Nội. 86. Quốc hội (2010), Luật Thanh tra, Hà Nội. 87. Quốc Hội, Luật Thương mại (1997), Hà Nội. 88. Quốc Hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) (1994). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  • 112. 112 89. Dương Trung Quốc (1989), Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng 8/1945, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 90. Lê Kim Thanh (1993), Công chứng nhà nước thuộc các nước XHCN (cũ), Viện Nghiên cứu KHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 91. Tuấn Đạo Thanh (2013), Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự trong hoạt động công chứng, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội. 92. Dương Đình Thành (1998), Công chứng nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 93. Nguyễn Thảo (2013), Quy định về công chứng viên của một số nước trên thế giới", Ban Nội chính Trung ương (website: www.noichinh.vn). 94. Nguyễn Thảo (2013), Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, Ban Nội chính Trung ương (website: www.noichinh.vn), Ban chỉ đạo Trung ương về Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức (website: www. caicachcongvu.gov.vn.) 95. Trần Thất (1995), Những vấn đề cơ bản về công chứng, Thông tin KHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 96. Trần Thất (1995), Nghị định 5/HĐBT về công chứng nhà nước và những vấn đề đặt ra hiện nay, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 97. Trần Thất - Đặng Văn Khanh (1998), "Các quy định của pháp luật hiện hành về công chứng nhà nước", Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 98. Lê Minh Thông (1998), "Hoàn thiện pháp luật về quyền con người trong điều kiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 99. Lê Minh Thông (2000), "Một số vấn đề về hoàn thiện các cơ sở Hiến định của tổ chức bộ máy Nhà nước ở nước ta hiện nay", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
  • 113. 113 100. Lê Minh Thông (1998), "Vai trò của Nhà nước trong trật tự kinh tế thị trường", Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội. 101. Vũ Quốc Thông (1973), Pháp chế Việt Nam, Đại học Luật khoa, Sài Gòn. 102. Toà án Nhân dân tối cao (1997), Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội. 103. Nguyễn Khánh Toàn (1995), Văn bản công chứng ở Pháp, Ba Lan, chuyên đề công chứng, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 104. Bùi Ngọc Toàn (1993), Công chứng đối với việc quản lý và phát triển các quan hệ hợp đồng ở nước ta, Viện nghiên cứu KHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 105. Nguyễn Khánh Toàn (1995), Văn bản công chứng ở Pháp, Ba Lan, chuyên đề công chứng, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 106. Đoàn Trọng Truyến (1996), Một số vấn đề xây dựng và cải cách đơn vị hành chính nhà nước ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 107. Nguyễn Văn Tuân (1993), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công chứng nhà nước ở Việt Nam, Viện NCKHPL, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 108. Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý (1992), Giới thiệu tóm tắt luật công chứng của Cộng hòa Singapore, Bộ Tư pháp, Hà Nội. 109. Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý (1995), Giới thiệu vài nét về đề tài: Xây dựng và hoàn thiện công tác công chứng nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội, (Chuyên đề công chứng của Viện NCKHPL), Bộ Tư pháp, Hà Nội. 110. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (1997), Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam (1997), Bộ Tư pháp, Hà Nội. 111. Viện Sử học Việt Nam, Quốc Triều Hình luật (1991), Nxb Pháp lý, Hà Nội. 112. Việt Nam cộng hoà (1954), Dụ số 43, "Ấn định quy chế chung cho ngạch chưởng khế", Công báo Việt Nam, số 11 tháng Chạp 1954, Sài Gòn. 113. Việt Nam Cộng Hoà (1962), Các văn bản tổ chức Tư pháp, Sài Gòn. 114. Việt Nam Cộng Hoà (1973), Bộ luật Dân sự của Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn.
  • 114. 114 115. Nguyễn Văn Yểu - Dương Đình Thành (1992), Những điều cần biết về công chứng nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. * Tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài: 116. Bernard Maugain (1995), Trách nhiệm dân sự, bảo đảm trách nhiệm dân sự, hủy bỏ chứng thư công chứng, Tài liệu hội thảo công chứng, Nhà Pháp luật Việt - Pháp, Hà Nội. 117. Http://lexinter.net/ ENGLISH/civil_code.htm "Civil Code of France", Article 2130 and Article 2133. 118. Http://en.wikisource.org/wiki/Civil_Code_of_Japan, "Civil Code of Japan". 119. Http://en.wikipedia.org/wiki/Future_interest, "Future interest". 120. Mi Chen Corderl (1995), Tổ chức công chứng ở Pháp, tài liệu hội thảo về công chứng tại nhà pháp luật Việt - Pháp, Hà Nội. 121. The American Law Institute, "Restatement of the Law", "Property Copyright (c) 1936, Rules and Principles", Division 3 - Future Interests. _______________________