ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU THẢO
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ
LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LIÊN
HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 TRONG VIỆC BẢO VỆ
CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU THẢO
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ
LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LIÊN
HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 TRONG VIỆC BẢO VỆ
CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến
Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bản đồ
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ VÀ CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN
QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG
ƢỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982............................................................. 7
1.1. Vị trí chiến lƣợc của Biển Đông.......................................................... 7
1.1.1. Biển Đông - Tuyến đường giao thông quan trọng.....................................7
1.1.2. Biển Đông - Khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và nhiên liệu .........9
1.1.3. Biển Đông – Khu vực quan trọng về chính trị và an ninh quốc gia .11
1.2. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông..............................................12
1.2.1. Tranh chấp phát sinh trong quá trình phân định ranh giới biển.........12
1.2.2. Tranh chấp đối với Hoàng Sa và Trường Sa............................................15
1.2.3. Tranh chấp liên quan quyền khai thác và sử dụng biển........................19
1.2.4. Tranh chấp phát sinh từ yêu sách phi lý, vô căn cứ đường lưỡi bò của
Trung Quốc ..........................................................................................................................21
1.3. Khái quát về các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục
VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982
.........................................................................................................................25
1.3.1. Tòa án quốc tế về Luật Biển..........................................................................26
1.3.2. Tòa trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt .......................................................28
CHƢƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC, THẨM QUYỀN, THỦ TỤC TỐ TỤNG VÀ
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO
PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN
NĂM 1982..................................................................................................................................................32
2.1. Tòa án quốc tế về luật biển................................................................32
2.1.1. Cơ cấu tổ chức của Tòa án quốc tế về Luật biển....................................32
2.1.2. Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về Luật Biển ........................................38
2.1.3. Thủ tục tố tụng của Tòa án quốc tế về Luật Biển...................................46
2.1.4. Thực tiễn xét xử.................................................................................................52
2.2. Tòa Trọng tài......................................................................................58
2.2.1. Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982.......................................58
2.2.2. Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII UNCLOS 1982............................75
CHƢƠNG 3: NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÁC CƠ QUAN
TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII, PHỤ LỤC VIII CỦA
CÔNG ƢỚC LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN..................................................................78
3.1. Thời cơ, thách thức khi Việt Nam để sử dụng cơ quan tài phán
quốc tế để bảo vệ chủ quyền trên biển Đông..............................................78
3.1.1. Thời cơ..................................................................................................................78
3.1.2. Thách thức.........................................................................................92
3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ cơ cấu tổ chức và thực tiễn
xét xử của cơ quan tài phán quốc tế..........................................................100
3.2.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của các cơ
quan tài phán quốc tế ..................................................................................................... 100
3.2.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử của các cơ quan tài phán
quốc tế……………………………………………………………………...107
3.3. Giải pháp cho Việt Nam để sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế
theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc Luật biển
năm 1982 ......................................................................................................113
3.3.1. Trình tự, thủ tục đưa vụ việc ra trước các cơ quan tài phán quốc
tế.............................................................................................................113
3.3.2. Sự chuẩn bị về các chứng cứ pháp lý của Việt Nam......................... 116
3.3.3. Lập hồ sơ pháp lý........................................................................................... 123
3.3.4. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực Luật Biển quốc tế ................... 128
KẾT LUẬN...............................................................................................................................................131
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Cộng đồng các nước Đông Nam Á
COC : Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
DOC : Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông
ITLOS : Tòa án quốc tế về luật biển
LHQ : Liên Hợp Quốc
UNCLOS : Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Số
hiệu
Tên hình Trang
1.1 Bản đồ đường lưỡi bò theo yêu sách của Trung Quốc 22
2.1 Bản đồ vùng biển tranh chấp giữa Myanmar và Bangladesh 56
2.2 Bản đồ vùng biển tranh chấp giữa Guyana và Suriname 65
3.1 Sơ đồ các vùng biển của Việt Nam 78
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên sinh vật, vi sinh vật, Biển Đông
đang là nơi diễn ra hàng loạt các tranh chấp về chủ quyền đảo, quần đảo,
tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán các vùng biển chồng lấn,... Trong đó có
thể kể ra các tranh chấp đó là các tranh chấp trong vùng Vịnh Thái Lan của
bốn nước Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Campuchia; tranh chấp quần đảo
Trường Sa của bốn nước và năm bên: Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan,
Philipines, Malaysia. Cùng với đó là sự quan tâm của các cường quốc hàng
hải trên thế giới, các nước lớn trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và
trên thế giới. Tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông đã trở thành điểm
nóng khi sự bất ổn gia tăng do các hoạt động phô trương tiềm lực quân sự,
chính trị... của một số nước trong khu vực.
Trong bối cảnh hiện nay, các bên tranh chấp cần phải giải quyết các tranh
chấp bằng các phương pháp hòa bình được quy định cụ thể trong Điều 33
Hiến chương của LHQ và đặc biệt là theo Công ước của LHQ về Luật Biển
(UNCLOS 1982). Các nước trong khu vực cũng đã có những cuộc đàm phán
song phương, đa phương nhằm giải quyết các tranh chấp về chủ quyền trên
biển của các quốc gia. Việc đàm phán cũng góp phần “hạ nhiệt” các mâu
thuẫn, xung đột giữa các quốc gia. Đồng thời một số cuộc đàm phán cũng đi
đến những thống nhất nhất định bằng việc ký kết các hiệp định về khai thác
chung, hiệp định phân định biển… Tuy nhiên, có một số tranh chấp do lập
trường của các bên xung đột gay gắt với nhau nên việc đàm phán không đưa
lại được kết quả tốt đẹp.
Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế cũng là một
trong các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế. Hiện nay, có
2
các cơ quan tài phán quốc tế giải quyết các tranh chấp trên biển được ghi nhận
để trong Hiến chương LHQ và UNCLOS 1982 như sau:
- Tòa án Công lý quốc tế;
- Tòa án quốc tế về Luật Biển;
- Tòa Trọng tài thường trực Lahaye;
- Tòa Trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII UNCLOS 1982;
- Tòa Trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lục VIII UNCLOS
1982.
Các cơ quan tài phán quốc tế trên đều có vị trí, vai trò và thẩm quyền
khác nhau. Trong đó có cơ quan Tòa án Quốc tế về Luật biển, Trọng tài và
Trọng tài đặc biệt là cơ quan tài phán quốc tế được thành lập và hoạt động
trên cơ sở của UNCLOS 1982 theo lần lượt các Phụ lục VI, Phụ lục VII và
Phụ lục VIII. Với đội ngũ Thẩm phán, Trọng tài viên được lựa chọn từ các
nhân vật uy tín nhất về công bằng, liêm khiết và có năng lực chuyên môn
trong lĩnh vực luật biển từ đó tạo ra triển vọng các tranh chấp quốc tế được
xét xử một cách công bằng và nghiêm minh.
Kể từ khi tham gia UNCLOS 1982, Việt Nam chưa có tiền lệ nào về việc
giải quyết tranh chấp liên quan đến biển đảo tại các cơ quan tài phán quốc tế
trong khuôn khổ của UNCLOS 1982. Vì rất nhiều nguyên nhân khách quan
và chủ quan mà chúng ta thường giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp
thông qua đàm phán, thương lượng và hòa giải. Đến nay, tình hình chính trị,
xã hội thế giới biến đổi phức tạp, có rất nhiều tranh chấp giữa Việt Nam và
các nước hữu quan mà các biện pháp đàm phán, hòa giải đi vào bế tắc. Vì vậy
việc áp dụng các biện pháp tài phán quốc tế để bảo vệ chủ quyền quốc gia
trên biển là biện pháp cần được dự liệu và có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Trước yêu
cầu trên, Luận văn nghiên cứu vấn đề về: “Vấn đề sử dụng cơ quan tài
phán quốc tế theo Phụ lục VI , Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công
ƣớc Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982 trong việc bảo vệ chủ quyền
của Việt Nam trên Biển Đông”.
3
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ngoài, trước tiên phải kể đến website chính thức của Tòa án quốc
tế về luật biển là: http://www.itlos.org/ giới thiệu chi tiết về cơ cấu tổ chức,
thẩm quyền, thủ tục tố tụng cũng như thực tiễn xét xử của Tòa án.
Hơn nữa, do thuận lợi về ngôn ngữ cũng như sự phát triển về pháp luật
nên các học giả quốc tế cũng đã nghiên cứu khá chi tiết về các vấn đề cơ quan
tài phán quốc tế và vận dụng vào giải quyết tranh chấp của quốc gia họ. Trong
đó, có thể kể đến là các bài nghiên cứu sau:
- Tác giả Rosenne Shabtai: “The law and practise of the International
Court”;
- Tác giả Rosenne Shabtai: “Eassays on the law of the sea and on the
internatinal Tribunal for the law of the sea”;
- Tác giả Oda Shigeru: “Dispute Settlment Prospects in the law of the
sea”;
- Tác giả Nguyen Quoc Dinh: “Droit International Public” ;
- Tác giả Mom Ravin: “ITLOS and Dispute Settlement Mechanisms of
the United Nations Convention on the Law of the Sea”;
...
Ở Việt Nam hiện nay do chưa có tiền lệ nào giải quyết các tranh chấp về
biển đảo cũng như các vấn đề liên quan tại các cơ quan tài phán quốc tế nên
chưa được nghiên cứu nhiều. Ngoài các nội dung chung chung được đề cập
trong giáo trình của các trường đại học, chỉ có một số các học giả quan tâm và
nghiên cứu.
Trong đó, đặc biệt phải kể đến đó là: “Tòa án Quốc tế về Luật biển” của
PGS, TS Nguyễn Hồng Thao.
Bài viết: “Khả năng sử dụng Tòa Trọng tài quốc tế về Luật Biển trong
tranh chấp Biển Đông” của PGS, TS Nguyễn Hồng Thao.
4
Bài viết: “Sự phát triển luật biển quốc tế và một số giải pháp để giải quyết
tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông” của Bùi Quang Sơn.
Bài viết: “Suy nghĩ về giải pháp pháp lý cho Việt Nam trước vụ kiện
Philipines” của Phạm Vũ Thắng đăng trên tạp chí Khoa học Đại học quốc gia
Hà Nội.
Bài viết: “Cơ chế về giải quyết tranh chấp về đánh cá trên biển” của
Nguyễn Thị Hà.
…
Ngoài ra việc nghiên cứu về sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thông
qua các cơ quan tài phán quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982 chỉ được
nhắc đến thoáng qua thông qua các bài nghiên cứu, bài phân tích về bảo vệ
chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng và Biển Đông
nói chung. Vì vậy, các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của các cơ quan tài
phán quyết quốc tế này chưa được nghiên cứu có quy mô và chuyên sâu để
xứng tầm với vai trò giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện và
áp dụng UNCLOS 1982.
Với điều kiện nước ta là nước có đường bờ biển dài 3.260 km [37] không
kể các đảo, đặc biệt trong tình hình Biển Đông đang có hàng loạt các tranh
chấp chủ quyền đảo, chủ quyền quốc gia ... thì nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần
có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các cơ quan tài phán quốc tế theo
UNCLOS 1982. Dựa trên các nghiên cứu đó để giúp Việt Nam sử dụng hiệu
quả các cơ quan này trong giải quyết chủ quyền trên Biển Đông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Trình bày, phân tích và đánh giá về vị trí chiến lược của Biển Đông đối
với kinh tế, chính trị thế giới cũng như Việt Nam; các tranh chấp thực tế trên
biển Đông hiện nay;
5
- Tìm hiểu về lịch sử hình thành, thành phần và cơ cấu tổ chức, thẩm
quyền xét xử, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án của LHQ về
Luật biển, Tòa Trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt theo quy định của
UNCLOS 1982;
- Từ đó, Luận văn rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất
các phương án để Việt Nam có thể đưa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông ra các
cơ quan tài phán quốc tế.
4. Tính mới và những đóng góp của Luận văn
Làm rõ thêm về cơ quan Tòa án LHQ về Luật biển; nghiên cứu, phân tích
về thẩm quyền, tổ chức và hoạt động của Tòa trọng tài quốc tế về luật biển và
Tòa trọng tài đặc biệt.
Đề xuất các giải pháp cho Việt Nam trong việc đưa tranh chấp về chủ
quyền ra các cơ quan tài phán quốc tế.
Khuyến cáo về việc cần phải chuẩn bị về nhân sự cũng như về các chứng
cứ, lý lẽ để bảo vệ được chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các quy định của Công ước của Liên
Hợp Quốc về luật biển, đặc biệt là trong Phụ lục VI, Phụ lục VII, Phụ lục VIII
của Công ước. Trong quá trình nghiên cứu có đề cập đến các quy định về biển
của pháp luật Việt Nam.
6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm, lập trường chính thức của Nhà nước
Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông. Dựa trên cơ sở lý luận, các
căn cứ pháp lý về xác lập chủ quyền theo quy định của luật pháp và thực tiễn
quốc tế.
Để giải quyết đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp sử học;
6
- Phương pháp logic học;
- Phương pháp so sánh, đánh giá, phân tích, tổng hợp và thống kê từ
nhiều nguồn tài liệu khác nhau;
- Cùng với các phương pháp trên, luận văn luôn dựa theo quan điểm sử
học Macxit và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để tìm hiểu
nghiên cứu các vấn đề này.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được cơ cấu thành 03 chương như sau:
Chƣơng 1: Tổng quan về Biển Đông và và các cơ quan tài phán quốc
tế theo Phụ lục VI, phụ lục VII và phụ lục VIII của Công ƣớc của Liên
hiệp quốc về Luật Biển 1982.
Chƣơng 2: Cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục tố tụng và thực tiễn
hoạt động của các cơ quan tài phán quốc tế đƣợc quy định tại Phụ lục VI,
Phụ lục VII và Phụ lục VIII theo Công ƣớc Liên hiệp quốc về Luật Biển
1982.
Chƣơng 3: Những khuyến nghị và giải pháp sử dụng các cơ quan tài
phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc
LHQ về Luật biển 1982 để bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển Đông.
7
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ VÀ CÁC CƠ QUAN TÀI
PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC
VIII CỦA CÔNG ƢỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982
1.1. Vị trí chiến lƣợc của Biển Đông
Biển Đông là một biển nửa kín, diện tích khoảng 3,5 triệu km2
, trải rộng
từ vĩ độ 30
lên đến vĩ độ 260
Bắc và từ kinh độ 1000
đến 1210
Đông. Đây là
biển lớn ở Châu Á Thái Bình Dương, được bao bọc bởi mười quốc gia:
Trung Quốc và Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia,
Singapo, Indonexia, Brunei và Philipines. Biển Đông bao gồm 200 hòn đảo,
trong đó có nhiều đảo chìm, đảo đá và các bãi đá ngầm. Đồng thời đó cũng là
vùng biển có hệ sinh học đa dạng phong phú cũng các nguồn tài nguyên biển,
bao gồm các nguồn năng lượng hydrocarbon, các ngư trường và 30% rặng đá
san hô ngầm trên thế giới. Là tuyến đường ngắn nhất giữa Thái Bình Dương
và Ấn Độ Dương, Biển Đông gần như một tuyến đường hàng hải cao tốc,
đóng vai trò như một cầu nối tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương
mại giữa Trung Quốc với Ấn Độ, giữa Đông Á và Đông Nam Á với Trung
Đông. Đồng thời, Biển Đông cũng bao quanh một trong khu vực kinh tế năng
động nhất thế giới và là khu vực có những quốc gia hàng hải hàng đầu đang
chiếm giữ tỷ trọng lớn trên thế giới về năng lực chuyên chở hàng hóa và số
lượng hàng hóa lưu thông trên các cảng.
1.1.1. Biển Đông - Tuyến đƣờng giao thông quan trọng
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền
Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á.
Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới.
Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có
khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ
30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển,
8
trong đó có hai cảng thuộc loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore
và cảng Hồng Kông. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng phát
triển ở khu vực [35].
Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào các
con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả
Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài
nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn
Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực
hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông.
Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp
15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực biển Đông có những
eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược
của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt eo biển Malacca là eo
biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới [36].
Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại qua lại ở Biển Đông, trong
đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng
tải từ 3.000 tấn trở lên. Tàu đi qua eo biển Malacca hàng năm lên đến 18.000
chiếc, chuyên chở 25% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung và
50% khối lượng dầu mỏ, 66% khối lượng khí đốt thiên nhiên của cả thế giới.
Năm 2010, tổng lượng nhập khẩu dầu của Trung Quốc là 150 triệu tấn. Nhật
Bản coi đường vận tải qua eo biển Malacca là “con đường sinh mệnh” với
90% khối lượng dầu thô và một lượng lớn nguyên vật liệu khác nhập khẩu từ
Châu Phi và Trung Đông. Hàn Quốc có 79% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu từ
Trung Đông đi qua khu vực này. Quan hệ hàng hóa và thị trường giữa Mỹ và
Trung Quốc, các nước Đông Nam Á tăng đáng kể với hơn một triệu tấn hàng
hóa trao đổi qua Biển Đông [35].
9
Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của châu Á có hai điểm
trọng yếu: Điểm thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của
lndonesia và Malaysia). Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hóa của
các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. (Ba eo biển thuộc chủ quyền
của lndonesia là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong
tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do nào đó. Tuy nhiên, nếu
phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hóa giữa Ấn Độ Dương sang
ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn). Điểm
trọng yếu thứ hai là vùng biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi
qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hóa
của nhiều nước châu Á. Xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản phải đi qua khu
vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới
26%, Australia 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la) [35].
Nếu khủng hoảng bùng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy
theo đường mới hoặc vòng qua Nam Australia thì cước phí vận tải thậm chí sẽ
tăng gấp năm lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
1.1.2. Biển Đông - Khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và nhiên liệu
1.1.2.1. Tài nguyên thiên nhiên
Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự đa dạng
sinh học cao so với các nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ
sinh thái và nguồn gen. Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam như
sự thay đổi nhiệt độ theo vĩ tuyến, mức độ trao đổi môi trường với các vùng
xung quanh, hình thái thềm lục địa… đã tạo nên những nét đặc trưng của các
hệ sinh thái giữa các vùng biển ở Biển Đông.
Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện được khoảng 11.000 loài
sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Trong đó có khoảng
10
6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài
san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật
phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài
rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển [35].
Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đã mang đến những ưu thế cho
đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh. Trữ lượng hải sản
đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn [35], cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị
kinh tế cao có thể khai thác được hàng năm. Trong khu vực, có các nước đánh
bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan,
Việt Nam, Indonesia và Philippines.
1.1.2.2. Tài nguyên nhiên liệu
Biển Đông được coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế
giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng
Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông
Hồng, cửa sông Châu Giang. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam xác
định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu
Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều
kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí
của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng
khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ m3
(theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu được kiểm chứng ở
biển Đông là 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày). Các khu
vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài
cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam.
Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và
Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài
nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi
11
là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng
dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng
thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và
các vùng biển quanh hai quần đảo.
1.1.3. Biển Đông – Khu vực quan trọng về chính trị và an ninh quốc
gia
Phía Tây nam Biển Đông giao lưu với Ấn Độ Dương qua eo biển Karimata
và eo biển Malaca. Phía bắc và phía đông của Biển Đông giao lưu với Thái
Bình Dương và qua các eo biển sâu rộng như eo biển Đài Loan rộng 100 hải
lý, sâu 70 và eo biển Bashi sâu hơn 1.800 m. Chính khả năng trao đổi với các
vùng biển lân cận qua các eo biển này mà Biển Đông đã tạo nên vị trí chiến
lược quan trọng trong an ninh quốc phòng khu vực.
Cụ thể Biển Đông với 4 eo biển: Malacca, Lombok, Sunda và Ombai trong
16 eo biển có mực nước sâu tự nhiên trên thế giới. Đây là những căn cứ có thể
triển khai các loại tầu ngầm hạt nhân chiến lược. Vùng biển sâu xung quanh
quần đảo Trường Sa có thể xây dựng thành các căn cứ cho tầu ngầm hạt nhân
cỡ lớn với bán kính kiểm soát lên tới 4.000 km [5].
Các đảo và quần đảo trong Biển Đông cũng có ý nghĩa phòng thủ quan
trọng với nhiều quốc gia. Trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có
vị trí rất quan trọng có thể kiểm soát các tuyến đường hàng hải qua lại Biển
Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm rađa, trạm thông tin, trạm
dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè.
Việt Nam có đặc điểm địa hình dài và hẹp trải dọc theo Biển Đông, vì thế
Biển Đông trở thành "lá chắn sườn phía Đông" hết sức quan trọng trong
phòng thủ đất nước. Lịch sử chống ngoại xâm thời cận và hiện đại của dân tộc
Việt Nam đã cho thấy Biển Đông là hướng hiểm yếu mà ngoại bang luôn lợi
dụng tấn công xâm lược. Vì vậy, yêu cầu đảm bảo chủ quyền trên Biển Đông
là điều kiện tiên quyết đặc biệt quan trọng nhưng cũng hết sức phức tạp.
12
1.2. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông
Tranh chấp Biển Đông là dạng tranh chấp quốc tế rất phức tạp do có nhiều
đối tượng tranh chấp, với sự tham gia của nhiều bên trong một khu vực còn
rất nhiều các vấn đề. Với vị trí chiến lược, Biển Đông trở thành khu vực rất
nhạy cảm do các quốc gia ven biển đang muốn tiến hành đa dạng hóa, đa
phương hóa các quan hệ quốc tế nhằm khai thác tiềm năng của Biển Đông.
Đặc biệt có quốc gia trong khu vực còn muốn biến Biển Đông thành “ao nhà”
của nước họ. Vì vậy tình hình tranh chấp trong khu vực ngày càng phức tạp
hơn. Các tranh chấp trong khu vực Biển Đông có thể tạm chia thành bốn loại
như sau:
1.2.1. Tranh chấp phát sinh trong quá trình phân định ranh giới biển
UNCLOS 1982 ra đời đóng vai trò như một bộ luật điều chỉnh vấn đề liên
quan đến biển của tất cả các quốc gia. Với các quy định rất cụ thể về vùng nội
thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa,
mỗi quốc gia đã có thể tự xác định được các vùng biển của quốc gia mình.
Tuy nhiên, với các quốc gia liền kề hay đối diện nhau lại có những tranh chấp
đối với các vùng chồng lấn. Vì vậy, giữa các quốc gia tranh chấp phải đàm
phán để đi đến giải quyết tranh chấp. Trong khuôn khổ luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu về các tranh chấp giữa Việt Nam với các nước trong khu vực.
1.2.1.1. Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia liền kề nhau và có Vịnh Bắc Bộ
là vịnh nằm giữa hai nước. Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp
định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh
Bắc Bộ vào ngày 25/12/2000. Thời gian tới, hai nước đang tiến hành đàm
phán để phân định vùng ngoài cửa vịnh.
Cuộc đàm phán phân định vùng trong cửa Vịnh của hai nước diễn ra trong
rất nhiều năm. Do áp dụng theo quy định của UNCLOS 1982, các quốc gia
13
đều có vùng đặc quyền kinh tế là 200 hải lý, nhưng do khoảng cách giữa hai
bờ chưa đến 200 hải lý nên hình thành nên vùng chống lấn gây khó khăn cho
việc quản lý, khai thác và bảo vệ. Hai bên đã áp dụng nguyên tắc áp công
bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh. Cuối cùng hai bên đã
thống nhất vạch đường biên giới nối 21 điểm, trong đó điểm từ 01 đến 9 là
biên giới lãnh hải, còn từ điểm 9 đến 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo đường hoạch định, Việt Nam hưởng
53,23% diện tích Vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh
[24].
Còn đối với vùng chồng lấn khoảng 1080 km2 [6] tại khu vực ngoài cửa
Vịnh Bắc Bộ, hiện nay qua các vòng đàm phán, các bên thu hẹp được phạm vi
phân định là khu vực biển nằm giữa bờ biển đảo của Việt Nam và bờ đảo Hải
Nam của Trung Quốc đối diện nhau. Theo quy định của UNCLOS 1982, do
bờ biển của hai nước trong khu vực phân định nhỏ hơn 400 hải lý nên hai
nước sẽ tồn tại khu vực chồng lấn đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hiện
nay, hai nước vẫn tiếp tục đàm phán để đi đến kết quả cuối cùng cho việc
phân định vùng biển ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ.
1.2.1.2. Tranh chấp giữa Việt Nam và Campuchia
Yêu sách chồng lấn trên Vịnh Thái Lan giữa Campuchia và Việt Nam vẫn
chưa được giải quyết. Trước đây, toàn bộ các đảo giữa Việt Nam và
Campuchia đều do Việt Nam quản lý. Chỉ đến năm 1939, Campuchia mới
chính thức quản lý về mặt hành chính và cảnh sát đối với các đảo ở phía Bắc
đường Brévié – đường được vạch ra theo bức thư của Toàn quyền Đông
Dương gửi cho Thống đốc Nam kỳ và khâm sứ Pháp ở Campuchia.
Đó là đường kinh tuyến bắc ở góc 14 độ G, vòng qua phía Bắc của đảo
Phú Quốc cách điểm nhô ra nhất của bờ phía Bắc đảo Phú Quốc 3 km. Năm
1982, Việt Nam và Campuchia đã ký Hiệp định về Vùng nước lịch sử giữa
14
hai bên trong đó thỏa thuận: “Hai bên vẫn lấy đường gọi là đường Brévié
được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này” [24].
Hiện nay, giữa hai bên còn tồn tại vấn đề vạch đường phân định biên giới
biển trong vùng nước lịch sử, lãnh hải và ranh giới biển chung trong vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa. Hai bên đã thống nhất giải quyết các vấn đề
trên theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích quan hệ hợp tác
hữu nghị, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế.
1.2.1.3. Tranh chấp giữa Việt Nam và Malaysia
Trong khu vực Vịnh Thái Lan, Việt Nam và Malaysia có khu vực chồng
lấn khoảng 2800km2
[6]. Năm 1940, hai nước đã phát hiện ra có ba mỏ dầu
khí có thể khai thác thương mại. Sau đó, cả hai bên đều nhận thấy việc phân
định ranh giới biển giữa hai nước cần nhiều thời gian và không thể khai thác
được các mỏ khí phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Năm
1992, hai bên nhất trí ký kết thỏa thuận về “hợp tác khai thác chung” vùng
chồng lấn trên cơ sở bình đẳng về mọi mặt: vốn, lợi nhuận… Đây là thỏa
thuận hợp tác chung khai thác dầu khí đầu tiên của nước ta với các nước láng
giềng.
1.2.1.4. Tranh chấp giữa Việt Nam và Indonexia
Inđônexia là quốc gia có quy chế quốc gia quần đảo nằm khá xa Việt Nam.
Giữa hai nước tồn tại vấn đề về vạch đường ranh giới vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa.
Hai bên đã tiến hành đàm phán từ năm 1978 trên cơ sở pháp luật quốc tế và
thực tiễn điều kiện tự nhiên của vùng chống lấn. Quá trình đàm phán kéo dài 26
năm, ngày 26/6/2003, hai nước đã ký kết hiệp định về phân định thềm lục địa.
Hiệp định được ký kết giúp gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định và phù hợp
với luật biển quốc tế trên Biển Đông tạo cơ hội cho các bên tìm kiếm, thăm dò,
khai thác trên thềm lục địa của hai nước. Trong thời gian tới, hai nước sẽ tiến
hành tiếp tục đàm phán về việc phân định vùng đặc quyền kinh tế.
15
1.2.1.5. Tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan
Việt Nam và Thái Lan đã quy định phạm vi thềm lục địa của mình và hình
thành nên vùng chồng lấn khoảng 6.000 km2
[24] giữa hai nước. Vùng biển
chồng lấn là vùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Sau nhiều năm đàm phán,
thương lượng, tháng 8/1997, hai nước đã ký hiệp định vạch đường biên giới
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai bên theo một đường dài 137
km. Đây là hiệp định vạch đường biên giới biển đầu tiên Việt Nam ký với các
nước láng giềng. Sau khi ký kết hiệp định, hai bên tiến hành công tác tuần tra
chung, mở rộng các lĩnh vực hợp tác trong phòng chống tội phạm trên biển
như đánh bắt trái phép, cướp có vũ trang… góp phần ổn định tình hình trên
biển, tăng cường sự hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lan.
1.2.2. Tranh chấp đối với Hoàng Sa và Trƣờng Sa
1.2.2.1. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa
Đây là tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam. Việt Nam đã có lịch sử
thực hiện chủ quyền của mình tại Hoàng Sa từ những năm đầu thế kỷ XX
(1909). Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội thực dân Pháp rút khỏi Đông
Dương theo Hiệp định Giơneve và chính quyền Nam Việt Nam chưa tiếp
quản Hoàng Sa, Trung Quốc đưa quân chiếm nhóm phía Đông của Hoàng Sa.
Đến năm 1974, lợi dụng tình hình quân đội của Chính quyền Sài Gòn
đang trên đà suy sụp, quân viễn chinh của Mỹ buộc rút khỏi miền Nam Việt
Nam, Trung Quốc đã đưa quân ra chiếm nhóm Tây Hoàng Sa do quân đội Sài
Gòn đóng giữ. Mọi hành động nói trên của phía Trung Quốc đều bị Việt Nam
chống trả và chính thức lên tiếng phản đối với tư cách là nhà nước có chủ
quyền đối với Hoàng Sa.
1.2.2.2. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với quần đảo Trƣờng Sa
Đây là tranh chấp giữa năm nước, sáu bên giữa Việt Nam, Trung Quốc,
Đài Loan, Philipines, Malaysia và Bruney. Cụ thể, yêu sách của từng nước
đối với quần đảo Trường Sa như sau [15]:
16
Quan điểm của Trung Quốc
Những năm 30 của thế kỷ XX, Công sứ của Trung Quốc ở Paris đã gửi
công hàm cho Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp năm 1932 khẳng định: “Các đảo
Nam Sa là bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc, xa nhất là phía Nam”. Năm
1956, Đài Loan đưa quân chiếm đảo Ba Bình. Năm 1988, Trung Quốc đưa
quân chiếm 6 vị trí là những bãi cạn phía Tây Trường Sa, ra sức củng cố các
địa điểm này thành nơi đóng quân. Sau đó chiếm thêm đá Vành Khăn (phía
Đông Trường Sơn), Trung Quốc đã chiếm 7 vị trí trên quần đảo Trường Sa.
Trước đây, Trung Quốc cũng không đưa ra được lập luận nào xác đáng cho
hành động chiếm đóng Trường Sa của mình. Hiện nay, Trung Quốc đưa ra lập
lập đường lưỡi bò để khẳng định cho chủ quyền của mình tại Trường Sa dựa
trên căn cứ về vùng nước lịch sử.
Quan điểm của Đài Loan: Ngày 21/5/1992, Đài Loan thông qua một
đạo luật tuyên bố chủ quyền và lãnh hải, theo đạo luật này toàn bộ quần đảo
Trường Sa thuộc chủ quyền của Đài Loan. Hiện nay, Đài Loan đang chiếm
đóng trên đảo Ba Bình, là đảo có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường
Sa. Tháng 8/2003, Đài Loan đã cho cắm cờ trên bãi Bàn Than (bãi đá san hô
nửa nổi nửa chìm, rộng khoảng 400m, dài khoảng 200m thuộc quần đảo
Trường Sa, nằm cách đảo Ba Bình khoảng 4 km về phía Đông và cách đảo
Sơn Ca khoảng 6,5 km về phía Tây) và mới đây, ngày 23/3/2004, phía Đài
Loan đã xây dựng một nhà cao chân trên bãi này. Như vậy, đến nay Đài Loan
đang chiếm giữ một đảo và một bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa [1].
Quan điểm của Việt Nam
Việt Nam khẳng định mình có chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa dựa
sự chiếm hữu thực tế và thực hiện chủ quyền của mình một cách thực sự, liên
tục và hòa bình.
Việt Nam đã viện dẫn rất nhiều sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam ghi
17
rõ về Đại Trường Sa hay Vạn lý Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ của Việt
Nam. Năm 1884, Pháp ký Hiệp ước với nhà Nguyễn làm đại diện quyền lợi
cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại cũng như bảo vệ chủ quyền toàn vẹn
lãnh thổ cho Việt Nam. Pháp đã tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam
đối với quần đảo Trường Sa.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cả chính quyền nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa lẫn chính quyền Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt
Nam cũng luôn thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa.
Sau này là Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam nhiều lần khẳng định chủ
quyền với Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa trong các Công hàm gửi các
bên liên quan, trong các Tuyên bố ngoại giao hay trong các Hội nghị quốc
tế… Hiện nay, Việt Nam chiếm đóng 21 điểm trên quần đảo Trường Sa.
Quan điểm của Philipines
Năm 1951, Tổng thống Philippines tuyên bố rằng theo luật quốc tế các đảo
Trường Sa phải thuộc về quốc gia gần nhất là Philippines. Từ năm 1971 đến
năm 1973, Philippines đã chiếm đóng 5 đảo; năm 1977 đến 1978, Philippines
đã chiếm thêm hai đảo. Năm 1979, Philippines công bố sắc lệnh của Tổng
thống ký ngày 11/6/1979 coi toàn bộ Trường Sa là lãnh thổ của Philippines và
đặt tên là Kalayaan. Năm 1980, Philippines mở rộng chiếm đóng thêm một
đảo nữa ở phía Nam là đảo Công Đo. Lập luận của Philippines đưa ra để bảo
vệ cho quan điểm của mình là:
- Sự kế cận của quốc gia này đối với quần đảo Trường Sa;
- Khu vực này tạo thành phần rìa lục địa cho quần đảo Philipines;
- Do sự cần thiết chiếm đóng và kiểm soát thực sự của người Philippines
phù hợp với luật quốc tế khi vùng này chưa thuộc về một nước hai một dân
tộc nào một cách hợp pháp;
- Do việc các yêu sách của các nước khác không thể vượt trội hơn yêu
18
sách của Philippines được xây dựng trên cơ sở pháp lý, lịch sử và công bằng.
Các tuyên bố trên của Philippines bị các nước hữu quan như Trung Quốc,
Việt Nam phản đối.
Quan điểm của Malaysia
Ngày 27/10/1969, Hiệp định ký kết giữa Malaysia với Indonesia về việc
xác định ba đoạn biên giới khác nhau đã đưa các yêu sách của Malaysia ở
quần đảo Trường Sa thành tiêu điểm chú ý. Những đoạn này có khả năng đem
lại cho Malaysia các quyền đối với một khu vực quan trọng ở Biển Đông, chỉ
trừ khi Malaysia hoặc kiểm soát được một cách chắc chắn các đảo nằm kế cận
trong quần đảo Trường Sa hoặc các đảo này không được để ý đến khi vạch
các đường biên giới này.
Tháng 12/1979, Chính phủ Malaysia cho xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ
Malaysia một khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm cả An Bang, Thuyền
Chài – nơi quân đội Việt Nam đang đóng giữ. Năm 1983 – 1984, Malaysia
cho quân đóng giữ ba bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kỳ Vân,
Kiệu Ngựa. Năm 1988, họ đóng thêm hai bãi ngầm là Én đất và Thám Hiểm.
Như vậy, Malaysia đã chiếm đóng 5 điểm trên quần đảo Hoàng Sa. Tuy
nhiên, Malaysia không đưa ra được luận thuyết nào minh chứng cho hành
động của họ là dựa vào gần kề địa lý hay danh nghĩa lịch sử.
Quan điểm của Brunei
Brunei là quốc gia độc lập từ năm 1984 nên họ có quyền yêu sách vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS 1982. Họ
không yêu sách chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa mà chỉ có tranh chấp
với Malaysia trên đảo Lucia. Nhưng việc mở rộng các vùng biển thuộc quyền
tài phán của Brunei cũng sẽ gây ra tranh chấp với các nước khác về đường
biên giới trên biển trong khu vực biển Đông.
19
1.2.3. Tranh chấp liên quan quyền khai thác và sử dụng biển
Các tranh chấp liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia
trong vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia ven biển mà điển
hình là các tranh chấp liên quan đến việc đánh bắt hải sản trong khu vực
chồng lấn hoặc đánh bắt hải sản trong khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia,
tranh chấp trong việc tiến hành khoa học biển, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm… ở
vùng biển, thềm lục địa của quốc gia ven biển… Trong đó đặc biệt phải kể
đến hai loại tranh chấp như sau:
1.2.3.1. Các tranh chấp về khai thác dầu khí và năng lƣợng
Từ các tranh chấp về lãnh thổ, chủ quyền và quyền tài phán dẫn đến các
tranh chấp về việc sử dụng biển. Biển Đông vốn là một vùng biển giàu năng
lượng mà đặc biệt là dầu khí nên tình trạng tranh chấp ngày càng gay gắt. Nhu
cầu đối với năng lượng của thế giới ngày càng tăng và với quốc gia tiêu thụ
lớn như Trung Quốc thì đang cần phải tìm kiếm các nguồn cung mới để thỏa
mãn nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của mình. Lượng dầu nhập khẩu
của Trung Quốc lên tới 54% lượng tiêu thụ năm 2010. Trung Quốc luôn nỗ
lực trong việc đa dạng các nguồn cung cấp để không hoàn toàn phụ thuộc vào
Trung Đông. Vì vậy, Trung Quốc đang tìm mọi cách để khai thác tài nguyên
trong khu vực.
Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dầu khí lớn trong khu vực với công ty
Petro Vietnam sản xuất được 24,4 triệu tấn trong năm 2010. Việt Nam cũng
đã ký hợp đồng với nhiều công ty nước ngoài nhằm khai thác các mỏ mới.
Việc này đã dẫn đến các vụ đụng độ với Trung Quốc do nước này luôn phản
đối các nỗ lực của Việt Nam trong việc ký hợp đồng khai thác với các công ty
nước ngoài trong việc khai thác. Trung Quốc đã phản đối các hoạt động khai
thác của một loạt các công ty khai thác của nước ngoài như Petro Vietnam,
Petronas Carigali của Malaysia, Petroleum của Singapor và CTCP American
20
Technology khi phát hiện ra một mỏ xa bờ nằm ở phía Tây đảo Hải Nam vào
10/2004 [42]. Trung Quốc cảnh cáo các công ty dầu khí nước ngoài tránh xa
khu vực mà họ gọi là “các vùng nước của Trung Quốc”. Ngày 26/5/ 2011, hai
con tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí của Việt
Nam khi con tàu này đang kéo một sợi cáp dài 7 km dưới mặt nước để tìm
kiếm trữ lượng dầu khí. Sự kiện này diễn ra cách Nha Trang 120 km và nằm
trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Philippines cũng đang nỗ lực trong việc tự cung cấp trong sản xuất dầu
chiếm khoảng 60% cho năm 2011. Nước này đã ký 15 hợp đồng khai thác cho
việc thăm dò xa bờ ở khu vực Palawan – nơi mà Trung Quốc đã yêu sách.
Các nỗ lực khai thác của Philippines ở gần bãi Cỏ rong đã khiêu khích sự
phản đối của Trung Quốc. Năm 2011, Philippines đã thông báo 7 vụ có liên
quan đến sự quẫy nhiễu của tàu Trung Quốc. Philippines đã có thư phản đối
chính thức lên LHQ và tìm kiếm sự ủng hộ của các nước ASEAN nhằm hình
thành một lập trường chung. Nhưng cũng gần như ngay lập tức Trung Quốc
đã cáo buộc Philippines có hành động “xâm lấn” vào vùng biển của họ.
1.2.3.2. Các tranh chấp về nghề cá
Việc tranh giành các tài nguyên đánh cá và tài nguyên đại dương của Biển
Đông là một yếu tố nữa làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông. Nay tình hình
trở nên căng thẳng do Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá thường niên ở
Biển Đông mà Trung Quốc coi là khu vực đánh bắt riêng của ngư dân nước
mình và ngăn cấm các nước khác. Phạm vi của lệnh cấm khá mập mờ, nó bao
trùm một khu vực quanh quần đảo Hoàng Sa không kéo dài về phía Nam của
Trường Sa. Lệnh cấm này rất vô lý vì phạm vi mà lệnh cấm đưa ra thuộc vào
khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam và một số nước trong khu vực. Vì
vậy mà các nước này đã phản đối lệnh cấm này một cách gay gắt do nó tác
động tiêu cực đến an sinh của ngư dân của quốc gia họ. Để thực hiện lệnh
21
cấm này, Trung Quốc đã cử “tàu tuần tra đánh cá” – tàu hải quân cải tiến.
Trong khoảng từ năm 2008 – 2009, Trung Quốc đã bắt giữ 135 và trục xuất
147 tàu thuyền nước ngoài. Trong đó, Việt Nam có tới 63 tàu đánh cá và 725
ngư dân của họ đã bị giam giữ bởi Trung Quốc từ năm 2005 đến tháng
10/2010. Ngư dân Philippines từ Tây Bắc đảo Luzon cũng phàn nàn rằng họ
không còn có thể đánh bắt ở bãi cạn Scarborough, ngư trường truyền thống
chỉ nằm cách đất liền Philippines 124 hải lý [2].
Ngoài ra, Indonexia cũng tuyên bố rằng, trong năm 2009 có khoảng 180
tàu thuyền bị bắt do đánh bắt bất hợp pháp ở vùng biển của mình, một vài
trong số đó đến từ Malaysia.
Ngoài ra còn có các tranh chấp khác từ việc thực hiện các quyền đặt dây
cáp, ống dẫn ngầm, bảo vệ môi trường biển…
1.2.4. Tranh chấp phát sinh từ yêu sách phi lý, vô căn cứ đƣờng lƣỡi
bò của Trung Quốc
Tháng 01/1948, Bộ Nội Vụ Đài Loan công bố một bản đồ có tên Nanhai
zhudao weizhi tu (Bản đồ các đảo trên Nam Hải). Đến tháng 02/1948 bản đồ
này được xuất bản chính thức. Và trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà
nhiều học giả Trung Quốc gọi là “đường hình chữ U” hay “đường chín đoạn”,
hay “đường lưỡi bò”. Bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống Biển
Đông. Đường này được thể hiện trên bản đồ lúc đó là một đường đứt khúc
bao gồm 11 đoạn [28].
Một số học giả Trung Quốc còn muốn đẩy xa hơn thời điểm xuất hiện đầu
tiên của “đường lưỡi bò”. Họ cho rằng bản đồ có thể hiện “đường lưỡi bò”
đầu tiên đã từng xuất hiện trong một bản đồ của một cá nhân có tên là Hu
JinJi (Hồ Tấn Tiếp) vào năm 1914. Và sau đó bản đồ này lại xuất hiện trong
một bản đồ cũng của một cá nhân khác là Bai Meichu (Bạch Mi Sơ) vào năm
1936. Tuy nhiên các sử liệu về đường lưỡi bò này còn nhiều điều không rõ
22
ràng, và các học giả này cũng thừa nhận “không biết là liệu Bạch có đủ kiến
thức về luật hàng hải quốc tế trong thời điểm ông ta vẽ (bản đồ này) hay
không?”.
Năm 1949, chính quyền Tưởng Giới Thạch thất bại phải chạy ra đảo Đài
Loan, và cũng từ đó, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời (sau đây gọi tắt
là Trung Quốc) trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ.
Năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng cho ấn hành một bản đồ, trong
đó “đường lưỡi bò” được thể hiện giống như bản đồ trước đó gồm 11 đoạn.
Trong bản đồ đó đường chữ “U” hay “đường lưỡi bò” này được thể hiện
bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông,
đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas
(Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung Quốc gọi là
Trung Sa).
Hình 1.1 Yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc
(Nguồn http://www.tinmoitruong.vn)
23
“Đường lưỡi bò” này xuất phát từ biên giới đất liền giữa Việt Nam và
Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ (hai đoạn đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ), rồi
chạy xuống phía nam tương tự như hình dáng của bờ biển Đông và Đông
Nam Việt Nam tới cực Nam của bãi đá san hô Scaborough Shoal (Tăng Mẫu)
tại vĩ tuyến 40 Bắc và sau đó quay ngược lên phía Bắc theo hướng đi song
song với đường bờ biển phía Tây Sabah của Malaysia và Palawan của
Philippines và quần đảo Luzon, kết thúc tại khoảng giữa eo Bashi nằm giữa
Đài Loan và Philipines. Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác
định chính xác.
Tuy nhiên, sau đó một thời gian, bản đồ vẽ “đường lưỡi bò” của Trung
Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Chính phủ Trung Quốc không đưa ra giải thích
vì sao lại bỏ đi hai đoạn đó, thời điểm bỏ đi hai đoạn này cũng không nhất quán
trong các tài liệu của các học giả Trung Quốc. Điều đặc biệt là trong suốt một
thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện “đường lưỡi bò” như
trên, nhưng cả chính quyền Đài Loan lẫn Chính phủ Trung Quốc đều chưa bao
giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về “đường lưỡi bò”.
Trong các Tuyên bố và các văn bản luật quan trọng của Chính phủ Trung
Quốc như Tuyên bố về lãnh hải tháng 8/1958, Tuyên bố của Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa về Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1992, Tuyên bố
của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về đường cơ sở để tính chiều rộng của
lãnh hải năm 1996, Luật của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1998 đều không thấy nhắc tới yêu sách
“đường lưỡi bò” này cũng như không có bản đồ nào có hình “đường lưỡi bò”
được đính kèm.
Năm 2009 là năm mà theo quy định của UNCLOS 1982, các quốc gia ven
biển phải đệ trình các báo cáo về thềm lục địa mở rộng của mình lên Ủy ban
ranh giới thềm lục địa của LHQ (viết tắt là CLCS). Ngày 06/05/2009, Việt Nam
24
và Malaysia có trình lên CLCS một Báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng của
hai nước, cùng khi đó, Việt Nam cũng gửi một Báo cáo riêng của mình lên
CLCS.
Ngày 07/05/2009, Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gửi Công
hàm phản đối đối với Báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam và
Malaysia cũng như Báo cáo về thềm lục địa mở rộng của riêng Việt Nam, trong
Công hàm phản đối này có kèm theo một bản đồ có hình “đường lưỡi bò”.
Tuy nhiên, cũng như trước đó, Chính phủ Trung Quốc vẫn từ chối giải
thích chính thức về tính chất pháp lý đối với yêu sách biển được thể hiện
trong bản đồ có “đường lưỡi bò” kèm theo Công hàm số CML/17/2009 và
CML/18/2009 này.
Cho đến nay, vẫn không rõ quan điểm chính thức của Trung Quốc về tính
chất pháp lý của“đường lưỡi bò” này. Mặc dù, trong Công hàm CML/17/2009
và CML/18/2009 này, Trung Quốc cho rằng:
“Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có chủ quyền không thể tranh cãi với
các đảo ở Biển Nam Trung Hoa và các vùng biển kế cận, và được hưởng các
quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như
đáy biển và lòng đất dưới đáy của vùng biển đó. Lập trường trên đây đã được
Chính phủ Trung Quốc đưa ra một cách nhất quán và được cộng đồng quốc
tế biết đến rộng rãi”.
Với công hàm ngày 7/5/2009 có kèm bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò”,
dường như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất
lịch sử của đường lưỡi bò, coi Biển Đông như một vịnh lịch sử”. Đường này
các học giả Trung Quốc coi là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung
Quốc. Họ cũng tìm cách kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng
“Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận
của quần đảo Trường Sa”.
25
Bản đồ hình lưỡi bò được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính
xác. Sau cuộc đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam, nhóm học giả
Đài Loan đã tập trung lại để nghiên cứu vấn đề “vùng nước lịch sử” và bản
chấp pháp lý của đường lưỡi bò.
Và cuối cùng Trung Quốc cho rằng vùng nước bao quanh đường lưỡi bò
được coi như vùng nước lịch sử của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Bởi vì:
- Thứ nhất là khi bản đồ được xuất bản 1948, không có sự phản đối cũng
như không có sự phản ứng nào được đưa ra;
- Thứ hai là việc yêu sách của các vùng nước bị bao bọc như là vùng nước
lịch sử đã không vi phạm Điều 4 của UNCLOS 1982.
Tuyên bố đường lưỡi bò ở Biển Đông của Trung Quốc và Đài Loan xâm
phạm tới vùng biển thuộc chủ quyền hoặc quyền chủ quyền của các quốc gia
khác được quy định trong UNCLOS 1982. Đó là tranh chấp với Việt Nam,
Malaisia, Brunei và Philipines.
1.3. Khái quát về các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ
lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc của Liên hiệp quốc về Luật biển
1982
Các tranh chấp quốc tế được giải quyết bằng nhiều biện pháp hòa bình
khác nhau như đàm phán, trung gian, hòa giải… và một trong các biện pháp
đó là việc sử dụng hình thức tài phán quốc tế. Vậy tài phán quốc tế là gì và có
những cơ quan tài phán quốc tế nào theo quy định của UNCLOS 1982?
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì tài phán được hiểu là toàn bộ
các hoạt động, hành vi của tổ chức, cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền theo
luật định trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp pháp lý. Quyền tài phán
là quyền năng theo pháp luật, phù hợp với pháp luật và được pháp luật bảo
hộ. Về bản chất, tài phán quốc tế là cách thức giải quyết hòa bình để giải
26
quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp, thủ tục tư pháp, do các
quốc gia tự lựa chọn. Như vậy, trong quan hệ quốc tế, thẩm quyền của các cơ
quan tài phán quốc tế thường phụ thuộc bởi ý chí của các bên tranh chấp nhận
trao cho những cơ quan đó quyền giải quyết.
Các cơ quan tài phán quốc tế là những cơ quan hình thành trên cơ sở sự
thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế nhằm thực hiện chức
năng giải quyết bằng trình tự thủ tục tư pháp các tranh chấp nảy sinh trong
quá trình các chủ thể của luật quốc tế thực thi, tuân thủ luật quốc tế.
Trên thế giới có rất nhiều cơ quan tài phán quốc tế, tuy nhiên theo quy
định tại khoản 1 Điều 287 UNCLOS 1982 có bốn cơ quan tài phán mà các
chủ thể có thể sử dụng để giải quyết các tranh chấp của mình. Đó là:
- Tòa án Công lý quốc tế;
- Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS);
- Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982;
- Tòa Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII UNCLOS 1982.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các
cơ quan tài phán theo Phụ lục VI, Phụ lục VII, Phụ lục VIII của UNCLOS
1982, đó chính là ITLOS, Tòa Trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt.
1.3.1. Tòa án quốc tế về Luật Biển
Ngày 16/11/1994, UNCLOS 1982 đã có hiệu lực. Với 320 điều khoản, 17
phần và 9 Phụ lục, UNCLOS thực sự là một bộ luật đồ sộ điều điều chỉnh
hành động của các quốc gia trên thế giới đối với 70% bề mặt của trái đất bị
bao phủ bởi các biển và đại dương. Đây là sự kiện vĩ đại đánh dấu tầm quan
trọng của luật pháp quốc tế đối với cách hành xử đối với các quốc gia có biển
hay không có biển.
Vấn đề về việc thành lập ITLOS đã được nhắc đến trong chương trình
nghị sự của cơ quan quốc tế liên quan đến luật biển từ năm 1969. Trong Hội
27
nghị lần ba của LHQ về luật biển đã xuất hiện ý tưởng về thành lập một Tòa
trọng tài nằm trong cơ cấu của cơ quan quyền lực đáy đại dương để giải quyết
các tranh chấp liên quan đến Vùng đáy biển – di sản chung của loài người.
Các tranh chấp này nảy sinh giữa các quốc gia, thể nhân và pháp nhân trong
khi Tòa án Công lý quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa
các quốc gia. Nhưng đến năm 1977, ý tưởng này được thay thế bằng đề nghị
hình thành một hệ thống xét xử độc lập và song song với Tòa án Công lý quốc
tế trong lĩnh vực Luật biển. Bởi rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách
quan khác, tại Hội nghị lần ba của LHQ về luật biển đã quyết định thành lập
ITLOS. Quy chế Tòa án là Phụ lục của UNCLOS 1982 nhưng Tòa án là cơ
quan độc lập với các cơ quan khác do UNCLOS 1982 lập ra như Cơ quan
quyền lực đáy đại dương, Ủy ban ranh giới thềm lục địa. Tòa án có ngân sách
và Thư ký riêng. Tòa án được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ cần thiết
để thực hiện các chức năng của mình.
Cuộc bầu cử đầu tiên để thành lập ITLOS phải được diễn ra chậm nhất là
6 tháng sau ngày UNCLOS 1982 có hiệu lực, tức là trước ngày 16/5/1995.
Tuy nhiên, phải tới ngày 1/8/1996, cuộc bầu cử các Thẩm phán của ITLOS
mới được tổ chức. Tại Hội nghị lần thứ ba của LHQ về Luật biển (1973-
1982), trước việc các quốc gia đang phát triển đòi hỏi phải xây dựng lại một
trật tự pháp lý trên biển mới công bằng, Mỹ và một số nước tư bản phát triển
chống đối, đòi xét lại Phần XI của dự thảo UNCLOS 1982 về chế độ pháp lý
của Vùng - di sản chung của loài người (Vùng là đáy biển và lòng đất dưới
đáy biển của biển cả nằm ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia)
và thể thức điều hành của Cơ quan quyền lực Vùng. Thái độ này của Mỹ đã
cản trở việc đầu tư kỹ thuật cao vào khai thác Vùng. Để UNCLOS 1982 thực
sự có tính phổ thông, tạo điều kiện cho các cường quốc tham gia, phát huy
được sức mạnh của các khu vực và các hệ thống pháp lý khác nhau trên thế
28
giới, trên cơ sở có sự nhân nhượng của các nước đang phát triển, theo sáng
kiến của Tổng thư ký LHQ, một Thoả thuận mới đã được ký kết vào ngày
29/7/1994 cho phép thay đổi nội dung Phần XI của UNCLOS 1982, đồng thời
kéo dài thời gian chuẩn bị thành lập các cơ quan quốc tế do UNCLOS 1982
quy định như ITLOS, Cơ quan quyền lực Vùng. Tới nay, các cường quốc lớn
như Đức, Úc, Nhật, Anh, Trung Quốc đều đã phê chuẩn UNCLOS 1982.
Toà án quốc tế về Luật biển đặt trụ sở chính thức tại HamBurg, Cộng hoà
Liên bang Đức.
Với sự ra đời của ITLOS thể hiện sự chuyên môn hóa trong công tác tài
phán quốc tế. ITLOS tồn tại song song và độc lập với Tòa án công lý quốc tế.
Mặc dù Tòa án Công lý quốc tế có đóng mang tính nền tảng cho luật biển
quốc tế nhưng ITLOS với thẩm quyền và cơ chế linh hoạt là một bộ phận
không thể thiếu trong hệ thống tài phán quốc tế và là cơ quan tài phán chính
trong giải thích và áp dụng UNCLOS.
1.3.2. Tòa trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt
 Khái quát về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Tòa trọng tài là cơ quan tài phán lâu đời và cổ xưa nhất với tính chất là
phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các bên tranh chấp thỏa thuận
trao cho một hoặc một số cá nhân thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh
giữa họ với nhau. Tòa trọng tài quốc tế là cơ quan tài phán quốc tế được các
quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận thành lập, trên cơ sở
điều ước quốc tế (hoặc điều khoản quốc tế) về trọng tài nhằm giải quyết tranh
chấp phát sinh giữa các bên.
Như vậy, tòa trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên. Cơ sở xác định
thẩm quyền của Tòa trọng tài là sự nhất trí của các bên tranh chấp về việc đưa
vụ việc tranh chấp ra giải quyết tại tòa trọng tài. Sự nhất trí này phải được thể
hiện một cách rõ ràng, minh bạch trong một điều ước quốc tế. Ngoài việc thể
29
hiện rõ ràng sự nhất trí của các bên về việc giải quyết tranh chấp thông qua
tòa trọng tài, nội dung của Điều ước quốc tế này đồng thời xác định thẩm
quyền, trình tự thành lập Tòa trọng tài, đối tượng tranh chấp, thủ tục xét xử,
nguồn luật được tòa trọng tài áp dụng, thủ tục xét xử, và nghĩa vụ của các bên
phải tuân thủ phán quyết trọng tài.
Thủ tục tố tụng tại Tòa trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận quy
định. Nếu không thỏa thuận được, các bên phải tuân thủ theo thủ tục tố tụng
quy định tại UNCLOS 1982, Công ước Lahaye 1899 và 1907 về giải quyết
hòa bình các tranh chấp quốc tế. Ngoài ra, thủ tục tố tụng Trọng tài cũng được
quy định trong quy chế mẫu về thủ tục Trọng tài do Ủy ban luật quốc tế của
LHQ soạn thảo và thông qua tại Đại hội đồng LHQ năm 1958. Tuy nhiên,
những quy định này chỉ mang tính khuyến nghị.
Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp tại Tòa trọng tài là các nguyên tắc
và quy phạm của luật quốc tế, cụ thể là các điều ước quốc tế các bên ký kết
hoặc tham gia (trước hết là các điều ước liên quan trực tiếp đến tranh chấp) và
tập quán quốc tế. Các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là cơ sở pháp lý để
xác định mức độ vi phạm của nghĩa vụ đã cam kết của các bên. Trên cơ sở đó,
Tòa trọng tài sẽ ra các phán quyết để dàn xếp tranh chấp. Nếu Điều ước quốc
tế về trọng tài mà các bên ký kết có quy định về khả năng viện dẫn các nguồn
khác như pháp luật quốc gia hay nguyên tắc pháp luật chung thì các nguồn
này cũng được áp dụng để giải quyết. Ví dụ trong vụ Trail Smelter 1941, Tòa
trọng tài được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa Canada và Mỹ liên
quan đến việc một nhà máy luyện kim của Canada gây ô nhiễm vì chất sulpur
diopxide gây thiệt hại cho cây trồng của một số vùng lãnh thổ Mỹ giáp với
biên giới Canada. Để giải quyết vụ tranh chấp này, các bên đã thỏa thuận
không chỉ áp dụng luật quốc tế mà còn áp dụng các quy định của pháp luật
Mỹ.
30
Đối với giá trị phán quyết Trọng tài, về cơ bản phán quyết Trọng tài có giá
trị chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành với các bên tranh chấp. Phán
quyết trọng tài chỉ được xem xét lại trong trường hợp có những điều kiện mới
ảnh hưởng cơ bản đến nội dung của phán quyết mà trước đó tòa trọng tài chưa
biết đến. Tuy nhiên, trong thực tế các phán quyết Tòa trọng tài vẫn có thể bị
vô hiệu và các bên không phải thi hành phán quyết trong các trường hợp:
(1) Điều ước quốc tế (hoặc điều khoản) trọng tài mà các bên ký vô hiệu;
(2) Tòa trọng tài vượt quá thẩm quyền được các bên thỏa thuận trao;
(3) Có dấu hiệu mua chuộc thành viên của hội đồng trọng tài;
(4) Trong quá trình giải quyết tranh chấp, tòa trọng tài đã vi phạm nghiêm
trọng các quy định về thủ tục tố tụng.
Sau khi Tòa trọng tài đã ra phán quyết, nếu các bên có quan điểm khác về
hiệu lực cũng như về việc giải thích và thi hành phán quyết trọng tài thì chính
Tòa trọng tài đó sẽ xem xét và giải quyết.
1.3.2.1. Tòa trọng tài
Toà trọng tài được thành lập và hoạt động theo đúng Phụ lục VII của
UNCLOS 1982, là cơ quan tài phán quốc tế.
Với điều kiện phải tuân thủ Phần XV của UNCLOS 1982 thì bất kỳ một
bên nào có tranh chấp đều có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục
trọng tài bằng một thông báo viết gửi tới bên kia hoặc các bên kia trong vụ
tranh chấp.
Tổng Thư k‎‎ý LHQ lập ra một danh sách các trọng tài. Mỗi quốc gia thành
viên có thể chỉ định bốn trọng tài có kinh nghiệm về những vấn đề biển và nổi
tiếng nhất về sự công bằng, năng lực và liêm khiết nhất. Các quốc gia thành
viên có thể chỉ định và bổ sung số thành viên của quốc gia mình nếu vì một l‎ý
do nào đấy mà chưa đủ bốn thành viên.
31
1.3.2.2. Tòa trọng tài đặc biệt
Toà trọng tài đặc biệt được quy định tại Phụ lục VIII của UNCLOS 1982.
Toà trọng tài đặc biệt được lập ra với nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp
trong từng lĩnh vực riêng biệt liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các
điều khoản của UNCLOS 1982 liên quan đến: việc đánh bắt hải sản; việc bảo
vệ và gìn giữ môi trường biển; việc nghiên cứu khoa học biển hoặc hàng hải,
kể cả nạn ô nhiễm do các tàu thuyền hay do nhấn chìm (Điều 1 Phụ lục VIII
UNCLOS 1982). Các bên có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết theo thủ tục
trọng tài đặc biệt bằng thông báo viết gửi tới bên kia hoặc các bên trong vụ
tranh chấp.
32
Chƣơng 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC, THẨM QUYỀN, THỦ TỤC TỐ TỤNG
VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN
QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII
CỦA CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982
2.1. Tòa án quốc tế về luật biển
UNCLOS 1982 có vai trò to lớn trong việc định hướng các ứng xử của
các quốc gia trong các vấn đề liên quan đến biển. Với 155 quốc gia gia nhập
công ước, UNCLOS thực sự trở thành một bộ luật lớn về biển cả. Cùng với
đó là sự ra đời của ITLOS, đây chính là cơ quan tài phán chính trong giải
thích và áp dụng UNCLOS. ITLOS được nhắc đến trong phần XV giải quyết
tranh chấp và được quy định cụ thể tại Phụ lục VI Quy chế của ITLOS. Quy
chế của Tòa án đã quy định rất cụ thể về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục
tố tụng của Tòa án.
2.1.1. Cơ cấu tổ chức của Tòa án quốc tế về Luật biển
2.1.1.1. Thẩm phán
Số thành viên của Tòa án về Luật biển gồm có 21 Thẩm phán độc lập,
được tuyển chọn trong số các nhân vật có uy tín nhất về công bằng và liêm
khiết, có năng lực chuyên môn trong các lĩnh vực luật biển (Khoản 1 Điều 2
Quy chế của Tòa án).
Việc lựa chọn các Thẩm phán được tiến hành theo các nguyên tắc nhất
định:
- Thành viên của Tòa án phải có sự hiện diện của các hệ thống pháp luật
chủ yếu trên thế giới và sự phân chia công bằng về mặt địa lý (Khoản 2 Điều
2 Quy chế của Tòa án). Mỗi một nhóm theo địa lý do Đại hội đồng LHQ xác
định phải có ít nhất ba thành viên của Tòa án. Cụ thể có năm khu vực địa lý:
Châu Á, Châu Phi, khu vực Đông Âu, khu vực Mỹ La – Tinh và vùng biển
Caribê, khu vực Châu Âu và khu vực khác.
33
- Mỗi một quốc gia thành viên có thể chỉ định tối đa là hai người đủ tiêu
chuẩn. Thành viên của Tòa án sẽ được tuyển lựa trên danh sách đề cử. Tuy
nhiên, không thể có hơn một công dân của cùng một quốc gia (Khoản 1 Điều
3 Quy chế Tòa án). Tòa án áp dụng nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu. Công dân
của một quốc gia được hiểu là người thường thi hành các quyền dân sự và
chính trị của quốc gia đó.
- Các thành viên của Tòa án được bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín. Các
thành viên được bầu phải là người có số phiếu cao nhất và phải được hai phần
ba số quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu. Đa số quốc gia bỏ phiếu này
phải là đa số quốc gia thành viên. Khái niệm: “Quốc gia thành viên có mặt và
bỏ phiếu” là các quốc gia thành viên có mặt và tham gia bỏ phiếu thuận hoặc
chống. Các quốc gia có mặt nhưng bỏ phiếu trắng không được tính. Thẩm
phán ITLOS sẽ được bỏ phiếu lựa chọn một lần. Khác với Thẩm phán của
Tòa công lý quốc tế phải được cả Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an bỏ phiếu
tín nhiệm [29].
Nhiệm kỳ của các thành viên là chín năm và họ đều có quyền tái cử. Để
bảo đảm tính không bị gián đoạn trong việc xét xử của Tòa án, khi các thành
viên hết nhiệm kỳ được bầu cử ở cuộc bầu cử đầu tiên, bảy người sẽ hết
nhiệm kỳ sau ba năm, bảy người sẽ mãn nhiệm kỳ trong sáu năm. Các thành
viên của Tòa án hết nhiệm kỳ theo các thời hạn trên sẽ được chỉ định rút thăm
do Tổng thư ký LHQ thực hiện ngay sau khi cuộc bầu cử đầu tiên diễn ra
(Khoản 2 Điều 5 Quy chế Tòa án). Vì vậy, sau 03 năm thì thành phần của Tòa
án lại được thay đổi một phần ba số thành viên. Các thành viên của Tòa án sẽ
giữ chức vụ cho đến khi có người thay thế. Và họ vẫn sẽ tiếp tục xét xử các
vụ án mà họ đang xét xử trước đó.
Trường hợp có ghế trống do từ chức (Khoản 4 Điều 5 Quy chế Tòa án),
do từ trần hay do không đáp ứng được điều kiện cần thiết (Điều 9 Quy chế
34
Tòa án) thì Tòa án sẽ tiến hành bầu cử bổ sung. Thư ký Tòa án tiến hành
trong tháng tiếp theo ngày có ghế trống. Chánh án Tòa án quy định thời gian
bầu cử có tham khảo ý kiến của các quốc gia thành viên. Thành viên được bầu
bổ sung chỉ thực hiện nốt nhiệm kỳ của người mà mình thay thế.
Các Thẩm phán tại Tòa án có tính độc lập rất cao. Họ không đại diện cho
Chính phủ mình hay bất cứ một Chính phủ nào, tổ chức quốc tế nào.
Bởi vì các Thẩm phán có tính độc lập rất cao nên một thành viên của Tòa
án không thể kiêm nhiệm bất kỳ một nhiệm vụ chính trị hay hành chính nào,
cũng không được chủ động tham gia hay có liên quan đến hoạt động của một
xí nghiệp đang tiến hành tham dò hay khai thác tài nguyên ở biển hay đáy đại
dương hoặc việc sử dụng biển hay đáy biển vào mục đích thương mại nào
khác. Thành viên của Tòa án cũng không được làm nhiệm vụ đại diện, cố vấn
hay luật sư cho bất kỳ vụ kiện nào (Khoản 1, 2 Điều 7 Quy chế Tòa án). Để
bảo đảm sự khách quan, thành viên của Tòa án cũng không được tham gia vào
việc giải quyết vụ kiện mà trước đây người đó đã tham gia với tư cách đại
diện, cố vấn hay luật sư của một trong các bên, hay với tư cách của một Tòa
án quốc gia hay quốc tế hay bất kỳ danh nghĩa nào (Điều 8 Quy chế Tòa án).
Để bảo đảm tính độc lập khách quan của mình, cũng như hiệu lực các phán
quyết của Tòa án, trước khi nhậm chức các Thẩm phán phải trịnh trọng tuyên thệ
trong phiên họp công khai chung đầu tiên sau ngày được bầu như sau:
“Tôi trịnh trọng tuyên bố rằng tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình và
thực hiện quyền năng của Thẩm phán bằng danh dự của mình một cách trung
thực, công bằng và tận tâm” (Điều 11 Nội quy của Tòa án).
Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các thành viên đều hưởng quy chế bình
đẳng, không tính đến tuổi tác, ưu tiên bầu cử hay thâm niên công tác (Điều 3
Nội quy Tòa án). Khi vào phiên tòa, các thành viên sẽ ngồi theo thứ tự ngày
mình bắt đầu nhiệm kỳ. Các thành viên có nhiệm kỳ bắt đầu cùng một ngày sẽ
35
ngồi theo thứ tự tuổi tác từ cao xuống thấp. Chánh án và phó Chánh án sẽ
ngồi trước các thành viên khác.
Các thành viên của Tòa án khi thực hiện chức năng của mình đều được
hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao (Điều 10 Quy chế Tòa án). Thẩm
phán của Tòa khi nào còn thuộc thành phần của Tòa án, khi tạm trú ở bất kỳ
nước nào ngoài nước mà họ mang quốc tịch đều được hưởng quyền ưu đãi và
miễn trừ ngoại giao trong suốt thời gian tạm trú đó.
Nhằm bảo đảm cho cuộc sống cũng như tính độc lập của Thẩm phán khi
làm nhiệm vụ, các Thẩm phán của Tòa án hưởng khoản lương hàng năm và
các khoản trợ cấp đặc biệt cho mỗi ngày mà họ làm nhiệm vụ của mình, miễn
là tổng số trợ cấp đặc biệt mỗi năm không được quá tổng số lương hàng năm.
Chánh án của Tòa án được hưởng một khoản phụ cấp đặc biệt hàng năm. Phó
Chánh án được hưởng phụ cấp đặc biệt cho mỗi ngày trong thời gian thừa
hành chức vụ Chánh án. Các khoản lương, phụ cấp, trợ cấp được quy định
từng thời gian trong các cuộc họp của các quốc gia thành viên UNCLOS 1982
trong đó có tính đến khối lượng công việc của Tòa án. Các khoản lương, phụ
cấp, trợ cấp nói trên của các Thẩm phán đều được miễn thuế (Điều 18 Quy
chế Tòa án).
Bên cạnh các Thẩm phán của Tòa, khi phiên tòa mở ra, các bên có thể lựa
chọn Thẩm phán ad hoc. Thẩm phán ad hoc là Thẩm phán do một hoặc hai
bên tranh chấp không có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành
phần Tòa án đề cử. Trong trường hợp, một trong các bên tranh chấp có Thẩm
phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần của Tòa án thì phía bên kia
có quyền đề cử Thẩm phán ad hoc của mình hoặc yêu cầu không đưa Thẩm
phán mang quốc tịch phía bên kia vào danh sách thành viên xét xử. Tiêu
chuẩn lựa chọn của Thẩm phán ad hoc tương tự như tiêu chuẩn lựa chọn
Thẩm phán của Tòa án. Quy định về Thẩm phán ad hoc không chỉ bảo đảm
36
nguyên tắc cân bằng các hoàn cảnh mà còn tạo điều kiện cho các quốc gia
tranh chấp có thể bày tỏ quan điểm của mình trong quá trình xét xử. Các
Thẩm phán ad hoc này được tham gia bình đẳng với các thẩm phán khác
trong việc tham gia nghị án (Khoản 6 Điều 17 Quy chế Tòa án; Điều 8 Nội
quy của Tòa án).
Chánh án và Phó Chánh án:
Nhiệm kỳ của Chánh án và Phó Chánh án là ba năm tính từ ngày bắt đầu
nhiệm kỳ mới. Ngày bắt đầu nhiệm kỳ mới là ngày họ được bầu. Trong
trường hợp vẫn là thành viên nhiệm kỳ trước thì tiếp tục thực hiện trách
nhiệm cho đến khi tiến hành bầu cử. Việc bầu cử được thực hiện bằng bỏ
phiếu kín. Kết quả bỏ phiếu được giữ kín, người chủ trì cuộc bỏ phiếu chỉ
tuyên bố số phiếu thuận cần thiết cho việc trúng cử chứ không nêu số phiếu
chống. Thẩm phán được chọn bởi đa số phiếu sẽ được tuyên bố trúng cử và
nhận nhiệm vụ mới của mình. Chánh án sẽ chủ trì việc bầu Phó Chánh án
ngay sau đó hoặc tại buổi họp sau (Điều 11 Nội quy Tòa án). Chánh án sẽ
điều khiển các buổi họp của Tòa án, chỉ đạo công việc và giám sát bộ máy
hành chính của Tòa án. Chánh án Tòa án sẽ đại diện cho Tòa án trong các mối
quan hệ với các quốc gia và thực thể khác.
2.1.1.2. Ban Thƣ ký Tòa án
Ban thư ký Tòa án là cơ quan hành chính thường trực của Tòa án. Vì Tòa
án là cơ quan tài phán của một công ước quốc tế nên vai trò của Ban Thư ký
cũng có đặc thù riêng. Đây là cơ quan đảm trách các dịch vụ tư pháp, là bên
liên lạc giữa Tòa án với các quốc gia thành viên và các bên khác. Đồng thời,
Ban Thư ký đảm nhận các hoạt động hành chính, tài chính, tổ chức các cuộc
hội thảo, hội nghị và thông báo, trao đổi tin tức với các cơ quan, tổ chức khác.
Tổ chức của Ban thư ký bao gồm:
37
- Chánh Thư ký và Phó Chánh Thư ký, Trợ lý Chánh Thư ký. Họ đều do
Tòa án bầu theo phương thức bỏ phiếu kín trong số các ứng cử viên do các
nước thành viên đề cử. Họ phải có trình độ học vấn, phẩm chất đạo đức, kiến
thức, ngôn ngữ và kinh nghiệm về pháp luật đặc biệt là luật biển, luật ngoại
giao và các hoạt động của tổ chức quốc tế. Chánh thư ký và Phó Chánh thư ký
có nhiệm kỳ 05 năm.
- Nhân viên thư ký trong biên chế hay theo hợp đồng do Tòa án hoặc
Chánh Thư ký đề cử, như các Thư ký, nhân viên thư viện và lưu trữ, nhân
viên đánh máy, in ấn, lái xe, …
2.1.1.3. Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển
Thành phần của Viện này gồm 11 thành viên do Tòa án lựa chọn trong
các thành viên được bầu của Tòa án theo đa số thành viên đó. Việc lựa chọn
phải bảo đảm sự đại diện cho hệ thống pháp luật chủ yếu trên thế giới và sự
phân chia công bằng về mặt địa lý. Nhiệm kỳ của Thẩm phán của Viện là ba
năm và có thể được tái cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Số lượng Thẩm phán tối
thiểu để Viện có thể họp và ra phán quyết là bảy người do Tòa án lựa chọn
trong số các thành viên của mình.
Viện có thể lập ra Tòa ad hoc gồm ba thành viên trong số thành viên của
mình để xét xử một vụ tranh chấp nhất định mà Viện có trách nhiệm giải
quyết theo Điều 188 UNCLOS 1982. Thành phần của Tòa này do Viện giải
quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển quyết định có sự đồng ý của
các bên hữu quan. Các thành viên của Tòa ad hoc không được làm việc cho
bên tranh chấp nào cũng không được là công dân của quốc gia nào trong số
các quốc gia tranh chấp (Điều 36 Quy chế Tòa án).
2.1.1.4. Các Viện đặc biệt
Theo quy định Nội quy Tòa án, hàng năm theo yêu cầu của mỗi bên, Viện
rút gọn trình tự tố tụng được thành lập. Viện gồm 5 Thẩm phán trong đó có
38
Chánh án và Phó Chánh án của Tòa án là 02 Thẩm phán đương nhiên và 03
Thẩm phán khác. Bên cạnh đó, Tòa án còn chọn thêm 02 Thẩm phán “dự bị”
để thay thế các Thẩm phán thấy mình không thể tham gia các phiên họp. Mục
đích của Viện này nhằm thúc đẩy việc giải quyết các vụ việc tranh chấp. Việc
này có thể xem xét và giải quyết các vụ việc theo trình tự xét xử sơ bộ. Năm
2000, Panama đã đệ đơn lên Viện rút gọn trình tự tố tụng xem xét giải quyết
trong vụ tàu Chaisiri Reefer 2 (Panama/Yemen) [29].
Trong trường hợp nếu xét thấy cần thiết, Tòa án có lập ra các viện, gồm ít
nhất ba thành viên được bầu để xét xử các loại vụ kiện nhất định. Tòa án cũng
có thể lập một Viện để giải quyết một tranh chấp theo yêu cầu của các bên.
Thành phần của Viện này sẽ được Tòa án quyết định với sự tham gia của các
bên. Trong cuộc họp ngày 14/02/1997, ITLOS đã quyết định thành lập hai
Viện đặc biệt thường trực với thành phần lấy từ các thành viên của Tòa án.
Các Viện này sẽ tiến hành xét xử nếu các bên có yêu cầu. Đó là Viện giải
quyết các tranh chấp về môi trường biển và Viện giải quyết các tranh chấp về
đánh cá.
2.1.1.5. Các cơ quan khác
Ngoài ra, trong cơ cấu của Tòa án còn có các Ủy ban điều hành các công
việc trong nội bộ tổ chức của Tòa án như: Ủy ban về ngân sách và tài chính,
Ủy ban về nội quy và thực tiễn xét xử, Ủy ban về hành chính và nhân sự, Ủy
ban về thư viện và xuất bản… Các thành viên của các Ủy ban này có nhiệm
kỳ một năm. Thành phần của các Ủy ban này là các Thẩm phán của Tòa án
quốc tế về luật biển.
2.1.2. Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về Luật Biển
Thẩm quyền của ITLOS được quy định trong Mục 5 Phần XI (các điều từ
186 đến 191), Phần XV- Giải quyết các tranh chấp và đặc biệt trong Phụ lục
VI của UNCLOS 1982.
39
Thẩm quyền của ITLOS do các quốc gia thành viên thỏa thuận xác định
trong UNCLOS 1982, trong Quy chế và được cụ thể hóa trong Nội quy của
Tòa án. Về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án dựa trên sự đồng ý rõ ràng của
các bên tranh chấp và phải được thực hiện theo đúng thủ tục. Trong trường
hợp có sự tranh cãi về vấn đề Thẩm quyền của ITLOS có thẩm quyền hay
không thì vấn đề này sẽ do Tòa án quuyết định theo quy định tại Điều 288
UNCLOS 1982. Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết tranh chấp sẽ bao gồm
thẩm quyền [29]:
(1) Thẩm quyền xét quyền được đưa vấn đề tranh chấp ra Tòa án của các bên;
(2) Thẩm quyền xét xử về nội dung tranh chấp được đưa ra theo đúng thủ
tục và thẩm quyền xét xử ex dequo et bono (công bằng);
(3) Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của ITLOS còn
có thẩm quyền đưa ra các ý kiến tư vấn trong một số trường hợp nhất định.
2.1.2.1. Thẩm quyền đƣợc đƣa vấn đề ra Tòa án
Tại Điều 20 Quy chế của ITLOS quy định:
“1. Tòa án được để ngỏ cho các quốc gia thành viên;
2. Tòa án được để ngỏ cho các thực thể không phải là quốc gia thành viên
trong tất cả các trường hợp đã được quy định rõ trong mọi tranh chấp được
đưa ra theo thỏa thuận khác, giao cho Tòa án một thẩm quyền được tất cả
các bên trong vụ tranh chấp chấp nhận”.
Chủ thể được quyền đưa tranh chấp ta trước Tòa Luật biển bao gồm: Các
Quốc gia thành viên, các quốc gia không phải thành viên, các thể nhân, pháp
nhân, tổ chức quốc tế. Thẩm quyền của Tòa chỉ được xác lập khi có sự đồng ý
rõ ràng của các bên tranh chấp. Sự đồng ý rõ ràng của các bên tranh chấp
được biểu hiện thông qua ba cách:
Thứ nhất là chấp nhận thẩm quyền của Tòa án theo từng vụ việc
Trong trường hợp các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 chưa tuyên bố
40
chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án khi ký, phê chuẩn hay tham gia
UNCLOS 1982 quốc tế, nếu xảy ra tranh chấp giữa họ hay giữa một bên là
quốc gia thành viên và một bên không phải là quốc gia thành viên thì Tòa án
chỉ hình thành bằng thỏa thuận của hai bên đưa vụ việc ra trước Tòa án. Thỏa
thuận đó phải ghi rõ các bên liên quan, các vấn đề tranh chấp, các lập luận
viện dẫn, yêu cầu đối với Tòa án, chỉ định Thẩm phán ad hoc. Ngoài ra, các
bên liên quan cũng có thể đề nghị áp dụng thủ tục xét xử rút gọn phù hợp với
quy định của Tòa án.
Thứ hai là chấp nhận thẩm quyền của Tòa án trong các Điều ƣớc
quốc tế
Theo khoản 2 Điều 288 UNCLOS 1982, Tòa án có thẩm quyền xét xử bất
kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một Điều ước
quốc tế có liên quan đến mục đích của UNCLOS 1982 và đã được đưa ra cho
Tòa án theo đúng quy định của Điều ước quốc tế này.
Thẩm quyền của Tòa án còn được xác lập hoặc thông qua các điều khoản
đặc biệt trong các Điều ước quốc tế thừa nhận trước thẩm quyền của Tòa án.
Thông thường trong các Điều ước quốc tế, Hiệp ước quốc tế đa phương và
song phương có những điều khoản đặc biệt trù bị cho khả năng xảy ra tranh
chấp trong việc giải thích và thực hiện các Điều ước quốc tế, trong đó có quy
định việc các bên thống nhất sẽ đưa tranh chấp ra trước Tòa án. Khi tranh
chấp xảy ra, các bên có thể đơn phương kiện ra Tòa án, cũng có thể cùng ký
một thỏa thuận đưa vụ việc ra trước Tòa án để phân xử. Hiện nay, có một số
Điều ước quốc tế quy định thẩm quyền phán xét của ITLOS như: Nghị định
thư năm 1996 đối với Công ước năm 1972 về ngăn chặn ô nhiễm biển do việc
đổ các chất thải và một số lý do khác; Thỏa thuận năm 1993 về tăng cường
các biện pháp quốc tế đối với các tàu đánh cá ở biển cả để gìn giữ và quản lý
nguồn cá …
41
Thứ ba là chấp nhận trƣớc thẩm quyền của Tòa án bằng một tuyên
bố đơn phƣơng
UNCLOS 1982 cũng mở rộng khả năng tự lựa chọn các thủ tục bắt buộc
dẫn tới các quyết định bắt buộc. Điều 287 UNCLOS 1982 quy định rằng khi
ký kết, phê chuẩn, tham gia UNCLOS 1982 hoặc ở bất kỳ thời điểm nào sau
đó, một quốc gia dưới hình thức tuyên bố bằng văn bản được quyền tự do lựa
chọn một hay nhiều biện pháp sau đây để giải quyết các tranh chấp liên quan
đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS 1982:
- Tòa án quốc tế về luật biển;
- Tòa án công lý quốc tế;
- Một Tòa trọng tài được hình thành theo đúng Phụ lục VII của Công
UNCLOS 1982;
- Một Tòa trọng tài đặc biệt để giải quyết các tranh chấp trong từng lĩnh
vực riêng biệt như nghiên cứu khoa học, nghề cá, giao thông… được thành
lập theo đúng Phụ lục VIII của UNCLOS 1982.
2.1.2.2. Thẩm quyền xét xử về nội dung các vụ tranh chấp
Thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp của ITLOS là khả năng của ITLOS
trong những điều kiện và đối với các đối tượng, nội dung tranh chấp, chủ thể
của tranh chấp nhất định có quyền thụ lý, giải quyết và đưa ra quyết định cuối
cùng về tranh chấp đó.
Theo quy định của UNCLOS 1982, ITLOS không những có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể là quốc gia thành viên mà còn có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể là pháp nhân. Điều 288
UNCLOS 1982 và Điều 21 Quy chế của ITLOS quy định rất rõ thẩm quyền
xét xử về nội dung của ITLOS:
“Tòa án có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh chấp và các yêu cầu
được đưa ra Tòa án theo đúng Công ước và đối với tất cả các trường hợp
được trù định rõ trong mọi thỏa thuận khác, giao thẩm quyền cho Tòa án”.
42
Thẩm quyền của Tòa án đối với tranh chấp giữa các quốc gia (thành viên
và không phải thành viên của UNCLOS 1982) được giới hạn trong Điều 297
UNCLOS 1982. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền với:
- Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng UNCLOS
1982 về việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán của
quốc gia ven biển đã được trù định trong UNCLOS 1982 khi được xét theo
các thủ tục giải quyết được trù định ở mục các thủ tục bắt buộc dẫn đến các
quyết định bắt buộc trong các trường hợp sau:
Khi thấy rằng quốc gia ven biển đã không tuân theo UNCLOS 1982 liên
quan đến tự do và quyền hàng hải, hàng không hoặc tự do, và quyền đặt dây
cáp và ống dẫn ngầm cũng như đến việc sử dụng biển và mục đích không
được quốc tế thừa nhận là chính đáng trong Điều 58 (Các quyền và nghĩa vụ
của những quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế).
Khi thấy rằng trong việc thi hành hay trong quá trình sử dụng biển các
quyền tự do và các quyền đó không tuân theo UNCLOS 1982 hoặc việc đặt ra
các quy định pháp luật của quốc gia ven biển không phù hợp với quy định của
UNCLOS 1982.
Khi thấy rằng quốc gia ven biển không tuân theo quy tắc hay quy phạm
quốc tế đã được xác định nhằm bảo vệ và giữ gìn môi trường biển được
UNCLOS 1982 đặt ra.
- Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy
định của UNCLOS 1982 về nghiên cứu khoa học biển, trừ khi quốc gia ven
biển không chịu chấp nhận theo cách giải quyết như vậy đối với vụ tranh chấp
phát sinh từ:
Việc quốc gia này thi hành quyền của mình theo đúng Điều 246 UNCLOS
1982 (Việc nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và trên
thềm lục địa). Quốc gia khác có quyền thực hiện nghiên cứu khoa học trên
43
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển nhưng phải có
sự thỏa thuận với quốc gia ven biển. Quốc gia ven biển có thể tùy ý mình
không cho thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển do một quốc gia
hay một tổ chức quốc tế có thẩm quyền trong một số trường hợp như dự án đó
ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sinh
vật và không sinh vật; dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa,
sử dụng chất nổ hay đưa chất độc hại vào môi trường biển…
Quyết định của quốc gia này ra lệnh đình chỉ hoặc chấm dứt một dự án
theo Điều 253 UNCLOS 1982. Theo đó, quốc gia ven biển có quyền yêu cầu
đình chỉ các công việc nghiên cứu khoa học biển đang tiến hành trên vùng đặc
quyền kinh tế và trên thềm lục địa của mình nếu công việc này không tiến
hành theo đúng các thông tin đã thông báo cho quốc gia ven biển đã dựa vào
để đồng ý cho phép. Hoặc nếu quốc gia, tổ chức quốc tế có thẩm quyền khi
tiến hành công việc không tôn trọng các quy định về quyền của quốc gia ven
biển đối với dự án nghiên cứu khoa học biển theo Điều 249 UNCLOS 1982.
Các vụ tranh chấp pháp sinh từ luận cứ của một quốc gia nghiên cứu cho
rằng trong trường hợp một dự án riêng biệt, quốc gia ven biển không sử dụng
các quyền cho phép và hay đình chỉ, chấm dứt việc nghiên cứu khoa học biển
ở vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa theo Điều 246 và Điều 253
UNCLOS 1982 một cách hợp lý thì các bên có liên quan có quyền đưa ra hòa
giải theo thủ tục được trù định tài Mục 2 của Phụ lục V UNCLOS 1982. Ủy
ban hòa giải không được xét việc thi hành quyền tùy ý quyết định của quốc
gia ven biển trong việc xác định các khu vực đặc biệt hay việc thi hành quyền
tùy ý không cho phép theo khoản 5 và khoản 6 của Điều 246 UNCLOS 1982.
- Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích, áp dụng các quy định
của UNCLOS 1982 về việc đánh bắt hải sản được giải quyết theo đúng Mục
2, phần XV, trừ khi quốc gia ven biển không chịu chấp nhận cách giải quyết
44
như vậy về một vụ tranh chấp liên quan đến quyền thuộc chủ quyền của mình
đối với tài nguyên sinh vật thuộc đặc quyền kinh tế của mình, hay liên quan
đến việc thi hành các quyền này kể cả quyền tùy ý quy định khối lượng đánh
bắt cá có thể chấp nhận được, khả năng đánh bắt của mình, phân bố số dư cho
các quốc gia khác, quyết định các cách thức, điều kiện đặt ra trong các luật và
quy định của mình bảo vệ và quản lý.
Nếu việc vận dụng Mục 1 (Về thủ tục hòa giải) không cho phép đi đến
một cách giải quyết, thì theo yêu cầu của một bên nào đó trong số các bên
tranh chấp, vụ tranh chấp được đưa ra hòa giải theo thủ tục được trù định tại
Mục 2 của Phụ lục V khi chứng minh được rằng quốc gia ven biển đã chứng
minh được rằng quốc gia ven biển đã:
Rõ ràng không thực hiện nghĩa vụ dùng các biện pháp bảo vệ và quản lý
thích hợp để bảo đảm rằng việc duy trì các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc
quyền kinh tế không bị ảnh hưởng nghiêm trọng;
Độc đoán từ chối việc quy định theo yêu cầu của một quốc gia khác khối
lượng đánh bắt có thể chấp nhận được và khả năng khai thác tài nguyên sinh
vật của mình đối với các đàn hải sản mà việc khai thác có liên quan đến quốc
gia khác;
Độc đoán từ chối việc chia sẻ cho một quốc gia nào đó toàn bộ hay một
phần số cá dư mà mình đã xác nhận như đã trù định ở Điều 62, 69 và 70 theo
các thể thức, điều kiện mà bản thân mình đã quy định và phù hợp với
UNCLOS 1982.
 Khi ký kết, phê chuẩn, tham gia UNCLOS 1982 hoặc ở bất kỳ thời
điểm nào sau đó với điều kiện sau không phương hại đến các nghĩa vụ phát
sinh từ Mục 1, một quốc gia có thể tuyên bố bằng văn bản rằng mình không
chấp nhận một hay nhiều thủ tục giải quyết các tranh chấp đã được trù định ở
Mục 2 có liên quan đến một hay nhiều loại tranh chấp sau:
45
Các vụ tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng các Điều 15, 74 và 83
liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển hay các vụ tranh chấp
về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử, nghĩa là khi một tranh chấp như thế xảy ra
sau khi UNCLOS 1982 có hiệu lực.
Các vụ tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự, kể cả hoạt động
quân sự của tàu thuyền và phương tiện bay của Nhà nước được sử dụng cho
một dịch vụ không có tính chất thương mại, và các vụ tranh chấp liên quan
đến các hành động bắt buộc chấp hành, đã được thực hiện trong việc thi hành
các quyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán mà khoản 2 và 3 Điều 297 đã
loại trừ khỏi thẩm quyền của một Tòa án;
Các vụ tranh chấp mà Hội đồng bảo an LHQ, trong khi thi hành các chức
năng của mình do Hiến chương LHQ giao phó có trách nhiệm giải quyết, trừ
khi Hội đồng bảo an quyết định xóa vấn đề trong chương trình nghị sự của
mình hay yêu cầu các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp của họ bằng các
phương pháp đã quy định trong UNCLOS 1982.
Một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản 1, thì bất kỳ lúc
nào cũng có thể rút lui tuyên bố đó hay thỏa thuận đưa ra một vụ tranh chấp
mà tuyên bố này đã loại trừ, ra trước bất cứ thủ tục giải quyết nào đã được trù
định trong UNCLOS 1982.
Nếu một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản 1, điểm a, thì
bất kỳ quốc gia thành viên nào khác cũng có thể đưa ra mọi tranh chấp giữa
quốc gia đó với quốc gia đã ra tuyên bố và nằm trong một loại tranh chấp đã
bị loại trừ, ra giải quyết theo thủ tục được định rõ trong tuyên bố này.
Các tuyên bố hay các thông báo rút lui các tuyên bố nói ở điều này phải
được gửi cho Tổng thư ký LHQ để lưu chuyển, Tổng thư ký LHQ chuyển các
bản sao các văn kiện đó cho các quốc gia thành viên.
46
2.1.2.3. Thẩm quyền đƣa ra các kết luận tƣ vấn
Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển có quyền đưa ra các
kết luận tư vấn theo yêu cầu của Đại hội đồng hay Hội đồng các Cơ quan
quyền lực về những vấn đề pháp lý được đặt ra trong khuôn khổ hoạt động
của họ. Các ý kiến này được đưa ra trong thời hạn ngắn nhất (Điều 191
UNCLOS 1982).
Theo đó, có ít nhất một phần tư số thành viên của Đại hội đồng thỉnh cầu
bằng văn bản gửi lên Chủ tịch Đại hội đồng, yêu cầu Đại hội đồng xem xét
một đề nghị nào đó có phù hợp với UNCLOS 1982 hay không thì Đại hội
đồng yêu cầu cơ quan Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển
của ITLOS đưa ra ý kiến tư vấn (Khoản 10 Điều 159 UNCLOS 1982).
Thêm nữa, theo khoản 1 Điều 138 Nội quy của Tòa án, ITLOS cũng có
thể đưa ra các ý kiến tư vấn về một vấn đề pháp lý trong trường hợp có một
Điều ước quốc tế liên quan đến tôn chỉ, mục đích của UNCLOS 1982 quy
định cụ thể việc được đệ trình đơn lên Tòa án để xin ý kiến tư vấn.
Cơ chế hỏi ý kiến của Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy
đại dương không dành cho các quốc gia. Các quốc gia cũng như bất kỳ một tổ
chức nào đều có quyền và nghĩa vụ cung cấp tin tức, các tài liệu, văn bản có
liên quan đến các vấn đề hoặc tường trình bằng lời trong các phiên họp công
khai được triệu tập.
2.1.3. Thủ tục tố tụng của Tòa án quốc tế về Luật Biển
Thủ tục tố tụng của Tòa án được quy định cụ thể trong Nội quy của Tòa
án từ Điều 44 đến Điều 129 và trong Hướng dẫn việc chuẩn bị và đệ trình các
vụ việc ra trước Tòa án (Do Tòa án ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1997).
Thủ tục này bắt đầu khi có một hay nhiều bên bằng văn bản thể hiện ý chí đưa
vụ việc ra trước Tòa án nhờ giải quyết. Văn bản này phải được ghi rõ tên bên
khởi kiện, bên bị kiện và nội dung tranh chấp.
47
Thủ tục tố tụng trước Tòa án sẽ bao gồm hai phần: Thủ tục viết (văn bản,
giấy tờ), thủ tục nói (tranh tụng) trước Tòa án và quá trình nghị án. Thủ tục
văn bản giấy tờ bao gồm việc chuyển các bản kiến nghị, phản kiến nghị, đơn
khởi kiện, bản phản biện và trong trong trường hợp được Tòa án cho phép,
các phúc đáp, kháng biện cũng như tất cả các tài liệu hỗ trỡ cho Tòa án cho
các bên. Thủ tục tranh tụng là quá trình Tòa án nghe các viên chức, luật sư,
người bào chữa, người làm chứng và các chuyên gia trình bày trước khi nghị
án. Quá trình nghị án là quá trình các Thẩm phán sẽ bỏ phiếu và đưa ra phán
quyết vụ việc tranh chấp.
2.1.3.1. Thủ tục văn bản
Thủ tục văn bản bao gồm việc nộp cho Tòa án theo đúng quy định về thời
gian các bản bị vong lục và phản bị vong lục, trong đó trình bày rõ, chi tiết
các điểm, về sự kiện pháp lý (khoản 2 Điều 44, Điều 60 và khoản 3 Điều 61
Nội quy của Tòa án). Thời hạn cho mỗi bản bị vong lục và phản bị vong lục
không quá 6 tháng (Điều 59 Nội quy Tòa án). Các bên hoàn toàn tự do trong
việc lựa chọn hình thức trình bày sao cho đầy đủ nhất. Các tài liệu bổ trợ cho
lập luận phải được sao chụp kèm theo trong Phụ lục. Nếu khối lượng các văn
kiện này quá lớn có thể cho phép trích dẫn chúng trong Phụ lục nhưng toàn
văn cần phải nộp lưu chiểu cho Thư ký Tòa án theo đúng thủ tục và gửi cho
mỗi Thẩm phán một bản sao để tham khảo. Bản bị vong lục (đơn kiện) phải
bao gồm các nội dung: Phúc trình các sự kiện có liên quan, lập luận pháp lý
và các kiến nghị. Bản phản bị vong lục phải bao gồm các nội dung: Chấp
nhận hoặc phủ nhận các sự kiện trong bản bị vong lục; bất kỳ sự kiện bổ sung
nào nếu thấy cần thiết; những nhận xét về các lập luận pháp lý trong bản bị
vong lục, một bản lập luận pháp lý trả lời và các kiến nghị.
Trong trường hợp tranh chấp được đưa ra trước Tòa án bằng đơn kiện đơn
phương, ngoài bị vong lục và phản bị vong lục, Tòa án cũng có thể yêu cầu
48
các bên trình bày bản phân tích lập luận của đối phương. Các bản này không
chỉ lặp lại các luận thuyết của các bên mà còn phát triển tranh luận về các
điểm chính, hướng tới việc giải quyết các vấn đề còn đang tồn tại giữa họ.
Các bản bị vong lục hoặc phản bị vong lục phải được trình bày bằng một hoặc
hai thứ ngôn ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Pháp. Một bên có thể dùng ngôn
ngữ khác với ngôn ngữ chính thức nhưng phải có bản dịch sang một trong hai
ngôn ngữ chính (có chứng thực). Các bản gốc văn bản đều phải do viên chức
đại diện ký và nộp cho Thư ký Tòa án lưu. Tất cả các văn bản gửi Tòa án đề
phải đề ngày. Trong trường hợp không đề ngày thì Thư ký Tòa án sẽ ghi lên
tài liệu ngày Tòa án nhận được. Thư ký Tòa án chịu trách nhiệm dịch không
chính thức văn kiện từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác để cung cấp cho các
Thẩm phán. Nếu các bên đồng ý, Tòa án có thể cung cấp các văn kiện này cho
các quốc gia nào yêu cầu trước khi bắt đầu thủ tục nói (Khoản 2 và 3 Điều 67
UNCLOS 1982).
Trong trường hợp các biện hộ của các bên không đúng theo hình thức quy
định trong Nội quy Tòa án, Thư ký Tòa án sẽ gửi trả các bên bản biện hộ này
để chính sửa. Sau khi chỉnh sửa, các bên sẽ đệ trình lên Thư ký Tòa án, người
này sẽ xác nhận ngày mà Ban thư ký nhận được tài liệu.
Cuối mỗi văn kiện trong thủ tục viết các bên phải trình bày rõ ràng các kết
luận của mình trên cơ sở những sự kiện và các lập luận pháp lý. Tòa án chỉ có
trách nhiệm trả lời những yêu cầu của các bên được trình bày trong các kết
luận của họ gửi Tòa án.
Sau khi kết thúc thủ tục viết (văn bản, giấy tờ) và trước khi mở thủ tục nói
(tranh tụng), Tòa án sẽ họp kín để các Thẩm phán của Tòa án có thể trao đổi
về các tài liệu tố tụng bằng văn bản và phương hướng của vụ việc (Điều 68
Nội quy Tòa án).
49
2.1.3.2. Thủ tục tranh luận
Khi kết thúc thủ tục viết, Tòa án sẽ ấn định ngày mở thủ tục nói (tranh
tụng). Ngày mở thủ tục được ấn định trong vòng 06 tháng kể từ khi kết thúc
thủ tục viết trừ trường hợp có bằng chứng đầy đủ để thuyết phục Tòa án ra
quyết định khác. Trong trường hợp cần thiết Tòa án có thể quyết định việc
hoãn mở hoặc tiếp tục thủ tục nói (Điều 69 Nội quy Tòa án). Khi ấn định
ngày mở thủ tục tranh tụng hoặc hoãn mở hoặc tiếp tục thủ tục tranh tụng.
Tòa án cần xét đến:
- Yêu cầu phải tiến hành phiên tòa không có sự trì hoãn không cần thiết;
- Nhưng ưu tiên trong quy định của Điều 90 UNCLOS 1982 (Áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời) và Điều 112 UNCLOS 1982 (Đơn xin phóng
thích tàu và các thủy thủ đoàn);
- Bất cứ hoàn cảnh đặc biệt nào, bao gồm tính cấp thiết của vụ việc hoặc các
vụ việc khác trong Danh mục các vụ việc; và quan điểm của các bên đưa ra. Tòa
án có thể ra quyết định tiến hành thủ này (toàn bộ hoặc một phần) tại một nơi
khác trụ sở của Tòa án ngay sau khi đã tham khảo quan điểm của các bên.
Sau khi kết thúc thủ tục viết, không bên nào được nộp thêm bất cứ tài liệu
nào cho Tòa án trừ khi được sự đồng ý của bên kia hoặc trong trường hợp có
phản đối của Tòa án thấy việc trình bày thêm tài liệu là cần thiết. Bên kia
được coi là đã đồng ý nếu không đưa ra phản đối về việc trình thêm tài liệu
trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thủ tục trình thêm và bình
luận thêm tài liệu được tuân thủ theo đúng như các yêu cầu, quy định về nộp
tài liệu trong thủ tục viết.
Trước khi mở thủ tục tranh tụng, mỗi bên thông báo với Ban thư ký một
danh mục tên, họ, quốc tịch, đặc điểm và nơi cư trú của nhân chứng, chuyên
gia mà bên đó định mời cùng với những chỉ dẫn về những điểm bằng chứng
đã nhằm vào. Một bản sao có chứng thực của thông báo đó sẽ được nộp để
50
chuyển cho bên kia. Sau khi xác định rõ quan điểm của các bên, Tòa án sẽ xác
định thứ tự trình bày cho các bên, cách thức tìm hiểu những bằng chứng và
thẩm tra bất kỳ nhân chứng, chuyên gia nào cũng như số lượng người bào
chữa, luật sư được pháp trình bày cho mỗi bên. Phiên tranh tụng sẽ được tổ
chức công khai, trừ khi Tòa án ra quyết định khác hoặc các bên yêu cầu
không xét xử công khai.
Tòa sẽ dành cho các bên một ngày để trình bày ý kiến của mình trong thủ
tục nói bao gồm phần nói của các đại diện, cố vấn pháp lý, luật gia, nhân
chứng, chuyên gia… Phát biểu của mỗi bên trong phiên tranh tụng phải ngắn
gọn, trình bày rõ lập trường của mình. Các bên phải tập trung vào các vấn đề
chính còn bất đồng và không được thay thế toàn bộ lập luận của mình đã được
đưa ra trong đơn kiện, bản biện hộ, không nhắc lại tất cả những gì đã trình
bày trong các văn kiện của thủ tục viết và không nêu lại các sự kiện cũng như
các lập luận đã viện dẫn. Vào bất kỳ thời điểm nào (trước hoặc trong khi tranh
luận), Tòa án đều có thể chỉ ra những điểm, những vấn đề mà Tòa án muốn
các bên nghiên cứu kỹ hơn hoặc những điểm, những vấn đề mà Tòa án đã
thấy thảo luận đủ.
Đối với những nhân chứng, Tòa án sẽ tiến hành hỏi theo thứ tự như sau:
- Đại diện của bên đưa ra nhận chứng được quyền hỏi nhân chứng trước;
- Đại diện của bên đối phương sẽ đưa ra câu hỏi phản bác đối với nhân
chứng;
- Đại diện của bên đưa ra nhân chứng có quyền hỏi lại nhân chứng;
- Nhân chứng sẽ trả lời các câu hỏi của Chánh án và các Thẩm phán của
Tòa án.
Tòa án có quyền triệu tập các nhân chứng cho đến nay Tòa án chưa bao
giờ sử dụng quyền này. Tòa cũng có thể sử dụng quyền tham khảo các ý kiến
của các chuyên gia hay tiến hành điều tra ngay tại hiện trường.
51
Sau khi các bên đã trình bày ý kiến tranh tụng của mình, Tòa án có thể
nêu ra các câu hỏi cho các viên chức đại diện, người bào chữa, luật sư và có
thể yêu cầu họ giải trình. Họ có thể trả lời ngay hoặc trong thời hạn Chánh án
Tòa án ấn định. Các bên có thể mời bất kỳ nhân chứng hoặc chuyên gia nào
trong danh sách đã chuyển cho Tòa án. Và bất kỳ lúc nào trong suốt quá trình
phiên tòa, các bên cũng có thể mời một nhân chứng hoặc chuyên gia chưa có
tên trong danh sách này. Bên muốn mời sẽ đưa ra để đề nghị với Tòa án,
thông báo cho bên kia và phải cung cấp những thông tin theo yêu cầu của
Điều 72 Nội quy Tòa án. Nhân chứng, chuyên gia này có thể được mời trong
trường hợp bên kia không có phản đối hoặc theo sự cho phép của Tòa án sau
khi nghe các bên trình bày nếu bên kia có phản đối. Cuối phiên tranh tụng,
các đại diện sẽ đọc kết luận của mình trước khi giao văn bản có chữ ký cho
Thư ký Tòa án. Bản sao chép ghi các đề xuất đó do viên chức đại diện ký phải
được chuyển giao cho bên kia.
Nếu một bên yêu cầu hoặc thấy cần thiết, Tòa án có thể ra quyết định thực
hiện chức năng thu thập chứng cứ tại hiện trường, địa bàn có liên quan đến vụ
việc hoặc mời các chuyên gia độc lập cho ý kiến. Tất cả các tường trình, biên
bản về công việc tìm hiểu và mọi ý kiến chuyên gia phải được chuyển cho các
bên để họ có thể bình luận về chúng.
Các phiên họp đều phải có văn bản ghi chép. Bản sao bản ghi chép
nguyên văn phải được chuyển cho các Thẩm phán tham gia xét xử và cho các
bên để lấy ý kiến chỉnh sửa. Các chuyên gia, nhân chứng cũng được xem và
đề nghị chỉnh sửa những gì liên quan đến họ trong biên bản. Một bản sao có
chứng thực bản ghi chép nguyên văn đã được chỉnh sửa do Chánh án và Thư
ký Tòa án ký sẽ là biên bản chính thức của phiên họp. Biên bản các phiên họp
công khai được Tòa án in ấn và xuất bản.
52
2.1.3.3. Quá trình nghị án và phán quyết của Tòa án
Theo quy định khoản 2 Điều 88 Nội quy của Tòa án, khi kết thúc thủ tục
nói, Tòa bắt đầu nghị án. Quá trình nghị án như sau:
Các Thẩm phán sẽ thảo luận và chuẩn bị một bản nhận xét bằng văn bản
và trình bày quan điểm của mình. Sau đó, các Thẩm phán sẽ tiếp tục họp để
nghị án, từng Thẩm phán sẽ trình bày quan điểm của mình. Các Thẩm phán sẽ
tự do trong việc duy trì hay thay đổi quan điểm của mình.
Các Thẩm phán bầu ra Ủy ban soạn thảo phán quyết. Ủy ban soạn thảo
phán quyết sẽ làm dự thảo phán quyết và gửi cho các Thẩm phán để lấy ý
kiến. Sau đó, Tòa án tiến hành bỏ phiếu. Quyết định của Tòa được thông qua
bởi đa số có mặt và bỏ phiếu. Trường hợp phiếu thuận và chống ngang nhau
thì phiếu của Chánh án có tính chất quyết định (Điều 29 Quy chế Tòa án).
Tòa án ấn định ngày đọc phán quyết công khai. Phán quyết có hiệu lực
đối với các bên từ ngày được tuyên án.
Phán quyết của Tòa được công bố công khai với sự có mặt của tất cả các
Thẩm phán tham gia bỏ phiếu. Trường hợp vắng mặt do lý do bất khả kháng
phải có đủ 11 Thẩm phán thì việc tuyên án mới được tiến hành.
Các phán quyết của Tòa án có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các
bên (Khoản 2 Điều 33 Quy chế Tòa án). Nếu các bên có bất đồng trong việc
giải thích các phán quyết mang tính bắt buộc của Tòa có thể yêu cầu Tòa án
giải thích (Khoản 1, 2 Điều 126 Nội quy Tòa án).
2.1.4. Thực tiễn xét xử
Từ khi thành lập đến nay, ITLOS đã xét xử rất nhiều các vụ án có ý nghĩa
lớn trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia và đặc biệt là giữa các thể
nhân và pháp nhân với nhau. Mặt khác, các phán quyết này cũng có ý nghĩa
lớn trong việc tạo ra các tiền lệ mang tính định hướng cho các hành vi ứng xử
của các quốc gia, thể nhân và pháp nhân khi xảy ra tranh chấp cũng như khi
53
giải quyết tranh chấp. Trong đó có 21 vụ tiêu biểu mà Tòa án đã giải quyết
(Xem Phụ lục 1).
Trong các vụ trên, một số vụ việc được Tòa án giải quyết triệt để và các
bên nghiêm chỉnh thi hành. Tuy nhiên cũng có nhiều vụ việc các bên tiếp tục
đưa ra các căn cứ mới làm thay đổi nội dung cũng như tính chất của vụ tranh
chấp nên quá trình tố tụng diễn ra nhiều năm liền.
Trong đó, vụ tranh chấp giữa Myanma và Bangladet là vụ tranh chấp điển
hình nhất về tranh chấp lãnh thổ mà ITLOS đã thụ lý. Luận văn xin được đề
cập sâu hơn về vụ tranh chấp này để nghiên cứu cụ thể hơn về thủ tục xét xử
cũng như rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn vụ việc.
2.1.4.1. Bối cảnh lịch sử
Bước đầu tiên về việc phân định đường biên giới giữa nhà nước
Bangladesh hiện đại (được tách ra thành nhà nước độc lập từ Pakistan từ năm
1971) và nhà nước Myanmar xảy ra vào ngày 9/5/1966 với Hiệp ước ranh
giới sông Naaf. Đến một chừng mực nào đó, hiệp ước này xác lập một đường
biên giới chạy dọc theo đồng bằng sông Naaf, kết thúc ở cửa sông đổ vào
vịnh Bengal. Từ năm 1974 đến năm 1986, một loạt 8 vòng đàm phán song
phương đã được thu xếp để phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)
và ranh giới thềm lục địa. Tại vòng đàm phán thứ hai, ngày 23/11/1974, đại
diện của mỗi bên đã ký Biên bản thỏa thuận giữa phái đoàn Bangladesh và
Myanmar về việc phân định ranh giới biển giữa 2 nước (Biên bản thỏa thuận
1974). Tuyên bố đặc biệt này được gắn liền với (Biên bản thỏa thuận năm
1974) và minh họa một cách sinh động về đường ranh giới, mà theo một
đường biên giới song song giữa bờ biển bang Rakhine và cách đều giữa bờ
biển với đảo St. Martin thuộc Bangladesh.
Ba mươi năm sau, việc tranh chấp tái xuất hiện. Tranh chấp này xuất hiện
trở lại vì 2 nguyên nhân cơ bản: phát hiện mới về các mỏ khí hydrocacbon
54
(khí đốt) ở vịnh Bengal và sự gia tăng nhu cầu sử dụng khí đốt của cả 2 quốc
gia. Giai đoạn thứ 2, trong 6 vòng đàm phán, từ năm 2008 đến 2010, mang
đặc trưng của sự căng thẳng gia tăng. Vào tháng 04/2008, các bên cùng ký
một thỏa thuận tương tự Biên bản thỏa thuận 1974. Biên bản thỏa thuận của
Hội nghị được tổ chức giữa phái đoàn Bangladesh và phái đoàn Myanmar liên
quan đến việc phân định ranh giới biển giữa hai nước vào tháng 04/2008. Tài
liệu này, sau đó được gọi là Biên bản thỏa thuận 2008. Điểm nổi bật của Biên
bản Thỏa thuận 2008 liên quan đến việc phân loại các đảo, phù hợp với điều
121 trong UNCLOS 1982 và tiếp tục tái khẳng định và làm rõ đường đề xuất
trong Biên bản Thỏa thuận 1974, bằng cách chỉ định một loạt các điểm vĩ độ
và theo chiều dọc cụ thể. Ngoài ra, nó đã được đề xuất rằng diện tích đất được
gọi là đảo St Martin được coi là một hòn đảo, theo Điều 121 của UNCLOS
1982. Tuy nhiên, Đảo Oyster ngoài khơi bờ biển của Myanmar sẽ không được
coi là một hòn đảo, bởi vì nó không thể ở được vì thiếu nước ngọt, và như vậy
không thể duy trì được sự tồn tại của nền kinh tế và của vùng dân cư. Theo
điều 121 của UNCLOS thì chỉ có những vùng lãnh thổ có khả năng duy trì sự
sống của con người và nền kinh tế mới được có vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa.
Ngày 17/10/2008, 02 tàu Hải quân Myanmar hộ tống 04 tàu khảo sát tiến
hành hoạt động thăm dò trong khu vực rộng 50 hải lý nằm ở phía tây nam của
đảo St. Martin, nằm trong khu vực tranh chấp. Phía Bangladesh phản ứng
bằng cách kêu gọi Myanmar ngừng các hoạt động thăm dò, cho đến khi việc
phân định biên giới trên biển được xác định, đồng thời đe dọa sẽ sử dụng vũ
lực bằng việc gửi tới khu vực tranh chấp 3 tàu Hải quân. Mặc dù tình trạng bế
tắc kéo dài 01 tuần không dẫn tới xung đột trực tiếp, song dẫn đến việc
Bangladesh hướng tới việc giải quyết tranh chấp theo phương thức bên thứ 3
Trọng tài theo quy định của Phụ lục VII UNCLOS trong tháng 10/2009.
Không giống với các trường hợp giải quyết tại ITLOS, các quy định của Phụ
55
lục VII UNCLOS Tòa trọng tài gồm 5 thành viên. Hai thành viên do các bên
tranh chấp lựa chọn. Ba thành viên còn lại được các bên tranh chấp thỏa thuận
cử ra. Tuy nhiên, Myanmar lựa chọn không giải quyết tranh chấp theo quy
định của Phụ lục VII, mà giải quyết thông qua ITLOS và đàm phán song
phương đồng thời. Cả hai bên đều không đồng ý về 3 thành viên trọng tài
được lựa chọn, nhưng những cuộc đàm phán song phương vẫn xảy ra sau đó.
Tuy nhiên, Myanmar và Bangladesh quyết định theo đuổi một giải pháp thông
qua ITLOS trong quá trình tố tụng dưới đây.
2.1.4.2. Thủ tục pháp lý và phán quyết của Tòa án
Để có thể bắt đầu thủ tục tố tụng pháp lý theo ITLOS, cả hai nước đã đệ
trình tuyên bố, theo Điều 287 khoản 1, UNCLOS, về sự chấp nhận thẩm
quyền của ITLOS để giải quyết tranh chấp giữa Liên bang Myanmar và Cộng
hòa Nhân dân Bangladesh liên quan đến việc phân định biên giới biển giữa
hai nước trong vịnh Bengal. Trường hợp đó xác định chính xác quá trình phân
giới chia làm ba bước trong 25 năm. Đầu tiên, đường cách đều được nêu ra
dựa trên bất cứ điều kiện có liên quan và xét thấy phù hợp với Điều 15
UNCLOS.
Trong khi bước thứ nhất là khách quan hơn, bước thứ hai đòi hỏi có tính
đến mặt lõm của bờ biển hoặc duyên hải, đảo hiện diện, chiều dài bờ biển
tương đối và "cân nhắc liên quan đến các nguồn lực kinh tế, thủy sản, an ninh
và hàng hải". Bước thứ hai này xem xét các yếu tố liên quan trong việc điều
chỉnh để đảm bảo một giải pháp công bằng. Cuối cùng, sự phân tích về tính
mất cân đối được thực hiện nhằm tái khẳng định về giải pháp công bằng đó.
Theo ITLOS vùng biển tranh chấp có diện tích 283.471 km2
. Đưa ra xem
xét việc phân định lãnh hải cho thấy đề xuất tương ứng ban đầu (về lãnh hải)
của Myanmar và Banglades. Rõ ràng, đề xuất phân định của Myanmar đã cố
gắng bảo vệ các nguồn khí đốt tự nhiên ở phía Tây Nam đảo St. Martin thuộc
Banglades nơi đã tiến hành hoạt động khoan thăm dò vào tháng 10/2008 và
ngay sau đó đã xảy ra sự bất hòa với Banglades.
56
Hình 2.1: Vùng tranh chấp giữa Myanmar và Bangladesh
(Nguồn Balaram, Ravi A (2012), Case Study: The Myanmar and
Bangladesh Maritime Boundary Dispute in the Bay of Bengal and Its
Implications for South China Sea Claims).
Trong phiên điều trần tháng 9/2011, phái đoàn Banglades cho rằng từ điểm
01 đến điểm 7 đã trình ITLOS phù hợp với cả hai Biên bản thỏa thuận năm
1974 và 2008. Hơn nữa, phái đoàn Banglades đã chỉ ra những tài liệu minh
57
xác. Trong khi trên thực tế, Banglades thông qua Biên bản thỏa thuận năm
1974 có giá trị như một đường biên giới biển và dự thảo cho một hiệp ước với
Myanmar năm 1974. Myanmar lại tuyên bố các bên ký kết Biên bản thỏa
thuận 1974 và 2008 không có thẩm quyền phê chuẩn một ranh giới chung.
Hơn nữa, đã bác bỏ việc ký kết hiệp ước với Banglades năm 1974. Thay vì
nhìn nhận như những thỏa thuận có tính ràng buộc, Myanmar tuyên bố các
Biên bản thỏa thuận năm 1974 và 2008 chỉ có giá trị như một ghi chép về các
vấn đề đã được thỏa thuận, chứ không phải một giải pháp chính thức.
Banglades đã đệ trình các bản khai có tuyên thệ của thủy thủ và hải quân
Banglades như một bằng chứng về đường ranh giới không chính thức mà họ
tin rằng đã tồn tại từ năm 1974.
Thực tế là cả Myanmar và Banglades đã cùng nhau hành xử theo quy định
về ranh giới trong Bản đồ đặc biệt 114 gắn kèm với Biên bản thỏa thuận
1974. ITLOS vẫn cho rằng Biên bản này không đáp ứng được yêu cầu của
một (thỏa thuận ngầm) hoặc không chính thức bởi các bản khai được đệ trình
phản ánh quan điểm của các ngư dân và sự thành kiến của các nhân viên hải
quân Banglades. Phân tích về thỏa thuận ngầm hoặc không chính thức có tính
lịch sử trong Điều 15 của UNCLOS cho thấy: Ở nơi mà bờ biển của 2 nước
đối diện hoặc liền kề với nhau, cả 2 nước được cho quyền, và không có thỏa
thuận đối lập của họ, để phân định lãnh hải vượt qua đường trung tuyến từ tất
cả các điểm là cách đều từ điểm gần nhất của đường cơ sở tới bề rộng của các
đường lãnh hải của mỗi quốc gia đã được đo. Điều khoản trên (Điều 15)
không được áp dụng, tuy nhiên, việc quy định nơi đó là cần thiết vì lý do danh
nghĩa lịch sử hoặc các trường hợp đặc biệt khác để phân định lãnh hải của hai
nước mà không thể đưa ra một giải pháp hợp lý khác (UNCLOS 1982 Điều
15). Trong trường hợp không có thỏa thuận từ trước mà có tính ràng buộc
pháp lý, Tòa án tiếp đó sẽ xem xét xem có “danh nghĩa lịch sử hoặc trường
hợp đặc biệt khác” có liên quan đến trường hợp cụ thể này. Tuy nhiên,
58
Myanmar tuyên bố rằng đảo St. Martin là thuộc về trường hợp đặc biệt ở chỗ
nó ở vị trí đối diện với bờ biển Myanmar và nằm trong giới hạn truyền thống
12 hải lý đường lãnh hải của Banglades. Vì vậy, Myanmar cho rằng đảo này
không có lý do xác đáng để được xem xét đầy đủ để có một vùng lãnh hải,
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tương đối của nó. Điểm cốt yếu cho luận
điểm của Banglades là đảo St. Martin, nằm cách Banglades 6 hải lý về phía
Nam, có nền kinh tế đánh bắt cá bền vững, có 7000 dân cư và 1 ngành công
nghiệp du lịch đem lại 360.000 lượt khách hàng năm [41]. Trong luận điểm
này, Tòa án đã chọn lựa lập trường trung lập. Tòa án quyết định Đảo St.
Martin có 12 hải lý lãnh hải, nhưng không cho phép nó có vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa. Sau khi xem xét các danh nghĩa lịch sử cũng như các
lý do đặc biệt, Tòa án ra phán quyết về phân định lãnh hải. Thêm vào đó, Tòa
án cũng phán quyết vùng đặc quyền kinh tế sẽ kéo dài theo góc 215 độ (tương
đối vuông góc với bờ biển Myanmar) và kéo dài 200 hải lý. Cuối cùng, Tòa
án xem xét tuyên bố thềm lục địa vượt quá 200 hải lý. Myanmar đang tranh
chấp mà Tòa án không có thẩm quyền để thực hiện bản án đã nêu. Tòa án
nhắc đến các Điều 76 và 83 của UNCLOS, trong đó xác định một cách rõ
ràng “thềm lục địa” và các điều khoản biểu thị riêng biệt được cho phép bên
ngoài 200 hải lý. Hơn nữa hai nước lập luận rằng nước kia không được trao
quyền lợi bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế, Tòa án duy trì góc 2150
kéo dài
tự nhiên của đường ranh giới bên ngoài 200 hải lý. Cuối cùng, cả Myanmar và
Banglades chấp nhận phán quyết của Tòa án và trở thành đối tác cùng thăm
dò khai thác dầu mỏ và khí đốt.
2.2. Tòa Trọng tài
2.2.1. Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982
Tòa Trọng tài là một trong các thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc theo
UNCLOS 1982.
59
Theo quy định của UNCLOS 1982, trong trường hợp các quốc gia thành
viên UNCLOS 1982 là bên tranh chấp lựa chọn hình thức giải quyết tranh
chấp khác nhau và không lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bắt buộc
thì quốc gia thành viên UNCLOS 1982 “đương nhiên được coi là đã chấp
nhận hình thức giải quyết bằng Tòa Trọng tài” (Khoản 3 và 5, Điều 287
UNCLOS 1982). Do đó, cũng tương tự như ITLOS, thẩm quyền của Tòa
trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và
áp dụng UNCLOS 1982 là toàn diện.
2.2.1.1. Thẩm quyền của Tòa Trọng tài
Khi tranh chấp xảy ra, các bên đã tiến hành các biện pháp ngoại giao như
đàm phán, trung gian … nhưng không có kết quả thì có thể viện dẫn đến thủ
tục Tòa Trọng tài. Theo quy định của UNCLOS 1982, các quốc gia thành viên
có thể đưa tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng UNCLOS 1982 để
giải quyết bằng Tòa Trọng tài trong các trường hợp:
- Cả hai quốc gia thành viên UNCLOS 1982 đều tuyên bố lựa chọn Trọng
tài là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp theo UNCLOS 1982
năm 1982.
- Hai quốc gia thành viên UNCLOS 1982 thỏa thuận đưa vụ tranh chấp
của mình giải quyết theo thủ tục Trọng tài thông qua Hiệp định và Thỏa thuận
Trọng tài.
- Cả hai quốc gia thành viên đều không tiến hành lực lựa chọn thủ tục giải
quyết tranh chấp theo Điều 287 UNCLOS 1982 hoặc thủ tục giải quyết tranh
chấp mà hai bên lựa chọn là khác nhau.
Tòa Trọng tài sẽ thi hành chức năng của mình theo đúng Quy chế và các
điều khoản của UNCLOS 1982. Điều này cho phép Tòa trọng tài có thẩm
quyền giải quyết tất cả các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng và giải thích
UNCLOS 1982. Như vậy có nghĩa là toàn bộ các quy định của UNCLOS
60
1982 sẽ được Tòa Trọng tài áp dụng, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến
cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại Chương XV của UNCLOS
1982 .
2.2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tòa Trọng tài
Theo quy định tại Phụ lục VII của UNCLOS 1982 thì Tòa Trọng tài sẽ
gồm có 5 thành viên, trong đó mỗi bên tranh chấp cử ra một thành viên trong
số danh sách các Trọng tài viên được đăng ký với Tổng thư ký LHQ, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Ba thành viên còn lại do các bên thỏa
thuận cử ra trong danh sách các trọng tài nêu trên và ba thành viên này nhất
thiết có quốc tịch khác nhau, không được làm việc cho bên nào trong vụ tranh
chấp, không được cư ngụ thường xuyên trên lãnh thổ một trong các bên hữu
quan và không phải là công dân của nước nào.
Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn 3
thành viên còn lại thì Tòa Trọng tài cũng như Chánh Tòa trọng tài thì Chánh
án Tòa án ITLOS sẽ tiến hành lựa chọn các thành viên hoặc Chánh Tòa Trọng
tài. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu chỉ định thành
viên, Chánh án ITLOS cần tham vấn với các bên và tiến hành việc lựa chọn
các thành viên này từ danh sách trọng tài. Trong quá trình soạn thảo các quy
định giải quyết tranh chấp thì đây là một vấn đề gây tranh cãi. Có rất nhiều ý
kiến yêu cầu quyền lựa chọn thành viên phải giao cho Tổng thư ký LHQ hay
Chánh án Tòa án quốc tế… Tuy nhiên, cuối cùng các bên tham gia đàm phán
đã thống nhất quyền chỉ định trọng tài do Chánh án ITLOS đảm nhiệm.
Trường hợp Chánh án ITLOS không có khả năng lựa chọn hoặc là người
mang quốc tịch của một bên tranh chấp, việc lựa chọn sẽ được quyết định bởi
người có thâm niên cao nhất của ITLOS và người này cũng không được mang
quốc tịch của một trong các bên tranh chấp (Điều 3 Phụ lục VII UNCLOS
1982).
61
Các bên cùng một phía cùng nhau cử một thành viên của Toà qua thoả
thuận chung. Khi có nhiều bên đối lập nhau hay trong trường hợp không
thống nhất về điểm liệu các bên có đứng vào cùng một phía không, thì
mỗi bên trong số họ cử một thành viên của Toà. Số lượng thành viên của
Toà do các bên cử riêng rẽ bao giờ cũng phải ít hơn một người so với số
lượng các thành viên của Toà được các bên hữu quan cùng cử (Điều 3 Phụ
lục VII UNCLOS 1982).
2.2.1.3. Thủ tục xét xử
Thủ tục xét xử của Trọng tài theo UNCLOS 1982 cũng mang các đặc
trưng chung của loại hình giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài. Theo
đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, Tòa trọng tài sẽ tự quy định về
trình tự, thủ tục của mình, bảo đảm rằng mỗi bên tranh chấp sẽ có đầy đủ cơ
hội để trình bày ý kiến, chứng cứ cũng như tham gia vào quá trình tranh tụng
tại Tòa Trọng tài (Điều 5 Phụ lục VII UNCLOS 1982).
Các quyết định của Tòa trọng tài được thông qua bởi đa số đơn giản các
thành viên của Tòa trọng tài, tức là chỉ cần 3/5 thành viên của Tòa trọng tài
ủng hộ. Mặc dù quy chế Tòa trọng tài không quy định số lượng thành viên
cần thiết để thông qua quyết định trọng tài. Song với việc quy định việc vắng
mặt hoặc bỏ phiếu trắng của dưới một nửa số thành viên không cản trở Tòa
Trọng tài ra quyết định, chỉ cần có 3 thành viên thì Tòa trọng tài vẫn có thể ra
các phán quyết đối với vụ tranh chấp. Còn đối với các trường hợp, số phiếu
của các bên ngang nhau thì lá phiếu của Chánh Tòa trọng tài sẽ mang tính
quyết định.
2.2.1.4. Thực tiễn xét xử
Tòa trọng tài đã xét xử khoảng 8 vụ tranh chấp (Xem Phụ lục 2) và trong
đó có nhiều vụ Tòa trọng tài đã giải quyết xong cũng có những vụ vẫn còn
đang giải quyết. Liên quan đến tranh chấp về lãnh thổ giữa các quốc gia có
62
nhiều vụ điển hình trong đó luận văn tập trung nghiên cứu ba vụ tranh chấp,
đó là tranh chấp giữa Malaysia và Singapore, tranh chấp giữa Suriname và
Guyana, tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc. Cụ thể như sau:
Thứ nhất là vụ tranh chấp liên quan đến vấn đề lấn biển giữa
Malaysia và Singapre ở khu vực eo biển Johor
Ngày 4/7/2003, Malaysia đã thông báo cho Singapore về việc khởi kiện vụ
tranh chấp giữa hai nước liên quan đến việc Singapore thực hiện việc lấn biển
ở khu vực eo biển Johor. Đề xuất của Malaysia về việc giải quyết theo thủ tục
Tòa trọng tài tranh chấp giữa hai nước dựa trên việc cả hai đều là thành viên
của UNCLOS 1982, đều không tiến hành lựa chọn thủ tục giải quyết tranh
chấp theo Điều 287 cũng như không tuyên bố về việc loại bỏ áp dụng thủ tục
giải quyết tranh chấp bắt buộc theo Điều 297, 298 của UNCLOS 1982. Theo
Malaysia thì Singpore đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định của UNCLOS 1982
và theo luật quốc tế nói chung do việc đã khởi động dự án và thực hiện việc
lấn biển mà không thông báo một cách đầy đủ và tham vấn đầy đủ với
Malaysia về vấn đề này.
Malaysia thông báo về việc giải quyết theo thủ tục trọng tài kèm với thông
báo về việc áp dụng biện pháp tạm thời theo khoản 5 Điều 290 UNCLOS
1982 trong trường hợp chờ việc thiết lập Tòa Trọng tài để giải quyết tranh
chấp. Malaysia và Singapore đều đề nghị Chánh án ITLOS lựa chọn 3 thành
viên còn lại của Tòa Trọng tài và ngày 10/10/2003, Chánh án ITLOS đã thông
báo về việc lựa chọn 03 thành viên của Tòa Trọng tài bao gồm cả Chủ tịch
Tòa trọng tài.
Ngày 8/10/2003, ITLOS đã ra phán quyết áp dụng một số biện pháp tạm
thời, kể cả việc thiết lập nên một nhóm chuyên gia độc lập tiến hành việc
nghiên cứu trong một năm về hoạt động lấn biển và đề xuất các biện pháp cần
thiết để hạn chế các tác động tiêu cực của việc này.
63
Sau khi có phán quyết của ITLOS, cả Tòa trọng tài và nhóm chuyên gia
độc lập đều được lập ra. Ngày 5/11/2004, nhóm chuyên gia độc lập đã đệ
trình báo cáo của mình lên các bên tranh chấp và báo cáo này được nhóm
chuyên gia trình bày ngày 22/12/2004, đánh dấu việc kết thúc hoạt động của
nhóm chuyên gia. Trên cơ sở đó, ngày 26/4/2005, hai bên đã ký hiệp định đặc
biệt giải quyết dứt điểm tranh chấp này và đề nghị Tòa trọng tài ra phán quyết
cuối cùng về tranh chấp giữa các bên theo điều khoản của Hiệp định đặc biệt
kể trên. Ngày 01/9/2005, Tòa trọng tài đã ra phán quyết cuối cùng về vụ tranh
chấp và khẳng định lại thỏa thuận các bên đã đạt được trong Hiệp định đặc
biệt trên.
Thứ hai là vụ tranh chấp về yêu cầu bồi thƣờng của Guyana với
Suriname phân định biên giới trên biển trong khu vực Corentyne
Guyana và Suriname nằm trên bờ biển phía Đông bắc của lục địa Nam
Mỹ và bờ biển của nước tiếp giáp. Guyana dành được độc lập từ Vương quốc
Anh từ năm 1966. Suriname giành độc lập vào năm 1975 từ Hà Lan. Cả
Guyana và Suriname đều là thành viên của UNCLOS 1982.
Ngày 21/02/2004, Guyana đề nghị thành lập trọng tài để phân định biên
giới biển với Suriname và các hành vi vi phạm bị cáo buộc là vi phạm pháp
luật quốc tế của Suriname trong vùng biển tranh chấp theo Điều 286 và 287
UNCLOS 1982 và phù hợp với Phụ lục VII của UNCLOS 1982. Tòa Trọng
tài được thành lập với 5 thành viên: Dolliver M. Nelson (Chủ tịch), Kamal
Hossain, Thomas M. Franck, Ivan Shearer và Hans Smit.
Ngày 20/05/2005, Suriname nộp phản đối sơ bộ về thẩm quyền của Tòa
trọng tài. Tòa Trọng tài sẽ giải quyết phản đối sơ bộ về thẩm quyền và khả
năng chấp nhận việc đó trong phán quyết cuối cùng của Tòa án. Sau đó, trong
phán quyết của mình, Tòa án đã cho rằng mình có thẩm quyền để phân định
ranh giới biển giữa các bên.
64
Suriname lập luận rằng việc phân định lãnh hải nên tiến hành theo góc
phương vị N100
E từ điểm 1936/ điểm 61. Yêu cầu này chủ yếu dựa vào sự tồn
tại của thỏa thuận giữa Hà Lan và Vương quốc Anh.
Nhưng Guyana tranh luận rằng đường phân định nên thực hiện theo
đường trung tuyến lịch sử cùng góc phương vị N340
E từ điểm 61 với một
khoảng cách 12 hải lý đến một điểm giới hạn bên ngoài của lãnh hải. Theo
Guyana không thể áp dụng Điều 15 của UNCLOS 1982 theo yêu sách của
Suriname.
Tòa án cũng tuyên bố tôn trọng pháp luật quốc tế với việc phân định lãnh
hải đặt tính ưu việt của đường trung tuyến là đường phân định lãnh hải giữa
hai quốc gia đối diện hay liền kề. Tòa án cũng sẽ xem xét các hoàn cảnh đặc
biệt để điều chỉnh đường trung tuyến theo đúng quy định của pháp luật quốc
tế.
Trong quá trình phân định, Tòa án đã lấy đường N100
E theo yêu sách của
Suriname để phân định giữa các bên từ điểm bắt đầu giới hạn 3 hải lý. Do đó
vấn đề tiếp theo là đường 100
mở rộng từ trước đây chấp nhận giới hạn 3 hải
lý đến giới hạn hiện tại là 12 hải lý. Theo Tòa án một phần mở rộng tự động
của đường này sẽ nhanh chóng không còn liên quan đến hoàn cảnh đặc biệt để
làm chuyển hướng việc phân định bằng đường trung tuyến. Tòa án kết luận
rằng đường phân định của lãnh thổ biển phải được rút ra từ các điểm mà tại
đó có đường 100
E cắt giới hạn 03 hải lý đến điểm mà các đường trung tuyến
của Tòa phán quyết trong phán quyết này cắt giới hạn 12 hải lý.
65
Hình 2.2: Vùng tranh chấp biển giữa Guyana và Suriname
(Nguồn: Dr. Yoshifumi Tanaka (2007), The Guyana/Suriname Arbitration: A
66
Commentary).
Phán quyết của Tòa Trọng tài:
- Phân định lãnh hải
Suriname cho rằng việc phân định lãnh hải nên tiến hành cùng một góc
phương vị của N100
E từ năm 1936 tại điểm 61. Khiếu nại này chủ yếu dựa
vào sự tồn tại thỏa thuận thực tế giữa Hà Lan và Vương quốc Anh. Tuy nhiên,
Guyana lại cho rằng đường phân định nên thực hiện theo một đường cách đều
lịch sử cùng một góc phương vị của N 340
E từ điểm 61 cho đến một khoảng
cách 12 hải lý đến một điểm giới hạn bên ngoài của lãnh hải.
Áp dụng Điều 15 của UNCLOS 1982 về phân định lãnh hải đối với hai
quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau thì áp dụng nguyên tắc đường
trung tuyến. Tuy nhiên quy định này không được áp dụng trong trường hợp
do có những danh nghĩa lịch sử hay có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải
hoặc định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia theo cách khác. Sau đó, Tòa
Trọng tài xem xét trường hợp đặc biệt có thể yêu cầu điều chỉnh đường cách
đều. Trong trường hợp này, Tòa Trọng tài phán quyết rằng hoàn cảnh đặc biệt
có thể làm thay đổi cách phân định biển giữa hai nước. Trong quá trình phân
định, Tòa án cho rằng đường yêu sách 100
của Suriname được thiết lập giữa
các thành viên bắt đầu từ điểm giới hạn 3 hải lý.
- Phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế
Phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế giữa Guyana và Suriname
được thực hiện theo Điều 74 và 83 của UNCLOS 1982. Tòa Trọng tài phán
quyết rằng: Trong hai thập kỷ qua Tòa án quốc tế và Tòa trọng tài giải quyết
các tranh chấp liên quan đến việc phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế
đã nhận rõ được vai trò của các đường cách đều. Ngoài ra, Tòa Trọng tài cũng
tuyên bố thêm rằng việc phân định biển giữa các quốc gia có bờ biển liền kề
bằng phương pháp đường cách đều có thể ưu thế hơn cho một quốc gia. Do
67
đó, Tòa Trọng tài cho rằng các vụ việc của Tòa án Công lý quốc tế và Tòa
trọng tài cũng như thực tiễn các nước đang trong quá trình phân định thì
trường hợp cần thiết có thể sử dụng các lập luận bằng một đường cách đều
tạm thời như đối với các trường hợp có liên quan đến vụ việc để đạt được giải
pháp công bằng. Tòa Trọng tài sẽ thực hiện phương pháp này trong trường
hợp hiện tại.
Bằng cách tiếp cận đó thì phương pháp đường cách đều được áp dụng ở
giai đoạn đầu của quá trình phân định và có tính đền các hoàn cảnh liên quan.
Để vẽ một đường cách đều tạm thời, cần xác định một đường có liên quan đến
các bờ biển của các nước. Tòa Trọng tài phán quyết rằng các bờ biển có liên
quan của Guyana kéo dài từ lâu đài Devoshire hướng ra biển đến điểm “B”.
Còn các bờ biển có liên quan của Suriname kéo dài từ điểm Bluff – các điểm
trên bờ phía đông của sông Corentyne sử dụng trong năm 1936 như cửa sông
đến một điểm trên dải dất dọc bờ sông Vissers. Vấn đề là có các hoàn cảnh
liên quan có thể lý giải cho sự chệch hướng của đường trung tuyến tạm thời.
Về mặt này, Tòa Trọng tài cho rằng bờ biển của các bên có liên quan đã
không có bất kỳ sự lồi lõm nào và các bờ biển liên quan không đại diện cho
một hoàn cảnh đặc biệt nào cho phép điều chỉnh đường cách đều tạm thời.
Tòa cũng đưa ra phán quyết rằng việc thông lệ về việc khai thác dầu của
các bên không thể đưa vào thành điều khoản trong hoàn trường hợp này. Tòa
Trọng tài cho rằng không có sự biến dạng do địa lý ven biển nên không có
hoàn cảnh đặc biệt làm cho đường cách đều trở nên không công bằng. Vì vậy,
Tòa Trọng tài quyết định tỷ lệ cho các vùng liên quan là Guyana 51% và
Suriname 49%. Vì vậy, đường cách đều mà bắt đầu từ điểm 3 sẽ trở thành
đường phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của hai bên.
Ngoài việc phân định biển, Guyana còn yêu cầu Suriname phải bồi
thường do có hành vi sử dụng vũ lực. Theo Guyana, Suriname đã sử dụng vũ
68
lực ngày 03/6/2000 để phản đối việc Guyana cấp giấy phép cho công ty CGX
để thăm dò tài nguyên dầu. Tòa Trọng tài kết luận rằng hành động của
Suriname tạo thành một mối đe dọa sử dụng vũ lực trong phạm vi của
UNCLOS 1982, Hiến chương LHQ và của quốc tế nói chung. Tuy nhiên, Tòa
Trọng tài bác bỏ yêu cầu bồi thường của Guyana vì những thiệt hại không thể
chứng minh được.
Thứ ba là vụ Philippines kiện Trung Quốc về việc giải thích và áp
dụng sai UNCLOS 1982
Nước Cộng hòa Philippines tiến hành khởi kiện theo thủ tục trọng tài đối
với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để phản đối yêu sách của Trung
Quốc đối với các khu vực trên biển Đông và vùng đáy biển cách bờ biển gần
nhất của Trung Quốc là 870 hải lý và là vùng biển cấu thành nên vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của Philipines.
 Quá trình tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc
Mặc dù Trung Quốc đã trở thành thành viên của UNCLOS 1982 và bất
chấp yêu cầu theo Điều 300 về việc các quốc gia thành viên phải thực hiện
các nghĩa vụ của mình một cách thiện chí theo pháp Công ước, Trung Quốc
đã yêu sách “chủ quyền” và “quyền chủ quyền” đối với vùng biển rộng lớn
nằm trong “đường chín đoạn” bao phủ gần như toàn bộ Biển Đông. Cụ thể,
Trung Quốc đã yêu sách “chủ quyền” và “quyền chủ quyền” với hơn 1,94
triệu km2
tức là 70% diện tích nước và vùng biển của Biển Đông. Trung Quốc
đã chính thức đưa ra “đường chín đoạn” lần đầu trong Công hàm ngày
7/5/2009 gửi Tổng Thư kí LHQ. Theo bản đồ đó, Trung Quốc có chủ quyền
đối với toàn bộ vùng nước, toàn bộ đáy biển và tất cả các cấu tạo trên biển
trong “đường chín đoạn” này. Bằng việc yêu sách này, Trung Quốc đã mở
rộng thẩm quyền:
- Về phía Đông, ra tới khu vực cách bờ biển của hai đảo Luzon và
69
Palawan của Philippines 50 hải lý.
- Về phía Đông Nam, đường này cách đảo Palawan 30 hải lý.
Đường này chạy ngang và cách Palawan 30 hải lý và cắt vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của Philipines. Tại vùng nước được bao quanh bởi
đường chín đoạn, Trung Quốc cản trở bất hợp pháp quyền tự do đi lại của
Philippines trong chính vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và một phần
thuộc biển cả. Cùng với đó, Trung Quốc cũng cản trở Philippines thực hiện
các quyền đối với tài nguyên sinh vật, tài nguyên phi sinh vật trong vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa mở về phía Tây của đảo Luzon và phía Tây bắc
của đảo Palawan.
Tháng 6/2012, Trung Quốc đã đặt toàn bộ vùng biển trong “đường chín
đoạn” dưới sự quản lý của tỉnh Hải Nam. Tỉnh Hải Nam đã thực hiện hành
động phi pháp của mình với việc ban hành luật yêu cầu tàu thuyền nước ngoài
khi ra vào trong khu vực biển này cần phải làm các thủ tục xin phép Trung
Quốc, quy định về việc thanh tra, trục xuất và bắt giữ tàu thuyền không có
giấy phép có hiệu lực vào ngày 01/01/2014.
Trung Quốc tiến hành chiếm đóng một số cấu tạo chìm và một số cấu trúc
đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philipines.
Đối với các cấu tạo chìm như bãi Vành Khăn (Mischief), bãi Mc Kennam,
bãi Gaven và bãi Xu – bi trong quần đảo Trường Sa, Trung Quốc chiếm đóng
và xây dựng các đảo nhân tạo trên các cấu trúc này. Các cấu tạo này không
đáp ứng là đảo theo quy định của Điều 121 UNCLOS 1982. Chúng cao nhất
cũng chỉ là bãi cạn nửa nổi nửa chìm cách rất xa lãnh hải, đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa của Trung Quốc. Bởi chúng không nằm trên mặt biển tại mức
thủy triều dâng cao, chúng là một phần của thềm lục địa của một quốc gia
khác hoặc thuộc đấy biển quốc tế. Cụ thể:
- Bãi Vành khăn/Mischief (Tên Trung Quốc là Meiji Hao, Philippines là
70
Panganiban) là một mỏm đá chìm và một phần của thềm lục địa của
Philipines. Nó cách lãnh thổ của Trung Quốc khoảng 600 hải lý về phía Đông
Nam. Từ năm 1995, Trung Quốc đã cho xây dựng các công trình và các cơ sở
khác trên các giàn giáo và bệ xi măng tại bốn địa điểm khác nhau trên bãi này,
bất chấp sự phản đối của Philippines.
- Bãi McKennan (Tên Trung Quốc là Ximen Jiao, tên Philippines là
Chigua) là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm. Bãi này cách đảo Palawan của
Philippines là 180 hải lý về phía Tây. Cấu tạo chìm này cũng bị Trung Quốc
xây dựng các công trình và các cơ sở khác trên các giàn giáo và bệ xi măng.
- Bãi (đá) Gaven (Tên Trung Quốc là Nanxun Jiao) là một bãi cạn nửa
nổi nửa chìm, cách phía Tây bắc của đảo Palawan 205 hải lý.
- Bãi (đá) Xu – bi (Tên Trung Quốc là Zhubi Jao, tên Philippines là
Zamora) là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, cách phía Tây Bắc đảo Palawan
của Philippines 230 hải lý.
Đối với các cấu trúc đảo thì từ năm 2012, Trung Quốc đã giành quyền
kiểm soát với 6 mỏm đá nhỏ nhô trên mặt biển nằm trong vùng đặc quyền
kinh tế của Philipines. Đồng thời Trung Quốc đã đưa ra yêu sách một cách bất
hợp pháp đối với vùng biển rộng lớn xung quanh các cấu tạo này và ngăn
Philippines đi lại và tiếp cận với nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật trong
khu vực biển này. Sáu mỏm đá hay còn gọi là Bãi Hoàng Nham
(Scarborough) nằm khoảng 120 hải lý về phía Tây đảo Luzon của Philipines.
Các mỏm đá này là đá theo nghĩa thông thường theo định nghĩa của Điều 121
UNCLOS 1982. Không có đá nào nhô quá 3m trên mặt nước khi thủy triều
lên và cũng không có đá nào rộng quá vài mét. Vì vậy, các đảo đá này không
được hưởng vùng biển rộng hơn 12 hải lý. Trong khi đó, Trung Quốc ngoài
yêu sách chủ quyền đối với bãi Hoàng Nham như Philippines còn yêu sách
chủ quyền đối với vùng biển rộng lớn hơn rất nhiều – vùng biển mở đến giới
71
hạn của đường chín đoạn – xấp xỉ tới 70 hải lý về phía Đông.
Về phía Tây Nam của bãi Hoàng Nham của quần đảo Trường Sa, Trung
Quốc đã chiếm giữ một số cấu trúc đảo tương tự - những cấu trúc này mặc dù
nổi trên mặt nước khi thủy triều lên nhưng không có người ở và không có khả
năng duy trì đời sống kinh tế trong điều kiện tự nhiên. Các cấu tạo này do đó
cũng là “đá” theo định nghĩa của Điều 121(3) của UNCLOS 1982: Cụ thể [10,
48]:
Đá Gạc Ma/ Johnson nằm khoảng từ 90
42’ Bắc – 1140
22’ Đông và cách
phía Tây bắc đảo Palawan 180 hải lý.
Đá Châu Viên/ Cuarteron nằm khoảng 80
51’ – 1120
50’ Đông và cách Tây
đảo Palawan khoảng 245 hải lý.
Đá Chữ Thập/ Fiery nằm khoảng 90
33 bắc – 1120
54’, cách phía Tây đảo
Palawan 255 khoảng hải lý.
Mặc dù tất cả các cấu trúc đảo trên đều là “đá” theo định nghĩa của khoản
3 Điều 121 của UNCLOS 1982, nhưng Trung Quốc vẫn yêu sách một cách
phi pháp những vùng biển vượt ra ngoài vùng nước và đáy biển rộng 12 hải lý
xung quanh các cấu trúc này và ngăn cản Philippines và các quốc gia khác
tiếp cận với các vùng biển trên.
 Các yêu cầu của Philippines trong Thông báo và tuyên bố khởi
kiện ngày 22/01/2013
Để chống lại yêu sách phi lý của Trung Quốc, Philippines đã đệ trình lên
Tòa Trọng tài theo phụ lục VII UNCLOS 1982 Thông báo và Tuyên bố Khởi
kiện Trung Quốc của Philippines. Thông báo này có 43 điểm, trong đó từ
điểm 1 đến 11, điểm 31, điểm 41thể hiện đậm đặc nhất nội dung của đơn khởi
kiện của Philippines. Các yêu sách của Philippines được cụ thể hóa bằng 13
yêu cầu trong điểm 41 của đơn kiện [13]:
Thứ nhất tuyên bố quyền của Philippines cũng như quyền của Trung Quốc
72
đối với các vùng biển tại Biển Đông là quyền được thiết lập các vùng biển
thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo UNCLOS 1982. Có
nghĩa là Trung Quốc và Philippines chỉ có quyền đối với lãnh hải, vùng tiếp
giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình theo quy định của
UNCLOS 1982;
Thứ hai tuyên bố về yêu sách biển của Trung Quốc tại Biển Đông với
“đường lưỡi bò” là vô giá trị;
Thứ ba yêu cầu Trung Quốc sửa đổi nội luật cho phù hợp với các nghĩa
vụ của mình theo UNCLOS;
Thứ tƣ, tuyên bố bãi Vành Khăn, Mc Kennam là các cấu tạo ngầm thuộc
thềm lục địa của Philippines theo phần VI của Công ước và Trung Quốc
chiếm đóng cũng như xây dựng trên các cấu tạo này là vi phạm quyền chủ
quyền của Philipines;
Thứ năm, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc chiếm đống và chấm dứt
các hành vi trên bãi Vành Khăn và McKennam;
Thứ sáu, tuyên bố bãi Gaven và Xubi là những cấu tạo ngầm trên Biển
Đông và không nằm trên mực nước biển khi thủy triều lên cao nên không phải
là đảo theo Công ước cũng như không nằm trên thềm lục địa của Trung Quốc
và việc Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng trên các cấu tạo này là bất hợp
pháp;
Thứ bảy, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc chiếm đóng và các hành vi
trên bãi Gaven và Xu-bi;
Thứ tám, tuyên bố trừ một số mỏm nhô lên trên mặt nước khi thủy triều
lên cao là các đá theo khoản 3 Điều 121 của Công ước và do vậy chỉ có lãnh
hải không quá 12 hải lý, bãi Hoàng Nham, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập
là cấu tạo ngầm nằm dưới mực nước biển khi thủy triều lên cao và Trung
Quốc đã đưa ra yêu sách bất hợp pháp về vùng biển vượt ra ngoài 12 hải lý từ
73
những cấu tạo này;
Thứ chín, yêu cầu Trung Quốc không được ngăn cản tàu thuyền của
Philippines tiến hành khai thác một cách bền vững tài nguyên sinh vật tại
những vùng nước liền kề bãi Hoàng Nham và Gạc Ma cũng như không được
tiến hành những hành vi không phù hợp với Công ước tại hoặc trong khu vực
gần các cấu tạo này;
Thứ mƣời, tuyên bố theo UNCLOS, Philippines được hưởng từ đường cơ
sở quần đảo của mình lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng
200 hải lý và thềm lục địa theo Phần II, V, VI của UNCLOS;
Mƣời một, Trung Quốc đã đòi hỏi một cách bất hợp pháp và đã khai thác
trái phép các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa của Philippines và đã ngăn cản việc Philippines tiến hành khai
thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa của mình;
Mƣời hai, Tuyên bố Trung Quốc đã can thiệp một cách phi pháp vào việc
Philippines thực hiện các quyền hàng hải và các quyền khác của mình theo
Công ước tại những vùng bên trong và bên ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ
sở quần đảo của Philipines;
Mƣời ba, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các hành vi bất hợp pháp nói
trên.
Philippines đã tiến hành các cuộc trao đổi quan điểm theo đúng thủ tục
trong nội dung Công ước và xét thấy Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII có thẩm
quyền xét xử vụ việc giữa Philippines và Trung Quốc.
 Tiến trình vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc
Thông cáo báo chí vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc ban hành ngày
11/07/2013, khái quát tiến trình vụ kiện như sau:
Ngày 22/01/2013, Philippines đệ đơn kiện lên Tòa Trọng tài theo Phụ lục
74
VII UNCLOS 1982 khởi kiện Trung Quốc liên quan đến “quyền tài phán trên
biển của Philippines tại khu vực biển Tây Philipines”. Trong đơn kiện,
Philippines đã chỉ định thẩm phán Rudiger Wolfrum là thành viên của Tòa
Trọng tài đại diện cho quyền lợi của quốc gia mình.
Sau khi thiết lập thủ tục này, Philippines gửi Thông báo tới Trung Quốc.
Trung Quốc có 30 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo để chỉ định một
trọng tài viên để đại diện quyền lợi cho quốc gia mình.
Ngày 19/02/2013, trước thời khi thời hạn 30 ngày kết thúc, Trung Quốc
thông báo nước này từ chối và gửi trả lại thông báo cho Philippines và không
tham gia phiên tòa cũng không chấp nhận phán quyết của Tòa do Philippines
khởi xướng.
Bất chấp việc phản đối của Trung Quốc tiến trình của Toà Trọng tài cho
vụ kiện của Philipines vẫn diễn ra theo đúng trình tự được quy định trong
UNCLOS 1982. Ngày 25/03/2013, Chủ tịch Tòa án LHQ về Luật biển đã bổ
nhiệm Thẩm phán Stanislaw Pawlak người Ba Lan đại diện cho Trung Quốc
tham gia vụ án, sau khi Trung Quốc không cử đại diện trong vòng 60 ngày
theo quy định của UNCLOS 1982.
Ngày 21/6/2013, Hội đồng trọng tài được thành lập bao gồm 5 thành viên:
Chủ tịch Trọng tài – ông Thomas A. Mansah, người Gana; Trọng tài viên do
Philippines lựa chọn – ông Rudiger Wolfrum; Ông Jean – Pierre Cot người
Pháp; Ông Alfed Soons, người Hà Lan và ông Stanislaw Pawlak, người Ba Lan.
Ngày 11/7/2013, Tòa Trọng tài đã có phiên họp đầu tiên bàn về tiến trình
xét xử vụ kiện ở Hà Lan. Tại phiên họp này, Tòa Trọng tài đã đưa ra Trình tự
thủ tục (Procedural Order) đầu tiên và lịch trình dự kiến cho công việc của
Trọng tài và thông qua các Nguyên tắc tố tụng (Rules of Procedure). Tòa
Trọng tài đã quyết định PCA đứng ra là cơ quan đăng ký trong quá trình tố
tụng (Theo Thông cáo báo chí về việc Philippines kiện Trung Quốc ra trước
75
Tòa Trọng tài).
Trong trình tự tố tụng đầu tiên, Tòa Trọng tài đã chính thức thông qua các
nguyên tắc tố tụng và lấy ngày 30/03/2014 là ngày Philippines phải đệ trình
Báo cáo và bằng chứng về vụ kiện. Sau đó Tòa sẽ quyết định các bước tiếp
theo của quá trình tố tụng, bao gồm việc xem xét tính cần thiết và sắp xếp
chương trình thực hiện báo cáo và điều trần vào thời gian thích hợp, sau đó
tìm hiểu quan điểm của hai bên.
Ngày 28/02/2014, trưởng nhóm luật gia của Philippines đã đích danh kêu
gọi Việt Nam và Malaysia cùng với một số nước tranh chấp khác góp sức
cùng với Philippines trong vụ kiện đòi chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc
tại Biển Đông [4]. Sự góp mặt của Việt Nam và Malaysia cùng với
Philippines trong vụ kiện đường lưỡi bò của Trung Quốc sẽ thực sự “hữu ích”
theo lời của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao của Philipines. Hiện nay, việc có
quyết định cùng tiến bước với Philippines đòi lại chủ quyền của Biển Đông
hay không còn do sự cân nhắc lợi ích quốc gia của lãnh đạo các nước.
2.2.2. Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII UNCLOS 1982
2.2.2.1. Thẩm quyền của Trọng tài đặc biệt
Theo Điều 1 Phụ lục VIII UNCLOS 1982, Tòa trọng tài đặc biệt chỉ có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng
UNCLOS 1982 trong các lĩnh vực sau: Đánh bắt hải sản; Bảo vệ và gìn giữ
môi trường biển; Nghiên cứu khoa học biển và hàng hải, kể cả ô nhiễm do
nhận chìm.
Cũng như đối với các trường hợp của Tòa Trọng tài, các bên tranh chấp
có thể sử dụng hình thức Tòa trọng tài đặc biệt để giải quyết các tranh chấp
phát sinh có liên quan đến UNCLOS 1982. Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa
trọng tài đặc biệt chỉ giới hạn trong các lĩnh vực chuyên ngành như đã nêu.
Đây là những tranh chấp đặc thù nên cũng đòi hỏi phải có cơ chế giải quyết
76
đặc thù.
2.2.2.2. Cơ cấu của Tòa Trọng tài đặc biệt
Do đây là những tranh chấp liên quan đến các lĩnh vực chuyên sâu nên
những người lựa chọn giải quyết tranh chấp phải là người am tường và có
chuyên môn cao về các lĩnh vực này. Tiêu chuẩn chọn thành viên của Tòa
Trọng tài đặc biệt khác với Tòa trọng tài nêu trên. Ở đây, những người được
đề cử là các chuyên gia mà không phải là các trọng tài viên và những người
này phải là người có năng lực và thừa nhận chung về pháp lý, khoa học hay
kỹ thuật trong các lĩnh vực nói trên.
Cũng khác với Tòa Trọng tài, danh sách các chuyên gia do các nước chỉ
định không phải do Tổng thư ký LHQ lập và nắm giữ mà do các cơ quan
chuyên môn trong các lĩnh vực lập và duy trì.
Theo quy định của UNCLOS 1982, tổ chức Nông lương của LHQ (FAO)
lập và duy trì danh sách chuyên gia trong lĩnh vực đánh bắt hải sản; Chương
trình môi trường của LHQ (UNEP) lập và duy trì danh sách chuyên gia trong
lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; Tổ chức Hải dương học quốc tế
(IOC) lập và duy trì danh sách chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
biển; và Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) lập và duy trì danh sách chuyên gia
trong lĩnh vực hàng hải, kể cả ô nhiễm do tàu thuyền (Điều 2, khoản 2 Quy
chế Tòa trọng tài đặc biệt).
Mỗi bên tranh chấp có quyền lựa chọn hai thành viên Tòa Trọng tài đặc
biệt và một trong hai người này có thể là công dân nước mình và hai bên tiến
hành thỏa thuận cử ra Chánh Tòa Trọng tài đặc biệt. Trong trường hợp các
bên không thể lựa chọn được chuyên gia hay Chánh Tòa trọng tài đặc biệt thì
Tổng thư ký LHQ sẽ là người tiến hành việc lựa chọn này.
2.2.2.3. Thủ tục xét xử của Tòa trọng tài đặc biệt
Về thủ tục ra quyết định, hiệu lực và vấn đề án phí của Tòa Trọng tài đặc
biệt là giống với quy định của Tòa Trọng tài. Ngoài ra, Tòa Trọng tài đặc biệt
77
còn một thủ tục đó là thủ tục điều tra và xác minh nguyên nhân dẫn đến tranh
chấp. Chức năng tìm hiểu sự thật này hoàn toàn khác chức năng khác của Tòa
Trọng tài đặc biệt và việc điều tra này của Tòa án được coi là các chứng cứ
được xác minh giữa các bên (Điều 5 Phụ lục VIII UNCLOS 1982). Hơn nữa,
Tòa Trọng tài đặc biệt còn có chức năng đưa ra các khuyến nghị ràng buộc
làm cơ sở để các bên xem xét nguyên nhân làm nảy sinh tranh chấp.
2.2.2.4. Thực tiễn xét xử
UNCLOS 1982 đã dự trù ra hình thức giải quyết bằng trọng tài đặc biệt
cho các tranh chấp có tính đặc thù như đánh bắt hải sản, bảo vệ và giữ gìn môi
trường biển, nghiên cứu khoa học biển, hàng hải kể cả nạn ô nhiễm môi
trường do tàu hay do nhấn chìm gây ra để các chủ thể có thể lựa chọn. Tuy
nhiên, kể từ khi UNCLOS 1982 có hiệu lực đến giờ thì vẫn chưa có quốc gia
nào, pháp nhân, thể nhân nào sử dụng cơ chế trọng tài đặc biệt để giải quyết
tranh chấp phát sinh giữa họ.
78
Chƣơng 3: NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÁC
CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII,
PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN
3.1. Thời cơ, thách thức khi Việt Nam để sử dụng cơ quan tài phán
quốc tế để bảo vệ chủ quyền trên biển Đông
3.1.1. Thời cơ
3.1.1.1. Chủ quyền Việt Nam trên biển Đông phù hợp với UNCLOS
1982, bảo đảm công bằng trong Tuyên bố ứng xử Biển Đông và các Hiệp
định phân định biển
Hình 3.1 Sơ đồ các vùng biển Việt Nam
(Nguồn:http://www.quocphonganninh.edu.vn/)
79
Thứ nhất, về nội thủy, theo tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt
Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của
Việt Nam ngày 12/5/1977, nội thủy nước CHXHCN Việt Nam bao gồm:
- Vùng biển nằm phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển ven bờ lục
địa Việt Nam, bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các
vịnh, các vùng nước nằm kẹp giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở.
- Vùng biển nằm ở phía trong đường cơ sở của các đảo, quần đảo của hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
- Vùng nước lịch sử của Việt Nam trong Vịnh Thái Lan (Xác lập theo
Hiệp định vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia ngày 7/7/1982).
Và sau này khi Luật biển Việt Nam ra đời năm 2012 cũng quy định rất cụ
thể: “Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở
và là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”.
Nhà nước Việt Nam cũng khẳng định rất rõ ràng về chế độ pháp lý của
nội thủy: “Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ với
nội thủy như trên lãnh thổ đất liền”.
Như vậy, nội thủy Việt Nam được xác định, phân định hoàn toàn phù hợp
với quy định trong UNCLOS 1982. Đây là vùng được xem như lãnh thổ đất
liền mà Việt Nam thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ.
Thứ hai, về lãnh hải, Việt Nam có rất nhiều quy định cụ thể khẳng định
về chiều rộng lãnh hải. Cụ thể, trong Tuyên bố của Chính phủ nước
CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa của Việt Nam quy định: “Lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam
rộng 12 hải lý, ở phía ngoài của đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất
của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ
ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra”.
80
Tương tự điều này cũng được quy định trong Luật biên giới quốc gia năm
2003 và được cụ thể hóa trong Điều 11 của Luật biển Việt Nam năm 2012:
“Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở”.
Lãnh hải ven bờ lục địa được tính từ hệ thống đường cơ sở thẳng đã công
bố trong Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về đường cơ sở thẳng được dùng
để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982. Nhưng hệ thống này
vẫn còn có hai điểm để ngỏ ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Hệ thống
đường cơ sở của Việt Nam gồm 11 điểm có tọa độ xác định và để ngỏ hai
điểm: điểm 0 nằm trên giao điểm giữa đường thẳng nối liền quần đảo Thổ
Chu (Việt Nam) và đảo Poulowai (Campuchia) và đường phân định biên giới
giữa hai bên trong vùng nước lịch sử; và điểm kết thúc ở cửa Vịnh Bắc Bộ là
giao điểm của đường cửa vịnh với đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ.
Theo quy định tại Luật biên giới quốc gia năm 2003 thì đường cơ sở để
xác định chiều rộng lãnh hải của Việt Nam là: “Đường gãy khúc nối liền các
điểm được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc bờ biển và các
đảo gần bờ do Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam xác định công bố”.
Ta có thể thấy, Việt Nam đã xác định đường cơ sở trên cơ sở kết hợp cả
phương pháp xác định đường cơ sở thẳng và đường cơ sở thông thường theo
quy định tại Điều 5 UNCLOS 1982. Đường cơ sở của Việt Nam đã tuân thủ
theo các quy định về đường cơ sở của UNCLOS 1982 cũng như các Hiệp
định về phân định biển với các quốc gia láng giềng.
Thứ ba, về vùng tiếp giáp lãnh hải, trong tuyên bố của Chính phủ nước
CHXHCN Việt Nam năm 1977 có quy định: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của
nước CHXHCN Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt
Nam và có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng
biển rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. Và
điều đó tiếp tục được khẳng định trong Luật Biển Việt Nam: “Vùng tiếp giáp
lãnh hải là vùng biển tiếp liền nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12
81
hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải”.
Nhà nước Việt Nam cũng thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán
của mình trên vùng biển này. Nhà nước thực hiện việc kiểm soát cần thiết với
vùng biển rộng 12 hải lý tiếp liền lãnh hải nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các
quyền lợi về hải quan, thuế khóa, và nhằm bảo đảm sự tuân thủ và tôn trọng
các quy định về y tế, di cư và nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt
Nam.
Các quy định trên về cơ bản là hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982, có
mở rộng thêm về phạm vi kiểm soát cả với tàu thuyền nước ngoài nhằm ngăn
chặn và trừng trị vi phạm về an ninh và di cư trên đất liền hay trong lãnh hải
Việt Nam.
Thứ tƣ, về vùng đặc quyền kinh tế, trong các văn bản trước đây và cụ thể
là trong Luật biển Việt Nam năm 2012 quy định tại Điều 15: “Vùng đặc
quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với
lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở”.
Tại vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước Việt nam có chủ quyền hoàn toàn
về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên
sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy
biển; có thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động phục vụ cho việc thăm dò và
khai thác nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu
khoa học biển, thiết lập và lắp đặt, sử dụng các công trình, đảo nhân tạo trong
vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cũng như có thẩm quyền riêng biệt về
việc bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm môi trường biển.
Thứ năm, về thềm lục địa
Theo Luật biên giới quốc gia năm 2003 quy đinh: “Thềm lục địa là đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở
rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa mà Việt Nam là quốc
82
gia ven bờ có chủ quyền, quyền tài phán được xác định theo UNCLOS 1982,
trừ trường hợp Điều ước quốc tế giữa nước CHXHCN Việt Nam với các nước
hữu quan có quy định khác”.
Vẫn với tinh thần đó, Luật biển Việt Nam năm 2012 tiếp tục khẳng định:
“Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy, tiếp liền và nằm ngoài
lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền,
các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa”.
Theo cấu trúc tự nhiên, thềm lục địa Việt Nam bao gồm bốn phần: thềm
lục địa Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa khu vực miền Trung, thềm lục địa khu vực
phía Nam, thềm lục địa khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước
Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản
lý tất cả tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam.
Như vậy, thềm lục địa Việt Nam cũng được mở rộng ra 200 hải lý tính từ
đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải. Các quy định của Chính phủ Việt
Nam là hoàn toàn phù hợp với quy định của UNCLOS 1982 nói chung và tinh
thần của các quốc gia trên Biển Đông nói chung.
3.1.1.2. Sự hợp tác, thiện chí của các nƣớc ASEAN trong giải quyết
tranh chấp ở Biển Đông
Asean là tổ chức của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á là một liên minh
chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay,
Asean gồm có 10 quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore, Thái
Lan, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanma và Campuchia (theo Bách khoa toàn
thư mở wikipedia).
Các nước trong khu vực Đông Nam Á luôn tôn trọng và đề cao cở sở pháp
lý quốc tế và xác lập chủ quyền cũng như nghiêm túc thực hiện các cam kết
quốc tế. Vì vậy mà các nước này đã có thái độ rõ ràng trong phân định biển và
có những hành động dứt khoát trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Các
83
quốc gia ASEAN luôn có những phản ứng kịp thời trước những tuyên bố hay
hành vi bất hợp pháp mà Trung Quốc cố tình thực hiện trên Biển Đông. Các
nước cũng đề xuất quan điểm nâng vấn đề Biển Đông thành vấn đề giữa
ASEAN và Trung Quốc cũng như hưởng ứng việc hòa bình giải quyết tranh
chấp và áp dụng giải pháp tạm thời “cùng khai thác chung”. Bởi lẽ UNCLOS
1982 cũng có quy định về việc cùng khai thác như một giải pháp tạm thời
trước khi tiến hành phân định biển. Hơn nữa, giữa các nước Đông Nam Á đã
tồn tại thực tiễn áp dụng giải pháp cùng thăm dò tài nguyên trong thềm lục địa
trong vùng chồng lấn rất có hiệu quả.
Trước tình hình căng thẳng biển Đông ngày càng leo thang, các quốc gia
Đông Nam Á và cộng đồng quốc tế luôn mong muốn các bên tuân thủ
nghiêm ngặt các quy định của pháp luật quốc tế về biển, đặc biệt là UNCLOS
1982 và DOC, đồng thời phản đối mạnh mẽ và kiên quyết các hoạt động vi
phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trên biển. Bên cạnh đó, cũng thúc đẩy
các bên tranh chấp sớm đưa ra COC để những gì thống nhất được thực thi đầy
đủ.
ASEAN nỗ lực rất nhiều trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc.
Cụ thể, năm 1992, ASEAN đã ra Tuyên bố về Biển Đông; đưa vấn đề Biển
Đông vào nội dung ARF (diễn đàn an ninh khu vực), các nước không liên kết
ASEM; tích cực tìm kiếm lập trường chung và tìm cách lôi kéo, ràng buộc
Trung Quốc vào khuôn khổ thỏa thuận khu vực DOC (tháng 11/2002) và
COC trong tương lai. ASEAN có lập trường chung là giải quyết tranh chấp về
chủ quyền Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, không sử dụng vũ
lực và đe dọa sử dụng vũ lực
Để đạt được mục tiêu hòa bình, thịnh vượng và an ninh Biển Đông, các
ứng xử mềm mỏng, biết kiềm chế là tiêu chí quan trọng quyết định sự thành
công của quá trình đàm phán, giải quyết tranh chấp. Vì vậy, các quốc gia
trong khu vực luôn nêu cao tinh thần hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, và có
thái độ ứng xử mềm mỏng nhưng kiên quyết trước hành động hết sức thâm
84
độc và tinh vi của Trung Quốc.
3.1.1.3. Philippines khởi kiện Trung Quốc ra trƣớc Tòa Trọng tài
theo Phụ lục VII UNCLOS 1982
Trước đường lưỡi bò phi lý và các hành động có vẻ ngông cuồng nhưng
rất thâm độc và bài bản của Trung Quốc, Philippines đưa các tranh chấp với
Trung Quốc ở Biển Đông ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982.
Đây là một thời cơ lớn đồng thời cũng là thách thức cho Việt Nam khi thực
hiện việc chủ quyền của mình trên Biển Đông.
Thứ nhất nói về thời cơ, có thể nói, việc Philippines tự mình đứng ra
khởi kiện Trung Quốc như một “quả bộc phá” đập tan mưu đồ biến Biển
Đông thành ao hồ của Trung Quốc. Với việc Trung Quốc bảo lưu theo Điều
289 UNCLOS 1982, các quốc gia dường như bế tắc trong việc đưa Trung
Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế để dành lại công lý cho mình. Và có thể
nói, đây là một thách thức lớn nhất trong việc sử dụng các cơ quan tài phán
bảo vệ chủ quyền của mình trên biển Đông của các quốc gia hữu quan. Nhưng
với sự kiên trì, sáng tạo và nỗ lực không ngừng, Philippines cùng với đội ngũ
luật sư của mình đã tạo ra được “kì tích” khi đưa được Trung Quốc ra trước
Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982. Vì vậy, các quốc gia hữu
quan khác trong đó có Việt Nam có thể học tập Philippines để bảo vệ chủ
quyền của mình tại Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982.
Hơn nữa việc Philippines đưa các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển
Đông ra Tòa án Trọng tài quốc tế tạo cơ hội lớn cho các nước đang có tranh
chấp với Trung Quốc. Cả Trung Quốc và Philippines đều phải giải thích rõ
ràng trước Tòa án về việc giải thích và áp dụng UNCLOS 1982 về Luật Biển.
Ngay cả như hiện nay, Trung Quốc phản đối không tham gia vụ kiện, một khi
Tòa trọng tài giải quyết thì Philippines vẫn phải đưa ra các lập luận chứng
minh yêu sách đường lưỡi bò là bất hợp pháp theo pháp luật quốc tế. Thêm
85
vào đó, Philippines cũng phải làm sáng tỏ quan điểm của mình về cách diễn
giải khoản 3 Điều 121 về quy chế đảo áp dụng cho các đối tượng tranh chấp ở
Trường Sa.
Lợi ích nữa mà Viêt Nam sẽ đạt được chính là kinh nghiệm trong quá trình
tiến hành tố tụng. Vụ kiện này sẽ kéo dài và quá trình tố tụng rất phức tạp và tốn
kém. Chính vì thế vụ kiện này sẽ giúp Việt Nam chuẩn bị tốt hơn cho hồ sơ vụ
kiện sau này, tìm hiểu lý lẽ của các bên tham gia để củng cố các lập luận và
chứng cứ của mình. Đồng thời Việt Nam cũng có thời gian quan sát và tìm hiểu
cách đối phó cho thích hợp, đặc biệt là mặt pháp lý của Tòa án. Bởi các vụ kiện
có liên quan tới chủ quyền như thế tốn nhiều chi phí về mặt chuẩn bị hồ sơ, chọn
Thẩm phán và cả những vận động phía sau hậu trường.
Thứ hai là về thách thức, trong 13 nội dung Philippines yêu cầu Tòa
Trọng tài tuyên bố trên có rất nhiều điểm làm tổn hại đến chủ quyền lịch sử
của Việt Nam tại Trường Sa. Cụ thể [13]:
Tại các điểm 4, 15, 16, 17, 31, 41: Bãi Vành Khăn và đá Kennan được
giải thích là “những cấu tạo ngầm thuộc thềm lục địa của Philipines”. Đây là
các đá thuộc cụm đảo Sinh Tồn và Bình Nguyên của quần đảo Hoàng Sa. Giải
thích này đã bác bỏ chủ quyền của Việt Nam tại hai đá này.
Tại các điểm 6, 8, 14, 22, 24, 28, 31, 41, về đá Gaven, Xu-bi, Gạc Ma,
Châu Viên và Chữ Thập, Philippines cho rằng chúng nằm dưới mực nước
biển khi thủy triều lên cao nên không phải là đảo và cũng ko nằm trên thềm
lục địa của Trung Quốc. Đá GaVen, Chữ Thập thuộc cụm Nam Yết, đá Xu-bi
thuộc cụm Thị Tứ, Gạc Ma thuộc cụm Sinh Tồn, Châu Viên thuộc cụm
Trường Sa. Chúng không nằm trên thềm lục địa của Trung Quốc mà thuộc
quần đảo có chủ quyền lịch sử của Việt Nam [26]. Các đá nêu trên nằm rải rác
trong các cụm đảo, trở thành những bộ phận tạo thành một thể thống nhất của
quần đảo Trường Sa, không thể tách rời chúng để quy vào thềm lục địa của
86
một quốc gia khác. Mà chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa là
chủ quyền mang tính lịch sử. Các nhà nước Việt Nam đã xác lập phù hợp với
tiêu chuẩn của nguyên tắc chiếm hữu thực sự và được cộng đồng quốc tế công
nhận.
Tại các điểm 10, 12, 14, 17, 20, 39, 41, Philippines yêu cầu Tòa Trọng tài
tuyên bố là Philippines được hưởng 12 hải lý lãnh hải, 200 hải lý đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa tính từ đường cơ sở quần đảo. Nếu không có vùng
chồng lần thì chắc chắn Philippines sẽ được hưởng vùng biển như trên.
Nhưng thực tế, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines chồng lấn
với lãnh hải 12 hải lý của các đảo, đá của Trường Sa. Nếu quần đảo Trường
Sa mà có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa thì vùng chồng lấn còn rộng
hơn nữa.
Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Philippines chống lại Trung Quốc nhưng
vô tình đã xâm phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc đưa đến thời cơ và thách thức
như vậy, Việt Nam cần lựa chọn các phương án để bảo vệ chủ quyền của
mình ở Biển Đông: Thứ nhất là tự mình khởi kiện độc lập theo cách
Philippines đang làm; thứ hai là đứng ngoài cuộc và thứ ba là tham gia vào vụ
kiện cùng với Philippines? Do tình hình thế giới và khu vực có rất nhiều biến
chuyển thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông nên Việt Nam
cần cân nhắc kỹ lưỡng các sự lựa chọn để có thể đưa ra giải pháp thích hợp
trong điều kiện của một quốc gia nhỏ, có biển và nằm sát cạnh “người khổng
lồ” Trung Quốc:
- Tự mình khởi kiện độc lập theo thủ tục Trọng tài:
Về thuận lợi: Việt Nam có thể tự mình đưa đơn kiện và trình bày các lập
luận, các lý lẽ của mình để bảo vệ không chỉ các vùng biển theo quy định của
Công ước mà còn đối với cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mặc dù bị
87
vướng mắc theo sự bảo lưu theo Điều 289 UNCLOS của Trung Quốc nhưng
Việt Nam vẫn có thể đưa vào đơn kiện các nội dung như tranh chấp Hoàng
Sa, Trường Sa. Và việc Tòa án có chấp nhận các nội dung này hay không thì
ít nhất Việt Nam cũng thể hiện được tiếng nói của mình trong việc đòi lại chủ
quyền của mình tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì theo thực tiễn tố
tụng quốc tế, nếu có tranh chấp lãnh thổ mà giữa các khiếu nại, yêu sách
chính thức có một khoảng gián đoạn 50 năm hoặc nhiều hơn thì những đòi hỏi
lãnh thổ trở nên vô hiệu [33]. Quần đảo Trường Sa đang là đối tượng tranh
chấp của nhiều quốc gia trong khu vực. Quần đảo Hoàng Sa đã chính thức bị
Trung Quốc chiếm đóng năm 1974. Hiện nay đã là 40 năm, kể từ ngày Trung
Quốc chiếm đóng Hoàng Sa của Việt Nam. Vì vậy, chúng ta chỉ còn thời gian
là 10 năm để lên tiếng đòi lại Hoàng Sa của mình.
Về khó khăn
Vụ việc của Việt Nam khác so với các luận điểm của Philipines. Chủ
quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa được thiết lập theo nguyên tắc
chiếm hữu thực sự, không dựa vào tính kế cận địa lý. Nếu chỉ đơn thuần giải
thích theo quy định của UNCLOS 1982 sẽ làm giảm đi chủ quyền pháp lý của
Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
Thêm nữa, khi tuyên bố bảo lưu theo Điều 298 UNCLOS 1982 nên Tòa
Trọng tài sẽ không thụ lý để giải quyết vụ việc này.
Hơn nữa, quần đảo Trường Sa không chỉ có Việt Nam và Trung Quốc yêu
sách mà cả các quốc gia như Philipines, Malaysia, Brunei. Vì vậy, khi Việt
Nam đơn phương khởi kiện là tách ra khỏi mối quan hệ với các quốc gia này,
trở nên đối kháng với tất cả các bên trong tranh chấp. Vì vậy, muốn giải quyết
tranh chấp ở quần đảo Trường Sa cần tăng cường mối quan hệ đoàn kết trong
ASEAN và có những tính toán cần thiết, thận trọng trước khi đưa ra quyết
định.
88
Vì vậy, xét tương quan giữa thuận lợi và khó khăn thì ở thời điểm hiện tại,
Việt Nam chưa thể tự đứng ra kiện Trung Quốc giống như Philippines đã làm.
- Đứng ngoài vụ tranh chấp:
Theo Điều 11 Phụ lục VII UNCLOS 1982, phán quyết chỉ có tính ràng
buộc giữa các bên tham gia. Vì vậy, nếu Việt Nam không tham gia vào vụ
kiện thì phán quyết của Tòa Trọng tài không có hiệu lực đối với Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia luôn luôn mạnh mẽ khẳng định chủ quyền không thể
tranh cãi của mình tại quần đảo Trường Sa, lại không có động thái gì để bảo
vệ chủ quyền đó khi bị xâm phạm. Theo nguyên tắc Estoppel thì một quốc gia
không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc
hoạt động trước kia. Vụ kiện của Philippines kiện Trung Quốc có nhiều luận
điểm Philippines yêu cầu nhưng vi phạm chủ quyền tại quần đảo Trường Sa
của Việt Nam. Nếu chúng ta im lặng, đứng ngoài thì quốc gia khác có thể dẫn
chiếu nguyên tắc Estopped rằng sự im lặng của Việt Nam như một sự công
nhận mặc nhiên đối với yêu sách và quan điểm về chủ quyền của Philipines.
Vì vậy, trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, Việt Nam không thể
khoanh tay đứng nhìn, thản nhiên coi như không phải chuyện của mình được.
- Tham gia vào vụ kiện cùng với Philippines
Trước lời kêu gọi đích danh của Philippines yêu cầu Việt Nam tham gia
vào vụ kiện, Việt Nam nên cân nhắc kỹ trước hai sự lựa chọn nếu quyết định
tham gia vụ kiện cùng với Philippines: tham gia với tư cách đồng nguyên đơn
khởi kiện “yêu sách đường lưỡi bò” với Philippines hoặc tham gia với tư cách
người thứ ba có liên quan trong vụ kiện
Về thuận lợi nói chung khi Việt Nam tham gia vụ kiện cùng với
Philippines:
Tình hình thế giới và khu vực hiện nay tạo rất nhiều thuận lợi cho Việt
Nam tham gia cùng với Philippines trong vụ kiện “đường lưỡi bò” của Trung
89
Quốc.
Lập trường của Hoa Kỳ có nhiều thay đổi cụ thể như trước đây họ chỉ
kêu gọi các bên ở Biển Đông giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp
hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo đảm hàng hải… Cụ thể hơn, Hoa
Kỳ chỉ khẳng định có lợi ích ở Biển Đông và phản đối mọi hành động sử
dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, có hành vi cưỡng chế làm thay đổi thực
trạng Biển Đông… Hiện nay, các quan chức cao cấp Hoa Kỳ liên tục công
khai nói rõ và nhắc lại việc phản đối tính chất bất hợp lý, bất hợp pháp của
đường lưỡi bò. Mỹ còn có những hoạt động thực tế cam kết, tuyên bố của các
quan chức cấp cao như Tham mưu trưởng hải quân Mỹ sẵn sàng hỗ trợ
Philippines trong trường hợp xảy ra xung đột.
Thêm nữa, trước đây, thái độ lập trường của Malaysia trong vấn đề Biển
Đông thường chú trọng hợp tác song phương với Trung Quốc hơn là các vấn
đề chủ quyền hay an ninh hàng hải. Nhưng hiện nay trước các hành động của
Trung Quốc như hai lần kéo quân ra tập trận trái phép tại bãi James, sát bờ
biển Malaysia trong vòng chưa đầy một năm đã khiến nước này có các động
thái cụ thể hơn đối với Trung Quốc như Malaysia cùng với Philipines, Việt
Nam thúc đẩy đàm phán COC, đã công bố kế hoạch xây dựng một căn cứ hải
quân tại Bintulu ở Sarawak, thị trấn lớn, gần nhất với bãi ngầm James, thúc
đẩy hợp tác quân sự với Hoa Kỳ….
Về khó khăn, như đã phân tích ở trên, khó khăn lớn nhất khi Việt Nam
tham gia vụ kiện với Philippines chính là các yêu sách của Philippines được
nêu trong đơn kiện có nhiều điểm xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam.
Nếu Việt Nam không lên tiếng bảo vệ chủ quyền của mình thì các nước hữu
quan có thể viện dẫn sự im lặng của Việt Nam theo nguyên tắc Estoppel để
chống lại Việt Nam.
Xét theo tình hình thực tế hiện nay, Việt Nam chưa hội đủ các điều kiện
90
để đứng độc lập khởi kiện Trung Quốc; nhưng Việt Nam cũng không thể im
lặng đứng ngoài vụ tranh chấp được. Vì vậy, Việt Nam nên chăng cần cân
nhắc lựa chọn thời điểm cùng tham gia vụ kiện với Philippines. Khi đã quyết
định tham gia vụ kiện với Philippines, Việt Nam cần lựa chọn các phương án
để có thể phát huy tốt nhất các điều kiện thuận lợi và hạn chế được các khó
khăn đặt ra cho mình.
Câu hỏi đặt ra liệu Việt Nam có thể tham gia với tư cách đồng nguyên
đơn với Philippines được hay không? Quy tắc tố tụng ngày 27/8/2013 của Tòa
Trọng tài không quy định cụ thể vấn đề này. Tuy nhiên theo định nghĩa thông
thường, “đồng nguyên đơn” là những người cùng đưa đơn khởi kiện. Vì vậy,
để trở thành đồng nguyên đơn với Philippines của Việt Nam đã không còn.
Thông báo và tuyên bố khởi kiện của Philippines được đưa đến Tòa Trọng tài
từ ngày 22/01/2013. Thêm nữa, đồng nguyên đơn phải là người có lợi ích
tương đồng nhau trong một vụ kiện và họ phải cùng nhau soạn thảo cũng như
là đưa ra các lập luận, các yêu sách về đề nghị ra trước Tòa án. Trong khi đó,
Tuyên bố và thông báo khởi kiện của Philippines được thực hiện một cách độc
lập không có sự tham gia của phía Việt Nam. Điểm nữa rất quan trọng là Thông
báo và tuyên bố khởi kiện của Philippines lại làm phương hại đến chủ quyền
lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Và cả trong trường hợp Việt
Nam được Tòa Trọng tài cũng như Philippines chấp nhận tham gia cới tư cách
đồng nguyên đơn thì Việt Nam coi như chấp thuận toàn bộ yêu sách trong Thông
báo và tuyên bố khởi kiện của Philippines. Trường hợp này, Việt Nam lại rơi vào
bẫy Estopped, tức là không lên tiếng khi chủ quyền quốc gia mình bị xâm phạm.
Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam khó có thể tham gia vào vụ kiện
Philippines và Trung Quốc với tư cách đồng nguyên đơn được.
Đối với phương án Việt Nam tham gia với tư cách người có quyền và lợi
ích liên quan thì cũng có một số vấn pháp lý và thực tế đặt ra. Theo đó, người
có quyền và lợi ích liên quan là người không phải là người khởi kiện cũng
91
không phải là người bị kiện, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có liên
quan đến quyền và lợi ích của họ. Vụ kiện Philippines và Trung Quốc, dù là
trực tiếp hay gián tiếp đều có liên quan đến quyền và lợi ích của Việt Nam tại
Biển Đông.
Trước đây, trong các vụ việc của Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII chưa có
tiền lệ bên thứ ba được quyền can thiệp vào vụ kiện. Theo Điều 5 Phụ lục VII
UNCLOS 1982 quy định: “Trừ khi các bên có thoả thuận khác, Toà trọng tài
tự quy định thủ tục của mình bằng cách cho mỗi bên có khả năng bảo vệ các
quyền của mình và trình bày căn cứ của mình”. Vì vậy, sau khi Hội động
Trọng tài được thành lập, Trọng tài chính là người tự quy định thủ tục giải
quyết vụ việc cho mình (Điều 5 Phụ lục VII UNCLOS 1982) và Trọng tài sẽ
quyết định việc có cho bên thứ ba can thiệp hay không. Theo khoản 2 Điều 1
Quy tắc tố tụng của Trọng tài được ban hành ngày 27/8/2013 có quy định:
“Các vấn đề về thủ tục không được quy định cụ thể trong quy tắc tố tụng này hay
phụ lục VII hay các quy định khác của Công ước mà các bên không có thỏa
thuận thì sẽ do Tòa Trọng tài quyết định sau khi tham vấn ý kiến của các bên”.
Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, Trung Quốc trả lại thông báo khởi
kiện cho Philippines và tuyên bố không tham gia vụ kiện cũng không chấp
nhận phán quyết của Tòa Trọng tài. Trong khi đó, Philippines đã có lời mời
Việt Nam và một số nước hữu quan tham gia vụ kiện. Và Luâ ̣t sư trưởng của
Philippines trong vụnày, Paul Reichler, thuộc công ty luâ ̣t Foley Hoag đă ̣t ở
Washington DC, nói tòa trọng tài quốc tế có các điều khoản cho phép các
nước khác xin tham gia [30]. Xét trên cơ sở thực tế, Tòa Trọng tài rất có thể
đồng ý cho Việt Nam tham gia với tư cách người có quyền và lợi ích liên
quan do xét đến tính pháp lý lịch sử đa phương của đối tượng tranh chấp. Giải
pháp này kết hợp cả tính ngoại giao, chính trị và pháp lý để Việt Nam có thể
tránh được bẫy của nguyên tắc Estopped và đồng thời có thể chính thức đưa
92
ra các lập luận của mình bảo vệ chủ quyền tại Trường Sa của mình.
Nếu Việt Nam tham gia vào vụ kiện Philippines và Trung Quốc với tư
cách người có quyền và lợi ích liên quan thì có nhiều thuận lợi:
- Việt Nam có thể có cơ hội trình bày cụ thể, rõ ràng các lập luận, chứng
cứ pháp lý, lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên một số các đảo,
đá như Vành Khăn, Kennam, Xu bi… mà Philippines đã đánh đồng là của họ.
Và trong quá trình vụ kiện, đối với bất cứ quốc gia nào có động thái vi phạm
chủ quyền của ta ở Trường Sa, Việt Nam cần có thể lên tiếng phản đối để bảo
đảm nguyên tắc trước sau như một.
- Việt Nam tham gia vào vụ kiện giữa Philippines với Trung Quốc
khẳng định được lập trường vững chắc của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ
quyền trên Biển Đông của mình, đồng thời củng cố mối quan hệ đoàn kết
giữa các nước hữu quan trong mối quan hệ với Trung Quốc nhằm duy trì hòa
bình ổn định và ngăn chặn các hành vi khiêu khích có thể dẫn đến xung đột ở
Biển Đông.
Từ các lập luận trên, theo ý kiến của tác giả, Việt Nam nên nộp đơn yêu
cầu Tòa Trọng tài tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền và lợi ích liên
quan để một mặt bảo vệ chủ quyền của mình và mặt khác cùng với
Philippines “đập tan” yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc.
Mặc dù, Việt Nam có mối quan hệ hữu nghị hợp tác tốt đẹp với Trung
Quốc trong rất nhiều lĩnh vực, tuy nhiên chủ quyền quốc gia là vấn đề không
thể mang ra đổi chác, mua bán. Với việc Việt Nam tham gia với tư cách người
có quyền và lợi ích liên quan trong vụ kiện chống lại Trung Quốc là bước đầu
cho lời khẳng định với Trung Quốc cũng như dư luận thế giới về chủ quyền
lịch sử lâu đời của Việt Nam ở Biển Đông.
3.1.2. Thách thức
3.1.2.1. Chủ quan
Việc tranh chấp Biển Đông của Việt Nam vẫn kéo dài chưa có giải pháp
93
cuối cùng do rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Việt
Nam đang tiếp tục xác lập và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển đảo và
thực tiễn thực hiện chủ quyền trên biển của mình.
Thứ nhất là cơ sở pháp lý chưa đầy đủ:
Trước tiên về việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về
việc xác lập lãnh thổ với Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy chúng ta đã có quy
định về các điểm của đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải nhưng với hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam vẫn chưa có văn kiện nào quy
định cụ thể về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của các quần đảo này.
Điều này khiến cho việc giải quyết tranh chấp của Việt Nam với các quốc gia
trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa thêm phức tạp.
Thứ ba là về tiềm lực kinh tế, quốc phòng
Gần đây, Trung Quốc nổi lên như một quốc gia hùng mạnh về tiềm lực
kinh tế, chính trị, quốc phòng và cùng với đó là tham vọng bành trướng Biển
Đông mang tên “đường lưỡi bò”. Đây là đường chữ U đứt đoạn bao trùm gần
như toàn bộ Biển Đông với những lý lẽ đây là vùng nước lịch sử của Trung
Quốc. Trung Quốc muốn biến cả biển Đông trở thành ao hồ của mình. Từ sự
kiện đó kéo theo rất nhiều tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước khác và
với cả Việt Nam.
Việt Nam là một nước nhỏ, nằm sát cạnh Trung Quốc là một cường quốc.
Nước ta không có lực lượng quân sự hùng mạnh như Trung Quốc cũng không
có có cơ sở khoa học kỹ thuật biển tiên tiến như nước bạn. Với tinh thần tôn
trọng pháp luật quốc tế, Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng
biện pháp hòa bình. Vì vậy, ta cần phải thực hiện chính sách đối ngoại mềm
mỏng nhưng kiên quyết trong đấu tranh với Trung Quốc trên phương diện
ngoại giao.
3.1.2.2. Khách quan
 Các tranh chấp ở Biển Đông là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ quốc
gia nên nó rất khó giải quyết. Kể từ khi tồn tại nhà nước, chủ quyền quốc gia
94
là vấn đề tối thượng, thiêng liêng và không thể thỏa hiệp giữa các quốc gia.
Ngay cả khi những nước có tuyên bố chồng chéo về chủ quyền sẵn sàng bước
vào đàm phán thì cũng sẽ phải mất nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ, mới đạt
được một thỏa thuận thích hợp. Vì vậy, thực tế là không thể hy vọng vấn đề
tranh chấp chủ quyền sẽ được giải quyết trong tương lai gần.
 Sự thiếu tính đồng thuận trong nội bộ của ASEAN
Như đã phân tích ở trên, các nước ASEAN rất đoàn kết, thiện chí, hợp tác
trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông. Tuy nhiên, hiện nay, một mặt do
các yêu sách ở Biển Đông giữa các quốc gia ASEAN còn chồng lấn, mặt khác
sự đoàn kết của ASEAN đang bị đe dọa do sự lôi kéo của Trung Quốc bằng
rất nhiều các chính sách khác nhau. Trung Quốc có thể thực hiện các hành
động ngang ngược, vô lý của mình là bởi Trung Quốc hiểu không có sự đoàn
kết tập thể trong ASEAN để đạt được và hình thành một mặt trận thống nhất
nhằm chống lại sự thúc ép của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.
Hơn bất kể thời điểm nào khác, việc tranh chấp cũng đã gây thiệt hại nghiêm
trọng đối với những đòi hỏi của ASEAN để có thể kiểm soát được những vấn đề
khu vực quan trọng và sự hội nhập khu vực trong tương lai.
Đây là thời điểm khó khăn đầu tiên trong việc đạt được sự đồng thuận, nó đã
chứng minh cho việc khi mỗi nước đều muốn đi ngược lại lợi ích chung:
ASEAN đã thất bại, trong quá khứ quan điểm mạnh mẽ về sự đồng thuận đã giải
quyết được nhiều bất đồng, thậm chí kể cả cuộc xung đột diễn ra tại Đông Nam
châu Á, như vụ việc của Đông Timo năm 1999 dựa trên sự tôn trọng quan điểm
đồng thuận và không can thiệp công việc nội bộ của nhau - một tương phản
mạnh mẽ với một vài tổ chức khu vực khác như Liên minh Châu Phi.
Campuchia khi giữ chức chủ tịch ASEAN trong năm 2012, đã trở nên dựa
dẫm nhiều hơn về đầu tư và viện trợ của Trung Quốc. Thương mại hai chiều
giữa Trung Quốc và Campuchia ước tính tăng gần gấp đôi từ nay đến năm
95
2017, ước tính đạt 5 tỷ USD [14], trong khi Trung Quốc trở thành viện trợ lớn
nhất đối với nước này. Tương tự như vậy, Lào và Thái Lan nền kinh tế cũng
phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc.
Sự đoàn kết của ASEAN bị Trung Quốc phá vỡ tại Hội nghị Bộ trưởng
ASEAN ở Phnom Penh tháng 6/2012. Khi Campuchia trong cương vị chủ
tịch đã cản trở và thành công trong việc không đưa vấn đề Biển Đông vào
Thông cáo chung ASEAN, một tuyên bố sẽ chỉ trích rất nhiều các quan điểm
gây xung đột của Trung Quốc ở Biển Đông.
Trung Quốc có thể sẽ theo đuổi chiến lược gây chia rẽ các nước ASEAN
với cường độ lớn hơn khi nước này ngày càng phải chịu nhiều sức ép từ cộng
đồng quốc tế về giải pháp giải quyết xung đột trong tranh chấp Biển Đông. Sự
đoàn kết chung của ASEAN trước Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp lãnh
thổ sẽ tiếp tục là một huyền thoại không có thực vì một số nước ASEAN dễ bị
Trung Quốc lôi kéo bằng những hứa hẹn đầu tư tài chính hấp dẫn. Một số
quốc gia ASEAN không tranh chấp có quan điểm khác với các quốc gia tranh
chấp trong việc đánh giá Trung Quốc và điều này sẽ làm tăng thêm sự mất
đoàn kết của ASEAN và đem lại lợi thế cho Trung Quốc. ASEAN, một thể
chế khu vực nổi bật ở Đông Nam Á, đứng trước nguy cơ tan vỡ nếu một số
nước thành viên của tổ chức này gục ngã trước chiến lược chia rẽ của Trung
Quốc.
 Tuyên bố ngày 25 tháng 8 năm 2006 của Trung Quốc
Ngày 25/8/2006, Trung Quốc đã đệ trình một báo cáo gửi lên LHQ tuyên
bố bảo lưu theo Điều 298 UNCLOS 1982, cụ thể: “Chính phủ nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa không chấp nhận bất kỳ thủ tục nào được quy định tại
Mục 2 phần XV của UNCLOS 1982 này liên quan đến tất cả các tranh chấp
được dẫn chiếu tại khoản 1(a) (b) và (c) của Điều 298 của UNCLOS 1982”
[22]. Như vậy, Trung Quốc đã thực hiện quyền của mình và không tham gia
96
vào quy chế giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc theo Mục 2 phần XV
đối với các tranh chấp được dẫn chiếu tại Điều 289(1)(a)(b) và (c) của
UNCLOS.
Đầu tiên phải kể đến là các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp
dụng các Điều 15, 74 và 83 về phân định biên giới trên biển. Các tranh chấp
phát sinh từ các Điều 15, 74 và 83 của UNCLOS 1982 cũng sẽ bị loại trừ khỏi
cả hình thức tham vấn không ràng buộc theo Phụ lục V của UNCLOS 1982.
Tranh chấp về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa Trung Quốc và Việt
Nam gần quần đảo Hoàng Sa sẽ liên quan đến một tranh chấp có chủ quyền
của một vùng lãnh thổ đảo có đất liền. Do đó, quy định của khoản này cũng
được áp dụng và tranh chấp sẽ được loại trừ khỏi việc đệ trình tham vấn.
Thứ hai, tuyên bố của Trung Quốc loại trừ các tranh chấp liên quan đến
việc giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS 1982 liên quan đến
các vịnh và danh nghĩa lịch sử. Do đó, một tranh chấp về việc giải thích Điều
10(6) về vịnh lịch sử sẽ được loại trừ. Như vậy, một tranh chấp về việc liệu
“danh nghĩa lịch sử” của một bên cần được xem xét đến trong việc phân định
biên giới lãnh hải hay không cũng bị loại trừ.
Thứ ba, tuyên bố của Trung Quốc loại trừ các tranh chấp liên quan đến
các hoạt động quân sự. Do đó, bất kỳ tranh chấp nào về việc Quốc gia có
quyền thực hiện các hoạt động quân sự theo Điều 58 UNCLOS 1982 như
thăm dò hay tập huấn ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc hay không
cũng bị loại trừ khỏi hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS
1982. Bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến các hoạt động quân sự của Trung
Quốc ở các vùng biển của Quốc gia khác cũng bị loại trừ.
Thứ tƣ, tuyên bố của Trung Quốc cũng loại trừ các tranh chấp liên quan
đến hoạt động cưỡng chế pháp luật đối với thực hiện quyền chủ quyền và
quyền tài phán khỏi thẩm quyền của Điều 297 (2) và (3). Như vậy, chỉ những
hoạt động liên quan đến việc cưỡng chế các hoạt động đánh cá và nghiên cứu
97
khoa học biển là bị loại trừ khỏi hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc.
Thứ năm, tuyên bố trên còn loại trừ các tranh chấp mà Hội đồng Bảo an
LHQ đang thực hiện chức năng được giao phó bởi Hiến chương của LHQ, trừ
khi Hội đồng Bảo an quyết định loại bỏ vấn đề khỏi chương trình nghị sự của
mình hoặc kêu gọi các bên giải quyết bằng các biện pháp được nêu ra trong
UNCLOS 1982.
Với tuyên bố trên, Trung Quốc nhất quán với chính sách không quốc tế
hóa việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, mà thực hiện giải quyết
song phương với các quốc gia có tranh chấp.
 Tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông
Mục tiêu của Trung Quốc là phấn đấu đến năm 2050 vươn lên trở thành
siêu cường thế giới ngang hàng với Mỹ trên cơ sở “cải cách, mở cửa” và “trỗi
dậy hòa bình”. Trung Quốc cho rằng thời gian từ nay đến năm 2020 là cơ hội
tốt nhất cho Trung Quốc để phát triển. Vì vậy, xu thế chính trong chính sách
đối ngoại của Trung Quốc trong những năm tới là cố gắng giải quyết các mâu
thuẫn bên trong và bên ngoài một cách hài hòa và tránh các biện pháp cực
đoan, không đối đầu với Mỹ, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các
nước láng giềng, duy trì môi trường hòa bình, hòa dịu.
Mặt khác sau một thời gian dài dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển kinh
tế, Trung Quốc đã trở thành một nước lớn trên thế giới. Năm 2005, với tổng
thu nhập quốc dân vượt 2.200 tỷ USD, Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn
thứ 2 trên thế giới. Do kinh tế phát triển nhanh, nguồn tài nguyên thiên nhiên
và năng lượng trong nước có hạn nên Trung Quốc đã trở thành “con rồng đói”
về nguyên liệu và nhiên liệu. Từ năm 2003, Trung Quốc đã trở thành nước
nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Trung Quốc đã và đang vươn
ra khắp thế giới để tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên
khoáng sản và năng lượng để bảo đảm nhu cầu phát triển và an ninh năng
lượng của mình, trong đó biển là nguồn cung cấp quan trọng. Đồng thời, để
98
có thể chuyên chở, nhập khẩu nguyên nhiên liệu và hàng hóa, Trung Quốc
càng ngày càng coi trọng quyền tự do hàng hải và an toàn thương mại hàng
hải. Với khoảng 70% lượng dầu khí nhập khẩu đi qua Biển Đông, Trung
Quốc coi Biển Đông thực sự là “con đường sinh mệnh” của mình. Trung
Quốc yêu sách đối với toàn bộ Hoàng Sa và vùng kế cận thuộc chủ quyền
đương nhiên và không thể tranh cãi của Trung Quốc. Còn Trường Sa, Trung
Quốc thừa nhận có tranh chấp và chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”.
Sau một thời gian dài “im hơi lặng tiếng”, từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc
bắt đầu hoạch định các chiến lược và tham gia vào tranh chấp Biển Đông,
bước đầu là khu vực biển đảo phía Bắc, đến giữa thế kỷ hình thành yêu sách
trên toàn bộ Biển Đông với hàng loạt các sự kiện: Năm 1946 vẽ yêu sách
đường lưỡi bò (đến tháng 5/2009 thì chính thức đưa ra yêu sách này) đồng
thời ra chiếm nhóm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình ở
Trường Sa; năm 1956 chiếm giữ phần phía Đông của Hoàng Sa; 1958 chính
thức tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; năm
1974 chiếm phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa; năm 1988 đánh chiếm
một số điểm trên quần đảo Trường Sa, năm 1995 đánh chiếm thêm Vành
Khăn, phía Nam quần đảo Trường Sa.
Từ những năm 1995, Trung Quốc đã đưa ra chiến lược khai thác biển với
mục tiêu biến Trung Quốc trở thành cường quốc thế giới về biển, có khả năng
khống chế và kiểm soát đường biển, khai thác tài nguyên biển. Về khai thác
tài nguyên biển, Trung Quốc chủ trương: “Khai thác biển xa trước, biển gần
sau, biển có tranh chấp trước, biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc sau”;
“ngoại giao đi trước hải quân đi sau”; phân hóa chia rẽ ASEAN, tranh thủ và
hạn chế Mỹ, Nhật. Về phương thức hợp tác, Trung Quốc chủ trương lấy song
phương là chính, đa phương khi Trung Quốc giữ vai trò chủ đạo. Hướng
chính ra biển của Trung Quốc là Biển Đông nơi giàu tài nguyên thiên nhiên,
các nước lớn không có căn cứ quân sự và các nước nhỏ liên quan đều yếu về
99
quân sự, quốc phòng [31].
Để thực hiện tham vọng của mình, Trung Quốc đã triển khai những bước
đi cụ thể: Trung Quốc đã chính thức đưa yêu sách “đường lưỡi bò” vào tháng
5/2009 bằng cách đính kèm một bản đồ yêu sách này kèm theo công hàm gửi
LHQ phản đối Báo cáo của Việt Nam và Báo cáo chung của Việt Nam –
Malaysia về ranh giới thềm lục địa được vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ
sở, theo đó, đòi chủ quyền hai quần đảo “Tây Sa” (Hoàng Sa) và “Nam Sa”
(Trường Sa) và vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai quần đảo này.
Với Công hàm ngày 7/5/2009 kèm theo bản đồ "đường lưỡi bò", dường
như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận tính chất lịch sử
của "đường lưỡi bò" và mặc nhiên coi Biển Đông là vùng biển lịch sử của
Trung Quốc [28].
Trung Quốc ngang nhiên cắt cáp các tàu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Việt Nam (PetroVietNam) hoặc các tàu do công ty này thuê trên vùng thềm
lục địa của Việt Nam. Vao giữ a nam 2011, tàu địa chấn Bình Minh 02 của
PetroVietnam đang tién hanh khảo sát đia chan tai khu vưc các lo 125,
126, 148, 149 tren them luc đia mien Trung của Viet Nam thi bi ba tau hải
giám của Trung Quoc cát cáp.
Tiếp tục, ngày 26/05/2011 tai vung biẻn mien Trung chỉ cách mũi Đai
Lãnh của tỉnh Phú Yen 120 hải lý mot tau tham do dau khí khác của Viet
Nam thue vưa bi tau Tr ung Quóc phá hoai thiet bi . Hai tuan sau vu tau
Binh Minh 02. Sau đó , sang tháng 6/2011, tau Viking 2, chuyên khảo sát
địa chấn 3D của lien doanh CGG Veritas (Pháp) được Tổng công ty cổ phần
Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC) thue lai bi tau Trung Q uóc cát
cáp [17]. Sau đó, Trung Quốc không thực hiện các hoạt động này nhưng
lại đưa ra các tuyên bố mời thầu trên vùng thềm lục địa của Việt Nam.
Trong tháng 6/2012, Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc
100
(CNOOC) đã mời thầu các công ty năng lượng nước ngoài quyền thăm dò
9 lô dầu khí tại Biển Đông. Các lô dầu khí này nằm hoàn toàn trong vùng
EEZ của Việt Nam và nằm chồng lấn với các lô dầu khí được mời thầu tới
các tập đoàn năng lượng nước ngoài bởi PetroVietnam.
Ngày 24/7/2012, Quốc vụ Viện Trung Quốc thành lập “thành phố Tam Sa”
để cai quản toàn bộ các quần đảo và vùng biển có tranh chấp chủ quyền với
nước láng giềng trên Biển Đông. Theo đó, phạm vi quản lý của Tam Sa bao
trùm ba quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa có trụ sở tại đảo Phú
Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng) thuộc quần đảo Hoàng Sa [23].
Tháng 11/2013, tỉnh Hải Nam thông qua luật đánh bắt cá mới và có hiệu
lực vào 01/01/2014. Theo luật đánh cá của Trung Quốc yêu cầu tất cả các tàu
thuyền không được đánh bắt cá ở vùng biển này và phải khai váo với cơ quan
chức năng của Trung Quốc khi vào Biển Đông [3].
Tóm lại, chủ trương nhất quán của Trung Quốc là từng bước tăng cường, mở
rộng khả năng kiểm soát khống chế và tranh giành lợi ích tài nguyên Biển Đông,
dùng vị thế ở biển Đông để răn đe các nước trong khu vực, phá thế bao vây, cô
lập của Mỹ, Nhật. Trước tham vọng khổng lồ của Trung Quốc thì đây là trở ngại
cơ bản cho nỗ lực giải quyết tranh chấp ở Biển Đông của các quốc gia liên quan
và đồng thời cũng là nguồn gốc cho tình hình bất ổn trên Biển Đông.
3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ cơ cấu tổ chức và thực tiễn
xét xử của cơ quan tài phán quốc tế
3.2.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của
các cơ quan tài phán quốc tế
Ở chương II, luận văn đã tập chung nghiên cứu kỹ về cơ cấu tổ chức, thẩm
quyền, thủ tục tố tụng của ITLOS, Tòa trọng tài và Tòa Trọng tài đặc biệt.
Bằng việc hiểu rõ về các cơ quan tài phán quốc tế này, giúp cho chúng ta có
thể thuận lợi hơn trong việc sử dụng các cơ quan tài phán trong việc bảo vệ
101
chủ quyền của Việt Nam.
3.2.1.1. Cơ cấu của các cơ quan tài phán quốc tế về luật biển
Qua việc hiểu rõ cơ cấu của các cơ quan tài phán quốc tế, Việt Nam có thể
chủ động và có sự chuẩn bị cần thiết để sử dụng các cơ quan này nhằm thực
hiện việc bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông.
Thứ nhất đối với ITLOS, với ưu thế số lượng thành viên gồm 21 thẩm
phán độc lập được tuyển chọn trong các nhân vật có uy tín nhất về công bằng
và liêm khiết. Với số lượng thẩm phán đông hơn so với Tòa án công lý quốc
tế (21 so với 15) các nước phát triển trong đó có Việt Nam sẽ có cơ hội tham
gia và nói tiếng nói hơn trong hoạt động của Tòa án. ITLOS hiện nay có 21
thành viên, trong đó có 19 thẩm phán, trong đó có 5 vị thuộc khu vực Châu Á
đến từ các quốc gia: Nhật Bản (Chánh án), Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga và
Ấn Độ. Từ khi thành lập đến nay, ITLOS vẫn chưa có thẩm phán nào là người
Việt Nam. Trong khi đó, người láng giềng của chúng ta – Trung Quốc đã có
02 vị từng là thẩm phán của ITLOS, người đương nhiệm là ông Cao Chi Quốc
– Giám đốc điều hành Viện Hàng hải thuộc Cục Quản lý Hải dương Nhà nước
Trung Quốc. Vì vậy, chúng ta cần tập trung đào tạo nhân lực có đủ kinh
nghiệm, chuyên môn, đức độ để có thể được bầu vào làm thẩm phán của Tòa
Luật biển quốc tế. Bởi vì với việc có thẩm phán người Việt Nam cũng sẽ giúp
cho chúng ta hiểu kỹ hơn các quy định và thực tiễn xét xử của Tòa; giúp
chúng ta có sự chuẩn bị tốt nhất khi thực sự tiến hành việc bảo vệ chủ quyền
Việt Nam tại cơ quan tài phán này.
Thứ hai đối với Tòa Trọng tài theo phụ lục VII và Tòa Trọng tài đặc biệt
theo phụ lục VIII.
Với cơ cấu rất linh hoạt, các tòa trọng tài cho phép các quốc gia được tự
mình cử trọng tài đại diện cho quốc gia mình. Vì vậy, khi Việt Nam sử dụng
các hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cần cân nhắc,
102
lựa chọn trọng tài viên có đủ năng lực, uy tín, tầm ảnh hưởng để đại diện cho
quốc gia mình như Philippines đã lựa chọn Thẩm phán Rudiger Wolfrum -
giáo sư về luật quốc tế tại Đại học Heidelberg, Viện trưởng Viện Max Planck
ở Heidelberg. Ông là thẩm phán của ITLOS năm 1996 và làm chủ tịch của
ITLOS 2005 – 2008.
Bên cạnh đó, ngoài việc cân nhắc và lựa chọn trọng tài đại diện cho quốc
gia mình, Việt Nam cũng cần thực hiện song song việc bồi dưỡng nhân tài và
tìm kiếm chuyên gia quốc tế để tổ chức một nhóm tư vấn am hiểu ngoài pháp
luật quốc tế còn phải am hiểu về lịch sử, địa lý và tình hình chính trị, pháp lý
của Việt Nam. Cũng trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ra trước Tòa
Trọng tài, trưởng nhóm tư vấn của Philippines là Luật sư Paul S. Reichler
thuộc công ty luật Foley Hoag LLP. Chỉ tính trong năm 2012 vừa qua,
Foley Hoag đã giúp khách hàng của mình giành thắng lợi trong các vụ
kiện liên quan đến gianh giới biển trước ITLOS và Tòa Công lý quốc tế.
Điển hình như vụ Bangladesh kiện Myanmar liên quan đến vịnh Bengal,
trong đó Bangladesh đã giành được phần lớn khu vực biển trong vịnh
Bengal và vùng thềm lục địa hơn 200 hải lý.
3.2.1.2. Thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế về luật biển
Ở chương trước, Luận văn cũng nêu rõ, đối với cả ITLOS, Tòa Trọng tài
và Tòa Trọng tài đặc biệt có thẩm quyền sẽ chỉ có thẩm quyền xét xử vụ tranh
chấp nếu các quốc gia tranh chấp cùng chấp nhận thẩm quyền của Tòa án
hoặc Trọng tài bằng một trong ba hình thức: tuyên bố trước trong các điều
ước quốc tế, chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án hoặc Trọng tài hay chấp
nhận thẩm quyền của Tòa án hoặc trọng tài theo từng vụ việc. Đối với thẩm
quyền về nội dung thì cả ITLOS và Tòa trọng tài đều có thẩm quyền giống
nhau là xét xử bất kỳ các tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích và áp
dụng công ước được đưa tới theo đúng thủ tục. Vì vậy, tùy từng mối quan hệ,
từng tranh chấp mà Việt Nam có thể lựa chọn hình thức tài phán để bảo vệ
103
chủ quyền của mình.
Hình thức giải quyết tại ITLOS hay Tòa trọng tài đều có những ưu điểm và
hạn chế nhất định. Trước tiên là về các ưu điểm của từng cơ quan tài phán
quốc tế:
Đối với ITLOS với vị thế là cơ quan thường trực quốc tế giải quyết các
tranh chấp pháp lý về biển. Vì Tòa án mang tính thường trực nên có tính kế
thừa đối kinh nghiệm giữa các vụ việc.
Còn với Tòa Trọng tài và Tòa Trọng tài đặc biệt thì có thẩm quyền khi các
bên đồng ý đưa tranh chấp phát sinh ra trước Tòa và chấm dứt khi vụ việc kết
thúc. Tuy nhiên, phương thức trọng tài cho phép giảm bớt thời gian, thủ tục
xét xử và các bên có khả năng được hưởng tự do hơn trong việc lựa chọn
Trọng tài viên hơn là bắt buộc phải chấp nhận một thành phần Thẩm phán có
sẵn như của Tòa án.
Hạn chế lớn nhất của cả ITLOS và các hình thức trọng tài đó đều là phải
có sự đồng thuận của cả hai bên thì Tòa án hay trọng tài mới có thể thụ lý vụ
án để giải quyết tranh chấp của các bên. Nếu tất cả các bên tranh chấp trong
Biển Đông đều có tinh thần hợp tác, thiện chí trong giải quyết tranh chấp biển
thì trong trường hợp đàm phán không đạt kết quả các bên có thể yêu cầu một
trong các cơ quan trên giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, thực tế với yêu sách
vô lý, bất hợp pháp của mình, Trung Quốc – quốc gia lớn thứ hai trên thế
giới, thành viên thường trực của LHQ không chấp nhận thẩm quyền của các
cơ quan tài phán trên bằng tuyên bố ngày 25/8/2006 đã loại trừ hầu hết các
tranh chấp pháp lý tại Biển Đông. Vì vậy, Việt Nam muốn bảo vệ chủ quyền
của mình trên biển Đông bằng các cơ quan tài phán quốc tế thì phải tìm ra
được tranh chấp chưa bị Trung Quốc loại trừ như Philippines đã làm được.
 Đối với các tranh chấp pháp lý giữa Việt Nam với một số nước trong
khu vực như Campuchia, Indonexia, Thái Lan … Việt Nam có thể lựa chọn
một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp tại ITLOS hay Tòa trọng tài hay
Tòa trọng tài đặc biệt tùy vào tình hình thực tiễn và thỏa thuận giữa các bên
104
với nhau.
Đối với Trung Quốc, hiện nay, Việt Nam còn tồn tại các tranh chấp với
Trung Quốc:
(1) Chưa thống nhất được với nhau về việc phân định biển ở khu vực
ngoài cửa vịnh Bắc Bộ;
(2) Yêu sách vô căn cứ đường lưỡi bò của Trung Quốc đã xâm phạm đến
vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam theo quy định của UNCLOS 1982 ở
phía bờ Đông của bờ biển Việt Nam;
(3) Chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các tranh chấp này, Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu đàm phán để giải
quyết tranh chấp nhưng chưa có hiệu quả. Vì vậy, vấn đề sử dụng cơ quan tài
phán quốc tế để bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông đang trở nên cấp
thiết hơn.Đối với từng tranh chấp với Trung Quốc chúng ta có thể vận dụng
linh hoạt các phương thức khác nhau.
Cụ thể như đối với việc phân định ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ,
Việt Nam có thể hợp tác và đàm phán với Trung Quốc để đi đến ký kết hiệp
định phân định biển như chúng ta đã làm với khu vực trong cửa vịnh Bắc Bộ.
Đối với việc khẳng định chủ quyền các vùng biển của Việt Nam theo
UNCLOS 1982 và bác bỏ yêu sách đƣờng lƣỡi bò của Trung Quốc, chúng
ta cần nghiên cứu các loại tranh chấp không bị loại trừ trong tuyên bố ngày
25/8/2006 của Trung Quốc như Philippines đã làm được để kiện Trung Quốc
ra trước Tòa Trọng tài.
Ví dụ như trong Tuyên bố ngày 25/8/2006 của Trung Quốc đã loại trừ các
tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản của
UNCLOS liên quan đến Vịnh và danh nghĩa lịch sử. Điều 15 của UNCLOS
1982 có quy định danh nghĩa lịch sử nhưng không đề cập gì đến các quyền
lịch sử và cũng không có điều khoản nào trong UNCLOS 1982 liên quan đến
105
các quyền lịch sử hay chủ quyền lịch sử này. Do đó, nếu Trung Quốc đưa ra
lập luận về quyền lịch sử hay chủ quyền lịch sử ở vùng biển trong đường lưỡi
bò thì thì các tranh chấp phát sinh giữa Trung Quốc với các nước khác trong
khu vực về quyền lịch sử có phù hợp với UNCLOS 1982 hay không thì các
tranh chấp này không bị loại trừ bởi tuyên bố của Trung Quốc.
Mà theo quy định của Điều 287 UNCLOS quy định là nếu hai bên tranh
chấp chọn cùng một thủ tục thì tranh chấp đó sẽ được dẫn chiếu tới thủ tục đó.
Nếu các bên tranh chấp không chọn cùng một thủ tục hay một bên không đưa
ra sự lựa chọn, thì tranh chấp đó sẽ được đưa lên Trọng tài theo Phụ lục VII
của UNCLOS. Các quốc gia yêu sách chủ quyền biển đảo ở Biển Đông không
đưa ra lựa chọn theo Điều 287 UNCLOS. Nếu hệ thống tranh chấp bắt buộc
của Mục 2 phần XV được dẫn ra trong tranh chấp giữa hai quốc gia liên quan
đến Biển Đông thì tranh chấp đó sẽ tự động được xét xử bằng Trọng tài theo
Phụ lục VII UNCLOS [38]. Hiện nay, Philippines đang kiện yêu sách “đường
lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc. Tuy nhiên, phán quyết của Tòa Trọng tài chỉ
có giá trị đối với các bên tham gia. Vì vậy, Việt Nam muốn bảo vệ chủ quyền
của mình ở Biển Đông thì cũng cần có sự chuẩn bị để đưa đưa tranh chấp của
mình ra trước Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 như
Philippines đã làm.
Đó là công việc về lâu dài khi Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ về chứng cứ
pháp lý, hồ sơ pháp lý và nhân lực để có thể đứng độc lập để khởi kiện Trung
Quốc ra trước Tòa Trọng tài theo phụ lục VII UNCLOS 1982. Còn vấn đề cấp
thiết hơn hiện nay, chính là lời mời đích danh Việt Nam tham gia vụ kiện
Trung Quốc từ phía Philippines. Như đã phân tích kỹ ở trên, Việt Nam cần
cân nhắc, lựa chọn tham gia vào vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc với
tư cách người có quyền và lợi ích liên quan để bảo vệ chủ quyền của Việt
Nam trên biển Đông. Để nói về những thuận lợi khi Việt Nam và một số nước
106
trong khu vực tham gia vụ kiện với Philippines, tác giả xin dẫn lời Bà Bonnie
Glaser, chuyên gia từ Trung tâm Nghiên cứ u Chiến lược và các vấn đề quốc tế
tại Washington : "Nếu như có nhiều quốc gia , trong đó có cá c thà nh viên
Asean, cùng lên tiếng ủng hộ việc áp dụng luật pháp quốc tế để giải quyết
tranh chấp thì Bắc Kinh có thể sẽ thấy rằng họ không thể bá c bỏ phá n quyết
của tòa quốc tế , ngay cả khi phá n quyết đó nói đườ ng c hín đoạn của Trung
Quốc là bất hợp phá p" [30].
Đối với tranh chấp Hoàng Sa và Trƣờng Sa, đặc biệt là tranh chấp về
Trường Sa thì một số hoặc tất cả các quốc gia có yêu sách ở Biển Đông trong
đó có Việt Nam có thể yêu cầu tư vấn về các vấn đề pháp lý liên quan đến
việc giải thích hoặc áp dụng UNCLOS nếu các quốc gia này tham gia vào một
thỏa thuận quốc tế liên quan đến mục đích Công ước. Để Tòa có thể đưa ra
kết luận tư vấn theo Điều 138 Nội quy Tòa án thì phải thỏa mãn ba điều kiện
sau [46]:
- Cần có sự thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan đến mục đích công
ước. Đây có thể là thỏa thuận đa phương, thỏa thuận khu vực hay thỏa thuận
song phương chỉ cần nó đáp ứng được yêu cầu có liên quan đến mục đích
UNCOS.
- Thỏa thuận đó cần phải quy định cụ thể về việc đệ trình yêu cầu cho ý
kiến tư vấn từ Tòa án. Thỏa thuận này cũng có thể quy định các quốc gia
thành viên của thỏa thuận sẽ thành lập một cơ quan và ủy quyền cho cơ quan
đó yêu cầu tư vấn nếu thấy việc yêu cầu tư vấn sẽ thực hiện chức năng và mục
tiêu của mình.
- Ý kiến tư vấn phải là một vấn đề pháp lý có liên quan đến UNCLOS.
Như vậy, các quốc gia có yêu sách đối với quần đảo Trường Sa có thể thỏa
thuận lập nên một cơ quan kỹ thuật rà soát các thực thể của nhóm đảo Trường
Sa. Và Thỏa thuận quốc tế này có thể ủy quyền cho cơ quan kỹ thuật này yêu
cầu ý kiến tư vấn từ UNCLOS về yêu cầu làm rõ quy chế của các thực thể ở
107
nhóm đảo Trường Sa.
Từ cơ cấu, tổ chức cũng như thẩm quyền của các cơ quan tài phán theo
quy định của UNCLOS 1982, chúng ta có thể lựa chọn các giải pháp cụ thể
trong việc giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi tối đa cho quốc gia mình.
3.2.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử của các cơ quan tài
phán quốc tế
Từ thực tiễn xét xử của các tòa án, trọng tài giải quyết các tranh chấp về
biển có rất nhiều bài học kinh nghiệm quý giá được rút ra. Và đặc biệt, Việt
Nam muốn sử dụng được các cơ quan tài phán này để bảo vệ chủ quyền của
Việt Nam trên biển Đông, chúng ta cần chú ý một số các luận điểm pháp lý
quan trọng như sau:
3.2.2.1. Xác định đảo đá theo khoản 3 Điều 121 của UNCLOS 1982
Định nghĩa đảo được quy định trong Điều 121 của UNCLOS 1982:
“1. Đảo là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước bao bọc,
khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.
2.Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc
quyền về kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo được xác định theo đúng
các qui định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác.
3. Những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một
đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”
Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều các tranh cãi về thế nào là đảo và thế
nào là đảo đá. Vì nếu một thực thể được xác định là đảo thì nó sẽ được có
vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục
địa như lãnh thổ đất liền. Còn một đảo chỉ được xác định là đảo đá thì nó chỉ
được hưởng quy chế thì các đảo này chỉ được hưởng vùng biển rộng không
quá 12 hải lý. Cụ thể như trong vụ Myanma và Bangladet, để phân định được
ranh giới biển giữa hai nước, Tòa án đã đưa ra phán quyết rằng đảo St. Martin
108
của Myanma chỉ hưởng vùng biển rộng 12 hải lý làm căn cứ để phân định
biển giữa hai bên. Hay vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc, luận
điểm chính của Philippines chính là yêu cầu Tòa án xác định các bãi Hoàng
Nham, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập là các cấu tạo chỉ thỏa mãn là “đá”
theo quy định của UNCLOS 1982. Như vậy, một hòn đảo có phải là đảo hay
đảo đá ảnh hưởng rất nhiều đến việc phân định của Tòa án. Với bờ biển dài,
tiếp giáp và đối diện với nhiều nước trong khu vực Biển Đông, Việt Nam cần
nghiên cứu kỹ lưỡng, cụ thể về cách xác định về đảo và đảo đá theo quy định
của UNCLOS 1982 để có thể chuẩn bị cho việc đưa các tranh chấp biển ra
trước các cơ quan tài phán quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982.
Theo định nghĩa của UNCLOS 1982 đảo đá là đảo không thích hợp cho
người đến ở, không có đời sống kinh tế riêng. Như vậy, một đảo chỉ cần đáp
ứng được một trong hai điều kiện hoặc là thích hợp cho người đến ở hoặc là có
đời sống kinh tế riêng thì sẽ được hưởng quy chế như đất liền. Hiện nay, quy
định này chưa có hướng dẫn chính thức. Vì vậy, thẩm quyền của các Thẩm
phán, Trọng tài là rất lớn trong việc xác định có phải là đảo đá hay không.
Theo một số học giả trên thế giới cho rằng: đảo thích hợp có người đến
sống là đảo có điều kiện tự nhiên về khí hậu, địa lý cho phép ổn định cuộc
sống dân cư trên đảo. Người đến ở trên đảo không phải là nhóm những nhân
viên kỹ thuật đến để nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên hay điều kiện địa lý
của đảo mà phải là cộng đồng người đang sinh sống trên đảo và họ tới đảo với
mục đích xây dựng cuộc sống xã hội lâu dài và ổn định.
Còn đảo có “đời sống kinh tế riêng” nghĩa là có các tài nguyên trên đảo và
ở xung quanh đảo được đánh giá là có giá trị kinh tế, đang tồn tại trên thực
tiễn mà cộng đồng dân cư trên đảo đã tạo lập được một đời sống kinh tế từ
các nguồn lợi đó.
Hiện nay, chỉ có một số cấu trúc đảo nhất định trong quần đảo Hoàng Sa
109
và Trường Sa là thỏa mãn yêu cầu theo khoản 3 Điều 121của UNCLOS 1982
như đảo Phú Lâm, Thị Tứ, Ba Bình, Hoa Lau và Trường Sa. Còn lại các cấu
trúc khác thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đều chỉ là đảo đá và hưởng
quy chế vùng biển 12 lãnh hải. Gerardo M.C. Valero cho rằng: “Những đảo
tạo nên quần đảo Trường Sa, ở đó, một mặt là quá nhỏ và cằn cỗi để có
thể độc lập hỗ trợ cho con người đến ở lâu dài và mặt khác lại không cho
thấy có bất cứ một tài nguyên thiên nhiên trên bờ đáng kể nào cả”. Michael
Bennett cũng đưa ra một kết luận tương tự “các đảo trong quần đảo Trường
Sa không có người cư trú lâu dài và quá nhỏ để duy trì việc sinh sống
thường xuyên và độc lập” [7]. Một văn bản rất có ý nghĩa đó là Tuyên bố do
Cố vấn pháp luật của Bộ ngoại giao Philippines đưa ra viết rằng: “Quần đảo
Trường Sa đang tranh chấp phần lớn là các đảo san hô chỉ cho phép các cây
đước, cây bụi và một số cây còi cọc mọc thưa thớt. Khu vực này khó mà có
thể cho phép con người đến ở”.
Như vậy, những đảo đá trong hai vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở
khu vực trung tâm Biển Đông, mỗi đảo có diện tích rất nhỏ (đảo lớn nhất Ba
Bình rộng khoảng 1,2 km2, đảo Phú Lâm rộng khoảng 1,5 km2), cằn cỗi, thời
tiết khắc nghiệt bão tố nhiều, không thích hợp cho con người đến ở và cho
một đời sống kinh tế riêng nên xung quanh các đảo này chỉ có thể có nô ̣i thủy
và lãnh hải, không có vùng đă ̣c quyền kin h tế và thềm lục đi ̣a (Khoản 3 Điều
121 UNCLOS 1982) [7]. Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, Philippines
đã yêu cầu Tòa án xác định các đảo ở Biển Đông là đảo đá. Vì vậy, Trung
Quốc không có quyền xác định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho
các đảo này.
Để chuẩn bị cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển tại các cơ quan
tài phán quốc tế, Việt Nam cần nghiên cứu về quy định này và thực tiễn về
các xác định đảo đá để bảo vệ chủ quyền của mình.
110
3.2.2.2. Xác định vai trò của đƣờng trung tuyến trong việc phân định
giữa các quốc gia liền kề và đối diện
Theo quy định Điều 15 UNCLOS 1982, về hoạch định ranh giới lãnh hải
giữa các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau:
“Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia
nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm
nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều
rộng lãnh hải của mỗi quốc gia…”
Từ thực tiễn xét xử của các Tòa quốc tế trên thế giới về luật biển, vai trò
của đường trung tuyến trong phân định biển giữa các quốc gia kề nhau hay
đối diện luôn được ưu tiên để giải quyết. Cụ thể như vụ tranh chấp giữa
Guyana và Suriname, Tòa Trọng tài đã phán quyết theo hướng lấy đường
trung tuyến để phân định biển cho hai quốc gia liền kề nhau.
Việt Nam với đặc điểm liền kề với Trung Quốc, Campuchia và đối điện
với nhiều quốc gia như Malaysia, Singapo, Indonexia, Philipines… Vì vậy,
với việc nghiên cứu và vận dụng đúng đắn nguyên tắc đường trung tuyến có
vai trò rất quan trọng. Cụ thể đường trung tuyến là đường xuất phát từ danh
nghĩa khoảng cách, đường cách đều là phương pháp tự nhiên nhất bởi nó cho
phép một sự chia ngang bằng giữa các quốc gia. Trừ trường hợp có các danh
nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt, nếu không nguyên tắc đường trung
tuyến sẽ được áp dụng để phân định biển giữa các quốc gia.
Ngoài ra, bên cạnh đường trung tuyến thông thường còn có phương pháp
đường trung tuyến có điều chỉnh. Đây là phương pháp trung tuyến có tính đến
các đặc thù của quá trình phân định biển. Phương pháp này giảm bớt tính
không công bằng do việc áp dụng phương pháp đường trung tuyến đơn thuần
mang tính kỹ thuật ở các khu vực có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là về mặt địa lý.
111
Bên cạnh phương pháp đường trung tuyến thì chúng ta cũng cần nghiên
cứu các phương pháp phổ biển khác trong phân định biển như: phương pháp
phần kéo dài tự nhiên của biên giới trên bộ, phương pháp đường vuông góc
đối với hướng đi chung của bờ biển, phương pháp đường kinh tuyến, vĩ
tuyến…
3.2.2.3. Xác định danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt làm thay
đổi cách xác định của đƣờng trung tuyến và cách đều
Nghiên cứu đường trung tuyến và đường trung tuyến điều chỉnh sẽ là rất
thiếu sót nếu không xác định được thế nào là danh nghĩa lịch sử hay hoàn
cảnh đặc biệt làm thay đổi cách xác định đường trung tuyến.
Theo quy định của UNCLOS 1982 tại Điều 15 sau khi xác định vai trò
của đường trung tuyến đã viết tiếp: “… Tuy nhiên, quy định này không áp
dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn
cảnh đặc biệt khác cần phải hoặc định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia
một cách khác”.
Trước hết danh nghĩa lịch sử có thể hiểu là vùng nước lịch sử. Quy định
về vùng nước lịch sử không được ghi nhận trong UNCLOS 1982 mà được xác
định thông qua thông lệ và tập quán quốc tế. Theo đó, vùng nước lịch sử là
vùng nước có các yếu tố sau:
- Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt và ăn sâu vào đất liền hoặc một
bộ phận gắn liền với lục địa;
- Ở cách xa đường hàng hải quốc tế;
- Có ý nghĩa quan trong đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh,
kinh tế… đối với quốc gia ven biển;
- Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng lâu
đời mà không có quốc gia nào phản đối.
Về chế độ pháp lý, vùng nước lịch sử được hưởng quy chế như nội thủy.
112
Hiện nay, Việt Nam chỉ có duy nhất một vùng nước lịch sử là Vùng nước lịch
sử giữa Việt Nam và Campuchia. Việc chúng ta nghiên cứu và hiểu rõ về
vùng nước lịch sử để có thể phản bác yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc
được núp dưới danh nghĩa lịch sử.
Cuối cùng, ngoài danh nghĩa lịch sử thì các hoàn cảnh đặc biệt cũng tác
động đến quá trình phân định. Các hoàn cảnh đặc biệt bao gồm hình dáng của
bờ biển, sự hiện diện của đảo.
Thứ nhất là hình dạng của bờ biển phức tạp sẽ gây trở ngại cho việc phân
định biển. Tính phức tạp của bờ biển thể hiện như bờ biển có tính lồi lõm, hướng
chung của bờ biển bị thay đổi đột ngột, địa hình không đồng đều…
Thứ hai là sự hiện diện của đảo có thể có hiệu lực toàn phần, hiệu lực
một phần hay thậm chí không có hiệu lực trong phân định biển:
- Đảo có hiệu lực toàn phần: có nghĩa là đảo đó được tính làm cơ sở để
tiến hành phân định. Hai yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hiệu lực toàn
phần của đảo là vị trí của đảo so với bờ biển lãnh thổ đất liền và diện tích đảo.
- Đảo được hưởng một phần hiệu lực: đó là trường hợp đảo làm điểm cơ
sở để phân định nhưng có tác dụng khiêm tốn. Thông thường cách này được
dùng trong trường hợp lấy đảo nằm ngoài bờ biển hai nước làm điểm cơ sở
nhưng nếu cho đảo hiệu lực toàn phần sẽ dẫn đên đường giới hạn bị lệch
hướng vì vậy sẽ không mang lại kết quả công bằng.
- Đảo không hưởng hiệu lực trong phân định. Các đảo này thường là đảo
nhỏ, nằm xa lục địa của quốc gia sở hữu đảo, đặc biệt là các đảo không thích
hợp cho người đến ở, không có đời sống kinh tế riêng hay đi chệch quá xa so
với hướng chung của bờ biển.
Sự hiện diện của đảo đều gây khó khăn cho việc đạt tới một giải pháp
công bằng. Các đảo có thể có vị trí, diện tích, dân số, ý nghĩa quốc phòng,
kinh tế khác nhau nhưng đều được coi là hoàn cảnh đặc biệt trong phân định.
113
3.3. Giải pháp cho Việt Nam để sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế
theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc Luật biển
năm 1982
3.3.1. Trình tự, thủ tục đƣa vụ việc ra trƣớc các cơ quan tài phán
quốc tế
Thứ nhất, các bên tranh chấp tiến hành “các cuộc trao đổi quan điểm”
với nhau. Đây là nghĩa vụ bắt buộc theo quy định tại Điều 283 UNCLOS
1982, cụ thể là:
“1. Khi có một tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia liên quan đến việc
giải thích hay áp dụng UNCLOS 1982, các bên tranh chấp tiến hành ngay
theo một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương
lượng hay bằng các biện pháp hòa bình khác.
2. Cũng như vậy, các bên tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm
mỗi khi kết thúc một thủ tục giải quyết với một vụ tranh chấp như vậy mà
không giải quyết được, hay mỗi khi có một giải pháp khác với các hoàn cảnh
đòi hỏi các bên tham khảo ý kiến liên quan đến việc thi hành giải pháp đó”.
Như vậy, theo quy định của UNCLOS 1982, các bên có tranh chấp bắt buộc
phải có các cuộc trao đổi, đàm phán trực tiếp đển tìm ra phương hướng giải
quyết tranh chấp trước khi lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp khác.
Thứ hai, các bên tranh chấp tiến hành thỏa thuận lựa chọn tòa án hay
trọng tài để giải quyết tranh chấp của mình. Về bản chất, các cơ quan tài phán
quốc tế như ITLOS hay Tòa Trọng tài đều là cơ quan chế giải quyết tranh
chấp dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện của các bên có liên quan. Vì vậy, để
đưa tranh chấp biển đảo tại Biển Đông ra giải quyết tại các cơ quan tài phán
quốc tế này thì buộc các bên tranh chấp phải có lựa chọn trao thẩm quyền giải
quyết cho các cơ quan tài phán quốc tế. Tuy nhiên, theo quy định của
UNCLOS 1982, nếu các bên không thể thống nhất được cơ quan tài phán sẽ
114
đứng ra giải quyết tranh chấp giữa hai bên thì thủ tục được đưa ra để giải
quyết là thủ tục trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982. Thỏa thuận
này có thể do hai bên cùng soạn thảo thống nhất hoặc do một bên soạn và gửi
cho các bên liên quan.
Trong trường hợp mà cả hai bên đã có tuyên bố chấp nhận thẩm quyền
của các cơ quan tài phán này hoặc đã đồng ý bằng văn bản về việc sẽ giải
quyết các tranh chấp này tại cơ quan tài phán nhất định thì chỉ cần một bên có
đơn kiện gửi cho Tòa án hoặc Trọng tài mà mình đã dự liệu sẵn.
Thứ ba, gửi đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết vụ tranh chấp cho
cơ quan tài phán mà các bên yêu cầu. Các cơ quan tài phán quốc tế chỉ tiến
hành giải quyết vụ việc khi có đơn kiện hoặc đơn yêu cầu của các bên có liên
quan. Tranh chấp chủ quyền biển Đông là tranh chấp giữa các quốc gia một
số nước ASEAN trong đó có Việt Nam với Trung Quốc. Giả sử Việt Nam
định kiện Trung Quốc ra trước ITLOS thì đơn khởi kiện sẽ được Việt Nam
gửi tới ITLOS và sau đó ITLOS sẽ chuyển đơn đến quốc gia có liên quan.
Thứ tƣ, nếu các bên lựa chọn hình thức là ITLOS thì các thẩm phán sẽ
được bầu bao gồm 11 thành viên hay 5 thành viên với thủ tục rút gọn hoặc 3
thành viên với một số vụ kiện nhất định. Còn nếu các bên lựa chọn theo thủ
tục Trọng tài hay Trọng tài đặc biệt thì các bên cần phải lựa chọn Trọng tài
viên để thành lập Hội đồng trọng tài để giải quyết vụ việc. Sau khi được Tòa
trọng tài chấp nhận giải quyết vụ việc theo yêu cầu của các bên thì các bên
cần phải thành lập Hội đồng trọng tài để giải quyết vụ việc. Cách thức lựa
chọn Trọng tài viên cũng như cơ cấu của Hội đồng trọng tài về nguyên tắc
phải được các bên thống nhất trong thỏa thuận trọng tài. Chính vì vậy, ở giai
đoạn này các bên buộc phải thành lập một Hội đồng trọng tài để giải quyết vụ
việc trên thực tế. Thời điểm Hội đồng trọng tài bắt đầu tiến hành công việc,
phạm vi thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, địa điểm Hội đồng trọng tài làm
115
việc, thù lao trọng tài cũng như các vấn đề khác có liên quan đều do các bên
tranh tham gia tranh chấp quyết định. Tuy nhiên, sau khi Hội đồng trọng tài
đã thành lập theo đúng cách thức do các bên thỏa thuận và bắt đầu tiến hành
công việc thì Hội đồng trọng tài sẽ có tính độc lập với các chủ thể tham gia
tranh chấp. Điều đó đồng nghĩa với việc các bên phải tôn trọng các quyết định
của Hội đồng trọng tài theo đúng cách thức mà các bên đã thống nhất trong
thỏa thuận trọng tài.
Thực tế, trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, Trung Quốc đã từ
chối tham gia vụ kiện, mất quyền chỉ định Trọng tài viên cho mình. Và Chánh
án Tòa án quốc tế về Luật Biển đã chỉ định trọng tài viên đại diện cho Trung
Quốc tham gia vụ kiện.
Thứ năm, chuẩn bị và gửi văn bản, tài liệu liên quan đến yêu sách cũng
như các chứng cứ pháp lý chứng minh cho yêu sách của mình. Nếu Việt Nam
là nước đưa đơn khởi kiện trước thì Việt Nam có nghĩa vụ phải gửi các chứng
cứ chứng minh cho yêu sách của mình đến văn phòng của cơ quan này cũng
như đến quốc gia còn lại của tranh chấp. Nếu Việt Nam lựa chọn ITLOS thì
phải tuân theo quy định của Tòa án về hướng dẫn về lập và trình bày các vụ
kiện trước Tòa án và bản quy chuẩn cách thức các bản in và đánh máy trước
khi gửi Tòa án. Theo đó các tài liệu này phải được thể hiện bằng Tiếng Anh
hoặc tiếng Pháp hoặc một ngôn ngữ phổ biến khác do các bên thỏa thuận lựa
chọn. Kèm theo các tài liệu, cần phải có bản tranh luận thể hiện quan điểm
của mình cũng như các quan điểm phản bác lại yêu sách của quốc gia có liên
quan trong quá trình diễn ra tranh chấp trước đó.
Cuối cùng, trong quá trình giải quyết tranh chấp tại các cơ quan tài phán
quốc tế, đặc biệt ở giai đoạn tranh luận giữa các bên với nhau trước cơ quan
tài phán thì các bên cần phải chú ý chuẩn bị các chứng cứ cũng như các lập
luận để trả lời các quan điểm đối lập của các quốc gia có liên quan khi họ gửi
116
bản tranh luận đến cơ quan tài phán này. Mức độ chặt chẽ, hợp lý trong các
lập luận của các bên thể hiện trong các phiên tranh luận trực tiếp cũng như
trong văn bản giải thích là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tài phán
này có thể ban hành các phán quyết.
3.3.2. Sự chuẩn bị về các chứng cứ pháp lý của Việt Nam
Hiện nay, trên thế giới thừa nhận nhiều nguyên tắc về chiếm hữu đối lãnh
thổ. Trong đó phổ biến là nguyên tắc về quyền phát hiện và nguyên tắc chiếm
hữu thực sự. Nguyên tắc về quyền phát hiện về cơ bản là việc một quốc gia
phát hiện ra một lãnh thổ vô chủ và để lại dấu vết của họ trên đó. Nguyên tắc
chiếm hữu đặc biệt theo tuyên bố của Viện pháp luật quốc tế Lausanne bao
gồm các nội dung chính như sau:
- Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do nhà nước tiến hành.
- Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hòa bình một vùng lãnh
thổ vô chủ hoặc đã được một quốc gia phát hiện nhưng chủ động từ bỏ.
- Quốc gia chiếm hữu trên thực tế phải thực hiện những hành động chủ
quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên
vùng lãnh thổ đó.
- Việc thực hiện chủ quyền phải liên tục trên vùng lãnh thổ đó.
Vì vậy, để chứng minh chủ quyền của một quốc gia với một vùng lãnh thổ
nhất định nào đó, các quốc gia cần phải chứng minh được theo hai căn cứ trên
– tức là quốc gia đó phát hiện ra lãnh thổ đó hay thực hiện chiếm hữu thực sự
trên lãnh thổ đó.
Tình hình Biển Đông tồn tại rất nhiều tranh chấp như đã phân tích ở trên.
Các tranh chấp diễn ra giữa một số nước trong khu vực Đông Nam Á với
nhau và với Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á đã có lịch sử lâu đời gắn bó,
đoàn kết và rất thiện chí giải quyết hòa bình các tranh chấp để tạo dựng một
khu vực ASEAN thịnh vượng. Hiện nay, vấn đề tranh chấp biển nổi bật nhất
117
là tranh chấp biển giữa một số quốc gia ở khu vực Đông Nam Á với Trung
Quốc. Đối với Việt Nam, vấn đề chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là vấn đề trọng tâm nhất và cũng là vấn đề cần cân nhắc nhất để
giải quyết tại các cơ quan tài phán quốc tế.
3.3.2.1. Chứng cứ lịch sử của Việt Nam
Để chứng minh được chủ quyền của mình đối với lãnh thổ nhất định,
người ta quan tâm đến quốc gia nào phát hiện ra lãnh thổ đó. Và để chứng
minh thì cần phải có các chứng cứ lịch sử, chứng cứ lịch sử là các tài liệu, văn
bản được xác từ khi chưa có tranh chấp và nó hoàn toàn mang tính khách
quan nhất. Chứng cứ lịch sử là chứng cứ có giá trị chứng minh rất quan trọng
trong giải quyết tranh chấp về chủ quyền quốc gia. Nó tồn tại không nhằm
mục đích xác lập chủ quyền cho bất cứ một quốc gia nào. Các chứng cứ lịch
sử có thể là các tấm bản đồ, các tác phẩm văn học hay các văn kiện pháp lý
quốc tế được thực hiện ở giai đoạn lịch sử trước đó.
Cụ thể, đối với bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và
Trường Sa thì các chứng cứ lịch sử Việt Nam cần phải chuẩn bị bao gồm:
Thứ nhất là các bản đồ về Hoàng Sa và Trƣờng Sa
Hiện nay, trong tất cả các văn bản pháp lý quốc tế hay trong các phán
quyết của các Tòa án quốc tế chưa quy định về việc chứng cứ nào có giá trị
trong việc khẳng định chủ quyền. Tuy nhiên, qua thực tế xét xử của các Tòa
án, có thể khẳng định bản đồ có giá trị như chứng cứ trong vụ tranh chấp phải
là những bản đồ được phát hành một cách chính thức của nhà nước, thể hiện
lãnh thổ mà quốc gia đó thừa nhận là đang có chủ quyền, hoặc không có chủ
quyền. Đối với các tư liệu, bản đồ có thể sao chụp lại để sử dụng làm chứng
cứ thì phải có công chức hoặc có dấu chứng nhận của các cơ quan lưu trứ tài
liệu đó. Việt Nam chúng ta hiện có rất nhiều bản đồ lịch sử thể hiện chủ
quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
118
Tuy nhiên, Việt Nam cần phải lựa chọn được các bản đồ vẽ lại chi tiết, cụ
thể và có tính xác thực cao. Có thể đơn cử một vài bản đồ như tập bản đồ
“Toản tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư”, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá,
soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng
Ngãi, xứ Quảng Nam: “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”.
Đây là tài liệu thể hiện chính xác về hình thể, vị trí cũng như đặc tính của
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tài liệu này hiện đang được lưu giữ tại
Thư viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh.
Bản đồ Đại Nam nhất Thống Toàn Đồ (1840) được vẽ vào thế kỷ XVIII
hoặc đầu thế kỷ XIX (giai đoạn triều đình nhà Nguyễn). Bản đồ này cũng thể
hiện tương đối đầy đủ tình hình bờ biển – biển Đông – hải đảo Việt Nam
đương thời. Cụ thể, bản đồ thể hiện khá rõ quần đảo Hoàng Sa (được gọi là
Vạn Lý Hoàng Sa) và Trường Sa (được gọi là Vạn Lý Trường Sa) bao gồm vị
trí, tên một số đảo chính, tình trạng địa lý, …
Ngoài các bản đồ do người Việt Nam vẽ phải kể đến các bản đồ do các
nước khác vẽ và khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Bản đồ Trịnh Hòa hàng hải đồ do Thái giám Trịnh Đồ vẽ Biển Đông từ
biên giới hải phận Việt Trung đến cửa khẩu Quy Nhơn. Từ năm 1405 – 1433,
Trịnh Hòa bảy lần chỉ huy hạm đội vượt qua Đông Nam Á sang Ấn Độ
Dương, qua Tích Lan (nay là Xri Lanka), Ấn Độ, vào Biển Đỏ và xuống bờ
biển Đông Phi. Ông đã ghi ký sự và vẽ lại bản đồ cuộc hành trình này. Sơ đồ
vẽ khá rõ từ biên giới Việt - Trung qua cửa khẩu sông Hồng, xuôi bờ biển
miền Trung tới cửa khẩu Quy Nhơn. Trịnh Hòa mặc nhiên thừa nhận Giao
Chỉ dương tức là Biển Đông và các đảo thuộc Biển Đông thuộc chủ quyền
Giao Chỉ quốc tức là Đại Việt ta.
Thứ hai là các tác phẩm văn học, lịch sử
Ngoài các bản đồ nêu trên, còn có rất nhiều các tác phẩm văn học, lịch sử,
119
địa lý ghi nhận chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa, trong đó có
cả các học giả trong nước cũng như học giả nước ngoài. Cụ thể:
- Quyển Compendio di Geografia (Địa lý thế giới) của Adriano Balbi,
nhà nghiên cứu địa lý lừng danh nước Ý. Quyển sách đã xác nhận quần đảo
Hoàng Sa thuộc về An Nam. Ở những trang 437 – 438 có ghi chép tỉ mỉ về
vương quốc An Nam, trong đó xác định rõ biên giới với các quốc gia Trung
Quốc và Xiêm La. Phần cuối ghi rõ: “Thuộc về đế chế này còn có quần đảo
Hoàng Sa (Paracel), quần đảo Hải Tặc (Hà Tiên) và quần đảo Côn Sơn (Côn
Đảo)”. (…)
- Cuốn Geografia Fiscia e Politica của Luigi Galanti (tập 3) bản in lần
thứ 5 tại Napoli năm 1834 được lưu giữ tại Thư viện Biblioteca Walter
Bigiavi dell’Università degli studi di Bologna ở Bologna và thư viện
Biblioteca. Trang 197 và 198 có đoạn: “Cuối cùng, chúng tôi phải nói tới một
mê cung các hòn đảo nằm ở phía đông của Đàng Trong có tên gọi là Hoàng
Sa bao gồm các đảo đá nhỏ và vùng nước nông… Chúng thuộc quyền cai trị
của vương quốc An Nam cũng như quần đảo Pirati ở Phía Đông của Đàng
Ngoài (Tonchino)”
- Cuốn sách “Phủ biên Tạp Lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn biên soạn
năm 1776 viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời Nguyễn
khi ông được bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, ghi chép rõ Đại Trường Sa
(tức Hoàng Sa và Trường Sa thuộc phủ Quảng Ngãi).
Ngoài ra các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều Hiến chương loại chí
(1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876),
Đại Nam nhất thống chí (1882) cũng có những mô tả tương tự về Hoàng Sa
và Trường Sa của Việt Nam.
Qua các sách của lịch sử, địa lý không chỉ của Việt Nam mà còn cả của
các nhà hàng hải, giáo sỹ phương tây, từ lâu và liên tục trong mấy trăm năm,
120
từ triều đại này đến triều đại khác, nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thứ ba là các văn kiện và chứng cứ pháp lý
Sau thời kỳ phong kiến, thực dân Pháp vào đô hộ nước ta và từ đó nước
Pháp cũng tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, năm 1951, Trưởng đoàn đại biểu của
Chính quyền Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về
việc ký hòa ước với Nhật Bản, rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
là bộ phận của lãnh thổ nước Việt Nam: “… và cũng cần phải dứt khoát lợi
dụng mọi cơ hội để dập tắt mầm mống của các tranh chấp sau này, chúng tôi
khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi với quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa”. Tuyên bố này không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của
51 quốc gia tham dự Hội nghị [39].
Và sau này cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó phải kể đến các văn
bản:
Thỏa ước phân định ranh giới ngày 26/6/1887 giữa Pháp và Trung Hoa
về việc phân định ranh giới giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa thể hiện các đảo
Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ của nước An Nam;
Tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương ngày 08/03/1925 về việc hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp tại Đông Dương;
Dụ ngày 30/03/1930 của vua Bảo Đại sáp nhập Hoàng Sa và địa hạt của
tỉnh Thừa Thiên;
(…)
Sau khi Nhà nước CHXHCN Việt Nam ra đời đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật quan trọng về biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như:
121
- Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng
tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977;
- Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở
dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982;
- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1982;
- Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX, kỳ họp
thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn UNCLOS 1982;
- Luật Biên giới quốc gia năm 2003;
- Luật biển Việt Nam năm 2012.
Về quản lý hành chính năm 1982, Chính phủ Việt Nam đã quyết định
thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa
thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính,
hiện nay huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc
tỉnh Khánh Hòa.
Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền
của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoặc trong các công
hàm gửi các bên có liên quan, hoặc trong các tuyên bố của Bộ Ngoại giao,
hoặc trong các hội nghị của tổ chức Khí tượng Thế giới ở Geneve (tháng
6/1980), của Đại hội địa chất thế giới ở Paris (tháng 7/1980)…
Nhà nước Việt Nam tuyên bố các “sách trắng” về chủ quyền của Việt
Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định hai quần đảo
này là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ
các quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của pháp luật
và thực tiễn quốc tế.
3.3.2.2. Chứng cứ từ các quy định của pháp luật quốc tế
Nghị quyết 26 – 25 năm 1970 khẳng định: “Lãnh thổ của một quốc gia
không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực
trái với “các quy định của Hiến chương”. Lãnh thổ của một quốc gia không
122
thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe
dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa
hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận hợp pháp.
Nghị quyết trên cũng quy định: “Các quốc gia có bổn phận không dùng đe
dọa hay sử dụng vũ lực để vi phạm biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia
hay như biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp lãnh
thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của quốc gia”.
Các tranh chấp giữa các quốc gia cần phải được giải quyết tuận theo quy
định của pháp luật quốc tế. Việt Nam đã mất quyền kiểm soát lãnh thổ của
mình bằng hành động sử dụng vũ lực của quốc gia khác. Vì vậy, trong các
chứng cứ pháp lý mà Việt Nam cần sử dụng để bảo vệ chủ quyền của mình thì
quy định về pháp luật quốc tế về cấm chiếm giữ lãnh thổ của một quốc gia
khác bằng con đường sử dụng vũ lực là một trong các chứng cứ quan trọng
nhất để bác bỏ chủ quyền của quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc. Và căn
cứ rất quan trọng mà Việt Nam cần khai thác triệt để là UNCLOS 1982.
UNCLOS 1982 là văn bản pháp lý quốc tế lớn nhất và hoàn chỉnh nhất về luật
biển được rất nhiều nước trên thế giới tham gia trong đó có Việt Nam và
Trung Quốc. UNCLOS 1982 quy định Việt Nam hoàn toàn có quyền vạch
đường biên giới trên biển theo khoảng cách 12 hải lý tính từ đường cơ sở
cũng như xác định vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ
sở. Với các quy định của UNCLOS 1982 cũng bác bỏ hoàn toàn đường yêu
sách chủ quyền hình chữ U vô căn cứ của Trung Quốc.
Ngoài ra, Việt Nam còn cần kiên trì vận dụng các thỏa thuận đã đạt được
giữa các quốc gia có liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển đảo tại Biển
Đông mà quan trọng nhất đến nay là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên
biển Đông và hướng dẫn thực thi DOC ngày 21/7/2011. Dù giá trị pháp lý của
các văn bản này không cao như các Điều ước quốc tế nhưng đó chính là sự
đồng thuận về mặt ý chí giữa các quốc gia trong khu vực về một giải pháp cho
123
tranh chấp Biển Đông đã được Trung Quốc và các nước trong khu vực ký kết.
3.3.2.3. Chứng cứ từ sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam
Để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, chúng ta cần
chứng minh là chúng ta thực sự đã có sự chiếm hữu thực tế trên các đảo, các
quần đảo.Và sự chiếm hữu này là chiếm hữu hợp pháp qua các giai đoạn của
lịch sử.
Cụ thể Việt Nam cần phải đưa ra căn cứ chứng minh chúng ta đã liên tục
khai thác các tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là khoáng sản trong vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của ta. Mà đặc biệt là các hợp đồng liên doanh
với các công ty nước ngoài thăm dò, khai thác tài nguyên; công trình nghiên
cứu phục vụ cho lợi ích kinh tế…
Các tài liệu chứng minh, Việt Nam đã liên tục thực hiện sự quản lý hành
chính của mình bằng việc thành lập đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy chính
quyền, giải quyết các công việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước;…
Các tài liệu chứng minh ngư dân Việt Nam vẫn khai thác nguồn lợi thủy
hải sản ở các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới sự hỗ trợ của các
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam như các chương trình hỗ trợ ngư dân
đóng tàu đánh cá, hỗ trợ ngư dân Việt Nam cũng như các ngư dân khác gặp
nạn trên vùng biển Việt Nam; các hoạt động cứu hộ, cứu nạn;…
Các tài liệu, văn bản chứng minh Việt Nam đã phản ứng trước các hành
động xâm phạm chủ quyền của nước khác đối với vùng biển đảo của Việt
Nam từng tuyên bố chủ quyền [34].
3.3.3. Lập hồ sơ pháp lý
Từ các quá trình đưa vụ kiện ra xét xử ở các cơ quan tài phán quốc tế theo
UNCLOS 1982 thì cũng có thể dự liệu được các hồ sơ pháp lý phải chuẩn bị
cho một vụ kiện. Cụ thể:
Thứ nhất là văn bản chứng minh các bên đã có các cuộc trao đổi quan
điểm với nhau về tranh chấp. Như đã phân tích ở trên, các bên để được đưa vụ
124
việc ra giải quyết trước cơ quan tài phán quốc tế cần phải thực hiện nghĩa vụ
của mình theo Điều 283 của UNCLOS 1982. Tức là các bên phải có nghĩa vụ
tiến hành các cuộc trao đổi về quan điểm. Vì vậy, khi lập hồ sơ pháp lý các
bên phải xuất trình được văn bản chứng minh là các bên đã từng có các cuộc
trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện nỗ lực nhằm giải quyết tranh chấp
bằng thương lượng hay bằng các biện pháp hòa bình khác trước khi sử dụng
đến các cơ quan tài phán quốc tế.
Ví dụ trong trường hợp của Philippines kiện Trung Quốc ra trước Tòa
Trọng tài, Philippines khẳng định từ những năm 1995, Philippines đã thực
hiện quá trình đối thoại với Trung Quốc trao đổi điểm liên quan đến việc một
giải pháp giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền được có các vùng biển ở
Biển Đông, việc thực hiện khai thác và sử dụng trong các vùng biển đó, cũng
như quy chế các cấu tạo biển ở quần đảo Trường Sa và bãi Hoàng Nham.
Các bên cũng đã tiến hành trao đổi quan điểm về tranh chấp này nhằm nỗ
lực đạt được một giải pháp thông qua thương lượng từ: “Tham vấn song
phương Philippines – Trung Quốc về các Vấn đề Biển Đông” được tổ chức từ
tháng 8/1995. Trải qua rất nhiều cuộc họp song phương cũng như trao đổi
ngoại giao trong hơn 17 năm qua, hai bên chưa đưa ra giải pháp nào cho các
vấn đề tranh chấp này.
Liên quan đến quy chế của các cấu tạo quần đảo Trường Sa và các vùng
biển phụ cận, hai bên cũng đã trao đổi quan điểm ít nhất từ tháng 8/1995 và
gần nhất là tháng 7/2012. Philippines đã nhiều lần phản đối hoạt động của
Trung Quốc trên và xung quanh đá Xu-bi và bãi Vành Khăn thuộc thềm lục
địa của Trung Quốc. Trung Quốc cũng nhiều lần bác bỏ các phản đối của
Philippines và duy trì việc chiếm đóng cũng như tiến hành các hoạt động trên
các cấu tạo này.
125
Các ghi chép ngoại giao trong các lần đối thoại trực tiếp giữa các bên đã
khẳng định rằng Philippines đã thực hiện đầy đủ nghĩa cụ thể theo Điều 283
UNCLOS 1982 về việc “có các cuộc đối thoại, trao đổi quan điểm về vụ việc
tranh chấp”.
Thứ hai là thỏa thuận chọn cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp giữa
các bên. Nội dung của thỏa thuận chọn cơ quan tài phán càng cụ thể, chi tiết
càng thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh chấp sau này.
Nếu các bên chọn hình thức giải quyết tại ITLOS thì bắt buộc phải có thỏa
thuận chọn ITLOS giải quyết thì ITLOS mới có thẩm quyền giải quyết. Nội
dung cơ bản trong thỏa thuận chọn Tòa án là Tòa án được chọn, phạm vi tranh
chấp, luật áp dụng khi tranh chấp xảy ra, giá trị pháp lý của phán quyết…
Nếu các bên chọn hình thức giải quyết tại Trọng tài hoặc Trọng tài đặc
biệt thì theo khoản 3 Điều 287 UNCLOS 1982 quy định: “Một quốc gia thành
viên tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn có
hiệu lực bảo vệ, thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài đã trù định ở
Phụ lục VII”. Vì vậy, trong trường hợp này có thể có văn bản lựa chọn cơ
quan trọng tài giải quyết hoặc một bên có thể đơn phương đưa vụ kiện ra
trước Tòa trọng tài. Trong trường hợp hai bên cùng đồng thuận chọn giải
quyết tại Tòa án Trọng tài thì nội dung của thỏa thuận trọng tài cần có các nội
dung cơ bản mà phía bên kia có thể thay đổi trong quá trình giải quyết tranh
chấp như phạm vi tranh chấp, thành phần Hội đồng trọng tài, luật áp dụng giải
quyết tranh chấp, giá trị pháp lý của ràng buộc trọng tài sau khi được ban
hành, …
Thứ ba là đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp. Trong đơn kiện cần thể hiện
một cách cụ thể các yêu sách của Việt Nam, phạm vi các vấn đề có tranh chấp
cũng như quan điểm của Việt Nam với nội dung tranh chấp. Cần xác định cụ
thể phạm vi tranh chấp cũng như nội dung tranh chấp tránh nhầm lẫn giữa khu
vực thuộc chủ quyền của Việt Nam với khu vực thuộc chủ quyền của nước
126
khác hay khu vực cả hai bên cùng có yêu sách. Đồng thời trong đơn kiện cũng
phải giới hạn rõ ràng các nội dung tranh chấp là về thềm lục địa, đặc quyền
kinh tế hay là về vùng biển nào. Đơn kiện cũng phải nêu bật được các chế tài
yêu cầu đối với bên tranh chấp kia là yêu sách về bồi thường hay yêu cầu
chấm dứt các hành vi xâm phạm chủ quyền …
Thứ tƣ là văn bản chỉ định thẩm phán adhoc hoặc trọng tài viên (nếu
trong văn bản thỏa thuận chọn Tòa án hoặc Trọng tài chưa có nội dung này).
Nếu các bên lựa chọn giải quyết tại Tòa án thì như đã phân tích ở trên theo
quy định tài Điều 36 của Phụ lục VI quy định các việc giải quyết các tranh
chấp liên quan đến đáy biển lập ra một viện ad hoc gồm ba thành viên và mỗi
bên tranh chấp được chỉ định một thành viên. Trong văn bản này, các bên cần
chỉ rõ các bên đã lựa chọn thẩm phán ad hoc nào, các thông tin liên quan đến
thẩm phán đó. Và các quốc gia cần phải lưu ý là thẩm phán ad hoc được chọn
phải là thành viên của Viện giải quyết tranh chấp, không được làm việc cho
bên tranh chấp nào, không được là công dân của quốc gia tranh chấp nào.
Nếu các bên lựa chọn hình thức giải quyết tại Trọng tài theo Phụ lục VII
UNCLOS 1982 thì trong văn bản này các bên phải thể hiện rõ đã chọn trọng
tài viên nào, các thông tin liên quan đến trọng tài viên đó, thẩm quyền cụ thể
của Hội đồng trọng tài đã thành lập…
Thứ năm là bản yêu sách bảo vệ chủ quyền hoặc quyền và lợi ích hợp
pháp của mình – đây là văn bản quan trọng nhất để bảo vệ quan điểm của Việt
Nam. Vì vậy văn bản này cần phải được chú ý lập luận theo một trình tự, định
hướng nhất quán, tránh mâu thuẫn và xung đột với các quan điểm bảo vệ
quyền và yêu sách khác nhau của Việt Nam.
Thứ sáu là các chứng cứ chứng minh chủ quyền của Việt Nam. Đây là
những cơ sở pháp lý chứng minh cho bản yêu sách ở trên vì vậy cần có sự
chuẩn bị đầy đủ và khoa học mọi chứng cứ liên quan. Các chứng cứ cần phải
127
được phân loại thành từng nhóm theo các tiêu chí nhất định. Như chứng cứ
xuất phát từ tư liệu lịch sử, chứng cứ xuất phát từ pháp luật quốc tế, chứng cứ
xuất phát từ thực địa trên thực tế…
Thứ bảy là văn bản tranh luận phản bác lại quan điểm đối ngược của
quốc gia tranh chấp kia. Trước khi đưa vụ việc tranh chấp chủ quyền Biển
Đông ra giải quyết tại các cơ quan tài phán quốc tế, Việt Nam cần nghiên cứu
một cách cụ thể, kỹ lưỡng các cơ sở pháp lý mà các nước khác sử dụng để
chứng minh cho yêu sách chủ quyền của họ. Đồng thời, Việt Nam cũng cần
nghiên cứu các yêu sách chủ quyền của họ trong tương quan so sánh với
những chứng cứ mà Việt Nam đang có để chuẩn bị trước các lập luận phản
bác. Văn bản tranh luận phản bác này sẽ phải nộp cho các cơ quan tài quốc tế
cũng như gửi cho các bên tranh chấp với Việt Nam trong quá trình giải quyết
vụ tranh chấp nên cần phải thực sự chặt chẽ và logic.
Thứ tám là tùy từng trường hợp mà có các tài liệu khác kèm theo đó có
thể là ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước mà Việt Nam đã tập hợp
được qua cơ chế tham vấn hoặc tư vấn. Các ý kiến này có thể đến từ các Hội
thảo khoa học quốc tế, Hội nghị quốc tế hay các Công trình khoa học đã được
công bố…
Các văn bản, tài liệu trên cần được sắp xếp lại thành hồ sơ pháp lý của vụ
việc. Việc chuẩn bị hồ sơ pháp lý cần phù hợp với yêu cầu tố tụng theo quy
chế của ITLOS (nếu các bên lựa chọn giải quyết tại Tòa án) và phù hợp với
yêu cầu tố tụng mà các bên đã lựa chọn (nếu các bên lựa chọn giải quyết tại
Trọng tài) nhưng cũng cần phải bảo đảm tính hiệu quả và thuận lợi trong việc
sử dụng để bảo vệ yêu sách chủ quyền của Việt Nam.
128
3.3.4. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực Luật Biển quốc tế
Trước đây, các quốc gia có thể thôn tính nhau bằng con đường sử dụng vũ
lực thì để đấu tranh đòi chủ quyền quốc gia không còn cách nào khác là phải
có lực lượng quân đội và tiềm lực kinh tế hùng mạnh. Nhưng hiện nay, khi
các quy định của pháp luật quốc tế được hình thành và trở thành nguyên tắc
ứng xử quốc tế thì việc sử dụng vũ lực bị nghiêm cấm. Các quốc gia cần đối
thoại hòa bình trên cơ sở thương lượng, tôn trọng lẫn nhau để tìm ra giải pháp
giải quyết tranh chấp. Vì vậy, việc đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực luật
biển quốc tế lại càng có vai trò đặc biệt quan trọng.
Ngày nay, để có thể chiến thắng trong cuộc chiến chủ quyền phức tạp như
ở Biển Đông điều kiện tiên quyết là phải có sự ủng hộ của đông đảo cộng
đồng quốc tế. Nhưng hiện nay, các tài liệu mà bạn bè quốc tế tiếp cận được
chủ yếu là từ phía Trung Quốc. Vì vậy, để cho thế giới hiểu chính nghĩa thuộc
về Việt Nam chúng ta phải tự mình chứng minh điều đó. Trong khi Trung
Quốc đã rất chú trọng đến vấn đề này bằng việc có đông đảo học giả, các
công trình nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu về biển thì Việt Nam chúng ta số
lượng này rất hạn chế.
Việt Nam chỉ có Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm
Luật biển và Hàng hải quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo và Viện
Biển Đông thuộc Học viện Ngoại giao là cơ quan của nhà nước từng đặt vấn
đề nghiên cứu chính thực về quy định của pháp luật quốc tế về biển, thực tiễn
phân định biển… Phía Trung Quốc có rất nhiều trung tâm nghiên cứu trực
thuộc các trường Đại học như Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn hoặc
Ủy ban nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á… Ngoài ra, ở
Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về Biển Đông do các cá nhân, tổ chức
phi chính phủ tiến hành. Tuy nhiên, do bị hạn chế về thời gian, sức lực cũng
như tiềm lực kinh tế nên số lượng không nhiều. Vì vậy, để trọng dụng được
những người có trình độ, có tâm huyết thì Nhà nước phải coi đây là nhiệm vụ
129
chiến lược đấu tranh cho chủ quyền đất nước. Nhà nước cần phải thực hiện
đồng bộ các biện pháp sau:
Thứ nhất, Nhà nước cần phải lập cơ quan chuyên trách làm đầu mối quy
tụ các nhà nghiên cứu về sử học, địa lý, luật pháp quốc tế, hàng hải, Trung
Quốc học… để liên tục có các công trình nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ pháp lý,
chứng cứ pháp lý và khi có thời cơ chúng ta đưa yêu cầu giải quyết tranh chấp
và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trước các cơ quan tài phán quốc tế.
Thứ hai, Việt Nam cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về Biển Đông
với các chứng cứ pháp lý, chứng cứ lịch sử để bảo vệ chủ quyền biển trên
Biển Đông. Việc thực hiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ cho các
chuyên gia nghiên cứu cũng như thuận lợi cho việc tuyên truyền phổ biến cho
người dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế.
Thứ ba, Việt Nam cần khuyến khích các chuyên gia tham gia vào các hội
thảo chuyên ngành về biển quốc tế, các công trình nghiên cứu quốc tế.Việt
Nam có rất nhiều các chứng cứ pháp lý cũng như chứng cứ lịch sử khẳng định
chủ quyền không thể tranh cãi ở Biển Đông nhưng thực sự những chứng cứ
này chưa được tập hợp lại và đưa vào các công trình nghiên cứu khoa học
mang tính quốc tế. Vì vậy, cộng đồng quốc tế chưa biết nhiều đến các chứng
cứ khoa học của Việt Nam. Trong khi Trung Quốc với rất nhiều đội ngũ các
giáo sư trong các trường đại học lớn, các nhân viên trong các cơ quan tài phán
quốc tế, các nhân viên trong các tổ chức quốc tế có điều kiện để đăng các bài
viết, các công trình nghiên cứu trên báo chí quốc tế. Trước thực tế đó, Việt
Nam cần phải có nhiều nhà nghiên cứu am hiểu ngôn ngữ cũng như pháp luật
quốc tế tham gia vào các diễn đàn, các hội nghị quốc tế về biển, có các bài
viết, bài phân tích hay các công trình khoa học ở các tạp chí đầu ngành của
thế giới về công pháp quốc tế, lịch sử, địa lý…
Thứ tƣ, Việt Nam cần đào tạo đội ngũ luật sư, nhân viên pháp lý… đủ
trình độ chuyên môn cũng như trình độ ngoại ngữ để tham gia vào các cơ
quan tài phán quốc tế cũng như các tổ chức quốc tế. Hiện nay, Trung Quốc
130
ngoài việc có thẩm phán ở Tòa án Công lý Quốc tế và ITLOS thì có rất nhiều
các nhân viên pháp lý cũng như nhân viên trong các cơ quan chuyên trách của
các tổ chức quốc tế. Điều này là một bất lợi lớn cho Việt Nam nếu giải quyết
ở các cơ quan tài phán quốc tế về Biển. Vì vậy, nhằm cân bằng lực lượng giữa
hai bên, Việt Nam cần có chương trình đào tạo, chế độ đãi ngộ, chương trình
học bổng… để có thể thu hút được các chuyên gia đủ điều kiện, phẩm chất
đạo đức, chuyên môn, ngoại ngữ… để có thể tiến cử vào hệ thống cơ quan tài
phán quốc tế.
131
KẾT LUẬN
Pháp luật quốc tế ra đời và ngày càng thể hiện rõ vai trò trong việc định
hướng ứng xử của các quốc gia với nhau. Trong tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, không riêng lĩnh vực biển, các quốc gia cần phải tôn trọng các
quy định của luật quốc tế. Đặc biệt với sự ra đời của UNCLOS 1982, đây là
văn kiện luật đầy đủ, hệ thống nhất về luật biển từ trước đến nay. Cùng với sự
ra đời của UNCLOS 1982 là sự ra đời của ITLOS và các Tòa Trọng tài đã
khắc phục được những hạn chế của Tòa án Công lý quốc tế trong giải quyết
các tranh chấp về biển giữa các quốc gia cũng như giữa các pháp nhân và thể
nhân. Các quy định pháp luật cũng như thực tiễn xét xử của ITLOS cũng như
các Tòa trọng tài đã góp phần giải quyết dứt điểm các tranh chấp giữa các
bên. Đồng thời nó còn tạo ra các án lệ cho việc giải quyết tranh chấp sau này.
Ngoài ra, ITLOS còn có chức năng tư vấn trong một số trường hợp nhất định
nhằm làm sáng tỏ hơn nữa các quy định của pháp luật quốc tế về biển vốn rất
phức tạp. Các tòa Trọng tài với đặc điểm các bên có thể chủ động chọn được
các trọng tài viên có đạo đức, có kinh nghiệm và am hiểu thực tiễn vụ tranh
chấp để giải quyết tranh chấp là ưu thế rất lớn.
Các quốc gia có nền tư pháp lâu đời và ổn định đã sử dụng nhiều các cơ
quan này để giải quyết tranh chấp về biển cho quốc gia mình. Việt Nam
chúng ta từ trước đến nay, luôn trung thành với giải pháp hòa hảo – tức là
đàm phán, đối thoại song phương hoặc đa phương để giải quyết các tranh
chấp. Và thực tế là chúng ta đã giải quyết các tranh chấp với các nước trong
khu vực ASEAN bằng phương pháp này rất hiệu quả với việc ra đời rất nhiều
các hiệp định phân định biển, hay hiệp định khai thác chung. Từ trước đến
nay, chúng ta chưa có thói quen sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế để giải
132
quyết tranh chấp của mình. Tuy nhiên, hiện nay với việc có quốc gia yêu sách
gần như toàn bộ Biển Đông xâm phạm vào cả những vùng biển thuộc chủ
quyền hoặc quyền chủ quyền của Việt Nam theo quy định của UNCLOS 1982
thì biện pháp đối thoại, đàm phán không còn hiệu quả. Việt Nam từ bao thế
kỷ nay vẫn là quốc gia yêu chuộng hòa bình, tôn trọng pháp luật quốc tế.
Chúng ta chỉ phản kháng lại khi không còn giải pháp nào khác minh chứng cụ
thể là chúng ta đã đánh bại hai quốc gia thực dân, đế quốc sừng sỏ nhất trên
thế giới. Hơn nữa, chúng ta chỉ là nước nhỏ, kinh tế đang phát triển đứng bên
cạnh một cường quốc lớn và hùng mạnh chúng ta chỉ còn cách đấu tranh để
bảo vệ chủ quyền, bảo vệ xương máu của cha ông để lại bằng cuộc chiến pháp
lý thông qua các cơ quan tài phán quốc tế.
Và Việt Nam có thể tự tin với chủ quyền không thể tranh cãi ở Biển Đông
với các chứng cứ lịch sử và chứng cứ pháp lý thuyết phục của mình. Trải
nhiều thế kỷ, Việt Nam đã thực hiện sự chiếm hữu của mình một cách liên
tục, thực tế và hòa bình trên các vùng biển của Việt Nam và đặc trên đối với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lợi dụng tình hình chiến tranh hai
miền Bắc Nam, một số quốc gia đã dùng vũ lực để xâm chiếm lấy quần đảo
Hoàng Sa. Và rất nhiều quốc gia đã chiếm đóng trái phép trên quần đảo
Trường Sa của Việt Nam gây ra những bất ổn cho tình hình khu vực. Những
hành vi đó đều vi phạm pháp luật quốc tế, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Việt Nam luôn kiên định bảo vệ chủ
quyền của mình bằng các biện pháp hòa bình như đấu tranh ngoại giao, đàm
phán, đối thoại… Giải pháp đấu tranh thông qua các cơ quan tài phán quốc tế
cũng là một biện pháp hữu hiệu mà nước ta cần tính đến. Trong tương lai gần,
khi Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ về chứng cứ pháp lý, lịch sử và nhân lực, thì
việc tiến hành khởi kiện ở một trong các cơ quan tài phán theo UNCLOS
1982 có thể được thực hiện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Nguyễn Tuấn Anh (2008), “Tình hình tranh chấp lãnh thổ trên Biển
Đông”, báo Thông tin công tác mặt trận số 66 tháng 12.
2. Bộ Thông tin và truyền thông (2013), Mượn cớ đánh cá, Trung Quốc
lập mưu gặm cho bằng hết Biển Đông, ngày 7/7/2013 theo http://infonet.vn/.
3. An Bình (2014), Philippines "tố" Trung Quốc muốn chiếm Biển
Đông bằng luật đánh cá, ngày 19/01/2014, theo http://dantri.com.vn/.
4. Đào Văn Bình (2014), Nhận ký Biển Đông – căng thẳng leo thang và
lan sang Úc Châu, ngày 03/4/2014, theo http://boxitvn.blogspot.com/.
5. Lê Dân (2013), Biển Đông và thực trạng tranh chấp ở Biển Đông,
ngày 21/04/2013, theo http://suthatvietnamblog.blogspot.com/.
6. Nguyễn Bá Diến và Nguyễn Hùng Cường (2012), Thềm lục địa trong
pháp luật quốc tế, tr 385, 386, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội
7. Nguyễn Bá Diến (2011), “Địa vị pháp lý của đảo trong phân định các
vùng biển”, Hội thảo quốc gia về Biển Đông lần thứ hai, Hà Nội.
8. Ông và bà Trần Đăng Đại (2011), “Một số văn kiện xác nhận chủ
quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời pháp
thuộc đến trước 30/4/1975”, Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa,
Trường Sa là của Việt Nam, tr 97 – 115 Nxb Trẻ, Hà Nội.
9. Nguyễn Đình Đầu (2011),“Chủ quyền biển đảo Việt Nam qua các bản
đồ cổ”, Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt
Nam, tr 60 – 69, Nxb Trẻ, Hà Nội.
10. Phạm Văn Đồng (1958), Thư gửi đồng chí Chu Ân Lai – Tổng lý Quân
vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hà Nội.
11. Nguyễn Trường Giang (2012), Vụ tranh chấp Malaysia và Singapo về
chủ quyền đối với đảo đá trắng, các đảo “south ledge” và “Middle Rocks” -
Một số kinh nghiệm, bài học pháp lý và thực tiễn, tr 171 – 188, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
12. Hà Minh Hồng (2012), Dọc đường cơ sở tổ quốc tôi, Nxb Văn hóa –
Văn nghệ, Hồ Chí Minh, 2012.
13. Nguyễn Ngọc Lan và Trần Hoàng Yến (dịch) (2013), Thông báo và
tuyên bố khởi kiện Trung Quốc của Philipines, theo
http://nghiencuubiendong.vn/.
14. Mai Linh (2012), Diễn biến xấu ở Biển Đông, ngày 04/8/2012,
theo http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/
15. Nguyễn Việt Long (2012), Lẽ phải, Luật quốc tế và chủ quyền trên
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tr 189 – 206, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh.
16. Nguyễn Việt Long (2013), Hoàng Sa, Trường Sa – Các sự kiện, tư
liệu lịch sử - pháp lý chính, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
17. Trọng Nghĩa (2011), Trung Quốc lại sách nhiễu tàu thăm dò dầu
khí của Việt Nam, ngày 02/6/2011, theo http://boxitvn.blogspot.com/.
18. Trần Doãn Nhã và Nam Tuân (2011), “Rất nhiều sách cổ khẳng định
Hoàng Sa là của Việt Nam”, Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa,
Trường Sa là của Việt Nam, tr 82 - 86, Nxb Trẻ, Hà Nội.
19. Đinh Kim Phúc (2012), Hoàng Sa, Trường Sa – Luận cứ và sự kiện,
Nxb Thời đại, Hồ Chí Minh.
20. Phạm Thị Hồng Phượng (2006), “Lịch sử vùng biển Việt Nam –
Campuchia”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 4(29), tr 69 -76.
21. Quỹ nghiên cứu biển đông (2010), Biển Đông – nguồn sống vô tận,
ngày 28/10/2010 theo http://www.biendong.net/.
22. Đặng Đình Quý (2010), “Các khu vực tranh chấp trên Biển Đông:
Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc ý kiến tư vấn”, Tranh chấp Biển
Đông, hợp tác địa chính trị và hợp tác quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội.
23. Vũ Quý (2012), Trung Quốc cố tình hợp lý hóa thành phố Tam Sa,
ngày 24/7/2012, theo http://dantri.com.vn/
24. Lê Quý Quỳnh, Nguyễn Trường Giang (2012), Các hiệp định phân
định biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
25. Bùi Quang Sơn (2012), “Sự phát triển luật biển quốc tế và một số giải
pháp để giải quyết tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông”, Quy chế
pháp lý quốc tế giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, tr 133- 220,
Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
26. Phạm Vũ Thắng (2013), “Suy nghĩ về giải pháp pháp lý cho Việt Nam
trước vụ kiện Philipines”, tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Luật
học tập 29, số 2, tr 50 -55.
27. Nguyễn Hồng Thao (2006), Tòa án quốc tế về Luật biển, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
28. Nguyễn Hồng Thao (2009), “Yêu sách đường đứt khúc 9 đoạn của
Trung Quốc dưới góc độ luật pháp quốc tế”, Tạp chí nghiên cứu Quốc tế.
29. Nguyễn Hồng Thao (2011), Tòa án Công lý quốc tế, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
30. Greg Torode (2014), Việt Nam có đưa Trung Quốc ra Tòa, ngày
13/02/2014, theo http://www.bbc.co.uk/
31. Trần Công Thục (2011), Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, Nxb
Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
32. Trần Trường Thủy (2009), “ASEAN, Trung Quốc và quá trình hình
thành Tuyên bố ứng xử các bên tại biển Đông”, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế,
tháng 9, số 3 (78), tr 5 – 24.
33. CTV Trường Sa (2014), Không khởi kiện Trung Quốc, chúng ta mắc
tội lớn với dân tộc, ngày 03/03/2014, theo http://nguyentandung.org/
34. Bành Quốc Tuấn (2012), “Bảo vệ chủ quyền biển Đông”, Tạp chí
Phát triển và Hội nhập, số 7 tháng 11 – 12, tr 61 – 68.
35. Ủy ban Biên giới quốc gia – Bộ Ngoại giao (2013), Vị trí, tầm quan
trọng của Biển Đông với nước trong và ngoài khu vực, ngày 20/9/2013 theo
http://www.nhontrach-dongnai.gov.vn/.
36. Ủy ban Biên giới quốc gia – Bộ Ngoại giao (2010), Biển Đông nguồn
sống vô tận, ngày 28/10/2010 theo http://www.biendong.net/.
37. Ủy ban Biên giới quốc gia (2011), Chủ quyền của Việt Nam đối với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo
http://www.hoangsa.danang.gov.vn/.
38. Hoàng Việt (2010), “Asean với triển vọng giải quyết tranh chấp biển
Đông”, Biển Đông – Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực, Kỷ yếu
hội thảo khoa học thế giới, Nxb Thế giới, Hà Nội.
39. Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao (1999), Quan điểm
các nước và học giả quốc tế về tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
40. Võ Xuân Vinh (2011), “Quá trình yêu sách chủ quyền của Philippines
đối với quần đảo Trường Sa và cơ sở pháp lý”, Hội thảo quốc gia về Biển
Đông lần 2, Hà Nội.
II. TÀI LIỆU TIẾNG NƢỚC NGOÀI
41. Balaram, Ravi A (2012), “Case Study: The Myanmar and Bangladesh
Maritime Boundary Dispute in the Bay of Bengal and Its Implications for
South China Sea Claims”, Journal of Current Southeast Asian Affairs, 31, 3,
85-104.
42. Cambridge studies in international and Comparative law (2004),
Disputr Settlement in the UN Convention on law of the Sea, UK.
43. Ian Storey (2013), “Manila Ups the Ante in the South China
Sea”, China Brief, 13 số 3 Ian Storey (2013),
44. Klein, Natalie (2005), Dispute Settment in the UN Convention on the
Law of the Sea.
45. Park, Choo-ho (1983), East Asia and the Law of the Sea.
46. Robert and LeonardoBernard (2012), “Disputed Areas in the South
China Sea: Prospects for Arbitration or Advisory Opinion”, International
scientific conference for the third time on the East Sea, Hanoi.
47. Rosenne, Shabtai and Sohn Louis B (1989), The United Nations
Convention on the Law of the Sea: A Commentary, Vol 5.
48. Dr. Yoshifumi Tanaka (2007), The Guyana/Suriname Arbitration: A
Commentary.
49. Trần Đình Thanh Lam, (2004),“Vietnam oil find China’s worries”,
Energy Bullentin, 26/10/2004.
PHỤ LỤC 1:
DANH MỤC CÁC VỤ ÁN TÕA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT
BIỂN ĐÃ XÉT XỬ
1. Vụ tàu M/V Saga 1 (Saint Vincent và Grenadines và Guinea).
2. Vụ tàu M/V Saga 2 1 (Saint Vincent và Grenadines và Guinea).
3. Vụ cá ngừ vây xanh biển phía Nam giữa New Zealan và Nhật Bản;
Nhật Bản và Úc.
4. Vụ tàu Camouco (Panama và Pháp).
5. Vụ tàu Monte Confurco (Seychelles và Pháp).
6. Vụ giữ gìn và khai thác bền vững giống cá kiếm ở Đông Nam Thái
Bình Dương (Chile và Cộng đồng Châu Âu).
7. Vụ tàu Grand Prince (Belize và Pháp).
8. Vụ tàu Chaisiri Reefer 2 (Panama và Yemen yêu cầu thả tàu và thủy
thủ đoàn).
9. Vụ nhà máy năng lượng hạt nhân MOX (Ireland và Anh yêu cầu đưa ra
biện pháp tạm thời).
10. Vụ tàu Volga (Nga và Ustralia yêu cầu thả ngay tàu và thủy thủ đoàn).
11. Vụ cải tạo đất trong và xung quanh eo biển Johor (Malaysia và
Singapore yêu cầu đưa ra biện pháp tạm thời).
12. Vụ tàu Juno Trade (Saint Vincent và Grenadines và Bissau).
13. Vụ tàu Hoshimaru (Nhật Bản và Liêng Bang Nga).
14. Vụ tàu Tomimaru (Nhật Bản và Liêng Bang Nga).
15. Tranh chấp liên quan đến phân định ranh giới biển giữa Bangladesh
và Myanma trong vịnh Bengal.
16. Yêu cầu tư vấn về trách nhiệm và nghĩa vụ của các quốc gia tài trợ
cho người và các tổ chức liên quan đến hoạt động trong khu vực cho Viện
tranh chấp đáy biển.
17. Vụ tàu Louisa (Saint Vincent và Grenadines, Anh và Tây Ban Nha).
18. Vụ tàu Virginia (Panama và Guinea - Bissau).
19. Vụ tàu ARA Libertad (Argentina và Ghana yêu cầu áp dụng biện pháp
tạm thời).
20. Yêu cầu tư vấn được gửi bởi Ủy ban Nghề cá tiểu khu vực (SRFC).
21. Vụ tàu Arctic Sunrise (Hà Lan và Liêng Bang Nga).
PHỤ LỤC 2:
DANH MỤC CÁC VỤ ÁN TÕA TRỌNG TÀI ĐÃ XÉT XỬ
1. Vụ Australia và New Zealand kiện Nhật Bản liên quan đến việc bảo tồn
và quản lý cá ngừ vây xanh. Phán quyết năm 2000.
2. Vụ tranh chấp giữa Ireland và Vương quốc Anh (“MOX Plant Case”)
vào tháng 11 năm 2001.
3. Vụ tranh chấp liên quan đến lấn biển giữa Malaysia và Singapore ở khu
vực eo biển Johor vào 26/04/2005.
4. Vụ phân định biển và đòi bồi thường giữa Guyana và Suriname vào
tháng 2 năm 2004.
5. Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Barbados,
Trinidad và Tobago vào tháng 02 năm 2004.
6. Vụ phân định ranh giới biển giữa Bangladesh và Ấn Độ trong vịnh
Bengal vào tháng 10 năm 2009.
7. Vụ tranh chấp khu bảo tồn biển xung quanh quần đảo Chagos giữa
Maurutius và Vương quốc Anh vào tháng 12 năm 2010.
8. Vụ Argentina yêu cầu Ghana giải phóng cho các tàu quân sự ARA
Libertad của Argentina vào tháng 10 năm 2012.
9. Vụ tranh chấp giữa Philippines với Trung Quốc tại khu vực biển Tây
Philippines vào tháng 01 năm 2013. Đang giải quyết.

More Related Content

PDF
Tòa án trọng tài thường trực La Haye giải quyết tranh chấp quốc tế
PDF
Đề tài: Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, HOT
PDF
Luận văn: Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam, HAY
PDF
Luận văn: Quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam, HAY
PDF
Đề tài: Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật, HAY
PDF
Luận văn: Hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai, 9đ
PDF
Luận văn: Tái thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, HOT, HAY
PDF
Luận văn: Pháp luật hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại
Tòa án trọng tài thường trực La Haye giải quyết tranh chấp quốc tế
Đề tài: Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, HOT
Luận văn: Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam, HAY
Luận văn: Quy chế công chứng viên theo pháp luật Việt Nam, HAY
Đề tài: Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật, HAY
Luận văn: Hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai, 9đ
Luận văn: Tái thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, HOT, HAY
Luận văn: Pháp luật hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại

What's hot (20)

PDF
Luận văn: Chế độ tài sản vợ chồng theo luật hôn nhân, HOT
PDF
Luận văn: Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa
PDF
Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần, HOT
PDF
Luận văn: Quản lý đối với người không quốc tịch ở Việt Nam, HAY
PDF
Luận văn: Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
PDF
Luận văn: Góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp, HOT
PDF
Luận văn: Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam
PDF
Luận văn: Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật Biển 1982 - Gửi miễn phí q...
PDF
Đề tài: Cơ chế hải quan một cửa tại Việt Nam theo cam kết, HAY
PDF
Đề tài: Cầm cố và thế chấp tài sản tại Ngân hàng Agribank, HOT
PDF
Luận văn: Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, HAY
PDF
Luận văn: Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật biển, HOT
PDF
Luận văn: Hòa giải tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Đà Nẵng, 9đ
PDF
Luận văn: Tổ chức quản lý công ty cổ phần theo pháp luật, HAY
PDF
Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự nước ngoài
PDF
Luận văn: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa
PDF
Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam, HOT
PDF
Luận văn: Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức theo pháp luật
DOC
Bài mẫu Luận văn Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, 9 ĐIỂM
PDF
Luận văn: Pháp luật về quản lý chung cư ở Việt Nam, HOT
Luận văn: Chế độ tài sản vợ chồng theo luật hôn nhân, HOT
Luận văn: Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa
Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần, HOT
Luận văn: Quản lý đối với người không quốc tịch ở Việt Nam, HAY
Luận văn: Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại
Luận văn: Góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp, HOT
Luận văn: Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam
Luận văn: Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật Biển 1982 - Gửi miễn phí q...
Đề tài: Cơ chế hải quan một cửa tại Việt Nam theo cam kết, HAY
Đề tài: Cầm cố và thế chấp tài sản tại Ngân hàng Agribank, HOT
Luận văn: Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, HAY
Luận văn: Vấn đề phân định biển theo Công ước Luật biển, HOT
Luận văn: Hòa giải tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Đà Nẵng, 9đ
Luận văn: Tổ chức quản lý công ty cổ phần theo pháp luật, HAY
Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự nước ngoài
Luận văn: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa
Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam, HOT
Luận văn: Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức theo pháp luật
Bài mẫu Luận văn Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, 9 ĐIỂM
Luận văn: Pháp luật về quản lý chung cư ở Việt Nam, HOT
Ad

Similar to Vấn đề sử dụng cơ quan tài phán quốc tế về luật biển, HAY (20)

DOC
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ ngành Luật biển, HAY, 9 ĐIỂM
PDF
Luận văn: Giải quyết tranh chấp trên biển bằng Luật biển, HOT
PDF
Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biên.pdf
DOC
Luận văn: Vấn đề cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước Luật Biển
PDF
Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông theo phương thức phi tài phán
PDF
Kinh nghiệm của ASEAN về giải quyết tranh chấp lãnh thổ biển
PDF
Đề tài: Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, HOT
PDF
Đề tài: Giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển, HAY
PDF
Luận văn: Giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển
PDF
Giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, HOT
DOCX
Giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển và giải pháp giải quyết tr...
PPTX
LUẬT-BIỂN-LAW-UNIVERSITY-4-CHUONG--.pptx
PDF
Toa an quoc te ve luat bien
PPTX
Slide môn Công pháp QT-Luật biển QT.pptx
PDF
Kiểm tra, kiểm soát theo thẩm quyền cảnh sát biển Việt Nam.pdf
PPT
Luat bien
PPT
Luat bien
PDF
Đề tài: Quy chế pháp lý của các đảo theo Công ước luật biển, HOT
DOC
Các Thể Chế Của Liên Hợp Quốc Và Vấn Đề Giải Quyết Tranh Chấp Của Việt Nam Tr...
PDF
Đề tài: Vấn đề giải quyết tranh chấp của Việt Nam trên Biển Đông
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ ngành Luật biển, HAY, 9 ĐIỂM
Luận văn: Giải quyết tranh chấp trên biển bằng Luật biển, HOT
Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biên.pdf
Luận văn: Vấn đề cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước Luật Biển
Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông theo phương thức phi tài phán
Kinh nghiệm của ASEAN về giải quyết tranh chấp lãnh thổ biển
Đề tài: Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, HOT
Đề tài: Giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển, HAY
Luận văn: Giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên biển
Giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, HOT
Giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển và giải pháp giải quyết tr...
LUẬT-BIỂN-LAW-UNIVERSITY-4-CHUONG--.pptx
Toa an quoc te ve luat bien
Slide môn Công pháp QT-Luật biển QT.pptx
Kiểm tra, kiểm soát theo thẩm quyền cảnh sát biển Việt Nam.pdf
Luat bien
Luat bien
Đề tài: Quy chế pháp lý của các đảo theo Công ước luật biển, HOT
Các Thể Chế Của Liên Hợp Quốc Và Vấn Đề Giải Quyết Tranh Chấp Của Việt Nam Tr...
Đề tài: Vấn đề giải quyết tranh chấp của Việt Nam trên Biển Đông
Ad

More from Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864 (20)

DOC
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
DOC
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
DOC
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
DOC
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
DOC
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
DOC
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
DOC
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
DOC
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
DOC
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
DOC
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
DOC
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
DOC
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...

Recently uploaded (20)

PDF
BÀI GIẢNG TÓM TẮT XÁC SUẤT THỐNG KÊ (KHÔNG CHUYÊN TOÁN, 2 TÍN CHỈ) - KHOA SƯ...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
PPTX
chương-1.-vấn-đề-lý-luận-về-luật-quốc-tế.pptx
PDF
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
PPT
CH4 1 Van bagggggggggggggggggggggggggggggn QH.ppt
PDF
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
PPTX
Luat dat dai 2024 chi tiet, khai quat nh
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
PDF
Mua Hàng Cần Trở Thành Quản Lý Chuỗi Cung Ứng.pdf
PDF
BÀI GIẢNG CƠ SỞ SINH HỌC NGƯỜI - KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN ĐẠI HỌC ĐỒNG ...
PDF
FULL TN LSĐ 2024 HUIT. LICH SU DANGGGGGG
PPT
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
PDF
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
DOCX
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
PPTX
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
PDF
Thong bao 128-DHPY (25.Ke hoach nhap hoc trinh do dai hoc (dot 1.2025)8.2025)...
PDF
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 THEO FORM THI MỚI BGD - TẬP 2 - NĂM HỌC 2025-202...
PPTX
Cách viết mô tả chi tiết và thêm nhiều thẻ để tăng điểm số nội dung trên hệ t...
PPTX
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
BÀI GIẢNG TÓM TẮT XÁC SUẤT THỐNG KÊ (KHÔNG CHUYÊN TOÁN, 2 TÍN CHỈ) - KHOA SƯ...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
chương-1.-vấn-đề-lý-luận-về-luật-quốc-tế.pptx
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
CH4 1 Van bagggggggggggggggggggggggggggggn QH.ppt
TỔNG QUAN KỸ THUẬT CDHA MẠCH MÁU.5.2025.pdf
Luat dat dai 2024 chi tiet, khai quat nh
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
Mua Hàng Cần Trở Thành Quản Lý Chuỗi Cung Ứng.pdf
BÀI GIẢNG CƠ SỞ SINH HỌC NGƯỜI - KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN ĐẠI HỌC ĐỒNG ...
FULL TN LSĐ 2024 HUIT. LICH SU DANGGGGGG
danh-sach-lien-ket_Cấu trúc dữ liệu và giải thuậ.ppt
SÁNG KIẾN THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ VẬT SỐNG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 7 ...
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
Mô tả tổng quan về mô mình hóa robot nhiều bậc tự do
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
Thong bao 128-DHPY (25.Ke hoach nhap hoc trinh do dai hoc (dot 1.2025)8.2025)...
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 THEO FORM THI MỚI BGD - TẬP 2 - NĂM HỌC 2025-202...
Cách viết mô tả chi tiết và thêm nhiều thẻ để tăng điểm số nội dung trên hệ t...
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv

Vấn đề sử dụng cơ quan tài phán quốc tế về luật biển, HAY

  • 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THU THẢO VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 TRONG VIỆC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2014
  • 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THU THẢO VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 TRONG VIỆC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG Chuyên ngành : Luật Quốc tế Mã số : 60 38 01 08 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến Hà Nội – 2014
  • 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN
  • 4. MỤC LỤC Trang Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bản đồ LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................................................ 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ VÀ CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982............................................................. 7 1.1. Vị trí chiến lƣợc của Biển Đông.......................................................... 7 1.1.1. Biển Đông - Tuyến đường giao thông quan trọng.....................................7 1.1.2. Biển Đông - Khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và nhiên liệu .........9 1.1.3. Biển Đông – Khu vực quan trọng về chính trị và an ninh quốc gia .11 1.2. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông..............................................12 1.2.1. Tranh chấp phát sinh trong quá trình phân định ranh giới biển.........12 1.2.2. Tranh chấp đối với Hoàng Sa và Trường Sa............................................15 1.2.3. Tranh chấp liên quan quyền khai thác và sử dụng biển........................19 1.2.4. Tranh chấp phát sinh từ yêu sách phi lý, vô căn cứ đường lưỡi bò của Trung Quốc ..........................................................................................................................21 1.3. Khái quát về các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 .........................................................................................................................25 1.3.1. Tòa án quốc tế về Luật Biển..........................................................................26 1.3.2. Tòa trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt .......................................................28 CHƢƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC, THẨM QUYỀN, THỦ TỤC TỐ TỤNG VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982..................................................................................................................................................32 2.1. Tòa án quốc tế về luật biển................................................................32 2.1.1. Cơ cấu tổ chức của Tòa án quốc tế về Luật biển....................................32 2.1.2. Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về Luật Biển ........................................38 2.1.3. Thủ tục tố tụng của Tòa án quốc tế về Luật Biển...................................46
  • 5. 2.1.4. Thực tiễn xét xử.................................................................................................52 2.2. Tòa Trọng tài......................................................................................58 2.2.1. Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982.......................................58 2.2.2. Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII UNCLOS 1982............................75 CHƢƠNG 3: NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII, PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN..................................................................78 3.1. Thời cơ, thách thức khi Việt Nam để sử dụng cơ quan tài phán quốc tế để bảo vệ chủ quyền trên biển Đông..............................................78 3.1.1. Thời cơ..................................................................................................................78 3.1.2. Thách thức.........................................................................................92 3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử của cơ quan tài phán quốc tế..........................................................100 3.2.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế ..................................................................................................... 100 3.2.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử của các cơ quan tài phán quốc tế……………………………………………………………………...107 3.3. Giải pháp cho Việt Nam để sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc Luật biển năm 1982 ......................................................................................................113 3.3.1. Trình tự, thủ tục đưa vụ việc ra trước các cơ quan tài phán quốc tế.............................................................................................................113 3.3.2. Sự chuẩn bị về các chứng cứ pháp lý của Việt Nam......................... 116 3.3.3. Lập hồ sơ pháp lý........................................................................................... 123 3.3.4. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực Luật Biển quốc tế ................... 128 KẾT LUẬN...............................................................................................................................................131 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 PHỤ LỤC 2
  • 6. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ASEAN : Cộng đồng các nước Đông Nam Á COC : Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa DOC : Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông ITLOS : Tòa án quốc tế về luật biển LHQ : Liên Hợp Quốc UNCLOS : Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển
  • 7. DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ Số hiệu Tên hình Trang 1.1 Bản đồ đường lưỡi bò theo yêu sách của Trung Quốc 22 2.1 Bản đồ vùng biển tranh chấp giữa Myanmar và Bangladesh 56 2.2 Bản đồ vùng biển tranh chấp giữa Guyana và Suriname 65 3.1 Sơ đồ các vùng biển của Việt Nam 78
  • 8. 1 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên sinh vật, vi sinh vật, Biển Đông đang là nơi diễn ra hàng loạt các tranh chấp về chủ quyền đảo, quần đảo, tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán các vùng biển chồng lấn,... Trong đó có thể kể ra các tranh chấp đó là các tranh chấp trong vùng Vịnh Thái Lan của bốn nước Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Campuchia; tranh chấp quần đảo Trường Sa của bốn nước và năm bên: Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan, Philipines, Malaysia. Cùng với đó là sự quan tâm của các cường quốc hàng hải trên thế giới, các nước lớn trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới. Tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông đã trở thành điểm nóng khi sự bất ổn gia tăng do các hoạt động phô trương tiềm lực quân sự, chính trị... của một số nước trong khu vực. Trong bối cảnh hiện nay, các bên tranh chấp cần phải giải quyết các tranh chấp bằng các phương pháp hòa bình được quy định cụ thể trong Điều 33 Hiến chương của LHQ và đặc biệt là theo Công ước của LHQ về Luật Biển (UNCLOS 1982). Các nước trong khu vực cũng đã có những cuộc đàm phán song phương, đa phương nhằm giải quyết các tranh chấp về chủ quyền trên biển của các quốc gia. Việc đàm phán cũng góp phần “hạ nhiệt” các mâu thuẫn, xung đột giữa các quốc gia. Đồng thời một số cuộc đàm phán cũng đi đến những thống nhất nhất định bằng việc ký kết các hiệp định về khai thác chung, hiệp định phân định biển… Tuy nhiên, có một số tranh chấp do lập trường của các bên xung đột gay gắt với nhau nên việc đàm phán không đưa lại được kết quả tốt đẹp. Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế cũng là một trong các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế. Hiện nay, có
  • 9. 2 các cơ quan tài phán quốc tế giải quyết các tranh chấp trên biển được ghi nhận để trong Hiến chương LHQ và UNCLOS 1982 như sau: - Tòa án Công lý quốc tế; - Tòa án quốc tế về Luật Biển; - Tòa Trọng tài thường trực Lahaye; - Tòa Trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII UNCLOS 1982; - Tòa Trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lục VIII UNCLOS 1982. Các cơ quan tài phán quốc tế trên đều có vị trí, vai trò và thẩm quyền khác nhau. Trong đó có cơ quan Tòa án Quốc tế về Luật biển, Trọng tài và Trọng tài đặc biệt là cơ quan tài phán quốc tế được thành lập và hoạt động trên cơ sở của UNCLOS 1982 theo lần lượt các Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII. Với đội ngũ Thẩm phán, Trọng tài viên được lựa chọn từ các nhân vật uy tín nhất về công bằng, liêm khiết và có năng lực chuyên môn trong lĩnh vực luật biển từ đó tạo ra triển vọng các tranh chấp quốc tế được xét xử một cách công bằng và nghiêm minh. Kể từ khi tham gia UNCLOS 1982, Việt Nam chưa có tiền lệ nào về việc giải quyết tranh chấp liên quan đến biển đảo tại các cơ quan tài phán quốc tế trong khuôn khổ của UNCLOS 1982. Vì rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà chúng ta thường giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp thông qua đàm phán, thương lượng và hòa giải. Đến nay, tình hình chính trị, xã hội thế giới biến đổi phức tạp, có rất nhiều tranh chấp giữa Việt Nam và các nước hữu quan mà các biện pháp đàm phán, hòa giải đi vào bế tắc. Vì vậy việc áp dụng các biện pháp tài phán quốc tế để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là biện pháp cần được dự liệu và có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Trước yêu cầu trên, Luận văn nghiên cứu vấn đề về: “Vấn đề sử dụng cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI , Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982 trong việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông”.
  • 10. 3 2. Tình hình nghiên cứu Ở nước ngoài, trước tiên phải kể đến website chính thức của Tòa án quốc tế về luật biển là: http://www.itlos.org/ giới thiệu chi tiết về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục tố tụng cũng như thực tiễn xét xử của Tòa án. Hơn nữa, do thuận lợi về ngôn ngữ cũng như sự phát triển về pháp luật nên các học giả quốc tế cũng đã nghiên cứu khá chi tiết về các vấn đề cơ quan tài phán quốc tế và vận dụng vào giải quyết tranh chấp của quốc gia họ. Trong đó, có thể kể đến là các bài nghiên cứu sau: - Tác giả Rosenne Shabtai: “The law and practise of the International Court”; - Tác giả Rosenne Shabtai: “Eassays on the law of the sea and on the internatinal Tribunal for the law of the sea”; - Tác giả Oda Shigeru: “Dispute Settlment Prospects in the law of the sea”; - Tác giả Nguyen Quoc Dinh: “Droit International Public” ; - Tác giả Mom Ravin: “ITLOS and Dispute Settlement Mechanisms of the United Nations Convention on the Law of the Sea”; ... Ở Việt Nam hiện nay do chưa có tiền lệ nào giải quyết các tranh chấp về biển đảo cũng như các vấn đề liên quan tại các cơ quan tài phán quốc tế nên chưa được nghiên cứu nhiều. Ngoài các nội dung chung chung được đề cập trong giáo trình của các trường đại học, chỉ có một số các học giả quan tâm và nghiên cứu. Trong đó, đặc biệt phải kể đến đó là: “Tòa án Quốc tế về Luật biển” của PGS, TS Nguyễn Hồng Thao. Bài viết: “Khả năng sử dụng Tòa Trọng tài quốc tế về Luật Biển trong tranh chấp Biển Đông” của PGS, TS Nguyễn Hồng Thao.
  • 11. 4 Bài viết: “Sự phát triển luật biển quốc tế và một số giải pháp để giải quyết tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông” của Bùi Quang Sơn. Bài viết: “Suy nghĩ về giải pháp pháp lý cho Việt Nam trước vụ kiện Philipines” của Phạm Vũ Thắng đăng trên tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội. Bài viết: “Cơ chế về giải quyết tranh chấp về đánh cá trên biển” của Nguyễn Thị Hà. … Ngoài ra việc nghiên cứu về sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982 chỉ được nhắc đến thoáng qua thông qua các bài nghiên cứu, bài phân tích về bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng và Biển Đông nói chung. Vì vậy, các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của các cơ quan tài phán quyết quốc tế này chưa được nghiên cứu có quy mô và chuyên sâu để xứng tầm với vai trò giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện và áp dụng UNCLOS 1982. Với điều kiện nước ta là nước có đường bờ biển dài 3.260 km [37] không kể các đảo, đặc biệt trong tình hình Biển Đông đang có hàng loạt các tranh chấp chủ quyền đảo, chủ quyền quốc gia ... thì nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các cơ quan tài phán quốc tế theo UNCLOS 1982. Dựa trên các nghiên cứu đó để giúp Việt Nam sử dụng hiệu quả các cơ quan này trong giải quyết chủ quyền trên Biển Đông. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài - Trình bày, phân tích và đánh giá về vị trí chiến lược của Biển Đông đối với kinh tế, chính trị thế giới cũng như Việt Nam; các tranh chấp thực tế trên biển Đông hiện nay;
  • 12. 5 - Tìm hiểu về lịch sử hình thành, thành phần và cơ cấu tổ chức, thẩm quyền xét xử, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án của LHQ về Luật biển, Tòa Trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt theo quy định của UNCLOS 1982; - Từ đó, Luận văn rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất các phương án để Việt Nam có thể đưa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông ra các cơ quan tài phán quốc tế. 4. Tính mới và những đóng góp của Luận văn Làm rõ thêm về cơ quan Tòa án LHQ về Luật biển; nghiên cứu, phân tích về thẩm quyền, tổ chức và hoạt động của Tòa trọng tài quốc tế về luật biển và Tòa trọng tài đặc biệt. Đề xuất các giải pháp cho Việt Nam trong việc đưa tranh chấp về chủ quyền ra các cơ quan tài phán quốc tế. Khuyến cáo về việc cần phải chuẩn bị về nhân sự cũng như về các chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ được chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. 5. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển, đặc biệt là trong Phụ lục VI, Phụ lục VII, Phụ lục VIII của Công ước. Trong quá trình nghiên cứu có đề cập đến các quy định về biển của pháp luật Việt Nam. 6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm, lập trường chính thức của Nhà nước Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông. Dựa trên cơ sở lý luận, các căn cứ pháp lý về xác lập chủ quyền theo quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Để giải quyết đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp sử học;
  • 13. 6 - Phương pháp logic học; - Phương pháp so sánh, đánh giá, phân tích, tổng hợp và thống kê từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau; - Cùng với các phương pháp trên, luận văn luôn dựa theo quan điểm sử học Macxit và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để tìm hiểu nghiên cứu các vấn đề này. 7. Kết cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được cơ cấu thành 03 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan về Biển Đông và và các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, phụ lục VII và phụ lục VIII của Công ƣớc của Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982. Chƣơng 2: Cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục tố tụng và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tài phán quốc tế đƣợc quy định tại Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII theo Công ƣớc Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982. Chƣơng 3: Những khuyến nghị và giải pháp sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc LHQ về Luật biển 1982 để bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển Đông.
  • 14. 7 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ VÀ CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982 1.1. Vị trí chiến lƣợc của Biển Đông Biển Đông là một biển nửa kín, diện tích khoảng 3,5 triệu km2 , trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông. Đây là biển lớn ở Châu Á Thái Bình Dương, được bao bọc bởi mười quốc gia: Trung Quốc và Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapo, Indonexia, Brunei và Philipines. Biển Đông bao gồm 200 hòn đảo, trong đó có nhiều đảo chìm, đảo đá và các bãi đá ngầm. Đồng thời đó cũng là vùng biển có hệ sinh học đa dạng phong phú cũng các nguồn tài nguyên biển, bao gồm các nguồn năng lượng hydrocarbon, các ngư trường và 30% rặng đá san hô ngầm trên thế giới. Là tuyến đường ngắn nhất giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Biển Đông gần như một tuyến đường hàng hải cao tốc, đóng vai trò như một cầu nối tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa Trung Quốc với Ấn Độ, giữa Đông Á và Đông Nam Á với Trung Đông. Đồng thời, Biển Đông cũng bao quanh một trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới và là khu vực có những quốc gia hàng hải hàng đầu đang chiếm giữ tỷ trọng lớn trên thế giới về năng lực chuyên chở hàng hóa và số lượng hàng hóa lưu thông trên các cảng. 1.1.1. Biển Đông - Tuyến đƣờng giao thông quan trọng Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển,
  • 15. 8 trong đó có hai cảng thuộc loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và cảng Hồng Kông. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng phát triển ở khu vực [35]. Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào các con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới [36]. Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại qua lại ở Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 3.000 tấn trở lên. Tàu đi qua eo biển Malacca hàng năm lên đến 18.000 chiếc, chuyên chở 25% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung và 50% khối lượng dầu mỏ, 66% khối lượng khí đốt thiên nhiên của cả thế giới. Năm 2010, tổng lượng nhập khẩu dầu của Trung Quốc là 150 triệu tấn. Nhật Bản coi đường vận tải qua eo biển Malacca là “con đường sinh mệnh” với 90% khối lượng dầu thô và một lượng lớn nguyên vật liệu khác nhập khẩu từ Châu Phi và Trung Đông. Hàn Quốc có 79% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông đi qua khu vực này. Quan hệ hàng hóa và thị trường giữa Mỹ và Trung Quốc, các nước Đông Nam Á tăng đáng kể với hơn một triệu tấn hàng hóa trao đổi qua Biển Đông [35].
  • 16. 9 Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của châu Á có hai điểm trọng yếu: Điểm thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia và Malaysia). Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hóa của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. (Ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do nào đó. Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hóa giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn). Điểm trọng yếu thứ hai là vùng biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hóa của nhiều nước châu Á. Xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 26%, Australia 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la) [35]. Nếu khủng hoảng bùng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua Nam Australia thì cước phí vận tải thậm chí sẽ tăng gấp năm lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. 1.1.2. Biển Đông - Khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và nhiên liệu 1.1.2.1. Tài nguyên thiên nhiên Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và nguồn gen. Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam như sự thay đổi nhiệt độ theo vĩ tuyến, mức độ trao đổi môi trường với các vùng xung quanh, hình thái thềm lục địa… đã tạo nên những nét đặc trưng của các hệ sinh thái giữa các vùng biển ở Biển Đông. Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Trong đó có khoảng
  • 17. 10 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển [35]. Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đã mang đến những ưu thế cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh. Trữ lượng hải sản đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn [35], cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao có thể khai thác được hàng năm. Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines. 1.1.2.2. Tài nguyên nhiên liệu Biển Đông được coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ m3 (theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu được kiểm chứng ở biển Đông là 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày). Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam. Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi
  • 18. 11 là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo. 1.1.3. Biển Đông – Khu vực quan trọng về chính trị và an ninh quốc gia Phía Tây nam Biển Đông giao lưu với Ấn Độ Dương qua eo biển Karimata và eo biển Malaca. Phía bắc và phía đông của Biển Đông giao lưu với Thái Bình Dương và qua các eo biển sâu rộng như eo biển Đài Loan rộng 100 hải lý, sâu 70 và eo biển Bashi sâu hơn 1.800 m. Chính khả năng trao đổi với các vùng biển lân cận qua các eo biển này mà Biển Đông đã tạo nên vị trí chiến lược quan trọng trong an ninh quốc phòng khu vực. Cụ thể Biển Đông với 4 eo biển: Malacca, Lombok, Sunda và Ombai trong 16 eo biển có mực nước sâu tự nhiên trên thế giới. Đây là những căn cứ có thể triển khai các loại tầu ngầm hạt nhân chiến lược. Vùng biển sâu xung quanh quần đảo Trường Sa có thể xây dựng thành các căn cứ cho tầu ngầm hạt nhân cỡ lớn với bán kính kiểm soát lên tới 4.000 km [5]. Các đảo và quần đảo trong Biển Đông cũng có ý nghĩa phòng thủ quan trọng với nhiều quốc gia. Trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí rất quan trọng có thể kiểm soát các tuyến đường hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm rađa, trạm thông tin, trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè. Việt Nam có đặc điểm địa hình dài và hẹp trải dọc theo Biển Đông, vì thế Biển Đông trở thành "lá chắn sườn phía Đông" hết sức quan trọng trong phòng thủ đất nước. Lịch sử chống ngoại xâm thời cận và hiện đại của dân tộc Việt Nam đã cho thấy Biển Đông là hướng hiểm yếu mà ngoại bang luôn lợi dụng tấn công xâm lược. Vì vậy, yêu cầu đảm bảo chủ quyền trên Biển Đông là điều kiện tiên quyết đặc biệt quan trọng nhưng cũng hết sức phức tạp.
  • 19. 12 1.2. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông Tranh chấp Biển Đông là dạng tranh chấp quốc tế rất phức tạp do có nhiều đối tượng tranh chấp, với sự tham gia của nhiều bên trong một khu vực còn rất nhiều các vấn đề. Với vị trí chiến lược, Biển Đông trở thành khu vực rất nhạy cảm do các quốc gia ven biển đang muốn tiến hành đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế nhằm khai thác tiềm năng của Biển Đông. Đặc biệt có quốc gia trong khu vực còn muốn biến Biển Đông thành “ao nhà” của nước họ. Vì vậy tình hình tranh chấp trong khu vực ngày càng phức tạp hơn. Các tranh chấp trong khu vực Biển Đông có thể tạm chia thành bốn loại như sau: 1.2.1. Tranh chấp phát sinh trong quá trình phân định ranh giới biển UNCLOS 1982 ra đời đóng vai trò như một bộ luật điều chỉnh vấn đề liên quan đến biển của tất cả các quốc gia. Với các quy định rất cụ thể về vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, mỗi quốc gia đã có thể tự xác định được các vùng biển của quốc gia mình. Tuy nhiên, với các quốc gia liền kề hay đối diện nhau lại có những tranh chấp đối với các vùng chồng lấn. Vì vậy, giữa các quốc gia tranh chấp phải đàm phán để đi đến giải quyết tranh chấp. Trong khuôn khổ luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về các tranh chấp giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. 1.2.1.1. Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia liền kề nhau và có Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa hai nước. Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ vào ngày 25/12/2000. Thời gian tới, hai nước đang tiến hành đàm phán để phân định vùng ngoài cửa vịnh. Cuộc đàm phán phân định vùng trong cửa Vịnh của hai nước diễn ra trong rất nhiều năm. Do áp dụng theo quy định của UNCLOS 1982, các quốc gia
  • 20. 13 đều có vùng đặc quyền kinh tế là 200 hải lý, nhưng do khoảng cách giữa hai bờ chưa đến 200 hải lý nên hình thành nên vùng chống lấn gây khó khăn cho việc quản lý, khai thác và bảo vệ. Hai bên đã áp dụng nguyên tắc áp công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh. Cuối cùng hai bên đã thống nhất vạch đường biên giới nối 21 điểm, trong đó điểm từ 01 đến 9 là biên giới lãnh hải, còn từ điểm 9 đến 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo đường hoạch định, Việt Nam hưởng 53,23% diện tích Vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh [24]. Còn đối với vùng chồng lấn khoảng 1080 km2 [6] tại khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, hiện nay qua các vòng đàm phán, các bên thu hẹp được phạm vi phân định là khu vực biển nằm giữa bờ biển đảo của Việt Nam và bờ đảo Hải Nam của Trung Quốc đối diện nhau. Theo quy định của UNCLOS 1982, do bờ biển của hai nước trong khu vực phân định nhỏ hơn 400 hải lý nên hai nước sẽ tồn tại khu vực chồng lấn đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hiện nay, hai nước vẫn tiếp tục đàm phán để đi đến kết quả cuối cùng cho việc phân định vùng biển ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ. 1.2.1.2. Tranh chấp giữa Việt Nam và Campuchia Yêu sách chồng lấn trên Vịnh Thái Lan giữa Campuchia và Việt Nam vẫn chưa được giải quyết. Trước đây, toàn bộ các đảo giữa Việt Nam và Campuchia đều do Việt Nam quản lý. Chỉ đến năm 1939, Campuchia mới chính thức quản lý về mặt hành chính và cảnh sát đối với các đảo ở phía Bắc đường Brévié – đường được vạch ra theo bức thư của Toàn quyền Đông Dương gửi cho Thống đốc Nam kỳ và khâm sứ Pháp ở Campuchia. Đó là đường kinh tuyến bắc ở góc 14 độ G, vòng qua phía Bắc của đảo Phú Quốc cách điểm nhô ra nhất của bờ phía Bắc đảo Phú Quốc 3 km. Năm 1982, Việt Nam và Campuchia đã ký Hiệp định về Vùng nước lịch sử giữa
  • 21. 14 hai bên trong đó thỏa thuận: “Hai bên vẫn lấy đường gọi là đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này” [24]. Hiện nay, giữa hai bên còn tồn tại vấn đề vạch đường phân định biên giới biển trong vùng nước lịch sử, lãnh hải và ranh giới biển chung trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hai bên đã thống nhất giải quyết các vấn đề trên theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích quan hệ hợp tác hữu nghị, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế. 1.2.1.3. Tranh chấp giữa Việt Nam và Malaysia Trong khu vực Vịnh Thái Lan, Việt Nam và Malaysia có khu vực chồng lấn khoảng 2800km2 [6]. Năm 1940, hai nước đã phát hiện ra có ba mỏ dầu khí có thể khai thác thương mại. Sau đó, cả hai bên đều nhận thấy việc phân định ranh giới biển giữa hai nước cần nhiều thời gian và không thể khai thác được các mỏ khí phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Năm 1992, hai bên nhất trí ký kết thỏa thuận về “hợp tác khai thác chung” vùng chồng lấn trên cơ sở bình đẳng về mọi mặt: vốn, lợi nhuận… Đây là thỏa thuận hợp tác chung khai thác dầu khí đầu tiên của nước ta với các nước láng giềng. 1.2.1.4. Tranh chấp giữa Việt Nam và Indonexia Inđônexia là quốc gia có quy chế quốc gia quần đảo nằm khá xa Việt Nam. Giữa hai nước tồn tại vấn đề về vạch đường ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hai bên đã tiến hành đàm phán từ năm 1978 trên cơ sở pháp luật quốc tế và thực tiễn điều kiện tự nhiên của vùng chống lấn. Quá trình đàm phán kéo dài 26 năm, ngày 26/6/2003, hai nước đã ký kết hiệp định về phân định thềm lục địa. Hiệp định được ký kết giúp gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định và phù hợp với luật biển quốc tế trên Biển Đông tạo cơ hội cho các bên tìm kiếm, thăm dò, khai thác trên thềm lục địa của hai nước. Trong thời gian tới, hai nước sẽ tiến hành tiếp tục đàm phán về việc phân định vùng đặc quyền kinh tế.
  • 22. 15 1.2.1.5. Tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan Việt Nam và Thái Lan đã quy định phạm vi thềm lục địa của mình và hình thành nên vùng chồng lấn khoảng 6.000 km2 [24] giữa hai nước. Vùng biển chồng lấn là vùng có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Sau nhiều năm đàm phán, thương lượng, tháng 8/1997, hai nước đã ký hiệp định vạch đường biên giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai bên theo một đường dài 137 km. Đây là hiệp định vạch đường biên giới biển đầu tiên Việt Nam ký với các nước láng giềng. Sau khi ký kết hiệp định, hai bên tiến hành công tác tuần tra chung, mở rộng các lĩnh vực hợp tác trong phòng chống tội phạm trên biển như đánh bắt trái phép, cướp có vũ trang… góp phần ổn định tình hình trên biển, tăng cường sự hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lan. 1.2.2. Tranh chấp đối với Hoàng Sa và Trƣờng Sa 1.2.2.1. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa Đây là tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam. Việt Nam đã có lịch sử thực hiện chủ quyền của mình tại Hoàng Sa từ những năm đầu thế kỷ XX (1909). Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Giơneve và chính quyền Nam Việt Nam chưa tiếp quản Hoàng Sa, Trung Quốc đưa quân chiếm nhóm phía Đông của Hoàng Sa. Đến năm 1974, lợi dụng tình hình quân đội của Chính quyền Sài Gòn đang trên đà suy sụp, quân viễn chinh của Mỹ buộc rút khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc đã đưa quân ra chiếm nhóm Tây Hoàng Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ. Mọi hành động nói trên của phía Trung Quốc đều bị Việt Nam chống trả và chính thức lên tiếng phản đối với tư cách là nhà nước có chủ quyền đối với Hoàng Sa. 1.2.2.2. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với quần đảo Trƣờng Sa Đây là tranh chấp giữa năm nước, sáu bên giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philipines, Malaysia và Bruney. Cụ thể, yêu sách của từng nước đối với quần đảo Trường Sa như sau [15]:
  • 23. 16 Quan điểm của Trung Quốc Những năm 30 của thế kỷ XX, Công sứ của Trung Quốc ở Paris đã gửi công hàm cho Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp năm 1932 khẳng định: “Các đảo Nam Sa là bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc, xa nhất là phía Nam”. Năm 1956, Đài Loan đưa quân chiếm đảo Ba Bình. Năm 1988, Trung Quốc đưa quân chiếm 6 vị trí là những bãi cạn phía Tây Trường Sa, ra sức củng cố các địa điểm này thành nơi đóng quân. Sau đó chiếm thêm đá Vành Khăn (phía Đông Trường Sơn), Trung Quốc đã chiếm 7 vị trí trên quần đảo Trường Sa. Trước đây, Trung Quốc cũng không đưa ra được lập luận nào xác đáng cho hành động chiếm đóng Trường Sa của mình. Hiện nay, Trung Quốc đưa ra lập lập đường lưỡi bò để khẳng định cho chủ quyền của mình tại Trường Sa dựa trên căn cứ về vùng nước lịch sử. Quan điểm của Đài Loan: Ngày 21/5/1992, Đài Loan thông qua một đạo luật tuyên bố chủ quyền và lãnh hải, theo đạo luật này toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Đài Loan. Hiện nay, Đài Loan đang chiếm đóng trên đảo Ba Bình, là đảo có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Tháng 8/2003, Đài Loan đã cho cắm cờ trên bãi Bàn Than (bãi đá san hô nửa nổi nửa chìm, rộng khoảng 400m, dài khoảng 200m thuộc quần đảo Trường Sa, nằm cách đảo Ba Bình khoảng 4 km về phía Đông và cách đảo Sơn Ca khoảng 6,5 km về phía Tây) và mới đây, ngày 23/3/2004, phía Đài Loan đã xây dựng một nhà cao chân trên bãi này. Như vậy, đến nay Đài Loan đang chiếm giữ một đảo và một bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa [1]. Quan điểm của Việt Nam Việt Nam khẳng định mình có chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa dựa sự chiếm hữu thực tế và thực hiện chủ quyền của mình một cách thực sự, liên tục và hòa bình. Việt Nam đã viện dẫn rất nhiều sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam ghi
  • 24. 17 rõ về Đại Trường Sa hay Vạn lý Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ của Việt Nam. Năm 1884, Pháp ký Hiệp ước với nhà Nguyễn làm đại diện quyền lợi cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại cũng như bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Pháp đã tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cả chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lẫn chính quyền Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng luôn thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Sau này là Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam nhiều lần khẳng định chủ quyền với Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa trong các Công hàm gửi các bên liên quan, trong các Tuyên bố ngoại giao hay trong các Hội nghị quốc tế… Hiện nay, Việt Nam chiếm đóng 21 điểm trên quần đảo Trường Sa. Quan điểm của Philipines Năm 1951, Tổng thống Philippines tuyên bố rằng theo luật quốc tế các đảo Trường Sa phải thuộc về quốc gia gần nhất là Philippines. Từ năm 1971 đến năm 1973, Philippines đã chiếm đóng 5 đảo; năm 1977 đến 1978, Philippines đã chiếm thêm hai đảo. Năm 1979, Philippines công bố sắc lệnh của Tổng thống ký ngày 11/6/1979 coi toàn bộ Trường Sa là lãnh thổ của Philippines và đặt tên là Kalayaan. Năm 1980, Philippines mở rộng chiếm đóng thêm một đảo nữa ở phía Nam là đảo Công Đo. Lập luận của Philippines đưa ra để bảo vệ cho quan điểm của mình là: - Sự kế cận của quốc gia này đối với quần đảo Trường Sa; - Khu vực này tạo thành phần rìa lục địa cho quần đảo Philipines; - Do sự cần thiết chiếm đóng và kiểm soát thực sự của người Philippines phù hợp với luật quốc tế khi vùng này chưa thuộc về một nước hai một dân tộc nào một cách hợp pháp; - Do việc các yêu sách của các nước khác không thể vượt trội hơn yêu
  • 25. 18 sách của Philippines được xây dựng trên cơ sở pháp lý, lịch sử và công bằng. Các tuyên bố trên của Philippines bị các nước hữu quan như Trung Quốc, Việt Nam phản đối. Quan điểm của Malaysia Ngày 27/10/1969, Hiệp định ký kết giữa Malaysia với Indonesia về việc xác định ba đoạn biên giới khác nhau đã đưa các yêu sách của Malaysia ở quần đảo Trường Sa thành tiêu điểm chú ý. Những đoạn này có khả năng đem lại cho Malaysia các quyền đối với một khu vực quan trọng ở Biển Đông, chỉ trừ khi Malaysia hoặc kiểm soát được một cách chắc chắn các đảo nằm kế cận trong quần đảo Trường Sa hoặc các đảo này không được để ý đến khi vạch các đường biên giới này. Tháng 12/1979, Chính phủ Malaysia cho xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Malaysia một khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm cả An Bang, Thuyền Chài – nơi quân đội Việt Nam đang đóng giữ. Năm 1983 – 1984, Malaysia cho quân đóng giữ ba bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kỳ Vân, Kiệu Ngựa. Năm 1988, họ đóng thêm hai bãi ngầm là Én đất và Thám Hiểm. Như vậy, Malaysia đã chiếm đóng 5 điểm trên quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, Malaysia không đưa ra được luận thuyết nào minh chứng cho hành động của họ là dựa vào gần kề địa lý hay danh nghĩa lịch sử. Quan điểm của Brunei Brunei là quốc gia độc lập từ năm 1984 nên họ có quyền yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS 1982. Họ không yêu sách chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa mà chỉ có tranh chấp với Malaysia trên đảo Lucia. Nhưng việc mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán của Brunei cũng sẽ gây ra tranh chấp với các nước khác về đường biên giới trên biển trong khu vực biển Đông.
  • 26. 19 1.2.3. Tranh chấp liên quan quyền khai thác và sử dụng biển Các tranh chấp liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia ven biển mà điển hình là các tranh chấp liên quan đến việc đánh bắt hải sản trong khu vực chồng lấn hoặc đánh bắt hải sản trong khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia, tranh chấp trong việc tiến hành khoa học biển, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm… ở vùng biển, thềm lục địa của quốc gia ven biển… Trong đó đặc biệt phải kể đến hai loại tranh chấp như sau: 1.2.3.1. Các tranh chấp về khai thác dầu khí và năng lƣợng Từ các tranh chấp về lãnh thổ, chủ quyền và quyền tài phán dẫn đến các tranh chấp về việc sử dụng biển. Biển Đông vốn là một vùng biển giàu năng lượng mà đặc biệt là dầu khí nên tình trạng tranh chấp ngày càng gay gắt. Nhu cầu đối với năng lượng của thế giới ngày càng tăng và với quốc gia tiêu thụ lớn như Trung Quốc thì đang cần phải tìm kiếm các nguồn cung mới để thỏa mãn nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của mình. Lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc lên tới 54% lượng tiêu thụ năm 2010. Trung Quốc luôn nỗ lực trong việc đa dạng các nguồn cung cấp để không hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Đông. Vì vậy, Trung Quốc đang tìm mọi cách để khai thác tài nguyên trong khu vực. Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dầu khí lớn trong khu vực với công ty Petro Vietnam sản xuất được 24,4 triệu tấn trong năm 2010. Việt Nam cũng đã ký hợp đồng với nhiều công ty nước ngoài nhằm khai thác các mỏ mới. Việc này đã dẫn đến các vụ đụng độ với Trung Quốc do nước này luôn phản đối các nỗ lực của Việt Nam trong việc ký hợp đồng khai thác với các công ty nước ngoài trong việc khai thác. Trung Quốc đã phản đối các hoạt động khai thác của một loạt các công ty khai thác của nước ngoài như Petro Vietnam, Petronas Carigali của Malaysia, Petroleum của Singapor và CTCP American
  • 27. 20 Technology khi phát hiện ra một mỏ xa bờ nằm ở phía Tây đảo Hải Nam vào 10/2004 [42]. Trung Quốc cảnh cáo các công ty dầu khí nước ngoài tránh xa khu vực mà họ gọi là “các vùng nước của Trung Quốc”. Ngày 26/5/ 2011, hai con tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam khi con tàu này đang kéo một sợi cáp dài 7 km dưới mặt nước để tìm kiếm trữ lượng dầu khí. Sự kiện này diễn ra cách Nha Trang 120 km và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Philippines cũng đang nỗ lực trong việc tự cung cấp trong sản xuất dầu chiếm khoảng 60% cho năm 2011. Nước này đã ký 15 hợp đồng khai thác cho việc thăm dò xa bờ ở khu vực Palawan – nơi mà Trung Quốc đã yêu sách. Các nỗ lực khai thác của Philippines ở gần bãi Cỏ rong đã khiêu khích sự phản đối của Trung Quốc. Năm 2011, Philippines đã thông báo 7 vụ có liên quan đến sự quẫy nhiễu của tàu Trung Quốc. Philippines đã có thư phản đối chính thức lên LHQ và tìm kiếm sự ủng hộ của các nước ASEAN nhằm hình thành một lập trường chung. Nhưng cũng gần như ngay lập tức Trung Quốc đã cáo buộc Philippines có hành động “xâm lấn” vào vùng biển của họ. 1.2.3.2. Các tranh chấp về nghề cá Việc tranh giành các tài nguyên đánh cá và tài nguyên đại dương của Biển Đông là một yếu tố nữa làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông. Nay tình hình trở nên căng thẳng do Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá thường niên ở Biển Đông mà Trung Quốc coi là khu vực đánh bắt riêng của ngư dân nước mình và ngăn cấm các nước khác. Phạm vi của lệnh cấm khá mập mờ, nó bao trùm một khu vực quanh quần đảo Hoàng Sa không kéo dài về phía Nam của Trường Sa. Lệnh cấm này rất vô lý vì phạm vi mà lệnh cấm đưa ra thuộc vào khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam và một số nước trong khu vực. Vì vậy mà các nước này đã phản đối lệnh cấm này một cách gay gắt do nó tác động tiêu cực đến an sinh của ngư dân của quốc gia họ. Để thực hiện lệnh
  • 28. 21 cấm này, Trung Quốc đã cử “tàu tuần tra đánh cá” – tàu hải quân cải tiến. Trong khoảng từ năm 2008 – 2009, Trung Quốc đã bắt giữ 135 và trục xuất 147 tàu thuyền nước ngoài. Trong đó, Việt Nam có tới 63 tàu đánh cá và 725 ngư dân của họ đã bị giam giữ bởi Trung Quốc từ năm 2005 đến tháng 10/2010. Ngư dân Philippines từ Tây Bắc đảo Luzon cũng phàn nàn rằng họ không còn có thể đánh bắt ở bãi cạn Scarborough, ngư trường truyền thống chỉ nằm cách đất liền Philippines 124 hải lý [2]. Ngoài ra, Indonexia cũng tuyên bố rằng, trong năm 2009 có khoảng 180 tàu thuyền bị bắt do đánh bắt bất hợp pháp ở vùng biển của mình, một vài trong số đó đến từ Malaysia. Ngoài ra còn có các tranh chấp khác từ việc thực hiện các quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm, bảo vệ môi trường biển… 1.2.4. Tranh chấp phát sinh từ yêu sách phi lý, vô căn cứ đƣờng lƣỡi bò của Trung Quốc Tháng 01/1948, Bộ Nội Vụ Đài Loan công bố một bản đồ có tên Nanhai zhudao weizhi tu (Bản đồ các đảo trên Nam Hải). Đến tháng 02/1948 bản đồ này được xuất bản chính thức. Và trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà nhiều học giả Trung Quốc gọi là “đường hình chữ U” hay “đường chín đoạn”, hay “đường lưỡi bò”. Bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống Biển Đông. Đường này được thể hiện trên bản đồ lúc đó là một đường đứt khúc bao gồm 11 đoạn [28]. Một số học giả Trung Quốc còn muốn đẩy xa hơn thời điểm xuất hiện đầu tiên của “đường lưỡi bò”. Họ cho rằng bản đồ có thể hiện “đường lưỡi bò” đầu tiên đã từng xuất hiện trong một bản đồ của một cá nhân có tên là Hu JinJi (Hồ Tấn Tiếp) vào năm 1914. Và sau đó bản đồ này lại xuất hiện trong một bản đồ cũng của một cá nhân khác là Bai Meichu (Bạch Mi Sơ) vào năm 1936. Tuy nhiên các sử liệu về đường lưỡi bò này còn nhiều điều không rõ
  • 29. 22 ràng, và các học giả này cũng thừa nhận “không biết là liệu Bạch có đủ kiến thức về luật hàng hải quốc tế trong thời điểm ông ta vẽ (bản đồ này) hay không?”. Năm 1949, chính quyền Tưởng Giới Thạch thất bại phải chạy ra đảo Đài Loan, và cũng từ đó, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời (sau đây gọi tắt là Trung Quốc) trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng cho ấn hành một bản đồ, trong đó “đường lưỡi bò” được thể hiện giống như bản đồ trước đó gồm 11 đoạn. Trong bản đồ đó đường chữ “U” hay “đường lưỡi bò” này được thể hiện bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung Quốc gọi là Trung Sa). Hình 1.1 Yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc (Nguồn http://www.tinmoitruong.vn)
  • 30. 23 “Đường lưỡi bò” này xuất phát từ biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ (hai đoạn đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ), rồi chạy xuống phía nam tương tự như hình dáng của bờ biển Đông và Đông Nam Việt Nam tới cực Nam của bãi đá san hô Scaborough Shoal (Tăng Mẫu) tại vĩ tuyến 40 Bắc và sau đó quay ngược lên phía Bắc theo hướng đi song song với đường bờ biển phía Tây Sabah của Malaysia và Palawan của Philippines và quần đảo Luzon, kết thúc tại khoảng giữa eo Bashi nằm giữa Đài Loan và Philipines. Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính xác. Tuy nhiên, sau đó một thời gian, bản đồ vẽ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Chính phủ Trung Quốc không đưa ra giải thích vì sao lại bỏ đi hai đoạn đó, thời điểm bỏ đi hai đoạn này cũng không nhất quán trong các tài liệu của các học giả Trung Quốc. Điều đặc biệt là trong suốt một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện “đường lưỡi bò” như trên, nhưng cả chính quyền Đài Loan lẫn Chính phủ Trung Quốc đều chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về “đường lưỡi bò”. Trong các Tuyên bố và các văn bản luật quan trọng của Chính phủ Trung Quốc như Tuyên bố về lãnh hải tháng 8/1958, Tuyên bố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1992, Tuyên bố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải năm 1996, Luật của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1998 đều không thấy nhắc tới yêu sách “đường lưỡi bò” này cũng như không có bản đồ nào có hình “đường lưỡi bò” được đính kèm. Năm 2009 là năm mà theo quy định của UNCLOS 1982, các quốc gia ven biển phải đệ trình các báo cáo về thềm lục địa mở rộng của mình lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa của LHQ (viết tắt là CLCS). Ngày 06/05/2009, Việt Nam
  • 31. 24 và Malaysia có trình lên CLCS một Báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng của hai nước, cùng khi đó, Việt Nam cũng gửi một Báo cáo riêng của mình lên CLCS. Ngày 07/05/2009, Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gửi Công hàm phản đối đối với Báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam và Malaysia cũng như Báo cáo về thềm lục địa mở rộng của riêng Việt Nam, trong Công hàm phản đối này có kèm theo một bản đồ có hình “đường lưỡi bò”. Tuy nhiên, cũng như trước đó, Chính phủ Trung Quốc vẫn từ chối giải thích chính thức về tính chất pháp lý đối với yêu sách biển được thể hiện trong bản đồ có “đường lưỡi bò” kèm theo Công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 này. Cho đến nay, vẫn không rõ quan điểm chính thức của Trung Quốc về tính chất pháp lý của“đường lưỡi bò” này. Mặc dù, trong Công hàm CML/17/2009 và CML/18/2009 này, Trung Quốc cho rằng: “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có chủ quyền không thể tranh cãi với các đảo ở Biển Nam Trung Hoa và các vùng biển kế cận, và được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của vùng biển đó. Lập trường trên đây đã được Chính phủ Trung Quốc đưa ra một cách nhất quán và được cộng đồng quốc tế biết đến rộng rãi”. Với công hàm ngày 7/5/2009 có kèm bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò”, dường như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất lịch sử của đường lưỡi bò, coi Biển Đông như một vịnh lịch sử”. Đường này các học giả Trung Quốc coi là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc. Họ cũng tìm cách kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Trường Sa”.
  • 32. 25 Bản đồ hình lưỡi bò được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính xác. Sau cuộc đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam, nhóm học giả Đài Loan đã tập trung lại để nghiên cứu vấn đề “vùng nước lịch sử” và bản chấp pháp lý của đường lưỡi bò. Và cuối cùng Trung Quốc cho rằng vùng nước bao quanh đường lưỡi bò được coi như vùng nước lịch sử của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bởi vì: - Thứ nhất là khi bản đồ được xuất bản 1948, không có sự phản đối cũng như không có sự phản ứng nào được đưa ra; - Thứ hai là việc yêu sách của các vùng nước bị bao bọc như là vùng nước lịch sử đã không vi phạm Điều 4 của UNCLOS 1982. Tuyên bố đường lưỡi bò ở Biển Đông của Trung Quốc và Đài Loan xâm phạm tới vùng biển thuộc chủ quyền hoặc quyền chủ quyền của các quốc gia khác được quy định trong UNCLOS 1982. Đó là tranh chấp với Việt Nam, Malaisia, Brunei và Philipines. 1.3. Khái quát về các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 Các tranh chấp quốc tế được giải quyết bằng nhiều biện pháp hòa bình khác nhau như đàm phán, trung gian, hòa giải… và một trong các biện pháp đó là việc sử dụng hình thức tài phán quốc tế. Vậy tài phán quốc tế là gì và có những cơ quan tài phán quốc tế nào theo quy định của UNCLOS 1982? Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì tài phán được hiểu là toàn bộ các hoạt động, hành vi của tổ chức, cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền theo luật định trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp pháp lý. Quyền tài phán là quyền năng theo pháp luật, phù hợp với pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Về bản chất, tài phán quốc tế là cách thức giải quyết hòa bình để giải
  • 33. 26 quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp, thủ tục tư pháp, do các quốc gia tự lựa chọn. Như vậy, trong quan hệ quốc tế, thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế thường phụ thuộc bởi ý chí của các bên tranh chấp nhận trao cho những cơ quan đó quyền giải quyết. Các cơ quan tài phán quốc tế là những cơ quan hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự thủ tục tư pháp các tranh chấp nảy sinh trong quá trình các chủ thể của luật quốc tế thực thi, tuân thủ luật quốc tế. Trên thế giới có rất nhiều cơ quan tài phán quốc tế, tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 Điều 287 UNCLOS 1982 có bốn cơ quan tài phán mà các chủ thể có thể sử dụng để giải quyết các tranh chấp của mình. Đó là: - Tòa án Công lý quốc tế; - Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS); - Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982; - Tòa Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII UNCLOS 1982. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các cơ quan tài phán theo Phụ lục VI, Phụ lục VII, Phụ lục VIII của UNCLOS 1982, đó chính là ITLOS, Tòa Trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt. 1.3.1. Tòa án quốc tế về Luật Biển Ngày 16/11/1994, UNCLOS 1982 đã có hiệu lực. Với 320 điều khoản, 17 phần và 9 Phụ lục, UNCLOS thực sự là một bộ luật đồ sộ điều điều chỉnh hành động của các quốc gia trên thế giới đối với 70% bề mặt của trái đất bị bao phủ bởi các biển và đại dương. Đây là sự kiện vĩ đại đánh dấu tầm quan trọng của luật pháp quốc tế đối với cách hành xử đối với các quốc gia có biển hay không có biển. Vấn đề về việc thành lập ITLOS đã được nhắc đến trong chương trình nghị sự của cơ quan quốc tế liên quan đến luật biển từ năm 1969. Trong Hội
  • 34. 27 nghị lần ba của LHQ về luật biển đã xuất hiện ý tưởng về thành lập một Tòa trọng tài nằm trong cơ cấu của cơ quan quyền lực đáy đại dương để giải quyết các tranh chấp liên quan đến Vùng đáy biển – di sản chung của loài người. Các tranh chấp này nảy sinh giữa các quốc gia, thể nhân và pháp nhân trong khi Tòa án Công lý quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia. Nhưng đến năm 1977, ý tưởng này được thay thế bằng đề nghị hình thành một hệ thống xét xử độc lập và song song với Tòa án Công lý quốc tế trong lĩnh vực Luật biển. Bởi rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác, tại Hội nghị lần ba của LHQ về luật biển đã quyết định thành lập ITLOS. Quy chế Tòa án là Phụ lục của UNCLOS 1982 nhưng Tòa án là cơ quan độc lập với các cơ quan khác do UNCLOS 1982 lập ra như Cơ quan quyền lực đáy đại dương, Ủy ban ranh giới thềm lục địa. Tòa án có ngân sách và Thư ký riêng. Tòa án được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ cần thiết để thực hiện các chức năng của mình. Cuộc bầu cử đầu tiên để thành lập ITLOS phải được diễn ra chậm nhất là 6 tháng sau ngày UNCLOS 1982 có hiệu lực, tức là trước ngày 16/5/1995. Tuy nhiên, phải tới ngày 1/8/1996, cuộc bầu cử các Thẩm phán của ITLOS mới được tổ chức. Tại Hội nghị lần thứ ba của LHQ về Luật biển (1973- 1982), trước việc các quốc gia đang phát triển đòi hỏi phải xây dựng lại một trật tự pháp lý trên biển mới công bằng, Mỹ và một số nước tư bản phát triển chống đối, đòi xét lại Phần XI của dự thảo UNCLOS 1982 về chế độ pháp lý của Vùng - di sản chung của loài người (Vùng là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của biển cả nằm ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia) và thể thức điều hành của Cơ quan quyền lực Vùng. Thái độ này của Mỹ đã cản trở việc đầu tư kỹ thuật cao vào khai thác Vùng. Để UNCLOS 1982 thực sự có tính phổ thông, tạo điều kiện cho các cường quốc tham gia, phát huy được sức mạnh của các khu vực và các hệ thống pháp lý khác nhau trên thế
  • 35. 28 giới, trên cơ sở có sự nhân nhượng của các nước đang phát triển, theo sáng kiến của Tổng thư ký LHQ, một Thoả thuận mới đã được ký kết vào ngày 29/7/1994 cho phép thay đổi nội dung Phần XI của UNCLOS 1982, đồng thời kéo dài thời gian chuẩn bị thành lập các cơ quan quốc tế do UNCLOS 1982 quy định như ITLOS, Cơ quan quyền lực Vùng. Tới nay, các cường quốc lớn như Đức, Úc, Nhật, Anh, Trung Quốc đều đã phê chuẩn UNCLOS 1982. Toà án quốc tế về Luật biển đặt trụ sở chính thức tại HamBurg, Cộng hoà Liên bang Đức. Với sự ra đời của ITLOS thể hiện sự chuyên môn hóa trong công tác tài phán quốc tế. ITLOS tồn tại song song và độc lập với Tòa án công lý quốc tế. Mặc dù Tòa án Công lý quốc tế có đóng mang tính nền tảng cho luật biển quốc tế nhưng ITLOS với thẩm quyền và cơ chế linh hoạt là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tài phán quốc tế và là cơ quan tài phán chính trong giải thích và áp dụng UNCLOS. 1.3.2. Tòa trọng tài và Tòa trọng tài đặc biệt  Khái quát về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Tòa trọng tài là cơ quan tài phán lâu đời và cổ xưa nhất với tính chất là phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các bên tranh chấp thỏa thuận trao cho một hoặc một số cá nhân thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau. Tòa trọng tài quốc tế là cơ quan tài phán quốc tế được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận thành lập, trên cơ sở điều ước quốc tế (hoặc điều khoản quốc tế) về trọng tài nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên. Như vậy, tòa trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên. Cơ sở xác định thẩm quyền của Tòa trọng tài là sự nhất trí của các bên tranh chấp về việc đưa vụ việc tranh chấp ra giải quyết tại tòa trọng tài. Sự nhất trí này phải được thể hiện một cách rõ ràng, minh bạch trong một điều ước quốc tế. Ngoài việc thể
  • 36. 29 hiện rõ ràng sự nhất trí của các bên về việc giải quyết tranh chấp thông qua tòa trọng tài, nội dung của Điều ước quốc tế này đồng thời xác định thẩm quyền, trình tự thành lập Tòa trọng tài, đối tượng tranh chấp, thủ tục xét xử, nguồn luật được tòa trọng tài áp dụng, thủ tục xét xử, và nghĩa vụ của các bên phải tuân thủ phán quyết trọng tài. Thủ tục tố tụng tại Tòa trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận quy định. Nếu không thỏa thuận được, các bên phải tuân thủ theo thủ tục tố tụng quy định tại UNCLOS 1982, Công ước Lahaye 1899 và 1907 về giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Ngoài ra, thủ tục tố tụng Trọng tài cũng được quy định trong quy chế mẫu về thủ tục Trọng tài do Ủy ban luật quốc tế của LHQ soạn thảo và thông qua tại Đại hội đồng LHQ năm 1958. Tuy nhiên, những quy định này chỉ mang tính khuyến nghị. Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp tại Tòa trọng tài là các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế, cụ thể là các điều ước quốc tế các bên ký kết hoặc tham gia (trước hết là các điều ước liên quan trực tiếp đến tranh chấp) và tập quán quốc tế. Các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là cơ sở pháp lý để xác định mức độ vi phạm của nghĩa vụ đã cam kết của các bên. Trên cơ sở đó, Tòa trọng tài sẽ ra các phán quyết để dàn xếp tranh chấp. Nếu Điều ước quốc tế về trọng tài mà các bên ký kết có quy định về khả năng viện dẫn các nguồn khác như pháp luật quốc gia hay nguyên tắc pháp luật chung thì các nguồn này cũng được áp dụng để giải quyết. Ví dụ trong vụ Trail Smelter 1941, Tòa trọng tài được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa Canada và Mỹ liên quan đến việc một nhà máy luyện kim của Canada gây ô nhiễm vì chất sulpur diopxide gây thiệt hại cho cây trồng của một số vùng lãnh thổ Mỹ giáp với biên giới Canada. Để giải quyết vụ tranh chấp này, các bên đã thỏa thuận không chỉ áp dụng luật quốc tế mà còn áp dụng các quy định của pháp luật Mỹ.
  • 37. 30 Đối với giá trị phán quyết Trọng tài, về cơ bản phán quyết Trọng tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành với các bên tranh chấp. Phán quyết trọng tài chỉ được xem xét lại trong trường hợp có những điều kiện mới ảnh hưởng cơ bản đến nội dung của phán quyết mà trước đó tòa trọng tài chưa biết đến. Tuy nhiên, trong thực tế các phán quyết Tòa trọng tài vẫn có thể bị vô hiệu và các bên không phải thi hành phán quyết trong các trường hợp: (1) Điều ước quốc tế (hoặc điều khoản) trọng tài mà các bên ký vô hiệu; (2) Tòa trọng tài vượt quá thẩm quyền được các bên thỏa thuận trao; (3) Có dấu hiệu mua chuộc thành viên của hội đồng trọng tài; (4) Trong quá trình giải quyết tranh chấp, tòa trọng tài đã vi phạm nghiêm trọng các quy định về thủ tục tố tụng. Sau khi Tòa trọng tài đã ra phán quyết, nếu các bên có quan điểm khác về hiệu lực cũng như về việc giải thích và thi hành phán quyết trọng tài thì chính Tòa trọng tài đó sẽ xem xét và giải quyết. 1.3.2.1. Tòa trọng tài Toà trọng tài được thành lập và hoạt động theo đúng Phụ lục VII của UNCLOS 1982, là cơ quan tài phán quốc tế. Với điều kiện phải tuân thủ Phần XV của UNCLOS 1982 thì bất kỳ một bên nào có tranh chấp đều có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục trọng tài bằng một thông báo viết gửi tới bên kia hoặc các bên kia trong vụ tranh chấp. Tổng Thư k‎‎ý LHQ lập ra một danh sách các trọng tài. Mỗi quốc gia thành viên có thể chỉ định bốn trọng tài có kinh nghiệm về những vấn đề biển và nổi tiếng nhất về sự công bằng, năng lực và liêm khiết nhất. Các quốc gia thành viên có thể chỉ định và bổ sung số thành viên của quốc gia mình nếu vì một l‎ý do nào đấy mà chưa đủ bốn thành viên.
  • 38. 31 1.3.2.2. Tòa trọng tài đặc biệt Toà trọng tài đặc biệt được quy định tại Phụ lục VIII của UNCLOS 1982. Toà trọng tài đặc biệt được lập ra với nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp trong từng lĩnh vực riêng biệt liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các điều khoản của UNCLOS 1982 liên quan đến: việc đánh bắt hải sản; việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; việc nghiên cứu khoa học biển hoặc hàng hải, kể cả nạn ô nhiễm do các tàu thuyền hay do nhấn chìm (Điều 1 Phụ lục VIII UNCLOS 1982). Các bên có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết theo thủ tục trọng tài đặc biệt bằng thông báo viết gửi tới bên kia hoặc các bên trong vụ tranh chấp.
  • 39. 32 Chƣơng 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC, THẨM QUYỀN, THỦ TỤC TỐ TỤNG VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII VÀ PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982 2.1. Tòa án quốc tế về luật biển UNCLOS 1982 có vai trò to lớn trong việc định hướng các ứng xử của các quốc gia trong các vấn đề liên quan đến biển. Với 155 quốc gia gia nhập công ước, UNCLOS thực sự trở thành một bộ luật lớn về biển cả. Cùng với đó là sự ra đời của ITLOS, đây chính là cơ quan tài phán chính trong giải thích và áp dụng UNCLOS. ITLOS được nhắc đến trong phần XV giải quyết tranh chấp và được quy định cụ thể tại Phụ lục VI Quy chế của ITLOS. Quy chế của Tòa án đã quy định rất cụ thể về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục tố tụng của Tòa án. 2.1.1. Cơ cấu tổ chức của Tòa án quốc tế về Luật biển 2.1.1.1. Thẩm phán Số thành viên của Tòa án về Luật biển gồm có 21 Thẩm phán độc lập, được tuyển chọn trong số các nhân vật có uy tín nhất về công bằng và liêm khiết, có năng lực chuyên môn trong các lĩnh vực luật biển (Khoản 1 Điều 2 Quy chế của Tòa án). Việc lựa chọn các Thẩm phán được tiến hành theo các nguyên tắc nhất định: - Thành viên của Tòa án phải có sự hiện diện của các hệ thống pháp luật chủ yếu trên thế giới và sự phân chia công bằng về mặt địa lý (Khoản 2 Điều 2 Quy chế của Tòa án). Mỗi một nhóm theo địa lý do Đại hội đồng LHQ xác định phải có ít nhất ba thành viên của Tòa án. Cụ thể có năm khu vực địa lý: Châu Á, Châu Phi, khu vực Đông Âu, khu vực Mỹ La – Tinh và vùng biển Caribê, khu vực Châu Âu và khu vực khác.
  • 40. 33 - Mỗi một quốc gia thành viên có thể chỉ định tối đa là hai người đủ tiêu chuẩn. Thành viên của Tòa án sẽ được tuyển lựa trên danh sách đề cử. Tuy nhiên, không thể có hơn một công dân của cùng một quốc gia (Khoản 1 Điều 3 Quy chế Tòa án). Tòa án áp dụng nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu. Công dân của một quốc gia được hiểu là người thường thi hành các quyền dân sự và chính trị của quốc gia đó. - Các thành viên của Tòa án được bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín. Các thành viên được bầu phải là người có số phiếu cao nhất và phải được hai phần ba số quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu. Đa số quốc gia bỏ phiếu này phải là đa số quốc gia thành viên. Khái niệm: “Quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu” là các quốc gia thành viên có mặt và tham gia bỏ phiếu thuận hoặc chống. Các quốc gia có mặt nhưng bỏ phiếu trắng không được tính. Thẩm phán ITLOS sẽ được bỏ phiếu lựa chọn một lần. Khác với Thẩm phán của Tòa công lý quốc tế phải được cả Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an bỏ phiếu tín nhiệm [29]. Nhiệm kỳ của các thành viên là chín năm và họ đều có quyền tái cử. Để bảo đảm tính không bị gián đoạn trong việc xét xử của Tòa án, khi các thành viên hết nhiệm kỳ được bầu cử ở cuộc bầu cử đầu tiên, bảy người sẽ hết nhiệm kỳ sau ba năm, bảy người sẽ mãn nhiệm kỳ trong sáu năm. Các thành viên của Tòa án hết nhiệm kỳ theo các thời hạn trên sẽ được chỉ định rút thăm do Tổng thư ký LHQ thực hiện ngay sau khi cuộc bầu cử đầu tiên diễn ra (Khoản 2 Điều 5 Quy chế Tòa án). Vì vậy, sau 03 năm thì thành phần của Tòa án lại được thay đổi một phần ba số thành viên. Các thành viên của Tòa án sẽ giữ chức vụ cho đến khi có người thay thế. Và họ vẫn sẽ tiếp tục xét xử các vụ án mà họ đang xét xử trước đó. Trường hợp có ghế trống do từ chức (Khoản 4 Điều 5 Quy chế Tòa án), do từ trần hay do không đáp ứng được điều kiện cần thiết (Điều 9 Quy chế
  • 41. 34 Tòa án) thì Tòa án sẽ tiến hành bầu cử bổ sung. Thư ký Tòa án tiến hành trong tháng tiếp theo ngày có ghế trống. Chánh án Tòa án quy định thời gian bầu cử có tham khảo ý kiến của các quốc gia thành viên. Thành viên được bầu bổ sung chỉ thực hiện nốt nhiệm kỳ của người mà mình thay thế. Các Thẩm phán tại Tòa án có tính độc lập rất cao. Họ không đại diện cho Chính phủ mình hay bất cứ một Chính phủ nào, tổ chức quốc tế nào. Bởi vì các Thẩm phán có tính độc lập rất cao nên một thành viên của Tòa án không thể kiêm nhiệm bất kỳ một nhiệm vụ chính trị hay hành chính nào, cũng không được chủ động tham gia hay có liên quan đến hoạt động của một xí nghiệp đang tiến hành tham dò hay khai thác tài nguyên ở biển hay đáy đại dương hoặc việc sử dụng biển hay đáy biển vào mục đích thương mại nào khác. Thành viên của Tòa án cũng không được làm nhiệm vụ đại diện, cố vấn hay luật sư cho bất kỳ vụ kiện nào (Khoản 1, 2 Điều 7 Quy chế Tòa án). Để bảo đảm sự khách quan, thành viên của Tòa án cũng không được tham gia vào việc giải quyết vụ kiện mà trước đây người đó đã tham gia với tư cách đại diện, cố vấn hay luật sư của một trong các bên, hay với tư cách của một Tòa án quốc gia hay quốc tế hay bất kỳ danh nghĩa nào (Điều 8 Quy chế Tòa án). Để bảo đảm tính độc lập khách quan của mình, cũng như hiệu lực các phán quyết của Tòa án, trước khi nhậm chức các Thẩm phán phải trịnh trọng tuyên thệ trong phiên họp công khai chung đầu tiên sau ngày được bầu như sau: “Tôi trịnh trọng tuyên bố rằng tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình và thực hiện quyền năng của Thẩm phán bằng danh dự của mình một cách trung thực, công bằng và tận tâm” (Điều 11 Nội quy của Tòa án). Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các thành viên đều hưởng quy chế bình đẳng, không tính đến tuổi tác, ưu tiên bầu cử hay thâm niên công tác (Điều 3 Nội quy Tòa án). Khi vào phiên tòa, các thành viên sẽ ngồi theo thứ tự ngày mình bắt đầu nhiệm kỳ. Các thành viên có nhiệm kỳ bắt đầu cùng một ngày sẽ
  • 42. 35 ngồi theo thứ tự tuổi tác từ cao xuống thấp. Chánh án và phó Chánh án sẽ ngồi trước các thành viên khác. Các thành viên của Tòa án khi thực hiện chức năng của mình đều được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao (Điều 10 Quy chế Tòa án). Thẩm phán của Tòa khi nào còn thuộc thành phần của Tòa án, khi tạm trú ở bất kỳ nước nào ngoài nước mà họ mang quốc tịch đều được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao trong suốt thời gian tạm trú đó. Nhằm bảo đảm cho cuộc sống cũng như tính độc lập của Thẩm phán khi làm nhiệm vụ, các Thẩm phán của Tòa án hưởng khoản lương hàng năm và các khoản trợ cấp đặc biệt cho mỗi ngày mà họ làm nhiệm vụ của mình, miễn là tổng số trợ cấp đặc biệt mỗi năm không được quá tổng số lương hàng năm. Chánh án của Tòa án được hưởng một khoản phụ cấp đặc biệt hàng năm. Phó Chánh án được hưởng phụ cấp đặc biệt cho mỗi ngày trong thời gian thừa hành chức vụ Chánh án. Các khoản lương, phụ cấp, trợ cấp được quy định từng thời gian trong các cuộc họp của các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 trong đó có tính đến khối lượng công việc của Tòa án. Các khoản lương, phụ cấp, trợ cấp nói trên của các Thẩm phán đều được miễn thuế (Điều 18 Quy chế Tòa án). Bên cạnh các Thẩm phán của Tòa, khi phiên tòa mở ra, các bên có thể lựa chọn Thẩm phán ad hoc. Thẩm phán ad hoc là Thẩm phán do một hoặc hai bên tranh chấp không có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần Tòa án đề cử. Trong trường hợp, một trong các bên tranh chấp có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần của Tòa án thì phía bên kia có quyền đề cử Thẩm phán ad hoc của mình hoặc yêu cầu không đưa Thẩm phán mang quốc tịch phía bên kia vào danh sách thành viên xét xử. Tiêu chuẩn lựa chọn của Thẩm phán ad hoc tương tự như tiêu chuẩn lựa chọn Thẩm phán của Tòa án. Quy định về Thẩm phán ad hoc không chỉ bảo đảm
  • 43. 36 nguyên tắc cân bằng các hoàn cảnh mà còn tạo điều kiện cho các quốc gia tranh chấp có thể bày tỏ quan điểm của mình trong quá trình xét xử. Các Thẩm phán ad hoc này được tham gia bình đẳng với các thẩm phán khác trong việc tham gia nghị án (Khoản 6 Điều 17 Quy chế Tòa án; Điều 8 Nội quy của Tòa án). Chánh án và Phó Chánh án: Nhiệm kỳ của Chánh án và Phó Chánh án là ba năm tính từ ngày bắt đầu nhiệm kỳ mới. Ngày bắt đầu nhiệm kỳ mới là ngày họ được bầu. Trong trường hợp vẫn là thành viên nhiệm kỳ trước thì tiếp tục thực hiện trách nhiệm cho đến khi tiến hành bầu cử. Việc bầu cử được thực hiện bằng bỏ phiếu kín. Kết quả bỏ phiếu được giữ kín, người chủ trì cuộc bỏ phiếu chỉ tuyên bố số phiếu thuận cần thiết cho việc trúng cử chứ không nêu số phiếu chống. Thẩm phán được chọn bởi đa số phiếu sẽ được tuyên bố trúng cử và nhận nhiệm vụ mới của mình. Chánh án sẽ chủ trì việc bầu Phó Chánh án ngay sau đó hoặc tại buổi họp sau (Điều 11 Nội quy Tòa án). Chánh án sẽ điều khiển các buổi họp của Tòa án, chỉ đạo công việc và giám sát bộ máy hành chính của Tòa án. Chánh án Tòa án sẽ đại diện cho Tòa án trong các mối quan hệ với các quốc gia và thực thể khác. 2.1.1.2. Ban Thƣ ký Tòa án Ban thư ký Tòa án là cơ quan hành chính thường trực của Tòa án. Vì Tòa án là cơ quan tài phán của một công ước quốc tế nên vai trò của Ban Thư ký cũng có đặc thù riêng. Đây là cơ quan đảm trách các dịch vụ tư pháp, là bên liên lạc giữa Tòa án với các quốc gia thành viên và các bên khác. Đồng thời, Ban Thư ký đảm nhận các hoạt động hành chính, tài chính, tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị và thông báo, trao đổi tin tức với các cơ quan, tổ chức khác. Tổ chức của Ban thư ký bao gồm:
  • 44. 37 - Chánh Thư ký và Phó Chánh Thư ký, Trợ lý Chánh Thư ký. Họ đều do Tòa án bầu theo phương thức bỏ phiếu kín trong số các ứng cử viên do các nước thành viên đề cử. Họ phải có trình độ học vấn, phẩm chất đạo đức, kiến thức, ngôn ngữ và kinh nghiệm về pháp luật đặc biệt là luật biển, luật ngoại giao và các hoạt động của tổ chức quốc tế. Chánh thư ký và Phó Chánh thư ký có nhiệm kỳ 05 năm. - Nhân viên thư ký trong biên chế hay theo hợp đồng do Tòa án hoặc Chánh Thư ký đề cử, như các Thư ký, nhân viên thư viện và lưu trữ, nhân viên đánh máy, in ấn, lái xe, … 2.1.1.3. Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển Thành phần của Viện này gồm 11 thành viên do Tòa án lựa chọn trong các thành viên được bầu của Tòa án theo đa số thành viên đó. Việc lựa chọn phải bảo đảm sự đại diện cho hệ thống pháp luật chủ yếu trên thế giới và sự phân chia công bằng về mặt địa lý. Nhiệm kỳ của Thẩm phán của Viện là ba năm và có thể được tái cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Số lượng Thẩm phán tối thiểu để Viện có thể họp và ra phán quyết là bảy người do Tòa án lựa chọn trong số các thành viên của mình. Viện có thể lập ra Tòa ad hoc gồm ba thành viên trong số thành viên của mình để xét xử một vụ tranh chấp nhất định mà Viện có trách nhiệm giải quyết theo Điều 188 UNCLOS 1982. Thành phần của Tòa này do Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển quyết định có sự đồng ý của các bên hữu quan. Các thành viên của Tòa ad hoc không được làm việc cho bên tranh chấp nào cũng không được là công dân của quốc gia nào trong số các quốc gia tranh chấp (Điều 36 Quy chế Tòa án). 2.1.1.4. Các Viện đặc biệt Theo quy định Nội quy Tòa án, hàng năm theo yêu cầu của mỗi bên, Viện rút gọn trình tự tố tụng được thành lập. Viện gồm 5 Thẩm phán trong đó có
  • 45. 38 Chánh án và Phó Chánh án của Tòa án là 02 Thẩm phán đương nhiên và 03 Thẩm phán khác. Bên cạnh đó, Tòa án còn chọn thêm 02 Thẩm phán “dự bị” để thay thế các Thẩm phán thấy mình không thể tham gia các phiên họp. Mục đích của Viện này nhằm thúc đẩy việc giải quyết các vụ việc tranh chấp. Việc này có thể xem xét và giải quyết các vụ việc theo trình tự xét xử sơ bộ. Năm 2000, Panama đã đệ đơn lên Viện rút gọn trình tự tố tụng xem xét giải quyết trong vụ tàu Chaisiri Reefer 2 (Panama/Yemen) [29]. Trong trường hợp nếu xét thấy cần thiết, Tòa án có lập ra các viện, gồm ít nhất ba thành viên được bầu để xét xử các loại vụ kiện nhất định. Tòa án cũng có thể lập một Viện để giải quyết một tranh chấp theo yêu cầu của các bên. Thành phần của Viện này sẽ được Tòa án quyết định với sự tham gia của các bên. Trong cuộc họp ngày 14/02/1997, ITLOS đã quyết định thành lập hai Viện đặc biệt thường trực với thành phần lấy từ các thành viên của Tòa án. Các Viện này sẽ tiến hành xét xử nếu các bên có yêu cầu. Đó là Viện giải quyết các tranh chấp về môi trường biển và Viện giải quyết các tranh chấp về đánh cá. 2.1.1.5. Các cơ quan khác Ngoài ra, trong cơ cấu của Tòa án còn có các Ủy ban điều hành các công việc trong nội bộ tổ chức của Tòa án như: Ủy ban về ngân sách và tài chính, Ủy ban về nội quy và thực tiễn xét xử, Ủy ban về hành chính và nhân sự, Ủy ban về thư viện và xuất bản… Các thành viên của các Ủy ban này có nhiệm kỳ một năm. Thành phần của các Ủy ban này là các Thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển. 2.1.2. Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về Luật Biển Thẩm quyền của ITLOS được quy định trong Mục 5 Phần XI (các điều từ 186 đến 191), Phần XV- Giải quyết các tranh chấp và đặc biệt trong Phụ lục VI của UNCLOS 1982.
  • 46. 39 Thẩm quyền của ITLOS do các quốc gia thành viên thỏa thuận xác định trong UNCLOS 1982, trong Quy chế và được cụ thể hóa trong Nội quy của Tòa án. Về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án dựa trên sự đồng ý rõ ràng của các bên tranh chấp và phải được thực hiện theo đúng thủ tục. Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề Thẩm quyền của ITLOS có thẩm quyền hay không thì vấn đề này sẽ do Tòa án quuyết định theo quy định tại Điều 288 UNCLOS 1982. Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết tranh chấp sẽ bao gồm thẩm quyền [29]: (1) Thẩm quyền xét quyền được đưa vấn đề tranh chấp ra Tòa án của các bên; (2) Thẩm quyền xét xử về nội dung tranh chấp được đưa ra theo đúng thủ tục và thẩm quyền xét xử ex dequo et bono (công bằng); (3) Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của ITLOS còn có thẩm quyền đưa ra các ý kiến tư vấn trong một số trường hợp nhất định. 2.1.2.1. Thẩm quyền đƣợc đƣa vấn đề ra Tòa án Tại Điều 20 Quy chế của ITLOS quy định: “1. Tòa án được để ngỏ cho các quốc gia thành viên; 2. Tòa án được để ngỏ cho các thực thể không phải là quốc gia thành viên trong tất cả các trường hợp đã được quy định rõ trong mọi tranh chấp được đưa ra theo thỏa thuận khác, giao cho Tòa án một thẩm quyền được tất cả các bên trong vụ tranh chấp chấp nhận”. Chủ thể được quyền đưa tranh chấp ta trước Tòa Luật biển bao gồm: Các Quốc gia thành viên, các quốc gia không phải thành viên, các thể nhân, pháp nhân, tổ chức quốc tế. Thẩm quyền của Tòa chỉ được xác lập khi có sự đồng ý rõ ràng của các bên tranh chấp. Sự đồng ý rõ ràng của các bên tranh chấp được biểu hiện thông qua ba cách: Thứ nhất là chấp nhận thẩm quyền của Tòa án theo từng vụ việc Trong trường hợp các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 chưa tuyên bố
  • 47. 40 chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án khi ký, phê chuẩn hay tham gia UNCLOS 1982 quốc tế, nếu xảy ra tranh chấp giữa họ hay giữa một bên là quốc gia thành viên và một bên không phải là quốc gia thành viên thì Tòa án chỉ hình thành bằng thỏa thuận của hai bên đưa vụ việc ra trước Tòa án. Thỏa thuận đó phải ghi rõ các bên liên quan, các vấn đề tranh chấp, các lập luận viện dẫn, yêu cầu đối với Tòa án, chỉ định Thẩm phán ad hoc. Ngoài ra, các bên liên quan cũng có thể đề nghị áp dụng thủ tục xét xử rút gọn phù hợp với quy định của Tòa án. Thứ hai là chấp nhận thẩm quyền của Tòa án trong các Điều ƣớc quốc tế Theo khoản 2 Điều 288 UNCLOS 1982, Tòa án có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một Điều ước quốc tế có liên quan đến mục đích của UNCLOS 1982 và đã được đưa ra cho Tòa án theo đúng quy định của Điều ước quốc tế này. Thẩm quyền của Tòa án còn được xác lập hoặc thông qua các điều khoản đặc biệt trong các Điều ước quốc tế thừa nhận trước thẩm quyền của Tòa án. Thông thường trong các Điều ước quốc tế, Hiệp ước quốc tế đa phương và song phương có những điều khoản đặc biệt trù bị cho khả năng xảy ra tranh chấp trong việc giải thích và thực hiện các Điều ước quốc tế, trong đó có quy định việc các bên thống nhất sẽ đưa tranh chấp ra trước Tòa án. Khi tranh chấp xảy ra, các bên có thể đơn phương kiện ra Tòa án, cũng có thể cùng ký một thỏa thuận đưa vụ việc ra trước Tòa án để phân xử. Hiện nay, có một số Điều ước quốc tế quy định thẩm quyền phán xét của ITLOS như: Nghị định thư năm 1996 đối với Công ước năm 1972 về ngăn chặn ô nhiễm biển do việc đổ các chất thải và một số lý do khác; Thỏa thuận năm 1993 về tăng cường các biện pháp quốc tế đối với các tàu đánh cá ở biển cả để gìn giữ và quản lý nguồn cá …
  • 48. 41 Thứ ba là chấp nhận trƣớc thẩm quyền của Tòa án bằng một tuyên bố đơn phƣơng UNCLOS 1982 cũng mở rộng khả năng tự lựa chọn các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc. Điều 287 UNCLOS 1982 quy định rằng khi ký kết, phê chuẩn, tham gia UNCLOS 1982 hoặc ở bất kỳ thời điểm nào sau đó, một quốc gia dưới hình thức tuyên bố bằng văn bản được quyền tự do lựa chọn một hay nhiều biện pháp sau đây để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS 1982: - Tòa án quốc tế về luật biển; - Tòa án công lý quốc tế; - Một Tòa trọng tài được hình thành theo đúng Phụ lục VII của Công UNCLOS 1982; - Một Tòa trọng tài đặc biệt để giải quyết các tranh chấp trong từng lĩnh vực riêng biệt như nghiên cứu khoa học, nghề cá, giao thông… được thành lập theo đúng Phụ lục VIII của UNCLOS 1982. 2.1.2.2. Thẩm quyền xét xử về nội dung các vụ tranh chấp Thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp của ITLOS là khả năng của ITLOS trong những điều kiện và đối với các đối tượng, nội dung tranh chấp, chủ thể của tranh chấp nhất định có quyền thụ lý, giải quyết và đưa ra quyết định cuối cùng về tranh chấp đó. Theo quy định của UNCLOS 1982, ITLOS không những có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể là quốc gia thành viên mà còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể là pháp nhân. Điều 288 UNCLOS 1982 và Điều 21 Quy chế của ITLOS quy định rất rõ thẩm quyền xét xử về nội dung của ITLOS: “Tòa án có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh chấp và các yêu cầu được đưa ra Tòa án theo đúng Công ước và đối với tất cả các trường hợp được trù định rõ trong mọi thỏa thuận khác, giao thẩm quyền cho Tòa án”.
  • 49. 42 Thẩm quyền của Tòa án đối với tranh chấp giữa các quốc gia (thành viên và không phải thành viên của UNCLOS 1982) được giới hạn trong Điều 297 UNCLOS 1982. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền với: - Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng UNCLOS 1982 về việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán của quốc gia ven biển đã được trù định trong UNCLOS 1982 khi được xét theo các thủ tục giải quyết được trù định ở mục các thủ tục bắt buộc dẫn đến các quyết định bắt buộc trong các trường hợp sau: Khi thấy rằng quốc gia ven biển đã không tuân theo UNCLOS 1982 liên quan đến tự do và quyền hàng hải, hàng không hoặc tự do, và quyền đặt dây cáp và ống dẫn ngầm cũng như đến việc sử dụng biển và mục đích không được quốc tế thừa nhận là chính đáng trong Điều 58 (Các quyền và nghĩa vụ của những quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế). Khi thấy rằng trong việc thi hành hay trong quá trình sử dụng biển các quyền tự do và các quyền đó không tuân theo UNCLOS 1982 hoặc việc đặt ra các quy định pháp luật của quốc gia ven biển không phù hợp với quy định của UNCLOS 1982. Khi thấy rằng quốc gia ven biển không tuân theo quy tắc hay quy phạm quốc tế đã được xác định nhằm bảo vệ và giữ gìn môi trường biển được UNCLOS 1982 đặt ra. - Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy định của UNCLOS 1982 về nghiên cứu khoa học biển, trừ khi quốc gia ven biển không chịu chấp nhận theo cách giải quyết như vậy đối với vụ tranh chấp phát sinh từ: Việc quốc gia này thi hành quyền của mình theo đúng Điều 246 UNCLOS 1982 (Việc nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa). Quốc gia khác có quyền thực hiện nghiên cứu khoa học trên
  • 50. 43 vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển nhưng phải có sự thỏa thuận với quốc gia ven biển. Quốc gia ven biển có thể tùy ý mình không cho thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển do một quốc gia hay một tổ chức quốc tế có thẩm quyền trong một số trường hợp như dự án đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật; dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa, sử dụng chất nổ hay đưa chất độc hại vào môi trường biển… Quyết định của quốc gia này ra lệnh đình chỉ hoặc chấm dứt một dự án theo Điều 253 UNCLOS 1982. Theo đó, quốc gia ven biển có quyền yêu cầu đình chỉ các công việc nghiên cứu khoa học biển đang tiến hành trên vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của mình nếu công việc này không tiến hành theo đúng các thông tin đã thông báo cho quốc gia ven biển đã dựa vào để đồng ý cho phép. Hoặc nếu quốc gia, tổ chức quốc tế có thẩm quyền khi tiến hành công việc không tôn trọng các quy định về quyền của quốc gia ven biển đối với dự án nghiên cứu khoa học biển theo Điều 249 UNCLOS 1982. Các vụ tranh chấp pháp sinh từ luận cứ của một quốc gia nghiên cứu cho rằng trong trường hợp một dự án riêng biệt, quốc gia ven biển không sử dụng các quyền cho phép và hay đình chỉ, chấm dứt việc nghiên cứu khoa học biển ở vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa theo Điều 246 và Điều 253 UNCLOS 1982 một cách hợp lý thì các bên có liên quan có quyền đưa ra hòa giải theo thủ tục được trù định tài Mục 2 của Phụ lục V UNCLOS 1982. Ủy ban hòa giải không được xét việc thi hành quyền tùy ý quyết định của quốc gia ven biển trong việc xác định các khu vực đặc biệt hay việc thi hành quyền tùy ý không cho phép theo khoản 5 và khoản 6 của Điều 246 UNCLOS 1982. - Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích, áp dụng các quy định của UNCLOS 1982 về việc đánh bắt hải sản được giải quyết theo đúng Mục 2, phần XV, trừ khi quốc gia ven biển không chịu chấp nhận cách giải quyết
  • 51. 44 như vậy về một vụ tranh chấp liên quan đến quyền thuộc chủ quyền của mình đối với tài nguyên sinh vật thuộc đặc quyền kinh tế của mình, hay liên quan đến việc thi hành các quyền này kể cả quyền tùy ý quy định khối lượng đánh bắt cá có thể chấp nhận được, khả năng đánh bắt của mình, phân bố số dư cho các quốc gia khác, quyết định các cách thức, điều kiện đặt ra trong các luật và quy định của mình bảo vệ và quản lý. Nếu việc vận dụng Mục 1 (Về thủ tục hòa giải) không cho phép đi đến một cách giải quyết, thì theo yêu cầu của một bên nào đó trong số các bên tranh chấp, vụ tranh chấp được đưa ra hòa giải theo thủ tục được trù định tại Mục 2 của Phụ lục V khi chứng minh được rằng quốc gia ven biển đã chứng minh được rằng quốc gia ven biển đã: Rõ ràng không thực hiện nghĩa vụ dùng các biện pháp bảo vệ và quản lý thích hợp để bảo đảm rằng việc duy trì các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh tế không bị ảnh hưởng nghiêm trọng; Độc đoán từ chối việc quy định theo yêu cầu của một quốc gia khác khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận được và khả năng khai thác tài nguyên sinh vật của mình đối với các đàn hải sản mà việc khai thác có liên quan đến quốc gia khác; Độc đoán từ chối việc chia sẻ cho một quốc gia nào đó toàn bộ hay một phần số cá dư mà mình đã xác nhận như đã trù định ở Điều 62, 69 và 70 theo các thể thức, điều kiện mà bản thân mình đã quy định và phù hợp với UNCLOS 1982.  Khi ký kết, phê chuẩn, tham gia UNCLOS 1982 hoặc ở bất kỳ thời điểm nào sau đó với điều kiện sau không phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ Mục 1, một quốc gia có thể tuyên bố bằng văn bản rằng mình không chấp nhận một hay nhiều thủ tục giải quyết các tranh chấp đã được trù định ở Mục 2 có liên quan đến một hay nhiều loại tranh chấp sau:
  • 52. 45 Các vụ tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng các Điều 15, 74 và 83 liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển hay các vụ tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử, nghĩa là khi một tranh chấp như thế xảy ra sau khi UNCLOS 1982 có hiệu lực. Các vụ tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự, kể cả hoạt động quân sự của tàu thuyền và phương tiện bay của Nhà nước được sử dụng cho một dịch vụ không có tính chất thương mại, và các vụ tranh chấp liên quan đến các hành động bắt buộc chấp hành, đã được thực hiện trong việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán mà khoản 2 và 3 Điều 297 đã loại trừ khỏi thẩm quyền của một Tòa án; Các vụ tranh chấp mà Hội đồng bảo an LHQ, trong khi thi hành các chức năng của mình do Hiến chương LHQ giao phó có trách nhiệm giải quyết, trừ khi Hội đồng bảo an quyết định xóa vấn đề trong chương trình nghị sự của mình hay yêu cầu các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp của họ bằng các phương pháp đã quy định trong UNCLOS 1982. Một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản 1, thì bất kỳ lúc nào cũng có thể rút lui tuyên bố đó hay thỏa thuận đưa ra một vụ tranh chấp mà tuyên bố này đã loại trừ, ra trước bất cứ thủ tục giải quyết nào đã được trù định trong UNCLOS 1982. Nếu một quốc gia thành viên đã ra một tuyên bố theo khoản 1, điểm a, thì bất kỳ quốc gia thành viên nào khác cũng có thể đưa ra mọi tranh chấp giữa quốc gia đó với quốc gia đã ra tuyên bố và nằm trong một loại tranh chấp đã bị loại trừ, ra giải quyết theo thủ tục được định rõ trong tuyên bố này. Các tuyên bố hay các thông báo rút lui các tuyên bố nói ở điều này phải được gửi cho Tổng thư ký LHQ để lưu chuyển, Tổng thư ký LHQ chuyển các bản sao các văn kiện đó cho các quốc gia thành viên.
  • 53. 46 2.1.2.3. Thẩm quyền đƣa ra các kết luận tƣ vấn Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển có quyền đưa ra các kết luận tư vấn theo yêu cầu của Đại hội đồng hay Hội đồng các Cơ quan quyền lực về những vấn đề pháp lý được đặt ra trong khuôn khổ hoạt động của họ. Các ý kiến này được đưa ra trong thời hạn ngắn nhất (Điều 191 UNCLOS 1982). Theo đó, có ít nhất một phần tư số thành viên của Đại hội đồng thỉnh cầu bằng văn bản gửi lên Chủ tịch Đại hội đồng, yêu cầu Đại hội đồng xem xét một đề nghị nào đó có phù hợp với UNCLOS 1982 hay không thì Đại hội đồng yêu cầu cơ quan Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của ITLOS đưa ra ý kiến tư vấn (Khoản 10 Điều 159 UNCLOS 1982). Thêm nữa, theo khoản 1 Điều 138 Nội quy của Tòa án, ITLOS cũng có thể đưa ra các ý kiến tư vấn về một vấn đề pháp lý trong trường hợp có một Điều ước quốc tế liên quan đến tôn chỉ, mục đích của UNCLOS 1982 quy định cụ thể việc được đệ trình đơn lên Tòa án để xin ý kiến tư vấn. Cơ chế hỏi ý kiến của Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy đại dương không dành cho các quốc gia. Các quốc gia cũng như bất kỳ một tổ chức nào đều có quyền và nghĩa vụ cung cấp tin tức, các tài liệu, văn bản có liên quan đến các vấn đề hoặc tường trình bằng lời trong các phiên họp công khai được triệu tập. 2.1.3. Thủ tục tố tụng của Tòa án quốc tế về Luật Biển Thủ tục tố tụng của Tòa án được quy định cụ thể trong Nội quy của Tòa án từ Điều 44 đến Điều 129 và trong Hướng dẫn việc chuẩn bị và đệ trình các vụ việc ra trước Tòa án (Do Tòa án ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1997). Thủ tục này bắt đầu khi có một hay nhiều bên bằng văn bản thể hiện ý chí đưa vụ việc ra trước Tòa án nhờ giải quyết. Văn bản này phải được ghi rõ tên bên khởi kiện, bên bị kiện và nội dung tranh chấp.
  • 54. 47 Thủ tục tố tụng trước Tòa án sẽ bao gồm hai phần: Thủ tục viết (văn bản, giấy tờ), thủ tục nói (tranh tụng) trước Tòa án và quá trình nghị án. Thủ tục văn bản giấy tờ bao gồm việc chuyển các bản kiến nghị, phản kiến nghị, đơn khởi kiện, bản phản biện và trong trong trường hợp được Tòa án cho phép, các phúc đáp, kháng biện cũng như tất cả các tài liệu hỗ trỡ cho Tòa án cho các bên. Thủ tục tranh tụng là quá trình Tòa án nghe các viên chức, luật sư, người bào chữa, người làm chứng và các chuyên gia trình bày trước khi nghị án. Quá trình nghị án là quá trình các Thẩm phán sẽ bỏ phiếu và đưa ra phán quyết vụ việc tranh chấp. 2.1.3.1. Thủ tục văn bản Thủ tục văn bản bao gồm việc nộp cho Tòa án theo đúng quy định về thời gian các bản bị vong lục và phản bị vong lục, trong đó trình bày rõ, chi tiết các điểm, về sự kiện pháp lý (khoản 2 Điều 44, Điều 60 và khoản 3 Điều 61 Nội quy của Tòa án). Thời hạn cho mỗi bản bị vong lục và phản bị vong lục không quá 6 tháng (Điều 59 Nội quy Tòa án). Các bên hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn hình thức trình bày sao cho đầy đủ nhất. Các tài liệu bổ trợ cho lập luận phải được sao chụp kèm theo trong Phụ lục. Nếu khối lượng các văn kiện này quá lớn có thể cho phép trích dẫn chúng trong Phụ lục nhưng toàn văn cần phải nộp lưu chiểu cho Thư ký Tòa án theo đúng thủ tục và gửi cho mỗi Thẩm phán một bản sao để tham khảo. Bản bị vong lục (đơn kiện) phải bao gồm các nội dung: Phúc trình các sự kiện có liên quan, lập luận pháp lý và các kiến nghị. Bản phản bị vong lục phải bao gồm các nội dung: Chấp nhận hoặc phủ nhận các sự kiện trong bản bị vong lục; bất kỳ sự kiện bổ sung nào nếu thấy cần thiết; những nhận xét về các lập luận pháp lý trong bản bị vong lục, một bản lập luận pháp lý trả lời và các kiến nghị. Trong trường hợp tranh chấp được đưa ra trước Tòa án bằng đơn kiện đơn phương, ngoài bị vong lục và phản bị vong lục, Tòa án cũng có thể yêu cầu
  • 55. 48 các bên trình bày bản phân tích lập luận của đối phương. Các bản này không chỉ lặp lại các luận thuyết của các bên mà còn phát triển tranh luận về các điểm chính, hướng tới việc giải quyết các vấn đề còn đang tồn tại giữa họ. Các bản bị vong lục hoặc phản bị vong lục phải được trình bày bằng một hoặc hai thứ ngôn ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Pháp. Một bên có thể dùng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ chính thức nhưng phải có bản dịch sang một trong hai ngôn ngữ chính (có chứng thực). Các bản gốc văn bản đều phải do viên chức đại diện ký và nộp cho Thư ký Tòa án lưu. Tất cả các văn bản gửi Tòa án đề phải đề ngày. Trong trường hợp không đề ngày thì Thư ký Tòa án sẽ ghi lên tài liệu ngày Tòa án nhận được. Thư ký Tòa án chịu trách nhiệm dịch không chính thức văn kiện từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác để cung cấp cho các Thẩm phán. Nếu các bên đồng ý, Tòa án có thể cung cấp các văn kiện này cho các quốc gia nào yêu cầu trước khi bắt đầu thủ tục nói (Khoản 2 và 3 Điều 67 UNCLOS 1982). Trong trường hợp các biện hộ của các bên không đúng theo hình thức quy định trong Nội quy Tòa án, Thư ký Tòa án sẽ gửi trả các bên bản biện hộ này để chính sửa. Sau khi chỉnh sửa, các bên sẽ đệ trình lên Thư ký Tòa án, người này sẽ xác nhận ngày mà Ban thư ký nhận được tài liệu. Cuối mỗi văn kiện trong thủ tục viết các bên phải trình bày rõ ràng các kết luận của mình trên cơ sở những sự kiện và các lập luận pháp lý. Tòa án chỉ có trách nhiệm trả lời những yêu cầu của các bên được trình bày trong các kết luận của họ gửi Tòa án. Sau khi kết thúc thủ tục viết (văn bản, giấy tờ) và trước khi mở thủ tục nói (tranh tụng), Tòa án sẽ họp kín để các Thẩm phán của Tòa án có thể trao đổi về các tài liệu tố tụng bằng văn bản và phương hướng của vụ việc (Điều 68 Nội quy Tòa án).
  • 56. 49 2.1.3.2. Thủ tục tranh luận Khi kết thúc thủ tục viết, Tòa án sẽ ấn định ngày mở thủ tục nói (tranh tụng). Ngày mở thủ tục được ấn định trong vòng 06 tháng kể từ khi kết thúc thủ tục viết trừ trường hợp có bằng chứng đầy đủ để thuyết phục Tòa án ra quyết định khác. Trong trường hợp cần thiết Tòa án có thể quyết định việc hoãn mở hoặc tiếp tục thủ tục nói (Điều 69 Nội quy Tòa án). Khi ấn định ngày mở thủ tục tranh tụng hoặc hoãn mở hoặc tiếp tục thủ tục tranh tụng. Tòa án cần xét đến: - Yêu cầu phải tiến hành phiên tòa không có sự trì hoãn không cần thiết; - Nhưng ưu tiên trong quy định của Điều 90 UNCLOS 1982 (Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời) và Điều 112 UNCLOS 1982 (Đơn xin phóng thích tàu và các thủy thủ đoàn); - Bất cứ hoàn cảnh đặc biệt nào, bao gồm tính cấp thiết của vụ việc hoặc các vụ việc khác trong Danh mục các vụ việc; và quan điểm của các bên đưa ra. Tòa án có thể ra quyết định tiến hành thủ này (toàn bộ hoặc một phần) tại một nơi khác trụ sở của Tòa án ngay sau khi đã tham khảo quan điểm của các bên. Sau khi kết thúc thủ tục viết, không bên nào được nộp thêm bất cứ tài liệu nào cho Tòa án trừ khi được sự đồng ý của bên kia hoặc trong trường hợp có phản đối của Tòa án thấy việc trình bày thêm tài liệu là cần thiết. Bên kia được coi là đã đồng ý nếu không đưa ra phản đối về việc trình thêm tài liệu trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thủ tục trình thêm và bình luận thêm tài liệu được tuân thủ theo đúng như các yêu cầu, quy định về nộp tài liệu trong thủ tục viết. Trước khi mở thủ tục tranh tụng, mỗi bên thông báo với Ban thư ký một danh mục tên, họ, quốc tịch, đặc điểm và nơi cư trú của nhân chứng, chuyên gia mà bên đó định mời cùng với những chỉ dẫn về những điểm bằng chứng đã nhằm vào. Một bản sao có chứng thực của thông báo đó sẽ được nộp để
  • 57. 50 chuyển cho bên kia. Sau khi xác định rõ quan điểm của các bên, Tòa án sẽ xác định thứ tự trình bày cho các bên, cách thức tìm hiểu những bằng chứng và thẩm tra bất kỳ nhân chứng, chuyên gia nào cũng như số lượng người bào chữa, luật sư được pháp trình bày cho mỗi bên. Phiên tranh tụng sẽ được tổ chức công khai, trừ khi Tòa án ra quyết định khác hoặc các bên yêu cầu không xét xử công khai. Tòa sẽ dành cho các bên một ngày để trình bày ý kiến của mình trong thủ tục nói bao gồm phần nói của các đại diện, cố vấn pháp lý, luật gia, nhân chứng, chuyên gia… Phát biểu của mỗi bên trong phiên tranh tụng phải ngắn gọn, trình bày rõ lập trường của mình. Các bên phải tập trung vào các vấn đề chính còn bất đồng và không được thay thế toàn bộ lập luận của mình đã được đưa ra trong đơn kiện, bản biện hộ, không nhắc lại tất cả những gì đã trình bày trong các văn kiện của thủ tục viết và không nêu lại các sự kiện cũng như các lập luận đã viện dẫn. Vào bất kỳ thời điểm nào (trước hoặc trong khi tranh luận), Tòa án đều có thể chỉ ra những điểm, những vấn đề mà Tòa án muốn các bên nghiên cứu kỹ hơn hoặc những điểm, những vấn đề mà Tòa án đã thấy thảo luận đủ. Đối với những nhân chứng, Tòa án sẽ tiến hành hỏi theo thứ tự như sau: - Đại diện của bên đưa ra nhận chứng được quyền hỏi nhân chứng trước; - Đại diện của bên đối phương sẽ đưa ra câu hỏi phản bác đối với nhân chứng; - Đại diện của bên đưa ra nhân chứng có quyền hỏi lại nhân chứng; - Nhân chứng sẽ trả lời các câu hỏi của Chánh án và các Thẩm phán của Tòa án. Tòa án có quyền triệu tập các nhân chứng cho đến nay Tòa án chưa bao giờ sử dụng quyền này. Tòa cũng có thể sử dụng quyền tham khảo các ý kiến của các chuyên gia hay tiến hành điều tra ngay tại hiện trường.
  • 58. 51 Sau khi các bên đã trình bày ý kiến tranh tụng của mình, Tòa án có thể nêu ra các câu hỏi cho các viên chức đại diện, người bào chữa, luật sư và có thể yêu cầu họ giải trình. Họ có thể trả lời ngay hoặc trong thời hạn Chánh án Tòa án ấn định. Các bên có thể mời bất kỳ nhân chứng hoặc chuyên gia nào trong danh sách đã chuyển cho Tòa án. Và bất kỳ lúc nào trong suốt quá trình phiên tòa, các bên cũng có thể mời một nhân chứng hoặc chuyên gia chưa có tên trong danh sách này. Bên muốn mời sẽ đưa ra để đề nghị với Tòa án, thông báo cho bên kia và phải cung cấp những thông tin theo yêu cầu của Điều 72 Nội quy Tòa án. Nhân chứng, chuyên gia này có thể được mời trong trường hợp bên kia không có phản đối hoặc theo sự cho phép của Tòa án sau khi nghe các bên trình bày nếu bên kia có phản đối. Cuối phiên tranh tụng, các đại diện sẽ đọc kết luận của mình trước khi giao văn bản có chữ ký cho Thư ký Tòa án. Bản sao chép ghi các đề xuất đó do viên chức đại diện ký phải được chuyển giao cho bên kia. Nếu một bên yêu cầu hoặc thấy cần thiết, Tòa án có thể ra quyết định thực hiện chức năng thu thập chứng cứ tại hiện trường, địa bàn có liên quan đến vụ việc hoặc mời các chuyên gia độc lập cho ý kiến. Tất cả các tường trình, biên bản về công việc tìm hiểu và mọi ý kiến chuyên gia phải được chuyển cho các bên để họ có thể bình luận về chúng. Các phiên họp đều phải có văn bản ghi chép. Bản sao bản ghi chép nguyên văn phải được chuyển cho các Thẩm phán tham gia xét xử và cho các bên để lấy ý kiến chỉnh sửa. Các chuyên gia, nhân chứng cũng được xem và đề nghị chỉnh sửa những gì liên quan đến họ trong biên bản. Một bản sao có chứng thực bản ghi chép nguyên văn đã được chỉnh sửa do Chánh án và Thư ký Tòa án ký sẽ là biên bản chính thức của phiên họp. Biên bản các phiên họp công khai được Tòa án in ấn và xuất bản.
  • 59. 52 2.1.3.3. Quá trình nghị án và phán quyết của Tòa án Theo quy định khoản 2 Điều 88 Nội quy của Tòa án, khi kết thúc thủ tục nói, Tòa bắt đầu nghị án. Quá trình nghị án như sau: Các Thẩm phán sẽ thảo luận và chuẩn bị một bản nhận xét bằng văn bản và trình bày quan điểm của mình. Sau đó, các Thẩm phán sẽ tiếp tục họp để nghị án, từng Thẩm phán sẽ trình bày quan điểm của mình. Các Thẩm phán sẽ tự do trong việc duy trì hay thay đổi quan điểm của mình. Các Thẩm phán bầu ra Ủy ban soạn thảo phán quyết. Ủy ban soạn thảo phán quyết sẽ làm dự thảo phán quyết và gửi cho các Thẩm phán để lấy ý kiến. Sau đó, Tòa án tiến hành bỏ phiếu. Quyết định của Tòa được thông qua bởi đa số có mặt và bỏ phiếu. Trường hợp phiếu thuận và chống ngang nhau thì phiếu của Chánh án có tính chất quyết định (Điều 29 Quy chế Tòa án). Tòa án ấn định ngày đọc phán quyết công khai. Phán quyết có hiệu lực đối với các bên từ ngày được tuyên án. Phán quyết của Tòa được công bố công khai với sự có mặt của tất cả các Thẩm phán tham gia bỏ phiếu. Trường hợp vắng mặt do lý do bất khả kháng phải có đủ 11 Thẩm phán thì việc tuyên án mới được tiến hành. Các phán quyết của Tòa án có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các bên (Khoản 2 Điều 33 Quy chế Tòa án). Nếu các bên có bất đồng trong việc giải thích các phán quyết mang tính bắt buộc của Tòa có thể yêu cầu Tòa án giải thích (Khoản 1, 2 Điều 126 Nội quy Tòa án). 2.1.4. Thực tiễn xét xử Từ khi thành lập đến nay, ITLOS đã xét xử rất nhiều các vụ án có ý nghĩa lớn trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia và đặc biệt là giữa các thể nhân và pháp nhân với nhau. Mặt khác, các phán quyết này cũng có ý nghĩa lớn trong việc tạo ra các tiền lệ mang tính định hướng cho các hành vi ứng xử của các quốc gia, thể nhân và pháp nhân khi xảy ra tranh chấp cũng như khi
  • 60. 53 giải quyết tranh chấp. Trong đó có 21 vụ tiêu biểu mà Tòa án đã giải quyết (Xem Phụ lục 1). Trong các vụ trên, một số vụ việc được Tòa án giải quyết triệt để và các bên nghiêm chỉnh thi hành. Tuy nhiên cũng có nhiều vụ việc các bên tiếp tục đưa ra các căn cứ mới làm thay đổi nội dung cũng như tính chất của vụ tranh chấp nên quá trình tố tụng diễn ra nhiều năm liền. Trong đó, vụ tranh chấp giữa Myanma và Bangladet là vụ tranh chấp điển hình nhất về tranh chấp lãnh thổ mà ITLOS đã thụ lý. Luận văn xin được đề cập sâu hơn về vụ tranh chấp này để nghiên cứu cụ thể hơn về thủ tục xét xử cũng như rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn vụ việc. 2.1.4.1. Bối cảnh lịch sử Bước đầu tiên về việc phân định đường biên giới giữa nhà nước Bangladesh hiện đại (được tách ra thành nhà nước độc lập từ Pakistan từ năm 1971) và nhà nước Myanmar xảy ra vào ngày 9/5/1966 với Hiệp ước ranh giới sông Naaf. Đến một chừng mực nào đó, hiệp ước này xác lập một đường biên giới chạy dọc theo đồng bằng sông Naaf, kết thúc ở cửa sông đổ vào vịnh Bengal. Từ năm 1974 đến năm 1986, một loạt 8 vòng đàm phán song phương đã được thu xếp để phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và ranh giới thềm lục địa. Tại vòng đàm phán thứ hai, ngày 23/11/1974, đại diện của mỗi bên đã ký Biên bản thỏa thuận giữa phái đoàn Bangladesh và Myanmar về việc phân định ranh giới biển giữa 2 nước (Biên bản thỏa thuận 1974). Tuyên bố đặc biệt này được gắn liền với (Biên bản thỏa thuận năm 1974) và minh họa một cách sinh động về đường ranh giới, mà theo một đường biên giới song song giữa bờ biển bang Rakhine và cách đều giữa bờ biển với đảo St. Martin thuộc Bangladesh. Ba mươi năm sau, việc tranh chấp tái xuất hiện. Tranh chấp này xuất hiện trở lại vì 2 nguyên nhân cơ bản: phát hiện mới về các mỏ khí hydrocacbon
  • 61. 54 (khí đốt) ở vịnh Bengal và sự gia tăng nhu cầu sử dụng khí đốt của cả 2 quốc gia. Giai đoạn thứ 2, trong 6 vòng đàm phán, từ năm 2008 đến 2010, mang đặc trưng của sự căng thẳng gia tăng. Vào tháng 04/2008, các bên cùng ký một thỏa thuận tương tự Biên bản thỏa thuận 1974. Biên bản thỏa thuận của Hội nghị được tổ chức giữa phái đoàn Bangladesh và phái đoàn Myanmar liên quan đến việc phân định ranh giới biển giữa hai nước vào tháng 04/2008. Tài liệu này, sau đó được gọi là Biên bản thỏa thuận 2008. Điểm nổi bật của Biên bản Thỏa thuận 2008 liên quan đến việc phân loại các đảo, phù hợp với điều 121 trong UNCLOS 1982 và tiếp tục tái khẳng định và làm rõ đường đề xuất trong Biên bản Thỏa thuận 1974, bằng cách chỉ định một loạt các điểm vĩ độ và theo chiều dọc cụ thể. Ngoài ra, nó đã được đề xuất rằng diện tích đất được gọi là đảo St Martin được coi là một hòn đảo, theo Điều 121 của UNCLOS 1982. Tuy nhiên, Đảo Oyster ngoài khơi bờ biển của Myanmar sẽ không được coi là một hòn đảo, bởi vì nó không thể ở được vì thiếu nước ngọt, và như vậy không thể duy trì được sự tồn tại của nền kinh tế và của vùng dân cư. Theo điều 121 của UNCLOS thì chỉ có những vùng lãnh thổ có khả năng duy trì sự sống của con người và nền kinh tế mới được có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngày 17/10/2008, 02 tàu Hải quân Myanmar hộ tống 04 tàu khảo sát tiến hành hoạt động thăm dò trong khu vực rộng 50 hải lý nằm ở phía tây nam của đảo St. Martin, nằm trong khu vực tranh chấp. Phía Bangladesh phản ứng bằng cách kêu gọi Myanmar ngừng các hoạt động thăm dò, cho đến khi việc phân định biên giới trên biển được xác định, đồng thời đe dọa sẽ sử dụng vũ lực bằng việc gửi tới khu vực tranh chấp 3 tàu Hải quân. Mặc dù tình trạng bế tắc kéo dài 01 tuần không dẫn tới xung đột trực tiếp, song dẫn đến việc Bangladesh hướng tới việc giải quyết tranh chấp theo phương thức bên thứ 3 Trọng tài theo quy định của Phụ lục VII UNCLOS trong tháng 10/2009. Không giống với các trường hợp giải quyết tại ITLOS, các quy định của Phụ
  • 62. 55 lục VII UNCLOS Tòa trọng tài gồm 5 thành viên. Hai thành viên do các bên tranh chấp lựa chọn. Ba thành viên còn lại được các bên tranh chấp thỏa thuận cử ra. Tuy nhiên, Myanmar lựa chọn không giải quyết tranh chấp theo quy định của Phụ lục VII, mà giải quyết thông qua ITLOS và đàm phán song phương đồng thời. Cả hai bên đều không đồng ý về 3 thành viên trọng tài được lựa chọn, nhưng những cuộc đàm phán song phương vẫn xảy ra sau đó. Tuy nhiên, Myanmar và Bangladesh quyết định theo đuổi một giải pháp thông qua ITLOS trong quá trình tố tụng dưới đây. 2.1.4.2. Thủ tục pháp lý và phán quyết của Tòa án Để có thể bắt đầu thủ tục tố tụng pháp lý theo ITLOS, cả hai nước đã đệ trình tuyên bố, theo Điều 287 khoản 1, UNCLOS, về sự chấp nhận thẩm quyền của ITLOS để giải quyết tranh chấp giữa Liên bang Myanmar và Cộng hòa Nhân dân Bangladesh liên quan đến việc phân định biên giới biển giữa hai nước trong vịnh Bengal. Trường hợp đó xác định chính xác quá trình phân giới chia làm ba bước trong 25 năm. Đầu tiên, đường cách đều được nêu ra dựa trên bất cứ điều kiện có liên quan và xét thấy phù hợp với Điều 15 UNCLOS. Trong khi bước thứ nhất là khách quan hơn, bước thứ hai đòi hỏi có tính đến mặt lõm của bờ biển hoặc duyên hải, đảo hiện diện, chiều dài bờ biển tương đối và "cân nhắc liên quan đến các nguồn lực kinh tế, thủy sản, an ninh và hàng hải". Bước thứ hai này xem xét các yếu tố liên quan trong việc điều chỉnh để đảm bảo một giải pháp công bằng. Cuối cùng, sự phân tích về tính mất cân đối được thực hiện nhằm tái khẳng định về giải pháp công bằng đó. Theo ITLOS vùng biển tranh chấp có diện tích 283.471 km2 . Đưa ra xem xét việc phân định lãnh hải cho thấy đề xuất tương ứng ban đầu (về lãnh hải) của Myanmar và Banglades. Rõ ràng, đề xuất phân định của Myanmar đã cố gắng bảo vệ các nguồn khí đốt tự nhiên ở phía Tây Nam đảo St. Martin thuộc Banglades nơi đã tiến hành hoạt động khoan thăm dò vào tháng 10/2008 và ngay sau đó đã xảy ra sự bất hòa với Banglades.
  • 63. 56 Hình 2.1: Vùng tranh chấp giữa Myanmar và Bangladesh (Nguồn Balaram, Ravi A (2012), Case Study: The Myanmar and Bangladesh Maritime Boundary Dispute in the Bay of Bengal and Its Implications for South China Sea Claims). Trong phiên điều trần tháng 9/2011, phái đoàn Banglades cho rằng từ điểm 01 đến điểm 7 đã trình ITLOS phù hợp với cả hai Biên bản thỏa thuận năm 1974 và 2008. Hơn nữa, phái đoàn Banglades đã chỉ ra những tài liệu minh
  • 64. 57 xác. Trong khi trên thực tế, Banglades thông qua Biên bản thỏa thuận năm 1974 có giá trị như một đường biên giới biển và dự thảo cho một hiệp ước với Myanmar năm 1974. Myanmar lại tuyên bố các bên ký kết Biên bản thỏa thuận 1974 và 2008 không có thẩm quyền phê chuẩn một ranh giới chung. Hơn nữa, đã bác bỏ việc ký kết hiệp ước với Banglades năm 1974. Thay vì nhìn nhận như những thỏa thuận có tính ràng buộc, Myanmar tuyên bố các Biên bản thỏa thuận năm 1974 và 2008 chỉ có giá trị như một ghi chép về các vấn đề đã được thỏa thuận, chứ không phải một giải pháp chính thức. Banglades đã đệ trình các bản khai có tuyên thệ của thủy thủ và hải quân Banglades như một bằng chứng về đường ranh giới không chính thức mà họ tin rằng đã tồn tại từ năm 1974. Thực tế là cả Myanmar và Banglades đã cùng nhau hành xử theo quy định về ranh giới trong Bản đồ đặc biệt 114 gắn kèm với Biên bản thỏa thuận 1974. ITLOS vẫn cho rằng Biên bản này không đáp ứng được yêu cầu của một (thỏa thuận ngầm) hoặc không chính thức bởi các bản khai được đệ trình phản ánh quan điểm của các ngư dân và sự thành kiến của các nhân viên hải quân Banglades. Phân tích về thỏa thuận ngầm hoặc không chính thức có tính lịch sử trong Điều 15 của UNCLOS cho thấy: Ở nơi mà bờ biển của 2 nước đối diện hoặc liền kề với nhau, cả 2 nước được cho quyền, và không có thỏa thuận đối lập của họ, để phân định lãnh hải vượt qua đường trung tuyến từ tất cả các điểm là cách đều từ điểm gần nhất của đường cơ sở tới bề rộng của các đường lãnh hải của mỗi quốc gia đã được đo. Điều khoản trên (Điều 15) không được áp dụng, tuy nhiên, việc quy định nơi đó là cần thiết vì lý do danh nghĩa lịch sử hoặc các trường hợp đặc biệt khác để phân định lãnh hải của hai nước mà không thể đưa ra một giải pháp hợp lý khác (UNCLOS 1982 Điều 15). Trong trường hợp không có thỏa thuận từ trước mà có tính ràng buộc pháp lý, Tòa án tiếp đó sẽ xem xét xem có “danh nghĩa lịch sử hoặc trường hợp đặc biệt khác” có liên quan đến trường hợp cụ thể này. Tuy nhiên,
  • 65. 58 Myanmar tuyên bố rằng đảo St. Martin là thuộc về trường hợp đặc biệt ở chỗ nó ở vị trí đối diện với bờ biển Myanmar và nằm trong giới hạn truyền thống 12 hải lý đường lãnh hải của Banglades. Vì vậy, Myanmar cho rằng đảo này không có lý do xác đáng để được xem xét đầy đủ để có một vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tương đối của nó. Điểm cốt yếu cho luận điểm của Banglades là đảo St. Martin, nằm cách Banglades 6 hải lý về phía Nam, có nền kinh tế đánh bắt cá bền vững, có 7000 dân cư và 1 ngành công nghiệp du lịch đem lại 360.000 lượt khách hàng năm [41]. Trong luận điểm này, Tòa án đã chọn lựa lập trường trung lập. Tòa án quyết định Đảo St. Martin có 12 hải lý lãnh hải, nhưng không cho phép nó có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Sau khi xem xét các danh nghĩa lịch sử cũng như các lý do đặc biệt, Tòa án ra phán quyết về phân định lãnh hải. Thêm vào đó, Tòa án cũng phán quyết vùng đặc quyền kinh tế sẽ kéo dài theo góc 215 độ (tương đối vuông góc với bờ biển Myanmar) và kéo dài 200 hải lý. Cuối cùng, Tòa án xem xét tuyên bố thềm lục địa vượt quá 200 hải lý. Myanmar đang tranh chấp mà Tòa án không có thẩm quyền để thực hiện bản án đã nêu. Tòa án nhắc đến các Điều 76 và 83 của UNCLOS, trong đó xác định một cách rõ ràng “thềm lục địa” và các điều khoản biểu thị riêng biệt được cho phép bên ngoài 200 hải lý. Hơn nữa hai nước lập luận rằng nước kia không được trao quyền lợi bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế, Tòa án duy trì góc 2150 kéo dài tự nhiên của đường ranh giới bên ngoài 200 hải lý. Cuối cùng, cả Myanmar và Banglades chấp nhận phán quyết của Tòa án và trở thành đối tác cùng thăm dò khai thác dầu mỏ và khí đốt. 2.2. Tòa Trọng tài 2.2.1. Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 Tòa Trọng tài là một trong các thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc theo UNCLOS 1982.
  • 66. 59 Theo quy định của UNCLOS 1982, trong trường hợp các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 là bên tranh chấp lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp khác nhau và không lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bắt buộc thì quốc gia thành viên UNCLOS 1982 “đương nhiên được coi là đã chấp nhận hình thức giải quyết bằng Tòa Trọng tài” (Khoản 3 và 5, Điều 287 UNCLOS 1982). Do đó, cũng tương tự như ITLOS, thẩm quyền của Tòa trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS 1982 là toàn diện. 2.2.1.1. Thẩm quyền của Tòa Trọng tài Khi tranh chấp xảy ra, các bên đã tiến hành các biện pháp ngoại giao như đàm phán, trung gian … nhưng không có kết quả thì có thể viện dẫn đến thủ tục Tòa Trọng tài. Theo quy định của UNCLOS 1982, các quốc gia thành viên có thể đưa tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng UNCLOS 1982 để giải quyết bằng Tòa Trọng tài trong các trường hợp: - Cả hai quốc gia thành viên UNCLOS 1982 đều tuyên bố lựa chọn Trọng tài là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp theo UNCLOS 1982 năm 1982. - Hai quốc gia thành viên UNCLOS 1982 thỏa thuận đưa vụ tranh chấp của mình giải quyết theo thủ tục Trọng tài thông qua Hiệp định và Thỏa thuận Trọng tài. - Cả hai quốc gia thành viên đều không tiến hành lực lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp theo Điều 287 UNCLOS 1982 hoặc thủ tục giải quyết tranh chấp mà hai bên lựa chọn là khác nhau. Tòa Trọng tài sẽ thi hành chức năng của mình theo đúng Quy chế và các điều khoản của UNCLOS 1982. Điều này cho phép Tòa trọng tài có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng và giải thích UNCLOS 1982. Như vậy có nghĩa là toàn bộ các quy định của UNCLOS
  • 67. 60 1982 sẽ được Tòa Trọng tài áp dụng, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại Chương XV của UNCLOS 1982 . 2.2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tòa Trọng tài Theo quy định tại Phụ lục VII của UNCLOS 1982 thì Tòa Trọng tài sẽ gồm có 5 thành viên, trong đó mỗi bên tranh chấp cử ra một thành viên trong số danh sách các Trọng tài viên được đăng ký với Tổng thư ký LHQ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Ba thành viên còn lại do các bên thỏa thuận cử ra trong danh sách các trọng tài nêu trên và ba thành viên này nhất thiết có quốc tịch khác nhau, không được làm việc cho bên nào trong vụ tranh chấp, không được cư ngụ thường xuyên trên lãnh thổ một trong các bên hữu quan và không phải là công dân của nước nào. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn 3 thành viên còn lại thì Tòa Trọng tài cũng như Chánh Tòa trọng tài thì Chánh án Tòa án ITLOS sẽ tiến hành lựa chọn các thành viên hoặc Chánh Tòa Trọng tài. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu chỉ định thành viên, Chánh án ITLOS cần tham vấn với các bên và tiến hành việc lựa chọn các thành viên này từ danh sách trọng tài. Trong quá trình soạn thảo các quy định giải quyết tranh chấp thì đây là một vấn đề gây tranh cãi. Có rất nhiều ý kiến yêu cầu quyền lựa chọn thành viên phải giao cho Tổng thư ký LHQ hay Chánh án Tòa án quốc tế… Tuy nhiên, cuối cùng các bên tham gia đàm phán đã thống nhất quyền chỉ định trọng tài do Chánh án ITLOS đảm nhiệm. Trường hợp Chánh án ITLOS không có khả năng lựa chọn hoặc là người mang quốc tịch của một bên tranh chấp, việc lựa chọn sẽ được quyết định bởi người có thâm niên cao nhất của ITLOS và người này cũng không được mang quốc tịch của một trong các bên tranh chấp (Điều 3 Phụ lục VII UNCLOS 1982).
  • 68. 61 Các bên cùng một phía cùng nhau cử một thành viên của Toà qua thoả thuận chung. Khi có nhiều bên đối lập nhau hay trong trường hợp không thống nhất về điểm liệu các bên có đứng vào cùng một phía không, thì mỗi bên trong số họ cử một thành viên của Toà. Số lượng thành viên của Toà do các bên cử riêng rẽ bao giờ cũng phải ít hơn một người so với số lượng các thành viên của Toà được các bên hữu quan cùng cử (Điều 3 Phụ lục VII UNCLOS 1982). 2.2.1.3. Thủ tục xét xử Thủ tục xét xử của Trọng tài theo UNCLOS 1982 cũng mang các đặc trưng chung của loại hình giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài. Theo đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, Tòa trọng tài sẽ tự quy định về trình tự, thủ tục của mình, bảo đảm rằng mỗi bên tranh chấp sẽ có đầy đủ cơ hội để trình bày ý kiến, chứng cứ cũng như tham gia vào quá trình tranh tụng tại Tòa Trọng tài (Điều 5 Phụ lục VII UNCLOS 1982). Các quyết định của Tòa trọng tài được thông qua bởi đa số đơn giản các thành viên của Tòa trọng tài, tức là chỉ cần 3/5 thành viên của Tòa trọng tài ủng hộ. Mặc dù quy chế Tòa trọng tài không quy định số lượng thành viên cần thiết để thông qua quyết định trọng tài. Song với việc quy định việc vắng mặt hoặc bỏ phiếu trắng của dưới một nửa số thành viên không cản trở Tòa Trọng tài ra quyết định, chỉ cần có 3 thành viên thì Tòa trọng tài vẫn có thể ra các phán quyết đối với vụ tranh chấp. Còn đối với các trường hợp, số phiếu của các bên ngang nhau thì lá phiếu của Chánh Tòa trọng tài sẽ mang tính quyết định. 2.2.1.4. Thực tiễn xét xử Tòa trọng tài đã xét xử khoảng 8 vụ tranh chấp (Xem Phụ lục 2) và trong đó có nhiều vụ Tòa trọng tài đã giải quyết xong cũng có những vụ vẫn còn đang giải quyết. Liên quan đến tranh chấp về lãnh thổ giữa các quốc gia có
  • 69. 62 nhiều vụ điển hình trong đó luận văn tập trung nghiên cứu ba vụ tranh chấp, đó là tranh chấp giữa Malaysia và Singapore, tranh chấp giữa Suriname và Guyana, tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc. Cụ thể như sau: Thứ nhất là vụ tranh chấp liên quan đến vấn đề lấn biển giữa Malaysia và Singapre ở khu vực eo biển Johor Ngày 4/7/2003, Malaysia đã thông báo cho Singapore về việc khởi kiện vụ tranh chấp giữa hai nước liên quan đến việc Singapore thực hiện việc lấn biển ở khu vực eo biển Johor. Đề xuất của Malaysia về việc giải quyết theo thủ tục Tòa trọng tài tranh chấp giữa hai nước dựa trên việc cả hai đều là thành viên của UNCLOS 1982, đều không tiến hành lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp theo Điều 287 cũng như không tuyên bố về việc loại bỏ áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc theo Điều 297, 298 của UNCLOS 1982. Theo Malaysia thì Singpore đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định của UNCLOS 1982 và theo luật quốc tế nói chung do việc đã khởi động dự án và thực hiện việc lấn biển mà không thông báo một cách đầy đủ và tham vấn đầy đủ với Malaysia về vấn đề này. Malaysia thông báo về việc giải quyết theo thủ tục trọng tài kèm với thông báo về việc áp dụng biện pháp tạm thời theo khoản 5 Điều 290 UNCLOS 1982 trong trường hợp chờ việc thiết lập Tòa Trọng tài để giải quyết tranh chấp. Malaysia và Singapore đều đề nghị Chánh án ITLOS lựa chọn 3 thành viên còn lại của Tòa Trọng tài và ngày 10/10/2003, Chánh án ITLOS đã thông báo về việc lựa chọn 03 thành viên của Tòa Trọng tài bao gồm cả Chủ tịch Tòa trọng tài. Ngày 8/10/2003, ITLOS đã ra phán quyết áp dụng một số biện pháp tạm thời, kể cả việc thiết lập nên một nhóm chuyên gia độc lập tiến hành việc nghiên cứu trong một năm về hoạt động lấn biển và đề xuất các biện pháp cần thiết để hạn chế các tác động tiêu cực của việc này.
  • 70. 63 Sau khi có phán quyết của ITLOS, cả Tòa trọng tài và nhóm chuyên gia độc lập đều được lập ra. Ngày 5/11/2004, nhóm chuyên gia độc lập đã đệ trình báo cáo của mình lên các bên tranh chấp và báo cáo này được nhóm chuyên gia trình bày ngày 22/12/2004, đánh dấu việc kết thúc hoạt động của nhóm chuyên gia. Trên cơ sở đó, ngày 26/4/2005, hai bên đã ký hiệp định đặc biệt giải quyết dứt điểm tranh chấp này và đề nghị Tòa trọng tài ra phán quyết cuối cùng về tranh chấp giữa các bên theo điều khoản của Hiệp định đặc biệt kể trên. Ngày 01/9/2005, Tòa trọng tài đã ra phán quyết cuối cùng về vụ tranh chấp và khẳng định lại thỏa thuận các bên đã đạt được trong Hiệp định đặc biệt trên. Thứ hai là vụ tranh chấp về yêu cầu bồi thƣờng của Guyana với Suriname phân định biên giới trên biển trong khu vực Corentyne Guyana và Suriname nằm trên bờ biển phía Đông bắc của lục địa Nam Mỹ và bờ biển của nước tiếp giáp. Guyana dành được độc lập từ Vương quốc Anh từ năm 1966. Suriname giành độc lập vào năm 1975 từ Hà Lan. Cả Guyana và Suriname đều là thành viên của UNCLOS 1982. Ngày 21/02/2004, Guyana đề nghị thành lập trọng tài để phân định biên giới biển với Suriname và các hành vi vi phạm bị cáo buộc là vi phạm pháp luật quốc tế của Suriname trong vùng biển tranh chấp theo Điều 286 và 287 UNCLOS 1982 và phù hợp với Phụ lục VII của UNCLOS 1982. Tòa Trọng tài được thành lập với 5 thành viên: Dolliver M. Nelson (Chủ tịch), Kamal Hossain, Thomas M. Franck, Ivan Shearer và Hans Smit. Ngày 20/05/2005, Suriname nộp phản đối sơ bộ về thẩm quyền của Tòa trọng tài. Tòa Trọng tài sẽ giải quyết phản đối sơ bộ về thẩm quyền và khả năng chấp nhận việc đó trong phán quyết cuối cùng của Tòa án. Sau đó, trong phán quyết của mình, Tòa án đã cho rằng mình có thẩm quyền để phân định ranh giới biển giữa các bên.
  • 71. 64 Suriname lập luận rằng việc phân định lãnh hải nên tiến hành theo góc phương vị N100 E từ điểm 1936/ điểm 61. Yêu cầu này chủ yếu dựa vào sự tồn tại của thỏa thuận giữa Hà Lan và Vương quốc Anh. Nhưng Guyana tranh luận rằng đường phân định nên thực hiện theo đường trung tuyến lịch sử cùng góc phương vị N340 E từ điểm 61 với một khoảng cách 12 hải lý đến một điểm giới hạn bên ngoài của lãnh hải. Theo Guyana không thể áp dụng Điều 15 của UNCLOS 1982 theo yêu sách của Suriname. Tòa án cũng tuyên bố tôn trọng pháp luật quốc tế với việc phân định lãnh hải đặt tính ưu việt của đường trung tuyến là đường phân định lãnh hải giữa hai quốc gia đối diện hay liền kề. Tòa án cũng sẽ xem xét các hoàn cảnh đặc biệt để điều chỉnh đường trung tuyến theo đúng quy định của pháp luật quốc tế. Trong quá trình phân định, Tòa án đã lấy đường N100 E theo yêu sách của Suriname để phân định giữa các bên từ điểm bắt đầu giới hạn 3 hải lý. Do đó vấn đề tiếp theo là đường 100 mở rộng từ trước đây chấp nhận giới hạn 3 hải lý đến giới hạn hiện tại là 12 hải lý. Theo Tòa án một phần mở rộng tự động của đường này sẽ nhanh chóng không còn liên quan đến hoàn cảnh đặc biệt để làm chuyển hướng việc phân định bằng đường trung tuyến. Tòa án kết luận rằng đường phân định của lãnh thổ biển phải được rút ra từ các điểm mà tại đó có đường 100 E cắt giới hạn 03 hải lý đến điểm mà các đường trung tuyến của Tòa phán quyết trong phán quyết này cắt giới hạn 12 hải lý.
  • 72. 65 Hình 2.2: Vùng tranh chấp biển giữa Guyana và Suriname (Nguồn: Dr. Yoshifumi Tanaka (2007), The Guyana/Suriname Arbitration: A
  • 73. 66 Commentary). Phán quyết của Tòa Trọng tài: - Phân định lãnh hải Suriname cho rằng việc phân định lãnh hải nên tiến hành cùng một góc phương vị của N100 E từ năm 1936 tại điểm 61. Khiếu nại này chủ yếu dựa vào sự tồn tại thỏa thuận thực tế giữa Hà Lan và Vương quốc Anh. Tuy nhiên, Guyana lại cho rằng đường phân định nên thực hiện theo một đường cách đều lịch sử cùng một góc phương vị của N 340 E từ điểm 61 cho đến một khoảng cách 12 hải lý đến một điểm giới hạn bên ngoài của lãnh hải. Áp dụng Điều 15 của UNCLOS 1982 về phân định lãnh hải đối với hai quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau thì áp dụng nguyên tắc đường trung tuyến. Tuy nhiên quy định này không được áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hay có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoặc định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia theo cách khác. Sau đó, Tòa Trọng tài xem xét trường hợp đặc biệt có thể yêu cầu điều chỉnh đường cách đều. Trong trường hợp này, Tòa Trọng tài phán quyết rằng hoàn cảnh đặc biệt có thể làm thay đổi cách phân định biển giữa hai nước. Trong quá trình phân định, Tòa án cho rằng đường yêu sách 100 của Suriname được thiết lập giữa các thành viên bắt đầu từ điểm giới hạn 3 hải lý. - Phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế Phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế giữa Guyana và Suriname được thực hiện theo Điều 74 và 83 của UNCLOS 1982. Tòa Trọng tài phán quyết rằng: Trong hai thập kỷ qua Tòa án quốc tế và Tòa trọng tài giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế đã nhận rõ được vai trò của các đường cách đều. Ngoài ra, Tòa Trọng tài cũng tuyên bố thêm rằng việc phân định biển giữa các quốc gia có bờ biển liền kề bằng phương pháp đường cách đều có thể ưu thế hơn cho một quốc gia. Do
  • 74. 67 đó, Tòa Trọng tài cho rằng các vụ việc của Tòa án Công lý quốc tế và Tòa trọng tài cũng như thực tiễn các nước đang trong quá trình phân định thì trường hợp cần thiết có thể sử dụng các lập luận bằng một đường cách đều tạm thời như đối với các trường hợp có liên quan đến vụ việc để đạt được giải pháp công bằng. Tòa Trọng tài sẽ thực hiện phương pháp này trong trường hợp hiện tại. Bằng cách tiếp cận đó thì phương pháp đường cách đều được áp dụng ở giai đoạn đầu của quá trình phân định và có tính đền các hoàn cảnh liên quan. Để vẽ một đường cách đều tạm thời, cần xác định một đường có liên quan đến các bờ biển của các nước. Tòa Trọng tài phán quyết rằng các bờ biển có liên quan của Guyana kéo dài từ lâu đài Devoshire hướng ra biển đến điểm “B”. Còn các bờ biển có liên quan của Suriname kéo dài từ điểm Bluff – các điểm trên bờ phía đông của sông Corentyne sử dụng trong năm 1936 như cửa sông đến một điểm trên dải dất dọc bờ sông Vissers. Vấn đề là có các hoàn cảnh liên quan có thể lý giải cho sự chệch hướng của đường trung tuyến tạm thời. Về mặt này, Tòa Trọng tài cho rằng bờ biển của các bên có liên quan đã không có bất kỳ sự lồi lõm nào và các bờ biển liên quan không đại diện cho một hoàn cảnh đặc biệt nào cho phép điều chỉnh đường cách đều tạm thời. Tòa cũng đưa ra phán quyết rằng việc thông lệ về việc khai thác dầu của các bên không thể đưa vào thành điều khoản trong hoàn trường hợp này. Tòa Trọng tài cho rằng không có sự biến dạng do địa lý ven biển nên không có hoàn cảnh đặc biệt làm cho đường cách đều trở nên không công bằng. Vì vậy, Tòa Trọng tài quyết định tỷ lệ cho các vùng liên quan là Guyana 51% và Suriname 49%. Vì vậy, đường cách đều mà bắt đầu từ điểm 3 sẽ trở thành đường phân định thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của hai bên. Ngoài việc phân định biển, Guyana còn yêu cầu Suriname phải bồi thường do có hành vi sử dụng vũ lực. Theo Guyana, Suriname đã sử dụng vũ
  • 75. 68 lực ngày 03/6/2000 để phản đối việc Guyana cấp giấy phép cho công ty CGX để thăm dò tài nguyên dầu. Tòa Trọng tài kết luận rằng hành động của Suriname tạo thành một mối đe dọa sử dụng vũ lực trong phạm vi của UNCLOS 1982, Hiến chương LHQ và của quốc tế nói chung. Tuy nhiên, Tòa Trọng tài bác bỏ yêu cầu bồi thường của Guyana vì những thiệt hại không thể chứng minh được. Thứ ba là vụ Philippines kiện Trung Quốc về việc giải thích và áp dụng sai UNCLOS 1982 Nước Cộng hòa Philippines tiến hành khởi kiện theo thủ tục trọng tài đối với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để phản đối yêu sách của Trung Quốc đối với các khu vực trên biển Đông và vùng đáy biển cách bờ biển gần nhất của Trung Quốc là 870 hải lý và là vùng biển cấu thành nên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philipines.  Quá trình tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc Mặc dù Trung Quốc đã trở thành thành viên của UNCLOS 1982 và bất chấp yêu cầu theo Điều 300 về việc các quốc gia thành viên phải thực hiện các nghĩa vụ của mình một cách thiện chí theo pháp Công ước, Trung Quốc đã yêu sách “chủ quyền” và “quyền chủ quyền” đối với vùng biển rộng lớn nằm trong “đường chín đoạn” bao phủ gần như toàn bộ Biển Đông. Cụ thể, Trung Quốc đã yêu sách “chủ quyền” và “quyền chủ quyền” với hơn 1,94 triệu km2 tức là 70% diện tích nước và vùng biển của Biển Đông. Trung Quốc đã chính thức đưa ra “đường chín đoạn” lần đầu trong Công hàm ngày 7/5/2009 gửi Tổng Thư kí LHQ. Theo bản đồ đó, Trung Quốc có chủ quyền đối với toàn bộ vùng nước, toàn bộ đáy biển và tất cả các cấu tạo trên biển trong “đường chín đoạn” này. Bằng việc yêu sách này, Trung Quốc đã mở rộng thẩm quyền: - Về phía Đông, ra tới khu vực cách bờ biển của hai đảo Luzon và
  • 76. 69 Palawan của Philippines 50 hải lý. - Về phía Đông Nam, đường này cách đảo Palawan 30 hải lý. Đường này chạy ngang và cách Palawan 30 hải lý và cắt vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philipines. Tại vùng nước được bao quanh bởi đường chín đoạn, Trung Quốc cản trở bất hợp pháp quyền tự do đi lại của Philippines trong chính vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và một phần thuộc biển cả. Cùng với đó, Trung Quốc cũng cản trở Philippines thực hiện các quyền đối với tài nguyên sinh vật, tài nguyên phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mở về phía Tây của đảo Luzon và phía Tây bắc của đảo Palawan. Tháng 6/2012, Trung Quốc đã đặt toàn bộ vùng biển trong “đường chín đoạn” dưới sự quản lý của tỉnh Hải Nam. Tỉnh Hải Nam đã thực hiện hành động phi pháp của mình với việc ban hành luật yêu cầu tàu thuyền nước ngoài khi ra vào trong khu vực biển này cần phải làm các thủ tục xin phép Trung Quốc, quy định về việc thanh tra, trục xuất và bắt giữ tàu thuyền không có giấy phép có hiệu lực vào ngày 01/01/2014. Trung Quốc tiến hành chiếm đóng một số cấu tạo chìm và một số cấu trúc đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philipines. Đối với các cấu tạo chìm như bãi Vành Khăn (Mischief), bãi Mc Kennam, bãi Gaven và bãi Xu – bi trong quần đảo Trường Sa, Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng các đảo nhân tạo trên các cấu trúc này. Các cấu tạo này không đáp ứng là đảo theo quy định của Điều 121 UNCLOS 1982. Chúng cao nhất cũng chỉ là bãi cạn nửa nổi nửa chìm cách rất xa lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Trung Quốc. Bởi chúng không nằm trên mặt biển tại mức thủy triều dâng cao, chúng là một phần của thềm lục địa của một quốc gia khác hoặc thuộc đấy biển quốc tế. Cụ thể: - Bãi Vành khăn/Mischief (Tên Trung Quốc là Meiji Hao, Philippines là
  • 77. 70 Panganiban) là một mỏm đá chìm và một phần của thềm lục địa của Philipines. Nó cách lãnh thổ của Trung Quốc khoảng 600 hải lý về phía Đông Nam. Từ năm 1995, Trung Quốc đã cho xây dựng các công trình và các cơ sở khác trên các giàn giáo và bệ xi măng tại bốn địa điểm khác nhau trên bãi này, bất chấp sự phản đối của Philippines. - Bãi McKennan (Tên Trung Quốc là Ximen Jiao, tên Philippines là Chigua) là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm. Bãi này cách đảo Palawan của Philippines là 180 hải lý về phía Tây. Cấu tạo chìm này cũng bị Trung Quốc xây dựng các công trình và các cơ sở khác trên các giàn giáo và bệ xi măng. - Bãi (đá) Gaven (Tên Trung Quốc là Nanxun Jiao) là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, cách phía Tây bắc của đảo Palawan 205 hải lý. - Bãi (đá) Xu – bi (Tên Trung Quốc là Zhubi Jao, tên Philippines là Zamora) là một bãi cạn nửa nổi nửa chìm, cách phía Tây Bắc đảo Palawan của Philippines 230 hải lý. Đối với các cấu trúc đảo thì từ năm 2012, Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát với 6 mỏm đá nhỏ nhô trên mặt biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philipines. Đồng thời Trung Quốc đã đưa ra yêu sách một cách bất hợp pháp đối với vùng biển rộng lớn xung quanh các cấu tạo này và ngăn Philippines đi lại và tiếp cận với nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật trong khu vực biển này. Sáu mỏm đá hay còn gọi là Bãi Hoàng Nham (Scarborough) nằm khoảng 120 hải lý về phía Tây đảo Luzon của Philipines. Các mỏm đá này là đá theo nghĩa thông thường theo định nghĩa của Điều 121 UNCLOS 1982. Không có đá nào nhô quá 3m trên mặt nước khi thủy triều lên và cũng không có đá nào rộng quá vài mét. Vì vậy, các đảo đá này không được hưởng vùng biển rộng hơn 12 hải lý. Trong khi đó, Trung Quốc ngoài yêu sách chủ quyền đối với bãi Hoàng Nham như Philippines còn yêu sách chủ quyền đối với vùng biển rộng lớn hơn rất nhiều – vùng biển mở đến giới
  • 78. 71 hạn của đường chín đoạn – xấp xỉ tới 70 hải lý về phía Đông. Về phía Tây Nam của bãi Hoàng Nham của quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã chiếm giữ một số cấu trúc đảo tương tự - những cấu trúc này mặc dù nổi trên mặt nước khi thủy triều lên nhưng không có người ở và không có khả năng duy trì đời sống kinh tế trong điều kiện tự nhiên. Các cấu tạo này do đó cũng là “đá” theo định nghĩa của Điều 121(3) của UNCLOS 1982: Cụ thể [10, 48]: Đá Gạc Ma/ Johnson nằm khoảng từ 90 42’ Bắc – 1140 22’ Đông và cách phía Tây bắc đảo Palawan 180 hải lý. Đá Châu Viên/ Cuarteron nằm khoảng 80 51’ – 1120 50’ Đông và cách Tây đảo Palawan khoảng 245 hải lý. Đá Chữ Thập/ Fiery nằm khoảng 90 33 bắc – 1120 54’, cách phía Tây đảo Palawan 255 khoảng hải lý. Mặc dù tất cả các cấu trúc đảo trên đều là “đá” theo định nghĩa của khoản 3 Điều 121 của UNCLOS 1982, nhưng Trung Quốc vẫn yêu sách một cách phi pháp những vùng biển vượt ra ngoài vùng nước và đáy biển rộng 12 hải lý xung quanh các cấu trúc này và ngăn cản Philippines và các quốc gia khác tiếp cận với các vùng biển trên.  Các yêu cầu của Philippines trong Thông báo và tuyên bố khởi kiện ngày 22/01/2013 Để chống lại yêu sách phi lý của Trung Quốc, Philippines đã đệ trình lên Tòa Trọng tài theo phụ lục VII UNCLOS 1982 Thông báo và Tuyên bố Khởi kiện Trung Quốc của Philippines. Thông báo này có 43 điểm, trong đó từ điểm 1 đến 11, điểm 31, điểm 41thể hiện đậm đặc nhất nội dung của đơn khởi kiện của Philippines. Các yêu sách của Philippines được cụ thể hóa bằng 13 yêu cầu trong điểm 41 của đơn kiện [13]: Thứ nhất tuyên bố quyền của Philippines cũng như quyền của Trung Quốc
  • 79. 72 đối với các vùng biển tại Biển Đông là quyền được thiết lập các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo UNCLOS 1982. Có nghĩa là Trung Quốc và Philippines chỉ có quyền đối với lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình theo quy định của UNCLOS 1982; Thứ hai tuyên bố về yêu sách biển của Trung Quốc tại Biển Đông với “đường lưỡi bò” là vô giá trị; Thứ ba yêu cầu Trung Quốc sửa đổi nội luật cho phù hợp với các nghĩa vụ của mình theo UNCLOS; Thứ tƣ, tuyên bố bãi Vành Khăn, Mc Kennam là các cấu tạo ngầm thuộc thềm lục địa của Philippines theo phần VI của Công ước và Trung Quốc chiếm đóng cũng như xây dựng trên các cấu tạo này là vi phạm quyền chủ quyền của Philipines; Thứ năm, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc chiếm đống và chấm dứt các hành vi trên bãi Vành Khăn và McKennam; Thứ sáu, tuyên bố bãi Gaven và Xubi là những cấu tạo ngầm trên Biển Đông và không nằm trên mực nước biển khi thủy triều lên cao nên không phải là đảo theo Công ước cũng như không nằm trên thềm lục địa của Trung Quốc và việc Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng trên các cấu tạo này là bất hợp pháp; Thứ bảy, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc chiếm đóng và các hành vi trên bãi Gaven và Xu-bi; Thứ tám, tuyên bố trừ một số mỏm nhô lên trên mặt nước khi thủy triều lên cao là các đá theo khoản 3 Điều 121 của Công ước và do vậy chỉ có lãnh hải không quá 12 hải lý, bãi Hoàng Nham, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập là cấu tạo ngầm nằm dưới mực nước biển khi thủy triều lên cao và Trung Quốc đã đưa ra yêu sách bất hợp pháp về vùng biển vượt ra ngoài 12 hải lý từ
  • 80. 73 những cấu tạo này; Thứ chín, yêu cầu Trung Quốc không được ngăn cản tàu thuyền của Philippines tiến hành khai thác một cách bền vững tài nguyên sinh vật tại những vùng nước liền kề bãi Hoàng Nham và Gạc Ma cũng như không được tiến hành những hành vi không phù hợp với Công ước tại hoặc trong khu vực gần các cấu tạo này; Thứ mƣời, tuyên bố theo UNCLOS, Philippines được hưởng từ đường cơ sở quần đảo của mình lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa theo Phần II, V, VI của UNCLOS; Mƣời một, Trung Quốc đã đòi hỏi một cách bất hợp pháp và đã khai thác trái phép các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines và đã ngăn cản việc Philippines tiến hành khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình; Mƣời hai, Tuyên bố Trung Quốc đã can thiệp một cách phi pháp vào việc Philippines thực hiện các quyền hàng hải và các quyền khác của mình theo Công ước tại những vùng bên trong và bên ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở quần đảo của Philipines; Mƣời ba, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các hành vi bất hợp pháp nói trên. Philippines đã tiến hành các cuộc trao đổi quan điểm theo đúng thủ tục trong nội dung Công ước và xét thấy Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII có thẩm quyền xét xử vụ việc giữa Philippines và Trung Quốc.  Tiến trình vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc Thông cáo báo chí vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc ban hành ngày 11/07/2013, khái quát tiến trình vụ kiện như sau: Ngày 22/01/2013, Philippines đệ đơn kiện lên Tòa Trọng tài theo Phụ lục
  • 81. 74 VII UNCLOS 1982 khởi kiện Trung Quốc liên quan đến “quyền tài phán trên biển của Philippines tại khu vực biển Tây Philipines”. Trong đơn kiện, Philippines đã chỉ định thẩm phán Rudiger Wolfrum là thành viên của Tòa Trọng tài đại diện cho quyền lợi của quốc gia mình. Sau khi thiết lập thủ tục này, Philippines gửi Thông báo tới Trung Quốc. Trung Quốc có 30 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo để chỉ định một trọng tài viên để đại diện quyền lợi cho quốc gia mình. Ngày 19/02/2013, trước thời khi thời hạn 30 ngày kết thúc, Trung Quốc thông báo nước này từ chối và gửi trả lại thông báo cho Philippines và không tham gia phiên tòa cũng không chấp nhận phán quyết của Tòa do Philippines khởi xướng. Bất chấp việc phản đối của Trung Quốc tiến trình của Toà Trọng tài cho vụ kiện của Philipines vẫn diễn ra theo đúng trình tự được quy định trong UNCLOS 1982. Ngày 25/03/2013, Chủ tịch Tòa án LHQ về Luật biển đã bổ nhiệm Thẩm phán Stanislaw Pawlak người Ba Lan đại diện cho Trung Quốc tham gia vụ án, sau khi Trung Quốc không cử đại diện trong vòng 60 ngày theo quy định của UNCLOS 1982. Ngày 21/6/2013, Hội đồng trọng tài được thành lập bao gồm 5 thành viên: Chủ tịch Trọng tài – ông Thomas A. Mansah, người Gana; Trọng tài viên do Philippines lựa chọn – ông Rudiger Wolfrum; Ông Jean – Pierre Cot người Pháp; Ông Alfed Soons, người Hà Lan và ông Stanislaw Pawlak, người Ba Lan. Ngày 11/7/2013, Tòa Trọng tài đã có phiên họp đầu tiên bàn về tiến trình xét xử vụ kiện ở Hà Lan. Tại phiên họp này, Tòa Trọng tài đã đưa ra Trình tự thủ tục (Procedural Order) đầu tiên và lịch trình dự kiến cho công việc của Trọng tài và thông qua các Nguyên tắc tố tụng (Rules of Procedure). Tòa Trọng tài đã quyết định PCA đứng ra là cơ quan đăng ký trong quá trình tố tụng (Theo Thông cáo báo chí về việc Philippines kiện Trung Quốc ra trước
  • 82. 75 Tòa Trọng tài). Trong trình tự tố tụng đầu tiên, Tòa Trọng tài đã chính thức thông qua các nguyên tắc tố tụng và lấy ngày 30/03/2014 là ngày Philippines phải đệ trình Báo cáo và bằng chứng về vụ kiện. Sau đó Tòa sẽ quyết định các bước tiếp theo của quá trình tố tụng, bao gồm việc xem xét tính cần thiết và sắp xếp chương trình thực hiện báo cáo và điều trần vào thời gian thích hợp, sau đó tìm hiểu quan điểm của hai bên. Ngày 28/02/2014, trưởng nhóm luật gia của Philippines đã đích danh kêu gọi Việt Nam và Malaysia cùng với một số nước tranh chấp khác góp sức cùng với Philippines trong vụ kiện đòi chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc tại Biển Đông [4]. Sự góp mặt của Việt Nam và Malaysia cùng với Philippines trong vụ kiện đường lưỡi bò của Trung Quốc sẽ thực sự “hữu ích” theo lời của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao của Philipines. Hiện nay, việc có quyết định cùng tiến bước với Philippines đòi lại chủ quyền của Biển Đông hay không còn do sự cân nhắc lợi ích quốc gia của lãnh đạo các nước. 2.2.2. Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII UNCLOS 1982 2.2.2.1. Thẩm quyền của Trọng tài đặc biệt Theo Điều 1 Phụ lục VIII UNCLOS 1982, Tòa trọng tài đặc biệt chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS 1982 trong các lĩnh vực sau: Đánh bắt hải sản; Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; Nghiên cứu khoa học biển và hàng hải, kể cả ô nhiễm do nhận chìm. Cũng như đối với các trường hợp của Tòa Trọng tài, các bên tranh chấp có thể sử dụng hình thức Tòa trọng tài đặc biệt để giải quyết các tranh chấp phát sinh có liên quan đến UNCLOS 1982. Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa trọng tài đặc biệt chỉ giới hạn trong các lĩnh vực chuyên ngành như đã nêu. Đây là những tranh chấp đặc thù nên cũng đòi hỏi phải có cơ chế giải quyết
  • 83. 76 đặc thù. 2.2.2.2. Cơ cấu của Tòa Trọng tài đặc biệt Do đây là những tranh chấp liên quan đến các lĩnh vực chuyên sâu nên những người lựa chọn giải quyết tranh chấp phải là người am tường và có chuyên môn cao về các lĩnh vực này. Tiêu chuẩn chọn thành viên của Tòa Trọng tài đặc biệt khác với Tòa trọng tài nêu trên. Ở đây, những người được đề cử là các chuyên gia mà không phải là các trọng tài viên và những người này phải là người có năng lực và thừa nhận chung về pháp lý, khoa học hay kỹ thuật trong các lĩnh vực nói trên. Cũng khác với Tòa Trọng tài, danh sách các chuyên gia do các nước chỉ định không phải do Tổng thư ký LHQ lập và nắm giữ mà do các cơ quan chuyên môn trong các lĩnh vực lập và duy trì. Theo quy định của UNCLOS 1982, tổ chức Nông lương của LHQ (FAO) lập và duy trì danh sách chuyên gia trong lĩnh vực đánh bắt hải sản; Chương trình môi trường của LHQ (UNEP) lập và duy trì danh sách chuyên gia trong lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; Tổ chức Hải dương học quốc tế (IOC) lập và duy trì danh sách chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển; và Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) lập và duy trì danh sách chuyên gia trong lĩnh vực hàng hải, kể cả ô nhiễm do tàu thuyền (Điều 2, khoản 2 Quy chế Tòa trọng tài đặc biệt). Mỗi bên tranh chấp có quyền lựa chọn hai thành viên Tòa Trọng tài đặc biệt và một trong hai người này có thể là công dân nước mình và hai bên tiến hành thỏa thuận cử ra Chánh Tòa Trọng tài đặc biệt. Trong trường hợp các bên không thể lựa chọn được chuyên gia hay Chánh Tòa trọng tài đặc biệt thì Tổng thư ký LHQ sẽ là người tiến hành việc lựa chọn này. 2.2.2.3. Thủ tục xét xử của Tòa trọng tài đặc biệt Về thủ tục ra quyết định, hiệu lực và vấn đề án phí của Tòa Trọng tài đặc biệt là giống với quy định của Tòa Trọng tài. Ngoài ra, Tòa Trọng tài đặc biệt
  • 84. 77 còn một thủ tục đó là thủ tục điều tra và xác minh nguyên nhân dẫn đến tranh chấp. Chức năng tìm hiểu sự thật này hoàn toàn khác chức năng khác của Tòa Trọng tài đặc biệt và việc điều tra này của Tòa án được coi là các chứng cứ được xác minh giữa các bên (Điều 5 Phụ lục VIII UNCLOS 1982). Hơn nữa, Tòa Trọng tài đặc biệt còn có chức năng đưa ra các khuyến nghị ràng buộc làm cơ sở để các bên xem xét nguyên nhân làm nảy sinh tranh chấp. 2.2.2.4. Thực tiễn xét xử UNCLOS 1982 đã dự trù ra hình thức giải quyết bằng trọng tài đặc biệt cho các tranh chấp có tính đặc thù như đánh bắt hải sản, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, hàng hải kể cả nạn ô nhiễm môi trường do tàu hay do nhấn chìm gây ra để các chủ thể có thể lựa chọn. Tuy nhiên, kể từ khi UNCLOS 1982 có hiệu lực đến giờ thì vẫn chưa có quốc gia nào, pháp nhân, thể nhân nào sử dụng cơ chế trọng tài đặc biệt để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ.
  • 85. 78 Chƣơng 3: NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ THEO PHỤ LỤC VI, PHỤ LỤC VII, PHỤ LỤC VIII CỦA CÔNG ƢỚC LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 3.1. Thời cơ, thách thức khi Việt Nam để sử dụng cơ quan tài phán quốc tế để bảo vệ chủ quyền trên biển Đông 3.1.1. Thời cơ 3.1.1.1. Chủ quyền Việt Nam trên biển Đông phù hợp với UNCLOS 1982, bảo đảm công bằng trong Tuyên bố ứng xử Biển Đông và các Hiệp định phân định biển Hình 3.1 Sơ đồ các vùng biển Việt Nam (Nguồn:http://www.quocphonganninh.edu.vn/)
  • 86. 79 Thứ nhất, về nội thủy, theo tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày 12/5/1977, nội thủy nước CHXHCN Việt Nam bao gồm: - Vùng biển nằm phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển ven bờ lục địa Việt Nam, bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm kẹp giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở. - Vùng biển nằm ở phía trong đường cơ sở của các đảo, quần đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. - Vùng nước lịch sử của Việt Nam trong Vịnh Thái Lan (Xác lập theo Hiệp định vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia ngày 7/7/1982). Và sau này khi Luật biển Việt Nam ra đời năm 2012 cũng quy định rất cụ thể: “Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”. Nhà nước Việt Nam cũng khẳng định rất rõ ràng về chế độ pháp lý của nội thủy: “Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền”. Như vậy, nội thủy Việt Nam được xác định, phân định hoàn toàn phù hợp với quy định trong UNCLOS 1982. Đây là vùng được xem như lãnh thổ đất liền mà Việt Nam thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ. Thứ hai, về lãnh hải, Việt Nam có rất nhiều quy định cụ thể khẳng định về chiều rộng lãnh hải. Cụ thể, trong Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam quy định: “Lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài của đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra”.
  • 87. 80 Tương tự điều này cũng được quy định trong Luật biên giới quốc gia năm 2003 và được cụ thể hóa trong Điều 11 của Luật biển Việt Nam năm 2012: “Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở”. Lãnh hải ven bờ lục địa được tính từ hệ thống đường cơ sở thẳng đã công bố trong Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về đường cơ sở thẳng được dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982. Nhưng hệ thống này vẫn còn có hai điểm để ngỏ ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Hệ thống đường cơ sở của Việt Nam gồm 11 điểm có tọa độ xác định và để ngỏ hai điểm: điểm 0 nằm trên giao điểm giữa đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu (Việt Nam) và đảo Poulowai (Campuchia) và đường phân định biên giới giữa hai bên trong vùng nước lịch sử; và điểm kết thúc ở cửa Vịnh Bắc Bộ là giao điểm của đường cửa vịnh với đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ. Theo quy định tại Luật biên giới quốc gia năm 2003 thì đường cơ sở để xác định chiều rộng lãnh hải của Việt Nam là: “Đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam xác định công bố”. Ta có thể thấy, Việt Nam đã xác định đường cơ sở trên cơ sở kết hợp cả phương pháp xác định đường cơ sở thẳng và đường cơ sở thông thường theo quy định tại Điều 5 UNCLOS 1982. Đường cơ sở của Việt Nam đã tuân thủ theo các quy định về đường cơ sở của UNCLOS 1982 cũng như các Hiệp định về phân định biển với các quốc gia láng giềng. Thứ ba, về vùng tiếp giáp lãnh hải, trong tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 1977 có quy định: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam và có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. Và điều đó tiếp tục được khẳng định trong Luật Biển Việt Nam: “Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12
  • 88. 81 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải”. Nhà nước Việt Nam cũng thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình trên vùng biển này. Nhà nước thực hiện việc kiểm soát cần thiết với vùng biển rộng 12 hải lý tiếp liền lãnh hải nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, và nhằm bảo đảm sự tuân thủ và tôn trọng các quy định về y tế, di cư và nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam. Các quy định trên về cơ bản là hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982, có mở rộng thêm về phạm vi kiểm soát cả với tàu thuyền nước ngoài nhằm ngăn chặn và trừng trị vi phạm về an ninh và di cư trên đất liền hay trong lãnh hải Việt Nam. Thứ tƣ, về vùng đặc quyền kinh tế, trong các văn bản trước đây và cụ thể là trong Luật biển Việt Nam năm 2012 quy định tại Điều 15: “Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở”. Tại vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước Việt nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; có thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động phục vụ cho việc thăm dò và khai thác nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học biển, thiết lập và lắp đặt, sử dụng các công trình, đảo nhân tạo trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cũng như có thẩm quyền riêng biệt về việc bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm môi trường biển. Thứ năm, về thềm lục địa Theo Luật biên giới quốc gia năm 2003 quy đinh: “Thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa mà Việt Nam là quốc
  • 89. 82 gia ven bờ có chủ quyền, quyền tài phán được xác định theo UNCLOS 1982, trừ trường hợp Điều ước quốc tế giữa nước CHXHCN Việt Nam với các nước hữu quan có quy định khác”. Vẫn với tinh thần đó, Luật biển Việt Nam năm 2012 tiếp tục khẳng định: “Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa”. Theo cấu trúc tự nhiên, thềm lục địa Việt Nam bao gồm bốn phần: thềm lục địa Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa khu vực miền Trung, thềm lục địa khu vực phía Nam, thềm lục địa khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam. Như vậy, thềm lục địa Việt Nam cũng được mở rộng ra 200 hải lý tính từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải. Các quy định của Chính phủ Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy định của UNCLOS 1982 nói chung và tinh thần của các quốc gia trên Biển Đông nói chung. 3.1.1.2. Sự hợp tác, thiện chí của các nƣớc ASEAN trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông Asean là tổ chức của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay, Asean gồm có 10 quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanma và Campuchia (theo Bách khoa toàn thư mở wikipedia). Các nước trong khu vực Đông Nam Á luôn tôn trọng và đề cao cở sở pháp lý quốc tế và xác lập chủ quyền cũng như nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế. Vì vậy mà các nước này đã có thái độ rõ ràng trong phân định biển và có những hành động dứt khoát trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Các
  • 90. 83 quốc gia ASEAN luôn có những phản ứng kịp thời trước những tuyên bố hay hành vi bất hợp pháp mà Trung Quốc cố tình thực hiện trên Biển Đông. Các nước cũng đề xuất quan điểm nâng vấn đề Biển Đông thành vấn đề giữa ASEAN và Trung Quốc cũng như hưởng ứng việc hòa bình giải quyết tranh chấp và áp dụng giải pháp tạm thời “cùng khai thác chung”. Bởi lẽ UNCLOS 1982 cũng có quy định về việc cùng khai thác như một giải pháp tạm thời trước khi tiến hành phân định biển. Hơn nữa, giữa các nước Đông Nam Á đã tồn tại thực tiễn áp dụng giải pháp cùng thăm dò tài nguyên trong thềm lục địa trong vùng chồng lấn rất có hiệu quả. Trước tình hình căng thẳng biển Đông ngày càng leo thang, các quốc gia Đông Nam Á và cộng đồng quốc tế luôn mong muốn các bên tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật quốc tế về biển, đặc biệt là UNCLOS 1982 và DOC, đồng thời phản đối mạnh mẽ và kiên quyết các hoạt động vi phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trên biển. Bên cạnh đó, cũng thúc đẩy các bên tranh chấp sớm đưa ra COC để những gì thống nhất được thực thi đầy đủ. ASEAN nỗ lực rất nhiều trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc. Cụ thể, năm 1992, ASEAN đã ra Tuyên bố về Biển Đông; đưa vấn đề Biển Đông vào nội dung ARF (diễn đàn an ninh khu vực), các nước không liên kết ASEM; tích cực tìm kiếm lập trường chung và tìm cách lôi kéo, ràng buộc Trung Quốc vào khuôn khổ thỏa thuận khu vực DOC (tháng 11/2002) và COC trong tương lai. ASEAN có lập trường chung là giải quyết tranh chấp về chủ quyền Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực Để đạt được mục tiêu hòa bình, thịnh vượng và an ninh Biển Đông, các ứng xử mềm mỏng, biết kiềm chế là tiêu chí quan trọng quyết định sự thành công của quá trình đàm phán, giải quyết tranh chấp. Vì vậy, các quốc gia trong khu vực luôn nêu cao tinh thần hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, và có thái độ ứng xử mềm mỏng nhưng kiên quyết trước hành động hết sức thâm
  • 91. 84 độc và tinh vi của Trung Quốc. 3.1.1.3. Philippines khởi kiện Trung Quốc ra trƣớc Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 Trước đường lưỡi bò phi lý và các hành động có vẻ ngông cuồng nhưng rất thâm độc và bài bản của Trung Quốc, Philippines đưa các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982. Đây là một thời cơ lớn đồng thời cũng là thách thức cho Việt Nam khi thực hiện việc chủ quyền của mình trên Biển Đông. Thứ nhất nói về thời cơ, có thể nói, việc Philippines tự mình đứng ra khởi kiện Trung Quốc như một “quả bộc phá” đập tan mưu đồ biến Biển Đông thành ao hồ của Trung Quốc. Với việc Trung Quốc bảo lưu theo Điều 289 UNCLOS 1982, các quốc gia dường như bế tắc trong việc đưa Trung Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế để dành lại công lý cho mình. Và có thể nói, đây là một thách thức lớn nhất trong việc sử dụng các cơ quan tài phán bảo vệ chủ quyền của mình trên biển Đông của các quốc gia hữu quan. Nhưng với sự kiên trì, sáng tạo và nỗ lực không ngừng, Philippines cùng với đội ngũ luật sư của mình đã tạo ra được “kì tích” khi đưa được Trung Quốc ra trước Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982. Vì vậy, các quốc gia hữu quan khác trong đó có Việt Nam có thể học tập Philippines để bảo vệ chủ quyền của mình tại Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982. Hơn nữa việc Philippines đưa các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông ra Tòa án Trọng tài quốc tế tạo cơ hội lớn cho các nước đang có tranh chấp với Trung Quốc. Cả Trung Quốc và Philippines đều phải giải thích rõ ràng trước Tòa án về việc giải thích và áp dụng UNCLOS 1982 về Luật Biển. Ngay cả như hiện nay, Trung Quốc phản đối không tham gia vụ kiện, một khi Tòa trọng tài giải quyết thì Philippines vẫn phải đưa ra các lập luận chứng minh yêu sách đường lưỡi bò là bất hợp pháp theo pháp luật quốc tế. Thêm
  • 92. 85 vào đó, Philippines cũng phải làm sáng tỏ quan điểm của mình về cách diễn giải khoản 3 Điều 121 về quy chế đảo áp dụng cho các đối tượng tranh chấp ở Trường Sa. Lợi ích nữa mà Viêt Nam sẽ đạt được chính là kinh nghiệm trong quá trình tiến hành tố tụng. Vụ kiện này sẽ kéo dài và quá trình tố tụng rất phức tạp và tốn kém. Chính vì thế vụ kiện này sẽ giúp Việt Nam chuẩn bị tốt hơn cho hồ sơ vụ kiện sau này, tìm hiểu lý lẽ của các bên tham gia để củng cố các lập luận và chứng cứ của mình. Đồng thời Việt Nam cũng có thời gian quan sát và tìm hiểu cách đối phó cho thích hợp, đặc biệt là mặt pháp lý của Tòa án. Bởi các vụ kiện có liên quan tới chủ quyền như thế tốn nhiều chi phí về mặt chuẩn bị hồ sơ, chọn Thẩm phán và cả những vận động phía sau hậu trường. Thứ hai là về thách thức, trong 13 nội dung Philippines yêu cầu Tòa Trọng tài tuyên bố trên có rất nhiều điểm làm tổn hại đến chủ quyền lịch sử của Việt Nam tại Trường Sa. Cụ thể [13]: Tại các điểm 4, 15, 16, 17, 31, 41: Bãi Vành Khăn và đá Kennan được giải thích là “những cấu tạo ngầm thuộc thềm lục địa của Philipines”. Đây là các đá thuộc cụm đảo Sinh Tồn và Bình Nguyên của quần đảo Hoàng Sa. Giải thích này đã bác bỏ chủ quyền của Việt Nam tại hai đá này. Tại các điểm 6, 8, 14, 22, 24, 28, 31, 41, về đá Gaven, Xu-bi, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập, Philippines cho rằng chúng nằm dưới mực nước biển khi thủy triều lên cao nên không phải là đảo và cũng ko nằm trên thềm lục địa của Trung Quốc. Đá GaVen, Chữ Thập thuộc cụm Nam Yết, đá Xu-bi thuộc cụm Thị Tứ, Gạc Ma thuộc cụm Sinh Tồn, Châu Viên thuộc cụm Trường Sa. Chúng không nằm trên thềm lục địa của Trung Quốc mà thuộc quần đảo có chủ quyền lịch sử của Việt Nam [26]. Các đá nêu trên nằm rải rác trong các cụm đảo, trở thành những bộ phận tạo thành một thể thống nhất của quần đảo Trường Sa, không thể tách rời chúng để quy vào thềm lục địa của
  • 93. 86 một quốc gia khác. Mà chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa là chủ quyền mang tính lịch sử. Các nhà nước Việt Nam đã xác lập phù hợp với tiêu chuẩn của nguyên tắc chiếm hữu thực sự và được cộng đồng quốc tế công nhận. Tại các điểm 10, 12, 14, 17, 20, 39, 41, Philippines yêu cầu Tòa Trọng tài tuyên bố là Philippines được hưởng 12 hải lý lãnh hải, 200 hải lý đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ đường cơ sở quần đảo. Nếu không có vùng chồng lần thì chắc chắn Philippines sẽ được hưởng vùng biển như trên. Nhưng thực tế, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines chồng lấn với lãnh hải 12 hải lý của các đảo, đá của Trường Sa. Nếu quần đảo Trường Sa mà có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa thì vùng chồng lấn còn rộng hơn nữa. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Philippines chống lại Trung Quốc nhưng vô tình đã xâm phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc đưa đến thời cơ và thách thức như vậy, Việt Nam cần lựa chọn các phương án để bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông: Thứ nhất là tự mình khởi kiện độc lập theo cách Philippines đang làm; thứ hai là đứng ngoài cuộc và thứ ba là tham gia vào vụ kiện cùng với Philippines? Do tình hình thế giới và khu vực có rất nhiều biến chuyển thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông nên Việt Nam cần cân nhắc kỹ lưỡng các sự lựa chọn để có thể đưa ra giải pháp thích hợp trong điều kiện của một quốc gia nhỏ, có biển và nằm sát cạnh “người khổng lồ” Trung Quốc: - Tự mình khởi kiện độc lập theo thủ tục Trọng tài: Về thuận lợi: Việt Nam có thể tự mình đưa đơn kiện và trình bày các lập luận, các lý lẽ của mình để bảo vệ không chỉ các vùng biển theo quy định của Công ước mà còn đối với cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mặc dù bị
  • 94. 87 vướng mắc theo sự bảo lưu theo Điều 289 UNCLOS của Trung Quốc nhưng Việt Nam vẫn có thể đưa vào đơn kiện các nội dung như tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Và việc Tòa án có chấp nhận các nội dung này hay không thì ít nhất Việt Nam cũng thể hiện được tiếng nói của mình trong việc đòi lại chủ quyền của mình tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì theo thực tiễn tố tụng quốc tế, nếu có tranh chấp lãnh thổ mà giữa các khiếu nại, yêu sách chính thức có một khoảng gián đoạn 50 năm hoặc nhiều hơn thì những đòi hỏi lãnh thổ trở nên vô hiệu [33]. Quần đảo Trường Sa đang là đối tượng tranh chấp của nhiều quốc gia trong khu vực. Quần đảo Hoàng Sa đã chính thức bị Trung Quốc chiếm đóng năm 1974. Hiện nay đã là 40 năm, kể từ ngày Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa của Việt Nam. Vì vậy, chúng ta chỉ còn thời gian là 10 năm để lên tiếng đòi lại Hoàng Sa của mình. Về khó khăn Vụ việc của Việt Nam khác so với các luận điểm của Philipines. Chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa được thiết lập theo nguyên tắc chiếm hữu thực sự, không dựa vào tính kế cận địa lý. Nếu chỉ đơn thuần giải thích theo quy định của UNCLOS 1982 sẽ làm giảm đi chủ quyền pháp lý của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Thêm nữa, khi tuyên bố bảo lưu theo Điều 298 UNCLOS 1982 nên Tòa Trọng tài sẽ không thụ lý để giải quyết vụ việc này. Hơn nữa, quần đảo Trường Sa không chỉ có Việt Nam và Trung Quốc yêu sách mà cả các quốc gia như Philipines, Malaysia, Brunei. Vì vậy, khi Việt Nam đơn phương khởi kiện là tách ra khỏi mối quan hệ với các quốc gia này, trở nên đối kháng với tất cả các bên trong tranh chấp. Vì vậy, muốn giải quyết tranh chấp ở quần đảo Trường Sa cần tăng cường mối quan hệ đoàn kết trong ASEAN và có những tính toán cần thiết, thận trọng trước khi đưa ra quyết định.
  • 95. 88 Vì vậy, xét tương quan giữa thuận lợi và khó khăn thì ở thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa thể tự đứng ra kiện Trung Quốc giống như Philippines đã làm. - Đứng ngoài vụ tranh chấp: Theo Điều 11 Phụ lục VII UNCLOS 1982, phán quyết chỉ có tính ràng buộc giữa các bên tham gia. Vì vậy, nếu Việt Nam không tham gia vào vụ kiện thì phán quyết của Tòa Trọng tài không có hiệu lực đối với Việt Nam. Việt Nam là quốc gia luôn luôn mạnh mẽ khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình tại quần đảo Trường Sa, lại không có động thái gì để bảo vệ chủ quyền đó khi bị xâm phạm. Theo nguyên tắc Estoppel thì một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Vụ kiện của Philippines kiện Trung Quốc có nhiều luận điểm Philippines yêu cầu nhưng vi phạm chủ quyền tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Nếu chúng ta im lặng, đứng ngoài thì quốc gia khác có thể dẫn chiếu nguyên tắc Estopped rằng sự im lặng của Việt Nam như một sự công nhận mặc nhiên đối với yêu sách và quan điểm về chủ quyền của Philipines. Vì vậy, trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, Việt Nam không thể khoanh tay đứng nhìn, thản nhiên coi như không phải chuyện của mình được. - Tham gia vào vụ kiện cùng với Philippines Trước lời kêu gọi đích danh của Philippines yêu cầu Việt Nam tham gia vào vụ kiện, Việt Nam nên cân nhắc kỹ trước hai sự lựa chọn nếu quyết định tham gia vụ kiện cùng với Philippines: tham gia với tư cách đồng nguyên đơn khởi kiện “yêu sách đường lưỡi bò” với Philippines hoặc tham gia với tư cách người thứ ba có liên quan trong vụ kiện Về thuận lợi nói chung khi Việt Nam tham gia vụ kiện cùng với Philippines: Tình hình thế giới và khu vực hiện nay tạo rất nhiều thuận lợi cho Việt Nam tham gia cùng với Philippines trong vụ kiện “đường lưỡi bò” của Trung
  • 96. 89 Quốc. Lập trường của Hoa Kỳ có nhiều thay đổi cụ thể như trước đây họ chỉ kêu gọi các bên ở Biển Đông giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo đảm hàng hải… Cụ thể hơn, Hoa Kỳ chỉ khẳng định có lợi ích ở Biển Đông và phản đối mọi hành động sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, có hành vi cưỡng chế làm thay đổi thực trạng Biển Đông… Hiện nay, các quan chức cao cấp Hoa Kỳ liên tục công khai nói rõ và nhắc lại việc phản đối tính chất bất hợp lý, bất hợp pháp của đường lưỡi bò. Mỹ còn có những hoạt động thực tế cam kết, tuyên bố của các quan chức cấp cao như Tham mưu trưởng hải quân Mỹ sẵn sàng hỗ trợ Philippines trong trường hợp xảy ra xung đột. Thêm nữa, trước đây, thái độ lập trường của Malaysia trong vấn đề Biển Đông thường chú trọng hợp tác song phương với Trung Quốc hơn là các vấn đề chủ quyền hay an ninh hàng hải. Nhưng hiện nay trước các hành động của Trung Quốc như hai lần kéo quân ra tập trận trái phép tại bãi James, sát bờ biển Malaysia trong vòng chưa đầy một năm đã khiến nước này có các động thái cụ thể hơn đối với Trung Quốc như Malaysia cùng với Philipines, Việt Nam thúc đẩy đàm phán COC, đã công bố kế hoạch xây dựng một căn cứ hải quân tại Bintulu ở Sarawak, thị trấn lớn, gần nhất với bãi ngầm James, thúc đẩy hợp tác quân sự với Hoa Kỳ…. Về khó khăn, như đã phân tích ở trên, khó khăn lớn nhất khi Việt Nam tham gia vụ kiện với Philippines chính là các yêu sách của Philippines được nêu trong đơn kiện có nhiều điểm xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam. Nếu Việt Nam không lên tiếng bảo vệ chủ quyền của mình thì các nước hữu quan có thể viện dẫn sự im lặng của Việt Nam theo nguyên tắc Estoppel để chống lại Việt Nam. Xét theo tình hình thực tế hiện nay, Việt Nam chưa hội đủ các điều kiện
  • 97. 90 để đứng độc lập khởi kiện Trung Quốc; nhưng Việt Nam cũng không thể im lặng đứng ngoài vụ tranh chấp được. Vì vậy, Việt Nam nên chăng cần cân nhắc lựa chọn thời điểm cùng tham gia vụ kiện với Philippines. Khi đã quyết định tham gia vụ kiện với Philippines, Việt Nam cần lựa chọn các phương án để có thể phát huy tốt nhất các điều kiện thuận lợi và hạn chế được các khó khăn đặt ra cho mình. Câu hỏi đặt ra liệu Việt Nam có thể tham gia với tư cách đồng nguyên đơn với Philippines được hay không? Quy tắc tố tụng ngày 27/8/2013 của Tòa Trọng tài không quy định cụ thể vấn đề này. Tuy nhiên theo định nghĩa thông thường, “đồng nguyên đơn” là những người cùng đưa đơn khởi kiện. Vì vậy, để trở thành đồng nguyên đơn với Philippines của Việt Nam đã không còn. Thông báo và tuyên bố khởi kiện của Philippines được đưa đến Tòa Trọng tài từ ngày 22/01/2013. Thêm nữa, đồng nguyên đơn phải là người có lợi ích tương đồng nhau trong một vụ kiện và họ phải cùng nhau soạn thảo cũng như là đưa ra các lập luận, các yêu sách về đề nghị ra trước Tòa án. Trong khi đó, Tuyên bố và thông báo khởi kiện của Philippines được thực hiện một cách độc lập không có sự tham gia của phía Việt Nam. Điểm nữa rất quan trọng là Thông báo và tuyên bố khởi kiện của Philippines lại làm phương hại đến chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Và cả trong trường hợp Việt Nam được Tòa Trọng tài cũng như Philippines chấp nhận tham gia cới tư cách đồng nguyên đơn thì Việt Nam coi như chấp thuận toàn bộ yêu sách trong Thông báo và tuyên bố khởi kiện của Philippines. Trường hợp này, Việt Nam lại rơi vào bẫy Estopped, tức là không lên tiếng khi chủ quyền quốc gia mình bị xâm phạm. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam khó có thể tham gia vào vụ kiện Philippines và Trung Quốc với tư cách đồng nguyên đơn được. Đối với phương án Việt Nam tham gia với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan thì cũng có một số vấn pháp lý và thực tế đặt ra. Theo đó, người có quyền và lợi ích liên quan là người không phải là người khởi kiện cũng
  • 98. 91 không phải là người bị kiện, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có liên quan đến quyền và lợi ích của họ. Vụ kiện Philippines và Trung Quốc, dù là trực tiếp hay gián tiếp đều có liên quan đến quyền và lợi ích của Việt Nam tại Biển Đông. Trước đây, trong các vụ việc của Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII chưa có tiền lệ bên thứ ba được quyền can thiệp vào vụ kiện. Theo Điều 5 Phụ lục VII UNCLOS 1982 quy định: “Trừ khi các bên có thoả thuận khác, Toà trọng tài tự quy định thủ tục của mình bằng cách cho mỗi bên có khả năng bảo vệ các quyền của mình và trình bày căn cứ của mình”. Vì vậy, sau khi Hội động Trọng tài được thành lập, Trọng tài chính là người tự quy định thủ tục giải quyết vụ việc cho mình (Điều 5 Phụ lục VII UNCLOS 1982) và Trọng tài sẽ quyết định việc có cho bên thứ ba can thiệp hay không. Theo khoản 2 Điều 1 Quy tắc tố tụng của Trọng tài được ban hành ngày 27/8/2013 có quy định: “Các vấn đề về thủ tục không được quy định cụ thể trong quy tắc tố tụng này hay phụ lục VII hay các quy định khác của Công ước mà các bên không có thỏa thuận thì sẽ do Tòa Trọng tài quyết định sau khi tham vấn ý kiến của các bên”. Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, Trung Quốc trả lại thông báo khởi kiện cho Philippines và tuyên bố không tham gia vụ kiện cũng không chấp nhận phán quyết của Tòa Trọng tài. Trong khi đó, Philippines đã có lời mời Việt Nam và một số nước hữu quan tham gia vụ kiện. Và Luâ ̣t sư trưởng của Philippines trong vụnày, Paul Reichler, thuộc công ty luâ ̣t Foley Hoag đă ̣t ở Washington DC, nói tòa trọng tài quốc tế có các điều khoản cho phép các nước khác xin tham gia [30]. Xét trên cơ sở thực tế, Tòa Trọng tài rất có thể đồng ý cho Việt Nam tham gia với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan do xét đến tính pháp lý lịch sử đa phương của đối tượng tranh chấp. Giải pháp này kết hợp cả tính ngoại giao, chính trị và pháp lý để Việt Nam có thể tránh được bẫy của nguyên tắc Estopped và đồng thời có thể chính thức đưa
  • 99. 92 ra các lập luận của mình bảo vệ chủ quyền tại Trường Sa của mình. Nếu Việt Nam tham gia vào vụ kiện Philippines và Trung Quốc với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan thì có nhiều thuận lợi: - Việt Nam có thể có cơ hội trình bày cụ thể, rõ ràng các lập luận, chứng cứ pháp lý, lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên một số các đảo, đá như Vành Khăn, Kennam, Xu bi… mà Philippines đã đánh đồng là của họ. Và trong quá trình vụ kiện, đối với bất cứ quốc gia nào có động thái vi phạm chủ quyền của ta ở Trường Sa, Việt Nam cần có thể lên tiếng phản đối để bảo đảm nguyên tắc trước sau như một. - Việt Nam tham gia vào vụ kiện giữa Philippines với Trung Quốc khẳng định được lập trường vững chắc của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông của mình, đồng thời củng cố mối quan hệ đoàn kết giữa các nước hữu quan trong mối quan hệ với Trung Quốc nhằm duy trì hòa bình ổn định và ngăn chặn các hành vi khiêu khích có thể dẫn đến xung đột ở Biển Đông. Từ các lập luận trên, theo ý kiến của tác giả, Việt Nam nên nộp đơn yêu cầu Tòa Trọng tài tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan để một mặt bảo vệ chủ quyền của mình và mặt khác cùng với Philippines “đập tan” yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc. Mặc dù, Việt Nam có mối quan hệ hữu nghị hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trong rất nhiều lĩnh vực, tuy nhiên chủ quyền quốc gia là vấn đề không thể mang ra đổi chác, mua bán. Với việc Việt Nam tham gia với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan trong vụ kiện chống lại Trung Quốc là bước đầu cho lời khẳng định với Trung Quốc cũng như dư luận thế giới về chủ quyền lịch sử lâu đời của Việt Nam ở Biển Đông. 3.1.2. Thách thức 3.1.2.1. Chủ quan Việc tranh chấp Biển Đông của Việt Nam vẫn kéo dài chưa có giải pháp
  • 100. 93 cuối cùng do rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Việt Nam đang tiếp tục xác lập và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển đảo và thực tiễn thực hiện chủ quyền trên biển của mình. Thứ nhất là cơ sở pháp lý chưa đầy đủ: Trước tiên về việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc xác lập lãnh thổ với Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy chúng ta đã có quy định về các điểm của đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải nhưng với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam vẫn chưa có văn kiện nào quy định cụ thể về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của các quần đảo này. Điều này khiến cho việc giải quyết tranh chấp của Việt Nam với các quốc gia trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa thêm phức tạp. Thứ ba là về tiềm lực kinh tế, quốc phòng Gần đây, Trung Quốc nổi lên như một quốc gia hùng mạnh về tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng và cùng với đó là tham vọng bành trướng Biển Đông mang tên “đường lưỡi bò”. Đây là đường chữ U đứt đoạn bao trùm gần như toàn bộ Biển Đông với những lý lẽ đây là vùng nước lịch sử của Trung Quốc. Trung Quốc muốn biến cả biển Đông trở thành ao hồ của mình. Từ sự kiện đó kéo theo rất nhiều tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước khác và với cả Việt Nam. Việt Nam là một nước nhỏ, nằm sát cạnh Trung Quốc là một cường quốc. Nước ta không có lực lượng quân sự hùng mạnh như Trung Quốc cũng không có có cơ sở khoa học kỹ thuật biển tiên tiến như nước bạn. Với tinh thần tôn trọng pháp luật quốc tế, Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Vì vậy, ta cần phải thực hiện chính sách đối ngoại mềm mỏng nhưng kiên quyết trong đấu tranh với Trung Quốc trên phương diện ngoại giao. 3.1.2.2. Khách quan  Các tranh chấp ở Biển Đông là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ quốc gia nên nó rất khó giải quyết. Kể từ khi tồn tại nhà nước, chủ quyền quốc gia
  • 101. 94 là vấn đề tối thượng, thiêng liêng và không thể thỏa hiệp giữa các quốc gia. Ngay cả khi những nước có tuyên bố chồng chéo về chủ quyền sẵn sàng bước vào đàm phán thì cũng sẽ phải mất nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ, mới đạt được một thỏa thuận thích hợp. Vì vậy, thực tế là không thể hy vọng vấn đề tranh chấp chủ quyền sẽ được giải quyết trong tương lai gần.  Sự thiếu tính đồng thuận trong nội bộ của ASEAN Như đã phân tích ở trên, các nước ASEAN rất đoàn kết, thiện chí, hợp tác trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông. Tuy nhiên, hiện nay, một mặt do các yêu sách ở Biển Đông giữa các quốc gia ASEAN còn chồng lấn, mặt khác sự đoàn kết của ASEAN đang bị đe dọa do sự lôi kéo của Trung Quốc bằng rất nhiều các chính sách khác nhau. Trung Quốc có thể thực hiện các hành động ngang ngược, vô lý của mình là bởi Trung Quốc hiểu không có sự đoàn kết tập thể trong ASEAN để đạt được và hình thành một mặt trận thống nhất nhằm chống lại sự thúc ép của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Hơn bất kể thời điểm nào khác, việc tranh chấp cũng đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với những đòi hỏi của ASEAN để có thể kiểm soát được những vấn đề khu vực quan trọng và sự hội nhập khu vực trong tương lai. Đây là thời điểm khó khăn đầu tiên trong việc đạt được sự đồng thuận, nó đã chứng minh cho việc khi mỗi nước đều muốn đi ngược lại lợi ích chung: ASEAN đã thất bại, trong quá khứ quan điểm mạnh mẽ về sự đồng thuận đã giải quyết được nhiều bất đồng, thậm chí kể cả cuộc xung đột diễn ra tại Đông Nam châu Á, như vụ việc của Đông Timo năm 1999 dựa trên sự tôn trọng quan điểm đồng thuận và không can thiệp công việc nội bộ của nhau - một tương phản mạnh mẽ với một vài tổ chức khu vực khác như Liên minh Châu Phi. Campuchia khi giữ chức chủ tịch ASEAN trong năm 2012, đã trở nên dựa dẫm nhiều hơn về đầu tư và viện trợ của Trung Quốc. Thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và Campuchia ước tính tăng gần gấp đôi từ nay đến năm
  • 102. 95 2017, ước tính đạt 5 tỷ USD [14], trong khi Trung Quốc trở thành viện trợ lớn nhất đối với nước này. Tương tự như vậy, Lào và Thái Lan nền kinh tế cũng phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Sự đoàn kết của ASEAN bị Trung Quốc phá vỡ tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN ở Phnom Penh tháng 6/2012. Khi Campuchia trong cương vị chủ tịch đã cản trở và thành công trong việc không đưa vấn đề Biển Đông vào Thông cáo chung ASEAN, một tuyên bố sẽ chỉ trích rất nhiều các quan điểm gây xung đột của Trung Quốc ở Biển Đông. Trung Quốc có thể sẽ theo đuổi chiến lược gây chia rẽ các nước ASEAN với cường độ lớn hơn khi nước này ngày càng phải chịu nhiều sức ép từ cộng đồng quốc tế về giải pháp giải quyết xung đột trong tranh chấp Biển Đông. Sự đoàn kết chung của ASEAN trước Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ sẽ tiếp tục là một huyền thoại không có thực vì một số nước ASEAN dễ bị Trung Quốc lôi kéo bằng những hứa hẹn đầu tư tài chính hấp dẫn. Một số quốc gia ASEAN không tranh chấp có quan điểm khác với các quốc gia tranh chấp trong việc đánh giá Trung Quốc và điều này sẽ làm tăng thêm sự mất đoàn kết của ASEAN và đem lại lợi thế cho Trung Quốc. ASEAN, một thể chế khu vực nổi bật ở Đông Nam Á, đứng trước nguy cơ tan vỡ nếu một số nước thành viên của tổ chức này gục ngã trước chiến lược chia rẽ của Trung Quốc.  Tuyên bố ngày 25 tháng 8 năm 2006 của Trung Quốc Ngày 25/8/2006, Trung Quốc đã đệ trình một báo cáo gửi lên LHQ tuyên bố bảo lưu theo Điều 298 UNCLOS 1982, cụ thể: “Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không chấp nhận bất kỳ thủ tục nào được quy định tại Mục 2 phần XV của UNCLOS 1982 này liên quan đến tất cả các tranh chấp được dẫn chiếu tại khoản 1(a) (b) và (c) của Điều 298 của UNCLOS 1982” [22]. Như vậy, Trung Quốc đã thực hiện quyền của mình và không tham gia
  • 103. 96 vào quy chế giải quyết tranh chấp bắt buộc và ràng buộc theo Mục 2 phần XV đối với các tranh chấp được dẫn chiếu tại Điều 289(1)(a)(b) và (c) của UNCLOS. Đầu tiên phải kể đến là các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các Điều 15, 74 và 83 về phân định biên giới trên biển. Các tranh chấp phát sinh từ các Điều 15, 74 và 83 của UNCLOS 1982 cũng sẽ bị loại trừ khỏi cả hình thức tham vấn không ràng buộc theo Phụ lục V của UNCLOS 1982. Tranh chấp về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa sẽ liên quan đến một tranh chấp có chủ quyền của một vùng lãnh thổ đảo có đất liền. Do đó, quy định của khoản này cũng được áp dụng và tranh chấp sẽ được loại trừ khỏi việc đệ trình tham vấn. Thứ hai, tuyên bố của Trung Quốc loại trừ các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS 1982 liên quan đến các vịnh và danh nghĩa lịch sử. Do đó, một tranh chấp về việc giải thích Điều 10(6) về vịnh lịch sử sẽ được loại trừ. Như vậy, một tranh chấp về việc liệu “danh nghĩa lịch sử” của một bên cần được xem xét đến trong việc phân định biên giới lãnh hải hay không cũng bị loại trừ. Thứ ba, tuyên bố của Trung Quốc loại trừ các tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự. Do đó, bất kỳ tranh chấp nào về việc Quốc gia có quyền thực hiện các hoạt động quân sự theo Điều 58 UNCLOS 1982 như thăm dò hay tập huấn ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc hay không cũng bị loại trừ khỏi hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS 1982. Bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến các hoạt động quân sự của Trung Quốc ở các vùng biển của Quốc gia khác cũng bị loại trừ. Thứ tƣ, tuyên bố của Trung Quốc cũng loại trừ các tranh chấp liên quan đến hoạt động cưỡng chế pháp luật đối với thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán khỏi thẩm quyền của Điều 297 (2) và (3). Như vậy, chỉ những hoạt động liên quan đến việc cưỡng chế các hoạt động đánh cá và nghiên cứu
  • 104. 97 khoa học biển là bị loại trừ khỏi hệ thống giải quyết tranh chấp bắt buộc. Thứ năm, tuyên bố trên còn loại trừ các tranh chấp mà Hội đồng Bảo an LHQ đang thực hiện chức năng được giao phó bởi Hiến chương của LHQ, trừ khi Hội đồng Bảo an quyết định loại bỏ vấn đề khỏi chương trình nghị sự của mình hoặc kêu gọi các bên giải quyết bằng các biện pháp được nêu ra trong UNCLOS 1982. Với tuyên bố trên, Trung Quốc nhất quán với chính sách không quốc tế hóa việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, mà thực hiện giải quyết song phương với các quốc gia có tranh chấp.  Tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông Mục tiêu của Trung Quốc là phấn đấu đến năm 2050 vươn lên trở thành siêu cường thế giới ngang hàng với Mỹ trên cơ sở “cải cách, mở cửa” và “trỗi dậy hòa bình”. Trung Quốc cho rằng thời gian từ nay đến năm 2020 là cơ hội tốt nhất cho Trung Quốc để phát triển. Vì vậy, xu thế chính trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong những năm tới là cố gắng giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài một cách hài hòa và tránh các biện pháp cực đoan, không đối đầu với Mỹ, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng, duy trì môi trường hòa bình, hòa dịu. Mặt khác sau một thời gian dài dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển kinh tế, Trung Quốc đã trở thành một nước lớn trên thế giới. Năm 2005, với tổng thu nhập quốc dân vượt 2.200 tỷ USD, Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới. Do kinh tế phát triển nhanh, nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng trong nước có hạn nên Trung Quốc đã trở thành “con rồng đói” về nguyên liệu và nhiên liệu. Từ năm 2003, Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Trung Quốc đã và đang vươn ra khắp thế giới để tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản và năng lượng để bảo đảm nhu cầu phát triển và an ninh năng lượng của mình, trong đó biển là nguồn cung cấp quan trọng. Đồng thời, để
  • 105. 98 có thể chuyên chở, nhập khẩu nguyên nhiên liệu và hàng hóa, Trung Quốc càng ngày càng coi trọng quyền tự do hàng hải và an toàn thương mại hàng hải. Với khoảng 70% lượng dầu khí nhập khẩu đi qua Biển Đông, Trung Quốc coi Biển Đông thực sự là “con đường sinh mệnh” của mình. Trung Quốc yêu sách đối với toàn bộ Hoàng Sa và vùng kế cận thuộc chủ quyền đương nhiên và không thể tranh cãi của Trung Quốc. Còn Trường Sa, Trung Quốc thừa nhận có tranh chấp và chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”. Sau một thời gian dài “im hơi lặng tiếng”, từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc bắt đầu hoạch định các chiến lược và tham gia vào tranh chấp Biển Đông, bước đầu là khu vực biển đảo phía Bắc, đến giữa thế kỷ hình thành yêu sách trên toàn bộ Biển Đông với hàng loạt các sự kiện: Năm 1946 vẽ yêu sách đường lưỡi bò (đến tháng 5/2009 thì chính thức đưa ra yêu sách này) đồng thời ra chiếm nhóm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình ở Trường Sa; năm 1956 chiếm giữ phần phía Đông của Hoàng Sa; 1958 chính thức tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; năm 1974 chiếm phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa; năm 1988 đánh chiếm một số điểm trên quần đảo Trường Sa, năm 1995 đánh chiếm thêm Vành Khăn, phía Nam quần đảo Trường Sa. Từ những năm 1995, Trung Quốc đã đưa ra chiến lược khai thác biển với mục tiêu biến Trung Quốc trở thành cường quốc thế giới về biển, có khả năng khống chế và kiểm soát đường biển, khai thác tài nguyên biển. Về khai thác tài nguyên biển, Trung Quốc chủ trương: “Khai thác biển xa trước, biển gần sau, biển có tranh chấp trước, biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc sau”; “ngoại giao đi trước hải quân đi sau”; phân hóa chia rẽ ASEAN, tranh thủ và hạn chế Mỹ, Nhật. Về phương thức hợp tác, Trung Quốc chủ trương lấy song phương là chính, đa phương khi Trung Quốc giữ vai trò chủ đạo. Hướng chính ra biển của Trung Quốc là Biển Đông nơi giàu tài nguyên thiên nhiên, các nước lớn không có căn cứ quân sự và các nước nhỏ liên quan đều yếu về
  • 106. 99 quân sự, quốc phòng [31]. Để thực hiện tham vọng của mình, Trung Quốc đã triển khai những bước đi cụ thể: Trung Quốc đã chính thức đưa yêu sách “đường lưỡi bò” vào tháng 5/2009 bằng cách đính kèm một bản đồ yêu sách này kèm theo công hàm gửi LHQ phản đối Báo cáo của Việt Nam và Báo cáo chung của Việt Nam – Malaysia về ranh giới thềm lục địa được vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, theo đó, đòi chủ quyền hai quần đảo “Tây Sa” (Hoàng Sa) và “Nam Sa” (Trường Sa) và vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai quần đảo này. Với Công hàm ngày 7/5/2009 kèm theo bản đồ "đường lưỡi bò", dường như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận tính chất lịch sử của "đường lưỡi bò" và mặc nhiên coi Biển Đông là vùng biển lịch sử của Trung Quốc [28]. Trung Quốc ngang nhiên cắt cáp các tàu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietNam) hoặc các tàu do công ty này thuê trên vùng thềm lục địa của Việt Nam. Vao giữ a nam 2011, tàu địa chấn Bình Minh 02 của PetroVietnam đang tién hanh khảo sát đia chan tai khu vưc các lo 125, 126, 148, 149 tren them luc đia mien Trung của Viet Nam thi bi ba tau hải giám của Trung Quoc cát cáp. Tiếp tục, ngày 26/05/2011 tai vung biẻn mien Trung chỉ cách mũi Đai Lãnh của tỉnh Phú Yen 120 hải lý mot tau tham do dau khí khác của Viet Nam thue vưa bi tau Tr ung Quóc phá hoai thiet bi . Hai tuan sau vu tau Binh Minh 02. Sau đó , sang tháng 6/2011, tau Viking 2, chuyên khảo sát địa chấn 3D của lien doanh CGG Veritas (Pháp) được Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC) thue lai bi tau Trung Q uóc cát cáp [17]. Sau đó, Trung Quốc không thực hiện các hoạt động này nhưng lại đưa ra các tuyên bố mời thầu trên vùng thềm lục địa của Việt Nam. Trong tháng 6/2012, Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc
  • 107. 100 (CNOOC) đã mời thầu các công ty năng lượng nước ngoài quyền thăm dò 9 lô dầu khí tại Biển Đông. Các lô dầu khí này nằm hoàn toàn trong vùng EEZ của Việt Nam và nằm chồng lấn với các lô dầu khí được mời thầu tới các tập đoàn năng lượng nước ngoài bởi PetroVietnam. Ngày 24/7/2012, Quốc vụ Viện Trung Quốc thành lập “thành phố Tam Sa” để cai quản toàn bộ các quần đảo và vùng biển có tranh chấp chủ quyền với nước láng giềng trên Biển Đông. Theo đó, phạm vi quản lý của Tam Sa bao trùm ba quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa có trụ sở tại đảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng) thuộc quần đảo Hoàng Sa [23]. Tháng 11/2013, tỉnh Hải Nam thông qua luật đánh bắt cá mới và có hiệu lực vào 01/01/2014. Theo luật đánh cá của Trung Quốc yêu cầu tất cả các tàu thuyền không được đánh bắt cá ở vùng biển này và phải khai váo với cơ quan chức năng của Trung Quốc khi vào Biển Đông [3]. Tóm lại, chủ trương nhất quán của Trung Quốc là từng bước tăng cường, mở rộng khả năng kiểm soát khống chế và tranh giành lợi ích tài nguyên Biển Đông, dùng vị thế ở biển Đông để răn đe các nước trong khu vực, phá thế bao vây, cô lập của Mỹ, Nhật. Trước tham vọng khổng lồ của Trung Quốc thì đây là trở ngại cơ bản cho nỗ lực giải quyết tranh chấp ở Biển Đông của các quốc gia liên quan và đồng thời cũng là nguồn gốc cho tình hình bất ổn trên Biển Đông. 3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ cơ cấu tổ chức và thực tiễn xét xử của cơ quan tài phán quốc tế 3.2.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế Ở chương II, luận văn đã tập chung nghiên cứu kỹ về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục tố tụng của ITLOS, Tòa trọng tài và Tòa Trọng tài đặc biệt. Bằng việc hiểu rõ về các cơ quan tài phán quốc tế này, giúp cho chúng ta có thể thuận lợi hơn trong việc sử dụng các cơ quan tài phán trong việc bảo vệ
  • 108. 101 chủ quyền của Việt Nam. 3.2.1.1. Cơ cấu của các cơ quan tài phán quốc tế về luật biển Qua việc hiểu rõ cơ cấu của các cơ quan tài phán quốc tế, Việt Nam có thể chủ động và có sự chuẩn bị cần thiết để sử dụng các cơ quan này nhằm thực hiện việc bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông. Thứ nhất đối với ITLOS, với ưu thế số lượng thành viên gồm 21 thẩm phán độc lập được tuyển chọn trong các nhân vật có uy tín nhất về công bằng và liêm khiết. Với số lượng thẩm phán đông hơn so với Tòa án công lý quốc tế (21 so với 15) các nước phát triển trong đó có Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia và nói tiếng nói hơn trong hoạt động của Tòa án. ITLOS hiện nay có 21 thành viên, trong đó có 19 thẩm phán, trong đó có 5 vị thuộc khu vực Châu Á đến từ các quốc gia: Nhật Bản (Chánh án), Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga và Ấn Độ. Từ khi thành lập đến nay, ITLOS vẫn chưa có thẩm phán nào là người Việt Nam. Trong khi đó, người láng giềng của chúng ta – Trung Quốc đã có 02 vị từng là thẩm phán của ITLOS, người đương nhiệm là ông Cao Chi Quốc – Giám đốc điều hành Viện Hàng hải thuộc Cục Quản lý Hải dương Nhà nước Trung Quốc. Vì vậy, chúng ta cần tập trung đào tạo nhân lực có đủ kinh nghiệm, chuyên môn, đức độ để có thể được bầu vào làm thẩm phán của Tòa Luật biển quốc tế. Bởi vì với việc có thẩm phán người Việt Nam cũng sẽ giúp cho chúng ta hiểu kỹ hơn các quy định và thực tiễn xét xử của Tòa; giúp chúng ta có sự chuẩn bị tốt nhất khi thực sự tiến hành việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại cơ quan tài phán này. Thứ hai đối với Tòa Trọng tài theo phụ lục VII và Tòa Trọng tài đặc biệt theo phụ lục VIII. Với cơ cấu rất linh hoạt, các tòa trọng tài cho phép các quốc gia được tự mình cử trọng tài đại diện cho quốc gia mình. Vì vậy, khi Việt Nam sử dụng các hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cần cân nhắc,
  • 109. 102 lựa chọn trọng tài viên có đủ năng lực, uy tín, tầm ảnh hưởng để đại diện cho quốc gia mình như Philippines đã lựa chọn Thẩm phán Rudiger Wolfrum - giáo sư về luật quốc tế tại Đại học Heidelberg, Viện trưởng Viện Max Planck ở Heidelberg. Ông là thẩm phán của ITLOS năm 1996 và làm chủ tịch của ITLOS 2005 – 2008. Bên cạnh đó, ngoài việc cân nhắc và lựa chọn trọng tài đại diện cho quốc gia mình, Việt Nam cũng cần thực hiện song song việc bồi dưỡng nhân tài và tìm kiếm chuyên gia quốc tế để tổ chức một nhóm tư vấn am hiểu ngoài pháp luật quốc tế còn phải am hiểu về lịch sử, địa lý và tình hình chính trị, pháp lý của Việt Nam. Cũng trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ra trước Tòa Trọng tài, trưởng nhóm tư vấn của Philippines là Luật sư Paul S. Reichler thuộc công ty luật Foley Hoag LLP. Chỉ tính trong năm 2012 vừa qua, Foley Hoag đã giúp khách hàng của mình giành thắng lợi trong các vụ kiện liên quan đến gianh giới biển trước ITLOS và Tòa Công lý quốc tế. Điển hình như vụ Bangladesh kiện Myanmar liên quan đến vịnh Bengal, trong đó Bangladesh đã giành được phần lớn khu vực biển trong vịnh Bengal và vùng thềm lục địa hơn 200 hải lý. 3.2.1.2. Thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế về luật biển Ở chương trước, Luận văn cũng nêu rõ, đối với cả ITLOS, Tòa Trọng tài và Tòa Trọng tài đặc biệt có thẩm quyền sẽ chỉ có thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp nếu các quốc gia tranh chấp cùng chấp nhận thẩm quyền của Tòa án hoặc Trọng tài bằng một trong ba hình thức: tuyên bố trước trong các điều ước quốc tế, chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án hoặc Trọng tài hay chấp nhận thẩm quyền của Tòa án hoặc trọng tài theo từng vụ việc. Đối với thẩm quyền về nội dung thì cả ITLOS và Tòa trọng tài đều có thẩm quyền giống nhau là xét xử bất kỳ các tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích và áp dụng công ước được đưa tới theo đúng thủ tục. Vì vậy, tùy từng mối quan hệ, từng tranh chấp mà Việt Nam có thể lựa chọn hình thức tài phán để bảo vệ
  • 110. 103 chủ quyền của mình. Hình thức giải quyết tại ITLOS hay Tòa trọng tài đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Trước tiên là về các ưu điểm của từng cơ quan tài phán quốc tế: Đối với ITLOS với vị thế là cơ quan thường trực quốc tế giải quyết các tranh chấp pháp lý về biển. Vì Tòa án mang tính thường trực nên có tính kế thừa đối kinh nghiệm giữa các vụ việc. Còn với Tòa Trọng tài và Tòa Trọng tài đặc biệt thì có thẩm quyền khi các bên đồng ý đưa tranh chấp phát sinh ra trước Tòa và chấm dứt khi vụ việc kết thúc. Tuy nhiên, phương thức trọng tài cho phép giảm bớt thời gian, thủ tục xét xử và các bên có khả năng được hưởng tự do hơn trong việc lựa chọn Trọng tài viên hơn là bắt buộc phải chấp nhận một thành phần Thẩm phán có sẵn như của Tòa án. Hạn chế lớn nhất của cả ITLOS và các hình thức trọng tài đó đều là phải có sự đồng thuận của cả hai bên thì Tòa án hay trọng tài mới có thể thụ lý vụ án để giải quyết tranh chấp của các bên. Nếu tất cả các bên tranh chấp trong Biển Đông đều có tinh thần hợp tác, thiện chí trong giải quyết tranh chấp biển thì trong trường hợp đàm phán không đạt kết quả các bên có thể yêu cầu một trong các cơ quan trên giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, thực tế với yêu sách vô lý, bất hợp pháp của mình, Trung Quốc – quốc gia lớn thứ hai trên thế giới, thành viên thường trực của LHQ không chấp nhận thẩm quyền của các cơ quan tài phán trên bằng tuyên bố ngày 25/8/2006 đã loại trừ hầu hết các tranh chấp pháp lý tại Biển Đông. Vì vậy, Việt Nam muốn bảo vệ chủ quyền của mình trên biển Đông bằng các cơ quan tài phán quốc tế thì phải tìm ra được tranh chấp chưa bị Trung Quốc loại trừ như Philippines đã làm được.  Đối với các tranh chấp pháp lý giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực như Campuchia, Indonexia, Thái Lan … Việt Nam có thể lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp tại ITLOS hay Tòa trọng tài hay Tòa trọng tài đặc biệt tùy vào tình hình thực tiễn và thỏa thuận giữa các bên
  • 111. 104 với nhau. Đối với Trung Quốc, hiện nay, Việt Nam còn tồn tại các tranh chấp với Trung Quốc: (1) Chưa thống nhất được với nhau về việc phân định biển ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ; (2) Yêu sách vô căn cứ đường lưỡi bò của Trung Quốc đã xâm phạm đến vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam theo quy định của UNCLOS 1982 ở phía bờ Đông của bờ biển Việt Nam; (3) Chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tranh chấp này, Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu đàm phán để giải quyết tranh chấp nhưng chưa có hiệu quả. Vì vậy, vấn đề sử dụng cơ quan tài phán quốc tế để bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông đang trở nên cấp thiết hơn.Đối với từng tranh chấp với Trung Quốc chúng ta có thể vận dụng linh hoạt các phương thức khác nhau. Cụ thể như đối với việc phân định ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, Việt Nam có thể hợp tác và đàm phán với Trung Quốc để đi đến ký kết hiệp định phân định biển như chúng ta đã làm với khu vực trong cửa vịnh Bắc Bộ. Đối với việc khẳng định chủ quyền các vùng biển của Việt Nam theo UNCLOS 1982 và bác bỏ yêu sách đƣờng lƣỡi bò của Trung Quốc, chúng ta cần nghiên cứu các loại tranh chấp không bị loại trừ trong tuyên bố ngày 25/8/2006 của Trung Quốc như Philippines đã làm được để kiện Trung Quốc ra trước Tòa Trọng tài. Ví dụ như trong Tuyên bố ngày 25/8/2006 của Trung Quốc đã loại trừ các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS liên quan đến Vịnh và danh nghĩa lịch sử. Điều 15 của UNCLOS 1982 có quy định danh nghĩa lịch sử nhưng không đề cập gì đến các quyền lịch sử và cũng không có điều khoản nào trong UNCLOS 1982 liên quan đến
  • 112. 105 các quyền lịch sử hay chủ quyền lịch sử này. Do đó, nếu Trung Quốc đưa ra lập luận về quyền lịch sử hay chủ quyền lịch sử ở vùng biển trong đường lưỡi bò thì thì các tranh chấp phát sinh giữa Trung Quốc với các nước khác trong khu vực về quyền lịch sử có phù hợp với UNCLOS 1982 hay không thì các tranh chấp này không bị loại trừ bởi tuyên bố của Trung Quốc. Mà theo quy định của Điều 287 UNCLOS quy định là nếu hai bên tranh chấp chọn cùng một thủ tục thì tranh chấp đó sẽ được dẫn chiếu tới thủ tục đó. Nếu các bên tranh chấp không chọn cùng một thủ tục hay một bên không đưa ra sự lựa chọn, thì tranh chấp đó sẽ được đưa lên Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS. Các quốc gia yêu sách chủ quyền biển đảo ở Biển Đông không đưa ra lựa chọn theo Điều 287 UNCLOS. Nếu hệ thống tranh chấp bắt buộc của Mục 2 phần XV được dẫn ra trong tranh chấp giữa hai quốc gia liên quan đến Biển Đông thì tranh chấp đó sẽ tự động được xét xử bằng Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS [38]. Hiện nay, Philippines đang kiện yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc. Tuy nhiên, phán quyết của Tòa Trọng tài chỉ có giá trị đối với các bên tham gia. Vì vậy, Việt Nam muốn bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông thì cũng cần có sự chuẩn bị để đưa đưa tranh chấp của mình ra trước Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 như Philippines đã làm. Đó là công việc về lâu dài khi Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ về chứng cứ pháp lý, hồ sơ pháp lý và nhân lực để có thể đứng độc lập để khởi kiện Trung Quốc ra trước Tòa Trọng tài theo phụ lục VII UNCLOS 1982. Còn vấn đề cấp thiết hơn hiện nay, chính là lời mời đích danh Việt Nam tham gia vụ kiện Trung Quốc từ phía Philippines. Như đã phân tích kỹ ở trên, Việt Nam cần cân nhắc, lựa chọn tham gia vào vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Để nói về những thuận lợi khi Việt Nam và một số nước
  • 113. 106 trong khu vực tham gia vụ kiện với Philippines, tác giả xin dẫn lời Bà Bonnie Glaser, chuyên gia từ Trung tâm Nghiên cứ u Chiến lược và các vấn đề quốc tế tại Washington : "Nếu như có nhiều quốc gia , trong đó có cá c thà nh viên Asean, cùng lên tiếng ủng hộ việc áp dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp thì Bắc Kinh có thể sẽ thấy rằng họ không thể bá c bỏ phá n quyết của tòa quốc tế , ngay cả khi phá n quyết đó nói đườ ng c hín đoạn của Trung Quốc là bất hợp phá p" [30]. Đối với tranh chấp Hoàng Sa và Trƣờng Sa, đặc biệt là tranh chấp về Trường Sa thì một số hoặc tất cả các quốc gia có yêu sách ở Biển Đông trong đó có Việt Nam có thể yêu cầu tư vấn về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng UNCLOS nếu các quốc gia này tham gia vào một thỏa thuận quốc tế liên quan đến mục đích Công ước. Để Tòa có thể đưa ra kết luận tư vấn theo Điều 138 Nội quy Tòa án thì phải thỏa mãn ba điều kiện sau [46]: - Cần có sự thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan đến mục đích công ước. Đây có thể là thỏa thuận đa phương, thỏa thuận khu vực hay thỏa thuận song phương chỉ cần nó đáp ứng được yêu cầu có liên quan đến mục đích UNCOS. - Thỏa thuận đó cần phải quy định cụ thể về việc đệ trình yêu cầu cho ý kiến tư vấn từ Tòa án. Thỏa thuận này cũng có thể quy định các quốc gia thành viên của thỏa thuận sẽ thành lập một cơ quan và ủy quyền cho cơ quan đó yêu cầu tư vấn nếu thấy việc yêu cầu tư vấn sẽ thực hiện chức năng và mục tiêu của mình. - Ý kiến tư vấn phải là một vấn đề pháp lý có liên quan đến UNCLOS. Như vậy, các quốc gia có yêu sách đối với quần đảo Trường Sa có thể thỏa thuận lập nên một cơ quan kỹ thuật rà soát các thực thể của nhóm đảo Trường Sa. Và Thỏa thuận quốc tế này có thể ủy quyền cho cơ quan kỹ thuật này yêu cầu ý kiến tư vấn từ UNCLOS về yêu cầu làm rõ quy chế của các thực thể ở
  • 114. 107 nhóm đảo Trường Sa. Từ cơ cấu, tổ chức cũng như thẩm quyền của các cơ quan tài phán theo quy định của UNCLOS 1982, chúng ta có thể lựa chọn các giải pháp cụ thể trong việc giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi tối đa cho quốc gia mình. 3.2.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử của các cơ quan tài phán quốc tế Từ thực tiễn xét xử của các tòa án, trọng tài giải quyết các tranh chấp về biển có rất nhiều bài học kinh nghiệm quý giá được rút ra. Và đặc biệt, Việt Nam muốn sử dụng được các cơ quan tài phán này để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, chúng ta cần chú ý một số các luận điểm pháp lý quan trọng như sau: 3.2.2.1. Xác định đảo đá theo khoản 3 Điều 121 của UNCLOS 1982 Định nghĩa đảo được quy định trong Điều 121 của UNCLOS 1982: “1. Đảo là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. 2.Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo được xác định theo đúng các qui định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác. 3. Những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa” Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều các tranh cãi về thế nào là đảo và thế nào là đảo đá. Vì nếu một thực thể được xác định là đảo thì nó sẽ được có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa như lãnh thổ đất liền. Còn một đảo chỉ được xác định là đảo đá thì nó chỉ được hưởng quy chế thì các đảo này chỉ được hưởng vùng biển rộng không quá 12 hải lý. Cụ thể như trong vụ Myanma và Bangladet, để phân định được ranh giới biển giữa hai nước, Tòa án đã đưa ra phán quyết rằng đảo St. Martin
  • 115. 108 của Myanma chỉ hưởng vùng biển rộng 12 hải lý làm căn cứ để phân định biển giữa hai bên. Hay vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc, luận điểm chính của Philippines chính là yêu cầu Tòa án xác định các bãi Hoàng Nham, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập là các cấu tạo chỉ thỏa mãn là “đá” theo quy định của UNCLOS 1982. Như vậy, một hòn đảo có phải là đảo hay đảo đá ảnh hưởng rất nhiều đến việc phân định của Tòa án. Với bờ biển dài, tiếp giáp và đối diện với nhiều nước trong khu vực Biển Đông, Việt Nam cần nghiên cứu kỹ lưỡng, cụ thể về cách xác định về đảo và đảo đá theo quy định của UNCLOS 1982 để có thể chuẩn bị cho việc đưa các tranh chấp biển ra trước các cơ quan tài phán quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982. Theo định nghĩa của UNCLOS 1982 đảo đá là đảo không thích hợp cho người đến ở, không có đời sống kinh tế riêng. Như vậy, một đảo chỉ cần đáp ứng được một trong hai điều kiện hoặc là thích hợp cho người đến ở hoặc là có đời sống kinh tế riêng thì sẽ được hưởng quy chế như đất liền. Hiện nay, quy định này chưa có hướng dẫn chính thức. Vì vậy, thẩm quyền của các Thẩm phán, Trọng tài là rất lớn trong việc xác định có phải là đảo đá hay không. Theo một số học giả trên thế giới cho rằng: đảo thích hợp có người đến sống là đảo có điều kiện tự nhiên về khí hậu, địa lý cho phép ổn định cuộc sống dân cư trên đảo. Người đến ở trên đảo không phải là nhóm những nhân viên kỹ thuật đến để nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên hay điều kiện địa lý của đảo mà phải là cộng đồng người đang sinh sống trên đảo và họ tới đảo với mục đích xây dựng cuộc sống xã hội lâu dài và ổn định. Còn đảo có “đời sống kinh tế riêng” nghĩa là có các tài nguyên trên đảo và ở xung quanh đảo được đánh giá là có giá trị kinh tế, đang tồn tại trên thực tiễn mà cộng đồng dân cư trên đảo đã tạo lập được một đời sống kinh tế từ các nguồn lợi đó. Hiện nay, chỉ có một số cấu trúc đảo nhất định trong quần đảo Hoàng Sa
  • 116. 109 và Trường Sa là thỏa mãn yêu cầu theo khoản 3 Điều 121của UNCLOS 1982 như đảo Phú Lâm, Thị Tứ, Ba Bình, Hoa Lau và Trường Sa. Còn lại các cấu trúc khác thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đều chỉ là đảo đá và hưởng quy chế vùng biển 12 lãnh hải. Gerardo M.C. Valero cho rằng: “Những đảo tạo nên quần đảo Trường Sa, ở đó, một mặt là quá nhỏ và cằn cỗi để có thể độc lập hỗ trợ cho con người đến ở lâu dài và mặt khác lại không cho thấy có bất cứ một tài nguyên thiên nhiên trên bờ đáng kể nào cả”. Michael Bennett cũng đưa ra một kết luận tương tự “các đảo trong quần đảo Trường Sa không có người cư trú lâu dài và quá nhỏ để duy trì việc sinh sống thường xuyên và độc lập” [7]. Một văn bản rất có ý nghĩa đó là Tuyên bố do Cố vấn pháp luật của Bộ ngoại giao Philippines đưa ra viết rằng: “Quần đảo Trường Sa đang tranh chấp phần lớn là các đảo san hô chỉ cho phép các cây đước, cây bụi và một số cây còi cọc mọc thưa thớt. Khu vực này khó mà có thể cho phép con người đến ở”. Như vậy, những đảo đá trong hai vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở khu vực trung tâm Biển Đông, mỗi đảo có diện tích rất nhỏ (đảo lớn nhất Ba Bình rộng khoảng 1,2 km2, đảo Phú Lâm rộng khoảng 1,5 km2), cằn cỗi, thời tiết khắc nghiệt bão tố nhiều, không thích hợp cho con người đến ở và cho một đời sống kinh tế riêng nên xung quanh các đảo này chỉ có thể có nô ̣i thủy và lãnh hải, không có vùng đă ̣c quyền kin h tế và thềm lục đi ̣a (Khoản 3 Điều 121 UNCLOS 1982) [7]. Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, Philippines đã yêu cầu Tòa án xác định các đảo ở Biển Đông là đảo đá. Vì vậy, Trung Quốc không có quyền xác định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho các đảo này. Để chuẩn bị cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển tại các cơ quan tài phán quốc tế, Việt Nam cần nghiên cứu về quy định này và thực tiễn về các xác định đảo đá để bảo vệ chủ quyền của mình.
  • 117. 110 3.2.2.2. Xác định vai trò của đƣờng trung tuyến trong việc phân định giữa các quốc gia liền kề và đối diện Theo quy định Điều 15 UNCLOS 1982, về hoạch định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau: “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia…” Từ thực tiễn xét xử của các Tòa quốc tế trên thế giới về luật biển, vai trò của đường trung tuyến trong phân định biển giữa các quốc gia kề nhau hay đối diện luôn được ưu tiên để giải quyết. Cụ thể như vụ tranh chấp giữa Guyana và Suriname, Tòa Trọng tài đã phán quyết theo hướng lấy đường trung tuyến để phân định biển cho hai quốc gia liền kề nhau. Việt Nam với đặc điểm liền kề với Trung Quốc, Campuchia và đối điện với nhiều quốc gia như Malaysia, Singapo, Indonexia, Philipines… Vì vậy, với việc nghiên cứu và vận dụng đúng đắn nguyên tắc đường trung tuyến có vai trò rất quan trọng. Cụ thể đường trung tuyến là đường xuất phát từ danh nghĩa khoảng cách, đường cách đều là phương pháp tự nhiên nhất bởi nó cho phép một sự chia ngang bằng giữa các quốc gia. Trừ trường hợp có các danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt, nếu không nguyên tắc đường trung tuyến sẽ được áp dụng để phân định biển giữa các quốc gia. Ngoài ra, bên cạnh đường trung tuyến thông thường còn có phương pháp đường trung tuyến có điều chỉnh. Đây là phương pháp trung tuyến có tính đến các đặc thù của quá trình phân định biển. Phương pháp này giảm bớt tính không công bằng do việc áp dụng phương pháp đường trung tuyến đơn thuần mang tính kỹ thuật ở các khu vực có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là về mặt địa lý.
  • 118. 111 Bên cạnh phương pháp đường trung tuyến thì chúng ta cũng cần nghiên cứu các phương pháp phổ biển khác trong phân định biển như: phương pháp phần kéo dài tự nhiên của biên giới trên bộ, phương pháp đường vuông góc đối với hướng đi chung của bờ biển, phương pháp đường kinh tuyến, vĩ tuyến… 3.2.2.3. Xác định danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt làm thay đổi cách xác định của đƣờng trung tuyến và cách đều Nghiên cứu đường trung tuyến và đường trung tuyến điều chỉnh sẽ là rất thiếu sót nếu không xác định được thế nào là danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt làm thay đổi cách xác định đường trung tuyến. Theo quy định của UNCLOS 1982 tại Điều 15 sau khi xác định vai trò của đường trung tuyến đã viết tiếp: “… Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoặc định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác”. Trước hết danh nghĩa lịch sử có thể hiểu là vùng nước lịch sử. Quy định về vùng nước lịch sử không được ghi nhận trong UNCLOS 1982 mà được xác định thông qua thông lệ và tập quán quốc tế. Theo đó, vùng nước lịch sử là vùng nước có các yếu tố sau: - Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt và ăn sâu vào đất liền hoặc một bộ phận gắn liền với lục địa; - Ở cách xa đường hàng hải quốc tế; - Có ý nghĩa quan trong đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh, kinh tế… đối với quốc gia ven biển; - Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng lâu đời mà không có quốc gia nào phản đối. Về chế độ pháp lý, vùng nước lịch sử được hưởng quy chế như nội thủy.
  • 119. 112 Hiện nay, Việt Nam chỉ có duy nhất một vùng nước lịch sử là Vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia. Việc chúng ta nghiên cứu và hiểu rõ về vùng nước lịch sử để có thể phản bác yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc được núp dưới danh nghĩa lịch sử. Cuối cùng, ngoài danh nghĩa lịch sử thì các hoàn cảnh đặc biệt cũng tác động đến quá trình phân định. Các hoàn cảnh đặc biệt bao gồm hình dáng của bờ biển, sự hiện diện của đảo. Thứ nhất là hình dạng của bờ biển phức tạp sẽ gây trở ngại cho việc phân định biển. Tính phức tạp của bờ biển thể hiện như bờ biển có tính lồi lõm, hướng chung của bờ biển bị thay đổi đột ngột, địa hình không đồng đều… Thứ hai là sự hiện diện của đảo có thể có hiệu lực toàn phần, hiệu lực một phần hay thậm chí không có hiệu lực trong phân định biển: - Đảo có hiệu lực toàn phần: có nghĩa là đảo đó được tính làm cơ sở để tiến hành phân định. Hai yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định hiệu lực toàn phần của đảo là vị trí của đảo so với bờ biển lãnh thổ đất liền và diện tích đảo. - Đảo được hưởng một phần hiệu lực: đó là trường hợp đảo làm điểm cơ sở để phân định nhưng có tác dụng khiêm tốn. Thông thường cách này được dùng trong trường hợp lấy đảo nằm ngoài bờ biển hai nước làm điểm cơ sở nhưng nếu cho đảo hiệu lực toàn phần sẽ dẫn đên đường giới hạn bị lệch hướng vì vậy sẽ không mang lại kết quả công bằng. - Đảo không hưởng hiệu lực trong phân định. Các đảo này thường là đảo nhỏ, nằm xa lục địa của quốc gia sở hữu đảo, đặc biệt là các đảo không thích hợp cho người đến ở, không có đời sống kinh tế riêng hay đi chệch quá xa so với hướng chung của bờ biển. Sự hiện diện của đảo đều gây khó khăn cho việc đạt tới một giải pháp công bằng. Các đảo có thể có vị trí, diện tích, dân số, ý nghĩa quốc phòng, kinh tế khác nhau nhưng đều được coi là hoàn cảnh đặc biệt trong phân định.
  • 120. 113 3.3. Giải pháp cho Việt Nam để sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế theo Phụ lục VI, Phụ lục VII và Phụ lục VIII của Công ƣớc Luật biển năm 1982 3.3.1. Trình tự, thủ tục đƣa vụ việc ra trƣớc các cơ quan tài phán quốc tế Thứ nhất, các bên tranh chấp tiến hành “các cuộc trao đổi quan điểm” với nhau. Đây là nghĩa vụ bắt buộc theo quy định tại Điều 283 UNCLOS 1982, cụ thể là: “1. Khi có một tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia liên quan đến việc giải thích hay áp dụng UNCLOS 1982, các bên tranh chấp tiến hành ngay theo một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng các biện pháp hòa bình khác. 2. Cũng như vậy, các bên tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm mỗi khi kết thúc một thủ tục giải quyết với một vụ tranh chấp như vậy mà không giải quyết được, hay mỗi khi có một giải pháp khác với các hoàn cảnh đòi hỏi các bên tham khảo ý kiến liên quan đến việc thi hành giải pháp đó”. Như vậy, theo quy định của UNCLOS 1982, các bên có tranh chấp bắt buộc phải có các cuộc trao đổi, đàm phán trực tiếp đển tìm ra phương hướng giải quyết tranh chấp trước khi lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp khác. Thứ hai, các bên tranh chấp tiến hành thỏa thuận lựa chọn tòa án hay trọng tài để giải quyết tranh chấp của mình. Về bản chất, các cơ quan tài phán quốc tế như ITLOS hay Tòa Trọng tài đều là cơ quan chế giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện của các bên có liên quan. Vì vậy, để đưa tranh chấp biển đảo tại Biển Đông ra giải quyết tại các cơ quan tài phán quốc tế này thì buộc các bên tranh chấp phải có lựa chọn trao thẩm quyền giải quyết cho các cơ quan tài phán quốc tế. Tuy nhiên, theo quy định của UNCLOS 1982, nếu các bên không thể thống nhất được cơ quan tài phán sẽ
  • 121. 114 đứng ra giải quyết tranh chấp giữa hai bên thì thủ tục được đưa ra để giải quyết là thủ tục trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982. Thỏa thuận này có thể do hai bên cùng soạn thảo thống nhất hoặc do một bên soạn và gửi cho các bên liên quan. Trong trường hợp mà cả hai bên đã có tuyên bố chấp nhận thẩm quyền của các cơ quan tài phán này hoặc đã đồng ý bằng văn bản về việc sẽ giải quyết các tranh chấp này tại cơ quan tài phán nhất định thì chỉ cần một bên có đơn kiện gửi cho Tòa án hoặc Trọng tài mà mình đã dự liệu sẵn. Thứ ba, gửi đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết vụ tranh chấp cho cơ quan tài phán mà các bên yêu cầu. Các cơ quan tài phán quốc tế chỉ tiến hành giải quyết vụ việc khi có đơn kiện hoặc đơn yêu cầu của các bên có liên quan. Tranh chấp chủ quyền biển Đông là tranh chấp giữa các quốc gia một số nước ASEAN trong đó có Việt Nam với Trung Quốc. Giả sử Việt Nam định kiện Trung Quốc ra trước ITLOS thì đơn khởi kiện sẽ được Việt Nam gửi tới ITLOS và sau đó ITLOS sẽ chuyển đơn đến quốc gia có liên quan. Thứ tƣ, nếu các bên lựa chọn hình thức là ITLOS thì các thẩm phán sẽ được bầu bao gồm 11 thành viên hay 5 thành viên với thủ tục rút gọn hoặc 3 thành viên với một số vụ kiện nhất định. Còn nếu các bên lựa chọn theo thủ tục Trọng tài hay Trọng tài đặc biệt thì các bên cần phải lựa chọn Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài để giải quyết vụ việc. Sau khi được Tòa trọng tài chấp nhận giải quyết vụ việc theo yêu cầu của các bên thì các bên cần phải thành lập Hội đồng trọng tài để giải quyết vụ việc. Cách thức lựa chọn Trọng tài viên cũng như cơ cấu của Hội đồng trọng tài về nguyên tắc phải được các bên thống nhất trong thỏa thuận trọng tài. Chính vì vậy, ở giai đoạn này các bên buộc phải thành lập một Hội đồng trọng tài để giải quyết vụ việc trên thực tế. Thời điểm Hội đồng trọng tài bắt đầu tiến hành công việc, phạm vi thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, địa điểm Hội đồng trọng tài làm
  • 122. 115 việc, thù lao trọng tài cũng như các vấn đề khác có liên quan đều do các bên tranh tham gia tranh chấp quyết định. Tuy nhiên, sau khi Hội đồng trọng tài đã thành lập theo đúng cách thức do các bên thỏa thuận và bắt đầu tiến hành công việc thì Hội đồng trọng tài sẽ có tính độc lập với các chủ thể tham gia tranh chấp. Điều đó đồng nghĩa với việc các bên phải tôn trọng các quyết định của Hội đồng trọng tài theo đúng cách thức mà các bên đã thống nhất trong thỏa thuận trọng tài. Thực tế, trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, Trung Quốc đã từ chối tham gia vụ kiện, mất quyền chỉ định Trọng tài viên cho mình. Và Chánh án Tòa án quốc tế về Luật Biển đã chỉ định trọng tài viên đại diện cho Trung Quốc tham gia vụ kiện. Thứ năm, chuẩn bị và gửi văn bản, tài liệu liên quan đến yêu sách cũng như các chứng cứ pháp lý chứng minh cho yêu sách của mình. Nếu Việt Nam là nước đưa đơn khởi kiện trước thì Việt Nam có nghĩa vụ phải gửi các chứng cứ chứng minh cho yêu sách của mình đến văn phòng của cơ quan này cũng như đến quốc gia còn lại của tranh chấp. Nếu Việt Nam lựa chọn ITLOS thì phải tuân theo quy định của Tòa án về hướng dẫn về lập và trình bày các vụ kiện trước Tòa án và bản quy chuẩn cách thức các bản in và đánh máy trước khi gửi Tòa án. Theo đó các tài liệu này phải được thể hiện bằng Tiếng Anh hoặc tiếng Pháp hoặc một ngôn ngữ phổ biến khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Kèm theo các tài liệu, cần phải có bản tranh luận thể hiện quan điểm của mình cũng như các quan điểm phản bác lại yêu sách của quốc gia có liên quan trong quá trình diễn ra tranh chấp trước đó. Cuối cùng, trong quá trình giải quyết tranh chấp tại các cơ quan tài phán quốc tế, đặc biệt ở giai đoạn tranh luận giữa các bên với nhau trước cơ quan tài phán thì các bên cần phải chú ý chuẩn bị các chứng cứ cũng như các lập luận để trả lời các quan điểm đối lập của các quốc gia có liên quan khi họ gửi
  • 123. 116 bản tranh luận đến cơ quan tài phán này. Mức độ chặt chẽ, hợp lý trong các lập luận của các bên thể hiện trong các phiên tranh luận trực tiếp cũng như trong văn bản giải thích là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tài phán này có thể ban hành các phán quyết. 3.3.2. Sự chuẩn bị về các chứng cứ pháp lý của Việt Nam Hiện nay, trên thế giới thừa nhận nhiều nguyên tắc về chiếm hữu đối lãnh thổ. Trong đó phổ biến là nguyên tắc về quyền phát hiện và nguyên tắc chiếm hữu thực sự. Nguyên tắc về quyền phát hiện về cơ bản là việc một quốc gia phát hiện ra một lãnh thổ vô chủ và để lại dấu vết của họ trên đó. Nguyên tắc chiếm hữu đặc biệt theo tuyên bố của Viện pháp luật quốc tế Lausanne bao gồm các nội dung chính như sau: - Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do nhà nước tiến hành. - Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hòa bình một vùng lãnh thổ vô chủ hoặc đã được một quốc gia phát hiện nhưng chủ động từ bỏ. - Quốc gia chiếm hữu trên thực tế phải thực hiện những hành động chủ quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó. - Việc thực hiện chủ quyền phải liên tục trên vùng lãnh thổ đó. Vì vậy, để chứng minh chủ quyền của một quốc gia với một vùng lãnh thổ nhất định nào đó, các quốc gia cần phải chứng minh được theo hai căn cứ trên – tức là quốc gia đó phát hiện ra lãnh thổ đó hay thực hiện chiếm hữu thực sự trên lãnh thổ đó. Tình hình Biển Đông tồn tại rất nhiều tranh chấp như đã phân tích ở trên. Các tranh chấp diễn ra giữa một số nước trong khu vực Đông Nam Á với nhau và với Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á đã có lịch sử lâu đời gắn bó, đoàn kết và rất thiện chí giải quyết hòa bình các tranh chấp để tạo dựng một khu vực ASEAN thịnh vượng. Hiện nay, vấn đề tranh chấp biển nổi bật nhất
  • 124. 117 là tranh chấp biển giữa một số quốc gia ở khu vực Đông Nam Á với Trung Quốc. Đối với Việt Nam, vấn đề chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vấn đề trọng tâm nhất và cũng là vấn đề cần cân nhắc nhất để giải quyết tại các cơ quan tài phán quốc tế. 3.3.2.1. Chứng cứ lịch sử của Việt Nam Để chứng minh được chủ quyền của mình đối với lãnh thổ nhất định, người ta quan tâm đến quốc gia nào phát hiện ra lãnh thổ đó. Và để chứng minh thì cần phải có các chứng cứ lịch sử, chứng cứ lịch sử là các tài liệu, văn bản được xác từ khi chưa có tranh chấp và nó hoàn toàn mang tính khách quan nhất. Chứng cứ lịch sử là chứng cứ có giá trị chứng minh rất quan trọng trong giải quyết tranh chấp về chủ quyền quốc gia. Nó tồn tại không nhằm mục đích xác lập chủ quyền cho bất cứ một quốc gia nào. Các chứng cứ lịch sử có thể là các tấm bản đồ, các tác phẩm văn học hay các văn kiện pháp lý quốc tế được thực hiện ở giai đoạn lịch sử trước đó. Cụ thể, đối với bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì các chứng cứ lịch sử Việt Nam cần phải chuẩn bị bao gồm: Thứ nhất là các bản đồ về Hoàng Sa và Trƣờng Sa Hiện nay, trong tất cả các văn bản pháp lý quốc tế hay trong các phán quyết của các Tòa án quốc tế chưa quy định về việc chứng cứ nào có giá trị trong việc khẳng định chủ quyền. Tuy nhiên, qua thực tế xét xử của các Tòa án, có thể khẳng định bản đồ có giá trị như chứng cứ trong vụ tranh chấp phải là những bản đồ được phát hành một cách chính thức của nhà nước, thể hiện lãnh thổ mà quốc gia đó thừa nhận là đang có chủ quyền, hoặc không có chủ quyền. Đối với các tư liệu, bản đồ có thể sao chụp lại để sử dụng làm chứng cứ thì phải có công chức hoặc có dấu chứng nhận của các cơ quan lưu trứ tài liệu đó. Việt Nam chúng ta hiện có rất nhiều bản đồ lịch sử thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
  • 125. 118 Tuy nhiên, Việt Nam cần phải lựa chọn được các bản đồ vẽ lại chi tiết, cụ thể và có tính xác thực cao. Có thể đơn cử một vài bản đồ như tập bản đồ “Toản tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư”, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”. Đây là tài liệu thể hiện chính xác về hình thể, vị trí cũng như đặc tính của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tài liệu này hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh. Bản đồ Đại Nam nhất Thống Toàn Đồ (1840) được vẽ vào thế kỷ XVIII hoặc đầu thế kỷ XIX (giai đoạn triều đình nhà Nguyễn). Bản đồ này cũng thể hiện tương đối đầy đủ tình hình bờ biển – biển Đông – hải đảo Việt Nam đương thời. Cụ thể, bản đồ thể hiện khá rõ quần đảo Hoàng Sa (được gọi là Vạn Lý Hoàng Sa) và Trường Sa (được gọi là Vạn Lý Trường Sa) bao gồm vị trí, tên một số đảo chính, tình trạng địa lý, … Ngoài các bản đồ do người Việt Nam vẽ phải kể đến các bản đồ do các nước khác vẽ và khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Bản đồ Trịnh Hòa hàng hải đồ do Thái giám Trịnh Đồ vẽ Biển Đông từ biên giới hải phận Việt Trung đến cửa khẩu Quy Nhơn. Từ năm 1405 – 1433, Trịnh Hòa bảy lần chỉ huy hạm đội vượt qua Đông Nam Á sang Ấn Độ Dương, qua Tích Lan (nay là Xri Lanka), Ấn Độ, vào Biển Đỏ và xuống bờ biển Đông Phi. Ông đã ghi ký sự và vẽ lại bản đồ cuộc hành trình này. Sơ đồ vẽ khá rõ từ biên giới Việt - Trung qua cửa khẩu sông Hồng, xuôi bờ biển miền Trung tới cửa khẩu Quy Nhơn. Trịnh Hòa mặc nhiên thừa nhận Giao Chỉ dương tức là Biển Đông và các đảo thuộc Biển Đông thuộc chủ quyền Giao Chỉ quốc tức là Đại Việt ta. Thứ hai là các tác phẩm văn học, lịch sử Ngoài các bản đồ nêu trên, còn có rất nhiều các tác phẩm văn học, lịch sử,
  • 126. 119 địa lý ghi nhận chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa, trong đó có cả các học giả trong nước cũng như học giả nước ngoài. Cụ thể: - Quyển Compendio di Geografia (Địa lý thế giới) của Adriano Balbi, nhà nghiên cứu địa lý lừng danh nước Ý. Quyển sách đã xác nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc về An Nam. Ở những trang 437 – 438 có ghi chép tỉ mỉ về vương quốc An Nam, trong đó xác định rõ biên giới với các quốc gia Trung Quốc và Xiêm La. Phần cuối ghi rõ: “Thuộc về đế chế này còn có quần đảo Hoàng Sa (Paracel), quần đảo Hải Tặc (Hà Tiên) và quần đảo Côn Sơn (Côn Đảo)”. (…) - Cuốn Geografia Fiscia e Politica của Luigi Galanti (tập 3) bản in lần thứ 5 tại Napoli năm 1834 được lưu giữ tại Thư viện Biblioteca Walter Bigiavi dell’Università degli studi di Bologna ở Bologna và thư viện Biblioteca. Trang 197 và 198 có đoạn: “Cuối cùng, chúng tôi phải nói tới một mê cung các hòn đảo nằm ở phía đông của Đàng Trong có tên gọi là Hoàng Sa bao gồm các đảo đá nhỏ và vùng nước nông… Chúng thuộc quyền cai trị của vương quốc An Nam cũng như quần đảo Pirati ở Phía Đông của Đàng Ngoài (Tonchino)” - Cuốn sách “Phủ biên Tạp Lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776 viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời Nguyễn khi ông được bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, ghi chép rõ Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa thuộc phủ Quảng Ngãi). Ngoài ra các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều Hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876), Đại Nam nhất thống chí (1882) cũng có những mô tả tương tự về Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Qua các sách của lịch sử, địa lý không chỉ của Việt Nam mà còn cả của các nhà hàng hải, giáo sỹ phương tây, từ lâu và liên tục trong mấy trăm năm,
  • 127. 120 từ triều đại này đến triều đại khác, nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thứ ba là các văn kiện và chứng cứ pháp lý Sau thời kỳ phong kiến, thực dân Pháp vào đô hộ nước ta và từ đó nước Pháp cũng tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, năm 1951, Trưởng đoàn đại biểu của Chính quyền Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký hòa ước với Nhật Bản, rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ nước Việt Nam: “… và cũng cần phải dứt khoát lợi dụng mọi cơ hội để dập tắt mầm mống của các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Tuyên bố này không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị [39]. Và sau này cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó phải kể đến các văn bản: Thỏa ước phân định ranh giới ngày 26/6/1887 giữa Pháp và Trung Hoa về việc phân định ranh giới giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa thể hiện các đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ của nước An Nam; Tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương ngày 08/03/1925 về việc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp tại Đông Dương; Dụ ngày 30/03/1930 của vua Bảo Đại sáp nhập Hoàng Sa và địa hạt của tỉnh Thừa Thiên; (…) Sau khi Nhà nước CHXHCN Việt Nam ra đời đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như:
  • 128. 121 - Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977; - Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982; - Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1982; - Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn UNCLOS 1982; - Luật Biên giới quốc gia năm 2003; - Luật biển Việt Nam năm 2012. Về quản lý hành chính năm 1982, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoặc trong các công hàm gửi các bên có liên quan, hoặc trong các tuyên bố của Bộ Ngoại giao, hoặc trong các hội nghị của tổ chức Khí tượng Thế giới ở Geneve (tháng 6/1980), của Đại hội địa chất thế giới ở Paris (tháng 7/1980)… Nhà nước Việt Nam tuyên bố các “sách trắng” về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định hai quần đảo này là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ các quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của pháp luật và thực tiễn quốc tế. 3.3.2.2. Chứng cứ từ các quy định của pháp luật quốc tế Nghị quyết 26 – 25 năm 1970 khẳng định: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với “các quy định của Hiến chương”. Lãnh thổ của một quốc gia không
  • 129. 122 thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận hợp pháp. Nghị quyết trên cũng quy định: “Các quốc gia có bổn phận không dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực để vi phạm biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia hay như biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của quốc gia”. Các tranh chấp giữa các quốc gia cần phải được giải quyết tuận theo quy định của pháp luật quốc tế. Việt Nam đã mất quyền kiểm soát lãnh thổ của mình bằng hành động sử dụng vũ lực của quốc gia khác. Vì vậy, trong các chứng cứ pháp lý mà Việt Nam cần sử dụng để bảo vệ chủ quyền của mình thì quy định về pháp luật quốc tế về cấm chiếm giữ lãnh thổ của một quốc gia khác bằng con đường sử dụng vũ lực là một trong các chứng cứ quan trọng nhất để bác bỏ chủ quyền của quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc. Và căn cứ rất quan trọng mà Việt Nam cần khai thác triệt để là UNCLOS 1982. UNCLOS 1982 là văn bản pháp lý quốc tế lớn nhất và hoàn chỉnh nhất về luật biển được rất nhiều nước trên thế giới tham gia trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. UNCLOS 1982 quy định Việt Nam hoàn toàn có quyền vạch đường biên giới trên biển theo khoảng cách 12 hải lý tính từ đường cơ sở cũng như xác định vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Với các quy định của UNCLOS 1982 cũng bác bỏ hoàn toàn đường yêu sách chủ quyền hình chữ U vô căn cứ của Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam còn cần kiên trì vận dụng các thỏa thuận đã đạt được giữa các quốc gia có liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển đảo tại Biển Đông mà quan trọng nhất đến nay là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông và hướng dẫn thực thi DOC ngày 21/7/2011. Dù giá trị pháp lý của các văn bản này không cao như các Điều ước quốc tế nhưng đó chính là sự đồng thuận về mặt ý chí giữa các quốc gia trong khu vực về một giải pháp cho
  • 130. 123 tranh chấp Biển Đông đã được Trung Quốc và các nước trong khu vực ký kết. 3.3.2.3. Chứng cứ từ sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam Để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, chúng ta cần chứng minh là chúng ta thực sự đã có sự chiếm hữu thực tế trên các đảo, các quần đảo.Và sự chiếm hữu này là chiếm hữu hợp pháp qua các giai đoạn của lịch sử. Cụ thể Việt Nam cần phải đưa ra căn cứ chứng minh chúng ta đã liên tục khai thác các tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là khoáng sản trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta. Mà đặc biệt là các hợp đồng liên doanh với các công ty nước ngoài thăm dò, khai thác tài nguyên; công trình nghiên cứu phục vụ cho lợi ích kinh tế… Các tài liệu chứng minh, Việt Nam đã liên tục thực hiện sự quản lý hành chính của mình bằng việc thành lập đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy chính quyền, giải quyết các công việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước;… Các tài liệu chứng minh ngư dân Việt Nam vẫn khai thác nguồn lợi thủy hải sản ở các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới sự hỗ trợ của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam như các chương trình hỗ trợ ngư dân đóng tàu đánh cá, hỗ trợ ngư dân Việt Nam cũng như các ngư dân khác gặp nạn trên vùng biển Việt Nam; các hoạt động cứu hộ, cứu nạn;… Các tài liệu, văn bản chứng minh Việt Nam đã phản ứng trước các hành động xâm phạm chủ quyền của nước khác đối với vùng biển đảo của Việt Nam từng tuyên bố chủ quyền [34]. 3.3.3. Lập hồ sơ pháp lý Từ các quá trình đưa vụ kiện ra xét xử ở các cơ quan tài phán quốc tế theo UNCLOS 1982 thì cũng có thể dự liệu được các hồ sơ pháp lý phải chuẩn bị cho một vụ kiện. Cụ thể: Thứ nhất là văn bản chứng minh các bên đã có các cuộc trao đổi quan điểm với nhau về tranh chấp. Như đã phân tích ở trên, các bên để được đưa vụ
  • 131. 124 việc ra giải quyết trước cơ quan tài phán quốc tế cần phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo Điều 283 của UNCLOS 1982. Tức là các bên phải có nghĩa vụ tiến hành các cuộc trao đổi về quan điểm. Vì vậy, khi lập hồ sơ pháp lý các bên phải xuất trình được văn bản chứng minh là các bên đã từng có các cuộc trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện nỗ lực nhằm giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng các biện pháp hòa bình khác trước khi sử dụng đến các cơ quan tài phán quốc tế. Ví dụ trong trường hợp của Philippines kiện Trung Quốc ra trước Tòa Trọng tài, Philippines khẳng định từ những năm 1995, Philippines đã thực hiện quá trình đối thoại với Trung Quốc trao đổi điểm liên quan đến việc một giải pháp giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền được có các vùng biển ở Biển Đông, việc thực hiện khai thác và sử dụng trong các vùng biển đó, cũng như quy chế các cấu tạo biển ở quần đảo Trường Sa và bãi Hoàng Nham. Các bên cũng đã tiến hành trao đổi quan điểm về tranh chấp này nhằm nỗ lực đạt được một giải pháp thông qua thương lượng từ: “Tham vấn song phương Philippines – Trung Quốc về các Vấn đề Biển Đông” được tổ chức từ tháng 8/1995. Trải qua rất nhiều cuộc họp song phương cũng như trao đổi ngoại giao trong hơn 17 năm qua, hai bên chưa đưa ra giải pháp nào cho các vấn đề tranh chấp này. Liên quan đến quy chế của các cấu tạo quần đảo Trường Sa và các vùng biển phụ cận, hai bên cũng đã trao đổi quan điểm ít nhất từ tháng 8/1995 và gần nhất là tháng 7/2012. Philippines đã nhiều lần phản đối hoạt động của Trung Quốc trên và xung quanh đá Xu-bi và bãi Vành Khăn thuộc thềm lục địa của Trung Quốc. Trung Quốc cũng nhiều lần bác bỏ các phản đối của Philippines và duy trì việc chiếm đóng cũng như tiến hành các hoạt động trên các cấu tạo này.
  • 132. 125 Các ghi chép ngoại giao trong các lần đối thoại trực tiếp giữa các bên đã khẳng định rằng Philippines đã thực hiện đầy đủ nghĩa cụ thể theo Điều 283 UNCLOS 1982 về việc “có các cuộc đối thoại, trao đổi quan điểm về vụ việc tranh chấp”. Thứ hai là thỏa thuận chọn cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Nội dung của thỏa thuận chọn cơ quan tài phán càng cụ thể, chi tiết càng thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh chấp sau này. Nếu các bên chọn hình thức giải quyết tại ITLOS thì bắt buộc phải có thỏa thuận chọn ITLOS giải quyết thì ITLOS mới có thẩm quyền giải quyết. Nội dung cơ bản trong thỏa thuận chọn Tòa án là Tòa án được chọn, phạm vi tranh chấp, luật áp dụng khi tranh chấp xảy ra, giá trị pháp lý của phán quyết… Nếu các bên chọn hình thức giải quyết tại Trọng tài hoặc Trọng tài đặc biệt thì theo khoản 3 Điều 287 UNCLOS 1982 quy định: “Một quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn có hiệu lực bảo vệ, thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài đã trù định ở Phụ lục VII”. Vì vậy, trong trường hợp này có thể có văn bản lựa chọn cơ quan trọng tài giải quyết hoặc một bên có thể đơn phương đưa vụ kiện ra trước Tòa trọng tài. Trong trường hợp hai bên cùng đồng thuận chọn giải quyết tại Tòa án Trọng tài thì nội dung của thỏa thuận trọng tài cần có các nội dung cơ bản mà phía bên kia có thể thay đổi trong quá trình giải quyết tranh chấp như phạm vi tranh chấp, thành phần Hội đồng trọng tài, luật áp dụng giải quyết tranh chấp, giá trị pháp lý của ràng buộc trọng tài sau khi được ban hành, … Thứ ba là đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp. Trong đơn kiện cần thể hiện một cách cụ thể các yêu sách của Việt Nam, phạm vi các vấn đề có tranh chấp cũng như quan điểm của Việt Nam với nội dung tranh chấp. Cần xác định cụ thể phạm vi tranh chấp cũng như nội dung tranh chấp tránh nhầm lẫn giữa khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam với khu vực thuộc chủ quyền của nước
  • 133. 126 khác hay khu vực cả hai bên cùng có yêu sách. Đồng thời trong đơn kiện cũng phải giới hạn rõ ràng các nội dung tranh chấp là về thềm lục địa, đặc quyền kinh tế hay là về vùng biển nào. Đơn kiện cũng phải nêu bật được các chế tài yêu cầu đối với bên tranh chấp kia là yêu sách về bồi thường hay yêu cầu chấm dứt các hành vi xâm phạm chủ quyền … Thứ tƣ là văn bản chỉ định thẩm phán adhoc hoặc trọng tài viên (nếu trong văn bản thỏa thuận chọn Tòa án hoặc Trọng tài chưa có nội dung này). Nếu các bên lựa chọn giải quyết tại Tòa án thì như đã phân tích ở trên theo quy định tài Điều 36 của Phụ lục VI quy định các việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển lập ra một viện ad hoc gồm ba thành viên và mỗi bên tranh chấp được chỉ định một thành viên. Trong văn bản này, các bên cần chỉ rõ các bên đã lựa chọn thẩm phán ad hoc nào, các thông tin liên quan đến thẩm phán đó. Và các quốc gia cần phải lưu ý là thẩm phán ad hoc được chọn phải là thành viên của Viện giải quyết tranh chấp, không được làm việc cho bên tranh chấp nào, không được là công dân của quốc gia tranh chấp nào. Nếu các bên lựa chọn hình thức giải quyết tại Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 thì trong văn bản này các bên phải thể hiện rõ đã chọn trọng tài viên nào, các thông tin liên quan đến trọng tài viên đó, thẩm quyền cụ thể của Hội đồng trọng tài đã thành lập… Thứ năm là bản yêu sách bảo vệ chủ quyền hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của mình – đây là văn bản quan trọng nhất để bảo vệ quan điểm của Việt Nam. Vì vậy văn bản này cần phải được chú ý lập luận theo một trình tự, định hướng nhất quán, tránh mâu thuẫn và xung đột với các quan điểm bảo vệ quyền và yêu sách khác nhau của Việt Nam. Thứ sáu là các chứng cứ chứng minh chủ quyền của Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý chứng minh cho bản yêu sách ở trên vì vậy cần có sự chuẩn bị đầy đủ và khoa học mọi chứng cứ liên quan. Các chứng cứ cần phải
  • 134. 127 được phân loại thành từng nhóm theo các tiêu chí nhất định. Như chứng cứ xuất phát từ tư liệu lịch sử, chứng cứ xuất phát từ pháp luật quốc tế, chứng cứ xuất phát từ thực địa trên thực tế… Thứ bảy là văn bản tranh luận phản bác lại quan điểm đối ngược của quốc gia tranh chấp kia. Trước khi đưa vụ việc tranh chấp chủ quyền Biển Đông ra giải quyết tại các cơ quan tài phán quốc tế, Việt Nam cần nghiên cứu một cách cụ thể, kỹ lưỡng các cơ sở pháp lý mà các nước khác sử dụng để chứng minh cho yêu sách chủ quyền của họ. Đồng thời, Việt Nam cũng cần nghiên cứu các yêu sách chủ quyền của họ trong tương quan so sánh với những chứng cứ mà Việt Nam đang có để chuẩn bị trước các lập luận phản bác. Văn bản tranh luận phản bác này sẽ phải nộp cho các cơ quan tài quốc tế cũng như gửi cho các bên tranh chấp với Việt Nam trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp nên cần phải thực sự chặt chẽ và logic. Thứ tám là tùy từng trường hợp mà có các tài liệu khác kèm theo đó có thể là ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước mà Việt Nam đã tập hợp được qua cơ chế tham vấn hoặc tư vấn. Các ý kiến này có thể đến từ các Hội thảo khoa học quốc tế, Hội nghị quốc tế hay các Công trình khoa học đã được công bố… Các văn bản, tài liệu trên cần được sắp xếp lại thành hồ sơ pháp lý của vụ việc. Việc chuẩn bị hồ sơ pháp lý cần phù hợp với yêu cầu tố tụng theo quy chế của ITLOS (nếu các bên lựa chọn giải quyết tại Tòa án) và phù hợp với yêu cầu tố tụng mà các bên đã lựa chọn (nếu các bên lựa chọn giải quyết tại Trọng tài) nhưng cũng cần phải bảo đảm tính hiệu quả và thuận lợi trong việc sử dụng để bảo vệ yêu sách chủ quyền của Việt Nam.
  • 135. 128 3.3.4. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực Luật Biển quốc tế Trước đây, các quốc gia có thể thôn tính nhau bằng con đường sử dụng vũ lực thì để đấu tranh đòi chủ quyền quốc gia không còn cách nào khác là phải có lực lượng quân đội và tiềm lực kinh tế hùng mạnh. Nhưng hiện nay, khi các quy định của pháp luật quốc tế được hình thành và trở thành nguyên tắc ứng xử quốc tế thì việc sử dụng vũ lực bị nghiêm cấm. Các quốc gia cần đối thoại hòa bình trên cơ sở thương lượng, tôn trọng lẫn nhau để tìm ra giải pháp giải quyết tranh chấp. Vì vậy, việc đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực luật biển quốc tế lại càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Ngày nay, để có thể chiến thắng trong cuộc chiến chủ quyền phức tạp như ở Biển Đông điều kiện tiên quyết là phải có sự ủng hộ của đông đảo cộng đồng quốc tế. Nhưng hiện nay, các tài liệu mà bạn bè quốc tế tiếp cận được chủ yếu là từ phía Trung Quốc. Vì vậy, để cho thế giới hiểu chính nghĩa thuộc về Việt Nam chúng ta phải tự mình chứng minh điều đó. Trong khi Trung Quốc đã rất chú trọng đến vấn đề này bằng việc có đông đảo học giả, các công trình nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu về biển thì Việt Nam chúng ta số lượng này rất hạn chế. Việt Nam chỉ có Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm Luật biển và Hàng hải quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo và Viện Biển Đông thuộc Học viện Ngoại giao là cơ quan của nhà nước từng đặt vấn đề nghiên cứu chính thực về quy định của pháp luật quốc tế về biển, thực tiễn phân định biển… Phía Trung Quốc có rất nhiều trung tâm nghiên cứu trực thuộc các trường Đại học như Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn hoặc Ủy ban nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á… Ngoài ra, ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về Biển Đông do các cá nhân, tổ chức phi chính phủ tiến hành. Tuy nhiên, do bị hạn chế về thời gian, sức lực cũng như tiềm lực kinh tế nên số lượng không nhiều. Vì vậy, để trọng dụng được những người có trình độ, có tâm huyết thì Nhà nước phải coi đây là nhiệm vụ
  • 136. 129 chiến lược đấu tranh cho chủ quyền đất nước. Nhà nước cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: Thứ nhất, Nhà nước cần phải lập cơ quan chuyên trách làm đầu mối quy tụ các nhà nghiên cứu về sử học, địa lý, luật pháp quốc tế, hàng hải, Trung Quốc học… để liên tục có các công trình nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ pháp lý, chứng cứ pháp lý và khi có thời cơ chúng ta đưa yêu cầu giải quyết tranh chấp và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trước các cơ quan tài phán quốc tế. Thứ hai, Việt Nam cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về Biển Đông với các chứng cứ pháp lý, chứng cứ lịch sử để bảo vệ chủ quyền biển trên Biển Đông. Việc thực hiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ cho các chuyên gia nghiên cứu cũng như thuận lợi cho việc tuyên truyền phổ biến cho người dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế. Thứ ba, Việt Nam cần khuyến khích các chuyên gia tham gia vào các hội thảo chuyên ngành về biển quốc tế, các công trình nghiên cứu quốc tế.Việt Nam có rất nhiều các chứng cứ pháp lý cũng như chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi ở Biển Đông nhưng thực sự những chứng cứ này chưa được tập hợp lại và đưa vào các công trình nghiên cứu khoa học mang tính quốc tế. Vì vậy, cộng đồng quốc tế chưa biết nhiều đến các chứng cứ khoa học của Việt Nam. Trong khi Trung Quốc với rất nhiều đội ngũ các giáo sư trong các trường đại học lớn, các nhân viên trong các cơ quan tài phán quốc tế, các nhân viên trong các tổ chức quốc tế có điều kiện để đăng các bài viết, các công trình nghiên cứu trên báo chí quốc tế. Trước thực tế đó, Việt Nam cần phải có nhiều nhà nghiên cứu am hiểu ngôn ngữ cũng như pháp luật quốc tế tham gia vào các diễn đàn, các hội nghị quốc tế về biển, có các bài viết, bài phân tích hay các công trình khoa học ở các tạp chí đầu ngành của thế giới về công pháp quốc tế, lịch sử, địa lý… Thứ tƣ, Việt Nam cần đào tạo đội ngũ luật sư, nhân viên pháp lý… đủ trình độ chuyên môn cũng như trình độ ngoại ngữ để tham gia vào các cơ quan tài phán quốc tế cũng như các tổ chức quốc tế. Hiện nay, Trung Quốc
  • 137. 130 ngoài việc có thẩm phán ở Tòa án Công lý Quốc tế và ITLOS thì có rất nhiều các nhân viên pháp lý cũng như nhân viên trong các cơ quan chuyên trách của các tổ chức quốc tế. Điều này là một bất lợi lớn cho Việt Nam nếu giải quyết ở các cơ quan tài phán quốc tế về Biển. Vì vậy, nhằm cân bằng lực lượng giữa hai bên, Việt Nam cần có chương trình đào tạo, chế độ đãi ngộ, chương trình học bổng… để có thể thu hút được các chuyên gia đủ điều kiện, phẩm chất đạo đức, chuyên môn, ngoại ngữ… để có thể tiến cử vào hệ thống cơ quan tài phán quốc tế.
  • 138. 131 KẾT LUẬN Pháp luật quốc tế ra đời và ngày càng thể hiện rõ vai trò trong việc định hướng ứng xử của các quốc gia với nhau. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không riêng lĩnh vực biển, các quốc gia cần phải tôn trọng các quy định của luật quốc tế. Đặc biệt với sự ra đời của UNCLOS 1982, đây là văn kiện luật đầy đủ, hệ thống nhất về luật biển từ trước đến nay. Cùng với sự ra đời của UNCLOS 1982 là sự ra đời của ITLOS và các Tòa Trọng tài đã khắc phục được những hạn chế của Tòa án Công lý quốc tế trong giải quyết các tranh chấp về biển giữa các quốc gia cũng như giữa các pháp nhân và thể nhân. Các quy định pháp luật cũng như thực tiễn xét xử của ITLOS cũng như các Tòa trọng tài đã góp phần giải quyết dứt điểm các tranh chấp giữa các bên. Đồng thời nó còn tạo ra các án lệ cho việc giải quyết tranh chấp sau này. Ngoài ra, ITLOS còn có chức năng tư vấn trong một số trường hợp nhất định nhằm làm sáng tỏ hơn nữa các quy định của pháp luật quốc tế về biển vốn rất phức tạp. Các tòa Trọng tài với đặc điểm các bên có thể chủ động chọn được các trọng tài viên có đạo đức, có kinh nghiệm và am hiểu thực tiễn vụ tranh chấp để giải quyết tranh chấp là ưu thế rất lớn. Các quốc gia có nền tư pháp lâu đời và ổn định đã sử dụng nhiều các cơ quan này để giải quyết tranh chấp về biển cho quốc gia mình. Việt Nam chúng ta từ trước đến nay, luôn trung thành với giải pháp hòa hảo – tức là đàm phán, đối thoại song phương hoặc đa phương để giải quyết các tranh chấp. Và thực tế là chúng ta đã giải quyết các tranh chấp với các nước trong khu vực ASEAN bằng phương pháp này rất hiệu quả với việc ra đời rất nhiều các hiệp định phân định biển, hay hiệp định khai thác chung. Từ trước đến nay, chúng ta chưa có thói quen sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế để giải
  • 139. 132 quyết tranh chấp của mình. Tuy nhiên, hiện nay với việc có quốc gia yêu sách gần như toàn bộ Biển Đông xâm phạm vào cả những vùng biển thuộc chủ quyền hoặc quyền chủ quyền của Việt Nam theo quy định của UNCLOS 1982 thì biện pháp đối thoại, đàm phán không còn hiệu quả. Việt Nam từ bao thế kỷ nay vẫn là quốc gia yêu chuộng hòa bình, tôn trọng pháp luật quốc tế. Chúng ta chỉ phản kháng lại khi không còn giải pháp nào khác minh chứng cụ thể là chúng ta đã đánh bại hai quốc gia thực dân, đế quốc sừng sỏ nhất trên thế giới. Hơn nữa, chúng ta chỉ là nước nhỏ, kinh tế đang phát triển đứng bên cạnh một cường quốc lớn và hùng mạnh chúng ta chỉ còn cách đấu tranh để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ xương máu của cha ông để lại bằng cuộc chiến pháp lý thông qua các cơ quan tài phán quốc tế. Và Việt Nam có thể tự tin với chủ quyền không thể tranh cãi ở Biển Đông với các chứng cứ lịch sử và chứng cứ pháp lý thuyết phục của mình. Trải nhiều thế kỷ, Việt Nam đã thực hiện sự chiếm hữu của mình một cách liên tục, thực tế và hòa bình trên các vùng biển của Việt Nam và đặc trên đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lợi dụng tình hình chiến tranh hai miền Bắc Nam, một số quốc gia đã dùng vũ lực để xâm chiếm lấy quần đảo Hoàng Sa. Và rất nhiều quốc gia đã chiếm đóng trái phép trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam gây ra những bất ổn cho tình hình khu vực. Những hành vi đó đều vi phạm pháp luật quốc tế, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Việt Nam luôn kiên định bảo vệ chủ quyền của mình bằng các biện pháp hòa bình như đấu tranh ngoại giao, đàm phán, đối thoại… Giải pháp đấu tranh thông qua các cơ quan tài phán quốc tế cũng là một biện pháp hữu hiệu mà nước ta cần tính đến. Trong tương lai gần, khi Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ về chứng cứ pháp lý, lịch sử và nhân lực, thì việc tiến hành khởi kiện ở một trong các cơ quan tài phán theo UNCLOS 1982 có thể được thực hiện.
  • 140. TÀI LIỆU THAM KHẢO I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Nguyễn Tuấn Anh (2008), “Tình hình tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông”, báo Thông tin công tác mặt trận số 66 tháng 12. 2. Bộ Thông tin và truyền thông (2013), Mượn cớ đánh cá, Trung Quốc lập mưu gặm cho bằng hết Biển Đông, ngày 7/7/2013 theo http://infonet.vn/. 3. An Bình (2014), Philippines "tố" Trung Quốc muốn chiếm Biển Đông bằng luật đánh cá, ngày 19/01/2014, theo http://dantri.com.vn/. 4. Đào Văn Bình (2014), Nhận ký Biển Đông – căng thẳng leo thang và lan sang Úc Châu, ngày 03/4/2014, theo http://boxitvn.blogspot.com/. 5. Lê Dân (2013), Biển Đông và thực trạng tranh chấp ở Biển Đông, ngày 21/04/2013, theo http://suthatvietnamblog.blogspot.com/. 6. Nguyễn Bá Diến và Nguyễn Hùng Cường (2012), Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế, tr 385, 386, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội 7. Nguyễn Bá Diến (2011), “Địa vị pháp lý của đảo trong phân định các vùng biển”, Hội thảo quốc gia về Biển Đông lần thứ hai, Hà Nội. 8. Ông và bà Trần Đăng Đại (2011), “Một số văn kiện xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời pháp thuộc đến trước 30/4/1975”, Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, tr 97 – 115 Nxb Trẻ, Hà Nội. 9. Nguyễn Đình Đầu (2011),“Chủ quyền biển đảo Việt Nam qua các bản đồ cổ”, Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, tr 60 – 69, Nxb Trẻ, Hà Nội. 10. Phạm Văn Đồng (1958), Thư gửi đồng chí Chu Ân Lai – Tổng lý Quân vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hà Nội. 11. Nguyễn Trường Giang (2012), Vụ tranh chấp Malaysia và Singapo về chủ quyền đối với đảo đá trắng, các đảo “south ledge” và “Middle Rocks” -
  • 141. Một số kinh nghiệm, bài học pháp lý và thực tiễn, tr 171 – 188, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Hà Minh Hồng (2012), Dọc đường cơ sở tổ quốc tôi, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, Hồ Chí Minh, 2012. 13. Nguyễn Ngọc Lan và Trần Hoàng Yến (dịch) (2013), Thông báo và tuyên bố khởi kiện Trung Quốc của Philipines, theo http://nghiencuubiendong.vn/. 14. Mai Linh (2012), Diễn biến xấu ở Biển Đông, ngày 04/8/2012, theo http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/ 15. Nguyễn Việt Long (2012), Lẽ phải, Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tr 189 – 206, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. 16. Nguyễn Việt Long (2013), Hoàng Sa, Trường Sa – Các sự kiện, tư liệu lịch sử - pháp lý chính, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. 17. Trọng Nghĩa (2011), Trung Quốc lại sách nhiễu tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, ngày 02/6/2011, theo http://boxitvn.blogspot.com/. 18. Trần Doãn Nhã và Nam Tuân (2011), “Rất nhiều sách cổ khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam”, Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, tr 82 - 86, Nxb Trẻ, Hà Nội. 19. Đinh Kim Phúc (2012), Hoàng Sa, Trường Sa – Luận cứ và sự kiện, Nxb Thời đại, Hồ Chí Minh. 20. Phạm Thị Hồng Phượng (2006), “Lịch sử vùng biển Việt Nam – Campuchia”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 4(29), tr 69 -76. 21. Quỹ nghiên cứu biển đông (2010), Biển Đông – nguồn sống vô tận, ngày 28/10/2010 theo http://www.biendong.net/.
  • 142. 22. Đặng Đình Quý (2010), “Các khu vực tranh chấp trên Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng Trọng tài hoặc ý kiến tư vấn”, Tranh chấp Biển Đông, hợp tác địa chính trị và hợp tác quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội. 23. Vũ Quý (2012), Trung Quốc cố tình hợp lý hóa thành phố Tam Sa, ngày 24/7/2012, theo http://dantri.com.vn/ 24. Lê Quý Quỳnh, Nguyễn Trường Giang (2012), Các hiệp định phân định biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Bùi Quang Sơn (2012), “Sự phát triển luật biển quốc tế và một số giải pháp để giải quyết tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông”, Quy chế pháp lý quốc tế giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, tr 133- 220, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 26. Phạm Vũ Thắng (2013), “Suy nghĩ về giải pháp pháp lý cho Việt Nam trước vụ kiện Philipines”, tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học tập 29, số 2, tr 50 -55. 27. Nguyễn Hồng Thao (2006), Tòa án quốc tế về Luật biển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 28. Nguyễn Hồng Thao (2009), “Yêu sách đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc dưới góc độ luật pháp quốc tế”, Tạp chí nghiên cứu Quốc tế. 29. Nguyễn Hồng Thao (2011), Tòa án Công lý quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Greg Torode (2014), Việt Nam có đưa Trung Quốc ra Tòa, ngày 13/02/2014, theo http://www.bbc.co.uk/ 31. Trần Công Thục (2011), Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội. 32. Trần Trường Thủy (2009), “ASEAN, Trung Quốc và quá trình hình thành Tuyên bố ứng xử các bên tại biển Đông”, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, tháng 9, số 3 (78), tr 5 – 24.
  • 143. 33. CTV Trường Sa (2014), Không khởi kiện Trung Quốc, chúng ta mắc tội lớn với dân tộc, ngày 03/03/2014, theo http://nguyentandung.org/ 34. Bành Quốc Tuấn (2012), “Bảo vệ chủ quyền biển Đông”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 7 tháng 11 – 12, tr 61 – 68. 35. Ủy ban Biên giới quốc gia – Bộ Ngoại giao (2013), Vị trí, tầm quan trọng của Biển Đông với nước trong và ngoài khu vực, ngày 20/9/2013 theo http://www.nhontrach-dongnai.gov.vn/. 36. Ủy ban Biên giới quốc gia – Bộ Ngoại giao (2010), Biển Đông nguồn sống vô tận, ngày 28/10/2010 theo http://www.biendong.net/. 37. Ủy ban Biên giới quốc gia (2011), Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo http://www.hoangsa.danang.gov.vn/. 38. Hoàng Việt (2010), “Asean với triển vọng giải quyết tranh chấp biển Đông”, Biển Đông – Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực, Kỷ yếu hội thảo khoa học thế giới, Nxb Thế giới, Hà Nội. 39. Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại giao (1999), Quan điểm các nước và học giả quốc tế về tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 40. Võ Xuân Vinh (2011), “Quá trình yêu sách chủ quyền của Philippines đối với quần đảo Trường Sa và cơ sở pháp lý”, Hội thảo quốc gia về Biển Đông lần 2, Hà Nội. II. TÀI LIỆU TIẾNG NƢỚC NGOÀI 41. Balaram, Ravi A (2012), “Case Study: The Myanmar and Bangladesh Maritime Boundary Dispute in the Bay of Bengal and Its Implications for South China Sea Claims”, Journal of Current Southeast Asian Affairs, 31, 3, 85-104.
  • 144. 42. Cambridge studies in international and Comparative law (2004), Disputr Settlement in the UN Convention on law of the Sea, UK. 43. Ian Storey (2013), “Manila Ups the Ante in the South China Sea”, China Brief, 13 số 3 Ian Storey (2013), 44. Klein, Natalie (2005), Dispute Settment in the UN Convention on the Law of the Sea. 45. Park, Choo-ho (1983), East Asia and the Law of the Sea. 46. Robert and LeonardoBernard (2012), “Disputed Areas in the South China Sea: Prospects for Arbitration or Advisory Opinion”, International scientific conference for the third time on the East Sea, Hanoi. 47. Rosenne, Shabtai and Sohn Louis B (1989), The United Nations Convention on the Law of the Sea: A Commentary, Vol 5. 48. Dr. Yoshifumi Tanaka (2007), The Guyana/Suriname Arbitration: A Commentary. 49. Trần Đình Thanh Lam, (2004),“Vietnam oil find China’s worries”, Energy Bullentin, 26/10/2004.
  • 145. PHỤ LỤC 1: DANH MỤC CÁC VỤ ÁN TÕA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN ĐÃ XÉT XỬ 1. Vụ tàu M/V Saga 1 (Saint Vincent và Grenadines và Guinea). 2. Vụ tàu M/V Saga 2 1 (Saint Vincent và Grenadines và Guinea). 3. Vụ cá ngừ vây xanh biển phía Nam giữa New Zealan và Nhật Bản; Nhật Bản và Úc. 4. Vụ tàu Camouco (Panama và Pháp). 5. Vụ tàu Monte Confurco (Seychelles và Pháp). 6. Vụ giữ gìn và khai thác bền vững giống cá kiếm ở Đông Nam Thái Bình Dương (Chile và Cộng đồng Châu Âu). 7. Vụ tàu Grand Prince (Belize và Pháp). 8. Vụ tàu Chaisiri Reefer 2 (Panama và Yemen yêu cầu thả tàu và thủy thủ đoàn). 9. Vụ nhà máy năng lượng hạt nhân MOX (Ireland và Anh yêu cầu đưa ra biện pháp tạm thời). 10. Vụ tàu Volga (Nga và Ustralia yêu cầu thả ngay tàu và thủy thủ đoàn). 11. Vụ cải tạo đất trong và xung quanh eo biển Johor (Malaysia và Singapore yêu cầu đưa ra biện pháp tạm thời). 12. Vụ tàu Juno Trade (Saint Vincent và Grenadines và Bissau). 13. Vụ tàu Hoshimaru (Nhật Bản và Liêng Bang Nga). 14. Vụ tàu Tomimaru (Nhật Bản và Liêng Bang Nga). 15. Tranh chấp liên quan đến phân định ranh giới biển giữa Bangladesh và Myanma trong vịnh Bengal. 16. Yêu cầu tư vấn về trách nhiệm và nghĩa vụ của các quốc gia tài trợ cho người và các tổ chức liên quan đến hoạt động trong khu vực cho Viện tranh chấp đáy biển.
  • 146. 17. Vụ tàu Louisa (Saint Vincent và Grenadines, Anh và Tây Ban Nha). 18. Vụ tàu Virginia (Panama và Guinea - Bissau). 19. Vụ tàu ARA Libertad (Argentina và Ghana yêu cầu áp dụng biện pháp tạm thời). 20. Yêu cầu tư vấn được gửi bởi Ủy ban Nghề cá tiểu khu vực (SRFC). 21. Vụ tàu Arctic Sunrise (Hà Lan và Liêng Bang Nga).
  • 147. PHỤ LỤC 2: DANH MỤC CÁC VỤ ÁN TÕA TRỌNG TÀI ĐÃ XÉT XỬ 1. Vụ Australia và New Zealand kiện Nhật Bản liên quan đến việc bảo tồn và quản lý cá ngừ vây xanh. Phán quyết năm 2000. 2. Vụ tranh chấp giữa Ireland và Vương quốc Anh (“MOX Plant Case”) vào tháng 11 năm 2001. 3. Vụ tranh chấp liên quan đến lấn biển giữa Malaysia và Singapore ở khu vực eo biển Johor vào 26/04/2005. 4. Vụ phân định biển và đòi bồi thường giữa Guyana và Suriname vào tháng 2 năm 2004. 5. Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Barbados, Trinidad và Tobago vào tháng 02 năm 2004. 6. Vụ phân định ranh giới biển giữa Bangladesh và Ấn Độ trong vịnh Bengal vào tháng 10 năm 2009. 7. Vụ tranh chấp khu bảo tồn biển xung quanh quần đảo Chagos giữa Maurutius và Vương quốc Anh vào tháng 12 năm 2010. 8. Vụ Argentina yêu cầu Ghana giải phóng cho các tàu quân sự ARA Libertad của Argentina vào tháng 10 năm 2012. 9. Vụ tranh chấp giữa Philippines với Trung Quốc tại khu vực biển Tây Philippines vào tháng 01 năm 2013. Đang giải quyết.