1
®¹i häc quèc gia hµ néi
khoa luËt
NGUYÔN THÞ Tè UY£N
TéI S¶N XUÊT, BU¤N B¸N HµNG GI¶ THEO
§IÒU 156 Bé LUËT H×NH Sù N¡M 1999
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi – 2014
2
®¹i häc quèc gia hµ néi
khoa luËt
NGUYÔN THÞ Tè UY£N
TéI S¶N XUÊT, BU¤N B¸N HµNG GI¶ THEO
§IÒU 156 Bé LUËT H×NH Sù N¡M 1999
Chuyªn ngµnh : LuËt h×nh sù
M· sè : 60 38 40
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: GS.TS. §ç Ngäc Quang
Hµ néi - 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Tố Uyên
MỞ ĐẦU
4
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của hàng giả trên thị trƣờng
đã trở thành hiện tƣợng phổ biến và mang tính toàn cầu. Sản xuất và buôn bán
hàng giả là vấn nạn của xã hội. Đối với sản xuất và tiêu dùng nội địa, hàng giả
ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền lợi và quyết tâm của các doanh nghiệp chân
chính muốn phát triển bằng con đƣờng cạnh tranh lành mạnh, ảnh hƣởng đến
sức khỏe, tính mạng của nhân dân và gây hoang mang trong dƣ luận xã hội.
Đối với quan hệ kinh tế - quốc tế, nạn hàng giả làm giảm sự hấp dẫn trong thu
hút đầu tƣ nƣớc ngoài, ảnh hƣởng đến tiến trình thực hiện các chế định kinh tế
quốc tế mà điển hình nhất là các quy định của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới
(WTO). Theo báo cáo từ tổ chức Hải quan thế giới, cứ 10 sản phẩm lại có 1
sản phẩm bị làm giả.
Hòa chung với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, những năm qua kinh tế
nƣớc ta có những bƣớc phát triển đáng kể, an sinh xã hội đƣợc đảm bảo. Bên
cạnh đó, có một số vấn đề đáng quan ngại, trong đó dƣ luận bức xúc trƣớc
tình trạng hàng giả xuất hiện tràn lan trên thị trƣờng. Hàng giả phong phú về
chủng loại, đa dạng về mẫu mã và linh động về giá cả có mặt ở rất nhiều phân
khúc của thị trƣờng từ các phiên chợ ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn
đến các chợ, các siêu thị ở các đô thị lớn. Tình hình sản xuất, buôn bán hàng
giả cũng có chiều hƣớng gia tăng về số lƣợng, loại hàng hóa và có diễn biến
ngày càng phức tạp, đặc biệt trong điều kiện nƣớc ta có chung đƣờng biên
giới với Trung Quốc , "một phân xƣởng sản xuất của thế giới" và cũng là một
trung tâm sản xuất, phát luồng hàng giả.
Đấu tranh phòng, chống nạn hàng giả là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị và của toàn xã hội. Phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc
thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó xử lý hình sự là một biện pháp hữu
hiệu, nghiêm khắc nhất để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi của ngƣời
tiêu dùng và các nhà sản xuất, phân phối chân chính. Xử lý hình sự đối với
hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Điều 156 Bộ luật hình
5
sự (BLHS) là một trong những nội dung quan trọng về phòng, chống sản xuất,
buôn bán hàng giả. Trong cuộc đấu tranh đó, pháp luật hình sự cùng với hoạt
động của các cơ quan bảo vệ pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng. Nhận
thức đƣợc tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
sản xuất, buôn bán hàng giả các cơ quan bảo vệ pháp luật đã chủ động áp
dụng nhiều biện pháp, xử lý nghiêm những trƣờng hợp phạm tội sản xuất,
buôn bán hàng giả và đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, quá
trình áp dụng pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn phát sinh một
số hạn chế bất cập: quy định của pháp luật có điểm chƣa phù hợp với thực
tiễn cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả, thiếu tính thống nhất, đồng bộ
trong thi hành và áp dụng pháp luật; chƣa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan bảo vệ pháp luật; biện pháp áp dụng của pháp luật chƣa triệt để,
nghiêm minh. Những hạn chế, bất cập ấy, đã ảnh hƣởng đến kết quả thi hành
pháp luật đối với tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Số vụ sản xuất buôn
bán hàng giả đƣợc phát hiện trong những năm trở lại đây lên đến con số hàng
nghìn, song số vụ đƣợc khởi tố, truy tố và đƣa ra xét xử là rất ít: Trong 05
năm (từ năm 2009 - đến năm 2013) ngành Tòa án đã xét xử sở thẩm 67 vụ, 94
bị can, trung bình mỗi năm xét xử 13,4 vụ, 18,8 bị can về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả - một con số rất ít ỏi so với tình hình thực tế hiện nay. Vì vậy,
việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của tội
sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156, BLHS năm
1999 để giúp nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống loại tội
phạm này là một nhu cầu thực tế và thiết thực.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực nghiên cứu, ở mức độ khái quát tội sản xuất hàng giả,
buôn bán hàng giả đƣợc đề cập trong nhiều cuốn Bình luận khoa học BLHS
năm 1999 nhƣ: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm),
của tập thể tác giả TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS,Ths. Phạm
Thanh Bình, Ths. Nguyễn Đức Mai, Ths. Nguyễn Sỹ Đại, Ths. Nguyễn Mai
6
Bộ, Nxb Công an nhân dân, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần
các tội phạm, tập VI, do Ths. Đinh Văn Quế chủ biên, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2003; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam đã được sửa
đổi bổ sung năm 2009, do TS. Trần Minh Hƣởng chủ biên, Nxb Lao động,
2009; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 2, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân, 2012. Ở mức độ nghiên cứu chuyên sâu, tác giả Mai
Thị Lan đã nghiên cứu về tội phạm này trong Luận văn thạc sỹ với đề tài "Tội
sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam", năm 2008 tại
Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội.
Mặc dù, tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả đã đƣợc nghiên cứu cả
ở góc độ lý luận và thực tiễn tuy nhiên về thời điểm nghiên cứu, các công trình
nghiên cứu trên đây, đặc biệt là nghiên cứu của Thạc sỹ Mai Thị Lan đã đƣợc
thực hiện từ năm 2008, với bối cảnh và trực trạng áp dụng pháp luật đối với tội
sản xuất, buôn bán hàng giả năm 2008 và những năm trƣớc đó đến nay đã có
nhiều thay đổi. Nạn hàng giả vẫn tiếp diễn, gia tăng, diễn biến phức tạp với thủ
đoạn ngày càng tinh vi. Các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội
sản xuất buôn bán hàng giả vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự pháp luật, cần
đƣợc nghiên cứu cụ thể, đầy đủ và toàn diện, phục vụ công tác điều tra, truy tố,
xét xử và đấu tranh chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả ở nƣớc ta
hiện nay. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
cả về lý luận và thực tiễn về tội phạm này sẽ đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của
thực tiễn và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý, các vấn đề khác có liên quan,
kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả.
Trên cơ sở đó có thể để xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Điều
156 BLHS và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm này.
7
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả, trong đó làm rõ khái niệm, đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng
giả, phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan và với pháp
luật hình sự của một số nƣớc.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hình sự Việt
Nam hiện hành về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả và thực tiễn áp
dụng các quy định này từ đó tìm ra những mặt đạt đƣợc và những hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần bổ sung, hoàn thiện quy định về
tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam và nâng cao
hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về hàng giả.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển các quy
định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong luật hình sự Việt nam
từ trƣớc đến nay, các vấn đề liên quan đến việc định tội danh, trách nhiệm
hình sự và hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại
Điều 156, BLHS năm 1999 cả ở góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật
trong phạm vi cả nƣớc, giai đoạn 2009-2013.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ
nghĩa Mác - Lê Nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tử tƣởng Hồ
Chí Minh, tƣ tƣởng lãnh đạo, chỉ đạo cũng nhƣ chủ trƣơng của Đảng và Nhà
nƣớc ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội sản xuất hàng
giả, buôn bán hàng giả nói riêng.
Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử, thống kê, tổng
hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, trao đổi với các chuyên gia, các nhà nghiên
cứu và khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa của luận văn
8
- Đề tài là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc
sĩ luật học nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về tội sản xuất
hàng giả, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam.
- Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập, đồng
thời cung cấp cho cán bộ làm công tác thực tiễn những hƣớng dẫn, chỉ dẫn cụ
thể, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn
hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả.
Chương 2: Các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và
nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
theo Điều 156 Bộ luật hình sự.
9
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG
GIẢ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156, Chƣơng
XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế), Phần các tội phạm, BLHS
Việt Nam. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của tội phạm này cần làm rõ hàng
loạt thuật ngữ cơ bản. Trƣớc tiên, cần hiểu thế nào là sản xuất, thế nào là buôn
bán và thế nào là hàng giả; tiếp theo, định lƣợng của hành vi sản xuất, buôn
bán hàng giả đến mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự; và cuối cùng,
đánh giá sự nguy hiểm của tội phạm này đối với nhà nƣớc và xã hội.
Thông thƣờng, hàng giả đƣợc hiểu là không phải hàng thật. Vậy thế
nào là hàng thật. Theo khoản 3 Điều 3 Luật chất lƣợng sản phẩm hàng hóa
thì, "sản phẩm, hàng hoá không có khả năng gây mất an toàn là sản phẩm,
hàng hoá trong điều kiện vận chuyển, lƣu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và
đúng mục đích, không gây hại cho ngƣời, động vật, thực vật, tài sản, môi
trƣờng" [29]. Tuy nhiên, sản phẩm hàng hóa đƣợc đƣa vào thị trƣờng, tiêu
dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị lại phải tuân thủ những quy định
của pháp luật sở hữu trí tuệ, có nghĩa phải tuân thủ những quy định của sở
hữu công nghiệp liên quan đến sản phẩm hàng hóa. Mỗi sản phẩm hàng hóa
đƣợc đƣa ra thị trƣờng để trao đổi, mua bán phải có nhãn hiệu, tên thƣơng
mại, chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, hay nói cách khác phải đăng
ký hàng hóa tại cơ quan có thẩm quyền để xác định chất lƣợng hàng hóa. Nhƣ
vậy, hiểu một cách thông thƣờng, sản phẩm hàng hóa đƣợc coi là giả khi
không bảo đảm chất lƣợng, giả về nhãn hiệu hàng hóa đƣa ra thị trƣờng tiêu
thụ nhằm lừa dối ngƣời tiêu dùng hoặc làm cho ngƣời tiêu dùng tƣởng rằng
10
đó là hàng thật, hàng đảm bảo chất lƣợng không gây hại cho ngƣời, động vật,
thực vật, tài sản, môi trƣờng khi sử dụng nó.
Tuy nhiên, để xác định nhƣ thế nào là hàng giả cần dựa vào những
quy định của văn bản pháp luật. Theo quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định
số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả,
hàng cấm, bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, "Hàng giả" có một trong các dấu
hiệu sau đây:
- Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng,
công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng
hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng
đã công bố hoặc đăng ký;
- Hàng hóa có hàm lƣợng định lƣợng chất chính hoặc trong các chất
dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống
so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp
dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho ngƣời, vật nuôi không có dƣợc
chất; có dƣợc chất nhƣng không đúng với hàm lƣợng đã đăng ký; không đủ
loại dƣợc chất đã đăng ký; có dƣợc chất khác với dƣợc chất ghi trên nhãn,
bao bì hàng hóa;
- Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lƣợng hoạt chất chỉ
đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng, quy chuẩn kỹ thuật đã
đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất
khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng
nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại hoặc tên thƣơng
phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao
bì hàng hóa của thƣơng nhân khác;
11
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về
nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
- Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005 (Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hoá
giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo
nhãn hiệu). Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có
gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý
đang đƣợc bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không đƣợc phép của chủ
sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý);
- Tem, nhãn, bao bì giả. "Tem, nhãn, bao bì giả" gồm đề can, nhãn
hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lƣợng, phiếu bảo hành, niêm
màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ
dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại, tên
thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng
hóa của thƣơng nhân khác.
Nhƣ vậy, để xác định là hàng giả khi hàng đó thỏa mãn một tong
những dấu hiệu nêu trên.
Cũng theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày
15/11/2013 của Chính phủ, hành vi "Sản xuất" là việc thực hiện một, một số
hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế,
chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng
gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa” [7]. Từ quy định này, có thể hiểu "sản
xuất hàng giả" là thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế
bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp,
pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng
hóa có một trong các tình tiết đƣợc quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ.
Theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày
15/11/2013 của Chính phủ, hành vi "Buôn bán" là việc thực hiện một, một số
12
hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển,
bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đƣa hàng hóa vào
lƣu thông" [7]. Cho nên, có thể hiểu buôn bán hàng giả là thực hiện một, một
số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận
chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đƣa hàng
hóa có một trong các tình tiết đƣợc quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, vào lƣu thông.
Qua đó, chúng ta có thể thấy sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả
là hai hành vi vi phạm độc lập. Đây cũng là hai tội phạm độc lập đƣợc quy
định tại Điều 156 BLHS năm 1999: Tội sản xuất hàng giả và tội buôn bán
hàng giả. Điều đó có nghĩa là chỉ cần thực hiện hành vi sản xuất hàng giả
hoặc buôn bán hàng giả với đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm này thì
ngƣời có hành vi này đã bị coi là phạm tội mà không cần phải thực hiện hành
vi còn lại. Điểm khác biệt của hai tội này nằm ở mặt khách quan của tội phạm
thể hiện ở hành vi phạm tội đó là hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn
bán hàng giả.
Nếu khái niệm cho chúng ta nhận biết tổng thể đối tƣợng nghiên cứu
một cách chung nhất, thì đặc điểm giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về đối
tƣợng nghiên cứu, minh họa cho khái niệm, làm cho khái niệm trở lên bớt khô
cứng và sinh động hơn. Để nhận thức sâu và áp dụng chính xác tội sản xuất,
buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS vào thực tiễn cuộc sống
chúng ta cùng nghiên cứu về đặc điểm của tội phạm này.
1.1.2. Đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156
Bộ luật hình sự
Theo Luật hình sự Việt Nam, hành vi bị coi là tội phạm đƣợc phân
biệt với những hành vi không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu: tính nguy
hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình
phạt. Đó là những đặc điểm của tội phạm nói chung mà tội sản xuất, buôn bán
hàng giả không phải là ngoại lệ. Mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể của một loại
13
tội khác nhau về nội dung biểu hiện của tội phạm, không trƣờng hợp nào
giống hoàn toàn trƣờng hợp nào. Tuy vậy, tất cả những trƣờng hợp phạm tội
của một loại tội phạm đều có những nội dung biểu hiện đặc điểm, phản ánh
tính chất đặc trƣng của tội phạm đó mà không thể nhầm lẫn sang tội phạm
khác. Nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS
cho thấy, tội danh này có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội danh có tính chất bao
quát, chung đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả. Bởi vì, trong BLHS
còn có nhiều điều luật khác quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả có tính
chất đặc thù. Ví dụ, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực
phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh đƣợc quy định tại Điều 157 BLHS;
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón,
thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi đƣợc quy định
tại Điều 158 BLHS; Tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả
đƣợc quy định tại Điều 164 BLHS; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đƣợc quy định tại Điều 171 BLHS.
Nhƣ vậy, ngƣời nào có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không
phải là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; không
phải là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực
vật, giống cây trồng, vật nuôi; không phải là tem giả, vé giả; không phải là có
kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc
các đối tƣợng sở hữu công nghiệp khác đang đƣợc bảo hộ tại Việt Nam thì bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 156 BLHS.
Thứ hai, có thể phân loại hàng giả là đối tƣợng của tội sản xuất, buôn
bán hàng giả thành ba loại, hàng giả về nội dung, hàng giả về hình thức và
hàng giả cả về nội dung và hình thức. Để xác định hàng giả về nội dung hay
giả về hình thức, hay giả cả về nội dung, hình thƣc trong quá trình áp dụng
pháp luật cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ những văn bản pháp luật khác
nhau tƣơng ứng mỗi loại hàng giả, cụ thể:
14
- Hàng giả về nội dung gồm: Hàng giả không có giá trị sử dụng, công
dụng; Hàng giả có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc tự
nhiên, tên gọi của hàng hóa; Hàng giả có giá trị sử dụng, công dụng không
đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có
hàm lƣợng, định lƣợng chất chính, tổng các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ
thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng,
quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì
hàng hoá. Đây là các trƣờng hợp giả về chất lƣợng, kỹ thuật hàng hóa, xâm
phạm trật tự quản lý nhà nƣớc về chất lƣợng, kỹ thuật hàng hóa đƣợc bảo vệ
theo Luật tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật chất lƣợng sản phẩm, hàng
hóa và các văn bản hƣớng dẫn thi hành.
- Hàng giả về hình thức bao gồm: Nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả
mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; Hàng giả mạo tên thƣơng
mại, tên thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì
hàng hóa của thƣơng nhân khác; Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa
ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói hàng hóa,
lắp rắp hàng hóa; Hàng hóa sao chép lậu là bản sao đƣợc sản xuất mà không
đƣợc phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan theo quy định tại
Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ; Nhãn, bao bì giả. Quản lý nhà nƣớc về nội dung
này có Luật sở hữu trí tuệ, Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của
Chính phủ về nhãn hàng hóa và các văn bản hƣớng dẫn thi hành.
- Hàng giả cả về nội dung về hình thức là hàng giả vừa không có giá
trị sử dụng, công dụng và giả cả về nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo
tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác… nhƣ đã nêu ở phần trên.
Thứ ba, giá cả bán hàng giả không nhất thiết phải bán theo giá của
hàng thật để lừa dối ngƣời tiêu dùng, mà còn có thể bán với giá rẻ, thậm chí
rất rẻ mà không có mục đích lừa dối ngƣời tiêu dùng. Thậm chí, có các loại
hàng giả khi đƣợc mang ra tiêu thụ, ngƣời tiêu dùng vẫn biết đó là hàng giả,
nhƣng họ vẫn cứ mua và mang về sử dụng. Tuy nhiên, dù bán với giá nào và
15
có mục đích lừa dối ngƣời tiêu dùng hay không thì ngƣời sản xuất, buôn bán
hàng giả vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 156 BLHS.
Thứ tư, nguồn gốc của hàng có thể sản xuất tại Việt Nam và có thể sản
xuất ở nƣớc ngoài đƣợc nhập khẩu hoặc bằng các cách khác nhau đƣa vào
Việt Nam tiêu thụ. Tuy nhiên, để xác định đó là hàng giả thì phải có hàng thật
để so sánh. Điều đó có nghĩa trong trƣờng hợp hàng giả đƣợc sản xuất ở nƣớc
ngoài và đƣa vào Việt Nam tiêu thụ thì phải có hàng thật đang tiêu thụ ở Việt
Nam mà hàng thật này đã đƣợc đăng ký bản quyền sở hữu công nghiệp, đăng
ký chất lƣợng hàng hóa và đã đƣợc Cục sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và
Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, tên thƣơng mại... Ví dụ,
phụ tùng ô tô, xe máy đƣợc sản xuất tại Trung Quốc có ghi nhãn hiệu Honda
của Nhật Bản đƣợc mang vào Việt Nam tiêu thụ. Để xác định phụ tùng ô tô,
xe máy này đƣợc sản xuất tại Trung Quốc có phải là hàng giả hay không thì
phải có phụ tùng ô tô, xe máy của hãng Honda đã đăng ký bản quyền tại Việt
Nam đƣa ra so sánh đối chiếu về chất lƣợng và nhãn hiệu.
Tƣơng tự nhƣ thế, đối với hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đƣợc xác
định là hàng giả thì phải so sánh với chủng loại hàng hóa đó sản xuất tại Việt
Nam đã đăng ký bản quyền tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Ví dụ, có
loại bột giặt có nhãn hiệu OMO tiêu thụ trên thị trƣờng bị nghi là giả thì phải
lấy bột giặt có nhãn hiệu OMO của chính hãng đã đăng ký bản quyền tại Việt
Nam đƣa ra so sánh, đối chiếu để xác định loại bột giặt có nhãn hiệu OMO
tiêu thụ trên thị trƣờng bị nghi là giả có phải là hàng giả hay không. Điều đó
có nghĩa rằng, để xác định hàng giả thì phải có kết quả giám định của cơ quan
giám định có thẩm quyền. Đây là chứng cứ đặc biệt quan trọng mà các cơ
quan điều tra, kiểm sát, tòa án dựa vào đó để quyết định việc truy cứu trách
nhiệm hình sự hay không theo Điều 156 BLHS.
1.2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY
ĐỊNH VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
16
1.2.1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Cách mạng Tháng Tám thành công - nƣớc Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bƣớc vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự
do và chủ nghĩa xã hội. Ngày 09 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I nƣớc
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến
pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1946 ra đời có ý nghĩa quan trọng về nhiều
phƣơng diện và là nguồn có tính chất định hƣớng của luật hình sự Việt Nam
trong giai đoạn 1945-1959. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời
Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 47/SL quy định:
Cho đến khi ban hành những bộ pháp luật duy nhất cho toàn
cõi nƣớc Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ
vẫn tạm thời giữ nguyên nhƣ cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với
những điều theo đổi ấn định trong Sắc lệnh này.
Những điều khoản cụ thể trong luật lệ cũ đƣợc tạm giữ lại
do Sắc luật này, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của
nƣớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa [4].
Về phạm vi nguồn luật cũ đƣợc áp dụng trong chế độ mới gồm Bộ luật
hình An Nam tại Bắc bộ, Bộ Hoàng Việt hình luật tại Trung bộ và Bộ hình
Pháp tu tại Nam bộ. Bên cạnh việc duy trì pháp luật của chế độ cũ nhƣ một
giải pháp tình thế, chính quyền cách mạng đã khẩn trƣơng xây dựng pháp luật
của chế độ mới, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nƣớc. Do
bị chi phối bởi đặc điểm lịch sử đất nƣớc, trong thời kỳ này nguồn của luật
hình sự chủ yếu tồn tại dƣới dạng Sắc lệnh do Chủ tịch nƣớc - đồng thời là
Chủ tịch Chính phủ ban hành.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đƣợc giải
phóng, nhiệm vụ cách mạng có sự thay đổi cơ bản, Hiến pháp năm 1959 đƣợc
ban hành để ghi nhận những quan hệ xã hội mới đang tồn tại, đồng thời định
hƣớng cho sự phát triển tiếp theo của đất nƣớc, nguồn của luật hình sự cũng
17
có những bƣớc phát triển mới, trong hệ thống luật hình sự Việt Nam không
còn có các văn bản pháp luật ban hành dƣới chế độ cũ, Pháp lệnh, Sắc luật lại
giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự.
Tuy nhiên cho đến trƣớc năm 1976, đất nƣớc ta liên tục có chiến tranh
cả nƣớc tập trung toàn bộ sinh lực cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các văn
bản pháp luật hình sự mang tính thời sự ra đời tập trung quy định các tội liên
quan đến cuộc chiến tranh nhƣ: tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản
XHCN nhƣ tội tàng trữ, lƣu hành tiền cũ, từ chối sử dụng, làm giả hay phá
hoại tiền mới, tội vi phạm thể lệ mậu dịch, tội đầu cơ hàng hóa,... Giai đoạn
này, nền kinh tế nƣớc ta còn bao cấp, cả nƣớc tập trung cho chiến tranh, hàng
hóa lƣu thông trên thị trƣờng đều do các doanh nghiệp nhà nƣớc sản xuất
hoặc do các nƣớc viện trợ, chính vì vậy hàng giả gần nhƣ là không có cơ sở
để phát triển nên pháp luật hình sự nƣớc ta giai đoạn này không có quy định
về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam đƣợc giải phóng, Bắc,
Trung, Nam thống nhất một nhà, đất nƣớc độc lập hoàn toàn. Nền kinh tế
nƣớc ta sau chiến tranh hết sức nghèo nàn và lạc hậu, bọn tƣ sản mại bản
đƣợc sự tiếp tay của tƣ sản nƣớc ngoài không ngừng gây rối loạn thị trƣờng,
nạn hàng giả xuất hiện. Trƣớc tình hình đó, ngày 15/3/1976 Chính phủ cách
mạng lâm thời đã kịp thời ban hành Sắc luật số 03/SL quy định về tội phạm
và hình phạt nhằm ổn định thị trƣờng, đảm bảo sự quản lý của nhà nƣớc đối
với nền kinh tế. Tội sản xuất hàng giả cũng đƣợc quy định tại Sắc luật này là
một trong các tội kinh tế:
Điều 6. Tội kinh tế: Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài
chính cho Nhà nƣớc, cho Hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây
trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho việc ổn định
đời sống nhân dân, gồm các tội, trong đó có: Sản xuất hàng giả cố ý
lừa gạt ngƣời tiêu thụ; Làm bạc giả, hoặc tiêu thụ bạc giả.... Phạm
một trong các tội trên đây, thì bị phạt tù sáu tháng đến năm năm và
18
phạt tiền đến năm mƣơi nghìn đồng Ngân hàng hoặc một trong hai
hình phạt đó. Trong trƣờng hợp nghiêm trọng, thì phạt tù đến hai
mƣơi năm, tù chung thân hoặc xử tử hình và bị tịch thu một phần
hoặc toàn bộ tài sản [24].
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, tội sản xuất hàng giả đƣợc quy
định đáp ứng phần nào yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả. Theo quy
định này, hình phạt đƣợc áp dụng đối với tội sản xuất hàng giả là rất nghiêm
khắc với mức cao nhất là tử hình đã thể hiện tính chất, mức độ đặc biệt nguy
hiểm của hành vi sản xuất hàng giả đối với Nhà nƣớc và xã hội trong thời
gian này. Tuy nhiên, Sắc luật số 03 còn bộc lộ những hạn chế nhất định, quy
định về tội sản xuất hàng giả cũng vậy. Sắc luật chƣa quy định cụ thể về các
dấu hiệu cấu thành tội phạm và hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể trong
nhóm tội kinh tế. "Tội sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ" mới chỉ
đƣợc liệt kê trong số các tội kinh tế một cách chung chung, chƣa quy định cụ
thể nhƣ thế nào là hành vi sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt ngƣời tiêu thụ và
nhƣ thế nào là hàng giả. Hành vi buôn bán hàng giả không bị coi là tội
phạm. Về hình phạt, loại và khung hình phạt áp dụng đối với "tội sản xuất cố
ý lừa gạt ngƣời tiêu thụ" đồng thời cũng là loại và khung hình phạt áp dụng
đối với các tội về kinh tế nói chung. Việc quy định không đầy đủ, thiếu cụ
thể của Sắc luật về tội sản xuất hàng giả nói riêng và các tội về kinh tế nói
chung đã gây ra không ít khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật của các
cơ quan tiến hành tố tụng.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, để khắc phục những hạn chế, thiếu
sót của Sắc luật số 03/SL, ngày 10/7/1982 Pháp lệnh số 07-LCT/HĐNN7 về
trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép đƣợc
ban hành là bƣớc tiến về kỹ thuật lập pháp hình sự của nƣớc ta. Tội sản xuất,
buôn bán hàng giả đƣợc quy định trong một điều luật riêng, hành vi buôn bán
hàng giả đƣợc coi là hành vi phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm cho
19
xã hội tƣơng đƣơng với hành vi sản xuất hàng giả đƣợc quy định trong cùng
một điều luật và giống nhau về hình phạt. Điều 5 của Pháp lệnh quy định:
Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả: Ngƣời nào làm
hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì bị phạt
tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến
năm vạn đồng; Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là
lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong
trƣờng hợp nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 9 pháp lệnh
này thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời hai năm, bị phạt tiền đến năm
trăm nghìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản; Phạm tội
làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất
khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng ngƣời tiêu dùng,
hoặc phạm tội trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại
Khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mƣời năm đến hai
mƣơi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền đến một trăm triệu đồng
và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [24].
Không còn là quy định chung chung mang tính chất liệt kê về tội
phạm nhƣ ở Sắc luật số 03/SL, Pháp lệnh số 07-LCT/HĐNN7 đã phân định
hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thành ba mức căn cứ vào tính chất và
mức độ nguy hiểm của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, mà cụ thể là căn
cứ vào đối tƣợng của tội phạm (loại hàng giả) và hậu quả của tội phạm, tƣơng
ứng với ba khung hình phạt. Theo đó, hành vi làm hàng giả hoặc buôn bán
hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, hàng giả có chất độc hại
hoặc các chất khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe tính mạng ngƣời tiêu dùng
đƣợc xác định có tính nguy hiểm cao hơn so với các hàng hóa khác vì vậy,
mức và loại hình phạt đƣợc áp dụng là nghiêm khắc hơn theo quy định tại
khoản 2 và khoản 3 của điều luật, với mức hình phạt cao nhất ở khoản 3 là
đến tù chung thân. Trƣờng hợp nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cũng bị
áp dụng hình phạt nghiêm trọng hơn so với các trƣờng hợp phạm tội quy định
20
tại khoản 1. Tuy nhiên, quy định về mức hình phạt đối với ngƣời phạm tội
làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng tại
Điều 5 Pháp lệnh thể hiện sự không nhất quán với quy định tại Điều 8 của
Pháp lệnh. Theo quy định tại Điều 8 Pháp lệnh phạm tội thuộc trƣờng hợp đặc
biệt nghiêm trọng thì hình phạt cao nhất là tử hình. Bên cạnh đó, Pháp lệnh
chƣa phân định tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Để xác định hành vi làm
hàng giả, buôn bán hàng giả là tội phạm hay vi phạm hành chính, các cơ quan
chức năng phải căn cứ vào Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định
về việc xử lý bằng biện pháp hành chính hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng
giả, kinh doanh trái phép. Theo quy định của Nghị định số 46/HĐBT thì:
Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái
phép thuộc loại vi phạm nhỏ chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự đều bị xử lý bằng biện pháp hành chính theo quy định của
Nghị định này. Vi phạm nhỏ là vi phạm trong trƣờng hợp giá trị
hàng phạm pháp dƣới hai vạn đồng, tính chất việc vi phạm không
nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời sống nhân dân, trật tự
và an toàn xã hội là không nhiều, ngƣời vi phạm không có tiền án,
tiền sự, khi bị phát hiện không có hành vi chống lại cán bộ, nhân
viên làm nhiệm vụ [23].
Nghị định cũng quy định: "hàng giả thuộc loại lƣơng thực, thực phẩm,
thuốc chữa bệnh thì bất cứ trƣờng hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình
sự" [23], do tính chất nguy hiểm của loại hàng giả này là nghiêm trọng hơn so
với các loại hàng giả khác, cũng nhƣ tầm quan trọng của loại hàng hóa này
đối với Nhà nƣớc và xã hội.
Pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985 đƣợc đánh giá là
pháp luật hình sự cách mạng, dân chủ, nhân đạo và nhân dân, thể hiện tính tự
thân phát triển, gắn bó với thực tiễn và đa dạng về loại hình nguồn. Với
những điều kiện khách quan không thuận lợi về hoàn cảnh chiến tranh ác liệt,
những khó khăn của nền kinh tế, sự cứng nhắc, giáo điều trong tƣ duy về pháp
21
luật XHCN, pháp luật hình sự giai đoạn 1945 - 1985 không thể tránh khỏi
những hạn chế nhất định nhƣ tình trạng chồng chéo, lẻ tẻ, rời rạc, thiếu tính
thống nhất, việc áp dụng nguyên tắc tƣơng tự gây nên tình trạng không thống
nhất, tùy tiện của hoạt động áp dụng pháp luật. Trong giai đoạn này, nạn hàng
giả đã xuất hiện từ sau năm 1975, đã đƣợc kịp thời xử lý bằng biện pháp hình
sự với sự ra đời của Sắc luật số 03/SL, tiếp đó là Pháp lệnh số 07-
LCT/HĐNN7 với những đặc điểm, hạn chế của pháp luật hình sự giai đoạn
này. Thực tiễn đó cần thiết phải ban hành một văn bản pháp luật hình sự
thống nhất ở tầm bộ luật để quy định cụ thể về tội phạm và trách nhiệm hình
sự, trong đó cần giải quyết những bất cập trong quy định của pháp luật hình
sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Sau khi Hiến pháp năm 1980 đƣợc ban hành, vào năm 1982, Hội đồng
nhà nƣớc Việt Nam đã quyết định "Kế hoạch năm năm xây dựng pháp luật
1982-1985" xác định phải ban hành nhiều bộ luật lớn, trong đó có BLHS.
BLHS năm 1985 đƣợc ban hành ngày 27/6/1985 là BLHS đầu tiên của nƣớc
ta và là nguồn cơ bản của luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1985-1999, chấm
dứt tình trạng quy định các vấn đề tội phạm, hình phạt trong các văn bản pháp
luật đơn hành mà thống nhất vào một văn bản duy nhất là BLHS, loại trừ
hoàn toàn việc áp dụng nguyên tắc pháp luật tƣơng tự trong lĩnh vực hình sự
với việc quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định
trong BLHS.
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 167, chƣơng
VII, BLHS năm 1985 là một trong các tội phạm về kinh tế với tên gọi "Tội
làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả" có nội dung:
Ngƣời nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt
tù từ sáu tháng đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng
hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời hai năm: Hàng giả là
22
lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh; Có tổ chức;
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nƣớc, tổ chức xã
hội; Hàng giả có số lƣợng lớn; thu lợi bất chính lớn; Tái phạm nguy
hiểm. Phạm tội trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ mƣời năm đến hai mƣơi năm, tù chung thân hoặc tử hình [23].
Bộ luật hình sự năm 1985, đƣợc sửa đổi, bổ sung 4 lần, trong đó Điều
167 đƣợc sửa đổi bổ sung 2 lần. Năm 1992, trong lần sửa đổi bổ sung Điều
167 lần thứ hai, hình phạt đối với tội làm giả, buôn bán hàng giả đƣợc sửa đổi
theo hƣớng tăng hình phạt ở mức cao hơn và bổ sung thêm đối tƣợng hàng giả
mới là "Vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu" vào Điểm a, khoản 2.
Điều luật quy định:
Ngƣời nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt
tù từ một năm đến bảy năm. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng
hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mƣời lăm năm: Hàng giả
là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, vật liệu
xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu; Có tổ chức hoặc có tính chất
chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh
nghĩa cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội; Hàng giả có số lƣợng lớn;
thu lợi bất chính lớn; Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trƣờng
hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mƣời hai năm đến hai
mƣơi năm, tù chung thân hoặc tử hình [23].
Những sửa đổi, bổ sung trên đây xuất phát từ tình trạng gia tăng và
diễn biến ngày càng phức tạp của nạn hàng giả, cùng với sự gia tăng về tính
chất, mức độ nguy hiểm của hàng giả đối với xã hội và trật tự quản lý Nhà
nƣớc về kinh tế, thể hiện đƣờng lối xử lý nghiêm khắc của Nhà nƣớc đối với
tội phạm này.
Về đối tƣợng tác động của tội phạm: BLHS năm 1985 quy định tội
phạm và hình phạt đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả thuộc mọi lĩnh
vực trong cùng một điều luật. Trong đó hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là
23
lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, vật liệu xây dựng, phân
bón, thuốc trừ sâu đƣợc quy định là tình tiết định khung tăng nặng đƣợc quy
định tại khoản 2, Điều 167 BLHS năm 1985. Hàng giả là thức ăn dùng để
chăn nuôi, thuốc thú ý, thuốc bảo vệ thực vật nói chung và giống vật nuôi cây
trồng là đối tƣợng của tội sản xuất buôn bán hàng giả, không phải là tình tiết
tăng nặng định khung do tại thời điểm ban hành BLHS năm 1985 tình trạng
sản xuất, buôn bán hàng giả đối với các mặt hàng này về tình trạng, tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao hơn so với các loại hàng giả khác.
Về hình phạt bổ sung: Hình phạt bổ sung đối với tội làm hàng giả, tội
sản xuất hàng giả đƣợc quy định trong BLHS năm 1985 cùng với các tội
thuộc nhóm tội về kinh tế. Theo đó, tùy trƣờng hợp ngƣời thực hiện hành vi
phạm tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả có thể bị phạt tiền đến mƣời lần giá
trị hàng phạm pháp hoặc số lợi bất chính, có thể bị tịch thu một phần hoặc
toàn bộ tài sản, có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề
hoặc những công việc nhất định từ hai đến năm năm.
Việc xác định nhƣ thế nào là hàng giả, BLHS năm 1985 và pháp luật
tại thời điểm ban hành BLHS năm 1985 đã không quy định về vẫn đề này.
Đến năm 1991, sau gần 6 năm BLHS có hiệu lực định nghĩa hàng giả, các dấu
hiệu nhận biết hàng giả mới đƣợc quy định tại Nghị định 140/HĐBT ngày
25/4/1991 của Hội đồng Bộ trƣởng về kiểm tra xử lý việc sản xuất, buôn bán
hàng giả và Thông tƣ liên bộ số 1254-TTLB ngày 08/11/1991 của Ủy ban
khoa học Nhà nƣớc, Bộ thƣơng mại và du lịch hƣớng dẫn thực hiện Nghị định
số 140/HĐBT. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 140/HĐBT:
Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá
đƣợc sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống nhƣ những sản
phẩm, hàng hoá đƣợc Nhà nƣớc cho phép sản xuất, nhập khẩu và
tiêu thụ trên thị trƣờng; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có
giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và
công dụng của nó [15].
24
Tại Điều 4 Nghị định 140/HĐBT quy định:
Sản phẩm, hàng hoá có một trong những dấu hiệu dƣới đây
đƣợc coi là hàng giả: Sản phẩm, hàng hoá (kể cả hàng nhập khẩu)
có nhãn sản phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản
xuất khác mà không đƣợc chủ nhãn đồng ý; Sản phẩm, hàng hoá
mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt hoặc tƣơng tự có khả năng làm
cho ngƣời tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của cơ sở sản
xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp (Cục sáng chế), hoặc đã đƣợc bảo hộ theo Điều ƣớc
quốc tế mà Việt Nam tham gia; Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn
không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn
đo lƣờng chất lƣợng; Sản phẩm, hàng hoá ghi dấu phù hợp tiêu
chuẩn Việt Nam khi chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận và dấu phù
hợp tiêu chuẩn Việt Nam; Sản phẩm, hàng hoá đã đăng ký hoặc
chƣa đăng ký chất lƣợng với cơ quan Tiêu chuẩn Đo lƣờng chất
lƣợng mà có mức chất lƣợng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; Sản
phẩm, hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản
chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó [15].
Với quy định này, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật về phòng chống
hàng giả, định nghĩa hàng giả và các dấu hiệu để nhận biết hàng giả đƣợc quy
định. Theo đó, hàng giả gồm hai loại: hàng giả về hình thức và hàng giả về nội
dung. Hàng giả về hình thức là hàng sử dụng nhãn giả, bao bì mang nhãn giả
hoặc sử dụng nhãn của nhà sản xuất khác mà không đƣợc phép của nhà sản
xuất đó (bao gồm: nhãn sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa, dấu hiệu phù hợp tiêu
chuẩn chất lƣợng Việt Nam). Hàng giả về nội dung là hàng không có giá trị sử
dụng hoặc không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng
của nó, hoặc có mức chất lƣợng dƣới mức tối thiểu do Nhà nƣớc quy định.
Nghị định 140/HĐBT với việc đƣa ra định nghĩa hàng giả và các dấu hiệu
nhận biết hàng giả là một bƣớc tiến mới góp phần hoàn thiện pháp luật về
25
phòng, chống hàng giả, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh chống tội
phạm về hàng giả, nguồn bổ sung của pháp luật hình sự về tội phạm hàng giả
và là căn cứ pháp lý cụ thể để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định hàng giả.
Bên cạnh đó, BLHS năm 1985 và Nghị định số 140/HĐBT còn bộc lộ
một số hạn chế cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp: theo quy định tại Điều
167, BLHS năm 1985 khó có thể phân biệt hành vi sản xuất hàng giả là hành
vi phạm tội với hành vi sản xuất hàng giả là hành vi vi phạm pháp luật khác
do nhà làm luật chƣa định lƣợng hoặc định tính để xác định tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi nhƣ thế nào thì bị coi là tội phạm và phải chịu trách
nhiệm hình sự. Mặc dù, Nghị định 140/HĐBT đã là nguồn bổ sung những
thiếu sót của Điều 167 BLHS năm 1985 về hàng giả lại tồn tại hạn chế là:
Việc quy định "mức chất lượng tối thiểu" giúp phân biệt hàng giả và hàng
kém chất lƣợng song trên thực tế đây là quy định không khả thi do hầu hết các
sản phẩm hàng hóa của nƣớc ta giai đoạn này chƣa có quy định về mức chất
lƣợng tối thiểu nên việc áp dụng pháp luật gặp không ít khó khăn.
Bộ luật hình sự năm 1985 đƣợc xây dựng trên nền tảng các quy định
của Hiến pháp năm 1980 - Bản Hiến pháp mang nặng tƣ duy của chế độ kế
hoạch hóa tập trung nên mặc dù là một bƣớc phát triển về chất so với pháp
luật hình sự giai đoạn trƣớc song trong bối cảnh đất nƣớc có những chuyển
biến mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là năm 1986
Đảng ta đã thông qua Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đổi mới toàn diện
đất nƣớc thì BLHS năm 1985, ngay từ lúc mới ban hành phải đối mặt với
nguy cơ lạc hậu, quy định về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả đƣợc quy
định tại Điều 167 với những phân tích trên đây đến cuối thập niên 90 đã
không còn phù hợp với tình hình tội phạm về hàng giả. Việc xây dựng một bộ
luật mới, trong đó tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả đƣợc hoàn thiện phù
hợp với tình hình mới là hết sức cần thiết.
1.3. NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ MỘT SỐ NƯỚC VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
26
Hàng giả ngày nay không phải là vấn đề riêng của một quốc gia mà đã
trở thành hiện tƣợng phổ biến trên thế giới, cuộc đấu tranh chống hàng giả là
cuộc đấu tranh chung của các nƣớc trên thế giới, đƣợc quy định trong pháp
luật của mỗi nƣớc. Tuy nhiên, pháp luật của từng nƣớc về phòng, chống hàng
giả và việc xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có nhiều
điểm khác biệt xuất phát từ truyền thống lập pháp, bối cảnh và đặc điểm tình
hình về loại tội phạm này ở mỗi quốc gia. Việc nghiên cứu so sánh các quy
định trong pháp luật một số nƣớc về tội sản xuất, buôn bán hàng giả không
chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu pháp luật hình sự mà còn là nguồn tài
liệu tham khảo phục vụ việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản
xuất, buôn bán hàng giả.
1.3.1. Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong Bộ luật hình
sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Bộ luật hình sự nƣớc cộng hòa nhân dân Trung Hoa đƣợc Đại hội đại
biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung Hoa thông qua ngày 01/7/1979 tại
kỳ họp thứ hai, khóa 5, Bộ luật có hiệu lực từ 01/01/1980. Sau gần 17 năm,
tháng 3/1997 tại kỳ họp thứ 5, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nƣớc
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, khóa 8 đã tiến hành sửa đổi toàn diện Bộ luật.
Từ năm 1997 đến năm 2005, Bộ luật tiếp tục đƣợc sửa đổi thêm năm lần cho
phù hợp với tình hình vi phạm của tội phạm.
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định từ Điều 140 đến Điều
150, Tiết 1, Chƣơng III, BLHS Trung Hoa, là tội phạm thuộc nhóm các tội
phạm xâm phạm trật tự kinh tế thị trƣờng XHCN. Tội sản xuất, buôn bán
hàng giả có nhiều loại khác nhau nhƣ: Điều 140.- Người sản xuất, người bán
hàng nào mà pha trộn, chế biến hàng giả, cho đưa đi tiêu thụ hàng giả như
hàng thật, bán hàng thứ phẩm với giá hàng chất lượng tốt hoặc cho đưa đi
tiêu thụ hàng không đủ tiêu chuẩn như hàng đủ tiêu chuẩn với số tiền bán
hàng từ 50 nghìn đến 200 nghìn nhân dân tệ, thì bị phạt... Điều 141.- Người
nào sản xuất hoặc bán thuốc giả với liều lượng đủ có thể gây nguy hại
27
nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, thì bị phạt... Điều 142.- Người nào sản
xuất, bán thuốc kém chất lượng gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con
người, thì bị phạt… Điều 143.- Người nào sản xuất, bán thực phẩm không đủ
tiêu chuẩn vệ sinh, đủ để gây ngộ độc thức ăn hoặc gây các bệnh nghiêm
trọng có nguyên nhân từ thực phẩm, thì bị phạt…. Điều144.- Người nào sản
xuất, bán thực phẩm bị pha trộn các nguyên liệu chứa độc tố hoặc có hại cho
sức khoẻ con người hoặc cố ý bán các sản phẩm đó, hại, thì bị phạt…. Điều
145.- Người nào sản xuất các thiết bị, dụng cụ y tế hoặc các nguyên liệu vệ
sinh dịch tễ không đúng với tiêu chuẩn Nhà nước về bảo vệ sức khoẻ con
người hoặc cố ý bán những thứ đó gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con
người, thì bị phạt… Điều 146.- Người nào sản xuất thiết bị điện, bình áp lực,
các sản phẩm dễ cháy, dễ nổ không đúng tiêu chuẩn nhà nước và tiêu chuẩn
thương mại về đảm bảo an toàn cho người và tài sản hoặc các sản phẩm khác
không đủ những tiêu chuẩn nói trên hoặc cố ý bán những sản phẩm đó gây
hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt... Điều 147.- Người nào sản xuất thuốc trừ
sâu, thuốc thú y, phân hoá học giả, hoặc cố ý bán thuốc trừ sâu, thuốc thú y,
phân hoá học, hạt giống giả hoặc đã hết hạn sử dụng, hoặc người sản xuất,
người bán hàng nào cho đưa ra thị trường thuốc trừ sâu, thuốc thú y, phân hoá
học hoặc hạt giống giả để bán như hàng thật gây thiệt hại lớn cho sản xuất, thì
bị phạt.. Điều 148.- Người nào sản xuât mỹ phẩm không đủ tiêu chuẩn vệ sinh
hoặc cố ý bán mỹ phẩm đó gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt...
Qua nội dung, kết cấu của quy định về tội sản xuất, bán hàng giả, hàng
kém chất lƣợng trong BLHS Trung Hoa, đối chiếu với quy định của BLHS
Việt Nam về các tội liên quan đến hàng giả có một số nét tƣơng đồng, đồng
thời cũng có những điểm khác biệt, cụ thể: để phân loại tội phạm sản xuất buôn
bán hàng giả thành các tội khác nhau trên cơ sở xác định tính chất, mức độ của
hành vi phạm tội, từ đó áp dụng mức độ hình phạt là khác nhau giữa các tội.
Trong đó, có điều luật quy định về tội sản xuất buôn bán hàng giả nói chung.
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam và BLHS Trung Hoa
đều là tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và cùng chung
28
khách thể bảo vệ đó là trật tự quản lý kinh tế của nhà nƣớc, tính mạng, sức
khỏe, quyền lợi của ngƣời tiêu dùng và các nhà đầu tƣ tuân thủ pháp luật.
Những điểm khác nhau trong BLHS Việt Nam và BLHS nƣớc Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa thể hiện ở chỗ, BLHS Trung Hoa không đặt tên cho
điều luật cụ thể mà việc phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, nội dung
của điều luật này, với nội dung của điều luật khác căn cứ vào nội dung cụ thể
của điều luật. Pháp luật Việt Nam xác định hàng kém chất lƣợng là một loại
hàng giả, thì BLHS Trung Hoa lại phân biệt hàng giả với hàng kém chất
lƣợng. Tuy nhiên, hành vi phạm tội sản xuất và buôn bán hàng giả và hàng
kém chất lƣợng là nhƣ nhau; BLHS Trung Hoa quy định riêng về tội sản xuất
buôn bán hàng giả là mỹ phẩm, thiết bị điện, bình áp lực, các sản phẩm dễ
cháy, dễ nổ không đúng tiêu chuẩn nhà nƣớc và tiêu chuẩn thƣơng mại về
đảm bảo an toàn cho ngƣời và tài sản hoặc các sản phẩm khác không đủ
những tiêu chuẩn trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội đối với các loại hàng giả này là khác nhau. Trong BLHS Việt Nam,
các loại hàng giả này là đối tƣợng của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo
quy định tại Điều 156 BLHS. Khác với BLHS Việt Nam, chỉ coi thể nhân là
chủ thể của tội phạm và xử lý tổ chức có liên quan đến sự việc phạm tội trên
cơ sở cá thể hóa trách nhiệm hình sự, thì theo BLHS Trung Hoa tổ chức cũng
là chủ thể của tội phạm và quy định về việc áp dụng hình phạt tiền đối với tổ
chức phạm tội. Đây là một quy định khá tiến bộ bởi: mặc dù tổ chức do con
ngƣời thành lập, song qua quá trình hoạt động tổ chức, đặc biệt là các doanh
nghiệp dần dần độc lập, tách ra khỏi những con ngƣời đã tạo ra nó, có tài sản,
và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, việc quy định tổ chức là chủ
thể của tội phạm có ý nghĩa lớn trong việc phòng chống tội phạm, bởi trong tổ
chức không phải ai cũng có xu hƣớng phạm tội và để bảo vệ tổ chức của mình
nhƣ bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình, thành viên của tổ chức sẽ có ý
thức trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
29
1.3.2. Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong Bộ luật hình
sự Liên bang Nga
Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 đƣợc Đuma quốc gia (tức
Hạ viện Nga) thông qua ngày ngày 24 tháng 5 năm 1996, đƣợc Hội đồng Liên
bang Nga (tức Thƣợng viện Nga) phê chuẩn ngày 5 tháng 6 năm 1996, đã
đƣợc sửa đổi bổ sung hai lần vào năm 2003 và năm 2004 gồm 34 chƣơng, 360
điều. Trong có 32 điều tƣơng ứng với 32 tội thuộc nhóm tội phạm trong lĩnh
vực hoạt động kinh tế.
Tuy nhiên, khác với BLHS Việt Nam và BLHS Trung Hoa, BLHS
Liên bang Nga không quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Song điều
đó không có nghĩa là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không bị xử lý theo
BLHS Liên bang Nga. Căn cứ các yếu tố cấu thành của tội phạm, hành vi sản
xuất, buôn bán hàng giả có thể bị xử lý theo Điều 197 BLHS Liên bang Nga
quy định về Tội lừa dối ngƣời tiêu dùng. Nội dung điều luật quy định:
Cân, đo, tính gian, gây nhầm lẫn về chất lƣợng, công năng
sử dụng của hàng hoá (dịch vụ) hoặc có hành vi khác lừa dối ngƣời
tiêu dùng trong các tổ chức bán hàng hay cung ứng dịch vụ cho
nhân dân, cũng nhƣ do công dân đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực
thƣơng nghiệp dịch vụ thực hiện với số lƣợng đáng kể. Lừa dối
ngƣời tiêu dùng đƣợc coi là với số lƣợng đáng kể nếu thiệt hại gây
cho ngƣời tiêu dùng vƣợt quá 1/10 mức thu nhập tối thiểu; với số
lƣợng lớn đƣợc hiểu là thiệt hại gây cho ngƣời tiêu dùng không
dƣới mức thu nhập tối thiểu [43].
Tội lừa dối khách hàng theo quy định của Điều 197 BLHS Liên bang
Nga có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều hành vi nhƣ cân, đo, tính gian, gây
nhầm lẫn về chất lƣợng, công năng sử dụng của hàng hoá (dịch vụ) hoặc hành
vi khác lừa dối ngƣời tiêu dùng. Trong đó, hành vi gây nhầm lẫn về chất
lƣợng, công năng sử dụng của hàng hóa, dịch vụ là hành vi sản xuất, buôn bán
30
hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS. Mục đích thực hiện hành vi phạm
tội là lừa dối ngƣời tiêu dùng.
Khác với quy định tại Điều 156 BLHS Việt Nam, đối tƣợng tác động của
tội lừa dối khách hàng không chỉ có hàng hóa mà còn bao gồm cả dịch vụ. Tuy
nhiên, hàng hóa, dịch vụ giả theo quy định của điều luật là giả về chất lƣợng và
công năng sử dụng (giả về nội dung). Hàng hóa, dịch vụ giả về hình thức tên gọi
xuất xứ, nhãn hiệu lại là đối tƣợng tác động của Tội sử dụng bất hợp pháp nhãn
hiệu hàng hóa theo quy định tại Điều 180 BLHS Liên bang Nga.
Luật hình sự Liên bang Nga không quy định đƣờng lối xử lý hình sự
riêng đối với hành vi sản xuất, buôn bán các loại hàng giả là lƣơng thực, thực
phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thức ăn dùng trong chăn nuôi,
phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi.
Về hình phạt, đối với tội phạm này Luật hình sự Liên bang Nga quy
định 6 loại hình phạt khác nhau bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ
sung. Điều đáng chú ý là, đối với khung cơ bản, hình phạt đƣợc áp dụng có
thể là phạt tiền, lao động bắt buộc hoặc lao động cải tạo mà không áp dụng
hình phạt tù. Ở khung tăng nặng hình phạt tù là đến 2 năm kèm theo tƣớc
quyền đảm nhiệm chức vụ hoặc làm nghề nhất định đến 3 năm. Hình phạt tiền
đƣợc tính theo cấp số nhân căn cứ vào mức thu nhập tối thiểu hay mức lƣơng
hay khoản thu nhập khác của ngƣời bị kết án trong thời gian nhất định. Hình
phạt tù đƣợc áp dụng ở khung tăng nặng kèm theo hình phạt bổ sung là 2
năm, so với quy định của Điều 156 BLHS Việt Nam là thấp hơn rất nhiều.
Về kỹ thuật lập pháp, bên cạnh việc quy định về tội phạm và hình
phạt, BLHS Liên bang Nga còn trực tiếp giải thích từ ngữ đƣợc sử dụng trong
điều luật ở phần ghi chú cuối điều luật.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Trong Chƣơng 1, tác giả luận văn đã nghiên cứu về cơ sở lý luận của
tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả giúp chúng ta nắm rõ những vấn đề
31
cơ bản, đặc trƣng của tội danh này; đƣa ra khái niệm về tội sản xuất hàng giả,
buôn bán hàng giả; làm rõ các đặc điểm của tội sản xuất buôn bán hàng giả
đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển quy định về tội sản xuất
hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích
những điểm tiến bộ, những hạn chế của pháp luật hình sự qua các thời kỳ, qua
đó có thể đánh giá những điểm đã đạt đƣợc và những mặt hạn chế của tội sản
xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong lịch sử lập pháp về tội sản xuất, buôn
bán hàng giả.
Nghiên cứu về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp
luật hình sự nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và luật hình sự Liên bang
Nga, tác giả luận văn nhận thấy, quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả trong pháp luật Việt Nam về cơ bản có điểm tƣơng đồng với pháp
luật những nƣớc này về kỹ thuật lập pháp và các dấu hiệu của tội phạm, bên
cạnh đó cũng có những điểm khác biệt nhất định. Đáng chú ý là quy định về
tội phạm này trong BLHS Liên bang Nga. Cùng với việc quy định về hành vi
phạm tội. BLHS Liên bang Nga nhấn mạnh đến cách thức thực hiện hành vi
phạm tội đó là việc sử dụng thủ đoạn gian dối của ngƣời phạm tội để phân
biệt tội phạm này với các loại tội phạm khác, trong khi đó BLHS nƣớc ta lại
nhấn mạnh về đối tƣợng tác động của tội phạm đó là hàng giả. BLHS Liên
bang Nga quy định phong phú về loại hình phạt và linh hoạt trong việc áp
dụng hình phạt, các hình phạt đƣợc áp dụng cũng rất thiết thực và có hiệu quả
cao về giáo dục, răn đe; các thuật ngữ đƣợc sử dụng trong điều luật đƣợc giải
thích trực tiếp tại điều luật.
32
Chương 2
DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ,
BUÔN BÁN HÀNG GIẢ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ VÀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ HÌNH SỰ ĐỐI
VỚI CÁC TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156
BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự hiện hành
Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156,
BLHS 1999 nhƣ sau:
1. Ngƣời nào sản xuất, buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với
số lƣợng của hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng đến dƣới
một trăm năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi
quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155,
157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một
trong các tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt
tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ ba năm đến mƣời năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
33
e) Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá
trị từ một trăm năm mƣơi triệu đồng đến dƣới năm trăm triệu đồng;
g) Thu lợi bất chính lớn;
h) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ bảy năm đến mƣời lăm năm:
a) Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá
trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
4. Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng
đến năm mƣơi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản,
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đến năm năm [25].
Căn cứ vào cách diễn đạt của điều luật này có thể thấy những dấu hiệu
pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS
nhƣ sau:
Thứ nhất, điều 156 BLHS có 4 khoản: khoản 1 là cấu thành tội phạm
cơ bản của tội sản xuất, buôn bán hàng giả; khoản 2 là cấu thành tội phạm
tăng nặng; khoản 3 là cấu thành tội phạm đặc biệt tăng nặng và khoản 4 là
hình phạt bổ sung đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Thứ hai, do đƣợc đặt tại chƣơng các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế nên khách thể loại của tội sản xuất, buôn bán hàng giả và sự xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế của nhà nƣớc. Đó là chế độ quản lý, điều hành toàn bộ nền
kinh tế của Nhà nƣớc theo định hƣớng XHCN, quyền và lợi ích hợp pháp của
Nhà nƣớc, tổ chức và của công dân đƣợc pháp luật quy định. Để điều hành sự
phát triển kinh tế của đất nƣớc, Nhà nƣớc xây dựng và đƣa vào thực hiện trật
34
tự quản lý kinh tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ sản xuất, chế
bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp,
pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra các loại
sản phẩm hàng hóa đến chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển,
bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác để đƣa các sản
phẩm hàng hóa vào lƣu thông, tiêu dùng nhằm phục vụ hoạt động của đất
nƣớc và bảo đảm đời sống của nhân dân. Những hành vi xâm phạm vào trật tự
quản lý của Nhà nƣớc đều phải bị xử lý theo quy định, tùy theo mức độ vi
phạm mà có thể bị xử phạt hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự tùy
thuộc vào hậu quả gây nên cho nhà nƣớc và xã hội.
Khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng là quan
hệ trật tự quản lý kinh tế đất nƣớc, nhƣng thể hiện trong từng lĩnh vực cụ thể,
phụ thuộc vào đối tƣợng tác động của tội phạm này là hàng giả thuộc loại gì.
Ví dụ, hàng giả là xi măng mang nhãn hiệu Bỉm Sơn hoặc Hoàng Thạch.
Trong vụ án này, khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là xi
măng xâm phạm vào quy định của Nhà nƣớc về sản xuất vật liệu xây dựng
đƣợc thể hiện trong Quyết định số 914/QĐ-BXD ngày 26/09/2013 của Bộ
Xây dựng chỉ định Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng là tổ chức thực hiện
thử nghiệm/chứng nhận chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng tại
Phụ lục danh mục kèm theo, phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia
QCVN 16:2011/BXD. Hoặc hàng giả là xăng dầu thì trong vụ án cụ thể này,
khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả xăng dầu là sự xâm
phạm vào quy định của nhà nƣớc về chất lƣợng và kinh doanh xăng dầu đƣợc
thể hiện trong Nghị định số 107/2009/NĐ-CP ngày 26 tháng 11 năm 2009 của
Chính phủ về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng; Thông tƣ số 12/2010/TT-
BKHCN ngày 30/7/2010 của Bộ Khoa học Công nghệ hƣớng dẫn về quản lý
chất lƣợng, đo lƣờng trong kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng… Do vậy, để xác
định khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả cần dựa vào đối
tƣợng tác động của tội phạm cụ thể, trực tiếp là hàng giả thuộc loại nào trên
cơ sở hàng giả là hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử
35
dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của
hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công
dụng đã công bố hoặc đăng ký; hoặc hàng giả có nhãn hàng hóa, bao bì hàng
hóa giả mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên
thƣơng mại hoặc tên thƣơng phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu
hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác nhƣ đã
nêu tại chƣơng 1 luận văn này.
Thứ ba, hành vi khách quan của tội sản xuất hàng giả thể hiện ở chỗ,
nhƣ đã nêu ở phần trên, sản xuất hàng giả là thực hiện một, một số hoặc tất cả
các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến,
chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và
hoạt động khác làm ra hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá
trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi
của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng,
công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hoặc hàng hóa có hàm lƣợng định lƣợng
chất chính hoặc trong các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác
chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ
thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.
Tƣơng tự nhƣ thế, hành vi khách quan của tội buôn bán hàng giả thể
hiện ở chỗ, buôn bán hàng giả là đƣa hàng hóa không có giá trị sử dụng, công
dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự
nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá
trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hoặc hàng hóa có hàm lƣợng
định lƣợng chất chính hoặc trong các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật
cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc
quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì
hàng hóa vào chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn,
bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác liên quan đến hoạt động kinh
doanh hàng hóa này.
36
Biểu hiện của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc biểu hiện ra
ngoài thế giới khách quan qua hành động, hành vi phạm tội có thể bao gồm tất
cả hoặc chỉ là một trong các hành động đƣợc xác định ở mỗi tội và phải thuộc
một trong các trƣờng hợp đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS (các trƣờng hợp
phạm tội cụ thể) cùng với các dấu hiệu khác của tội phạm. Nếu hành vi sản
xuất, buôn bán hàng giả không thuộc một trong các trƣờng hợp phạm tội đƣợc
quy định tại điều luật này thì hành vi vi phạm đó không phải là hành vi phạm
tội, đó có thể là hành vi vi phạm hành chính.
Tính nguy hiểm khách quan của tội phạm là ở hậu quả nguy hiểm cho
xã hội mà tội phạm gây ra, đó là hậu quả của hành vi khách quan gây ra thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội nhất định đƣợc luật hình
sự bảo vệ. Chúng ta có thể nhận biết những thiệt hại đó qua sự biến đổi tình
trạng bình thƣờng của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của
tội phạm, mà trực tiếp là sự biến đổi của đối tƣợng tác động của tội phạm.
Việc xác định hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả có ý
nghĩa quyết định trong việc định tội danh đối với các tội có cấu thành vật
chất; đối với các tội phạm có cấu thành hình thức nó có ý nghĩa quan trọng
trong quyết định hình phạt.
Hậu quả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại cho xã hội về nhiều mặt nhƣ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tài sản, chính trị, văn hóa, xã hội,... mà trực tiếp là quyền lợi của
các tổ chức, cá nhân kinh doanh và ngƣời tiêu dùng. Trong những trƣờng hợp
cụ thể mà điều luật quy định, hậu quả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả
có thể là dấu hiệu bắt buộc trong định tội hoặc định khung hình phạt. Điều đó
cũng có nghĩa là tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong trƣờng hợp cụ thể đƣợc
luật hình sự quy định có thể là tội phạm có cấu thành vật chất hoặc là tội
phạm có cấu thành hình thức.
Quan hệ giữa hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả và hậu quả nguy
hiểm mà nó gây ra cho xã hội là quan hệ nhân - quả theo phép biện chứng duy
37
vật. Trong mối quan hệ đó, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả luôn xảy ra
trƣớc hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà nó gây ra và độc lập hoặc trong mối
liên hệ tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tƣợng khác chứa đựng khả năng
thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Còn hậu quả nguy hiểm
cho xã hội là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của
hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.
Để thực hiện hành vi phạm tội, ngƣời phạm tội sử dụng thủ đoạn gian
dối vì mục đích vụ lợi. Ngƣời sản xuất, buôn bán hàng giả dùng thủ đoạn gian
dối để giả mạo về sản phẩm, khiến ngƣời tiêu dùng bất cẩn mà mua phải hàng
giả, đồng thời nhằm mục đích che mắt các cơ quan quản lý nhà nƣớc để thu
lợi bất chính.
Những biểu hiện khác của mặt khách quan nhƣ công cụ, phƣơng tiện,
phƣơng pháp, địa điểm, thời gian và hoàn cảnh phạm tội không phải là dấu
hiệu bắt buộc của cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả song việc chứng
minh các biểu hiện khác của mặt khách quan có ý nghĩa quan trọng trong việc
quyết định hình phạt.
Thứ tư, không phải bất kỳ hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả nào
cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà phải thỏa mãn những điều
kiện nhất định. Theo Điều 156 BLHS, hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của
hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng đến dƣới một trăm năm mƣơi triệu
đồng hoặc dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã
bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các
điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về
một trong các tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo Điều luật này. Có nghĩa, để truy cứu trách
nhiệm hình sự thì mặt khách quan của tội phạm này phải thỏa mãn một trong
những tình tiết dƣới đây:
- Hàng giả là hàng không có giá trị. Nhƣng để xác định giá trị hàng giả
thì phải so sánh với giá trị hàng thật. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều
38
156 BLHS đối với ngƣời có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thì giá trị hàng
giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng trở
lên. Nếu giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới
ba mƣơi triệu đồng thì phải thêm những tình tiết khác thì mới truy cứu trách
nhiệm hình sự. Việc quy định giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của
hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng trở lên là thể hiện tính chất mức độ
nguy hiểm của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đối với hoạt động quản lý
điều hành của nhà nƣớc về kinh tế, với ngƣời tiêu dùng và nhà sản xuất.
Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Kiên, trú tại xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn,
thành phố Hồ Chí Minh bị TAND huyện Hóc Môn xét xử về tội sản xuất hàng
giả theo quy định tại khoản 1, Điều 156, BLHS thuộc trƣờng hợp phạm tội này.
Theo kết quả điều tra từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, từ
tháng 9/2012 Nguyễn Văn Kiên bắt đầu sản xuất hàng giả thƣơng hiệu Kềm
Nghĩa. Ngày 14/09/2012, Kiên bị bắt khi đang vận chuyển hàng giả đi tiêu thụ.
Theo đó, cơ quan điều tra đã tịch thu 500 cây kìm giả mác D-01, D-501, D-401
của sản phẩm Kềm Nghĩa với tổng giá trị 40 triệu đồng. Kiên khai nhận đã thu
mua kìm cũ và nguyên liệu tại nhiều cửa hàng, tiệm làm tóc để sản xuất hàng
giả và tiêu thụ trên địa bàn huyện Hóc Môn và quận Tân Bình. Nguyễn Văn
Kiên bị TAND huyện Hóc Môn tuyên phạt 18 tháng tù giam.[8].
- Trong trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật
có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng, thuộc trƣờng hợp gây hậu quả nghiêm
trọng. Đây là trƣờng hợp phạm tội có cấu thành vật chất, dấu hiệu hậu quả là
dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nhƣ thế nào là hậu
quả nguy hiểm thì BLHS không quy định, cho đến nay cũng chƣa có văn bản
quy phạm pháp luật nào giải thích về tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm" đƣợc
quy định tại Khoản 1 Điều 156 BLHS gây khó khăn trong việc áp dụng pháp
luật. Trong khi đó, tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm" ở một số tội phạm đã
đƣợc hƣớng dẫn cụ thể nhƣ các tội xâm phạm sở hữu (Thông tƣ liên tịch số
02/2001/TTLT-TAND-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001); tội vi phạm
39
quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, tội gây rối trật tự
công cộng (Nghị quyết só 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng
thẩm phán TAND tối cao); các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế
toán và chứng khoán (Thông tƣ liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-
TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26/6/2013 của Bộ Tƣ pháp - Bộ Công an -
TAND tối cao - VKSND tối cao - Bộ Tài chính).
Có ý kiến cho rằng, có thể vận dụng tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm"
đối với các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán
tại Thông tƣ liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-
BTC để áp dụng trong trƣờng hợp này do các tội này cùng trong nhóm tội
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Song, theo tác giả luận văn việc áp dụng
tƣơng tự sẽ là tùy tiện. Hơn nữa, tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm" tại Thông tƣ
liên tịch 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC đƣợc hƣớng
dẫn đến từng tội danh cụ thể mà hậu quả nguy hiểm ở mỗi tội danh là khác
nhau và có sự cách biệt khá lớn không thể vận dụng để áp dụng. Ví dụ nhƣ tội
in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà
nƣớc (Điều 164a BLHS): "gây hậu quả nghiêm trọng là trƣờng hợp gây thiệt
hại cho ngân sách nhà nƣớc có tri ̣giá từ 100 triệu đồng trở lên". Tội cố ý công
bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán (Điều
181a BLHS): Gây hậu quả nghiêm trọng là trƣờng hợp gây thiệt hại về vật
chất cho nhà đầu tƣ với số tiền từ 01 tỷ đồng đến dƣới 03 tỷ đồng; Tội thao
túng giá chứng khoán (Điều 181c BLHS): "Gây hậu quả nghiêm trọng quy
định tại khoản 1 Điều 181c của BLHS là trƣờng hợp gây thiệt hại vật chất cho
nhà đầu tƣ với số tiền từ 01 tỷ đồng đến dƣới 03 tỷ đồng".
Tuy nhiên, theo tác giả luận văn, gây hậu quả nghiêm trọng trong
trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới
ba mƣơi triệu đồng là có thể gây chết ngƣời, gây thƣơng tích hoặc gây thiệt
hại đến tài sản của công dân. Ví dụ, anh Nguyễn Văn A đƣa xe ô tô nhãn hiệu
Honda vào xƣởng sửa chữa ô tô để chữa phanh. Chủ cửa hàng đã thay phanh
40
ô tô cho anh A là hàng giả với giá 10 triệu đồng. Khi đƣa xe trên đƣờng về
nhà, anh A đã gây tai nạn làm chết ngƣời. Kết luận giám định nguyên nhân
gây tai nạn là do phanh xe ô tô bị vỡ và chiếc phanh thay tại xƣởng sửa chữa
ô tô là hàng giả. Trong trƣờng hợp này, ngƣời chủ xƣởng sửa chữa ô tô đã
thay phanh cho anh A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng
giả là hệ thống phanh xe ô tô nhãn hiệu Honda.
- Trong trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật
có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng đã bị xử phạt hành chính về hành vi
sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc đã bị xử phạt hành chính tại một trong các
điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS.
Tình tiết đã bị xử phạt hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng
giả đƣợc hiểu là trƣớc khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mà
hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu
đồng, ngƣời phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán
hàng giả, hoặc đã bị xử phạt hành chính tại một trong các điều 153 (Tội buôn
lậu), 154 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), 155 (Tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển buôn bán hàng cấm), 157 (Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh),
158 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón,
thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi), 159 (Tội kinh
doanh trái phép) và 161 (Tội trốn thuế) của BLHS mà chƣa đƣợc coi là chƣa
bị xử phạt hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Giải thích rõ hơn quy định này, tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP
ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hƣớng dẫn áp
dụng một số quy định của BLHS có nêu:
Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết "đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nhƣng chƣa có
hƣớng dẫn của cơ quan có thẩm quyền thì phân biệt nhƣ sau:
41
+ Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì "đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" là trƣớc đó một
ngƣời đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi đƣợc
liệt kê trong tội đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy
định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhƣng chƣa hết
thời hạn để đƣợc coi là chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại
thực hiện một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó. Ví dụ:
A đã bị xử phạt hành chính về hành vi đặt chƣớng ngại vật trên
đƣờng sắt để cản trở giao thông đƣờng sắt, chƣa hết thời hạn để
đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành chính, A lại thực hiện một trong
các hành vi (đặt chƣớng ngại vật trên đƣờng sắt; làm xê dịch ray, tà
vẹt; khoan, đào, xẻ trái phép nền đƣờng sắt, mở đƣờng trái phép qua
đƣờng sắt…) quy định tại Điều 209 của BLHS để cản trở giao
thông đƣờng sắt.
+ Đối với điều luật quy định nhiều tội khác nhau (tội ghép)
thì "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" là
trƣớc đó một ngƣời đã bị xử phạt hành chính về một trong những
hành vi đƣợc liệt kê trong một tội tại điều luật đó bằng một trong
các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính, nhƣng chƣa hết thời hạn để đƣợc coi là chƣa bị xử phạt
vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi đƣợc
liệt kê trong tội đó (không bao gồm các hành vi đƣợc liệt kê trong
tội khác cũng tại điều luật đó). Ví dụ: Điều 164 của BLHS quy định
tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả. Trƣờng hợp B
đã bị xử phạt hành chính về hành vi làm tem giả, chƣa hết thời hạn
để đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành chính, B lại làm vé giả thì bị
coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm";
nếu B chỉ buôn bán tem, vé giả thì không coi là "đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này mà còn vi phạm [14].
42
Nhƣ vậy, một ngƣời có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mà giá trị
hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu
đồng, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi trƣớc đây là bị xử phạt hành
chính đối với hành vi, hoặc là sản xuất hàng giả, hoặc là buôn bán hàng giả
hoặc đã bị xử phạt hành chính tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158,
159 và 161 của BLHS mà chƣa hết thời hạn đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành
chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong
thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt
cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử
phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì đƣợc coi là chƣa
bị xử phạt vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ
ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính mà không tái phạm thì đƣợc coi là chƣa bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính [32].
Đối chiếu các quy định này với Điều 156 BLHS chúng ta có thể thấy:
Thời điểm vi phạm là thời điểm ngƣời phạm tội thực hiện hành vi sản xuất
hàng giả hoặc buôn bán hàng giả và thời điểm đó phải trong thời hạn 06
tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm,
kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày
hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính phải là một trong các hành vi
đƣợc quy định tại các điều liệt kê gồm: Hành vi sản xuất hàng giả; Hành vi
buôn bán hàng giả; Hành vi buôn lậu; Hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới; Hành vi sản xuất hàng cấm; Hành vi tàng trữ hàng cấm; Hành vi
43
vận chuyển hàng cấm; Hành vi buôn bán hàng cấm; Hành vi sản xuất hàng giả
là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Hành vi buôn
bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh;
Hành vi sản xuất hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y,
thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Hành vi buôn bán hàng giả là
thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống
cây trồng vật nuôi; Hành vi kinh doanh trái phép; Hành vi trốn thuế.
Ví dụ, vụ án Trần Văn Oanh, sinh năm 1966 ở Doãn Hạ - Xuân Lâm -
Thuận Thành - Bắc Ninh bị VKSND huyện Thuận Thành truy tố, TAND
huyện Thuận Thành xét xử về tội Buôn bán hàng giả theo quy định tại khoản
1 Điều 156 BLHS ngày 20/8/2013. Trần Văn Oanh đã có hành vi mua 1.800
gói dầu gội loại Clear, Sunsilk, Dove của một ngƣời đàn ông bán hàng rong
không quen biết ở khu vực Kim Sơn - Gia Lâm - Hà Nội, đều là hàng giả với
giá rẻ nhằm bán lại với giá cao để kiếm lời. Ngoài ra Oanh còn đi mua bột
giặt Đức Giang và mua vỏ bao bì bột giặt nhãn hiệu OMO giả của một ngƣời
đàn ông không quen biết để sản xuất, đóng gói bột giặt Đức Giang vào vỏ bao
bì nhãn hiệu bột giặt OMO giả. Sáng ngày 07/3/2013, Oanh mang số hàng
dầu gội đầu và bột giặt nhãn hiệu OMO giả đi tiêu thụ thì bị Công an huyện
Thuận Thành kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Thu giữ tang vật gồm 1.800 gói dầu
gội đầu và 319,2kg bột giặt. Tại bản kết luận giám định số 736 ngày
25/3/2013 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận toàn bộ số hàng
thu giữ đƣợc nêu trên đều không đạt tiêu chuẩn đăng ký chất lƣợng sản phẩm.
Bản thân Oanh cũng đã khai nhận toàn bộ số hàng đó là hàng giả. Mặc dù
tổng giá trị số hàng dầu gội đầu giả thu đƣợc của Oanh có giá trị là 2.700.000
đồng. Nhƣng ngày 17/5/2012 Trần Văn Oanh đã bị UBND huyện Thuận
Thành xử lý hành chính về hành vi kinh doanh hàng giả. Vì vậy, hành vi buôn
bán dầu gội của Trần Văn Oanh đã đủ cơ sở để xử lý theo quy định tại khoản
1 Điều 156 BLHS. Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Văn Oanh 9 tháng
tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Đối với hành vi sản
44
xuất OMO giả của Trần Văn Oanh chƣa đến mức xử lý hình sự nên CQĐT ra
quyết định xử lý hành chính.[19].
- Trong trƣờng hợp sản xuất, buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với số
lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng trƣớc đó đã bị
kết án về hành vi quy định tại điều này hoặc một trong các tội quy định tại các
điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS, chƣa đƣợc xoá án tích mà
còn vi phạm, thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 156 BLHS.
Nhƣ vậy, về nhân thân ngƣời phạm tội là ngƣời đã bị kết án về hành vi
quy định tại điều 156 hoặc một trong các tội quy định tại các điều 153, 154,
155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm.
Về nội dung này, Điểm 7 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5
năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hƣớng dẫn áp dụng một
số quy định của BLHS quy định:
Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì "đã bị kết án
về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" là trƣớc đó một
ngƣời đã bị kết án về một tội, chƣa đƣợc xóa án tích mà lại thực hiện
một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó. Đối với điều luật
quy định nhiều tội khác nhau (tội ghép) thì "đã bị kết án về tội này,
chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" là trƣớc đó một ngƣời đã bị
kết án về một tội tại điều luật đó, chƣa đƣợc xóa án tích mà lại thực
hiện một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó (không bao
gồm các hành vi đƣợc liệt kê trong tội khác cũng tại điều luật đó).
Khi áp dụng tình tiết "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc
xóa án tích mà còn vi phạm", cần phân biệt: Trƣờng hợp các tiền án
của bị cáo đã đƣợc xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm "đã bị
kết án về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" thì các
tiền án đó đƣợc tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối
với bị cáo. Trƣờng hợp các tiền án của bị cáo không đƣợc xem xét
là dấu hiệu cấu thành tội phạm "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc
45
xóa án tích mà còn vi phạm" vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ
yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác
định tái phạm, tái phạm nguy hiểm [14].
Nhƣ vậy, theo quy định này thì tình tiết "đã bị kết án về tội này, chƣa
đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" chỉ đƣợc áp dụng làm tình tiết định tội khi
không có các tình tiết quy định trong trƣờng hợp 1, 2 và 3. Nếu Tòa án đã sử
dụng tình tiết này là tình tiết định tội thì không đƣợc sử dụng làm tình tiết
định khung tăng nặng đối với bị cáo. Khi xem xét bị cáo đã đƣợc xóa án tích
hay chƣa Tòa án căn cứ vào quy định tại chƣơng IX BLHS về xóa án tích để
xác định. Ngƣời phạm tội phải là ngƣời đã bị kết án chƣa đƣợc xóa án tích về
một trong các tội sau đây: Tội sản xuất hàng giả; Tội buôn bán hàng giả; Tội
buôn lậu; Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Tội sản xuất hàng
cấm; Tội tàng trữ hàng cấm; Tội vận chuyển hàng cấm; Tội buôn bán hàng
cấm; Tội sản xuất hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc
phòng bệnh; Tội buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,
thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân
bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Tội buôn bán
hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ
thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Tội kinh doanh trái phép; Tội trốn thuế.
Thứ năm, chủ thể của tội phạm nói chung hay chủ thể của tội sản xuất,
buôn bán hàng giả nói riêng theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành là
con ngƣời cụ thể, thỏa mãn hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc về chủ thể của tội
phạm là năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định. Một ngƣời cụ thể
chỉ trở thành chủ thể của tội phạm khi ngƣời đó thực hiện hành vi đƣợc quy
định là tội phạm trong BLHS và có lỗi khi thực hiện hành vi đó. Vì vậy, để
xác định chủ thể của tội phạm cần xem xét chủ thể trong mối quan hệ tổng thể
với các yếu tố khác của cấu thành tội phạm.
Luật hình sự Việt Nam không quy định trực tiếp thế nào là có năng
lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tình
46
trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Dƣới góc độ khoa học pháp lý,
"năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực nhận thức đƣợc ý nghĩa xã hội của
hành vi của mình và điều khiển đƣợc hành vi theo đòi hỏi của xã hội" [35].
Ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự là ngƣời khi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi mình thực hiện và có khả năng kiềm chế hành vi đó để lựa chọn hành
vi xử xự khác không nguy hiểm cho xã hội.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là "độ tuổi đƣợc luật hình sự quy định
là điều kiện để một ngƣời phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực
hiện của mình" [42]. Điều 12, BLHS quy định: "Ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên
phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên,
nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm
trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" [24].
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS
khoản 1 là tội phạm nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt đến
năm năm tù), khoản 2 và khoản 3 là tội phạm rất nghiêm trọng (Khoản 2: mức
cao nhất của khung hình phạt đến mƣời năm tù; Khoản 3: mức cao nhất của
khung hình phạt đến mƣời lăm năm tù). Nên, ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16
tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này quy định tại khoản
1 của điều luật, nhƣng phải chịu trách nhiệm về tội phạm này theo quy định
tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật. Đối với ngƣời từ đủ 14 đến dƣới 18 tuổi
phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả, khi xử lý các cơ quan tiến hành tố tụng
cần tuân thủ các quy định đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội đƣợc quy
định tại Chƣơng X, BLHS.
Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong cấu thành định tội
quy định tại khoản 1, Điều 156, BLHS, trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với
số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng không thuộc trƣờng
hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì ngƣời thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán
hàng giả bên cạnh việc thỏa mãn điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và
47
từ đủ 16 tuổi còn phải thuộc một trong các trƣờng hợp: đã bị xử phạt hành
chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hoặc một trong các hành vi quy
định tại các điều Điều 153 (hành buôn lậu), Điều 154 (hành vi vận chuyển trái
phép hàng hóa qua biên giới), Điều 155 (hành vi sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm), Điều 157 (hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả
là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 158
(hành vi sản xuất buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón,
thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi), Điều 159 (hành
vi kinh doanh trái phép), Điều 161 (hành vi trốn thuế) của BLHS hoặc đã bị
kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm.
Theo quy định tại Điều 5, 6, BLHS chủ thể của tội sản xuất, buôn bán
hàng giả có thể là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời không quốc tịch. Song, "đối với
ngƣời nƣớc ngoài phạm tội trên lãnh thổ nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam
thuộc đối tƣợng đƣợc hƣởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ƣu
đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ƣớc quốc tế
mà nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán
quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ đƣợc giải quyết bằng con
đƣờng ngoại giao" [25]. (Khoản 2, Điều 5, BLHS). Bên cạnh đó, ngƣời nƣớc
ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nƣớc ta có thể bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo BLHS Việt Nam trong trƣờng hợp đƣợc quy định trong các điều ƣớc
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Thông thƣờng, các trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả
đều có đồng phạm. Do việc sản xuất, buôn bán hàng giả phải trải qua nhiều
công đoạn với nhiều hành vi khác nhau nhƣ chế tạo, chế bản, in ấn, gia công,
đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang
chiết, nạp, đóng gói,.... làm ra hàng giả để đƣa vào lƣu thông (đối với hành vi
sản xuất hàng giả) và các hành vi chào hàng, trƣng bày, giới thiệu, quảng cáo,
khuyến mại, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu,...
để đƣa hàng giả vào lƣu thông (đối với hành vi buôn bán hàng giả) nên
48
thƣờng có từ hai hay nhiều ngƣời cùng tham gia thực hiện tội phạm. Hình
thức đồng phạm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng rất phong phú có
thể là đồng phạm không có thông mƣu trƣớc hoặc là đồng phạm có thông
mƣu trƣớc, đồng phạm giản đơn hoặc đồng phạm phức tạp, trong nhiều
trƣờng hợp là đồng phạm có tổ chức tùy theo quy mô, tính chất của việc sản
xuất, buôn bán hàng giả. Tuy nhiên, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một
trong những tội phạm mà việc thực hiện tội phạm thƣờng đƣợc sử dụng công
nghệ, kỹ thuật và có sự tham gia của nhiều ngƣời cùng thực hiện tội phạm nên
chủ yếu các trƣờng hợp phạm tội là trƣờng hợp đồng phạm có thông mƣu
trƣớc, đồng phạm phức tạp hoặc phạm tội có tổ chức. Việc xác định vai trò,
mức độ tham gia phạm tội của từng ngƣời đồng phạm có ý nghĩa quan trọng
trong việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với họ.
Thực tế đã chỉ ra phần lớn các trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng
giả là trƣờng hợp đồng phạm có tổ chức nên việc tham gia của ngƣời tổ chức
thực hiện việc chủ mƣu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm sản xuất,
buôn bán hàng giả là khá phổ biến.
Thứ sáu, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc thực hiện do lỗi cố ý
trực tiếp, ngƣời phạm tội biết rõ hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là nguy
hiểm cho xã hội nhƣng vì vụ lợi nên vẫn thực hiện. Động cơ phạm tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là vụ lợi, mục đích phạm tội là để thu lợi bất chính.
Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả động cơ, mục đích không phải
là dấu hiệu định tội hay định khung hình phạt song việc xác định rõ động cơ,
mục đích phạm tội đối với các trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng
giả có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt đối với ngƣời phạm tội.
2.1.2. Chính sách hình sự đối với người phạm tội sản xuất, buôn
bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự
Về chính sách hình sự, khoản 1 Điều 156 quy định, bất kỳ ngƣời nào
sản xuất, buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị
từ ba mƣơi triệu đồng đến dƣới một trăm năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới ba
49
mƣơi triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành
chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154,
155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các
tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến
năm năm. Nhƣ vậy, mức hình phạt tù từ sáu tháng đến năm năm đƣợc áp dụng
cho bất kỳ ngƣời nào có hành vi đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS.
Tuy nhiên, khi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả mà có một trong
những tình tiết dƣới đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời năm:
- Có tổ chức. Theo quy định tại Điều 20 BLHS 1999: Phạm tội có tổ
chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những ngƣời cùng
thực hiện một tội phạm, trong đó có ngƣời tổ chức, ngƣời thực hành, ngƣời
xúi giục, ngƣời giúp sức. Trong vụ án đồng phạm có tổ chức về tội sản xuất
hàng giả, buôn bán hàng giả, ngƣời tổ chức là ngƣời chủ mƣu, cầm đầu, chỉ
huy việc sản xuất, buôn bán hàng giả; Ngƣời thực hành là ngƣời trực tiếp thực
hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; Ngƣời xúi giục là ngƣời kích động,
dụ dỗ, thúc đẩy ngƣời khác thực hiện hành vi sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả; Ngƣời giúp sức là ngƣời tạo ra những điều kiện tinh thần hoặc vật
chất cho việc thực hiện tội phạm. Điều 156 BLHS quy định về hai tội phạm
độc lập tội sản xuất hàng giả và tội buôn bán hàng giả. Áp dụng tình tiết này
có hai trƣờng hợp phạm tội có thể xảy ra: một ngƣời thực hiện hai hành vi sản
xuất hàng giả, buôn bán hàng giả với cùng một đối tƣợng, trong đó có một
hành vi phạm tội có tổ chức. Trong trƣờng hợp này, ngƣời phạm tội vẫn bị áp
dụng tình tiết tăng nặng định khung "có tổ chức' đƣợc quy định tại điểm a,
khoản 2 Điều 156. Hoặc một ngƣời thực hiện hai hành vi sản xuất hàng giả,
buôn bán hàng giả với nhiều đối tƣợng phạm tội khác nhau, trong khi đó chỉ
có một hành vi phạm tội có tổ chức, còn các hành vi khác không có tổ chức.
Trong trƣờng hợp này, hành vi phạm tội nào có tổ chức thì ngƣời phạm sẽ bị
áp dụng tình tiết định khung phạm tội có tổ chức tại điểm a, khoản 2, Điều
50
156, còn các hành vi khác tùy trƣờng hợp cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình
sự cho họ theo điều khoản tƣơng ứng.
- Có tính chất chuyên nghiệp. Tại Điểm 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-
HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về
hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS quy định về tình tiết "phạm tội
có tính chất chuyên nghiệp" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 và một số
điều luật trong Phần các tội phạm của BLHS hƣớng dẫn:
Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp"
khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: Cố ý phạm tội từ năm lần trở
lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hay chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chƣa
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chƣa đƣợc xoá án
tích; Ngƣời phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống
và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
Khi áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp",
cần phân biệt: Đối với trƣờng hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà
trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chƣa đƣợc xoá án tích thì tuỳ
từng trƣờng hợp cụ thể mà ngƣời phạm tội có thể bị áp dụng cả ba
tình tiết là "phạm tội nhiều lần", "tái phạm" (hoặc "tái phạm nguy
hiểm") và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp". Đối với tội phạm
mà trong điều luật có quy định tình tiết "phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp" là tình tiết định khung hình phạt thì không đƣợc áp
dụng tình tiết đó là tình tiết tăng nặng tƣơng ứng quy định tại Điều
48 của BLHS. Trƣờng hợp điều luật không có quy định tình tiết này
là tình tiết định khung hình phạt thì phải áp dụng là tình tiết tăng
nặng tƣơng ứng quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự [14].
Nhƣ vậy, tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp đƣợc vận
dụng đối với ngƣời phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc hiểu là ngƣời
51
phạm tội lấy các lần phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả làm nghề sinh sống
và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
- Tái phạm nguy hiểm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 BLHS,
những trƣờng hợp sau đây đƣợc coi là tái phạm nguy hiểm: "Đã bị kết án về
tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chƣa đƣợc xoá án tích
mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; Đã tái
phạm, chƣa đƣợc xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý"[25].
Đối chiếu quy định này với Điều 156 BLHS, tình tiết tăng nặng định
khung đƣợc quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 156 BLHS chỉ xảy ra với
trƣờng hợp quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 49 BLHS, trƣờng hợp đã tái
phạm, chƣa đƣợc xóa án tích mà lại phạm tội do lỗi cố ý. Trƣờng hợp ngƣời
phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi
cố ý, chƣa đƣợc xóa án tích nhƣng lại phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả
thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 156 BLHS, nếu chỉ
phạm tội thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 1, Điều 156 BLHS thì chƣa
thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm, vì khoản 1 Điều 156 BLHS không phải
là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nhƣ vậy,
nếu ngƣời phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm này thì đồng thời đã
thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 156 nên việc xác định
tình tiết tái phạm nguy hiểm chỉ có ý nghĩa là tình tiết tăng nặng quy định tại
Điều 48 BLHS chứ không có ý nghĩa là tình tiết định khung tăng nặng.
Căn cứ điểm a, khoản 5.1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12
tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hƣớng dẫn áp
dụng một số quy định của BLHS quy định về tình tiết "phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 và một số điều luật
trong Phần các tội phạm của BLHS thì ngƣời phạt tội có thể bị áp dụng đồng
thời tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp trong trƣờng hợp: "a) Đối với trƣờng hợp phạm tội từ năm lần
trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chƣa đƣợc xoá án tích thì tuỳ
52
từng trƣờng hợp cụ thể mà ngƣời phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là
"phạm tội nhiều lần", "tái phạm" (hoặc "tái phạm nguy hiểm") và "phạm tội
có tính chất chuyên nghiệp" [14].
- Lợi dụng chức vụ quyền hạn. Đây là trƣờng hợp phạm tội sản xuất,
buôn bán hàng giả mà ngƣời phạm tội là ngƣời có chức vụ quyền hạn và đã
lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngƣời
phạm tội có thể là ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nƣớc hoặc
các tổ chức kinh tế, xã hội khác.
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức. Lợi dụng danh nghĩa cơ quan,
tổ chức là ngƣời phạm tội thông qua cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên
để sản xuất, buôn bán hàng giả. Ví dụ, vụ án Hà Minh Tuấn phạm tội sản
xuất, buôn bán hàng giả tại tỉnh Sóc Trăng: "Theo kết luận điều tra số
01/KLĐT-PC46 ngày 09/09/2013 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Sóc Trăng thì vì mục đích vụ lợi, bị can Hà Minh Tuấn lợi dụng chi nhánh
Công ty chƣa đƣợc sự cho phép của địa phƣơng trong việc lƣu hành sản phẩm
hàng hóa; bị can Tuấn pha chế các sản phẩm không theo công thức nào, thiết
kế nhãn mác, bao bì các sản phẩm mỹ phẩm, dầu gội lấy mẫu mã giống các
sản phẩm đang lƣu hành trên thị trƣờng nhƣ: CLEAR, X-MEN, REJOICE,
PANTENE, SUNSILK… Sản phẩm sữa tắm dạng chai nhãn hiệu O2 BODY
WASH đƣợc in trên nhãn bằng tiếng nƣớc ngoài có phụ đề tiếng Việt ở phía
dƣới sản phẩm và dán tem chống giả là nhằm mục đích đánh lừa ngƣời tiêu
dùng với nhãn hiệu O2 men, O2 shampoo, sữa tắm O2 sữa dê, sữa tắm dạng
chai 1.200ml, 500ml nhãn hiệu BODY WASH ở số 06 (hiện nay là số 56)
Đoàn Thị Điểm, khóm 5, phƣờng 3, TP. Sóc Trăng bán ra ở thị trƣờng Sóc
Trăng, Cần Thơ, Bạc Liêu với số lƣợng lớn.
Căn cứ theo Thông tƣ số 06/2011/TTBYT ngày 25/01/2011 của Bộ Y Tế
quy định về quản lý mỹ phẩm thì tiêu chuẩn cơ sở 01-2006/TCYTVN và 02-
2006/TCYTVN ngày 20/01/2006 đã hết hiệu lực. Nhƣng bị can Hà Minh Tuấn
vẫn áp dụng để sản xuất. Căn cứ vào Thông tƣ liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-
53
BTC-BCA-BKHCNMT, ngày 27/04/2000 của Bộ Thƣơng mại, Bộ Tài chính,
Bộ Công an, Bộ Khoa học công nghệ môi trƣờng quy định về những hành vi sản
xuất mua bán hàng giả theo điều 156 BLHS nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Hành vi của bị can đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể đƣợc Luật hình sự bảo
vệ đó là việc sản xuất kinh doanh mỹ phẩm dầu gội và sữa tắm không đúng với
tiêu chuẩn ghi trên nhãn bao bì sản phẩm (giả về chất lƣợng hàng hóa), không
đăng ký công bố tiêu chuẩn chất lƣợng hàng hóa tại địa phƣơng nơi sản xuất.
Sản xuất tiêu thụ sản phẩm sữa tắm dạng chai nhãn hiệu O2 BODY WASH tại
Sóc Trăng nhƣng trên nhãn chai in toàn tiếng nƣớc ngoài, dán tem chống giả
phụ đề bằng tiếng Việt (là giả về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa).
Nhƣ vậy hành vi của bị can Hà Minh Tuấn đã cố ý sản xuất kinh
doanh mỹ phẩm (dầu gội và sữa tắm) không có giá trị sử dụng đúng với tên
gọi của nó, không đảm bảo tính năng tiêu chuẩn kỹ thuật đã đƣợc quy định,
dùng thủ đoạn gian dối để đánh lừa ngƣời tiêu dùng nhằm mục đích thu lợi
bất chính làm mất ổn định thị trƣờng xâm hại lợi ích của ngƣời tiêu dùng đã
trực tiếp xâm phạm đến khách thể đƣợc Luật hình sự bảo vệ. Hành vi thực
hiện không đúng việc sản xuất kinh doanh mỹ phẩm của bị can đã thỏa mãn
dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Tội phạm và hình phạt đƣợc quy
định tại điều 156 BLHS nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam [36]. Trong vụ án
này, Hà Minh Tuấn với tƣ cách là Giám đốc chi nhánh Công ty TNHH sản
xuất - thƣơng mại - dịch vụ Tân Việt Mỹ tại thành phố Sóc Trăng đã lợi dụng
danh nghĩa Công ty để sản xuất, buôn bán hàng giả.
- Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng hàng thật có giá trị từ một trăm
năm mƣơi triệu đồng đến dƣới năm trăm triệu đồng. Ví dụ, vụ án Nguyễn
Văn Hiểu và Nguyễn Văn Hiếu bị TAND thành phố Hà Nội xét xử về tội
buôn bán hàng giả. Ngày 10/01/2014, TAND thành phố Hà Nội đã tiến hành
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự "Buôn bán hàng giả" đối với các bị cáo Nguyễn
Văn Hiểu (34 tuổi) và Nguyễn Văn Hiếu (31 tuổi), giám đốc và nhân viên của
Công ty Cổ phần đầu tƣ và phát triển thƣơng mại Đức Huy. Nguyễn Văn Hiểu
54
đã mua số lƣợng lớn sản phẩm thiết bị vệ sinh giả 2 nhãn hiệu Inax, American
Standard từ Trung Quốc sau đó đƣa về Hà Nội và tự dán tem chống hàng giả
nhằm mục đích tiêu thụ. Đồng phạm với Nguyễn Văn Hiểu là Nguyễn Văn
Hiếu. Với hành vi buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng hàng thật có
giá trị gần 400 triệu đồng, bị cáo Nguyễn Văn Hiểu đã bị kết án 36 tháng tù
nhƣng cho hƣởng án treo. Nguyễn Văn Hiếu bị kết án 24 tháng tù và cho
hƣởng án treo theo Điểm e, Khoản 2 Điều 156 BLHS [20].
- Thu lợi bất chính lớn: Thu lợi bất chính là khoản lời mà ngƣời phạm
tội thu đƣợc từ việc thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, khoản lời
đó có thể là số tiền nhất định hoặc tài sản. Đối với khoản lời có đƣợc do hành
vi sản xuất, buôn bán hàng giả cần đƣợc định giá để xác định giá trị khoản lời.
Số tiền thu lợi bất chính là hiệu số của chi phí làm nên hàng giả hoặc số vốn
mà ngƣời phạm tội bỏ ra để mua hàng giả với số tiền thu đƣợc mà ngƣời
phạm tội bán số hàng giả đó. Tuy nhiên, số tiền thu lợi bất chính bao nhiêu là
lớn thì đến nay cũng chƣa có văn bản hƣớng dẫn của cơ quan chức năng nên
việc định khung bằng tình tiết này trên thực tế còn thiếu sự thống nhất trong
nghiên cứu và áp dụng pháp luật.
- Gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng do hành vi sản
xuất, buôn bán hàng giả gây ra là những thiệt hại rất nghiêm trọng đến tính
mạng, sức khỏe, tài sản và những thiệt hại phi vật chất cho xã hội.
Ngày 26/6/2013, Bộ Tƣ pháp - Bộ Công an - TAND tối cao - VKSND
tối cao - Bộ Tài chính đã ban hành Thông tƣ liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-
BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC hƣớng dẫn áp dụng một số điều của BLHS
về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán. Trong
đó, có hƣớng dẫn về tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng của các tội phạm này -
một số tội thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Tuy nhiên, tình tiết
gây hậu quả nghiêm trọng đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả lại không
đƣợc hƣớng dẫn tại Thông tƣ này nên việc xác định nhƣ thế nào là hậu quả
nghiêm trọng cũng là vấn đề chƣa đƣợc hiểu thống nhất.
55
Trong cấu thành tội phạm rất tăng nặng đối với tội sản xuất, buôn bán
hàng giả đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 156, theo đó, ngƣời phạm tội có thể bị
phạt tù từ bảy năm đến mƣời lăm năm khi có một trong những tình tiết sau đây:
- Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ năm
trăm triệu đồng trở lên. Ví dụ, Lê Huy Trụ là chủ xƣởng sản xuất dụng cụ thể
thao Thiên Long theo hình thức hộ cá thể tại nhà riêng ở thôn Văn Khê, xã
Tam Hƣng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Từ tháng 12/2009 đến tháng
12/2010, cơ sở sản xuất của Lê Huy Trụ đã sản xuất 10.200 quả bóng, trong
đó có 1.440 quả giả nhãn hiệu Adidas, 720 quả giả nhãn hiệu Fila và 420 quả
giả nhãn hiệu Molten; đã tiêu thụ đƣợc 1.138 quả giả nhãn hiệu Adidas, 380
quả giả nhãn hiệu Molten hƣởng lợi bất chính số tiền 10.905.000 đồng. Ngoài
ra, Lê Huy Trụ còn sang Trung Quốc mua quần áo, áo khoác, áo phông cộc
tay, quần, giầy thể thao, tất chân giả nhãn hiệu Adidas, Nike, Puma, Kappa,
mua vợt cầu lông giả nhãn hiệu Proace, Wish hết tổng số tiền là 624.450.000
đồng; đã tiêu thụ đƣợc số hàng với số tiền là 602.676.000 đồng, hƣởng lợi bất
chính số tiền là 173.470.000 đồng. Với vụ án này, Lê Huy Trụ đồng thời thực
hiện hai tội phạm sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả. Tại phiên tòa sơ
thẩm, Lê Huy Trụ bị kết tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo điểm a, khoản 3,
Điều 156 BLHS với mức hình phạt 36 tháng tù [46].
- Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn. Với quy định này chúng
ta có thể thấy thu lợi bất chính đƣợc thể hiện ở hai mức rất lớn và đặc biệt
lớn. Đây là hai mức độ khác nhau của thu lợi bất chính, trong đó thu lợi bất
chính đặc biệt lớn là trƣờng hợp có tính chất và mức độ nghiêm trọng hơn
nhiều so với trƣờng hợp thu lợi bất chính rất lớn. Do đó, mặc đù đây là hai
tình tiết đƣợc quy định trong cùng một khung hình phạt song mức độ nghiêm
trọng là khác nhau nên việc phân biệt hai trƣờng hợp phạm tội này là rất cần
thiết và trong phạm vi khung, mức hình phạt đối với mỗi trƣờng hợp này cũng
là khác nhau.
56
Cũng nhƣ tình tiết thu lợi bất chính lớn đƣợc quy định tại điểm g,
khoản 2, Điều 156 BLHS, tình tiết tăng nặng thu lợi bất chính rất lợi hoặc đặc
biệt lớn cũng chƣa có hƣớng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để xác định nhƣ
thế nào là rất lớn, đặc biệt lớn.
- Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Đây cũng là tình tiết định khung
chƣa có hƣớng dẫn của cơ quan chức năng nên việc xác định nhƣ thế nào là
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cũng là vấn đề còn chƣa đƣợc thống nhất trong
nghiên cứu và áp dụng pháp luật.
Tùy theo tính chất, mức độ phạm tội mà ngƣời phạm tội có thể bị phạt
tù đến 15 năm khi có các tình tiết đã nêu ở phần trên. Hay nói cách khác, loại
hình phạt đƣợc áp dụng đối với tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả là
hình phạt tù có thời hạn. Đây là hình phạt chính duy nhất đối với tội phạm
này, và cũng là điểm khác biệt so với luật hình sự Liên bang Nga. Khung hình
phạt thấp nhất đƣợc quy định tại Khoản 1, Điều 156 là từ sáu tháng đến năm
năm tù. Khung hình phạt đƣợc quy định tại Khoản 2 Điều 156 là từ ba năm
đến mƣời năm tù. Và khung cao nhất đƣợc quy định tại Khoản 3 Điều 156 là
từ bảy năm đến mƣời lăm năm tù. Theo khung hình phạt đƣợc áp dụng cho tội
sản xuất, buôn bán hàng giả có thể thấy quan điểm của Nhà nƣớc ta về việc
đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này đối với nhà
nƣớc và xã hội - đó là tội phạm nghiêm trọng và rất nghiêm trọng.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 4, Điều 156 BLHS,
ngƣời phạt tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mƣơi triệu
đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.
Khác với việc áp dụng hình phạt chính, Điều 28 BLHS quy định đối
với mỗi tội phạm, ngƣời phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính, nhƣng
đối với hình phạt bổ sung họ có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ
sung đƣợc quy định trong điều luật tƣơng ứng. Nhƣ vậy, đối với tội sản xuất
hàng giả hoặc buôn bán hàng giả Tòa án có thể quyết định áp dụng một, hai,
57
hoặc ba hình phạt bổ sung đƣợc quy định tại Khoản 4 Điều 156 BLHS đối với
mỗi ngƣời phạm tội.
Về hình phạt tiền. Bằng việc tƣớc đi những quyền lợi vật chất của
ngƣời bị kết án, việc áp dụng hình phạt tiền tác động đến ý thức của ngƣời
phạm tội để thực hiện mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng của
hình phạt. Theo quy định tại Khoản 3 điều 30 BLHS: "Mức phạt tiền đƣợc
quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm đƣợc thực
hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của ngƣời phạm tội, sự biến động
giá cả, nhƣng không đƣợc thấp hơn một triệu đồng" [25]. Đối với tội sản xuất
hàng giả, buôn bán hàng giả không đƣợc thấp hơn năm triệu đồng và mức cao
nhất là năm mƣơi triệu đồng.
Đối với hình phạt tịch thu tài sản: Ngƣời phạm tội sản xuất, buôn bán
hàng giả có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của
mình để sung quỹ Nhà nƣớc. Khi quyết định tịch thu toàn bộ tài sản của
ngƣời phạm tội, Tòa án phải tính đến việc để cho ngƣời bị kết án và gia đình
họ có điều kiện sinh sống.
Về hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định đƣợc áp dụng khi xét thấy nếu để ngƣời bị kết án đảm nhiệm
chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì họ có thể tiếp tục phạm tội sản
xuất, buôn bán hàng giả hoặc thực hiện hành vi khác gây nguy hại cho xã hội.
Thời hạn cấm là từ một năm đến năm năm và tính kể từ ngày ngƣời bị kết án
chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu
hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong
trƣờng hợp ngƣời bị kết án đƣợc hƣởng án treo. Việc quy định và áp dụng
hình phạt này góp phần tăng cƣờng hiệu quả của hình phạt chính, đồng thời
loại bỏ điều kiện phạm tội lại của ngƣời đã bị kết án.
So sánh tội sản xuất buôn bán hàng giả (theo Điều 156 BLHS), với tội
sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc phòng bệnh,
thuốc chữa bệnh (theo Điều 157 BLHS) và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là
58
thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật,
giống cây trồng, vật nuôi (Theo Điều 158 Bộ luật hình sự) có thể thấy đặc
điểm cấu trúc của các tội này cơ bản giống nhau ở mặt khách quan, chủ thể và
mặt chủ quan của tội phạm. Điểm khác biệt giữa ba tội phạm này nằm ở mặt
khách thể, mà cụ thể là đối tƣợng tác động của tội phạm. Đối tƣợng tác động
của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS là hàng giả nói
chung; Đối tƣợng tác động của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 157
BLHS là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh; Và đối
tƣợng tác động của tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả quy định tại Điều
158 BLHS là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ
thực vật, giống cây trồng, vật nuôi. Xuất phát từ việc đánh giá mức độ quan
trọng của các loại hàng hóa này là khác nhau, BLHS 1999 quy định ba tội sản
xuất, buôn bán hàng giả tƣơng ứng với ba loại hàng hóa trên với các dấu hiệu
định tội, định khung, loại và mức hình phạt có sự khác nhau.
2.2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG
GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
2.2.1. Kết quả đạt được trong áp dụng Điều 156 Bộ luật hình sự
vào thực tiễn đấu tranh chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cùng với những hệ lụy của nó ở
bất cứ giai đoạn lịch sử nào cũng gây bức xúc trong dƣ luận, bị xã hội lên án.
Hàng giả hiện nay đã trở thành vấn nạn của xã hội, xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế của nhà nƣớc, tính mạng, sức khỏe, tài chính của ngƣời tiêu dùng và
lợi ích của các nhà sản xuất, phân phối chân chính. Tình trạng hàng giả ngày
càng gia tăng về số lƣợng, mặt hàng với diễn biến phức tạp đã làm gia tăng
tính nguy hiểm của nó đối với cộng đồng và trật tự quản lý xã hội. Hành vi
sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cần đƣợc ngăn chặn, xử lý để bảo vệ trật
tự quản lý kinh tế, ngƣời tiêu dùng và các nhà đầu tƣ.
Quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong luật hình
sự Việt Nam, trƣớc hết là công cụ để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của nhà
59
nƣớc, tính mạng, sức khỏe, quyền lợi của ngƣời tiêu dùng và các nhà sản
xuất, phân phối đang bị hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả xâm hại hoặc đe
dọa xâm hại. Đây cũng chính là khách thể trực tiếp đƣợc luật hình sự bảo vệ
thông qua việc quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi nguy hiểm
đang thực tế xảy ra trong xã hội xâm hại hoặc đe dọa xâm hại những quan hệ
xã hội này. Sự bảo vệ đó thể hiện ở tác dụng ngăn ngừa, điều chỉnh và giáo
dục của quy phạm pháp luật hình sự này đối với xã hội và ngƣời phạm tội.
Thành tựu của công cuộc đổi mới, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN đã đƣa nƣớc ta ra
khỏi tình trạng đói nghèo. Bình quân thu nhập đầu ngƣời tăng, đời sống vất
chất và tinh thần của nhân dân không ngừng đƣợc cải thiện, an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội đƣợc đảm bảo. Bên cạnh những yếu tố tích cực, mặt
trái của nền kinh tế thị trƣờng cũng có ảnh hƣởng tiêu cực đến an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội. Tình hình tội phạm nói chung ở nƣớc ta, trong đó
có tội phạm về hàng giả ngày càng diễn biến phức tạp. "Thế giới nhức nhối
đại dịch hàng nhái", "Tội phạm Đông Á - Thái Bình Dƣơng kiếm đƣợc nhiều
tiền nhất từ hàng giả", "Hàng giả - Tội phạm lớn nhất thế kỷ 21"… là những
tiêu đề không lạ về tội phạm hàng giả đƣợc đăng tải trên các trang báo hiện
nay. Đó cũng là thực trạng tình hình hàng giả hiện nay.
Theo báo cáo từ tổ chức Hải quan thế giới, tổng giao dịch hàng làm
giả năm 2006 trên thế giới là 500 tỉ USD, năm 2010 lên tới 2.000 tỉ USD, cứ
10 sản phẩm lại có 1 sản phẩm bị làm giả. Trong năm 2012, lực lƣợng Quản
lý thị trƣờng cả nƣớc kiểm tra 181.000 trƣờng hợp vi phạm thì có trên 90.000
trƣờng hợp vi phạm [10].
Báo điện tử Tuổi trẻ online số ra ngày 15/8/2013 trong bài "Tội phạm
kiếm đƣợc nhiều tiền nhất từ hàng giả" có đoạn viết:
Ma túy, gỗ và động thực vật hoang dã, hàng giả và buôn ngƣời
tiếp tục là những lĩnh vực hấp dẫn các nhóm tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dƣơng. Các nhóm tội
60
phạm tại Đông Á- Thái Bình Dƣơng kiếm đƣợc hơn 24 tỉ USD từ
buôn bán hàng giả, 17 tỉ USD từ gỗ phi pháp, 16 tỉ USD từ heroin,...
Đó là một trong những kết quả nghiên cứu trong báo cáo do Cơ quan
Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc (UNODC) công
bố ngày 14-8 tại Hà Nội. Trung tƣớng Đỗ Kim Tuyến - phó tổng cục
trƣởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (Bộ Công an) - cho
biết điều này cũng phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam [9].
Báo Công thƣơng điện tử số ra ngày 06/12/2013, có bài viết "Hàng giả
ngày càng tinh vi" nhân "Ngày phòng chống hàng giả, hàng nhái" đã đƣa tin:
Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ thƣơng hiệu Việt Nam
(VATAP) vừa tổ chức Ngày phòng chống hàng giả, hàng nhái tại
TP.HCM. Ngày hội có sự tham dự của Thứ trƣởng Bộ Công thƣơng
Nguyễn Cẩm Tú, đại diện các cơ quan chống hàng giả cả nƣớc và
hơn 200 doanh nghiệp. Theo ông Lê Thế Bảo - Chủ tịch VATAP,
hiện nay, trên thị trƣờng, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ,
kiểu dáng công nghiệp diễn ra ở nhiều cấp độ và rất phức tạp. Hàng
giả, hàng nhái không chỉ sản xuất ở Việt Nam, mà còn sản xuất ở
nƣớc ngoài và đƣa về tiêu thụ với số lƣợng lớn. Nhiều lô hàng do
các cơ sở trong nƣớc ra nƣớc ngoài đặt hàng sản xuất. Thời gian
làm hàng giả ở nƣớc ngoài rất nhanh, chỉ 1 - 2 tuần là làm xong một
lô hàng hàng nghìn sản phẩm. Vì vậy, nhiều khi, sản phẩm chỉ mới
tung ra thị trƣờng chƣa đến 1 tháng thì hàng giả đã tràn ngập chợ.
Điều đáng báo động là hàng giả ngày càng giống hàng thật, khiến
ngƣời tiêu dùng không thể phân biệt đƣợc thật giả. Ông Trƣơng
Quang Hoài Nam - Cục trƣởng Cục Quản lý cạnh tranh - nhìn nhận,
hàng giả, hàng nhái tại Việt Nam đang gây nhức nhối cho toàn xã
hội, chúng có mặt từ các phiên chợ vùng cao đến các trung tâm mua
sắm hiện đại ở thành phố, đa dạng các chủng loại nhƣ: Ti vi, xe
máy, máy tính, điện thoại, giày dép, quần áo, thuốc tân dƣợc, phân
61
bón, bia rƣợu, mỹ phẩm… Nếu năm 1996, chỉ mới có 961 vụ làm
hàng giả, hàng nhái bị phát hiện thì 10 tháng đầu năm, số vụ sản
xuất, buôn bán hàng giả bị triệt phá đã lên đến 11.274 vụ [44].
Cũng theo báo Tuổi trẻ online ngày 13/5/2013:
Ngoài ra, các mặt hàng giả phổ biến khác nhƣ dƣợc phẩm, hóa
mỹ phẩm, hàng điện máy chiếm tỉ lệ khá cao. Trong đó, không chỉ làm
giả trong nƣớc, số lƣợng hàng giả đƣợc sản xuất từ nƣớc ngoài đƣa vào
nội địa tiêu thụ ngày càng đa dạng. Đặc biệt, ngoài việc hàng hóa giả
mạo chất lƣợng, xuất xứ hàng giả còn đƣợc gắn tem chống hàng giả
của chính Bộ Công an. Do đó, ngoài việc giám định hàng giả, viện còn
phải giám định chính tem thật giả của đơn vị mình ban hành bởi tem
chống hàng giả đƣợc làm giả rất tinh vi, liên tục cải tiến [33].
Qua những bài báo trên, với những thông tin và đánh giá của đại diện
một số cơ quan chức năng đã giúp chúng ta hình dung khái quát bức tranh về
tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả đang ngày càng gia tăng và diễn biến
hết sức phức tạp ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của VKSND tối cao, TAND tối cao số vụ đã
điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên
phạm vi cả nƣớc trong 05 năm (2009-2013) nhƣ sau:
Bảng 2.1: Số vụ, bị can, bị cáo đã bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử về tội sản
xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS trong 05 năm (2009-2013)
Năm
Khởi tố Truy tố Xét xử sơ thẩm
Vụ Bị can Vụ Bị can Vụ Bị can
2009 15 22 15 20 13 17
2010 13 21 04 07 08 13
2011 12 18 12 18 07 11
2012 10 15 09 14 09 14
2013 31 40 31 40 30 39
Tổng 81 116 71 99 67 94
Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.
62
Trong đó, tình hình xử lý hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
theo Điều 156 BLHS trong 5 năm qua đƣợc thể hiện qua số vụ, số bị cáo đã
xét xử. So sánh số vụ, số bị cáo đã bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng
giả theo Điều 156 BLHS với tổng số vụ, số bị cáo đã xét xử trong 05 năm qua
để thấy rõ nét hơn thực trạng xét xử tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.
Bảng 2.2: Số vụ cũng như số bị cáo phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả
nói chung của từng năm, từ năm 2009 đến năm 2013
Năm
Tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả
theo Điều 156 Bộ Bộ luật hình sự
(Số vụ/số bị cáo)
2009 13/17
2010 08/13
2011 07/11
2012 09/14
2013 30/39
Tổng 67/94
Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao
Với số liệu thống kê trên, bình quân hàng năm có 13,4 vụ/18,8 bị cáo
bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Trong khi đó, trung bình mỗi
năm tòa án đã xét xử 203 vụ/449 bị cáo đối với mỗi tội phạm. So với mức
trung bình chung, thì tỉ lệ xét xử hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả chỉ
đạt 6,6% về số vụ, 4,1 % số bị cáo; so với tổng số vụ hình sự đã đƣợc xét xử sơ
thẩm chỉ đạt 0,030% số vụ, 0,19% số bị cáo. Đây là con số quá nhỏ so với trực
trạng sản xuất buôn bán hàng giả đƣợc đánh giá là tội phạm lớn nhất thế kỷ 21.
Tác giả luận văn không có điều kiện để tiếp cận với số vụ vi phạm về
hàng giả trong 05 năm qua tại cơ quan công an, hải quan và quản lý thị
trƣờng. Tuy nhiên, so với con số trên 90.000 vụ đã bị triệt phá về hàng giả
riêng trong năm 2012, số vụ đã xét xử về nhóm tội hàng giả là năm 2012 là
quá ít 61 vụ, đạt tỉ lệ 0,066%, số vụ đã xét xử theo Điều 156 là 09 vụ, đạt tỉ
lệ 0,001%. 10 tháng đầu năm 2013, số vụ sản xuất, buôn bán hàng giả bị
triệt phá đã lên đến 11.274 vụ, tuy nhiên số vụ đã xử lý hình sự về tội hàng
63
giả trong năm 2013 cũng là không đáng kể 59 vụ, số vụ đã bị xét xử theo
Điều 156 là 30 vụ.
Sở dĩ tác giả luận văn so sánh số vụ đã phát hiện với số vụ đã xét xử
về các tội hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói chung do không có
thống kê cụ thể về số vụ đã bị triệt phá mà đối tƣợng vi phạm là hàng giả theo
Điều 156 BLHS. Tuy nhiên, số các vụ đã đƣa ra xét xử đối các tội hàng giả
cũng rất ít ỏi so với số vụ vi phạm.
Có thể thấy tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156
BLHS với đối tƣợng là hàng giả nói chung có phạm vi rộng hơn so với tội
phạm đƣợc quy định tại Điều 157, Điều 158 và Điều 171 BLHS, song số vụ
hình sự đối với tội phạm này lại thấp hơn 2 lần so với hàng giả là lƣơng thực,
thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh và hơn không đáng kể so với
hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ
thực vật, giống cây trồng vật nuôi (hơn 2 lần). Trên thực tế, số vụ vi phạm có
đối tƣợng là hàng giả thuộc Điều 156 BLHS là rất lớn và phong phú, đa dạng
về chủng loại, đặc biệt là đồ điện tử, thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng
khác. Tuy nhiên, số vụ bị phát hiện và xử lý hình sự còn chƣa phản ánh đƣợc
tình hình tội phạm trên thực tế.
Số liệu trên cũng cho thấy tỉ lệ số vụ đã xét xử so với số vụ đã bị khởi
tố đạt 82,7%, nhƣ vậy 17,2 % (hơn 2 vụ) không đƣợc đƣa ra xét xử với nhiều
lý do, trong đó có đình chỉ, miễn trách nhiệm hình sự.
Tóm lại, tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả đang đƣợc
đánh giá là diễn biến phức tạp và có chiều hƣớng gia tăng nhƣng theo số liệu
đã đƣợc phân tích tỉ lệ số vụ, số ngƣời bị xử lý hình sự về tội này lại rất hiếm
hoi. Những con số trên đây đặt cho chúng ta câu hỏi, liệu chúng ta đã thực sự
nghiêm khắc trong xử lý các vi phạm và tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả
hay chƣa? Việc không khởi tố, truy tố, đƣa ra xét xử những vụ sản xuất, buôn
bán hàng giả có dấu hiệu phạm tội có rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Đó có
thể do luật pháp còn "kẽ hở", do tiêu cực, thiếu kiên quyết trong xử lý... Vì thế,
64
không tránh khỏi tình trạng bỏ lọt tội phạm, dung túng cho hành vi phạm tội.
Đó cũng là vấn đề tội phạm ẩn trong thực tiễn. Có những tội phạm sản xuất,
buôn bán hàng giả xảy ra nhƣng không tìm thấy ngƣời thực hiện hành vi phạm
tội hoặc hành vi phạm tội đƣợc hành chính hóa bằng việc xử lý vi phạm hành
chính hoặc bị phát hiện nhƣng không bị xử lý theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định
Điều 156 Bộ luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Thứ nhất, những tồn tại hạn chế từ quy định của pháp luật. Nghiên
cứu tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả cũng nhƣ thực tiễn điều tra, truy tố
xét xử tội phạm này ở Việt Nam trong thời gian vừa qua cho thấy một số tồn
tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định về tội sản xuất, buôn bán
hàng giả. Cụ thể, một số tình tiết của tội sản xuất, buôn bán hàng giả quy định
tại Điều 156 BLHS còn quá chung chung, chƣa có định lƣợng rõ ràng, thiếu
tính khả thi nhƣ tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng", "thu lợi bất chính lớn",
"gây hậu quả rất nghiêm trọng", "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn",
"gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng". Đây là các mức độ khác nhau thể hiện
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà tƣơng ứng với nó
ngƣời phạm tội phải chịu những mức hình phạt khác nhau. Tuy nhiên, nhƣ thế
nào đƣợc coi là "gây hậu quả nguy hiểm", "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu
quả rất nghiêm trọng", "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn", “gây hậu
quả đặc biệt nghiêm trọng” đến nay chƣa có văn bản pháp luật nào quy định
chi tiết các tình tiết này.
Thông thƣờng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với những
trƣờng hợp có vƣớng mắc trong việc áp dụng quy định của pháp luật, cơ quan
điều tra, VKS hoặc tòa án cấp dƣới thƣờng thỉnh thị án để xin ý kiến của cơ
quan cấp trên. Song, nếu chƣa có hƣớng dẫn bằng văn bản quy phạm pháp
luật của các cơ quan có thẩm quyền thì những hƣớng dẫn, trao đổi nghiệp vụ
dƣới hình thức là văn bản hành chính chỉ có tính tham khảo chứ không phải là
căn cứ pháp luật để thi hành nhƣ đối với văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy,
65
có thế nói, đây là kẽ hở trong điều luật nếu bỏ qua sẽ là bỏ lọt tội phạm, nếu
áp dụng có thể dẫn đến tùy tiện, thiếu thống nhất giữa các địa phƣơng, các cấp
và ở mỗi giai đoạn tố tụng gây nên tình trạng bất bình đẳng trong tố tụng.
Về hình phạt, đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói
chung và tội phạm về hàng giả nói riêng, hình phạt tiền luôn đƣợc dƣ luận
quan tâm và có hiệu quả không nhỏ trong việc răn đe, giáo dục ngƣời phạm
tội bởi mục đích chủ yếu của họ khi thực hiện hành vi phạm tội là lợi nhuận,
nếu mức hình phạt là thích đáng và lớn hơn lợi nhuận mà họ có đƣợc từ việc
phạm tội thì chắc chắn khả năng họ lựa chọn việc phạm tội sẽ là thấp hơn.
Khoản 4 Điều luật quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung với mức hình
phạt từ năm triệu đến năm mƣơi triệu đồng. So với giá trị hàng giả tƣơng
đƣơng với hàng thật đƣợc quy định trong điều luật thì mức phạt hình phạt tiền
cao nhất (năm mƣơi triệu đồng) chỉ bằng giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với
hàng thật đƣợc quy định ở khoản 1 - ở mức độ định tội danh, bằng 1/2 mức
thấp nhất, 1/10 mức cao nhất của giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật
đƣợc quy định tại khoản 2; và nhỏ hơn 1/10 giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với
hàng thật đƣợc quy định tại khoản 3 điều luật. Với so sánh này, chúng ta có
thể thấy mức hình phạt tiền đƣợc quy định trong điều luật rõ ràng là chƣa
tƣơng xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vì vậy
hiệu quả răn đe, giáo dục của hình phạt vì thế mà cũng giảm đi rất nhiều. Trên
thực tế, nạn sản xuất buôn bán hàng giả vẫn diễn ra hàng ngày, hàng giờ với
diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hƣớng gia tăng bởi lợi nhuận khổng
lồ mà nó đem lại.
Mặt khác, việc ấn định mức hình phạt tiền cụ thể là không phù hợp
với sự thay đổi thƣờng xuyên của tình hình kinh tế - xã hội. Tham khảo luật
hình sự một số nƣớc về tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhƣ đã trình bày ở
mục 1.3 chƣơng 1, chúng ta thấy BLHS nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
và BLHS Liên bang Nga quy định rất hợp lý và có tính ổn định cao về mức
phạt tiền đối với tội phạm này bằng việc quy định cấp số nhân trên cơ sở mức
66
tiền thu đƣợc từ việc bán hàng giả hoặc mức thu nhập tối thiểu, nội dung này
cần đƣợc nghiên cứu, tiếp thu trong việc hoàn thiện quy định của BLHS về tội
sản xuất, buôn bán hàng giả.
Bộ luật hình sự Việt Nam không chỉ coi thể nhân là chủ thể của tội
phạm. Trên thực tế, các tội phạm quản lý kinh tế nói chung và tội phạm sản
xuất, buôn bán hàng giả nói chung thƣờng liên quan đến các tổ chức doanh
nghiệp. Mặc dù tổ chức do con ngƣời thành lập, song qua quá trình hoạt động
tổ chức dần dần độc lập, tách ra khỏi những con ngƣời đã tạo ra nó, có tài sản,
và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Việc quy định tổ chức là chủ
thể của tội phạm có ý nghĩa lớn trong việc phòng chống tội phạm, bởi trong tổ
chức không phải ai cũng có xu hƣớng phạm tội và để bảo vệ tổ chức của mình
nhƣ bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình, thành viên của tổ chức sẽ có ý
thức trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xác định tổ chức là chủ thể
của tội phạm đã đƣợc Luật hình sự nhiều quốc gia trên thế giới quy định nhƣ
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ,…
Nhƣ tác giả luận văn đã trình bày ở phần trên, khác với BLHS năm
1985, đối tƣợng của tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo quy định
tại Điều 156 BLHS năm 1999 không phải là tất cả các loại hàng giả. Hành vi
sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc phòng
bệnh, thuốc chữa bệnh, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống, cây trồng vật
nuôi là đối tƣợng tác động của tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả ở khung
tăng nặng theo Điều 167 BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999 đƣợc tách
thành 02 điều luật riêng với chế tài nghiêm khắc hơn đƣợc quy định tại Điều
157, 158 BLHS. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đã nảy sinh một số
vấn đề bất hợp lý. Vấn đề này đã đƣợc PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí - Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đề cập trong bài viết “Hoàn thiện các tội xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế trước yêu cầu cải cách tư pháp” đăng tại tạp chí
Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội số 24 năm 2008:
67
Tại các Điều 156, 157, 158 BLHS quy định các tội phạm
tƣơng ứng: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Tội sản xuất, buôn bán
hàng giả là lƣơng thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng
bệnh; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân
bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực phẩm, giống cây trồng vật nuôi.
Các tội phạm này có dấu hiệu hành vi (hành vi sản xuất và hành vi
buôn bán hàng giả) và các dấu hiệu khác của cấu thành tội giống
nhau, giữa chúng chỉ khác nhau ở đối tƣợng phạm tội tƣơng ứng với
mỗi tội phạm: Hàng giả là hàng hóa thông thƣờng; Hàng giả là
lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Hàng
giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực
phẩm, giống cây trồng vật nuôi. Về thực chất, hành vi và tính chất
của các tội phạm này không khác nhau nếu có khác nhau chỉ là mức
độ phạm tội do tác động đến những đối tƣợng phạm tội có tầm quan
trọng khác nhau. Vì vậy, về kỹ thuật lập pháp không cần thiết phải
qui định ở những điều luật khác nhau mới phải ảnh đƣợc mức độ
nguy hiểm của các tội phạm mà đƣa những đối tƣợng tác động của
các tội phạm quy định tại các Điều 157, 158 là tình tiết tăng nặng
của cấu thành tội phạm quy định tại Điều 156 BLHS. Thực tế, có
trƣờng hợp ngƣời phạm tội cùng một lúc thực hiện hành vi sản xuất
hoặc buôn bán hàng hóa thuộc các đối tƣợng tác động của ba tội
phạm kể trên và do đó họ đã phạm nhiều tội, Tòa án sẽ tổng hợp
hình phạt của các tội đó nên hình phạt của họ có thể rất cao theo
nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong trƣờng hợp phạm nhiều tội quy
định tại Điều 50 BLHS. Theo đó, nếu các hình phạt đã tuyên cùng
là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình
phạt đó đƣợc cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung
không đƣợc vƣợt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam
giữ, ba mƣơi năm đối với hình phạt tù có thời hạn. Nhƣ vậy, trong
trƣờng hợp này ngƣời phạm tội có thể bị tổng hợp hình phạt của
68
nhiều tội theo phƣơng pháp cộng hình phạt của các tội đã phạm và
có thể đến 30 năm tù thay vì tối đa đến 20 năm tù trong trƣờng hợp
phạm một tội. Thực tế này đã đến hai hệ quả: 1) Hình phạt áp dụng
đối với ngƣời phạm tội quá cao so với tính chất, mức độ phạm tội
của họ; 2) Không có sự công bằng nếu so sánh với các tội phạm
khác trong BLHS, nhƣ các tội phạm: Tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân
dụng, phƣơng tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230 BLHS); Tội chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 232 BLHS)… Trong khi
hành vi sản xuất, buôn bán hành giả có thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự ở nhiều tội phạm do tác động đến những đối tƣợng phạm tội
khác nhau thì cũng là hành vi tác động đến nhiều đối tƣợng phạm
tội ở những trƣờng hợp khác lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
một tội phạm nhƣ các điều luật kể trên. Rõ ràng ở đây đã có sự bất
bình đẳng trong việc qui định trách nhiệm hình sự cho ngƣời phạm
tội ở những tội phạm khác nhau. Sự bất bình đẳng này cần đƣợc
khắc phục khi hoàn thiện BLHS theo tinh thần của Chiến lƣợc cải
cách tƣ pháp [3].
Thứ hai, những tồn tại, hạn chế từ điều kiện đảm bảo việc thi hành
pháp luật.
Bất cập trong cơ chế quản lý, phối hợp. Hiện nay, có đến năm cơ quan
hành chính có chức năng và thẩm quyền kiểm tra, xử lý về hàng giả gồm cơ
quan quản lý thị trƣờng, thanh tra chuyên ngành Khoa học - Công nghệ, Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, Công an kinh tế, Uỷ ban nhân dân cùng cấp cùng cơ
quan hải quan kiểm soát hàng nhập khẩu. Các cơ quan này có thể không thực
hiện các hoạt động tố tụng xử lý hình sự về hàng giả, song là những cơ quan
ban đầu kiểm tra, phát hiện về hàng giả trƣớc khi chuyển các vụ việc có dấu
hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra nên hoạt động của các cơ quan này đối
69
với việc xử lý hàng giả nói chung và xử lý hình sự về hàng giả nói riêng là rất
quan trọng. Song lực lƣợng quản lý này tuy đông nhƣng không mạnh, hoạt
động rời rạc, thiếu đồng bộ, chức năng nhiệm vụ chồng chéo nên dù chịu sự
kiểm tra của năm cơ quan nhƣng nạn hàng giả vẫn tràn ngập trên thị trƣờng.
Bên cạnh đó, các chủ thể có quyền bị xâm phạm chƣa nhiệt tình hợp tác với cơ
quan chức năng trong việc cung cấp, trao đổi thông tin và phản hồi tích cực,
một số doanh nghiệp vẫn coi việc chống hàng giả là việc của nhà nƣớc, cũng có
doanh nghiệp cho rằng việc phát hiện hàng giả đối với sản phẩm của mình sẽ
làm ảnh hƣởng đến uy tín của sản phẩm. Ngƣời tiêu dùng khi gặp phải hàng
giả, hàng nhái thì cũng ít khiếu nại, thậm trí không ít ngƣời tiêu dùng biết mình
đang mua bán hàng giả nhƣng vẫn chấp nhận bởi loại hàng hóa này phù hợp
với túi tiền của họ nên đã "tiếp tay" cho hàng giả trong việc phân phối và tiêu
thụ để rồi hàng giả ngày càng chiếm thị phần trên thị trƣờng. Mặt khác, việc
phối hợp giữa các bộ, ngành trung ƣơng trong việc xây dựng văn bản hƣớng
dẫn thi hành BLHS, trong đó có quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
còn chƣa thực sự khẩn trƣơng, tích cực đã gây không ít khó khăn cho các cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Về cơ sở dữ liệu, công cụ hỗ trợ, phƣơng tiện kỹ thuật để phân biệt
hàng thật - hàng giả, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại
sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng đã
khắc phục những bất cập, hạn chế của các văn bản pháp luật trƣớc đây về các
loại hàng giả tuy nhiên, đây mới chỉ là quy định chung khái quát về hàng giả.
Để xác định hàng giả, phân biệt hàng thật - hàng giả đối với mỗi mặt hàng cụ
thể ngoài việc căn cứ vào quy định của pháp luật còn phải căn cứ vào giá trị
sử dụng, công dụng, tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật, nhãn,
bao bì,... của hàng hóa. Trong các giai đoạn tố tụng, việc xác định hàng giả do
cơ quan giám định thực hiện song cơ quan tiếp cận, phát hiện và xử lý ban
đầu về hàng giả chủ yếu là cơ quan thanh tra, cơ quan hải quan, quản lý thị
trƣờng, cảnh sát kinh tế và trực tiếp tiếp xúc với hàng giả nhiều nhất lại chính
70
là ngƣời tiêu dùng nên việc xác định ban đầu các dấu hiệu về hàng giả là hết
sức quan trọng trong việc phát hiện, xử lý tội phạm về hàng giả hạn chế tình
trạng bỏ lọt tội phạm. Với kỹ thuật ngày càng tinh vi, nhiều loại hàng hóa
đƣợc làm giả không khác gì hàng thật trong khi các cơ quan chức năng thì
thiếu cơ sở dữ liệu, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dụng thì việc phân biệt
hàng thật - hàng giả thực sự khó khăn.
Những hạn chế, bất cập từ khâu giám định hàng giả. Có thể khẳng
định khâu yếu kém nhất trong quá trình chống hàng giả là khâu giám định.
Muốn xác định hàng giả phải tiến hành giám định nhƣng rất nhiều vụ vi phạm
khi phát hiện, đƣa đi giám định thì không thể giám định đƣợc vì nhiều nguyên
nhân nhƣ: Hàng hóa có nguồn gốc từ các nƣớc không đăng ký chất lƣợng tại
Việt Nam; Hàng hóa không có ai xác nhận là hàng giả vì không có cơ quan
đại diện của nhà sản xuất ở Việt Nam; Doanh nghiệp có hàng hóa bị làm giả
do e ngại thƣơng hiệu bị ảnh hƣởng nên khi đƣợc mời đến cơ quan có thẩm
quyền để xác nhận hàng giả thì từ chối. Đối với việc giám định hàng giả về
chất lƣợng đã có sự tham gia của khá nhiều tổ chức. Tuy nhiên trình độ
chuyên môn, máy móc, kỹ thuật còn nhiều hạn chế đôi khi gây ảnh hƣởng đến
thời hiệu xử lý vụ việc. Có trƣờng hợp, cơ quan giám định khi đƣợc yêu cầu
giám định thì kết luận một cách chung chung, không phù hợp với nội dung
yêu cầu giám định khiến cơ quan trƣng cầu giám định không thể xử lý đƣợc
vụ việc. Nhiều mặt hàng giả chi phí giám định rất đắt, khi đƣa đi giám định
buộc cơ quan phát hiện phải tạm ứng kinh phí giám định. Nhiều năm qua,
không ít vụ xử lý hàng giả đã bị "tắc" cũng ở khâu giám định. Nhiều vụ bắt
hàng vi phạm, không biết phải đƣa tang vật đi giám định ở chỗ nào và kinh
phí giám định lấy ở đâu.
Thứ ba, những hạn chế, bất cập trong công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Công tác điều tra, truy tố, xét xử là hoạt động chủ lực trong đấu tranh phòng
chống tội phạm. Hoạt động phòng chống tội phạm đƣợc thực hiện tốt sẽ góp
phần hạn chế tình hình tội phạm. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả
71
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, làm giảm số vụ phạm tội, nâng cao
tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa đối với những ngƣời có ý định thực hiện
hành vi vi phạm trong xã hội công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn một số
tồn tại cần đƣợc khắc phục.
Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động rất quan
trọng nhằm khám phá, phát hiện tội phạm. Thông qua hoạt động điều tra các
chứng cứ buộc tội, gỡ tội đƣợc thu thập cùng với các vấn đề khác có liên quan
đến vụ án. Tuy nhiên, không ít vụ án cơ quan điều tra tiến hành điều tra không
đầy đủ, chứng cứ buộc tội yếu, chủ quan, suy diễn, nhiều vấn đề có ý nghĩa
quan trọng trong việc giải quyết vụ án không đƣợc điều tra làm rõ (Ví dụ: Vụ
án Hà Minh Tuấn phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Sóc Trăng, kết quả
điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra không có tài liệu đối chiếu, so sánh giữa
hàng giả, hàng thật bao gồm hiện vật và kết luận chuyên môn của cơ quan có
thẩm quyền). Hoạt động điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ để xác định vai
trò đồng phạm của những ngƣời vi phạm là rất khó khăn (Ví dụ: Vụ án Trần
Văn Oanh phạm tội buôn bán hàng giả tại Thuận Thành, Bắc Ninh, cơ quan
điều tra đã không xác định đƣợc ngƣời đàn ông đã bán 1.800 gói dầu gội đầu
Clear, Sunsilk, Dove cho Trần Văn Oanh). Đây cũng chính là một trong
những nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ điều tra, truy tố không cao.
Một nguyên nhân khác ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng hoạt
động điều tra đó là: Lực lƣợng cảnh sát điều tra đƣợc đào tạo chính quy về
điều tra hình sự không nhiều, không ít ngƣời đƣợc đào tạo ở những lĩnh vực
không liên quan đến điều tra nhƣng lại đƣợc phân công làm công tác điều tra,
một số chỉ đƣợc đào tạo ở tình độ trung cấp cảnh sát, trung cấp an ninh sau đó
đƣợc phân về làm cảnh sát điều tra hình sự, kiến thức lý luận về điều tra hình
sự rất hạn chế nên khi đƣợc phân công điều tra án hình sự thì lúng túng.
Chƣa có quy định pháp luật bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền
công tố và kiểm sát điều tra của VKS nhƣ thiếu cơ chế bảo đảm VKS nắm
đƣợc đầy đủ, kịp thời các tố giác, tin báo về tội phạm trên thực tế cũng nhƣ
72
kiểm sát đƣợc chặt chẽ việc xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan
điều tra, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm. Cũng có không ít trƣờng hợp các
yêu cầu của VKS trong quá trình điều tra vụ án hình sự chƣa đƣợc thực hiện
nghiêm túc. VKS đề ra yêu cầu điều tra nhƣng cơ quan điều tra không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhƣng pháp luật lại chƣa quy định những
biện pháp để bảo đảm thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của VKS.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Nghiên cứu qui định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo BLHS trong
BLHS năm 1999, chúng ta có thể thấy BLHS năm 1999 đã đƣợc hoàn thiện trên
cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những hạn chế thiếu sót của các
BLHS trƣớc đó, tuy nhiên cũng không tránh khỏi những bƣớc lùi cục bộ.
Nghiên cứu tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả và thực trạng điều
tra, truy tố và xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả có thể nhận thấy tội
phạm về hàng giả đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, tỉ lệ các vụ
án hình sự về hàng giả đã bị phát hiện, xử lý chƣa phản ánh đúng tình hình
phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tình trạng tội phạm ẩn vẫn còn tồn tại
vì nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ những hạn chế, bất cập từ quy định của
pháp luật và những hạn chế, bất cập từ hoạt động quản lý nhà nƣớc, hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
73
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI SẢN XUẤT
HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
3.1. YÊU CẦU HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG
GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Hoàn thiện các quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả
hiện nay là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền
kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế của Việt Nam, mà
trực tiếp là yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian lận thƣơng mại,
bảo vệ giá trị thực của nền kinh tế, hƣớng tới mục tiêu xây dựng và hoàn thiện
Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Nhu cầu hoàn thiện các quy định về
tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cũng bắt nguồn từ chính những hạn
chế nhất định của quy định này trong pháp luật hình sự của nƣớc ta.
Các yếu tố quan trọng tạo ra nhu cầu cần thiết phải hoàn thiện các quy
định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả bao gồm đáp ứng yêu cầu
phát triển của nền kinh thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế của
Việt Nam, mà trực tiếp là yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian
lận thƣơng mại, bảo vệ giá trị thực của nền kinh tế.
Với tính chất là yếu tố của kiến trúc thƣợng tầng xã hội, pháp luật
đƣợc ra đời trên cơ sở hạ tầng và đƣợc quy định bởi cơ sở hạ tầng. Trong mối
quan hệ đó, các điều kiện kinh tế vừa là nguyên nhân trực tiếp quy định sự ra
đời của pháp luật vừa quyết định toàn bộ nội dung và sự phát triển của pháp
luật. Sự phát triển kinh tế là nguyên nhân trƣớc hết dẫn đến sự cần thiết phải
xây dựng và hoàn thiện pháp luật; đồng thời là nhân tố quyết định nội dung,
bản chất, hình thức, xu hƣớng vận động của pháp luật.
74
Thực hiện công cuộc đổi mới, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn và có ý
nghĩa lịch sử, kinh tế tăng trƣởng khá mạnh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển thị trƣờng định hƣớng XHCN đƣợc đẩy mạnh, đời sống
nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, những tác động tích cực và tiêu
cực của quá tình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra cho
Việt Nam những cơ hội và thách thức lớn, trong đó có nạn hàng giả.
Nạn hàng giả đang diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hƣớng ngày càng
giả tăng trong và ngoài nƣớc đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp
luật về phòng chống hàng giả, trong đó có quy định về tội sản xuất, buôn bán
hàng giả phù hợp với các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên đáp ứng
yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian lận thƣơng mại.
Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp
quyền XHCN ở Việt Nam. Nhà nƣớc pháp quyền là nhà nƣớc đƣợc tổ chức và
quản lý theo pháp luật, đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền
của con ngƣời, quyền công dân. Trong nhà nƣớc pháp quyền sẽ không có sự
tồn tại của hàng giả - một trong những vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền
công dân. Vì vậy, trên con đƣờng đến với nhà nƣớc pháp quyền hàng giả sẽ bị
loại trừ, các giá trị thật đƣợc bảo vệ song hành cùng với việc thƣợng tôn pháp
luật, đảm bảo các giá trị nhân văn, quyền con ngƣời và quyền công dân.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền XHCN là một nhu cầu
tất yếu khách quan ở Việt Nam, vì nó là cơ sở để Nhà nƣớc ta thực hiện đúng
đắn bản chất nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân. Trong đó, việc hoàn thiện
pháp luật về phòng chống hàng giả và quy định về tội sản xuất, buôn bán
hàng giả là một nội dung để xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền
XHCN ở Việt Nam.
Ngoài ra, nhu cầu hoàn thiện các quy định về tội sản xuất hàng giả,
buôn bán hàng giả bắt nguồn từ chính những hạn chế nhất định của các quy
định này trong pháp luật hình sự của nƣớc ta. Nhƣ tác giả luận văn đã trình
75
bày ở mục 2.3 chƣơng 2, quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy
định tại Điều 156 BLHS qua thực tiễn thi hành pháp luật đã bộc lộ một số hạn
chế làm ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả công tác điều tra, truy tố xét xử
tội sản xuất buôn bán hàng giả nhƣ: một số tình tiết định tội, định khung còn
chung chung, thiếu tính khả thi; mức hình phạt bổ sung chƣa tƣơng xứng với
tính chất và mức độ của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; việc quy định
tội sản xuất, buôn bán hàng giả đối với các đối tƣợng khác nhau thành 3 tội
khác nhau còn bộc lộ nhiều bất cập.
Những hạn chế này là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh nhu cầu
hoàn thiện quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo quy định
tại Điều 156 BLHS.
3.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU
156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự luôn là khâu then chốt
để nâng cao hiệu qủa của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với tội
sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả, qua nghiên cứu, phân tích, tác giả mạnh
dạn đề nghị nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, nhƣ tác giả luận văn đã trình bày ở Chƣơng 2, đối với tình
tiết định tội "gây hậu quả nghiêm trọng" quy định tại khoản 1 Điều 156 và
các tình tiết định khung tăng nặng đƣợc quy định tại khoản 2 và khoản 3
BLHS nhƣ "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu quả nghiêm trọng", "thu lợi bất
chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" đến
nay chƣa có văn bản quy phạm pháp luật hƣớng dẫn cụ thể việc áp dụng nên
việc thi hành pháp luật còn gặp khó khăn, thiếu tính thống nhất. Vì vậy, cần
có hƣớng dẫn cụ thể bằng văn bản quy phạm pháp luật liên tịch ở cấp Bộ,
Ngành Trung ƣơng đối với tình tiết định tội "gây hậu quả nghiêm trọng", các
tình tiết định khung tăng nặng "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu quả nghiêm
trọng", "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn", "gây hậu quả đặc biệt
76
nghiêm trọng" làm căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các tình
tiết này trong giải quyết vụ án thống nhất trên phạm vi cả nƣớc và trong các
giai đoạn tố tụng hình sự.
Thứ hai, Về hình phạt, nhƣ đã phân tích ở chƣơng 2, hình phạt tiền
đƣợc qui định tại Điều 156 BLHS hiện nay là chƣa tƣơng xứng với tính chất
và mức độ của hành vi phạm tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả. Đồng
thời, quy định về mức phạt tiền cụ thể đƣợc áp dụng đối với tất cả các trƣờng
hợp phạm tội là không phù hợp, thiếu tính ổn định và không công bằng đối
với mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu những
quy định hợp lý của BLHS Luật hình sự Liên bang Nga và BLHS nƣớc Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa về hình phạt tiền đã phân tích tại Chƣơng 1 xin đề
xuất quy định hình phạt tiền theo cấp số nhân trên cơ sở giá trị hàng giả tƣơng
đƣơng với hàng thật mà ngƣời phạm tội đã sản xuất, mua bán. Với quy định
nhƣ vậy, mức hình phạt tiền đƣợc áp dụng đối với ngƣời phạm tội sản xuất,
buôn bán hàng giả luôn luôn cao hơn thiệt hại mà ngƣời phạm tội gây ra cũng
nhƣ khoản lợi nhuận mà họ thu đƣợc từ việc thực hiện hành vi phạm tội, vì thế
mà tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa của hình phạt tiền sẽ phát huy đƣợc tác
dụng. Bên cạnh đó, việc quy định mức hình phạt tiền theo cấp số nhân trên cơ
sở giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật mà ngƣời phạm tội đã sản xuất,
mua bán sẽ đảm bảo tính công bằng đối với mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể.
Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm có tổ chức là
các tổ chức, doanh nghiệp, cũng nhƣ trách nhiệm của tổ chức trong đấu tranh
phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về quản lý kinh tế trong đó có tội
phạm sản xuất, buôn bán hàng giả cần thiết nghiên cứu bổ sung quy định về
tổ chức là chủ thể của tội phạm cùng với quy định về việc xác định hành vi
phạm tội và hình phạt đặc thù đối với tổ chức.
Thứ ba, Về kỹ thuật lập pháp. Tiếp thu quan điểm của PGS.TS.
Nguyễn Ngọc Chí, về việc đƣa những đối tƣợng tác động của các tội phạm
quy định tại các Điều 157, 158 là tình tiết tăng nặng của cấu thành tội phạm
77
quy định tại Điều 156 BLHS là cần thiết. Do các tội phạm này có cấu thành
tội phạm giống nhau, giữa chúng chỉ khác nhau ở mức độ phạm tội do tác
động nên các đối tƣợng phạm tội có tầm quan trọng khác nhau nhƣ: Hàng giả
là hàng hóa thông thƣờng; Hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa
bệnh, thuốc phòng bệnh; Hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú
y, thuốc bảo vệ thực phẩm, giống cây trồng vật nuôi. Vì vậy, không cần thiết
phải quy định ở những điều luật khác nhau mới phản ánh đƣợc mức độ nguy
hiểm của tội phạm đối với những đối tƣợng tác động khác nhau.
Thứ tư, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về phòng chống sản xuất, buôn
bán hàng giả. Quá trình áp dụng pháp luật về tội sản xuất buôn bán hàng giả
theo Điều 156 BLHS 1999, các cơ quan, ngƣời có thẩm quyền còn phải vận
dụng nhiều văn bản pháp luật khác về phòng chống hàng giả thuộc nhiều
ngành, lĩnh vực nhƣ hình sự, xử lý hành chính, bảo vệ ngƣời tiêu dùng, hải
quan, quản lý thị trƣờng, quản lý chất lƣợng hàng hóa, tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật,... Với tình trạng có nhiều văn bản quy phạm pháp pháp luật cùng
điều chỉnh lĩnh vực này song hiệu quả áp dụng pháp luật trong phòng chống
sản xuất, buôn bán hàng giả lại không cao, không ít các quy định mâu thuẫn
chồng chéo, thiếu tính thống nhất, đồng bộ. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện
quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả cần đồng thời hoàn thiện các quy
định pháp luật có liên quan tạo thành một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống
nhất về phòng chống tội phạm về hàng giả. Trong đó, cần rà soát tổng thể các
quy định của pháp luật phòng chống hàng giả, tìm ra những hạn chế, bất cập,
những mâu thuẫn, chồng chéo của các văn bản pháp luật này để có hƣớng sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU TRA,
TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156
BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Nếu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự là khâu then chốt
thì công tác thực thi pháp luật lại là khâu quyết định để nâng cao hiệu quả của
78
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hàng giả. Để nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định của pháp luật hình sự đối với tội sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả cần triển khai đồng bộ và hiệu quả nhiều biện pháp nhƣ:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, công tác tiến
hành tố tụng và bổ trợ tƣ pháp về hàng giả.
Công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử và bổ trợ tƣ pháp
là hoạt động chủ lực góp phần quan trọng làm nên hiệu quả của cuộc đấu
tranh phòng chống tội phạm. Đấu tranh phòng chống tội phạm tốt sẽ làm giảm
"sức nóng" của tình hình tội phạm. Tuy nhiên, các hoạt động này ở nƣớc ta
còn bộc lộ một số hạn chế nhƣ đã trình bày tại Chƣơng 2 làm ảnh hƣởng
không nhỏ đến hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về sản xuất và
buôn bán hàng giả. Để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh, kiểm tra, tiến hành
tố tụng về hàng giả cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:
- Chú trọng vào công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra ban đầu nhằm
kịp thời phát hiện các trƣờng hợp phạm tội về hàng giả, hạn chế tình trạng tội
phạm ẩn nhƣ bỏ lọt tội phạm, hành chính hóa tội phạm hàng giả. Đồng thời,
đảm bảo các điều kiện cần thiết cho các lƣợc lƣợng làm công tác thanh tra,
kiểm tra, điều tra ban đầu về trang thiết bị, cơ sở dữ liệu phục vụ việc phân
biệt hàng thật - hàng giả.
- Bổ sung quy định về biện pháp xử lý trong trƣờng hợp VKS đƣa ra
yêu cầu, kiến nghị mà các chủ thể có liên quan không thực hiện, thực hiện
không đúng, không đầy đủ nhằm đảm bảo quyền công tố và kiểm sát điều tra
của VKS đƣợc thực hiện đầy đủ, hiệu quả theo quy định của pháp luật và yêu
cầu của chiến lƣợc cải cách tƣ pháp. Trong đó, cần có cơ chế đảm bảo để VKS
nắm đầy đủ, kịp thời các tin báo, tố giác về tội phạm và việc xử lý chúng của
cơ quan điều tra, cũng nhƣ sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra hình
sự đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về hàng giả nói riêng.
- Nâng cao chất lƣợng hoạt động của cơ quan giám định. Giám định
hàng giả là khâu quan trọng trong quá trình xử lý vi phạm về hàng giả, kết
79
quả giám định hàng giả có ý nghĩa quyết định việc có hay không khởi tố vụ án
hình sự về hàng giả. Những hạn chế, bất cập hiện nay trong công tác giám
định hàng giả đã ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng
chống hàng giả. Vì vậy, cần thiết phải nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ
giám định viên, đầu tƣ trang thiết bị, công cụ, phƣơng tiện giám định hiện đại
để nâng cao chất lƣợng của hoạt động giám định góp phần thực hiện tốt công
tác phòng chống tội phạm về hàng giả.
- Tăng cƣờng cơ chế phối hợp trong đấu tranh phòng chống hàng giả
giữa các cơ quan quản lý thị trƣờng, hải quan, thanh tra chuyên ngành và cảnh
sát kinh tế. Thƣờng xuyên tổ chức tập huấn chuyên đề, hội thảo, trao đổi,
cung cấp thông tin, kinh nghiệm trong công tác đấu tranh với tội phạm sản
xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cho lực lƣợng quản lý thị trƣờng, hải quan,
thanh tra chuyên ngành, cảnh sát kinh tế.
- Việc phối hợp với các cơ quan chức năng trong điều tra, truy tố, xét
xử hàng giả vừa là quyền đồng thời cũng là trách nhiệm của doanh nghiệp, vì
vậy cần có chế tài xử lý đối với những doanh nghiệp không tham gia phối hợp
với các cơ quan chức năng trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm sản xuất,
buôn bán hàng giả.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ tƣ pháp trong sạch, vững mạnh: Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”
“Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lƣợc cải cách
tƣ pháp đến năm 2020 nhận định đội ngũ cán bộ tƣ pháp, bổ trợ tƣ pháp còn
thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn
yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm
nghề nghiệp. Do đó, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ tƣ pháp trong sạch, vững
mạnh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong cải cách tƣ pháp với mục tiêu xây
dựng nền tƣ pháp công bằng, dân chủ, nghiêm minh. Để đạt đƣợc mục tiêu
đó, cần chuẩn hóa đội ngũ công chức tiến hành tố tụng vững về chuyên môn
80
nghiệp vụ, giàu kinh nghiệm, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất tốt đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ; cần tiếp tục đổi mới nội dung, phƣơng pháp đào tạo cử
nhân luật, đào tạo nguồn và bồi dƣỡng nghiệp vụ các chức danh tƣ pháp; có
cơ chế thu hút, tuyển chọn những ngƣời có tâm huyết, đủ đức, tài vào làm
việc ở các cơ quan tƣ pháp.
- Đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng trong các ngành tƣ
pháp và các ngành hải quan, quản lý thị trƣờng, thanh tra chuyên ngành, kiên
quyết đấu tranh, loại bỏ những cán bộ thiếu phẩm chất, thiếu năng lực. Đồng
thời, cần có chính sách tiền lƣơng, khen thƣởng phù hợp đối với đội ngũ công
chức nói chung và công chức trong ngành tƣ pháp nói riêng để họ đảm bảo
đƣợc cuộc sống và yên tâm công tác.
Thứ hai, tăng cƣờng thực hiện các biện pháp về quản lý hàng hóa ở cả
góc độ quản lý nhà nƣớc cũng nhƣ từ phía các doanh nghiệp, đối với cả hàng
hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nƣớc nhằm tạo môi trƣờng kinh
doanh lành mạnh, hạn chế tối đa sự thâm nhập của hàng giả trên thị trƣờng.
Đối với hàng hóa nhập khẩu: Các quy định về "phân luồng", quy định
về chế độ tự khai báo và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp với mục đích
tạo sự thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp nhƣng qua quá trình triển khai thực hiện đang bộc lộ nhiều "kẽ
hở" để doanh nghiệp vi phạm lợi dụng. Vì vậy, cần có biện pháp khắc phục
những kẽ hở này để chặn đứng việc nhập lậu hàng giả qua hải quan.
Đối với hàng hóa sản xuất trong nước: Tăng cƣờng các biện pháp
chống hàng giả từ phía doanh nghiệp. Để bảo vệ thƣơng hiệu và uy tín của
doanh nghiệp, trƣớc hết các doanh nghiệp phải tự bảo vệ sản phẩm của mình
bằng việc áp dụng các biện pháp chống hàng giả nhƣ thực hiện đầy đủ các
quy định về công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sử dụng tem chống hàng
giả, đăng ký sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, mã số, mã vạch.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng,
chống hàng giả.
81
Phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên, quan trọng đƣa pháp
luật vào cuộc sống. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh
phòng, chống hàng giả, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp
luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Để công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật phát huy vai trò tích cực là cầu nối đƣa pháp luật đến với đời sống
xã hội, trong đó có pháp luật về phòng, chống hàng giả cần tập trung đẩy
mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về cả nội dung và hình thức.
Về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật: Triển khai phong phú
nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật nhƣ tƣ vấn, hƣớng dẫn tìm hiểu
pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật, thông qua các phƣơng tiện
thông tin đại chúng (loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ
động), thông qua hoạt động của cơ quan, tổ chức, trƣờng học, khu dân cƣ,
lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị
và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở
cơ sở,... Thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, khuyến
khích, hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân
tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật, huy động các nguồn lực xã
hội đóng góp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Về nội dung phổ biến giáo dục pháp luật: Điều chỉnh các quan hệ xã
hội liên quan đến công tác phòng, chống hàng giả có sự tham gia của nhiều
văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực nhƣ hình sự, xử lý vi phạm
hành chính, sở hữu trí tuệ, quản lý chất lƣợng hàng hóa và tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống hàng giả
cần đƣợc thực hiện đa dạng về nội dung tuyên truyền nhƣ quy định của BLHS
về tội sản xuất, buôn bán hàng giả, Luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng, Luật sở hữu
trí tuệ, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật chất lƣợng sản phẩm,
hàng hóa; Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ về xử
82
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán
hàng giả, hàng cấm và bảo vệ ngƣời tiêu dùng.
Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hàng giả để phục vụ công
tác chuyên môn đồng thời hỗ trợ và tƣ vấn cho doanh nghiệp, ngƣời tiêu dùng
trong đấu tranh phòng chống hàng giả và tích cực tham gia tố giác tội phạm
sản xuất, buôn bán hàng giả:
Mục đích của biện pháp này là "giảm cầu" đối với hàng giả thông qua
việc cung cấp các tiêu chí để ngƣời tiêu dùng phân biệt đƣợc hàng thật và
hàng giả; tác động để ngƣời tiêu dùng đóng vai trò chủ động trong việc tố
giác vi phạm với các cơ quan chức năng, thực hiện xã hội hoá công tác đấu
tranh chống hàng giả.
Để triển khai thực hiện tốt giải pháp này, bên cạnh sự tham gia vào
cuộc của các cấp, các ngành, các địa phƣơng và đông đảo ngƣời tiêu dùng cần
có sự tham gia tích cực, chủ động từ phía các doanh nghiệp. Bằng việc cung
cấp cho ngƣời tiêu dùng các thông tin để nhận biết, phân biệt hàng giả với
hàng thật, cũng nhƣ có chính sách quan tâm đối với ngƣời tiêu dùng, phát
hiện, tố giác hàng giả là hành động thiết thực để doanh nghiệp tự bảo vệ
thƣơng hiệu, sản phẩm của mình, góp phần thực hiện tốt công tác đấu tranh
phòng hàng giả và gian lận thƣơng mại.
Thứ năm, tăng cƣờng hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng chống sản
xuất, buôn bán hàng giả.
Hàng giả là vấn đề mang tính chất quốc tế, chứ không thuộc về một
quốc gia nào. Do đó, đấu tranh phòng, chống hàng giả là cuộc đấu tranh
chung của các quốc gia trên thế giới. Trong cuộc đấu tranh ấy, các quốc gia,
các tổ chức quốc tế cần có sự hợp tác chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để ngăn
chặn và đẩy lùi nạn hàng giả. Trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia
nhiều quan hệ đa phƣơng, song phƣơng về phòng chống hàng giả và gian lận
thƣơng mại, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả công tác phòng
chống hàng giả.
83
Tăng cƣờng hợp tác quốc tế về phòng chống sản xuất và buôn bán
hàng giả trong thời gian tới, cần tập trung vào một số nội dung nhƣ: Phối hợp
với các lực lƣợng chức năng nƣớc ngoài thanh tra, kiểm soát ở khu vực biên
giới, cửa khẩu nhằm ngăn chặn các luồng hàng giả xâm nhập vào thị trƣờng
trong nƣớc cũng nhƣ ra nƣớc ngoài; Mở rộng hợp tác quốc tế với các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới trong đấu tranh chống tội phạm hàng giả, tiếp
thu có chọn lọc công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả của
một số quốc gia có đặc điểm chung về phát triển kinh tế - xã hội với nƣớc ta.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS còn
bộc lộ hạn chế. Qua tìm hiểu thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này ở
Chƣơng 2 tác giả đã chỉ ra một số hạn chế mang tính chất chủ quan từ sự nhận
thức và áp dụng pháp luật, cũng nhƣ các nguyên nhân khách quan từ sự bất
cập của quy định pháp luật. Trong phạm vi Chƣơng 3, tác giả đã tập trung giải
quyết và đề xuất một số giải pháp để khắc phục những nguyên nhân này.
Đối với các nguyên nhân từ các quy định của pháp luật hiện hành,
theo tác giả luận văn cần có hƣớng dẫn cụ thể về một số tình tiết định tội, định
khung; quy định mức hình phạt tiền linh hoạt và tƣơng xứng với tính chất và
mức độ của hành vi phạm tội, bổ sung chủ thể là tổ chức phạm tội và hình
phạt đối với chủ thể này; bổ sung đối tƣợng của tội phạm quy định tại Điều
157, 158 BLHS thành đối tƣợng của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy
định tại Điều 156 BLHS thuộc trƣờng hợp tăng nặng định khung. Đồng thời
với việc hoàn thiện quy định của BLHS về hàng giả cần hoàn thiện các quy
định pháp luật khác về phòng, chống hàng giả.
Bên cạnh đó, cần thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lƣợng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử về tội sản xuất buôn bán hàng giả và
phòng chống tội phạm về hàng giả nhƣ: Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra,
thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử về hàng giả, trong đó trú trọng vào công tác
84
điều tra ban đầu nhằm kịp thời phát hiện tội phạm về hàng giả, hạn chế tình
trạng tội phạm ẩn nhƣ bỏ lọt tội phạm, hành chính hóa tội phạm về hàng giả,
nâng cao chất lƣợng hoạt động của cơ quan giám định; Đẩy mạnh quản lý
hàng hóa nhập khẩu, tăng cƣờng các biện pháp chống hàng giả từ phía doanh
nghiệp; Tăng cƣờng cơ chế phối hợp trong đấu tranh phòng chống hàng giả
trong và ngoài nƣớc; Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thông
tin, tuyên truyền để ngƣời tiêu dùng nhận biết, phân biệt hàng hóa vi phạm và
tham gia tố giác tội phạm.
85
KẾT LUẬN
Tóm lại, qua nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ luật học: "Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999", có thể
đƣa ra một số kết luận chung dƣới đây:
1. Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, tác giả
luận văn nhận thấy về cơ bản, pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và quy
định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng đã vận động và phát triển
trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển những giá trị của luật hình sự Việt
Nam các giai đoạn trƣớc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của
pháp luật hình sự một số nƣớc trên thế giới, từng bƣớc hoàn thiện và hội
nhập. Qua mỗi thời kỳ lại đánh dấu một bƣớc tiến mới của lịch sử pháp luật
hình sự Việt Nam.
2. Để hiểu rõ đƣợc tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của
pháp luật Việt Nam, trong luận văn tác giả đã đi sâu phân tích các khái niệm
về tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng giả. Bên cạnh đó làm sáng tỏ các
dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
3. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả
ở Việt Nam trong thời gian qua đã đƣợc trú trọng. Tuy nhiên, hiệu quả chƣa cao.
Tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả đang diễn biến phức tạp và có chiều
hƣớng gia tăng, gây nhức nhối trong xã hội. Tỉ lệ các vụ án sản xuất, buôn bán
hàng giả so với số vụ vi phạm về hàng giả và số vụ án hình sự trong 5 năm
(2009-2013) là quá thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của cuộc đấu tranh chống
hàng giả và gian lận thƣơng mại. Vì vậy, việc đấu tranh làm giảm số vụ phạm tội
sản xuất, buôn bán hàng giả là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
4. Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả không phải là một tội
phạm mới, tuy vậy do đặc thù của tội phạm này trong quá trình xử lý tội phạm
này cho đến nay vẫn còn tồn tạn một số khó khăn, vƣớng mắc từ quy định của
86
pháp luật và trong công tác đấu tranh chống tội phạm... Để đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm này một cách có hiệu quả cần phải từng bƣớc tháo gỡ
các khó khăn, vƣớng mắc nêu trên để ngăn chặn sự gia tăng và từng bƣớc đẩy
lùi loại tội phạm nguy hiểm này.
5. Trên cơ sở nghiên cứu về tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng
giả, tác giả luận văn cho rằng cần thiết phải tiến hành một số giải pháp để
nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm này trong thời gian tới:
Về pháp luật: Từng bƣớc hoàn thiện pháp luật về tội sản xuất hàng
giả, buôn bán hàng giả, đồng thời bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật
khác về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả.
Về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng
giả: Để thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn
bán hàng giả cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp với sự tham gia của các
cấp, các ngành, các địa phƣơng và của toàn xã hội nhằm đẩy lùi và loại trừ
hoàn toàn hàng giả trong xã hội.
87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Thƣơng mại - Bộ Tài chính - Bộ Công an - Bộ Khoa học Công nghệ và Môi
trƣờng (2000), Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT
ngày 27/4/2000 hướng dẫn Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ
tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, Hà Nội.
2. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong
khoa họ luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
3. Nguyễn Ngọc Chí (2008), Hoàn thiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
trước yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày
23/5.
4. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh của Chủ tịch chính phủ lâm thời số
47 ngày 10/10/1945.
5. Chính phủ (2006), Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 về nhãn hàng hóa,
Hà Nội.
6. Chính phủ (2012), Nghị quyết 10/NQ-CP ngày 24/4/2012 của Chính phủ về Chiến
lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011-2020, nhiệm vụ phát triển đất nước 5
năm2011-2015, Hà Nội.
7. Chính phủ (2013), Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 về
việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại sản xuất
buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội.
8. Thế Dƣơng (2013) Lần đầu tiên xét xử vụ án làm hàng nhái tại thành phố Hồ Chí
Minh, website: www.vtv.vn, http://vtv.vn/Kinh-te/Lan-dau-tien-xet-xu-vu-an-lam-
hang-nhai-tai-TPHCM/69352.vtv, ngày16/5.
9. H.Giang - M.Quang (2013), Khu vực Đông Á – Thái Bình Dương: Tội phạm kiếm
được nhiều tiền nhất từ hàng giả, website: tuoitre.vn, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-
Xa-hoi/563847/toi-pham-kiem-duoc-nhieu-tien-nhat-tu-hang-gia.html, ngày15/8.
10. Thu Hiền (2013), Hàng giả - Tội phạm lớn nhất thế kỷ 21, website: vtv.vn,
http://vtv.vn/Kinh-te/Hang-gia-Toi-pham-lon-nhat-the-ky21/88160.vtv, ngày06/11.
88
11. Hội đồng Chính phủ Lâm thời Miền nam Việt nam (1976), Sắc lệnh số 03 ngày 15
tháng 3 năm1976.
12. Hội đồng Nhà nƣớc (1982), Pháp lệnh số 07-LCT/HDDNN7 ngày 10/7/1982 về
trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làmhàng giả, kinh doanh trái phép, Hà Nội.
13. Hội đồng Bộ trƣởng (1983), Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 của Hội
đồng Bộ trưởng về kiểmtra xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả, Hà Nội.
14. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-
HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 về hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ
luật hình sự, Hà Nội.
15. Hội đồng Bộ trƣởng (1991), Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội
đồng Bộ trưởng quy định việc xử lý hành chính hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm
hàng giả, kinh doanh trái phép, Hà Nội.
16. Thu Hƣơng (2013), Thế gới nhức nhối với đại dịch hàng nhái, website:
24h.com.vn, http://hn.24h.com.vn/thoi-trang/the-gioi-nhuc-nhoi-voi-dai-nan-do-
fake-c78a589617.html, ngày23/11.
17. Thịnh Hƣng (2013), Báo động về hàng giả, website: www.thanhnien.com.vn,
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121130/bao-dong-ve-hang-gia.aspx, ngày
09/6.
18. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần các tội phạm), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
19. Nguyễn Thị Lâm (2013) - VKSND huyện Thuận Thành, Thuận Thành: Xét xử
lưu động vụ án buôn bán hàng giả, website: vksbacninh.gov.vn
http://vksbacninh.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1536
:xet-xu-luu-dong-02-vu-an-tang-tru-trai-phep-chat-ma-tuy-tai-luong-
tai&catid=46:tin-phap-luat&Itemid=77, ngày22/08.
20. Nguyễn Long (2014), Buôn bán hàng giả, lĩnh án tù, website:
www.anninhthudo.vn,http://www.anninhthudo.vn/Ky-su-phap-dinh/Buon-hang-
gia-linh-an-tu/532542.antd, ngày10/01.
89
21. Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm,
Tập VI), Nxb. TP. Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh.
22. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hà Nội.
23. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
24. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hà Nội.
25. Quốc hội, (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
26. Quốc hội (2001), Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001, Hà Nội.
27. Quốc hội (2005), Luật sở hữu trí tuệ, Hà Nội.
28. Quốc hội (2007), Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, ngày 29/6, Hà Nội.
29. Quốc hội (2007), Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, ngày 21/11, Hà Nội.
30. Quốc hội (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Hà Nội.
31. Quốc hội, (2010), Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,, Hà Nội.
32. Quốc hội (2012), Luật xử lý vi phạmhành chính, ngày20/6, Hà Nội.
33. Lê Sơn (2013), Mất niềm tin với tem chất lượng, website: tuoitre.vn,
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/548001/mat-niem-tin-voitem%C2%A0-chat-
luong.html#ad-image-0, ngày13/5.
34. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 1),
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
35. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 2),
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
36. Nguyễn Trƣờng Thành (2013), Đề nghị xem xét vụ án Hà Minh Tuấn bị khởi tố
điều tra về tội ''Sản xuất mua bán hàng giả", website: www.vanly.com.vn,
http://www.vanly.com.vn/index.php/phap-luat/De-nghi-xem-xet-vu-an-Ha-Minh-
Tuan-bi-truy-to-ve-toi-San-xuat-mua-ban-hang-gia-Lan-2-2548, ngày27/9.
37. Thủ tƣớng Chính phủ (1999), Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 về dấu
tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, Hà Nội.
90
38. Thủ tƣớng Chính phủ (2008), Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg ngày 08/9/2008 về một
số biện pháp cấp bách chống hàng giả, hàng kém chất lượng, Hà Nội.
39. Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội (1970), Pháp lệnh 150-LCT ngày 21/10/1970 về
trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của Công dân.
40. Ủy ban khoa học Nhà nƣớc - Bộ Thƣơng mại và Du lịch (1991), Thông tư liên tịch
số 1254-TTLT ngày 08/11/1991 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 140/HĐBT, Hà
Nội.
41. Phùng Thế Vắc - Trần Văn Luyện - Phạm Thanh Bình - Nguyễn Đức Mai -
Nguyễn Sỹ Đại - Nguyễn mai Bộ (2001), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
1999 (Phần các tội phạm), Nxb. Công an nhân dân.
42. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tƣ pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách
khoa, Nxb. Tƣ pháp, Hà Nội.
43. Viện Khoa học xét xử (1998), "Luật hình sự một số nƣớc trên thế giới", Dân chủ
và pháp luật (Số chuyên đề).
44. Thế Vĩnh (2013), Hàng giả ngày càng tinh vi, website: baocongthuong.com.vn,
http://baocongthuong.com.vn/thi-truong-sang- toi/46150/hang-gia-ngay-cang-tinh-
vi.htm#.U4RTj3ZGCho, ngày06/12.
45. Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hành sự về kinh tế và chức vụ
- VKSND tối cao (2010), Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án về các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp (Đề tài nghiên cứu cấp bộ), Hà Nội.
46. H.Vũ (2010), "Xuất ngoại" đặt làm hàng giả, website: www.cand.com.vn,
www.cand.com.vn/vi-VN/phongsu/2010/9/141202.cand, ngày19/12.

More Related Content

PDF
Đề tài: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
PDF
Luận văn: Pháp luật về xử lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính
PDF
Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự, 9đ
PDF
Luận văn: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật
PDF
Luận văn: Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả, HOT
PDF
Đề tài Bồi thường thiệt hại hợp đồng theo luật thương mại
PDF
Luận văn: Tội trốn thuế trong luật hình sự Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Các tội xâm hại tình dục trẻ em theo pháp luật tại TPHCM
Đề tài: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
Luận văn: Pháp luật về xử lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính
Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự, 9đ
Luận văn: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật
Luận văn: Xử phạt vi phạm hành chính về buôn bán hàng giả, HOT
Đề tài Bồi thường thiệt hại hợp đồng theo luật thương mại
Luận văn: Tội trốn thuế trong luật hình sự Việt Nam, HOT
Luận văn: Các tội xâm hại tình dục trẻ em theo pháp luật tại TPHCM

What's hot (20)

PDF
Luận văn: Tội buôn bán hàng cấm theo pháp luật hình sự, HAY
PDF
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Luật hình sự, HOT
DOC
Luận Tốt Nghiệp Pháp Luật Về Hợp Đồng Thương Mại Điện Tử Ở Việt Nam
PDF
Đề tài: Biện pháp điều tra khám xét theo luật tố tụng hình sự
PDF
Luận văn: Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức theo pháp luật
PDF
Luận văn: Chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, HAY
DOCX
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ Người chưa thành niên phạm tội, HAY
PDF
Luận văn: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong Luật tố tụng hình sự
PDF
Luận văn: Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam, HOT
PDF
Đề tài: Pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, HOT
PDF
Luận văn: Tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, HAY
PDF
Luận văn: Tội giết người theo pháp luật hình sự tại tỉnh Nam Định
PDF
Luận văn: Các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên
PDF
Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hòa giải thương mại, HOT, 9đ
PDF
Luận văn: Phân loại thương nhân theo pháp luật Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Tội mua bán người theo luật hình sự Việt Nam, HAY
PDF
Luận văn: Quy chế pháp lý và hoạt động xây dựng đảo nhân tạo, HOT
DOCX
Liệt Kê 200 Các Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Kinh Tế , Điểm Cao
PDF
Luận văn: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa
Luận văn: Tội buôn bán hàng cấm theo pháp luật hình sự, HAY
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Luật hình sự, HOT
Luận Tốt Nghiệp Pháp Luật Về Hợp Đồng Thương Mại Điện Tử Ở Việt Nam
Đề tài: Biện pháp điều tra khám xét theo luật tố tụng hình sự
Luận văn: Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức theo pháp luật
Luận văn: Chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, HAY
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ Người chưa thành niên phạm tội, HAY
Luận văn: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong Luật tố tụng hình sự
Luận văn: Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam, HOT
Đề tài: Pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, HOT
Luận văn: Tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam, HOT
Luận văn: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, HAY
Luận văn: Tội giết người theo pháp luật hình sự tại tỉnh Nam Định
Luận văn: Các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hòa giải thương mại, HOT, 9đ
Luận văn: Phân loại thương nhân theo pháp luật Việt Nam, HOT
Luận văn: Tội mua bán người theo luật hình sự Việt Nam, HAY
Luận văn: Quy chế pháp lý và hoạt động xây dựng đảo nhân tạo, HOT
Liệt Kê 200 Các Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Luật Kinh Tế , Điểm Cao
Luận văn: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa
Ad

Similar to Luận văn: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo luật hình sự, HOT (20)

PDF
pháp luật về phòng chống hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh mỹ phẩm
PDF
Luận văn: Định tội danh tội buôn lậu theo pháp luật hình sự, HAY - Gửi miễn p...
PDF
Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan, 9đ
PDF
Luận văn: Tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Tội phạm về mại dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam
PDF
Luận văn: Định tội danh đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý
PDF
Pháp luật về phòng, chống gian lận thương mại tại Hải Phòng, 9đ
DOC
Bài mẫu luận văn: Tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam, 9 ĐIỂM
PDF
Luận văn: Quyền công tố trong điều tra mua bán trái phép chất ma túy
PDF
Luận văn thạc sĩ luật hình sự và tố tụng hình sự tội tổ chức sử dụng trái phé...
PDF
Luận văn: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại
PDF
Luận văn: Tội đánh bạc trong luật hình sự tại tỉnh Tuyên Quang
PDF
Luận văn: Tội đánh bạc trong luật hình sự Việt Nam tại Tuyên Quang
DOC
Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Thương Mại.doc
PDF
Luận văn: Thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy, HAY
DOC
BÀI MẪU LUẬN VĂN LUẬT BUÔN LẬU, 9 ĐIỂM, HAY
PDF
Trách nhiệm của pháp nhân đối với các tội phạm về chức vụ, HOT
PDF
Luận văn: Biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, 9đ
PDF
Luận văn: Phòng ngừa tình hình tội buôn lậu tại TPHCM, HAY
PDF
Luận văn: Tội mua bán người theo quy định của pháp luật hình sự
pháp luật về phòng chống hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh mỹ phẩm
Luận văn: Định tội danh tội buôn lậu theo pháp luật hình sự, HAY - Gửi miễn p...
Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan, 9đ
Luận văn: Tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam, HOT
Luận văn: Tội phạm về mại dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam
Luận văn: Định tội danh đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Pháp luật về phòng, chống gian lận thương mại tại Hải Phòng, 9đ
Bài mẫu luận văn: Tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam, 9 ĐIỂM
Luận văn: Quyền công tố trong điều tra mua bán trái phép chất ma túy
Luận văn thạc sĩ luật hình sự và tố tụng hình sự tội tổ chức sử dụng trái phé...
Luận văn: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại
Luận văn: Tội đánh bạc trong luật hình sự tại tỉnh Tuyên Quang
Luận văn: Tội đánh bạc trong luật hình sự Việt Nam tại Tuyên Quang
Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Thương Mại.doc
Luận văn: Thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy, HAY
BÀI MẪU LUẬN VĂN LUẬT BUÔN LẬU, 9 ĐIỂM, HAY
Trách nhiệm của pháp nhân đối với các tội phạm về chức vụ, HOT
Luận văn: Biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, 9đ
Luận văn: Phòng ngừa tình hình tội buôn lậu tại TPHCM, HAY
Luận văn: Tội mua bán người theo quy định của pháp luật hình sự
Ad

More from Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO 0917193864 (20)

DOCX
200 de tai khoa luạn tot nghiep nganh tam ly hoc
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành khách sạn,10 điểm
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ ngân hàng, hay nhất
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ ngữ văn, hay nhất
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ ô tô, 10 điểm
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục mầm non, mới nhất
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ quản trị rủi ro, hay nhất
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng, từ sinh viên giỏi
DOCX
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ tiêm chủng mở rộng, 10 điểm
DOCX
danh sach 200 de tai luan van thac si ve rac nhua
DOCX
Kinh Nghiệm Chọn 200 Đề Tài Tiểu Luận Chuyên Viên Chính Trị Hay Nhất
DOCX
Kho 200 Đề Tài Bài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Kế Toán, 9 điểm
DOCX
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Ngành Thủy Sản, từ các trường đại học
DOCX
Kho 200 đề tài luận văn ngành thương mại điện tử
DOCX
Kho 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành điện tử viễn thông, 9 điểm
DOCX
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Giáo Dục Tiểu Học
DOCX
Kho 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành luật, hay nhất
DOCX
Kho 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành quản trị văn phòng, 9 điểm
DOCX
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Sư Phạm Tin Học
DOCX
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Xuất Nhập Khẩu
200 de tai khoa luạn tot nghiep nganh tam ly hoc
Danh sách 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành khách sạn,10 điểm
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ ngân hàng, hay nhất
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ ngữ văn, hay nhất
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ ô tô, 10 điểm
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục mầm non, mới nhất
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ quản trị rủi ro, hay nhất
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng, từ sinh viên giỏi
Danh sách 200 đề tài luận văn thạc sĩ tiêm chủng mở rộng, 10 điểm
danh sach 200 de tai luan van thac si ve rac nhua
Kinh Nghiệm Chọn 200 Đề Tài Tiểu Luận Chuyên Viên Chính Trị Hay Nhất
Kho 200 Đề Tài Bài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Kế Toán, 9 điểm
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Ngành Thủy Sản, từ các trường đại học
Kho 200 đề tài luận văn ngành thương mại điện tử
Kho 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành điện tử viễn thông, 9 điểm
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Giáo Dục Tiểu Học
Kho 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành luật, hay nhất
Kho 200 đề tài luận văn tốt nghiệp ngành quản trị văn phòng, 9 điểm
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Sư Phạm Tin Học
Kho 200 Đề Tài Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Xuất Nhập Khẩu

Recently uploaded (20)

PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
DOCX
2021_CTDT_CNTT_150TC HCMUTE ngành Công Nghệ Thông Tin
DOCX
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
PDF
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
PDF
Bai giang tieng trung HSK4-BAI1 - zhenzhengdeaiqing
PDF
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PPTX
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
PDF
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
PDF
[IP] Chương 2. Chứng từ trong TMQT TTQT.pdf
PDF
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
PDF
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án
PDF
DANH SACH TRUNG TUYEN DHCQ_DOT 1_2025_TUNG NGANH.pdf
PDF
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 10 BÓNG CHUYỀN - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THE...
PDF
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
PPTX
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
PDF
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
PDF
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
PPT
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
2021_CTDT_CNTT_150TC HCMUTE ngành Công Nghệ Thông Tin
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
Suy tim y khoa, dược, y học cổ truyền mới
Bai giang tieng trung HSK4-BAI1 - zhenzhengdeaiqing
TUYỂN CHỌN ĐỀ ÔN THI OLYMPIC 30 THÁNG 4 HÓA HỌC LỚP 10-11 CÁC NĂM 2006-2021 B...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
[IP] Chương 2. Chứng từ trong TMQT TTQT.pdf
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án
DANH SACH TRUNG TUYEN DHCQ_DOT 1_2025_TUNG NGANH.pdf
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 10 BÓNG CHUYỀN - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THE...
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
Vấn đề cơ bản của pháp luật_Pháp Luật Đại Cương.pptx
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
QH. PHÂN TíhjjjjjjjjjjjjCH CHíNH Sá CH.ppt

Luận văn: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo luật hình sự, HOT

  • 1. 1 ®¹i häc quèc gia hµ néi khoa luËt NGUYÔN THÞ Tè UY£N TéI S¶N XUÊT, BU¤N B¸N HµNG GI¶ THEO §IÒU 156 Bé LUËT H×NH Sù N¡M 1999 luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc Hµ néi – 2014
  • 2. 2 ®¹i häc quèc gia hµ néi khoa luËt NGUYÔN THÞ Tè UY£N TéI S¶N XUÊT, BU¤N B¸N HµNG GI¶ THEO §IÒU 156 Bé LUËT H×NH Sù N¡M 1999 Chuyªn ngµnh : LuËt h×nh sù M· sè : 60 38 40 luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: GS.TS. §ç Ngäc Quang Hµ néi - 2014
  • 3. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Tố Uyên MỞ ĐẦU
  • 4. 4 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của hàng giả trên thị trƣờng đã trở thành hiện tƣợng phổ biến và mang tính toàn cầu. Sản xuất và buôn bán hàng giả là vấn nạn của xã hội. Đối với sản xuất và tiêu dùng nội địa, hàng giả ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền lợi và quyết tâm của các doanh nghiệp chân chính muốn phát triển bằng con đƣờng cạnh tranh lành mạnh, ảnh hƣởng đến sức khỏe, tính mạng của nhân dân và gây hoang mang trong dƣ luận xã hội. Đối với quan hệ kinh tế - quốc tế, nạn hàng giả làm giảm sự hấp dẫn trong thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, ảnh hƣởng đến tiến trình thực hiện các chế định kinh tế quốc tế mà điển hình nhất là các quy định của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO). Theo báo cáo từ tổ chức Hải quan thế giới, cứ 10 sản phẩm lại có 1 sản phẩm bị làm giả. Hòa chung với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, những năm qua kinh tế nƣớc ta có những bƣớc phát triển đáng kể, an sinh xã hội đƣợc đảm bảo. Bên cạnh đó, có một số vấn đề đáng quan ngại, trong đó dƣ luận bức xúc trƣớc tình trạng hàng giả xuất hiện tràn lan trên thị trƣờng. Hàng giả phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã và linh động về giá cả có mặt ở rất nhiều phân khúc của thị trƣờng từ các phiên chợ ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn đến các chợ, các siêu thị ở các đô thị lớn. Tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả cũng có chiều hƣớng gia tăng về số lƣợng, loại hàng hóa và có diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt trong điều kiện nƣớc ta có chung đƣờng biên giới với Trung Quốc , "một phân xƣởng sản xuất của thế giới" và cũng là một trung tâm sản xuất, phát luồng hàng giả. Đấu tranh phòng, chống nạn hàng giả là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó xử lý hình sự là một biện pháp hữu hiệu, nghiêm khắc nhất để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, quyền lợi của ngƣời tiêu dùng và các nhà sản xuất, phân phối chân chính. Xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Điều 156 Bộ luật hình
  • 5. 5 sự (BLHS) là một trong những nội dung quan trọng về phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Trong cuộc đấu tranh đó, pháp luật hình sự cùng với hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả các cơ quan bảo vệ pháp luật đã chủ động áp dụng nhiều biện pháp, xử lý nghiêm những trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả và đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn phát sinh một số hạn chế bất cập: quy định của pháp luật có điểm chƣa phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả, thiếu tính thống nhất, đồng bộ trong thi hành và áp dụng pháp luật; chƣa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật; biện pháp áp dụng của pháp luật chƣa triệt để, nghiêm minh. Những hạn chế, bất cập ấy, đã ảnh hƣởng đến kết quả thi hành pháp luật đối với tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Số vụ sản xuất buôn bán hàng giả đƣợc phát hiện trong những năm trở lại đây lên đến con số hàng nghìn, song số vụ đƣợc khởi tố, truy tố và đƣa ra xét xử là rất ít: Trong 05 năm (từ năm 2009 - đến năm 2013) ngành Tòa án đã xét xử sở thẩm 67 vụ, 94 bị can, trung bình mỗi năm xét xử 13,4 vụ, 18,8 bị can về tội sản xuất, buôn bán hàng giả - một con số rất ít ỏi so với tình hình thực tế hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156, BLHS năm 1999 để giúp nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này là một nhu cầu thực tế và thiết thực. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong lĩnh vực nghiên cứu, ở mức độ khái quát tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả đƣợc đề cập trong nhiều cuốn Bình luận khoa học BLHS năm 1999 nhƣ: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm), của tập thể tác giả TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS,Ths. Phạm Thanh Bình, Ths. Nguyễn Đức Mai, Ths. Nguyễn Sỹ Đại, Ths. Nguyễn Mai
  • 6. 6 Bộ, Nxb Công an nhân dân, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần các tội phạm, tập VI, do Ths. Đinh Văn Quế chủ biên, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, do TS. Trần Minh Hƣởng chủ biên, Nxb Lao động, 2009; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 2, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2012. Ở mức độ nghiên cứu chuyên sâu, tác giả Mai Thị Lan đã nghiên cứu về tội phạm này trong Luận văn thạc sỹ với đề tài "Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình sự Việt Nam", năm 2008 tại Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội. Mặc dù, tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả đã đƣợc nghiên cứu cả ở góc độ lý luận và thực tiễn tuy nhiên về thời điểm nghiên cứu, các công trình nghiên cứu trên đây, đặc biệt là nghiên cứu của Thạc sỹ Mai Thị Lan đã đƣợc thực hiện từ năm 2008, với bối cảnh và trực trạng áp dụng pháp luật đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả năm 2008 và những năm trƣớc đó đến nay đã có nhiều thay đổi. Nạn hàng giả vẫn tiếp diễn, gia tăng, diễn biến phức tạp với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội sản xuất buôn bán hàng giả vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự pháp luật, cần đƣợc nghiên cứu cụ thể, đầy đủ và toàn diện, phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và đấu tranh chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả ở nƣớc ta hiện nay. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn về tội phạm này sẽ đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống hàng giả. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích: Làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý, các vấn đề khác có liên quan, kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả. Trên cơ sở đó có thể để xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Điều 156 BLHS và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này.
  • 7. 7 * Nhiệm vụ: - Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả, trong đó làm rõ khái niệm, đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả, phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan và với pháp luật hình sự của một số nƣớc. - Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả và thực tiễn áp dụng các quy định này từ đó tìm ra những mặt đạt đƣợc và những hạn chế. - Đề xuất một số giải pháp góp phần bổ sung, hoàn thiện quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam và nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về hàng giả. 4. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển các quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong luật hình sự Việt nam từ trƣớc đến nay, các vấn đề liên quan đến việc định tội danh, trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156, BLHS năm 1999 cả ở góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong phạm vi cả nƣớc, giai đoạn 2009-2013. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tử tƣởng Hồ Chí Minh, tƣ tƣởng lãnh đạo, chỉ đạo cũng nhƣ chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng. Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, trao đổi với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và khảo sát thực tiễn. 6. Ý nghĩa của luận văn
  • 8. 8 - Đề tài là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam. - Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập, đồng thời cung cấp cho cán bộ làm công tác thực tiễn những hƣớng dẫn, chỉ dẫn cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Những vấn đề chung về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả. Chương 2: Các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự.
  • 9. 9 Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1.1. Khái niệm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156, Chƣơng XVI (các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế), Phần các tội phạm, BLHS Việt Nam. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của tội phạm này cần làm rõ hàng loạt thuật ngữ cơ bản. Trƣớc tiên, cần hiểu thế nào là sản xuất, thế nào là buôn bán và thế nào là hàng giả; tiếp theo, định lƣợng của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đến mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự; và cuối cùng, đánh giá sự nguy hiểm của tội phạm này đối với nhà nƣớc và xã hội. Thông thƣờng, hàng giả đƣợc hiểu là không phải hàng thật. Vậy thế nào là hàng thật. Theo khoản 3 Điều 3 Luật chất lƣợng sản phẩm hàng hóa thì, "sản phẩm, hàng hoá không có khả năng gây mất an toàn là sản phẩm, hàng hoá trong điều kiện vận chuyển, lƣu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, không gây hại cho ngƣời, động vật, thực vật, tài sản, môi trƣờng" [29]. Tuy nhiên, sản phẩm hàng hóa đƣợc đƣa vào thị trƣờng, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị lại phải tuân thủ những quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, có nghĩa phải tuân thủ những quy định của sở hữu công nghiệp liên quan đến sản phẩm hàng hóa. Mỗi sản phẩm hàng hóa đƣợc đƣa ra thị trƣờng để trao đổi, mua bán phải có nhãn hiệu, tên thƣơng mại, chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, hay nói cách khác phải đăng ký hàng hóa tại cơ quan có thẩm quyền để xác định chất lƣợng hàng hóa. Nhƣ vậy, hiểu một cách thông thƣờng, sản phẩm hàng hóa đƣợc coi là giả khi không bảo đảm chất lƣợng, giả về nhãn hiệu hàng hóa đƣa ra thị trƣờng tiêu thụ nhằm lừa dối ngƣời tiêu dùng hoặc làm cho ngƣời tiêu dùng tƣởng rằng
  • 10. 10 đó là hàng thật, hàng đảm bảo chất lƣợng không gây hại cho ngƣời, động vật, thực vật, tài sản, môi trƣờng khi sử dụng nó. Tuy nhiên, để xác định nhƣ thế nào là hàng giả cần dựa vào những quy định của văn bản pháp luật. Theo quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, "Hàng giả" có một trong các dấu hiệu sau đây: - Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; - Hàng hóa có hàm lƣợng định lƣợng chất chính hoặc trong các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho ngƣời, vật nuôi không có dƣợc chất; có dƣợc chất nhƣng không đúng với hàm lƣợng đã đăng ký; không đủ loại dƣợc chất đã đăng ký; có dƣợc chất khác với dƣợc chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lƣợng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại hoặc tên thƣơng phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác;
  • 11. 11 - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; - Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu). Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang đƣợc bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không đƣợc phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý); - Tem, nhãn, bao bì giả. "Tem, nhãn, bao bì giả" gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lƣợng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại, tên thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác. Nhƣ vậy, để xác định là hàng giả khi hàng đó thỏa mãn một tong những dấu hiệu nêu trên. Cũng theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, hành vi "Sản xuất" là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa” [7]. Từ quy định này, có thể hiểu "sản xuất hàng giả" là thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa có một trong các tình tiết đƣợc quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ. Theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, hành vi "Buôn bán" là việc thực hiện một, một số
  • 12. 12 hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đƣa hàng hóa vào lƣu thông" [7]. Cho nên, có thể hiểu buôn bán hàng giả là thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đƣa hàng hóa có một trong các tình tiết đƣợc quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ, vào lƣu thông. Qua đó, chúng ta có thể thấy sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả là hai hành vi vi phạm độc lập. Đây cũng là hai tội phạm độc lập đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS năm 1999: Tội sản xuất hàng giả và tội buôn bán hàng giả. Điều đó có nghĩa là chỉ cần thực hiện hành vi sản xuất hàng giả hoặc buôn bán hàng giả với đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm này thì ngƣời có hành vi này đã bị coi là phạm tội mà không cần phải thực hiện hành vi còn lại. Điểm khác biệt của hai tội này nằm ở mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi phạm tội đó là hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn bán hàng giả. Nếu khái niệm cho chúng ta nhận biết tổng thể đối tƣợng nghiên cứu một cách chung nhất, thì đặc điểm giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về đối tƣợng nghiên cứu, minh họa cho khái niệm, làm cho khái niệm trở lên bớt khô cứng và sinh động hơn. Để nhận thức sâu và áp dụng chính xác tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS vào thực tiễn cuộc sống chúng ta cùng nghiên cứu về đặc điểm của tội phạm này. 1.1.2. Đặc điểm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự Theo Luật hình sự Việt Nam, hành vi bị coi là tội phạm đƣợc phân biệt với những hành vi không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt. Đó là những đặc điểm của tội phạm nói chung mà tội sản xuất, buôn bán hàng giả không phải là ngoại lệ. Mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể của một loại
  • 13. 13 tội khác nhau về nội dung biểu hiện của tội phạm, không trƣờng hợp nào giống hoàn toàn trƣờng hợp nào. Tuy vậy, tất cả những trƣờng hợp phạm tội của một loại tội phạm đều có những nội dung biểu hiện đặc điểm, phản ánh tính chất đặc trƣng của tội phạm đó mà không thể nhầm lẫn sang tội phạm khác. Nghiên cứu về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS cho thấy, tội danh này có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội danh có tính chất bao quát, chung đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả. Bởi vì, trong BLHS còn có nhiều điều luật khác quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả có tính chất đặc thù. Ví dụ, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh đƣợc quy định tại Điều 157 BLHS; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi đƣợc quy định tại Điều 158 BLHS; Tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả đƣợc quy định tại Điều 164 BLHS; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đƣợc quy định tại Điều 171 BLHS. Nhƣ vậy, ngƣời nào có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không phải là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; không phải là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; không phải là tem giả, vé giả; không phải là có kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tƣợng sở hữu công nghiệp khác đang đƣợc bảo hộ tại Việt Nam thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 156 BLHS. Thứ hai, có thể phân loại hàng giả là đối tƣợng của tội sản xuất, buôn bán hàng giả thành ba loại, hàng giả về nội dung, hàng giả về hình thức và hàng giả cả về nội dung và hình thức. Để xác định hàng giả về nội dung hay giả về hình thức, hay giả cả về nội dung, hình thƣc trong quá trình áp dụng pháp luật cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ những văn bản pháp luật khác nhau tƣơng ứng mỗi loại hàng giả, cụ thể:
  • 14. 14 - Hàng giả về nội dung gồm: Hàng giả không có giá trị sử dụng, công dụng; Hàng giả có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; Hàng giả có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có hàm lƣợng, định lƣợng chất chính, tổng các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá. Đây là các trƣờng hợp giả về chất lƣợng, kỹ thuật hàng hóa, xâm phạm trật tự quản lý nhà nƣớc về chất lƣợng, kỹ thuật hàng hóa đƣợc bảo vệ theo Luật tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa và các văn bản hƣớng dẫn thi hành. - Hàng giả về hình thức bao gồm: Nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; Hàng giả mạo tên thƣơng mại, tên thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác; Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói hàng hóa, lắp rắp hàng hóa; Hàng hóa sao chép lậu là bản sao đƣợc sản xuất mà không đƣợc phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan theo quy định tại Điều 213 Luật sở hữu trí tuệ; Nhãn, bao bì giả. Quản lý nhà nƣớc về nội dung này có Luật sở hữu trí tuệ, Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa và các văn bản hƣớng dẫn thi hành. - Hàng giả cả về nội dung về hình thức là hàng giả vừa không có giá trị sử dụng, công dụng và giả cả về nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác… nhƣ đã nêu ở phần trên. Thứ ba, giá cả bán hàng giả không nhất thiết phải bán theo giá của hàng thật để lừa dối ngƣời tiêu dùng, mà còn có thể bán với giá rẻ, thậm chí rất rẻ mà không có mục đích lừa dối ngƣời tiêu dùng. Thậm chí, có các loại hàng giả khi đƣợc mang ra tiêu thụ, ngƣời tiêu dùng vẫn biết đó là hàng giả, nhƣng họ vẫn cứ mua và mang về sử dụng. Tuy nhiên, dù bán với giá nào và
  • 15. 15 có mục đích lừa dối ngƣời tiêu dùng hay không thì ngƣời sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 156 BLHS. Thứ tư, nguồn gốc của hàng có thể sản xuất tại Việt Nam và có thể sản xuất ở nƣớc ngoài đƣợc nhập khẩu hoặc bằng các cách khác nhau đƣa vào Việt Nam tiêu thụ. Tuy nhiên, để xác định đó là hàng giả thì phải có hàng thật để so sánh. Điều đó có nghĩa trong trƣờng hợp hàng giả đƣợc sản xuất ở nƣớc ngoài và đƣa vào Việt Nam tiêu thụ thì phải có hàng thật đang tiêu thụ ở Việt Nam mà hàng thật này đã đƣợc đăng ký bản quyền sở hữu công nghiệp, đăng ký chất lƣợng hàng hóa và đã đƣợc Cục sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, tên thƣơng mại... Ví dụ, phụ tùng ô tô, xe máy đƣợc sản xuất tại Trung Quốc có ghi nhãn hiệu Honda của Nhật Bản đƣợc mang vào Việt Nam tiêu thụ. Để xác định phụ tùng ô tô, xe máy này đƣợc sản xuất tại Trung Quốc có phải là hàng giả hay không thì phải có phụ tùng ô tô, xe máy của hãng Honda đã đăng ký bản quyền tại Việt Nam đƣa ra so sánh đối chiếu về chất lƣợng và nhãn hiệu. Tƣơng tự nhƣ thế, đối với hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đƣợc xác định là hàng giả thì phải so sánh với chủng loại hàng hóa đó sản xuất tại Việt Nam đã đăng ký bản quyền tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Ví dụ, có loại bột giặt có nhãn hiệu OMO tiêu thụ trên thị trƣờng bị nghi là giả thì phải lấy bột giặt có nhãn hiệu OMO của chính hãng đã đăng ký bản quyền tại Việt Nam đƣa ra so sánh, đối chiếu để xác định loại bột giặt có nhãn hiệu OMO tiêu thụ trên thị trƣờng bị nghi là giả có phải là hàng giả hay không. Điều đó có nghĩa rằng, để xác định hàng giả thì phải có kết quả giám định của cơ quan giám định có thẩm quyền. Đây là chứng cứ đặc biệt quan trọng mà các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án dựa vào đó để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự hay không theo Điều 156 BLHS. 1.2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
  • 16. 16 1.2.1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Cách mạng Tháng Tám thành công - nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bƣớc vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Ngày 09 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1946 ra đời có ý nghĩa quan trọng về nhiều phƣơng diện và là nguồn có tính chất định hƣớng của luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn 1945-1959. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 47/SL quy định: Cho đến khi ban hành những bộ pháp luật duy nhất cho toàn cõi nƣớc Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên nhƣ cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều theo đổi ấn định trong Sắc lệnh này. Những điều khoản cụ thể trong luật lệ cũ đƣợc tạm giữ lại do Sắc luật này, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của nƣớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa [4]. Về phạm vi nguồn luật cũ đƣợc áp dụng trong chế độ mới gồm Bộ luật hình An Nam tại Bắc bộ, Bộ Hoàng Việt hình luật tại Trung bộ và Bộ hình Pháp tu tại Nam bộ. Bên cạnh việc duy trì pháp luật của chế độ cũ nhƣ một giải pháp tình thế, chính quyền cách mạng đã khẩn trƣơng xây dựng pháp luật của chế độ mới, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nƣớc. Do bị chi phối bởi đặc điểm lịch sử đất nƣớc, trong thời kỳ này nguồn của luật hình sự chủ yếu tồn tại dƣới dạng Sắc lệnh do Chủ tịch nƣớc - đồng thời là Chủ tịch Chính phủ ban hành. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đƣợc giải phóng, nhiệm vụ cách mạng có sự thay đổi cơ bản, Hiến pháp năm 1959 đƣợc ban hành để ghi nhận những quan hệ xã hội mới đang tồn tại, đồng thời định hƣớng cho sự phát triển tiếp theo của đất nƣớc, nguồn của luật hình sự cũng
  • 17. 17 có những bƣớc phát triển mới, trong hệ thống luật hình sự Việt Nam không còn có các văn bản pháp luật ban hành dƣới chế độ cũ, Pháp lệnh, Sắc luật lại giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự. Tuy nhiên cho đến trƣớc năm 1976, đất nƣớc ta liên tục có chiến tranh cả nƣớc tập trung toàn bộ sinh lực cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các văn bản pháp luật hình sự mang tính thời sự ra đời tập trung quy định các tội liên quan đến cuộc chiến tranh nhƣ: tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản XHCN nhƣ tội tàng trữ, lƣu hành tiền cũ, từ chối sử dụng, làm giả hay phá hoại tiền mới, tội vi phạm thể lệ mậu dịch, tội đầu cơ hàng hóa,... Giai đoạn này, nền kinh tế nƣớc ta còn bao cấp, cả nƣớc tập trung cho chiến tranh, hàng hóa lƣu thông trên thị trƣờng đều do các doanh nghiệp nhà nƣớc sản xuất hoặc do các nƣớc viện trợ, chính vì vậy hàng giả gần nhƣ là không có cơ sở để phát triển nên pháp luật hình sự nƣớc ta giai đoạn này không có quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam đƣợc giải phóng, Bắc, Trung, Nam thống nhất một nhà, đất nƣớc độc lập hoàn toàn. Nền kinh tế nƣớc ta sau chiến tranh hết sức nghèo nàn và lạc hậu, bọn tƣ sản mại bản đƣợc sự tiếp tay của tƣ sản nƣớc ngoài không ngừng gây rối loạn thị trƣờng, nạn hàng giả xuất hiện. Trƣớc tình hình đó, ngày 15/3/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời đã kịp thời ban hành Sắc luật số 03/SL quy định về tội phạm và hình phạt nhằm ổn định thị trƣờng, đảm bảo sự quản lý của nhà nƣớc đối với nền kinh tế. Tội sản xuất hàng giả cũng đƣợc quy định tại Sắc luật này là một trong các tội kinh tế: Điều 6. Tội kinh tế: Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài chính cho Nhà nƣớc, cho Hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội, trong đó có: Sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt ngƣời tiêu thụ; Làm bạc giả, hoặc tiêu thụ bạc giả.... Phạm một trong các tội trên đây, thì bị phạt tù sáu tháng đến năm năm và
  • 18. 18 phạt tiền đến năm mƣơi nghìn đồng Ngân hàng hoặc một trong hai hình phạt đó. Trong trƣờng hợp nghiêm trọng, thì phạt tù đến hai mƣơi năm, tù chung thân hoặc xử tử hình và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [24]. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, tội sản xuất hàng giả đƣợc quy định đáp ứng phần nào yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả. Theo quy định này, hình phạt đƣợc áp dụng đối với tội sản xuất hàng giả là rất nghiêm khắc với mức cao nhất là tử hình đã thể hiện tính chất, mức độ đặc biệt nguy hiểm của hành vi sản xuất hàng giả đối với Nhà nƣớc và xã hội trong thời gian này. Tuy nhiên, Sắc luật số 03 còn bộc lộ những hạn chế nhất định, quy định về tội sản xuất hàng giả cũng vậy. Sắc luật chƣa quy định cụ thể về các dấu hiệu cấu thành tội phạm và hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể trong nhóm tội kinh tế. "Tội sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ" mới chỉ đƣợc liệt kê trong số các tội kinh tế một cách chung chung, chƣa quy định cụ thể nhƣ thế nào là hành vi sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt ngƣời tiêu thụ và nhƣ thế nào là hàng giả. Hành vi buôn bán hàng giả không bị coi là tội phạm. Về hình phạt, loại và khung hình phạt áp dụng đối với "tội sản xuất cố ý lừa gạt ngƣời tiêu thụ" đồng thời cũng là loại và khung hình phạt áp dụng đối với các tội về kinh tế nói chung. Việc quy định không đầy đủ, thiếu cụ thể của Sắc luật về tội sản xuất hàng giả nói riêng và các tội về kinh tế nói chung đã gây ra không ít khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Sắc luật số 03/SL, ngày 10/7/1982 Pháp lệnh số 07-LCT/HĐNN7 về trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép đƣợc ban hành là bƣớc tiến về kỹ thuật lập pháp hình sự của nƣớc ta. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định trong một điều luật riêng, hành vi buôn bán hàng giả đƣợc coi là hành vi phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm cho
  • 19. 19 xã hội tƣơng đƣơng với hành vi sản xuất hàng giả đƣợc quy định trong cùng một điều luật và giống nhau về hình phạt. Điều 5 của Pháp lệnh quy định: Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả: Ngƣời nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến năm vạn đồng; Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong trƣờng hợp nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 9 pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời hai năm, bị phạt tiền đến năm trăm nghìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản; Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng ngƣời tiêu dùng, hoặc phạm tội trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mƣời năm đến hai mƣơi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền đến một trăm triệu đồng và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [24]. Không còn là quy định chung chung mang tính chất liệt kê về tội phạm nhƣ ở Sắc luật số 03/SL, Pháp lệnh số 07-LCT/HĐNN7 đã phân định hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thành ba mức căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, mà cụ thể là căn cứ vào đối tƣợng của tội phạm (loại hàng giả) và hậu quả của tội phạm, tƣơng ứng với ba khung hình phạt. Theo đó, hành vi làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, hàng giả có chất độc hại hoặc các chất khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe tính mạng ngƣời tiêu dùng đƣợc xác định có tính nguy hiểm cao hơn so với các hàng hóa khác vì vậy, mức và loại hình phạt đƣợc áp dụng là nghiêm khắc hơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật, với mức hình phạt cao nhất ở khoản 3 là đến tù chung thân. Trƣờng hợp nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cũng bị áp dụng hình phạt nghiêm trọng hơn so với các trƣờng hợp phạm tội quy định
  • 20. 20 tại khoản 1. Tuy nhiên, quy định về mức hình phạt đối với ngƣời phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng tại Điều 5 Pháp lệnh thể hiện sự không nhất quán với quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh. Theo quy định tại Điều 8 Pháp lệnh phạm tội thuộc trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì hình phạt cao nhất là tử hình. Bên cạnh đó, Pháp lệnh chƣa phân định tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Để xác định hành vi làm hàng giả, buôn bán hàng giả là tội phạm hay vi phạm hành chính, các cơ quan chức năng phải căn cứ vào Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về việc xử lý bằng biện pháp hành chính hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Theo quy định của Nghị định số 46/HĐBT thì: Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép thuộc loại vi phạm nhỏ chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đều bị xử lý bằng biện pháp hành chính theo quy định của Nghị định này. Vi phạm nhỏ là vi phạm trong trƣờng hợp giá trị hàng phạm pháp dƣới hai vạn đồng, tính chất việc vi phạm không nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời sống nhân dân, trật tự và an toàn xã hội là không nhiều, ngƣời vi phạm không có tiền án, tiền sự, khi bị phát hiện không có hành vi chống lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ [23]. Nghị định cũng quy định: "hàng giả thuộc loại lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh thì bất cứ trƣờng hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự" [23], do tính chất nguy hiểm của loại hàng giả này là nghiêm trọng hơn so với các loại hàng giả khác, cũng nhƣ tầm quan trọng của loại hàng hóa này đối với Nhà nƣớc và xã hội. Pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985 đƣợc đánh giá là pháp luật hình sự cách mạng, dân chủ, nhân đạo và nhân dân, thể hiện tính tự thân phát triển, gắn bó với thực tiễn và đa dạng về loại hình nguồn. Với những điều kiện khách quan không thuận lợi về hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, những khó khăn của nền kinh tế, sự cứng nhắc, giáo điều trong tƣ duy về pháp
  • 21. 21 luật XHCN, pháp luật hình sự giai đoạn 1945 - 1985 không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định nhƣ tình trạng chồng chéo, lẻ tẻ, rời rạc, thiếu tính thống nhất, việc áp dụng nguyên tắc tƣơng tự gây nên tình trạng không thống nhất, tùy tiện của hoạt động áp dụng pháp luật. Trong giai đoạn này, nạn hàng giả đã xuất hiện từ sau năm 1975, đã đƣợc kịp thời xử lý bằng biện pháp hình sự với sự ra đời của Sắc luật số 03/SL, tiếp đó là Pháp lệnh số 07- LCT/HĐNN7 với những đặc điểm, hạn chế của pháp luật hình sự giai đoạn này. Thực tiễn đó cần thiết phải ban hành một văn bản pháp luật hình sự thống nhất ở tầm bộ luật để quy định cụ thể về tội phạm và trách nhiệm hình sự, trong đó cần giải quyết những bất cập trong quy định của pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. 1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 Sau khi Hiến pháp năm 1980 đƣợc ban hành, vào năm 1982, Hội đồng nhà nƣớc Việt Nam đã quyết định "Kế hoạch năm năm xây dựng pháp luật 1982-1985" xác định phải ban hành nhiều bộ luật lớn, trong đó có BLHS. BLHS năm 1985 đƣợc ban hành ngày 27/6/1985 là BLHS đầu tiên của nƣớc ta và là nguồn cơ bản của luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1985-1999, chấm dứt tình trạng quy định các vấn đề tội phạm, hình phạt trong các văn bản pháp luật đơn hành mà thống nhất vào một văn bản duy nhất là BLHS, loại trừ hoàn toàn việc áp dụng nguyên tắc pháp luật tƣơng tự trong lĩnh vực hình sự với việc quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong BLHS. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 167, chƣơng VII, BLHS năm 1985 là một trong các tội phạm về kinh tế với tên gọi "Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả" có nội dung: Ngƣời nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời hai năm: Hàng giả là
  • 22. 22 lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh; Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nƣớc, tổ chức xã hội; Hàng giả có số lƣợng lớn; thu lợi bất chính lớn; Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mƣời năm đến hai mƣơi năm, tù chung thân hoặc tử hình [23]. Bộ luật hình sự năm 1985, đƣợc sửa đổi, bổ sung 4 lần, trong đó Điều 167 đƣợc sửa đổi bổ sung 2 lần. Năm 1992, trong lần sửa đổi bổ sung Điều 167 lần thứ hai, hình phạt đối với tội làm giả, buôn bán hàng giả đƣợc sửa đổi theo hƣớng tăng hình phạt ở mức cao hơn và bổ sung thêm đối tƣợng hàng giả mới là "Vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu" vào Điểm a, khoản 2. Điều luật quy định: Ngƣời nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mƣời lăm năm: Hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu; Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội; Hàng giả có số lƣợng lớn; thu lợi bất chính lớn; Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội trong trƣờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mƣời hai năm đến hai mƣơi năm, tù chung thân hoặc tử hình [23]. Những sửa đổi, bổ sung trên đây xuất phát từ tình trạng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp của nạn hàng giả, cùng với sự gia tăng về tính chất, mức độ nguy hiểm của hàng giả đối với xã hội và trật tự quản lý Nhà nƣớc về kinh tế, thể hiện đƣờng lối xử lý nghiêm khắc của Nhà nƣớc đối với tội phạm này. Về đối tƣợng tác động của tội phạm: BLHS năm 1985 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi sản xuất buôn bán hàng giả thuộc mọi lĩnh vực trong cùng một điều luật. Trong đó hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là
  • 23. 23 lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu đƣợc quy định là tình tiết định khung tăng nặng đƣợc quy định tại khoản 2, Điều 167 BLHS năm 1985. Hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, thuốc thú ý, thuốc bảo vệ thực vật nói chung và giống vật nuôi cây trồng là đối tƣợng của tội sản xuất buôn bán hàng giả, không phải là tình tiết tăng nặng định khung do tại thời điểm ban hành BLHS năm 1985 tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả đối với các mặt hàng này về tình trạng, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao hơn so với các loại hàng giả khác. Về hình phạt bổ sung: Hình phạt bổ sung đối với tội làm hàng giả, tội sản xuất hàng giả đƣợc quy định trong BLHS năm 1985 cùng với các tội thuộc nhóm tội về kinh tế. Theo đó, tùy trƣờng hợp ngƣời thực hiện hành vi phạm tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả có thể bị phạt tiền đến mƣời lần giá trị hàng phạm pháp hoặc số lợi bất chính, có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc những công việc nhất định từ hai đến năm năm. Việc xác định nhƣ thế nào là hàng giả, BLHS năm 1985 và pháp luật tại thời điểm ban hành BLHS năm 1985 đã không quy định về vẫn đề này. Đến năm 1991, sau gần 6 năm BLHS có hiệu lực định nghĩa hàng giả, các dấu hiệu nhận biết hàng giả mới đƣợc quy định tại Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trƣởng về kiểm tra xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả và Thông tƣ liên bộ số 1254-TTLB ngày 08/11/1991 của Ủy ban khoa học Nhà nƣớc, Bộ thƣơng mại và du lịch hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 140/HĐBT. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 140/HĐBT: Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá đƣợc sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống nhƣ những sản phẩm, hàng hoá đƣợc Nhà nƣớc cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trƣờng; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó [15].
  • 24. 24 Tại Điều 4 Nghị định 140/HĐBT quy định: Sản phẩm, hàng hoá có một trong những dấu hiệu dƣới đây đƣợc coi là hàng giả: Sản phẩm, hàng hoá (kể cả hàng nhập khẩu) có nhãn sản phẩm giả mạo hoặc nhãn sản phẩm của một cơ sở sản xuất khác mà không đƣợc chủ nhãn đồng ý; Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá giống hệt hoặc tƣơng tự có khả năng làm cho ngƣời tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Cục sáng chế), hoặc đã đƣợc bảo hộ theo Điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam tham gia; Sản phẩm, hàng hoá mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng; Sản phẩm, hàng hoá ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; Sản phẩm, hàng hoá đã đăng ký hoặc chƣa đăng ký chất lƣợng với cơ quan Tiêu chuẩn Đo lƣờng chất lƣợng mà có mức chất lƣợng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; Sản phẩm, hàng hoá có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó [15]. Với quy định này, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật về phòng chống hàng giả, định nghĩa hàng giả và các dấu hiệu để nhận biết hàng giả đƣợc quy định. Theo đó, hàng giả gồm hai loại: hàng giả về hình thức và hàng giả về nội dung. Hàng giả về hình thức là hàng sử dụng nhãn giả, bao bì mang nhãn giả hoặc sử dụng nhãn của nhà sản xuất khác mà không đƣợc phép của nhà sản xuất đó (bao gồm: nhãn sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa, dấu hiệu phù hợp tiêu chuẩn chất lƣợng Việt Nam). Hàng giả về nội dung là hàng không có giá trị sử dụng hoặc không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó, hoặc có mức chất lƣợng dƣới mức tối thiểu do Nhà nƣớc quy định. Nghị định 140/HĐBT với việc đƣa ra định nghĩa hàng giả và các dấu hiệu nhận biết hàng giả là một bƣớc tiến mới góp phần hoàn thiện pháp luật về
  • 25. 25 phòng, chống hàng giả, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh chống tội phạm về hàng giả, nguồn bổ sung của pháp luật hình sự về tội phạm hàng giả và là căn cứ pháp lý cụ thể để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định hàng giả. Bên cạnh đó, BLHS năm 1985 và Nghị định số 140/HĐBT còn bộc lộ một số hạn chế cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp: theo quy định tại Điều 167, BLHS năm 1985 khó có thể phân biệt hành vi sản xuất hàng giả là hành vi phạm tội với hành vi sản xuất hàng giả là hành vi vi phạm pháp luật khác do nhà làm luật chƣa định lƣợng hoặc định tính để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi nhƣ thế nào thì bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặc dù, Nghị định 140/HĐBT đã là nguồn bổ sung những thiếu sót của Điều 167 BLHS năm 1985 về hàng giả lại tồn tại hạn chế là: Việc quy định "mức chất lượng tối thiểu" giúp phân biệt hàng giả và hàng kém chất lƣợng song trên thực tế đây là quy định không khả thi do hầu hết các sản phẩm hàng hóa của nƣớc ta giai đoạn này chƣa có quy định về mức chất lƣợng tối thiểu nên việc áp dụng pháp luật gặp không ít khó khăn. Bộ luật hình sự năm 1985 đƣợc xây dựng trên nền tảng các quy định của Hiến pháp năm 1980 - Bản Hiến pháp mang nặng tƣ duy của chế độ kế hoạch hóa tập trung nên mặc dù là một bƣớc phát triển về chất so với pháp luật hình sự giai đoạn trƣớc song trong bối cảnh đất nƣớc có những chuyển biến mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là năm 1986 Đảng ta đã thông qua Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đổi mới toàn diện đất nƣớc thì BLHS năm 1985, ngay từ lúc mới ban hành phải đối mặt với nguy cơ lạc hậu, quy định về tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 167 với những phân tích trên đây đến cuối thập niên 90 đã không còn phù hợp với tình hình tội phạm về hàng giả. Việc xây dựng một bộ luật mới, trong đó tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả đƣợc hoàn thiện phù hợp với tình hình mới là hết sức cần thiết. 1.3. NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
  • 26. 26 Hàng giả ngày nay không phải là vấn đề riêng của một quốc gia mà đã trở thành hiện tƣợng phổ biến trên thế giới, cuộc đấu tranh chống hàng giả là cuộc đấu tranh chung của các nƣớc trên thế giới, đƣợc quy định trong pháp luật của mỗi nƣớc. Tuy nhiên, pháp luật của từng nƣớc về phòng, chống hàng giả và việc xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có nhiều điểm khác biệt xuất phát từ truyền thống lập pháp, bối cảnh và đặc điểm tình hình về loại tội phạm này ở mỗi quốc gia. Việc nghiên cứu so sánh các quy định trong pháp luật một số nƣớc về tội sản xuất, buôn bán hàng giả không chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu pháp luật hình sự mà còn là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. 1.3.1. Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Bộ luật hình sự nƣớc cộng hòa nhân dân Trung Hoa đƣợc Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung Hoa thông qua ngày 01/7/1979 tại kỳ họp thứ hai, khóa 5, Bộ luật có hiệu lực từ 01/01/1980. Sau gần 17 năm, tháng 3/1997 tại kỳ họp thứ 5, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, khóa 8 đã tiến hành sửa đổi toàn diện Bộ luật. Từ năm 1997 đến năm 2005, Bộ luật tiếp tục đƣợc sửa đổi thêm năm lần cho phù hợp với tình hình vi phạm của tội phạm. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định từ Điều 140 đến Điều 150, Tiết 1, Chƣơng III, BLHS Trung Hoa, là tội phạm thuộc nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự kinh tế thị trƣờng XHCN. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả có nhiều loại khác nhau nhƣ: Điều 140.- Người sản xuất, người bán hàng nào mà pha trộn, chế biến hàng giả, cho đưa đi tiêu thụ hàng giả như hàng thật, bán hàng thứ phẩm với giá hàng chất lượng tốt hoặc cho đưa đi tiêu thụ hàng không đủ tiêu chuẩn như hàng đủ tiêu chuẩn với số tiền bán hàng từ 50 nghìn đến 200 nghìn nhân dân tệ, thì bị phạt... Điều 141.- Người nào sản xuất hoặc bán thuốc giả với liều lượng đủ có thể gây nguy hại
  • 27. 27 nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, thì bị phạt... Điều 142.- Người nào sản xuất, bán thuốc kém chất lượng gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, thì bị phạt… Điều 143.- Người nào sản xuất, bán thực phẩm không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, đủ để gây ngộ độc thức ăn hoặc gây các bệnh nghiêm trọng có nguyên nhân từ thực phẩm, thì bị phạt…. Điều144.- Người nào sản xuất, bán thực phẩm bị pha trộn các nguyên liệu chứa độc tố hoặc có hại cho sức khoẻ con người hoặc cố ý bán các sản phẩm đó, hại, thì bị phạt…. Điều 145.- Người nào sản xuất các thiết bị, dụng cụ y tế hoặc các nguyên liệu vệ sinh dịch tễ không đúng với tiêu chuẩn Nhà nước về bảo vệ sức khoẻ con người hoặc cố ý bán những thứ đó gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, thì bị phạt… Điều 146.- Người nào sản xuất thiết bị điện, bình áp lực, các sản phẩm dễ cháy, dễ nổ không đúng tiêu chuẩn nhà nước và tiêu chuẩn thương mại về đảm bảo an toàn cho người và tài sản hoặc các sản phẩm khác không đủ những tiêu chuẩn nói trên hoặc cố ý bán những sản phẩm đó gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt... Điều 147.- Người nào sản xuất thuốc trừ sâu, thuốc thú y, phân hoá học giả, hoặc cố ý bán thuốc trừ sâu, thuốc thú y, phân hoá học, hạt giống giả hoặc đã hết hạn sử dụng, hoặc người sản xuất, người bán hàng nào cho đưa ra thị trường thuốc trừ sâu, thuốc thú y, phân hoá học hoặc hạt giống giả để bán như hàng thật gây thiệt hại lớn cho sản xuất, thì bị phạt.. Điều 148.- Người nào sản xuât mỹ phẩm không đủ tiêu chuẩn vệ sinh hoặc cố ý bán mỹ phẩm đó gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt... Qua nội dung, kết cấu của quy định về tội sản xuất, bán hàng giả, hàng kém chất lƣợng trong BLHS Trung Hoa, đối chiếu với quy định của BLHS Việt Nam về các tội liên quan đến hàng giả có một số nét tƣơng đồng, đồng thời cũng có những điểm khác biệt, cụ thể: để phân loại tội phạm sản xuất buôn bán hàng giả thành các tội khác nhau trên cơ sở xác định tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, từ đó áp dụng mức độ hình phạt là khác nhau giữa các tội. Trong đó, có điều luật quy định về tội sản xuất buôn bán hàng giả nói chung. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam và BLHS Trung Hoa đều là tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và cùng chung
  • 28. 28 khách thể bảo vệ đó là trật tự quản lý kinh tế của nhà nƣớc, tính mạng, sức khỏe, quyền lợi của ngƣời tiêu dùng và các nhà đầu tƣ tuân thủ pháp luật. Những điểm khác nhau trong BLHS Việt Nam và BLHS nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thể hiện ở chỗ, BLHS Trung Hoa không đặt tên cho điều luật cụ thể mà việc phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, nội dung của điều luật này, với nội dung của điều luật khác căn cứ vào nội dung cụ thể của điều luật. Pháp luật Việt Nam xác định hàng kém chất lƣợng là một loại hàng giả, thì BLHS Trung Hoa lại phân biệt hàng giả với hàng kém chất lƣợng. Tuy nhiên, hành vi phạm tội sản xuất và buôn bán hàng giả và hàng kém chất lƣợng là nhƣ nhau; BLHS Trung Hoa quy định riêng về tội sản xuất buôn bán hàng giả là mỹ phẩm, thiết bị điện, bình áp lực, các sản phẩm dễ cháy, dễ nổ không đúng tiêu chuẩn nhà nƣớc và tiêu chuẩn thƣơng mại về đảm bảo an toàn cho ngƣời và tài sản hoặc các sản phẩm khác không đủ những tiêu chuẩn trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với các loại hàng giả này là khác nhau. Trong BLHS Việt Nam, các loại hàng giả này là đối tƣợng của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS. Khác với BLHS Việt Nam, chỉ coi thể nhân là chủ thể của tội phạm và xử lý tổ chức có liên quan đến sự việc phạm tội trên cơ sở cá thể hóa trách nhiệm hình sự, thì theo BLHS Trung Hoa tổ chức cũng là chủ thể của tội phạm và quy định về việc áp dụng hình phạt tiền đối với tổ chức phạm tội. Đây là một quy định khá tiến bộ bởi: mặc dù tổ chức do con ngƣời thành lập, song qua quá trình hoạt động tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp dần dần độc lập, tách ra khỏi những con ngƣời đã tạo ra nó, có tài sản, và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, việc quy định tổ chức là chủ thể của tội phạm có ý nghĩa lớn trong việc phòng chống tội phạm, bởi trong tổ chức không phải ai cũng có xu hƣớng phạm tội và để bảo vệ tổ chức của mình nhƣ bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình, thành viên của tổ chức sẽ có ý thức trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
  • 29. 29 1.3.2. Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 đƣợc Đuma quốc gia (tức Hạ viện Nga) thông qua ngày ngày 24 tháng 5 năm 1996, đƣợc Hội đồng Liên bang Nga (tức Thƣợng viện Nga) phê chuẩn ngày 5 tháng 6 năm 1996, đã đƣợc sửa đổi bổ sung hai lần vào năm 2003 và năm 2004 gồm 34 chƣơng, 360 điều. Trong có 32 điều tƣơng ứng với 32 tội thuộc nhóm tội phạm trong lĩnh vực hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, khác với BLHS Việt Nam và BLHS Trung Hoa, BLHS Liên bang Nga không quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Song điều đó không có nghĩa là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không bị xử lý theo BLHS Liên bang Nga. Căn cứ các yếu tố cấu thành của tội phạm, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có thể bị xử lý theo Điều 197 BLHS Liên bang Nga quy định về Tội lừa dối ngƣời tiêu dùng. Nội dung điều luật quy định: Cân, đo, tính gian, gây nhầm lẫn về chất lƣợng, công năng sử dụng của hàng hoá (dịch vụ) hoặc có hành vi khác lừa dối ngƣời tiêu dùng trong các tổ chức bán hàng hay cung ứng dịch vụ cho nhân dân, cũng nhƣ do công dân đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thƣơng nghiệp dịch vụ thực hiện với số lƣợng đáng kể. Lừa dối ngƣời tiêu dùng đƣợc coi là với số lƣợng đáng kể nếu thiệt hại gây cho ngƣời tiêu dùng vƣợt quá 1/10 mức thu nhập tối thiểu; với số lƣợng lớn đƣợc hiểu là thiệt hại gây cho ngƣời tiêu dùng không dƣới mức thu nhập tối thiểu [43]. Tội lừa dối khách hàng theo quy định của Điều 197 BLHS Liên bang Nga có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều hành vi nhƣ cân, đo, tính gian, gây nhầm lẫn về chất lƣợng, công năng sử dụng của hàng hoá (dịch vụ) hoặc hành vi khác lừa dối ngƣời tiêu dùng. Trong đó, hành vi gây nhầm lẫn về chất lƣợng, công năng sử dụng của hàng hóa, dịch vụ là hành vi sản xuất, buôn bán
  • 30. 30 hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS. Mục đích thực hiện hành vi phạm tội là lừa dối ngƣời tiêu dùng. Khác với quy định tại Điều 156 BLHS Việt Nam, đối tƣợng tác động của tội lừa dối khách hàng không chỉ có hàng hóa mà còn bao gồm cả dịch vụ. Tuy nhiên, hàng hóa, dịch vụ giả theo quy định của điều luật là giả về chất lƣợng và công năng sử dụng (giả về nội dung). Hàng hóa, dịch vụ giả về hình thức tên gọi xuất xứ, nhãn hiệu lại là đối tƣợng tác động của Tội sử dụng bất hợp pháp nhãn hiệu hàng hóa theo quy định tại Điều 180 BLHS Liên bang Nga. Luật hình sự Liên bang Nga không quy định đƣờng lối xử lý hình sự riêng đối với hành vi sản xuất, buôn bán các loại hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thức ăn dùng trong chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi. Về hình phạt, đối với tội phạm này Luật hình sự Liên bang Nga quy định 6 loại hình phạt khác nhau bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Điều đáng chú ý là, đối với khung cơ bản, hình phạt đƣợc áp dụng có thể là phạt tiền, lao động bắt buộc hoặc lao động cải tạo mà không áp dụng hình phạt tù. Ở khung tăng nặng hình phạt tù là đến 2 năm kèm theo tƣớc quyền đảm nhiệm chức vụ hoặc làm nghề nhất định đến 3 năm. Hình phạt tiền đƣợc tính theo cấp số nhân căn cứ vào mức thu nhập tối thiểu hay mức lƣơng hay khoản thu nhập khác của ngƣời bị kết án trong thời gian nhất định. Hình phạt tù đƣợc áp dụng ở khung tăng nặng kèm theo hình phạt bổ sung là 2 năm, so với quy định của Điều 156 BLHS Việt Nam là thấp hơn rất nhiều. Về kỹ thuật lập pháp, bên cạnh việc quy định về tội phạm và hình phạt, BLHS Liên bang Nga còn trực tiếp giải thích từ ngữ đƣợc sử dụng trong điều luật ở phần ghi chú cuối điều luật. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Trong Chƣơng 1, tác giả luận văn đã nghiên cứu về cơ sở lý luận của tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả giúp chúng ta nắm rõ những vấn đề
  • 31. 31 cơ bản, đặc trƣng của tội danh này; đƣa ra khái niệm về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả; làm rõ các đặc điểm của tội sản xuất buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích những điểm tiến bộ, những hạn chế của pháp luật hình sự qua các thời kỳ, qua đó có thể đánh giá những điểm đã đạt đƣợc và những mặt hạn chế của tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong lịch sử lập pháp về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Nghiên cứu về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp luật hình sự nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và luật hình sự Liên bang Nga, tác giả luận văn nhận thấy, quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong pháp luật Việt Nam về cơ bản có điểm tƣơng đồng với pháp luật những nƣớc này về kỹ thuật lập pháp và các dấu hiệu của tội phạm, bên cạnh đó cũng có những điểm khác biệt nhất định. Đáng chú ý là quy định về tội phạm này trong BLHS Liên bang Nga. Cùng với việc quy định về hành vi phạm tội. BLHS Liên bang Nga nhấn mạnh đến cách thức thực hiện hành vi phạm tội đó là việc sử dụng thủ đoạn gian dối của ngƣời phạm tội để phân biệt tội phạm này với các loại tội phạm khác, trong khi đó BLHS nƣớc ta lại nhấn mạnh về đối tƣợng tác động của tội phạm đó là hàng giả. BLHS Liên bang Nga quy định phong phú về loại hình phạt và linh hoạt trong việc áp dụng hình phạt, các hình phạt đƣợc áp dụng cũng rất thiết thực và có hiệu quả cao về giáo dục, răn đe; các thuật ngữ đƣợc sử dụng trong điều luật đƣợc giải thích trực tiếp tại điều luật.
  • 32. 32 Chương 2 DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ VÀ ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 2.1.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự hiện hành Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156, BLHS 1999 nhƣ sau: 1. Ngƣời nào sản xuất, buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng đến dƣới một trăm năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
  • 33. 33 e) Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ một trăm năm mƣơi triệu đồng đến dƣới năm trăm triệu đồng; g) Thu lợi bất chính lớn; h) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mƣời lăm năm: a) Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn; c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. 4. Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mƣơi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm [25]. Căn cứ vào cách diễn đạt của điều luật này có thể thấy những dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS nhƣ sau: Thứ nhất, điều 156 BLHS có 4 khoản: khoản 1 là cấu thành tội phạm cơ bản của tội sản xuất, buôn bán hàng giả; khoản 2 là cấu thành tội phạm tăng nặng; khoản 3 là cấu thành tội phạm đặc biệt tăng nặng và khoản 4 là hình phạt bổ sung đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Thứ hai, do đƣợc đặt tại chƣơng các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nên khách thể loại của tội sản xuất, buôn bán hàng giả và sự xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nƣớc. Đó là chế độ quản lý, điều hành toàn bộ nền kinh tế của Nhà nƣớc theo định hƣớng XHCN, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, tổ chức và của công dân đƣợc pháp luật quy định. Để điều hành sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, Nhà nƣớc xây dựng và đƣa vào thực hiện trật
  • 34. 34 tự quản lý kinh tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ sản xuất, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra các loại sản phẩm hàng hóa đến chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác để đƣa các sản phẩm hàng hóa vào lƣu thông, tiêu dùng nhằm phục vụ hoạt động của đất nƣớc và bảo đảm đời sống của nhân dân. Những hành vi xâm phạm vào trật tự quản lý của Nhà nƣớc đều phải bị xử lý theo quy định, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử phạt hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào hậu quả gây nên cho nhà nƣớc và xã hội. Khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng là quan hệ trật tự quản lý kinh tế đất nƣớc, nhƣng thể hiện trong từng lĩnh vực cụ thể, phụ thuộc vào đối tƣợng tác động của tội phạm này là hàng giả thuộc loại gì. Ví dụ, hàng giả là xi măng mang nhãn hiệu Bỉm Sơn hoặc Hoàng Thạch. Trong vụ án này, khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là xi măng xâm phạm vào quy định của Nhà nƣớc về sản xuất vật liệu xây dựng đƣợc thể hiện trong Quyết định số 914/QĐ-BXD ngày 26/09/2013 của Bộ Xây dựng chỉ định Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng là tổ chức thực hiện thử nghiệm/chứng nhận chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng tại Phụ lục danh mục kèm theo, phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 16:2011/BXD. Hoặc hàng giả là xăng dầu thì trong vụ án cụ thể này, khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả xăng dầu là sự xâm phạm vào quy định của nhà nƣớc về chất lƣợng và kinh doanh xăng dầu đƣợc thể hiện trong Nghị định số 107/2009/NĐ-CP ngày 26 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng; Thông tƣ số 12/2010/TT- BKHCN ngày 30/7/2010 của Bộ Khoa học Công nghệ hƣớng dẫn về quản lý chất lƣợng, đo lƣờng trong kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng… Do vậy, để xác định khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả cần dựa vào đối tƣợng tác động của tội phạm cụ thể, trực tiếp là hàng giả thuộc loại nào trên cơ sở hàng giả là hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử
  • 35. 35 dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hoặc hàng giả có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại hoặc tên thƣơng phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác nhƣ đã nêu tại chƣơng 1 luận văn này. Thứ ba, hành vi khách quan của tội sản xuất hàng giả thể hiện ở chỗ, nhƣ đã nêu ở phần trên, sản xuất hàng giả là thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hoặc hàng hóa có hàm lƣợng định lƣợng chất chính hoặc trong các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa. Tƣơng tự nhƣ thế, hành vi khách quan của tội buôn bán hàng giả thể hiện ở chỗ, buôn bán hàng giả là đƣa hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hoặc hàng hóa có hàm lƣợng định lƣợng chất chính hoặc trong các chất dinh dƣỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa vào chào hàng, bày bán, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng hóa này.
  • 36. 36 Biểu hiện của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc biểu hiện ra ngoài thế giới khách quan qua hành động, hành vi phạm tội có thể bao gồm tất cả hoặc chỉ là một trong các hành động đƣợc xác định ở mỗi tội và phải thuộc một trong các trƣờng hợp đƣợc quy định tại Điều 156 BLHS (các trƣờng hợp phạm tội cụ thể) cùng với các dấu hiệu khác của tội phạm. Nếu hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không thuộc một trong các trƣờng hợp phạm tội đƣợc quy định tại điều luật này thì hành vi vi phạm đó không phải là hành vi phạm tội, đó có thể là hành vi vi phạm hành chính. Tính nguy hiểm khách quan của tội phạm là ở hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm gây ra, đó là hậu quả của hành vi khách quan gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội nhất định đƣợc luật hình sự bảo vệ. Chúng ta có thể nhận biết những thiệt hại đó qua sự biến đổi tình trạng bình thƣờng của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm, mà trực tiếp là sự biến đổi của đối tƣợng tác động của tội phạm. Việc xác định hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả có ý nghĩa quyết định trong việc định tội danh đối với các tội có cấu thành vật chất; đối với các tội phạm có cấu thành hình thức nó có ý nghĩa quan trọng trong quyết định hình phạt. Hậu quả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội về nhiều mặt nhƣ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, chính trị, văn hóa, xã hội,... mà trực tiếp là quyền lợi của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và ngƣời tiêu dùng. Trong những trƣờng hợp cụ thể mà điều luật quy định, hậu quả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có thể là dấu hiệu bắt buộc trong định tội hoặc định khung hình phạt. Điều đó cũng có nghĩa là tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong trƣờng hợp cụ thể đƣợc luật hình sự quy định có thể là tội phạm có cấu thành vật chất hoặc là tội phạm có cấu thành hình thức. Quan hệ giữa hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả và hậu quả nguy hiểm mà nó gây ra cho xã hội là quan hệ nhân - quả theo phép biện chứng duy
  • 37. 37 vật. Trong mối quan hệ đó, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả luôn xảy ra trƣớc hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà nó gây ra và độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tƣợng khác chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Còn hậu quả nguy hiểm cho xã hội là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Để thực hiện hành vi phạm tội, ngƣời phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối vì mục đích vụ lợi. Ngƣời sản xuất, buôn bán hàng giả dùng thủ đoạn gian dối để giả mạo về sản phẩm, khiến ngƣời tiêu dùng bất cẩn mà mua phải hàng giả, đồng thời nhằm mục đích che mắt các cơ quan quản lý nhà nƣớc để thu lợi bất chính. Những biểu hiện khác của mặt khách quan nhƣ công cụ, phƣơng tiện, phƣơng pháp, địa điểm, thời gian và hoàn cảnh phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả song việc chứng minh các biểu hiện khác của mặt khách quan có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Thứ tư, không phải bất kỳ hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả nào cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà phải thỏa mãn những điều kiện nhất định. Theo Điều 156 BLHS, hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng đến dƣới một trăm năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều luật này. Có nghĩa, để truy cứu trách nhiệm hình sự thì mặt khách quan của tội phạm này phải thỏa mãn một trong những tình tiết dƣới đây: - Hàng giả là hàng không có giá trị. Nhƣng để xác định giá trị hàng giả thì phải so sánh với giá trị hàng thật. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều
  • 38. 38 156 BLHS đối với ngƣời có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thì giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng trở lên. Nếu giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng thì phải thêm những tình tiết khác thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc quy định giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng trở lên là thể hiện tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đối với hoạt động quản lý điều hành của nhà nƣớc về kinh tế, với ngƣời tiêu dùng và nhà sản xuất. Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Kiên, trú tại xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh bị TAND huyện Hóc Môn xét xử về tội sản xuất hàng giả theo quy định tại khoản 1, Điều 156, BLHS thuộc trƣờng hợp phạm tội này. Theo kết quả điều tra từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, từ tháng 9/2012 Nguyễn Văn Kiên bắt đầu sản xuất hàng giả thƣơng hiệu Kềm Nghĩa. Ngày 14/09/2012, Kiên bị bắt khi đang vận chuyển hàng giả đi tiêu thụ. Theo đó, cơ quan điều tra đã tịch thu 500 cây kìm giả mác D-01, D-501, D-401 của sản phẩm Kềm Nghĩa với tổng giá trị 40 triệu đồng. Kiên khai nhận đã thu mua kìm cũ và nguyên liệu tại nhiều cửa hàng, tiệm làm tóc để sản xuất hàng giả và tiêu thụ trên địa bàn huyện Hóc Môn và quận Tân Bình. Nguyễn Văn Kiên bị TAND huyện Hóc Môn tuyên phạt 18 tháng tù giam.[8]. - Trong trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng, thuộc trƣờng hợp gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là trƣờng hợp phạm tội có cấu thành vật chất, dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nhƣ thế nào là hậu quả nguy hiểm thì BLHS không quy định, cho đến nay cũng chƣa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích về tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm" đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 156 BLHS gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật. Trong khi đó, tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm" ở một số tội phạm đã đƣợc hƣớng dẫn cụ thể nhƣ các tội xâm phạm sở hữu (Thông tƣ liên tịch số 02/2001/TTLT-TAND-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001); tội vi phạm
  • 39. 39 quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, tội gây rối trật tự công cộng (Nghị quyết só 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao); các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán (Thông tƣ liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA- TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26/6/2013 của Bộ Tƣ pháp - Bộ Công an - TAND tối cao - VKSND tối cao - Bộ Tài chính). Có ý kiến cho rằng, có thể vận dụng tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm" đối với các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán tại Thông tƣ liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC- BTC để áp dụng trong trƣờng hợp này do các tội này cùng trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Song, theo tác giả luận văn việc áp dụng tƣơng tự sẽ là tùy tiện. Hơn nữa, tình tiết "gây hậu quả nguy hiểm" tại Thông tƣ liên tịch 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC đƣợc hƣớng dẫn đến từng tội danh cụ thể mà hậu quả nguy hiểm ở mỗi tội danh là khác nhau và có sự cách biệt khá lớn không thể vận dụng để áp dụng. Ví dụ nhƣ tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nƣớc (Điều 164a BLHS): "gây hậu quả nghiêm trọng là trƣờng hợp gây thiệt hại cho ngân sách nhà nƣớc có tri ̣giá từ 100 triệu đồng trở lên". Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán (Điều 181a BLHS): Gây hậu quả nghiêm trọng là trƣờng hợp gây thiệt hại về vật chất cho nhà đầu tƣ với số tiền từ 01 tỷ đồng đến dƣới 03 tỷ đồng; Tội thao túng giá chứng khoán (Điều 181c BLHS): "Gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 181c của BLHS là trƣờng hợp gây thiệt hại vật chất cho nhà đầu tƣ với số tiền từ 01 tỷ đồng đến dƣới 03 tỷ đồng". Tuy nhiên, theo tác giả luận văn, gây hậu quả nghiêm trọng trong trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng là có thể gây chết ngƣời, gây thƣơng tích hoặc gây thiệt hại đến tài sản của công dân. Ví dụ, anh Nguyễn Văn A đƣa xe ô tô nhãn hiệu Honda vào xƣởng sửa chữa ô tô để chữa phanh. Chủ cửa hàng đã thay phanh
  • 40. 40 ô tô cho anh A là hàng giả với giá 10 triệu đồng. Khi đƣa xe trên đƣờng về nhà, anh A đã gây tai nạn làm chết ngƣời. Kết luận giám định nguyên nhân gây tai nạn là do phanh xe ô tô bị vỡ và chiếc phanh thay tại xƣởng sửa chữa ô tô là hàng giả. Trong trƣờng hợp này, ngƣời chủ xƣởng sửa chữa ô tô đã thay phanh cho anh A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng giả là hệ thống phanh xe ô tô nhãn hiệu Honda. - Trong trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng đã bị xử phạt hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc đã bị xử phạt hành chính tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS. Tình tiết đã bị xử phạt hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc hiểu là trƣớc khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mà hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng, ngƣời phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hoặc đã bị xử phạt hành chính tại một trong các điều 153 (Tội buôn lậu), 154 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), 155 (Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển buôn bán hàng cấm), 157 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), 158 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi), 159 (Tội kinh doanh trái phép) và 161 (Tội trốn thuế) của BLHS mà chƣa đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Giải thích rõ hơn quy định này, tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS có nêu: Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nhƣng chƣa có hƣớng dẫn của cơ quan có thẩm quyền thì phân biệt nhƣ sau:
  • 41. 41 + Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" là trƣớc đó một ngƣời đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhƣng chƣa hết thời hạn để đƣợc coi là chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó. Ví dụ: A đã bị xử phạt hành chính về hành vi đặt chƣớng ngại vật trên đƣờng sắt để cản trở giao thông đƣờng sắt, chƣa hết thời hạn để đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành chính, A lại thực hiện một trong các hành vi (đặt chƣớng ngại vật trên đƣờng sắt; làm xê dịch ray, tà vẹt; khoan, đào, xẻ trái phép nền đƣờng sắt, mở đƣờng trái phép qua đƣờng sắt…) quy định tại Điều 209 của BLHS để cản trở giao thông đƣờng sắt. + Đối với điều luật quy định nhiều tội khác nhau (tội ghép) thì "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" là trƣớc đó một ngƣời đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong một tội tại điều luật đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhƣng chƣa hết thời hạn để đƣợc coi là chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó (không bao gồm các hành vi đƣợc liệt kê trong tội khác cũng tại điều luật đó). Ví dụ: Điều 164 của BLHS quy định tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả. Trƣờng hợp B đã bị xử phạt hành chính về hành vi làm tem giả, chƣa hết thời hạn để đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành chính, B lại làm vé giả thì bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm"; nếu B chỉ buôn bán tem, vé giả thì không coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm [14].
  • 42. 42 Nhƣ vậy, một ngƣời có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mà giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi trƣớc đây là bị xử phạt hành chính đối với hành vi, hoặc là sản xuất hàng giả, hoặc là buôn bán hàng giả hoặc đã bị xử phạt hành chính tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS mà chƣa hết thời hạn đƣợc coi là chƣa bị xử phạt hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì đƣợc coi là chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì đƣợc coi là chƣa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính [32]. Đối chiếu các quy định này với Điều 156 BLHS chúng ta có thể thấy: Thời điểm vi phạm là thời điểm ngƣời phạm tội thực hiện hành vi sản xuất hàng giả hoặc buôn bán hàng giả và thời điểm đó phải trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính phải là một trong các hành vi đƣợc quy định tại các điều liệt kê gồm: Hành vi sản xuất hàng giả; Hành vi buôn bán hàng giả; Hành vi buôn lậu; Hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Hành vi sản xuất hàng cấm; Hành vi tàng trữ hàng cấm; Hành vi
  • 43. 43 vận chuyển hàng cấm; Hành vi buôn bán hàng cấm; Hành vi sản xuất hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Hành vi buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Hành vi sản xuất hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Hành vi buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Hành vi kinh doanh trái phép; Hành vi trốn thuế. Ví dụ, vụ án Trần Văn Oanh, sinh năm 1966 ở Doãn Hạ - Xuân Lâm - Thuận Thành - Bắc Ninh bị VKSND huyện Thuận Thành truy tố, TAND huyện Thuận Thành xét xử về tội Buôn bán hàng giả theo quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS ngày 20/8/2013. Trần Văn Oanh đã có hành vi mua 1.800 gói dầu gội loại Clear, Sunsilk, Dove của một ngƣời đàn ông bán hàng rong không quen biết ở khu vực Kim Sơn - Gia Lâm - Hà Nội, đều là hàng giả với giá rẻ nhằm bán lại với giá cao để kiếm lời. Ngoài ra Oanh còn đi mua bột giặt Đức Giang và mua vỏ bao bì bột giặt nhãn hiệu OMO giả của một ngƣời đàn ông không quen biết để sản xuất, đóng gói bột giặt Đức Giang vào vỏ bao bì nhãn hiệu bột giặt OMO giả. Sáng ngày 07/3/2013, Oanh mang số hàng dầu gội đầu và bột giặt nhãn hiệu OMO giả đi tiêu thụ thì bị Công an huyện Thuận Thành kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Thu giữ tang vật gồm 1.800 gói dầu gội đầu và 319,2kg bột giặt. Tại bản kết luận giám định số 736 ngày 25/3/2013 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận toàn bộ số hàng thu giữ đƣợc nêu trên đều không đạt tiêu chuẩn đăng ký chất lƣợng sản phẩm. Bản thân Oanh cũng đã khai nhận toàn bộ số hàng đó là hàng giả. Mặc dù tổng giá trị số hàng dầu gội đầu giả thu đƣợc của Oanh có giá trị là 2.700.000 đồng. Nhƣng ngày 17/5/2012 Trần Văn Oanh đã bị UBND huyện Thuận Thành xử lý hành chính về hành vi kinh doanh hàng giả. Vì vậy, hành vi buôn bán dầu gội của Trần Văn Oanh đã đủ cơ sở để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS. Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Văn Oanh 9 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Đối với hành vi sản
  • 44. 44 xuất OMO giả của Trần Văn Oanh chƣa đến mức xử lý hình sự nên CQĐT ra quyết định xử lý hành chính.[19]. - Trong trƣờng hợp sản xuất, buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng nhƣng trƣớc đó đã bị kết án về hành vi quy định tại điều này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 156 BLHS. Nhƣ vậy, về nhân thân ngƣời phạm tội là ngƣời đã bị kết án về hành vi quy định tại điều 156 hoặc một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm. Về nội dung này, Điểm 7 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS quy định: Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" là trƣớc đó một ngƣời đã bị kết án về một tội, chƣa đƣợc xóa án tích mà lại thực hiện một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó. Đối với điều luật quy định nhiều tội khác nhau (tội ghép) thì "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" là trƣớc đó một ngƣời đã bị kết án về một tội tại điều luật đó, chƣa đƣợc xóa án tích mà lại thực hiện một trong những hành vi đƣợc liệt kê trong tội đó (không bao gồm các hành vi đƣợc liệt kê trong tội khác cũng tại điều luật đó). Khi áp dụng tình tiết "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm", cần phân biệt: Trƣờng hợp các tiền án của bị cáo đã đƣợc xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" thì các tiền án đó đƣợc tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo. Trƣờng hợp các tiền án của bị cáo không đƣợc xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc
  • 45. 45 xóa án tích mà còn vi phạm" vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm [14]. Nhƣ vậy, theo quy định này thì tình tiết "đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm" chỉ đƣợc áp dụng làm tình tiết định tội khi không có các tình tiết quy định trong trƣờng hợp 1, 2 và 3. Nếu Tòa án đã sử dụng tình tiết này là tình tiết định tội thì không đƣợc sử dụng làm tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo. Khi xem xét bị cáo đã đƣợc xóa án tích hay chƣa Tòa án căn cứ vào quy định tại chƣơng IX BLHS về xóa án tích để xác định. Ngƣời phạm tội phải là ngƣời đã bị kết án chƣa đƣợc xóa án tích về một trong các tội sau đây: Tội sản xuất hàng giả; Tội buôn bán hàng giả; Tội buôn lậu; Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Tội sản xuất hàng cấm; Tội tàng trữ hàng cấm; Tội vận chuyển hàng cấm; Tội buôn bán hàng cấm; Tội sản xuất hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Tội buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Tội kinh doanh trái phép; Tội trốn thuế. Thứ năm, chủ thể của tội phạm nói chung hay chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành là con ngƣời cụ thể, thỏa mãn hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc về chủ thể của tội phạm là năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định. Một ngƣời cụ thể chỉ trở thành chủ thể của tội phạm khi ngƣời đó thực hiện hành vi đƣợc quy định là tội phạm trong BLHS và có lỗi khi thực hiện hành vi đó. Vì vậy, để xác định chủ thể của tội phạm cần xem xét chủ thể trong mối quan hệ tổng thể với các yếu tố khác của cấu thành tội phạm. Luật hình sự Việt Nam không quy định trực tiếp thế nào là có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tình
  • 46. 46 trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Dƣới góc độ khoa học pháp lý, "năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực nhận thức đƣợc ý nghĩa xã hội của hành vi của mình và điều khiển đƣợc hành vi theo đòi hỏi của xã hội" [35]. Ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự là ngƣời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình thực hiện và có khả năng kiềm chế hành vi đó để lựa chọn hành vi xử xự khác không nguy hiểm cho xã hội. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là "độ tuổi đƣợc luật hình sự quy định là điều kiện để một ngƣời phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện của mình" [42]. Điều 12, BLHS quy định: "Ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" [24]. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS khoản 1 là tội phạm nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt đến năm năm tù), khoản 2 và khoản 3 là tội phạm rất nghiêm trọng (Khoản 2: mức cao nhất của khung hình phạt đến mƣời năm tù; Khoản 3: mức cao nhất của khung hình phạt đến mƣời lăm năm tù). Nên, ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này quy định tại khoản 1 của điều luật, nhƣng phải chịu trách nhiệm về tội phạm này theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật. Đối với ngƣời từ đủ 14 đến dƣới 18 tuổi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả, khi xử lý các cơ quan tiến hành tố tụng cần tuân thủ các quy định đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội đƣợc quy định tại Chƣơng X, BLHS. Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong cấu thành định tội quy định tại khoản 1, Điều 156, BLHS, trƣờng hợp hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị dƣới ba mƣơi triệu đồng không thuộc trƣờng hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì ngƣời thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả bên cạnh việc thỏa mãn điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và
  • 47. 47 từ đủ 16 tuổi còn phải thuộc một trong các trƣờng hợp: đã bị xử phạt hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hoặc một trong các hành vi quy định tại các điều Điều 153 (hành buôn lậu), Điều 154 (hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới), Điều 155 (hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm), Điều 157 (hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 158 (hành vi sản xuất buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi), Điều 159 (hành vi kinh doanh trái phép), Điều 161 (hành vi trốn thuế) của BLHS hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm. Theo quy định tại Điều 5, 6, BLHS chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả có thể là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời không quốc tịch. Song, "đối với ngƣời nƣớc ngoài phạm tội trên lãnh thổ nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam thuộc đối tƣợng đƣợc hƣởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ƣu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ƣớc quốc tế mà nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ đƣợc giải quyết bằng con đƣờng ngoại giao" [25]. (Khoản 2, Điều 5, BLHS). Bên cạnh đó, ngƣời nƣớc ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nƣớc ta có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo BLHS Việt Nam trong trƣờng hợp đƣợc quy định trong các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Thông thƣờng, các trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả đều có đồng phạm. Do việc sản xuất, buôn bán hàng giả phải trải qua nhiều công đoạn với nhiều hành vi khác nhau nhƣ chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói,.... làm ra hàng giả để đƣa vào lƣu thông (đối với hành vi sản xuất hàng giả) và các hành vi chào hàng, trƣng bày, giới thiệu, quảng cáo, khuyến mại, lƣu giữ, bảo quản, vận chuyển, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu,... để đƣa hàng giả vào lƣu thông (đối với hành vi buôn bán hàng giả) nên
  • 48. 48 thƣờng có từ hai hay nhiều ngƣời cùng tham gia thực hiện tội phạm. Hình thức đồng phạm của tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng rất phong phú có thể là đồng phạm không có thông mƣu trƣớc hoặc là đồng phạm có thông mƣu trƣớc, đồng phạm giản đơn hoặc đồng phạm phức tạp, trong nhiều trƣờng hợp là đồng phạm có tổ chức tùy theo quy mô, tính chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả. Tuy nhiên, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những tội phạm mà việc thực hiện tội phạm thƣờng đƣợc sử dụng công nghệ, kỹ thuật và có sự tham gia của nhiều ngƣời cùng thực hiện tội phạm nên chủ yếu các trƣờng hợp phạm tội là trƣờng hợp đồng phạm có thông mƣu trƣớc, đồng phạm phức tạp hoặc phạm tội có tổ chức. Việc xác định vai trò, mức độ tham gia phạm tội của từng ngƣời đồng phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với họ. Thực tế đã chỉ ra phần lớn các trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là trƣờng hợp đồng phạm có tổ chức nên việc tham gia của ngƣời tổ chức thực hiện việc chủ mƣu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả là khá phổ biến. Thứ sáu, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, ngƣời phạm tội biết rõ hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là nguy hiểm cho xã hội nhƣng vì vụ lợi nên vẫn thực hiện. Động cơ phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là vụ lợi, mục đích phạm tội là để thu lợi bất chính. Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu định tội hay định khung hình phạt song việc xác định rõ động cơ, mục đích phạm tội đối với các trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt đối với ngƣời phạm tội. 2.1.2. Chính sách hình sự đối với người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự Về chính sách hình sự, khoản 1 Điều 156 quy định, bất kỳ ngƣời nào sản xuất, buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ ba mƣơi triệu đồng đến dƣới một trăm năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới ba
  • 49. 49 mƣơi triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Nhƣ vậy, mức hình phạt tù từ sáu tháng đến năm năm đƣợc áp dụng cho bất kỳ ngƣời nào có hành vi đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS. Tuy nhiên, khi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả mà có một trong những tình tiết dƣới đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời năm: - Có tổ chức. Theo quy định tại Điều 20 BLHS 1999: Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những ngƣời cùng thực hiện một tội phạm, trong đó có ngƣời tổ chức, ngƣời thực hành, ngƣời xúi giục, ngƣời giúp sức. Trong vụ án đồng phạm có tổ chức về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả, ngƣời tổ chức là ngƣời chủ mƣu, cầm đầu, chỉ huy việc sản xuất, buôn bán hàng giả; Ngƣời thực hành là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; Ngƣời xúi giục là ngƣời kích động, dụ dỗ, thúc đẩy ngƣời khác thực hiện hành vi sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả; Ngƣời giúp sức là ngƣời tạo ra những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Điều 156 BLHS quy định về hai tội phạm độc lập tội sản xuất hàng giả và tội buôn bán hàng giả. Áp dụng tình tiết này có hai trƣờng hợp phạm tội có thể xảy ra: một ngƣời thực hiện hai hành vi sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả với cùng một đối tƣợng, trong đó có một hành vi phạm tội có tổ chức. Trong trƣờng hợp này, ngƣời phạm tội vẫn bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung "có tổ chức' đƣợc quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 156. Hoặc một ngƣời thực hiện hai hành vi sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả với nhiều đối tƣợng phạm tội khác nhau, trong khi đó chỉ có một hành vi phạm tội có tổ chức, còn các hành vi khác không có tổ chức. Trong trƣờng hợp này, hành vi phạm tội nào có tổ chức thì ngƣời phạm sẽ bị áp dụng tình tiết định khung phạm tội có tổ chức tại điểm a, khoản 2, Điều
  • 50. 50 156, còn các hành vi khác tùy trƣờng hợp cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự cho họ theo điều khoản tƣơng ứng. - Có tính chất chuyên nghiệp. Tại Điểm 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS quy định về tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 và một số điều luật trong Phần các tội phạm của BLHS hƣớng dẫn: Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chƣa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chƣa đƣợc xoá án tích; Ngƣời phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Khi áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", cần phân biệt: Đối với trƣờng hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chƣa đƣợc xoá án tích thì tuỳ từng trƣờng hợp cụ thể mà ngƣời phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là "phạm tội nhiều lần", "tái phạm" (hoặc "tái phạm nguy hiểm") và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp". Đối với tội phạm mà trong điều luật có quy định tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết định khung hình phạt thì không đƣợc áp dụng tình tiết đó là tình tiết tăng nặng tƣơng ứng quy định tại Điều 48 của BLHS. Trƣờng hợp điều luật không có quy định tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt thì phải áp dụng là tình tiết tăng nặng tƣơng ứng quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự [14]. Nhƣ vậy, tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp đƣợc vận dụng đối với ngƣời phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc hiểu là ngƣời
  • 51. 51 phạm tội lấy các lần phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. - Tái phạm nguy hiểm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 BLHS, những trƣờng hợp sau đây đƣợc coi là tái phạm nguy hiểm: "Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chƣa đƣợc xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; Đã tái phạm, chƣa đƣợc xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý"[25]. Đối chiếu quy định này với Điều 156 BLHS, tình tiết tăng nặng định khung đƣợc quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 156 BLHS chỉ xảy ra với trƣờng hợp quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 49 BLHS, trƣờng hợp đã tái phạm, chƣa đƣợc xóa án tích mà lại phạm tội do lỗi cố ý. Trƣờng hợp ngƣời phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chƣa đƣợc xóa án tích nhƣng lại phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 156 BLHS, nếu chỉ phạm tội thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 1, Điều 156 BLHS thì chƣa thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm, vì khoản 1 Điều 156 BLHS không phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nhƣ vậy, nếu ngƣời phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm này thì đồng thời đã thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 156 nên việc xác định tình tiết tái phạm nguy hiểm chỉ có ý nghĩa là tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS chứ không có ý nghĩa là tình tiết định khung tăng nặng. Căn cứ điểm a, khoản 5.1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hƣớng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS quy định về tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 và một số điều luật trong Phần các tội phạm của BLHS thì ngƣời phạt tội có thể bị áp dụng đồng thời tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong trƣờng hợp: "a) Đối với trƣờng hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chƣa đƣợc xoá án tích thì tuỳ
  • 52. 52 từng trƣờng hợp cụ thể mà ngƣời phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là "phạm tội nhiều lần", "tái phạm" (hoặc "tái phạm nguy hiểm") và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" [14]. - Lợi dụng chức vụ quyền hạn. Đây là trƣờng hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả mà ngƣời phạm tội là ngƣời có chức vụ quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngƣời phạm tội có thể là ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nƣớc hoặc các tổ chức kinh tế, xã hội khác. - Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức. Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức là ngƣời phạm tội thông qua cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để sản xuất, buôn bán hàng giả. Ví dụ, vụ án Hà Minh Tuấn phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại tỉnh Sóc Trăng: "Theo kết luận điều tra số 01/KLĐT-PC46 ngày 09/09/2013 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng thì vì mục đích vụ lợi, bị can Hà Minh Tuấn lợi dụng chi nhánh Công ty chƣa đƣợc sự cho phép của địa phƣơng trong việc lƣu hành sản phẩm hàng hóa; bị can Tuấn pha chế các sản phẩm không theo công thức nào, thiết kế nhãn mác, bao bì các sản phẩm mỹ phẩm, dầu gội lấy mẫu mã giống các sản phẩm đang lƣu hành trên thị trƣờng nhƣ: CLEAR, X-MEN, REJOICE, PANTENE, SUNSILK… Sản phẩm sữa tắm dạng chai nhãn hiệu O2 BODY WASH đƣợc in trên nhãn bằng tiếng nƣớc ngoài có phụ đề tiếng Việt ở phía dƣới sản phẩm và dán tem chống giả là nhằm mục đích đánh lừa ngƣời tiêu dùng với nhãn hiệu O2 men, O2 shampoo, sữa tắm O2 sữa dê, sữa tắm dạng chai 1.200ml, 500ml nhãn hiệu BODY WASH ở số 06 (hiện nay là số 56) Đoàn Thị Điểm, khóm 5, phƣờng 3, TP. Sóc Trăng bán ra ở thị trƣờng Sóc Trăng, Cần Thơ, Bạc Liêu với số lƣợng lớn. Căn cứ theo Thông tƣ số 06/2011/TTBYT ngày 25/01/2011 của Bộ Y Tế quy định về quản lý mỹ phẩm thì tiêu chuẩn cơ sở 01-2006/TCYTVN và 02- 2006/TCYTVN ngày 20/01/2006 đã hết hiệu lực. Nhƣng bị can Hà Minh Tuấn vẫn áp dụng để sản xuất. Căn cứ vào Thông tƣ liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-
  • 53. 53 BTC-BCA-BKHCNMT, ngày 27/04/2000 của Bộ Thƣơng mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Khoa học công nghệ môi trƣờng quy định về những hành vi sản xuất mua bán hàng giả theo điều 156 BLHS nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hành vi của bị can đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể đƣợc Luật hình sự bảo vệ đó là việc sản xuất kinh doanh mỹ phẩm dầu gội và sữa tắm không đúng với tiêu chuẩn ghi trên nhãn bao bì sản phẩm (giả về chất lƣợng hàng hóa), không đăng ký công bố tiêu chuẩn chất lƣợng hàng hóa tại địa phƣơng nơi sản xuất. Sản xuất tiêu thụ sản phẩm sữa tắm dạng chai nhãn hiệu O2 BODY WASH tại Sóc Trăng nhƣng trên nhãn chai in toàn tiếng nƣớc ngoài, dán tem chống giả phụ đề bằng tiếng Việt (là giả về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa). Nhƣ vậy hành vi của bị can Hà Minh Tuấn đã cố ý sản xuất kinh doanh mỹ phẩm (dầu gội và sữa tắm) không có giá trị sử dụng đúng với tên gọi của nó, không đảm bảo tính năng tiêu chuẩn kỹ thuật đã đƣợc quy định, dùng thủ đoạn gian dối để đánh lừa ngƣời tiêu dùng nhằm mục đích thu lợi bất chính làm mất ổn định thị trƣờng xâm hại lợi ích của ngƣời tiêu dùng đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể đƣợc Luật hình sự bảo vệ. Hành vi thực hiện không đúng việc sản xuất kinh doanh mỹ phẩm của bị can đã thỏa mãn dấu hiệu của tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điều 156 BLHS nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam [36]. Trong vụ án này, Hà Minh Tuấn với tƣ cách là Giám đốc chi nhánh Công ty TNHH sản xuất - thƣơng mại - dịch vụ Tân Việt Mỹ tại thành phố Sóc Trăng đã lợi dụng danh nghĩa Công ty để sản xuất, buôn bán hàng giả. - Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng hàng thật có giá trị từ một trăm năm mƣơi triệu đồng đến dƣới năm trăm triệu đồng. Ví dụ, vụ án Nguyễn Văn Hiểu và Nguyễn Văn Hiếu bị TAND thành phố Hà Nội xét xử về tội buôn bán hàng giả. Ngày 10/01/2014, TAND thành phố Hà Nội đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự "Buôn bán hàng giả" đối với các bị cáo Nguyễn Văn Hiểu (34 tuổi) và Nguyễn Văn Hiếu (31 tuổi), giám đốc và nhân viên của Công ty Cổ phần đầu tƣ và phát triển thƣơng mại Đức Huy. Nguyễn Văn Hiểu
  • 54. 54 đã mua số lƣợng lớn sản phẩm thiết bị vệ sinh giả 2 nhãn hiệu Inax, American Standard từ Trung Quốc sau đó đƣa về Hà Nội và tự dán tem chống hàng giả nhằm mục đích tiêu thụ. Đồng phạm với Nguyễn Văn Hiểu là Nguyễn Văn Hiếu. Với hành vi buôn bán hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng hàng thật có giá trị gần 400 triệu đồng, bị cáo Nguyễn Văn Hiểu đã bị kết án 36 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Nguyễn Văn Hiếu bị kết án 24 tháng tù và cho hƣởng án treo theo Điểm e, Khoản 2 Điều 156 BLHS [20]. - Thu lợi bất chính lớn: Thu lợi bất chính là khoản lời mà ngƣời phạm tội thu đƣợc từ việc thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, khoản lời đó có thể là số tiền nhất định hoặc tài sản. Đối với khoản lời có đƣợc do hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả cần đƣợc định giá để xác định giá trị khoản lời. Số tiền thu lợi bất chính là hiệu số của chi phí làm nên hàng giả hoặc số vốn mà ngƣời phạm tội bỏ ra để mua hàng giả với số tiền thu đƣợc mà ngƣời phạm tội bán số hàng giả đó. Tuy nhiên, số tiền thu lợi bất chính bao nhiêu là lớn thì đến nay cũng chƣa có văn bản hƣớng dẫn của cơ quan chức năng nên việc định khung bằng tình tiết này trên thực tế còn thiếu sự thống nhất trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật. - Gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng do hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả gây ra là những thiệt hại rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và những thiệt hại phi vật chất cho xã hội. Ngày 26/6/2013, Bộ Tƣ pháp - Bộ Công an - TAND tối cao - VKSND tối cao - Bộ Tài chính đã ban hành Thông tƣ liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP- BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC hƣớng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán. Trong đó, có hƣớng dẫn về tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng của các tội phạm này - một số tội thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Tuy nhiên, tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả lại không đƣợc hƣớng dẫn tại Thông tƣ này nên việc xác định nhƣ thế nào là hậu quả nghiêm trọng cũng là vấn đề chƣa đƣợc hiểu thống nhất.
  • 55. 55 Trong cấu thành tội phạm rất tăng nặng đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 156, theo đó, ngƣời phạm tội có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mƣời lăm năm khi có một trong những tình tiết sau đây: - Hàng giả tƣơng đƣơng với số lƣợng của hàng thật có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên. Ví dụ, Lê Huy Trụ là chủ xƣởng sản xuất dụng cụ thể thao Thiên Long theo hình thức hộ cá thể tại nhà riêng ở thôn Văn Khê, xã Tam Hƣng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2010, cơ sở sản xuất của Lê Huy Trụ đã sản xuất 10.200 quả bóng, trong đó có 1.440 quả giả nhãn hiệu Adidas, 720 quả giả nhãn hiệu Fila và 420 quả giả nhãn hiệu Molten; đã tiêu thụ đƣợc 1.138 quả giả nhãn hiệu Adidas, 380 quả giả nhãn hiệu Molten hƣởng lợi bất chính số tiền 10.905.000 đồng. Ngoài ra, Lê Huy Trụ còn sang Trung Quốc mua quần áo, áo khoác, áo phông cộc tay, quần, giầy thể thao, tất chân giả nhãn hiệu Adidas, Nike, Puma, Kappa, mua vợt cầu lông giả nhãn hiệu Proace, Wish hết tổng số tiền là 624.450.000 đồng; đã tiêu thụ đƣợc số hàng với số tiền là 602.676.000 đồng, hƣởng lợi bất chính số tiền là 173.470.000 đồng. Với vụ án này, Lê Huy Trụ đồng thời thực hiện hai tội phạm sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả. Tại phiên tòa sơ thẩm, Lê Huy Trụ bị kết tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo điểm a, khoản 3, Điều 156 BLHS với mức hình phạt 36 tháng tù [46]. - Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn. Với quy định này chúng ta có thể thấy thu lợi bất chính đƣợc thể hiện ở hai mức rất lớn và đặc biệt lớn. Đây là hai mức độ khác nhau của thu lợi bất chính, trong đó thu lợi bất chính đặc biệt lớn là trƣờng hợp có tính chất và mức độ nghiêm trọng hơn nhiều so với trƣờng hợp thu lợi bất chính rất lớn. Do đó, mặc đù đây là hai tình tiết đƣợc quy định trong cùng một khung hình phạt song mức độ nghiêm trọng là khác nhau nên việc phân biệt hai trƣờng hợp phạm tội này là rất cần thiết và trong phạm vi khung, mức hình phạt đối với mỗi trƣờng hợp này cũng là khác nhau.
  • 56. 56 Cũng nhƣ tình tiết thu lợi bất chính lớn đƣợc quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 156 BLHS, tình tiết tăng nặng thu lợi bất chính rất lợi hoặc đặc biệt lớn cũng chƣa có hƣớng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để xác định nhƣ thế nào là rất lớn, đặc biệt lớn. - Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Đây cũng là tình tiết định khung chƣa có hƣớng dẫn của cơ quan chức năng nên việc xác định nhƣ thế nào là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cũng là vấn đề còn chƣa đƣợc thống nhất trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ phạm tội mà ngƣời phạm tội có thể bị phạt tù đến 15 năm khi có các tình tiết đã nêu ở phần trên. Hay nói cách khác, loại hình phạt đƣợc áp dụng đối với tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả là hình phạt tù có thời hạn. Đây là hình phạt chính duy nhất đối với tội phạm này, và cũng là điểm khác biệt so với luật hình sự Liên bang Nga. Khung hình phạt thấp nhất đƣợc quy định tại Khoản 1, Điều 156 là từ sáu tháng đến năm năm tù. Khung hình phạt đƣợc quy định tại Khoản 2 Điều 156 là từ ba năm đến mƣời năm tù. Và khung cao nhất đƣợc quy định tại Khoản 3 Điều 156 là từ bảy năm đến mƣời lăm năm tù. Theo khung hình phạt đƣợc áp dụng cho tội sản xuất, buôn bán hàng giả có thể thấy quan điểm của Nhà nƣớc ta về việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này đối với nhà nƣớc và xã hội - đó là tội phạm nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 4, Điều 156 BLHS, ngƣời phạt tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mƣơi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm. Khác với việc áp dụng hình phạt chính, Điều 28 BLHS quy định đối với mỗi tội phạm, ngƣời phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính, nhƣng đối với hình phạt bổ sung họ có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung đƣợc quy định trong điều luật tƣơng ứng. Nhƣ vậy, đối với tội sản xuất hàng giả hoặc buôn bán hàng giả Tòa án có thể quyết định áp dụng một, hai,
  • 57. 57 hoặc ba hình phạt bổ sung đƣợc quy định tại Khoản 4 Điều 156 BLHS đối với mỗi ngƣời phạm tội. Về hình phạt tiền. Bằng việc tƣớc đi những quyền lợi vật chất của ngƣời bị kết án, việc áp dụng hình phạt tiền tác động đến ý thức của ngƣời phạm tội để thực hiện mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng của hình phạt. Theo quy định tại Khoản 3 điều 30 BLHS: "Mức phạt tiền đƣợc quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm đƣợc thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của ngƣời phạm tội, sự biến động giá cả, nhƣng không đƣợc thấp hơn một triệu đồng" [25]. Đối với tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả không đƣợc thấp hơn năm triệu đồng và mức cao nhất là năm mƣơi triệu đồng. Đối với hình phạt tịch thu tài sản: Ngƣời phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình để sung quỹ Nhà nƣớc. Khi quyết định tịch thu toàn bộ tài sản của ngƣời phạm tội, Tòa án phải tính đến việc để cho ngƣời bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống. Về hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đƣợc áp dụng khi xét thấy nếu để ngƣời bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì họ có thể tiếp tục phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc thực hiện hành vi khác gây nguy hại cho xã hội. Thời hạn cấm là từ một năm đến năm năm và tính kể từ ngày ngƣời bị kết án chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trƣờng hợp ngƣời bị kết án đƣợc hƣởng án treo. Việc quy định và áp dụng hình phạt này góp phần tăng cƣờng hiệu quả của hình phạt chính, đồng thời loại bỏ điều kiện phạm tội lại của ngƣời đã bị kết án. So sánh tội sản xuất buôn bán hàng giả (theo Điều 156 BLHS), với tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh (theo Điều 157 BLHS) và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là
  • 58. 58 thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Theo Điều 158 Bộ luật hình sự) có thể thấy đặc điểm cấu trúc của các tội này cơ bản giống nhau ở mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm. Điểm khác biệt giữa ba tội phạm này nằm ở mặt khách thể, mà cụ thể là đối tƣợng tác động của tội phạm. Đối tƣợng tác động của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS là hàng giả nói chung; Đối tƣợng tác động của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 157 BLHS là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh; Và đối tƣợng tác động của tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả quy định tại Điều 158 BLHS là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi. Xuất phát từ việc đánh giá mức độ quan trọng của các loại hàng hóa này là khác nhau, BLHS 1999 quy định ba tội sản xuất, buôn bán hàng giả tƣơng ứng với ba loại hàng hóa trên với các dấu hiệu định tội, định khung, loại và mức hình phạt có sự khác nhau. 2.2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 2.2.1. Kết quả đạt được trong áp dụng Điều 156 Bộ luật hình sự vào thực tiễn đấu tranh chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả Sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cùng với những hệ lụy của nó ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào cũng gây bức xúc trong dƣ luận, bị xã hội lên án. Hàng giả hiện nay đã trở thành vấn nạn của xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nƣớc, tính mạng, sức khỏe, tài chính của ngƣời tiêu dùng và lợi ích của các nhà sản xuất, phân phối chân chính. Tình trạng hàng giả ngày càng gia tăng về số lƣợng, mặt hàng với diễn biến phức tạp đã làm gia tăng tính nguy hiểm của nó đối với cộng đồng và trật tự quản lý xã hội. Hành vi sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cần đƣợc ngăn chặn, xử lý để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế, ngƣời tiêu dùng và các nhà đầu tƣ. Quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả trong luật hình sự Việt Nam, trƣớc hết là công cụ để bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của nhà
  • 59. 59 nƣớc, tính mạng, sức khỏe, quyền lợi của ngƣời tiêu dùng và các nhà sản xuất, phân phối đang bị hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả xâm hại hoặc đe dọa xâm hại. Đây cũng chính là khách thể trực tiếp đƣợc luật hình sự bảo vệ thông qua việc quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi nguy hiểm đang thực tế xảy ra trong xã hội xâm hại hoặc đe dọa xâm hại những quan hệ xã hội này. Sự bảo vệ đó thể hiện ở tác dụng ngăn ngừa, điều chỉnh và giáo dục của quy phạm pháp luật hình sự này đối với xã hội và ngƣời phạm tội. Thành tựu của công cuộc đổi mới, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN đã đƣa nƣớc ta ra khỏi tình trạng đói nghèo. Bình quân thu nhập đầu ngƣời tăng, đời sống vất chất và tinh thần của nhân dân không ngừng đƣợc cải thiện, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đƣợc đảm bảo. Bên cạnh những yếu tố tích cực, mặt trái của nền kinh tế thị trƣờng cũng có ảnh hƣởng tiêu cực đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tình hình tội phạm nói chung ở nƣớc ta, trong đó có tội phạm về hàng giả ngày càng diễn biến phức tạp. "Thế giới nhức nhối đại dịch hàng nhái", "Tội phạm Đông Á - Thái Bình Dƣơng kiếm đƣợc nhiều tiền nhất từ hàng giả", "Hàng giả - Tội phạm lớn nhất thế kỷ 21"… là những tiêu đề không lạ về tội phạm hàng giả đƣợc đăng tải trên các trang báo hiện nay. Đó cũng là thực trạng tình hình hàng giả hiện nay. Theo báo cáo từ tổ chức Hải quan thế giới, tổng giao dịch hàng làm giả năm 2006 trên thế giới là 500 tỉ USD, năm 2010 lên tới 2.000 tỉ USD, cứ 10 sản phẩm lại có 1 sản phẩm bị làm giả. Trong năm 2012, lực lƣợng Quản lý thị trƣờng cả nƣớc kiểm tra 181.000 trƣờng hợp vi phạm thì có trên 90.000 trƣờng hợp vi phạm [10]. Báo điện tử Tuổi trẻ online số ra ngày 15/8/2013 trong bài "Tội phạm kiếm đƣợc nhiều tiền nhất từ hàng giả" có đoạn viết: Ma túy, gỗ và động thực vật hoang dã, hàng giả và buôn ngƣời tiếp tục là những lĩnh vực hấp dẫn các nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dƣơng. Các nhóm tội
  • 60. 60 phạm tại Đông Á- Thái Bình Dƣơng kiếm đƣợc hơn 24 tỉ USD từ buôn bán hàng giả, 17 tỉ USD từ gỗ phi pháp, 16 tỉ USD từ heroin,... Đó là một trong những kết quả nghiên cứu trong báo cáo do Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp Quốc (UNODC) công bố ngày 14-8 tại Hà Nội. Trung tƣớng Đỗ Kim Tuyến - phó tổng cục trƣởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm (Bộ Công an) - cho biết điều này cũng phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam [9]. Báo Công thƣơng điện tử số ra ngày 06/12/2013, có bài viết "Hàng giả ngày càng tinh vi" nhân "Ngày phòng chống hàng giả, hàng nhái" đã đƣa tin: Hiệp hội Chống hàng giả và bảo vệ thƣơng hiệu Việt Nam (VATAP) vừa tổ chức Ngày phòng chống hàng giả, hàng nhái tại TP.HCM. Ngày hội có sự tham dự của Thứ trƣởng Bộ Công thƣơng Nguyễn Cẩm Tú, đại diện các cơ quan chống hàng giả cả nƣớc và hơn 200 doanh nghiệp. Theo ông Lê Thế Bảo - Chủ tịch VATAP, hiện nay, trên thị trƣờng, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kiểu dáng công nghiệp diễn ra ở nhiều cấp độ và rất phức tạp. Hàng giả, hàng nhái không chỉ sản xuất ở Việt Nam, mà còn sản xuất ở nƣớc ngoài và đƣa về tiêu thụ với số lƣợng lớn. Nhiều lô hàng do các cơ sở trong nƣớc ra nƣớc ngoài đặt hàng sản xuất. Thời gian làm hàng giả ở nƣớc ngoài rất nhanh, chỉ 1 - 2 tuần là làm xong một lô hàng hàng nghìn sản phẩm. Vì vậy, nhiều khi, sản phẩm chỉ mới tung ra thị trƣờng chƣa đến 1 tháng thì hàng giả đã tràn ngập chợ. Điều đáng báo động là hàng giả ngày càng giống hàng thật, khiến ngƣời tiêu dùng không thể phân biệt đƣợc thật giả. Ông Trƣơng Quang Hoài Nam - Cục trƣởng Cục Quản lý cạnh tranh - nhìn nhận, hàng giả, hàng nhái tại Việt Nam đang gây nhức nhối cho toàn xã hội, chúng có mặt từ các phiên chợ vùng cao đến các trung tâm mua sắm hiện đại ở thành phố, đa dạng các chủng loại nhƣ: Ti vi, xe máy, máy tính, điện thoại, giày dép, quần áo, thuốc tân dƣợc, phân
  • 61. 61 bón, bia rƣợu, mỹ phẩm… Nếu năm 1996, chỉ mới có 961 vụ làm hàng giả, hàng nhái bị phát hiện thì 10 tháng đầu năm, số vụ sản xuất, buôn bán hàng giả bị triệt phá đã lên đến 11.274 vụ [44]. Cũng theo báo Tuổi trẻ online ngày 13/5/2013: Ngoài ra, các mặt hàng giả phổ biến khác nhƣ dƣợc phẩm, hóa mỹ phẩm, hàng điện máy chiếm tỉ lệ khá cao. Trong đó, không chỉ làm giả trong nƣớc, số lƣợng hàng giả đƣợc sản xuất từ nƣớc ngoài đƣa vào nội địa tiêu thụ ngày càng đa dạng. Đặc biệt, ngoài việc hàng hóa giả mạo chất lƣợng, xuất xứ hàng giả còn đƣợc gắn tem chống hàng giả của chính Bộ Công an. Do đó, ngoài việc giám định hàng giả, viện còn phải giám định chính tem thật giả của đơn vị mình ban hành bởi tem chống hàng giả đƣợc làm giả rất tinh vi, liên tục cải tiến [33]. Qua những bài báo trên, với những thông tin và đánh giá của đại diện một số cơ quan chức năng đã giúp chúng ta hình dung khái quát bức tranh về tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả đang ngày càng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê của VKSND tối cao, TAND tối cao số vụ đã điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên phạm vi cả nƣớc trong 05 năm (2009-2013) nhƣ sau: Bảng 2.1: Số vụ, bị can, bị cáo đã bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS trong 05 năm (2009-2013) Năm Khởi tố Truy tố Xét xử sơ thẩm Vụ Bị can Vụ Bị can Vụ Bị can 2009 15 22 15 20 13 17 2010 13 21 04 07 08 13 2011 12 18 12 18 07 11 2012 10 15 09 14 09 14 2013 31 40 31 40 30 39 Tổng 81 116 71 99 67 94 Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.
  • 62. 62 Trong đó, tình hình xử lý hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS trong 5 năm qua đƣợc thể hiện qua số vụ, số bị cáo đã xét xử. So sánh số vụ, số bị cáo đã bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS với tổng số vụ, số bị cáo đã xét xử trong 05 năm qua để thấy rõ nét hơn thực trạng xét xử tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Bảng 2.2: Số vụ cũng như số bị cáo phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói chung của từng năm, từ năm 2009 đến năm 2013 Năm Tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ Bộ luật hình sự (Số vụ/số bị cáo) 2009 13/17 2010 08/13 2011 07/11 2012 09/14 2013 30/39 Tổng 67/94 Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao Với số liệu thống kê trên, bình quân hàng năm có 13,4 vụ/18,8 bị cáo bị xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Trong khi đó, trung bình mỗi năm tòa án đã xét xử 203 vụ/449 bị cáo đối với mỗi tội phạm. So với mức trung bình chung, thì tỉ lệ xét xử hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả chỉ đạt 6,6% về số vụ, 4,1 % số bị cáo; so với tổng số vụ hình sự đã đƣợc xét xử sơ thẩm chỉ đạt 0,030% số vụ, 0,19% số bị cáo. Đây là con số quá nhỏ so với trực trạng sản xuất buôn bán hàng giả đƣợc đánh giá là tội phạm lớn nhất thế kỷ 21. Tác giả luận văn không có điều kiện để tiếp cận với số vụ vi phạm về hàng giả trong 05 năm qua tại cơ quan công an, hải quan và quản lý thị trƣờng. Tuy nhiên, so với con số trên 90.000 vụ đã bị triệt phá về hàng giả riêng trong năm 2012, số vụ đã xét xử về nhóm tội hàng giả là năm 2012 là quá ít 61 vụ, đạt tỉ lệ 0,066%, số vụ đã xét xử theo Điều 156 là 09 vụ, đạt tỉ lệ 0,001%. 10 tháng đầu năm 2013, số vụ sản xuất, buôn bán hàng giả bị triệt phá đã lên đến 11.274 vụ, tuy nhiên số vụ đã xử lý hình sự về tội hàng
  • 63. 63 giả trong năm 2013 cũng là không đáng kể 59 vụ, số vụ đã bị xét xử theo Điều 156 là 30 vụ. Sở dĩ tác giả luận văn so sánh số vụ đã phát hiện với số vụ đã xét xử về các tội hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói chung do không có thống kê cụ thể về số vụ đã bị triệt phá mà đối tƣợng vi phạm là hàng giả theo Điều 156 BLHS. Tuy nhiên, số các vụ đã đƣa ra xét xử đối các tội hàng giả cũng rất ít ỏi so với số vụ vi phạm. Có thể thấy tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS với đối tƣợng là hàng giả nói chung có phạm vi rộng hơn so với tội phạm đƣợc quy định tại Điều 157, Điều 158 và Điều 171 BLHS, song số vụ hình sự đối với tội phạm này lại thấp hơn 2 lần so với hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh và hơn không đáng kể so với hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (hơn 2 lần). Trên thực tế, số vụ vi phạm có đối tƣợng là hàng giả thuộc Điều 156 BLHS là rất lớn và phong phú, đa dạng về chủng loại, đặc biệt là đồ điện tử, thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng khác. Tuy nhiên, số vụ bị phát hiện và xử lý hình sự còn chƣa phản ánh đƣợc tình hình tội phạm trên thực tế. Số liệu trên cũng cho thấy tỉ lệ số vụ đã xét xử so với số vụ đã bị khởi tố đạt 82,7%, nhƣ vậy 17,2 % (hơn 2 vụ) không đƣợc đƣa ra xét xử với nhiều lý do, trong đó có đình chỉ, miễn trách nhiệm hình sự. Tóm lại, tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả đang đƣợc đánh giá là diễn biến phức tạp và có chiều hƣớng gia tăng nhƣng theo số liệu đã đƣợc phân tích tỉ lệ số vụ, số ngƣời bị xử lý hình sự về tội này lại rất hiếm hoi. Những con số trên đây đặt cho chúng ta câu hỏi, liệu chúng ta đã thực sự nghiêm khắc trong xử lý các vi phạm và tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả hay chƣa? Việc không khởi tố, truy tố, đƣa ra xét xử những vụ sản xuất, buôn bán hàng giả có dấu hiệu phạm tội có rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Đó có thể do luật pháp còn "kẽ hở", do tiêu cực, thiếu kiên quyết trong xử lý... Vì thế,
  • 64. 64 không tránh khỏi tình trạng bỏ lọt tội phạm, dung túng cho hành vi phạm tội. Đó cũng là vấn đề tội phạm ẩn trong thực tiễn. Có những tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả xảy ra nhƣng không tìm thấy ngƣời thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi phạm tội đƣợc hành chính hóa bằng việc xử lý vi phạm hành chính hoặc bị phát hiện nhƣng không bị xử lý theo quy định của pháp luật. 2.2.2. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định Điều 156 Bộ luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả Thứ nhất, những tồn tại hạn chế từ quy định của pháp luật. Nghiên cứu tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả cũng nhƣ thực tiễn điều tra, truy tố xét xử tội phạm này ở Việt Nam trong thời gian vừa qua cho thấy một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Cụ thể, một số tình tiết của tội sản xuất, buôn bán hàng giả quy định tại Điều 156 BLHS còn quá chung chung, chƣa có định lƣợng rõ ràng, thiếu tính khả thi nhƣ tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng", "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng". Đây là các mức độ khác nhau thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà tƣơng ứng với nó ngƣời phạm tội phải chịu những mức hình phạt khác nhau. Tuy nhiên, nhƣ thế nào đƣợc coi là "gây hậu quả nguy hiểm", "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn", “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” đến nay chƣa có văn bản pháp luật nào quy định chi tiết các tình tiết này. Thông thƣờng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với những trƣờng hợp có vƣớng mắc trong việc áp dụng quy định của pháp luật, cơ quan điều tra, VKS hoặc tòa án cấp dƣới thƣờng thỉnh thị án để xin ý kiến của cơ quan cấp trên. Song, nếu chƣa có hƣớng dẫn bằng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền thì những hƣớng dẫn, trao đổi nghiệp vụ dƣới hình thức là văn bản hành chính chỉ có tính tham khảo chứ không phải là căn cứ pháp luật để thi hành nhƣ đối với văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy,
  • 65. 65 có thế nói, đây là kẽ hở trong điều luật nếu bỏ qua sẽ là bỏ lọt tội phạm, nếu áp dụng có thể dẫn đến tùy tiện, thiếu thống nhất giữa các địa phƣơng, các cấp và ở mỗi giai đoạn tố tụng gây nên tình trạng bất bình đẳng trong tố tụng. Về hình phạt, đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và tội phạm về hàng giả nói riêng, hình phạt tiền luôn đƣợc dƣ luận quan tâm và có hiệu quả không nhỏ trong việc răn đe, giáo dục ngƣời phạm tội bởi mục đích chủ yếu của họ khi thực hiện hành vi phạm tội là lợi nhuận, nếu mức hình phạt là thích đáng và lớn hơn lợi nhuận mà họ có đƣợc từ việc phạm tội thì chắc chắn khả năng họ lựa chọn việc phạm tội sẽ là thấp hơn. Khoản 4 Điều luật quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung với mức hình phạt từ năm triệu đến năm mƣơi triệu đồng. So với giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật đƣợc quy định trong điều luật thì mức phạt hình phạt tiền cao nhất (năm mƣơi triệu đồng) chỉ bằng giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật đƣợc quy định ở khoản 1 - ở mức độ định tội danh, bằng 1/2 mức thấp nhất, 1/10 mức cao nhất của giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật đƣợc quy định tại khoản 2; và nhỏ hơn 1/10 giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật đƣợc quy định tại khoản 3 điều luật. Với so sánh này, chúng ta có thể thấy mức hình phạt tiền đƣợc quy định trong điều luật rõ ràng là chƣa tƣơng xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vì vậy hiệu quả răn đe, giáo dục của hình phạt vì thế mà cũng giảm đi rất nhiều. Trên thực tế, nạn sản xuất buôn bán hàng giả vẫn diễn ra hàng ngày, hàng giờ với diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hƣớng gia tăng bởi lợi nhuận khổng lồ mà nó đem lại. Mặt khác, việc ấn định mức hình phạt tiền cụ thể là không phù hợp với sự thay đổi thƣờng xuyên của tình hình kinh tế - xã hội. Tham khảo luật hình sự một số nƣớc về tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhƣ đã trình bày ở mục 1.3 chƣơng 1, chúng ta thấy BLHS nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và BLHS Liên bang Nga quy định rất hợp lý và có tính ổn định cao về mức phạt tiền đối với tội phạm này bằng việc quy định cấp số nhân trên cơ sở mức
  • 66. 66 tiền thu đƣợc từ việc bán hàng giả hoặc mức thu nhập tối thiểu, nội dung này cần đƣợc nghiên cứu, tiếp thu trong việc hoàn thiện quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Bộ luật hình sự Việt Nam không chỉ coi thể nhân là chủ thể của tội phạm. Trên thực tế, các tội phạm quản lý kinh tế nói chung và tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả nói chung thƣờng liên quan đến các tổ chức doanh nghiệp. Mặc dù tổ chức do con ngƣời thành lập, song qua quá trình hoạt động tổ chức dần dần độc lập, tách ra khỏi những con ngƣời đã tạo ra nó, có tài sản, và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Việc quy định tổ chức là chủ thể của tội phạm có ý nghĩa lớn trong việc phòng chống tội phạm, bởi trong tổ chức không phải ai cũng có xu hƣớng phạm tội và để bảo vệ tổ chức của mình nhƣ bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình, thành viên của tổ chức sẽ có ý thức trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xác định tổ chức là chủ thể của tội phạm đã đƣợc Luật hình sự nhiều quốc gia trên thế giới quy định nhƣ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ,… Nhƣ tác giả luận văn đã trình bày ở phần trên, khác với BLHS năm 1985, đối tƣợng của tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS năm 1999 không phải là tất cả các loại hàng giả. Hành vi sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc phòng bệnh, thuốc chữa bệnh, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống, cây trồng vật nuôi là đối tƣợng tác động của tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả ở khung tăng nặng theo Điều 167 BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999 đƣợc tách thành 02 điều luật riêng với chế tài nghiêm khắc hơn đƣợc quy định tại Điều 157, 158 BLHS. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đã nảy sinh một số vấn đề bất hợp lý. Vấn đề này đã đƣợc PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đề cập trong bài viết “Hoàn thiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trước yêu cầu cải cách tư pháp” đăng tại tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội số 24 năm 2008:
  • 67. 67 Tại các Điều 156, 157, 158 BLHS quy định các tội phạm tƣơng ứng: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lƣơng thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực phẩm, giống cây trồng vật nuôi. Các tội phạm này có dấu hiệu hành vi (hành vi sản xuất và hành vi buôn bán hàng giả) và các dấu hiệu khác của cấu thành tội giống nhau, giữa chúng chỉ khác nhau ở đối tƣợng phạm tội tƣơng ứng với mỗi tội phạm: Hàng giả là hàng hóa thông thƣờng; Hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực phẩm, giống cây trồng vật nuôi. Về thực chất, hành vi và tính chất của các tội phạm này không khác nhau nếu có khác nhau chỉ là mức độ phạm tội do tác động đến những đối tƣợng phạm tội có tầm quan trọng khác nhau. Vì vậy, về kỹ thuật lập pháp không cần thiết phải qui định ở những điều luật khác nhau mới phải ảnh đƣợc mức độ nguy hiểm của các tội phạm mà đƣa những đối tƣợng tác động của các tội phạm quy định tại các Điều 157, 158 là tình tiết tăng nặng của cấu thành tội phạm quy định tại Điều 156 BLHS. Thực tế, có trƣờng hợp ngƣời phạm tội cùng một lúc thực hiện hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng hóa thuộc các đối tƣợng tác động của ba tội phạm kể trên và do đó họ đã phạm nhiều tội, Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt của các tội đó nên hình phạt của họ có thể rất cao theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong trƣờng hợp phạm nhiều tội quy định tại Điều 50 BLHS. Theo đó, nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó đƣợc cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không đƣợc vƣợt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mƣơi năm đối với hình phạt tù có thời hạn. Nhƣ vậy, trong trƣờng hợp này ngƣời phạm tội có thể bị tổng hợp hình phạt của
  • 68. 68 nhiều tội theo phƣơng pháp cộng hình phạt của các tội đã phạm và có thể đến 30 năm tù thay vì tối đa đến 20 năm tù trong trƣờng hợp phạm một tội. Thực tế này đã đến hai hệ quả: 1) Hình phạt áp dụng đối với ngƣời phạm tội quá cao so với tính chất, mức độ phạm tội của họ; 2) Không có sự công bằng nếu so sánh với các tội phạm khác trong BLHS, nhƣ các tội phạm: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phƣơng tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230 BLHS); Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 232 BLHS)… Trong khi hành vi sản xuất, buôn bán hành giả có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở nhiều tội phạm do tác động đến những đối tƣợng phạm tội khác nhau thì cũng là hành vi tác động đến nhiều đối tƣợng phạm tội ở những trƣờng hợp khác lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm nhƣ các điều luật kể trên. Rõ ràng ở đây đã có sự bất bình đẳng trong việc qui định trách nhiệm hình sự cho ngƣời phạm tội ở những tội phạm khác nhau. Sự bất bình đẳng này cần đƣợc khắc phục khi hoàn thiện BLHS theo tinh thần của Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp [3]. Thứ hai, những tồn tại, hạn chế từ điều kiện đảm bảo việc thi hành pháp luật. Bất cập trong cơ chế quản lý, phối hợp. Hiện nay, có đến năm cơ quan hành chính có chức năng và thẩm quyền kiểm tra, xử lý về hàng giả gồm cơ quan quản lý thị trƣờng, thanh tra chuyên ngành Khoa học - Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công an kinh tế, Uỷ ban nhân dân cùng cấp cùng cơ quan hải quan kiểm soát hàng nhập khẩu. Các cơ quan này có thể không thực hiện các hoạt động tố tụng xử lý hình sự về hàng giả, song là những cơ quan ban đầu kiểm tra, phát hiện về hàng giả trƣớc khi chuyển các vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra nên hoạt động của các cơ quan này đối
  • 69. 69 với việc xử lý hàng giả nói chung và xử lý hình sự về hàng giả nói riêng là rất quan trọng. Song lực lƣợng quản lý này tuy đông nhƣng không mạnh, hoạt động rời rạc, thiếu đồng bộ, chức năng nhiệm vụ chồng chéo nên dù chịu sự kiểm tra của năm cơ quan nhƣng nạn hàng giả vẫn tràn ngập trên thị trƣờng. Bên cạnh đó, các chủ thể có quyền bị xâm phạm chƣa nhiệt tình hợp tác với cơ quan chức năng trong việc cung cấp, trao đổi thông tin và phản hồi tích cực, một số doanh nghiệp vẫn coi việc chống hàng giả là việc của nhà nƣớc, cũng có doanh nghiệp cho rằng việc phát hiện hàng giả đối với sản phẩm của mình sẽ làm ảnh hƣởng đến uy tín của sản phẩm. Ngƣời tiêu dùng khi gặp phải hàng giả, hàng nhái thì cũng ít khiếu nại, thậm trí không ít ngƣời tiêu dùng biết mình đang mua bán hàng giả nhƣng vẫn chấp nhận bởi loại hàng hóa này phù hợp với túi tiền của họ nên đã "tiếp tay" cho hàng giả trong việc phân phối và tiêu thụ để rồi hàng giả ngày càng chiếm thị phần trên thị trƣờng. Mặt khác, việc phối hợp giữa các bộ, ngành trung ƣơng trong việc xây dựng văn bản hƣớng dẫn thi hành BLHS, trong đó có quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn chƣa thực sự khẩn trƣơng, tích cực đã gây không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Về cơ sở dữ liệu, công cụ hỗ trợ, phƣơng tiện kỹ thuật để phân biệt hàng thật - hàng giả, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng đã khắc phục những bất cập, hạn chế của các văn bản pháp luật trƣớc đây về các loại hàng giả tuy nhiên, đây mới chỉ là quy định chung khái quát về hàng giả. Để xác định hàng giả, phân biệt hàng thật - hàng giả đối với mỗi mặt hàng cụ thể ngoài việc căn cứ vào quy định của pháp luật còn phải căn cứ vào giá trị sử dụng, công dụng, tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật, nhãn, bao bì,... của hàng hóa. Trong các giai đoạn tố tụng, việc xác định hàng giả do cơ quan giám định thực hiện song cơ quan tiếp cận, phát hiện và xử lý ban đầu về hàng giả chủ yếu là cơ quan thanh tra, cơ quan hải quan, quản lý thị trƣờng, cảnh sát kinh tế và trực tiếp tiếp xúc với hàng giả nhiều nhất lại chính
  • 70. 70 là ngƣời tiêu dùng nên việc xác định ban đầu các dấu hiệu về hàng giả là hết sức quan trọng trong việc phát hiện, xử lý tội phạm về hàng giả hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm. Với kỹ thuật ngày càng tinh vi, nhiều loại hàng hóa đƣợc làm giả không khác gì hàng thật trong khi các cơ quan chức năng thì thiếu cơ sở dữ liệu, công cụ hỗ trợ, thiết bị chuyên dụng thì việc phân biệt hàng thật - hàng giả thực sự khó khăn. Những hạn chế, bất cập từ khâu giám định hàng giả. Có thể khẳng định khâu yếu kém nhất trong quá trình chống hàng giả là khâu giám định. Muốn xác định hàng giả phải tiến hành giám định nhƣng rất nhiều vụ vi phạm khi phát hiện, đƣa đi giám định thì không thể giám định đƣợc vì nhiều nguyên nhân nhƣ: Hàng hóa có nguồn gốc từ các nƣớc không đăng ký chất lƣợng tại Việt Nam; Hàng hóa không có ai xác nhận là hàng giả vì không có cơ quan đại diện của nhà sản xuất ở Việt Nam; Doanh nghiệp có hàng hóa bị làm giả do e ngại thƣơng hiệu bị ảnh hƣởng nên khi đƣợc mời đến cơ quan có thẩm quyền để xác nhận hàng giả thì từ chối. Đối với việc giám định hàng giả về chất lƣợng đã có sự tham gia của khá nhiều tổ chức. Tuy nhiên trình độ chuyên môn, máy móc, kỹ thuật còn nhiều hạn chế đôi khi gây ảnh hƣởng đến thời hiệu xử lý vụ việc. Có trƣờng hợp, cơ quan giám định khi đƣợc yêu cầu giám định thì kết luận một cách chung chung, không phù hợp với nội dung yêu cầu giám định khiến cơ quan trƣng cầu giám định không thể xử lý đƣợc vụ việc. Nhiều mặt hàng giả chi phí giám định rất đắt, khi đƣa đi giám định buộc cơ quan phát hiện phải tạm ứng kinh phí giám định. Nhiều năm qua, không ít vụ xử lý hàng giả đã bị "tắc" cũng ở khâu giám định. Nhiều vụ bắt hàng vi phạm, không biết phải đƣa tang vật đi giám định ở chỗ nào và kinh phí giám định lấy ở đâu. Thứ ba, những hạn chế, bất cập trong công tác điều tra, truy tố, xét xử. Công tác điều tra, truy tố, xét xử là hoạt động chủ lực trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Hoạt động phòng chống tội phạm đƣợc thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế tình hình tội phạm. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả
  • 71. 71 công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, làm giảm số vụ phạm tội, nâng cao tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa đối với những ngƣời có ý định thực hiện hành vi vi phạm trong xã hội công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn một số tồn tại cần đƣợc khắc phục. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động rất quan trọng nhằm khám phá, phát hiện tội phạm. Thông qua hoạt động điều tra các chứng cứ buộc tội, gỡ tội đƣợc thu thập cùng với các vấn đề khác có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, không ít vụ án cơ quan điều tra tiến hành điều tra không đầy đủ, chứng cứ buộc tội yếu, chủ quan, suy diễn, nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án không đƣợc điều tra làm rõ (Ví dụ: Vụ án Hà Minh Tuấn phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Sóc Trăng, kết quả điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra không có tài liệu đối chiếu, so sánh giữa hàng giả, hàng thật bao gồm hiện vật và kết luận chuyên môn của cơ quan có thẩm quyền). Hoạt động điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ để xác định vai trò đồng phạm của những ngƣời vi phạm là rất khó khăn (Ví dụ: Vụ án Trần Văn Oanh phạm tội buôn bán hàng giả tại Thuận Thành, Bắc Ninh, cơ quan điều tra đã không xác định đƣợc ngƣời đàn ông đã bán 1.800 gói dầu gội đầu Clear, Sunsilk, Dove cho Trần Văn Oanh). Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ điều tra, truy tố không cao. Một nguyên nhân khác ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng hoạt động điều tra đó là: Lực lƣợng cảnh sát điều tra đƣợc đào tạo chính quy về điều tra hình sự không nhiều, không ít ngƣời đƣợc đào tạo ở những lĩnh vực không liên quan đến điều tra nhƣng lại đƣợc phân công làm công tác điều tra, một số chỉ đƣợc đào tạo ở tình độ trung cấp cảnh sát, trung cấp an ninh sau đó đƣợc phân về làm cảnh sát điều tra hình sự, kiến thức lý luận về điều tra hình sự rất hạn chế nên khi đƣợc phân công điều tra án hình sự thì lúng túng. Chƣa có quy định pháp luật bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền công tố và kiểm sát điều tra của VKS nhƣ thiếu cơ chế bảo đảm VKS nắm đƣợc đầy đủ, kịp thời các tố giác, tin báo về tội phạm trên thực tế cũng nhƣ
  • 72. 72 kiểm sát đƣợc chặt chẽ việc xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm. Cũng có không ít trƣờng hợp các yêu cầu của VKS trong quá trình điều tra vụ án hình sự chƣa đƣợc thực hiện nghiêm túc. VKS đề ra yêu cầu điều tra nhƣng cơ quan điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhƣng pháp luật lại chƣa quy định những biện pháp để bảo đảm thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của VKS. KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 Nghiên cứu qui định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo BLHS trong BLHS năm 1999, chúng ta có thể thấy BLHS năm 1999 đã đƣợc hoàn thiện trên cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những hạn chế thiếu sót của các BLHS trƣớc đó, tuy nhiên cũng không tránh khỏi những bƣớc lùi cục bộ. Nghiên cứu tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả và thực trạng điều tra, truy tố và xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả có thể nhận thấy tội phạm về hàng giả đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, tỉ lệ các vụ án hình sự về hàng giả đã bị phát hiện, xử lý chƣa phản ánh đúng tình hình phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tình trạng tội phạm ẩn vẫn còn tồn tại vì nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ những hạn chế, bất cập từ quy định của pháp luật và những hạn chế, bất cập từ hoạt động quản lý nhà nƣớc, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
  • 73. 73 Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 3.1. YÊU CẦU HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ Hoàn thiện các quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả hiện nay là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế của Việt Nam, mà trực tiếp là yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian lận thƣơng mại, bảo vệ giá trị thực của nền kinh tế, hƣớng tới mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Nhu cầu hoàn thiện các quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cũng bắt nguồn từ chính những hạn chế nhất định của quy định này trong pháp luật hình sự của nƣớc ta. Các yếu tố quan trọng tạo ra nhu cầu cần thiết phải hoàn thiện các quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả bao gồm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế của Việt Nam, mà trực tiếp là yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian lận thƣơng mại, bảo vệ giá trị thực của nền kinh tế. Với tính chất là yếu tố của kiến trúc thƣợng tầng xã hội, pháp luật đƣợc ra đời trên cơ sở hạ tầng và đƣợc quy định bởi cơ sở hạ tầng. Trong mối quan hệ đó, các điều kiện kinh tế vừa là nguyên nhân trực tiếp quy định sự ra đời của pháp luật vừa quyết định toàn bộ nội dung và sự phát triển của pháp luật. Sự phát triển kinh tế là nguyên nhân trƣớc hết dẫn đến sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật; đồng thời là nhân tố quyết định nội dung, bản chất, hình thức, xu hƣớng vận động của pháp luật.
  • 74. 74 Thực hiện công cuộc đổi mới, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn và có ý nghĩa lịch sử, kinh tế tăng trƣởng khá mạnh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển thị trƣờng định hƣớng XHCN đƣợc đẩy mạnh, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, những tác động tích cực và tiêu cực của quá tình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra cho Việt Nam những cơ hội và thách thức lớn, trong đó có nạn hàng giả. Nạn hàng giả đang diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hƣớng ngày càng giả tăng trong và ngoài nƣớc đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật về phòng chống hàng giả, trong đó có quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả phù hợp với các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian lận thƣơng mại. Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Nhà nƣớc pháp quyền là nhà nƣớc đƣợc tổ chức và quản lý theo pháp luật, đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền của con ngƣời, quyền công dân. Trong nhà nƣớc pháp quyền sẽ không có sự tồn tại của hàng giả - một trong những vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền công dân. Vì vậy, trên con đƣờng đến với nhà nƣớc pháp quyền hàng giả sẽ bị loại trừ, các giá trị thật đƣợc bảo vệ song hành cùng với việc thƣợng tôn pháp luật, đảm bảo các giá trị nhân văn, quyền con ngƣời và quyền công dân. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền XHCN là một nhu cầu tất yếu khách quan ở Việt Nam, vì nó là cơ sở để Nhà nƣớc ta thực hiện đúng đắn bản chất nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân. Trong đó, việc hoàn thiện pháp luật về phòng chống hàng giả và quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một nội dung để xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Ngoài ra, nhu cầu hoàn thiện các quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả bắt nguồn từ chính những hạn chế nhất định của các quy định này trong pháp luật hình sự của nƣớc ta. Nhƣ tác giả luận văn đã trình
  • 75. 75 bày ở mục 2.3 chƣơng 2, quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS qua thực tiễn thi hành pháp luật đã bộc lộ một số hạn chế làm ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả công tác điều tra, truy tố xét xử tội sản xuất buôn bán hàng giả nhƣ: một số tình tiết định tội, định khung còn chung chung, thiếu tính khả thi; mức hình phạt bổ sung chƣa tƣơng xứng với tính chất và mức độ của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả; việc quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả đối với các đối tƣợng khác nhau thành 3 tội khác nhau còn bộc lộ nhiều bất cập. Những hạn chế này là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh nhu cầu hoàn thiện quy định về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS. 3.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI SẢN XUẤT HÀNG GIẢ, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự luôn là khâu then chốt để nâng cao hiệu qủa của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả, qua nghiên cứu, phân tích, tác giả mạnh dạn đề nghị nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điểm nhƣ sau: Thứ nhất, nhƣ tác giả luận văn đã trình bày ở Chƣơng 2, đối với tình tiết định tội "gây hậu quả nghiêm trọng" quy định tại khoản 1 Điều 156 và các tình tiết định khung tăng nặng đƣợc quy định tại khoản 2 và khoản 3 BLHS nhƣ "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu quả nghiêm trọng", "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" đến nay chƣa có văn bản quy phạm pháp luật hƣớng dẫn cụ thể việc áp dụng nên việc thi hành pháp luật còn gặp khó khăn, thiếu tính thống nhất. Vì vậy, cần có hƣớng dẫn cụ thể bằng văn bản quy phạm pháp luật liên tịch ở cấp Bộ, Ngành Trung ƣơng đối với tình tiết định tội "gây hậu quả nghiêm trọng", các tình tiết định khung tăng nặng "thu lợi bất chính lớn", "gây hậu quả nghiêm trọng", "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn", "gây hậu quả đặc biệt
  • 76. 76 nghiêm trọng" làm căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các tình tiết này trong giải quyết vụ án thống nhất trên phạm vi cả nƣớc và trong các giai đoạn tố tụng hình sự. Thứ hai, Về hình phạt, nhƣ đã phân tích ở chƣơng 2, hình phạt tiền đƣợc qui định tại Điều 156 BLHS hiện nay là chƣa tƣơng xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả. Đồng thời, quy định về mức phạt tiền cụ thể đƣợc áp dụng đối với tất cả các trƣờng hợp phạm tội là không phù hợp, thiếu tính ổn định và không công bằng đối với mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu những quy định hợp lý của BLHS Luật hình sự Liên bang Nga và BLHS nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về hình phạt tiền đã phân tích tại Chƣơng 1 xin đề xuất quy định hình phạt tiền theo cấp số nhân trên cơ sở giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật mà ngƣời phạm tội đã sản xuất, mua bán. Với quy định nhƣ vậy, mức hình phạt tiền đƣợc áp dụng đối với ngƣời phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả luôn luôn cao hơn thiệt hại mà ngƣời phạm tội gây ra cũng nhƣ khoản lợi nhuận mà họ thu đƣợc từ việc thực hiện hành vi phạm tội, vì thế mà tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa của hình phạt tiền sẽ phát huy đƣợc tác dụng. Bên cạnh đó, việc quy định mức hình phạt tiền theo cấp số nhân trên cơ sở giá trị hàng giả tƣơng đƣơng với hàng thật mà ngƣời phạm tội đã sản xuất, mua bán sẽ đảm bảo tính công bằng đối với mỗi trƣờng hợp phạm tội cụ thể. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm có tổ chức là các tổ chức, doanh nghiệp, cũng nhƣ trách nhiệm của tổ chức trong đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về quản lý kinh tế trong đó có tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả cần thiết nghiên cứu bổ sung quy định về tổ chức là chủ thể của tội phạm cùng với quy định về việc xác định hành vi phạm tội và hình phạt đặc thù đối với tổ chức. Thứ ba, Về kỹ thuật lập pháp. Tiếp thu quan điểm của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, về việc đƣa những đối tƣợng tác động của các tội phạm quy định tại các Điều 157, 158 là tình tiết tăng nặng của cấu thành tội phạm
  • 77. 77 quy định tại Điều 156 BLHS là cần thiết. Do các tội phạm này có cấu thành tội phạm giống nhau, giữa chúng chỉ khác nhau ở mức độ phạm tội do tác động nên các đối tƣợng phạm tội có tầm quan trọng khác nhau nhƣ: Hàng giả là hàng hóa thông thƣờng; Hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực phẩm, giống cây trồng vật nuôi. Vì vậy, không cần thiết phải quy định ở những điều luật khác nhau mới phản ánh đƣợc mức độ nguy hiểm của tội phạm đối với những đối tƣợng tác động khác nhau. Thứ tư, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Quá trình áp dụng pháp luật về tội sản xuất buôn bán hàng giả theo Điều 156 BLHS 1999, các cơ quan, ngƣời có thẩm quyền còn phải vận dụng nhiều văn bản pháp luật khác về phòng chống hàng giả thuộc nhiều ngành, lĩnh vực nhƣ hình sự, xử lý hành chính, bảo vệ ngƣời tiêu dùng, hải quan, quản lý thị trƣờng, quản lý chất lƣợng hàng hóa, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,... Với tình trạng có nhiều văn bản quy phạm pháp pháp luật cùng điều chỉnh lĩnh vực này song hiệu quả áp dụng pháp luật trong phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả lại không cao, không ít các quy định mâu thuẫn chồng chéo, thiếu tính thống nhất, đồng bộ. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả cần đồng thời hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan tạo thành một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất về phòng chống tội phạm về hàng giả. Trong đó, cần rà soát tổng thể các quy định của pháp luật phòng chống hàng giả, tìm ra những hạn chế, bất cập, những mâu thuẫn, chồng chéo của các văn bản pháp luật này để có hƣớng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. 3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ Nếu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự là khâu then chốt thì công tác thực thi pháp luật lại là khâu quyết định để nâng cao hiệu quả của
  • 78. 78 cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hàng giả. Để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cần triển khai đồng bộ và hiệu quả nhiều biện pháp nhƣ: Thứ nhất, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, công tác tiến hành tố tụng và bổ trợ tƣ pháp về hàng giả. Công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử và bổ trợ tƣ pháp là hoạt động chủ lực góp phần quan trọng làm nên hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Đấu tranh phòng chống tội phạm tốt sẽ làm giảm "sức nóng" của tình hình tội phạm. Tuy nhiên, các hoạt động này ở nƣớc ta còn bộc lộ một số hạn chế nhƣ đã trình bày tại Chƣơng 2 làm ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về sản xuất và buôn bán hàng giả. Để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh, kiểm tra, tiến hành tố tụng về hàng giả cần tập trung thực hiện một số nội dung sau: - Chú trọng vào công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra ban đầu nhằm kịp thời phát hiện các trƣờng hợp phạm tội về hàng giả, hạn chế tình trạng tội phạm ẩn nhƣ bỏ lọt tội phạm, hành chính hóa tội phạm hàng giả. Đồng thời, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho các lƣợc lƣợng làm công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra ban đầu về trang thiết bị, cơ sở dữ liệu phục vụ việc phân biệt hàng thật - hàng giả. - Bổ sung quy định về biện pháp xử lý trong trƣờng hợp VKS đƣa ra yêu cầu, kiến nghị mà các chủ thể có liên quan không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nhằm đảm bảo quyền công tố và kiểm sát điều tra của VKS đƣợc thực hiện đầy đủ, hiệu quả theo quy định của pháp luật và yêu cầu của chiến lƣợc cải cách tƣ pháp. Trong đó, cần có cơ chế đảm bảo để VKS nắm đầy đủ, kịp thời các tin báo, tố giác về tội phạm và việc xử lý chúng của cơ quan điều tra, cũng nhƣ sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra hình sự đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về hàng giả nói riêng. - Nâng cao chất lƣợng hoạt động của cơ quan giám định. Giám định hàng giả là khâu quan trọng trong quá trình xử lý vi phạm về hàng giả, kết
  • 79. 79 quả giám định hàng giả có ý nghĩa quyết định việc có hay không khởi tố vụ án hình sự về hàng giả. Những hạn chế, bất cập hiện nay trong công tác giám định hàng giả đã ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống hàng giả. Vì vậy, cần thiết phải nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ giám định viên, đầu tƣ trang thiết bị, công cụ, phƣơng tiện giám định hiện đại để nâng cao chất lƣợng của hoạt động giám định góp phần thực hiện tốt công tác phòng chống tội phạm về hàng giả. - Tăng cƣờng cơ chế phối hợp trong đấu tranh phòng chống hàng giả giữa các cơ quan quản lý thị trƣờng, hải quan, thanh tra chuyên ngành và cảnh sát kinh tế. Thƣờng xuyên tổ chức tập huấn chuyên đề, hội thảo, trao đổi, cung cấp thông tin, kinh nghiệm trong công tác đấu tranh với tội phạm sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả cho lực lƣợng quản lý thị trƣờng, hải quan, thanh tra chuyên ngành, cảnh sát kinh tế. - Việc phối hợp với các cơ quan chức năng trong điều tra, truy tố, xét xử hàng giả vừa là quyền đồng thời cũng là trách nhiệm của doanh nghiệp, vì vậy cần có chế tài xử lý đối với những doanh nghiệp không tham gia phối hợp với các cơ quan chức năng trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. - Xây dựng đội ngũ cán bộ tƣ pháp trong sạch, vững mạnh: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 nhận định đội ngũ cán bộ tƣ pháp, bổ trợ tƣ pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Do đó, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ tƣ pháp trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong cải cách tƣ pháp với mục tiêu xây dựng nền tƣ pháp công bằng, dân chủ, nghiêm minh. Để đạt đƣợc mục tiêu đó, cần chuẩn hóa đội ngũ công chức tiến hành tố tụng vững về chuyên môn
  • 80. 80 nghiệp vụ, giàu kinh nghiệm, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cần tiếp tục đổi mới nội dung, phƣơng pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo nguồn và bồi dƣỡng nghiệp vụ các chức danh tƣ pháp; có cơ chế thu hút, tuyển chọn những ngƣời có tâm huyết, đủ đức, tài vào làm việc ở các cơ quan tƣ pháp. - Đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng trong các ngành tƣ pháp và các ngành hải quan, quản lý thị trƣờng, thanh tra chuyên ngành, kiên quyết đấu tranh, loại bỏ những cán bộ thiếu phẩm chất, thiếu năng lực. Đồng thời, cần có chính sách tiền lƣơng, khen thƣởng phù hợp đối với đội ngũ công chức nói chung và công chức trong ngành tƣ pháp nói riêng để họ đảm bảo đƣợc cuộc sống và yên tâm công tác. Thứ hai, tăng cƣờng thực hiện các biện pháp về quản lý hàng hóa ở cả góc độ quản lý nhà nƣớc cũng nhƣ từ phía các doanh nghiệp, đối với cả hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nƣớc nhằm tạo môi trƣờng kinh doanh lành mạnh, hạn chế tối đa sự thâm nhập của hàng giả trên thị trƣờng. Đối với hàng hóa nhập khẩu: Các quy định về "phân luồng", quy định về chế độ tự khai báo và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp với mục đích tạo sự thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhƣng qua quá trình triển khai thực hiện đang bộc lộ nhiều "kẽ hở" để doanh nghiệp vi phạm lợi dụng. Vì vậy, cần có biện pháp khắc phục những kẽ hở này để chặn đứng việc nhập lậu hàng giả qua hải quan. Đối với hàng hóa sản xuất trong nước: Tăng cƣờng các biện pháp chống hàng giả từ phía doanh nghiệp. Để bảo vệ thƣơng hiệu và uy tín của doanh nghiệp, trƣớc hết các doanh nghiệp phải tự bảo vệ sản phẩm của mình bằng việc áp dụng các biện pháp chống hàng giả nhƣ thực hiện đầy đủ các quy định về công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sử dụng tem chống hàng giả, đăng ký sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, mã số, mã vạch. Thứ ba, đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống hàng giả.
  • 81. 81 Phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên, quan trọng đƣa pháp luật vào cuộc sống. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống hàng giả, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát huy vai trò tích cực là cầu nối đƣa pháp luật đến với đời sống xã hội, trong đó có pháp luật về phòng, chống hàng giả cần tập trung đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về cả nội dung và hình thức. Về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật: Triển khai phong phú nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật nhƣ tƣ vấn, hƣớng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật, thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng (loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động), thông qua hoạt động của cơ quan, tổ chức, trƣờng học, khu dân cƣ, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở,... Thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật, huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Về nội dung phổ biến giáo dục pháp luật: Điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến công tác phòng, chống hàng giả có sự tham gia của nhiều văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực nhƣ hình sự, xử lý vi phạm hành chính, sở hữu trí tuệ, quản lý chất lƣợng hàng hóa và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống hàng giả cần đƣợc thực hiện đa dạng về nội dung tuyên truyền nhƣ quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng giả, Luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng, Luật sở hữu trí tuệ, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa; Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ về xử
  • 82. 82 phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ ngƣời tiêu dùng. Thứ tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về hàng giả để phục vụ công tác chuyên môn đồng thời hỗ trợ và tƣ vấn cho doanh nghiệp, ngƣời tiêu dùng trong đấu tranh phòng chống hàng giả và tích cực tham gia tố giác tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả: Mục đích của biện pháp này là "giảm cầu" đối với hàng giả thông qua việc cung cấp các tiêu chí để ngƣời tiêu dùng phân biệt đƣợc hàng thật và hàng giả; tác động để ngƣời tiêu dùng đóng vai trò chủ động trong việc tố giác vi phạm với các cơ quan chức năng, thực hiện xã hội hoá công tác đấu tranh chống hàng giả. Để triển khai thực hiện tốt giải pháp này, bên cạnh sự tham gia vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phƣơng và đông đảo ngƣời tiêu dùng cần có sự tham gia tích cực, chủ động từ phía các doanh nghiệp. Bằng việc cung cấp cho ngƣời tiêu dùng các thông tin để nhận biết, phân biệt hàng giả với hàng thật, cũng nhƣ có chính sách quan tâm đối với ngƣời tiêu dùng, phát hiện, tố giác hàng giả là hành động thiết thực để doanh nghiệp tự bảo vệ thƣơng hiệu, sản phẩm của mình, góp phần thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng hàng giả và gian lận thƣơng mại. Thứ năm, tăng cƣờng hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Hàng giả là vấn đề mang tính chất quốc tế, chứ không thuộc về một quốc gia nào. Do đó, đấu tranh phòng, chống hàng giả là cuộc đấu tranh chung của các quốc gia trên thế giới. Trong cuộc đấu tranh ấy, các quốc gia, các tổ chức quốc tế cần có sự hợp tác chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để ngăn chặn và đẩy lùi nạn hàng giả. Trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia nhiều quan hệ đa phƣơng, song phƣơng về phòng chống hàng giả và gian lận thƣơng mại, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả công tác phòng chống hàng giả.
  • 83. 83 Tăng cƣờng hợp tác quốc tế về phòng chống sản xuất và buôn bán hàng giả trong thời gian tới, cần tập trung vào một số nội dung nhƣ: Phối hợp với các lực lƣợng chức năng nƣớc ngoài thanh tra, kiểm soát ở khu vực biên giới, cửa khẩu nhằm ngăn chặn các luồng hàng giả xâm nhập vào thị trƣờng trong nƣớc cũng nhƣ ra nƣớc ngoài; Mở rộng hợp tác quốc tế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới trong đấu tranh chống tội phạm hàng giả, tiếp thu có chọn lọc công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả của một số quốc gia có đặc điểm chung về phát triển kinh tế - xã hội với nƣớc ta. KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS còn bộc lộ hạn chế. Qua tìm hiểu thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này ở Chƣơng 2 tác giả đã chỉ ra một số hạn chế mang tính chất chủ quan từ sự nhận thức và áp dụng pháp luật, cũng nhƣ các nguyên nhân khách quan từ sự bất cập của quy định pháp luật. Trong phạm vi Chƣơng 3, tác giả đã tập trung giải quyết và đề xuất một số giải pháp để khắc phục những nguyên nhân này. Đối với các nguyên nhân từ các quy định của pháp luật hiện hành, theo tác giả luận văn cần có hƣớng dẫn cụ thể về một số tình tiết định tội, định khung; quy định mức hình phạt tiền linh hoạt và tƣơng xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, bổ sung chủ thể là tổ chức phạm tội và hình phạt đối với chủ thể này; bổ sung đối tƣợng của tội phạm quy định tại Điều 157, 158 BLHS thành đối tƣợng của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 BLHS thuộc trƣờng hợp tăng nặng định khung. Đồng thời với việc hoàn thiện quy định của BLHS về hàng giả cần hoàn thiện các quy định pháp luật khác về phòng, chống hàng giả. Bên cạnh đó, cần thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử về tội sản xuất buôn bán hàng giả và phòng chống tội phạm về hàng giả nhƣ: Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử về hàng giả, trong đó trú trọng vào công tác
  • 84. 84 điều tra ban đầu nhằm kịp thời phát hiện tội phạm về hàng giả, hạn chế tình trạng tội phạm ẩn nhƣ bỏ lọt tội phạm, hành chính hóa tội phạm về hàng giả, nâng cao chất lƣợng hoạt động của cơ quan giám định; Đẩy mạnh quản lý hàng hóa nhập khẩu, tăng cƣờng các biện pháp chống hàng giả từ phía doanh nghiệp; Tăng cƣờng cơ chế phối hợp trong đấu tranh phòng chống hàng giả trong và ngoài nƣớc; Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thông tin, tuyên truyền để ngƣời tiêu dùng nhận biết, phân biệt hàng hóa vi phạm và tham gia tố giác tội phạm.
  • 85. 85 KẾT LUẬN Tóm lại, qua nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ luật học: "Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999", có thể đƣa ra một số kết luận chung dƣới đây: 1. Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, tác giả luận văn nhận thấy về cơ bản, pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng đã vận động và phát triển trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển những giá trị của luật hình sự Việt Nam các giai đoạn trƣớc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của pháp luật hình sự một số nƣớc trên thế giới, từng bƣớc hoàn thiện và hội nhập. Qua mỗi thời kỳ lại đánh dấu một bƣớc tiến mới của lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam. 2. Để hiểu rõ đƣợc tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của pháp luật Việt Nam, trong luận văn tác giả đã đi sâu phân tích các khái niệm về tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng giả. Bên cạnh đó làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả. 3. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam trong thời gian qua đã đƣợc trú trọng. Tuy nhiên, hiệu quả chƣa cao. Tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả đang diễn biến phức tạp và có chiều hƣớng gia tăng, gây nhức nhối trong xã hội. Tỉ lệ các vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả so với số vụ vi phạm về hàng giả và số vụ án hình sự trong 5 năm (2009-2013) là quá thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của cuộc đấu tranh chống hàng giả và gian lận thƣơng mại. Vì vậy, việc đấu tranh làm giảm số vụ phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay. 4. Tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả không phải là một tội phạm mới, tuy vậy do đặc thù của tội phạm này trong quá trình xử lý tội phạm này cho đến nay vẫn còn tồn tạn một số khó khăn, vƣớng mắc từ quy định của
  • 86. 86 pháp luật và trong công tác đấu tranh chống tội phạm... Để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm này một cách có hiệu quả cần phải từng bƣớc tháo gỡ các khó khăn, vƣớng mắc nêu trên để ngăn chặn sự gia tăng và từng bƣớc đẩy lùi loại tội phạm nguy hiểm này. 5. Trên cơ sở nghiên cứu về tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng giả, tác giả luận văn cho rằng cần thiết phải tiến hành một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm này trong thời gian tới: Về pháp luật: Từng bƣớc hoàn thiện pháp luật về tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả, đồng thời bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật khác về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả. Về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả: Để thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp với sự tham gia của các cấp, các ngành, các địa phƣơng và của toàn xã hội nhằm đẩy lùi và loại trừ hoàn toàn hàng giả trong xã hội.
  • 87. 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Thƣơng mại - Bộ Tài chính - Bộ Công an - Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng (2000), Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000 hướng dẫn Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, Hà Nội. 2. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa họ luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 3. Nguyễn Ngọc Chí (2008), Hoàn thiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trước yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 23/5. 4. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh của Chủ tịch chính phủ lâm thời số 47 ngày 10/10/1945. 5. Chính phủ (2006), Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 về nhãn hàng hóa, Hà Nội. 6. Chính phủ (2012), Nghị quyết 10/NQ-CP ngày 24/4/2012 của Chính phủ về Chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011-2020, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm2011-2015, Hà Nội. 7. Chính phủ (2013), Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội. 8. Thế Dƣơng (2013) Lần đầu tiên xét xử vụ án làm hàng nhái tại thành phố Hồ Chí Minh, website: www.vtv.vn, http://vtv.vn/Kinh-te/Lan-dau-tien-xet-xu-vu-an-lam- hang-nhai-tai-TPHCM/69352.vtv, ngày16/5. 9. H.Giang - M.Quang (2013), Khu vực Đông Á – Thái Bình Dương: Tội phạm kiếm được nhiều tiền nhất từ hàng giả, website: tuoitre.vn, http://tuoitre.vn/Chinh-tri- Xa-hoi/563847/toi-pham-kiem-duoc-nhieu-tien-nhat-tu-hang-gia.html, ngày15/8. 10. Thu Hiền (2013), Hàng giả - Tội phạm lớn nhất thế kỷ 21, website: vtv.vn, http://vtv.vn/Kinh-te/Hang-gia-Toi-pham-lon-nhat-the-ky21/88160.vtv, ngày06/11.
  • 88. 88 11. Hội đồng Chính phủ Lâm thời Miền nam Việt nam (1976), Sắc lệnh số 03 ngày 15 tháng 3 năm1976. 12. Hội đồng Nhà nƣớc (1982), Pháp lệnh số 07-LCT/HDDNN7 ngày 10/7/1982 về trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làmhàng giả, kinh doanh trái phép, Hà Nội. 13. Hội đồng Bộ trƣởng (1983), Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 của Hội đồng Bộ trưởng về kiểmtra xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả, Hà Nội. 14. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 về hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật hình sự, Hà Nội. 15. Hội đồng Bộ trƣởng (1991), Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định việc xử lý hành chính hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, Hà Nội. 16. Thu Hƣơng (2013), Thế gới nhức nhối với đại dịch hàng nhái, website: 24h.com.vn, http://hn.24h.com.vn/thoi-trang/the-gioi-nhuc-nhoi-voi-dai-nan-do- fake-c78a589617.html, ngày23/11. 17. Thịnh Hƣng (2013), Báo động về hàng giả, website: www.thanhnien.com.vn, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121130/bao-dong-ve-hang-gia.aspx, ngày 09/6. 18. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 19. Nguyễn Thị Lâm (2013) - VKSND huyện Thuận Thành, Thuận Thành: Xét xử lưu động vụ án buôn bán hàng giả, website: vksbacninh.gov.vn http://vksbacninh.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1536 :xet-xu-luu-dong-02-vu-an-tang-tru-trai-phep-chat-ma-tuy-tai-luong- tai&catid=46:tin-phap-luat&Itemid=77, ngày22/08. 20. Nguyễn Long (2014), Buôn bán hàng giả, lĩnh án tù, website: www.anninhthudo.vn,http://www.anninhthudo.vn/Ky-su-phap-dinh/Buon-hang- gia-linh-an-tu/532542.antd, ngày10/01.
  • 89. 89 21. Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm, Tập VI), Nxb. TP. Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh. 22. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hà Nội. 23. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự, Hà Nội. 24. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hà Nội. 25. Quốc hội, (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội. 26. Quốc hội (2001), Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001, Hà Nội. 27. Quốc hội (2005), Luật sở hữu trí tuệ, Hà Nội. 28. Quốc hội (2007), Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, ngày 29/6, Hà Nội. 29. Quốc hội (2007), Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, ngày 21/11, Hà Nội. 30. Quốc hội (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Hà Nội. 31. Quốc hội, (2010), Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,, Hà Nội. 32. Quốc hội (2012), Luật xử lý vi phạmhành chính, ngày20/6, Hà Nội. 33. Lê Sơn (2013), Mất niềm tin với tem chất lượng, website: tuoitre.vn, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/548001/mat-niem-tin-voitem%C2%A0-chat- luong.html#ad-image-0, ngày13/5. 34. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 1), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. 35. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 2), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. 36. Nguyễn Trƣờng Thành (2013), Đề nghị xem xét vụ án Hà Minh Tuấn bị khởi tố điều tra về tội ''Sản xuất mua bán hàng giả", website: www.vanly.com.vn, http://www.vanly.com.vn/index.php/phap-luat/De-nghi-xem-xet-vu-an-Ha-Minh- Tuan-bi-truy-to-ve-toi-San-xuat-mua-ban-hang-gia-Lan-2-2548, ngày27/9. 37. Thủ tƣớng Chính phủ (1999), Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 về dấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, Hà Nội.
  • 90. 90 38. Thủ tƣớng Chính phủ (2008), Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg ngày 08/9/2008 về một số biện pháp cấp bách chống hàng giả, hàng kém chất lượng, Hà Nội. 39. Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội (1970), Pháp lệnh 150-LCT ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của Công dân. 40. Ủy ban khoa học Nhà nƣớc - Bộ Thƣơng mại và Du lịch (1991), Thông tư liên tịch số 1254-TTLT ngày 08/11/1991 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 140/HĐBT, Hà Nội. 41. Phùng Thế Vắc - Trần Văn Luyện - Phạm Thanh Bình - Nguyễn Đức Mai - Nguyễn Sỹ Đại - Nguyễn mai Bộ (2001), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm), Nxb. Công an nhân dân. 42. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tƣ pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tƣ pháp, Hà Nội. 43. Viện Khoa học xét xử (1998), "Luật hình sự một số nƣớc trên thế giới", Dân chủ và pháp luật (Số chuyên đề). 44. Thế Vĩnh (2013), Hàng giả ngày càng tinh vi, website: baocongthuong.com.vn, http://baocongthuong.com.vn/thi-truong-sang- toi/46150/hang-gia-ngay-cang-tinh- vi.htm#.U4RTj3ZGCho, ngày06/12. 45. Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hành sự về kinh tế và chức vụ - VKSND tối cao (2010), Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các vụ án về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp (Đề tài nghiên cứu cấp bộ), Hà Nội. 46. H.Vũ (2010), "Xuất ngoại" đặt làm hàng giả, website: www.cand.com.vn, www.cand.com.vn/vi-VN/phongsu/2010/9/141202.cand, ngày19/12.