BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tuyết Trinh
DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH- 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tuyết Trinh
DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Văn
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐINH PHAN CẨM VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
2
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS. Đinh
Phan Cẩm Vân- người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
làm luận văn. Cô đã hướng dẫn tôi rất tận tình với những góp ý cụ thể,
sâu sắc, giúp tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến Phòng Sau đại học và quý thầy cô
khoa Ngữ Văn- trường ĐHSP TP. HCM. Những tri thức quý báu mà
thầy cô đã truyền đạt trong suốt bốn năm đại học và hai năm cao học
đã giúp tôi có đủ kiến thức và tự tin để thực hiện đề tài khóa luận.
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2012
Học viên
Lê Thị Tuyết Trinh
3
MỤC LỤC
Lời cám ơn .................................................................................................................. 2
Mục lục........................................................................................................................ 3
Danh mục bảng ........................................................................................................... 5
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài:................................................................................................ 6
2. Mục đích nghiên cứu:.......................................................................................... 6
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: ................................................................................. 8
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: .................................................................... 11
5. Phương pháp nghiên cứu:.................................................................................. 12
6. Đóng góp mới của luận văn: ............................................................................. 12
7. Kết cấu của luận văn: ........................................................................................ 13
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN DẠY VÀ HỌC THƠ ĐƯỜNG14 THEO HƯỚNG TÍCH
CỰC
1.1. Vài nét về thơ Đường ....................................................................................... 14
1.1.1. Khái niệm, phân loại:...................................................................................... 14
1.1.2. Các quy tắc sáng tác thơ:................................................................................ 14
1.2. Tính tích cực trong dạy học nói chung và trong dạy học thơ Đường: ....... 24
1.2.1. Tính tích cực trong dạy học:........................................................................... 24
1.2.2. Tính tích cực trong dạy học thơ Đường: ........................................................ 28
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
2.1. Đọc sáng tạo văn bản: ..................................................................................... 32
2.1.1. Vấn đề đọc sáng tạo trong dạy học Văn:........................................................ 32
2.1.2. Biện pháp đọc sáng tạo các tác phẩm thơ Đường: ......................................... 34
2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch: ..................................................... 37
2.2.1. Nghệ thuật dịch thơ Đường: ........................................................................... 37
4
2.2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch: ....................................................... 38
2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở:............................................................... 71
2.3.1. Câu hỏi gợi mở trong dạy học Văn: ............................................................... 71
2.3.2. Câu hỏi gợi mở khi dạy các tác phẩm thơ Đường:......................................... 73
2.3.2.1. Gợi mở, khám phá thi đề:........................................................................... 73
2.3.2.2. Gợi mở, khám phá thi tứ: ........................................................................... 78
2.3.2.3. Gợi mở, khám phá thi ý: ............................................................................ 85
Chương 3: THỰC NGHIỆM GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
3.1. Việc dạy và học thơ Đường ở trường Phổ thông hiện nay:......................... 89
3.1.1. Về chương trình sách giáo khoa:.................................................................... 89
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy và học thơ Đường: ..................... 92
3.2. Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông:........................... 95
3.2.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm: ................................................ 95
3.2.1.1. Mục đích:.................................................................................................... 95
3.2.1.2. Yêu cầu:...................................................................................................... 95
3.2.1.3. Nội dung:.................................................................................................... 96
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm:..................................................................... 96
3.2.2.1. Chương trình ngữ văn Trung học cơ sở:.................................................... 96
3.2.2.2. Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông:......................................... 116
3.2.3. Tổ chức dạy học thực nghiệm: .................................................................. 138
3.2.3.1. Địa điểm và thời gian thực nghiệm:......................................................... 138
3.2.3.2. Kết quả thực nghiệm: ............................................................................... 138
3.2.3.3. Nhận xét, đánh giá:................................................................................... 139
KẾT LUẬN............................................................................................................ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 144
PHỤ LỤC............................................................................................................... 149
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học mới
Bảng 2.2: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa (Học sinh Trung học cơ sở)
Bảng 2.3: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa (Học sinh Trung học phổ thông)
Bảng 2.4: Đề tài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở, Trung
học phổ thông
Bảng 3.5: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở
Bảng 3.6: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông
Bảng 3.7: Thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ
Văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
Bảng 3.8: So sánh thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường với Văn học nước
ngoài và Văn học Việt Nam
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Thời nhà Đường đã đi qua hơn 1000 năm, lịch sử nhân loại đã có những
bước phát triển nhưng có một điều không thay đổi trong tâm thức những ai đã từng
biết về đất nước Trung Quốc, đó là sự ngưỡng mộ về một thời đã sản sinh ra nền thi
ca vĩ đại trường tồn cùng năm tháng trong lòng người- Thơ Đường.
Thật vậy, Trung Quốc được mệnh danh là “đất nước của thơ ca”. Trong lịch
sử phát triển của thơ ca cổ điển Trung Quốc, thơ Đường chiếm một vị trí đặc biệt
quan trọng. Kéo dài ròng rã gần ba trăm năm (618-907), từ khi Đường Cao Tổ Lý
Uyên dựng triều đại cho đến khi nhà Đường mất, thi phẩm toàn bộ thơ Đường có tới
hơn 48000 bài của khoảng 2300 thi sĩ với những đỉnh cao: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi
Hiệu, Vương Duy, Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh…
Với những vần thơ ngắn gọn súc tích nhưng nội dung tư tưởng sâu sắc, thâm
trầm “ý tại ngôn ngoại”, thơ Đường là một di sản quý giá của nền văn hoá- văn học
nhân loại. Thưởng thức và cảm nhận thơ Đường là thưởng thức một vườn hoa đa
hương sắc, một “mảnh đất quen mà lạ” (Nguyễn Khắc Phi). Là một tài sản vô giá,
thơ Đường mang trong mình nhiều giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. Chúng ta
đến với thơ Đường là tìm về thế giới tâm thức của người Trung Hoa thâm trầm, ý
vị. Qua thế giới nghệ thuật ấy, người đọc tìm thấy một thế giới với những nỗi niềm
tâm sự riêng tư, những quan niệm của cá nhân về hoàn cảnh, số phận cuộc
đời…nhưng nó lại là lời muốn nói trong sâu thẳm cõi lòng của biết bao nhiêu người
trong cõi nhân thế. Chính vì thế, thơ Đường được nhiều người yêu thích, nhiều nhà
thơ, dịch giả Việt Nam tham gia dịch thơ Đường và một số bản dịch tiêu biểu đã
được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở và Trung học
phổ thông.
Tuy nhiên, thực tế dạy và học hiện nay, số lượng học sinh say mê học văn
không nhiều, thậm chí còn có nhiều học sinh chán học văn, năng lực học văn yếu
kém, khả năng cảm thụ, phân tích văn học còn hạn chế. Trong khi đó, do bị chi phối
7
bởi đặc điểm, những quy phạm nghiêm ngặt của thơ luật Đường, ta càng khó tìm
hiểu được hết giá trị của thơ Đường nếu không hiểu sâu sắc về nó. Vì thế, các tiết
học thơ Đường lại càng khó khăn hơn đối với các em. Việc dạy và học những bài
thơ Đường trong nhà trường phổ thông gặp không ít những trở ngại do vốn từ Hán
Việt của học sinh hết sức ít ỏi, năng lực cảm thụ và khả năng phân tích thơ Đường
của người học (kể cả người dạy) còn nhiều hạn chế. Do vậy, đọc- hiểu thơ Đường
là một việc tưởng chừng như vựơt quá sức của lứa tuổi từ 13 đến 16 tuổi.
Trong thời điểm giáo dục đang đổi mới và có nhiều chuyển biến mạnh mẽ
nhằm nâng cao chất lượng dạy học như hiện nay thì phương pháp dạy học là một
trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Phương pháp là khâu có ý nghĩa quan
trọng đối với chất lượng đào tạo. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học là một yêu
cầu tất yếu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta. Trong quá trình
nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, các nhà lý luận dạy học trên thế giới đã
khẳng định vai trò to lớn và ý nghĩa quan trọng của xu hướng dạy học theo hướng
tích cực hóa hoạt động học tập của người học đối với quá trình nhận thức và giáo
dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Do đó, xu hướng dạy học theo hướng tích cực hoá
hoạt động học tập của học sinh đang trở thành phương châm hành động của hầu hết
giáo viên và được quan tâm chú trọng hơn bao giờ hết.
Qua thực tế giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông chúng tôi nhận thấy:
Thơ Đường là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm thơ Đường
được ra đời từ rất lâu (khoảng từ thế kỉ VII đến thế kỉ X), cách chúng ta hơn mười
thế kỉ, đến với thế hệ học sinh phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách về thời gian.
Vì thế, giáo viên gặp khó khăn trong quá trình soạn giáo án, học sinh ít hứng thú,
khó tiếp cận, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ. Vấn đề đặt ra là
phải có những biện pháp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, góp phần đổi mới
phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học thơ Đường, để
những thi phẩm đời Đường sẽ chảy mãi, đọng mãi trong lòng người học, người đọc.
8
2. Mục đích nghiên cứu:
Như chúng ta đều biết, dạy Văn nói chung và dạy thơ Đường nói riêng là
một công việc đầy gian nan, thử thách. Những bài thơ Đường được đưa vào chương
trình Ngữ văn lớp 7 Trung học cơ sở và Ngữ văn lớp 10 Trung học phổ thông là
những tác phẩm đặc sắc của thơ cổ Trung Quốc, của văn học nhân loại. Làm sao để
học sinh chủ động lĩnh hội cái hay, cái đẹp của một bài thơ Đường thông qua việc
chỉ đạo, hướng dẫn của người thầy theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy và học
đã được ghi trong Luật Giáo Dục- 2005, điều 24.2: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh” Đây là một câu hỏi khó giải đáp, đòi hỏi người thầy
phải nỗ lực phấn đấu, không ngừng học hỏi, kết hợp với niềm say mê văn chương
và lòng yêu nghề mới có thể từng bước nâng cao hiệu quả trong giảng dạy thơ
Đường.
Thơ Đường thể hiện những tình cảm có tính tiêu biểu, tượng trưng hơn là cái
cá thể, cá biệt. Nhà thơ thường không nói hết, không nói trực tiếp hết ý của mình
mà để cho người đọc suy nghĩ, cảm thụ. Ngôn ngữ thơ Đường tinh luyện, hàm súc
mà lại có dư ba, lời ít ý nhiều, ý ở ngoài lời. Bởi vậy, giảng dạy thơ Đường cho học
sinh lớp 7 Trung học cơ sở và học sinh lớp 10 Trung học phổ thông quả là một công
việc đầy thử thách. Cái khó lớn nhất là phải vượt qua hàng rào ngôn ngữ để hiểu và
cảm cái hay, cái đẹp, sự thâm thuý của những bài thơ cổ nổi tiếng của các nhà thơ
Trung Quốc. Do đó, chọn đề tài “Dạy học thơ Đường ở trường Phổ thông theo
hướng tích cực”, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu, cụ thể hóa vấn đề lí luận
phương pháp dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thơ Đường ở
trường Phổ thông thông qua việc tìm tòi, khám phá những biện pháp để phát huy
tính tích cực học tập, giúp học sinh chủ động tìm hiểu cái hay, cái đẹp của thơ
Đường, tạo hứng thú cho các em khi tiếp xúc với tinh hoa văn hoá của nhân loại.
9
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Là đỉnh cao của thơ ca cổ điển Trung Quốc, là tinh hoa văn hoá của nhân loại
nên hơn 1000 năm qua, thơ Đường đã có bề dày nghiên cứu, phê bình của nhiều tác
giả thuộc nhiều thế hệ. Họ nghiên cứu thơ Đường dưới nhiều góc độ khác nhau: nội
dung tư tưởng, ý nghĩa xã hội của thơ Đường; hình thức thơ Đường dưới góc nhìn
của thi pháp học, thể loại và ngôn ngữ,…với một số công trình nghiên cứu nổi bật:
Quyển Thơ Đường của giáo sư Lê Đức Niệm trình bày khái quát về văn học
đời Đường và tập trung đi sâu vào con người và thơ của ba tác giả tiêu biểu: Lý
Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.
Quyển Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc của viện sĩ LX. Lixevích do Trần
Đình Sử dịch, viện sĩ đã đề cập đến tư tưởng chung của thơ Đường (Đạo giáo, Nho
giáo, Phật giáo)
Quyển Thi pháp thơ Đường – một số phương diện chủ yếu của Nguyễn Thị
Bích Hải, Luận án PTSKH Ngữ văn (Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Đại
học Sư phạm Hà Nội), 1996.
Quyển Thi pháp thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải, Nxb Thuận Hóa,1997
Với công trình nghiên cứu về “Thi pháp thơ Đường”, Nguyễn Thị Bích Hải
nói khá rõ về ba lĩnh vực thi pháp: con người, không gian và thời gian. Tác giả cho
rằng: con người gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên, ở giữa thiên nhiên, mọi hành
động, suy tư của con người đều được thiên nhiên cảm ứng. Con người đó xuất hiện
trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời, đầu đội trời, chân đạp đất- nối đất với trời. Ta
ít khi thấy nhà thơ xuất hiện với tư cách là một cái tôi- cá nhân, bởi con người đó là
con người siêu cá thể. Tiếng nói của họ hoà âm với nhịp điệu của vũ trụ. Không
gian, thời gian nghệ thuật trong thơ Đường cũng đa phần là không gian, thời gian vũ
trụ. Bầu trời, thiên nhiên là cái nền của thơ Đường, thời gian thì được quan niệm
như dòng chảy liên tục, tuần hoàn không nghỉ và con người cũng liên tục bị cuốn
theo dòng tuần hoàn đó.
Quyển Về thi pháp thơ Đường của Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nxb Đà
Nẵng, 1997.
10
Ở công trình nghiên cứu này, Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử đề cập đến
những vấn đề cơ bản về không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Đường. Các
tác giả cho rằng: không gian trong thơ Đường là không gian của vũ trụ, không gian
to lớn, vĩ mô của những đất trời, nhật nguyệt, nam bắc, đông tây…. Về thời gian thì
xuất hiện năm phạm trù: thời gian siêu mệnh cá thể, thời gian vũ trụ, tự nhiên, thời
gian siêu nhiên, thời gian sinh hoạt, thời gian lịch sử.
Ngoài ra, nghiên cứu thơ Đường trong lịch trình phát triển thì có quyển
“Lịch sử văn học Trung Quốc, tập hai”, nghiên cứu về tác giả có “Lý Bạch tứ tuyệt”
của Phạm Hải Anh; “Thơ Đỗ Phủ” của Trần Xuân Đề….Nghiên cứu về thể loại lại
có “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại,
“Đến với Đường thi tuyệt cú” của PGS. TS Hồ Sĩ Hiệp…
Thơ Đường đã được đưa vào sách giáo khoa Trung học cơ sở từ năm 1989,
song đến nay những công trình nghiên cứu về nó vẫn chưa thật sự phong phú, phần
lớn các nhà nghiên cứu tiếp nhận thơ Đường bằng con đường khám phá, tìm hiểu
nội dung, bút pháp nghệ thuật và bàn về những vấn đề lịch sử văn học, nội dung,
nghệ thuật, thể loại,… của thơ Đường. Đặc biệt, khía cạnh về phương pháp dạy học
những bài thơ Đường rất ít được đề cập đến. Do điều kiện khảo sát còn hạn chế,
dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu nổi bật có liên quan
đến đề tài nghiên cứu:
Quyển Thơ Đường trong nhà trường do Trần Ngọc Hưởng biên soạn, tác giả
tuyển chọn một số bài thơ Đường và một số bài phân tích, bình giảng về các bài thơ
đó, nhằm giúp học sinh hiểu và nắm bắt chính xác những bài thơ Đường có trong
chương trình phổ thông.
Quyển Thơ Đường ở trường phổ thông do PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp tuyển chọn và
biên soạn, Nxb Văn nghệ, TP.HCM, 1995
Quyển Giúp học tốt Văn học Trung Quốc trong nhà trường của PGS.TS Hồ
Sĩ Hiệp, Nxb Đồng Nai, 1998
Quyển Văn học Trung Quốc với nhà trường (tiểu luận) của PGS.TS Hồ Sĩ
Hiệp, Nxb ĐHQG TP. HCM, 2006
11
Quyển Giảng văn văn học châu Á trong trường Phổ thông, Nguyễn Thị Bích
Hải, Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, NXB Thuận
Hóa, Huế, 2002
Quyển Bình giảng thơ Đường: Theo sách giáo khoa Ngữ văn mới, Nguyễn
Thị Bích Hải, NXB Giáo dục, HN, 2005
Quyển Thơ Đường bình giải của Nguyễn Quốc Siêu, Nxb Giáo dục, tái bản
lần thứ 5 năm 2005
Tuy nhiên, những cuốn sách, những công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu
chỉ đề cập đến thơ Đường ở khía cạnh thi pháp; phân tích, bình giảng nội dung,
nghệ thuật chứ chưa đi sâu vào việc nghiên cứu phương pháp giảng dạy thơ Đường
theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy, ở luận văn này,
chúng tôi sẽ thực hiện công việc đó với hi vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc
đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả dạy và học thơ Đường trong
chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Giới hạn nghiên cứu của luận văn gồm các bài thơ Đường trong chương trình
Ngữ Văn phổ thông:
1) Vọng Lư sơn bộc bố- Lí Bạch (Ngữ Văn lớp 7, tập 1)
2) Tĩnh dạ tứ- Lý Bạch (Ngữ văn lớp 7, tập 1)
3) Hồi hương ngẫu thư- Hạ Tri Chương (Ngữ văn lớp 7, tập 1)
4) Mao ốc vị thu phong sở phá ca- Đỗ Phủ (Ngữ văn lớp 7, tập 1)
5) Phong Kiều dạ bạc- Trương Kế (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 7, tập 1)
6) Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng- Lý Bạch
(Ngữ văn lớp 10, tập 1)
7) Thu hứng- Đỗ Phủ (Ngữ văn lớp 10, tập 1)
8) Hoàng Hạc lâu- Thôi Hiệu (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1)
9) Khuê oán- Vương Xương Linh (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1)
10) Điểu minh giản- Vương Duy (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1)
12
Ngoài các bản dịch thơ trong Sách giáo khoa, ở một số bài thơ, chúng tôi còn
sưu tầm, khảo sát thêm một số bản dịch thơ của các dịch giả khác có liên quan đến
đề tài nghiên cứu để đối chiếu và bổ sung. Từ đó, giúp chúng tôi làm sáng tỏ hơn
biện pháp dạy học tích cực cần trình bày.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Với việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, luận văn sẽ sử
dụng các phương pháp chính sau:
 Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu các bản dịch theo hai
hướng: so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa và so sánh giữa
các bản dịch thơ của các dịch giả với nhau.
 Phương pháp phân tích: Phân tích thơ, phân tích từ ngữ trong các bản
dịch để thấy được chỗ đạt, chưa đạt của các bản dịch.
 Phương pháp vận dụng lý luận thi pháp học thơ Đường để tiếp cận các tác
phẩm về đặc điểm nội dung, đặc trưng thể loại và hình thức nghệ thuật.
 Phuơng pháp điều tra, thăm dò, thống kê, phân tích: điều tra, thăm dò ý
kiến của các giáo viên Trung học cơ sở, Trung học phổ thông để rút ra
những thụân lợi, khó khăn của việc dạy và học thơ Đuờng; thống kê,
phân tích để đánh giá thực trạng dạy và học thơ Đuờng ở trường phổ
thông hiện nay.
 Phương pháp thực nghiệm qua việc thiết kế giáo án và giảng dạy ở
trường Trung học phổ thông.
6. Đóng góp mới của luận văn:
Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học thơ Đường thông qua
việc tiếp cận sâu văn bản, giáo viên không chỉ hướng dẫn học sinh so sánh, đối
chiếu bản dịch thơ với phiên âm, dịch nghĩa mà còn hướng dẫn học sinh khảo sát,
sưu tầm và so sánh một số bản dịch thơ tiêu biểu của các dịch giả khác nhau. Bên
cạnh đó, việc khám phá chất Đường thi ở các bình diện thi đề, thi ý và thi tứ qua hệ
thống câu hỏi gợi mở liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo, kết hợp với những bài tập
13
trong hoạt động thảo luận nhóm, sẽ xóa bỏ phần nào những khó khăn khi học sinh
tiếp cận với thơ Đường, giúp học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo và tích cực
học tập; tạo hứng thú cho các em khám phá cái hay, cái đẹp của thơ Đường- một
trong những tinh hoa văn hóa của nhân loại.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài các phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Tài liệu tham khảo” và “Phụ lục”, kết
cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận dạy và học thơ Đường theo hướng tích cực
1.1. Vài nét về thơ Đường
1.2. Tính tích cực trong dạy học nói chung và trong dạy học thơ Đường
Chương 2: Những biện pháp dạy và học thơ Đường theo hướng tích cực
2.1. Đọc sáng tạo văn bản
2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch
2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở
Chương 3: Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông
3.1. Việc dạy và học thơ Đường ở trường Phổ thông hiện nay
3.1.1. Về chương trình Sách giáo khoa
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy và học thơ Đường
3.2. Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông
3.2.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm
3.2.3. Tổ chức dạy học thực nghiệm
14
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN DẠY VÀ HỌC THƠ ĐƯỜNG
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
1.1. Vài nét về thơ Đường:
1.1.1. Khái niệm, phân loại:
Thơ Đường hay Đường thi là những bài thơ của các thi sĩ Trung Hoa làm
dưới thời nhà Đường, nổi tiếng nhất là 300 bài được gọi là Đường thi tam bách thủ.
Trong số đó có một số bài được làm theo thể thơ Đuờng lụât, số còn lại làm theo
các thể thơ khác, phần lớn là thơ cổ phong.
Thơ Đuờng lụât chia làm 2 loại: thơ thất ngôn mỗi câu có 7 chữ, thơ ngũ
ngôn mỗi câu có 5 chữ. Bài thơ nào có 8 câu thì gọi là bát cú, có 4 câu thì là tứ
tuyệt, còn gọi là tuyệt cú.
Như vậy có các loại thơ Đuờng luật sau đây:
- Thất ngôn bát cú
- Thất ngôn tứ tuyệt
- Ngũ ngôn bát cú
- Ngũ ngôn tứ tuyệt
Trong các thể loại này, thơ Đuờng luật thất ngôn bát cú là thể loại phổ biến
nhất.
Về hình thức, thơ tứ tuyệt được xem như thơ bát cú đem giấu đi hai cặp câu và thơ
ngũ ngôn được coi là thơ thất ngôn cắt bỏ hai chữ đầu mỗi câu. Vì vậy, chỉ cần biết
luật thơ Đuờng luật thất ngôn bát cú thì có thể làm các loại thơ Đuờng luật khác.
1.1.2. Các quy tắc sáng tác thơ:
1.1.2.1. Luật bằng trắc: gồm có thanh, luật, niêm, vận.
- Thanh luật là quy tắc xếp đặt thanh bằng và thanh trắc cho mỗi chữ trong
một câu thơ theo luật lệ nhất định. Hệ thống thanh truyền thống có bình- thượng-
15
khứ- nhập. Bình thanh có trầm bình và phù bình. Trong phép làm thơ, thanh luật
chia ra bằng/ trắc. Có hai thanh bằng gồm có trầm bình (dấu huyền) và phù bình
(không dấu). Có bốn thanh trắc gồm phù thượng thanh (dấu ngã), trầm thượng
thanh (dấu hỏi), phù khứ thanh (dấu sắc), trầm khứ thanh (dấu nặng). Ngoài ra còn
có phù nhập thanh (dấu sắc), trầm nhập thanh (dấu nặng) dành riêng cho các tiếng
đằng sau có phụ âm c, ch, p, t.
- Luật của bài thơ thất ngôn bát cú căn cứ vào chữ thứ hai của câu thơ đầu.
Thơ thất ngôn bát cú có thể được làm theo hai luật: Luật bằng và luật trắc. Bài thơ
thất ngôn bát cú làm theo luật bằng nếu chữ thứ hai ở câu đầu thuộc thanh bằng và
luật trắc nếu chữ thứ hai ở câu đầu thuộc thanh trắc. Căn cứ vào thanh của chữ cuối
câu đầu, bài thơ còn thuộc vần bằng hay vần trắc. Từ hai luật và hai vần, ta có bốn
dạng thơ thất ngôn bát cú: thơ luật bằng vần bằng, luật trắc vần bằng, luật bằng vần
trắc và luật trắc vần trắc. Tuy nhiên, các thi nhân thường hay làm theo vần bằng, tức
là luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng.
Sau đây là bảng luật thơ:
(Ghi chú: Kí hiệu B: thanh bằng phân minh, T: thanh trắc phân minh sẽ được
nói đến ở luật “nhị tứ lục phân minh” ở phần tiếp theo)
Luật bằng vần bằng:
Hận biệt
Đỗ Phủ
1) B B T T T B B (vần) 1. Lạc thành nhất biệt tứ thiên lý1
2) T T B B T T B (vần) 2. Hồ kỵ trường khu ngũ lục niên
3) T T B B B T T (đối câu 4) 3. Thảo mộc biến suy hành kiếm
ngoại
4) B B T T T B B (vần) (đối câu 3) 4. Binh qua trở tuyệt lão giang biên
5) B B T T B B T (đối câu 6) 5. Tư gia bộ nguyệt thanh tiêu lập
6) T T B B T T B (vần) (đối câu 5) 6. Ức đệ khán vân bạch nhật miên
1
Theo luật bằng vần bằng, từ “lý” trong câu thơ thứ nhất phải vần với các từ niên- biên- miên- Yên
và phải là vần bằng.
16
7) T T B B B T T 7. Văn đạo Hà Dương cận thặng
thắng
8) B B T T T B B (vần) 8. Tư đồ cấp vị phá u Yên
Hận biệt ly
Đỗ Phủ
Bốn nghìn dặm bỏ rơi thành Lạc
Sáu bảy năm tràn mãi giặc Hồ
Bến lạ chết già: đường lối nghẽn
Ải ngoài chạy mệt cỏ cây thu
Em xa mây bạc ngày nằm ngắm
Nhà nhớ, trăng thanh tối đứng xo
Nghe nói Hà Dương quân mới thắng
Phá ngay Yên kế, cậy Tư Đồ.
(Nhượng Tống dịch)
Luật trắc vần bằng:
Xuy địch
Đỗ Phủ
T T B B T T B (vần) 1. Xuy địch thu san phong nguyệt thanh
B B T T T B B (vần) 2. Thùy gia xảo tác đoạn trường thanh
B B T T B B T (đối câu 4) 3. Phong phiêu luật lữ tương hòa thiết
T T B B T T B (vần) (đối câu 3) 4. Nguyệt bạng quan san kỷ xứ minh
T T B B B T T (đối câu 6) 5. Hồ kỵ trung tiêu kham bắc tẩu
B B T T T B B (vần) (đối câu 5) 6. Vũ Lăng nhất khúc tưởng nam chinh
B B T T B B T 7. Cố viên dương liễu kim dao lạc
T T B B T T B (vần) 8. Hà đắc sầu trung khúc tận sinh
Thổi sáo
Đỗ Phủ
Non thu sáo thổi gió trăng trong
Khéo lựa nhà ai tiếng mủi lòng
17
Gió lọt cung thương hòa xát nhịp
Trăng soi ải núi sáng bao vùng
Ngựa Hồ về Bắc đêm tan vỡ
Khê Vũ sang Nam khúc não nùng
Vườn cũ liễu giờ xơ xác hết
Trời buồn chưa dễ nảy chồi đông.
(Nhượng Tống dịch)
Đối với thơ thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt (theo thể luật), quy tắc
bằng trắc cũng có bốn dạng (luật bằng vần bằng, luật trắc vần bằng, luật bằng vần
trắc và luật trắc vần trắc) tương tự như thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Sau đây là
một số ví dụ:
Luật bằng vần bằng: (thể thất ngôn tứ tuyệt)
Lương Châu từ
Vương Hàn
B B T T T B B (vần) 1. Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
T T B B T T B (vần) 2. Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
T T B B B T T 3. Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
B B T T T B B (vần) 4. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?
Lương Châu từ
Vương Hàn
Rượu bồ đào chén dạ quang
Muốn say đàn đã rền vang giục rồi
Sa trường say ngủ ai cười
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu.
(Trần Trọng San dịch)
Luật trắc vần bằng: (thể thất ngôn tứ tuyệt)
Phong Kiều dạ bạc
Trương Kế
T T B B T T B (vần) 1. Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
18
B B T T T B B (vần) 2. Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
B B T T B B T 3. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
T T B B T T B (vần) 4. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Đêm đậu thuyền ở Phong Kiều
Trương Kế
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
(Tản Đà dịch)
Luật bằng vần bằng: ( thể ngũ ngôn tứ tuyệt)
Phần thượng kinh thu
Tô Đĩnh
B B T T B (vần) 1. Bắc phong xuy bạch vân
T T T B B (vần) 2. Vạn lý độ hà Phần
T T B B T 3. Tâm tự phùng dao lạc
B B T T B (vần) 4. Thu thanh bất khả văn
Ngại đến sông Phần
Tô Đĩnh
Mây bay gió núi thổi vi vu
Sông Phần xa khuất, trời thu bẽ bàng
Tơ lòng bao mối ngổn ngang
Có ai nghe tiếng thu vàng xa xa?
(Hải Đà dịch)
Luật trắc vần bằng: (thể ngũ ngôn tứ tuyệt)
Tảo khởi
Lý Thương Ẩn
T T T B B (vần) 1. Phong lộ đạm thanh thần
B B T T B (vần) 2. Liêm gian độc khởi nhân
B B B T T 3. Oanh đề hoa hựu tiếu
19
T T T B B (vần) 4. Tất cánh thị thùy nhân
Dậy sớm
Lý Thương Ẩn
Gió êm sương nhạt sớm mai,
Một mình thức dậy khoan thai trước mành.
Hoa cười oanh nói trên cành,
Gẫm xem xuân sắc trời dành cho ai
(Trần Trọng Kim dịch)
Luật thơ Đường rất khó, ngoại trừ những đại thi gia, còn phần nhiều các thi
sĩ đôi khi còn bị thất niêm luật. Chính vì sự phức tạp của niêm luật nên vào thời
Mạc Đường, các thi nhân đã nhiều lần tranh cãi và đã nêu ra lệ bất luận để giảm bớt
tính cứng nhắc trong thơ Đường. Trong thơ thất ngôn, chữ thứ nhất, chữ thứ ba và
chữ thứ năm không cần phải đúng luật «nhất, tam, ngũ bất luận».
Trong Đường thi, tuyệt cú thể cổ là một thể thơ được ưa chuộng vì các câu
thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng, trắc,… trong khi thể luật thì quá
khuôn phép, gò bó. Thi nhân đời Đường làm thơ theo thể tuyệt cú theo thể cổ để có
thể bày biện được chỗ khoáng đạt trong lòng mà vẫn giữ được vẻ cổ kính, phiêu
nhiên, cao nhã- những nét đặc trưng của thời đại thi ca này.
- Niêm trong thơ Đường Luật được định nghĩa xem như là sự dính liền âm
luật với nhau giữa hai câu thơ. Hai câu thơ được gọi là niêm với nhau khi chữ thứ
hai và chữ thứ sáu của chúng cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là
trắc. Như thế bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Trong bài thơ thất ngôn bát
cú, câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5 và câu 6 niêm
với câu 7. Trong thơ tuyệt cú thể luật, câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3.
Trường hợp xem là thất niêm (mất sự dính liền) là khi các câu trong bài thơ đặt để
sai không theo luật đã định.
Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường
luật, có câu 1 niêm với câu 8 (lộ- đế và thụ- mộ), câu 2 niêm với câu 3 (sơn- gian
và tiêu- thiên), câu 4 niêm với câu 5 (thượng- cúc và địa- nhật), câu 6 niêm với
20
câu 7 (chu- y và viên- đao). Cặp câu 1 và câu 8, câu 4 và câu 5 là trắc niêm với trắc,
hai cặp còn lại là bằng niêm với bằng:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu Sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Bài «Giang bạn độc bộ tầm hoa» của Đỗ Phủ là thơ tuyệt cú thể luật, có
“tứ”(câu 1) niêm với “tại” (câu 4) và “mãn” (câu 1) niêm với “kháp” (câu 4);
“hoa” (câu 2) niêm với “liên” (câu 3) và “chi” (câu 2) niêm với “thời” (câu 3).
Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê,
Thiên hoa vạn đóa áp chi đê.
Lưu liên hí điệp thời thời vũ,
Tự tại kiều oanh kháp kháp đề”.
- Vận hay vần của bài thơ là vần của những chữ cuối câu. Đó là những tiếng
thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hay nhiều câu thơ để hưởng ứng nhau, có tác dụng
tạo ra nhạc tính cho câu thơ. Ví dụ: cương và sương.
Các thi nhân sáng tác thơ Đường Luật thường làm theo vần bằng. Đối với
thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ được làm theo vần bằng khi các chữ cuối
câu 1, câu 2, câu 4, câu 6 và câu 8 phải là thanh bằng và cùng vần. Cả một bài thơ
chỉ hiệp theo một vần gọi là gieo vần theo lối độc vận. Các chữ gieo vần tránh trùng
nhau và phải hiệp vận cho đúng, nếu gieo sai gọi là lạc vận hay vận rụng, gieo vần
gượng gạo ép chế không được hiệp cho lắm gọi là cưỡng vận hay gượng vận. Và
như vậy theo vận luật thì không thể chấp nhận được.
Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ làm theo luật trắc vần bằng, có 5 vần bằng
được gieo ở câu đầu và các câu chẵn: lâm- sâm- âm- tâm- châm:
21
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu Sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Hai thể loại chủ yếu của thơ tuyệt cú là thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ
tuyệt được làm theo lối thơ luật hay thơ cổ phong. Nhân dựa vào lối thơ luật mà bài
thơ tuyệt cú ngắt ra bốn câu (có từ hai đến ba vần bằng) thì gọi là tuyệt cú thể luật,
còn nếu làm theo vần trắc không theo niêm luật thì gọi là tuyệt cú thể cổ. Do đó,
luật sáng tác thơ tuyệt cú thể cổ có vẻ “rộng rãi” hơn, các câu thơ không cần đối,
không phụ thuộc luật bằng, trắc, miễn là ý tứ sâu sắc, lời hay, ý đẹp và giàu âm
điệu…
Bài “Giang bạn độc bộ tầm hoa” của Đỗ Phủ được sáng tác theo thể luật, có
ba vần bằng gieo ở câu đầu và hai câu chẵn thứ hai và thứ tư:
Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê,
Thiên hoa vạn đóa áp chi đê.
Lưu liên hí điệp thời thời vũ,
Tự tại kiều oanh kháp kháp đề
Bài “Xuân hiểu” của Mạnh Hạo Nhiên sáng tác theo thể cổ, vận vần trắc
không theo niêm luật:
Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu?
1.1.2.2. Quy tắc đối:
22
Đối là đặt hai câu đi song đôi với nhau cho ý và chữ trong hai câu ấy cân
xứng. Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu song nhau, có tác
dụng nhấn mạnh, làm rõ hai ý đối nhau. Đối chữ tức là đối thanh nghĩa: bằng đối
trắc, trắc đối bằng hay đối từ loại: danh từ đối danh từ, động từ đối động từ,… Đối
thanh có tác dụng tạo nên tính nhạc trong thơ, tạo cho câu thơ có âm điệu êm đềm,
thánh thót hay trầm bổng. Trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật, hai câu thực và
hai câu luận phải đối với nhau (cả về ý và từ ngữ). Hai câu đề cũng như hai câu kết
không phải đối nhau về ý và từ ngữ nhưng phải đối nhau về bằng trắc.
Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ, hai câu đề có bằng đối trắc:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
T T B B B T B
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm.
B B B T T B B
Về đối từ loại, hai câu thơ luận: «Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng/ Tái
thượng phong vân tiếp địa âm» có danh từ đối danh từ: giang/ tái, ba lãng/ phong
vân, thiên/ địa. Hai câu thơ này cũng đối nhau về ý, có tác dụng nhấn mạnh hai ý
đối nhau: «Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời/ Trên cửa ải, mây sà xuống
giáp mặt đất âm u»
1.1.2.3. Cấu trúc: Một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật có 4 phần. Phần mạo là
mào đầu (vào bài) còn gọi là phần Đề, gồm phá đề (câu 1) dùng để mở bài và thừa
đề ( câu 2) dùng để chuyển tiếp vào bài. Phần thực hay trạng (Gồm hai câu 3 và 4)
dùng để giải thích, triển khai tựa đề cho rõ ràng. Phần luận (Gồm hai câu 5 và 6)
dùng để bàn luận ý nghĩa của bài. Và phần kết (Gồm hai câu 7 và 8) dùng để tóm tắt
ý nghĩa cả bài, bày tỏ tình cảm, thái độ. Ví dụ bài «Đăng cao» của Đỗ Phủ:
Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai, Phần đề
Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ, Phần thực
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
23
Vạn lý bi thu thường tác khách, Phần luận
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn, Phần kết
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.
Kết cấu của thơ tuyệt cú về cơ bản không khác luật thi bát cú, nghĩa là vẫn
tuân theo trình tự: Đề( câu 1), Thực ( câu 2), Luận (câu 3) và Kết (câu 4). Với thủ
pháp “khai môn kiến sơn” (mở cửa thấy núi) nên ngay từ câu thứ nhất (câu mở đề
còn gọi là câu Khởi (Phá), tác giả thơ tuyệt cú phải vào đề ngay. Nghĩa là phần mở
đề của bài thơ chỉ gói gọn trong một câu (trong luật thi thì hai câu). Đặc điểm của
câu Khởi trong thơ tuyệt cú thường là giới thiệu không gian, thời gian, con người và
sự việc trong năm chữ (ngũ ngôn tứ tuyệt) hay bảy chữ (thất ngôn tứ tuyệt). Ba câu
sau là Thừa, Chuyển, Hạp. Ngôn ngữ uyển chuyển, biến hóa ở câu thơ thứ ba, nếu
chỗ chuyển này mềm mại sẽ giữ được huyết mạch của toàn bài và làm cho câu cuối
cùng hoặc vút lên cao ngất hoặc trôi đi như thuyền thuận nước…
Chẳng hạn như bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng
Lăng” của Lý Bạch:
Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
Bạn từ lầu Hạc lên đường.
Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng.
Bóng buồm đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.
(Ngô Tất Tố dịch)
Ở hai câu thơ đầu, Lý Bạch đã tái hiện lại khung cảnh của buổi chia tay: có
không gian đưa tiễn (Hoàng Hạc lâu), thời gian đưa tiễn (yên hoa tam nguyệt), con
người và sự việc (Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng). Đến câu thơ thứ
24
ba “Cô phàm viễn ảnh bích không tận”, với hình ảnh “cô phàm” và “bích không
tận”, ông đã chuyển từ khung cảnh chia tay sang bày tỏ một cách kín đáo tâm tình
của người đưa tiễn nhưng vẫn giữ được huyết mạch của toàn bài và làm cho câu
cuối cùng vút lên cao ngất với hình ảnh “duy kiến Trường Giang thiên tế lưu”. Đó
là một hình ảnh thơ kỳ vĩ nhưng ẩn chứa một nỗi niềm của tác giả. Ở đây người đọc
đã cảm nhận được hai dòng sông: một dòng sông Trường Giang bao la đang chảy
vào cõi trời và một dòng sông của nỗi nhớ bạn đang chảy trong tâm tư nhà thơ.
Thơ tuyệt cú và thất ngôn bát cú Đường luật là một bộ phận quan trọng của
thơ Đường. Nó có vị trí xứng đáng trong thi đàn thơ ca cổ điển Trung Quốc. Có thể
nói, thơ tuyệt cú và thất ngôn bát cú Đường luật là một sự sáng tạo rất lớn của các
nhà thơ đời Đường. Hai thể thơ này là kết quả của tư duy sáng tạo và nền học vấn
thi cử với chủ trương “dĩ thi thủ sĩ” (lấy thơ để chọn nhân tài). Thơ Đường luật làm
hay thật khó nhưng cũng có nhiều bài thơ tuyệt cú và thất ngôn bát cú đã vượt qua
được thử thách để lưu truyền hàng nghìn năm với những vần thơ tuyệt đẹp, ngắn
gọn, súc tích nhưng mang nội dung tư tưởng thật sâu sắc. Do đó, thơ Đường luật
đẹp như một bông hoa trên cành thắm và mãi mãi là những viên ngọc sáng giá trên
thi đàn Trung Quốc.
1.2. Tính tích cực trong dạy học nói chung và trong dạy học thơ Đường:
1.2.1. Tính tích cực trong dạy học:
1.2.1.1. Khái niệm:
Khi nói về phương pháp day học, người ta thường sử dụng những thuật ngữ
khác nhau: Phương pháp dạy học mới; phương pháp dạy học lấy người học làm
trung tâm; phương pháp dạy học hiện đại; phương pháp day học tích cực... Mặc dù
sắc thái của các thuật ngữ có khác nhau, nhưng theo chúng tôi, tất cả đều có chung
một bản chất.
Có thể quan niệm, phương pháp dạy học tích cực là:
25
- Là sự khơi dậy, phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh nhằm trau dồi
tư duy sáng tạo và rèn trí thông minh trong quá trình chinh phục chân lý.
- Là sự dạy và học mà trong đó thầy là người tổ chức, định hướng, tạo điều
kiện; trò là người thực hiện, thi công.
- Là sự dạy và học nhằm đạt được cả ba mục tiêu: Kiến thức, kỹ năng và
thái độ trên cơ sở đánh giá, kiểm tra quá trình học tập.
- Là sự dạy và học mà trong đó có sử dụng hiệu quả những phương tiện kỹ
thuật hiện đại.
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là thay đổi
cách dạy và cách học; chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”,
giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi
là dạy và học tích cực. Trong cách dạy này, học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên
là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy
và người học. Phương pháp này là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động,
sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập. Có thể nói, cốt lõi
của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói
quen học tập thụ động.
Tóm lại, phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học hướng tới
việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học. Tuy nhiên, để
dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy
theo phương pháp thụ động. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo
viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở
thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập cá nhân hoặc theo
nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục
tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Vì thế, giáo viên phải
có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến
của giáo viên.
26
Có thể so sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học
mới như sau:
Bảng 1.1: Bảng so sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp
dạy học mới
Phương pháp dạy học
truyền thống
Phương pháp dạy học mới
Quan
niệm
Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội,
qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng,
tư tưởng, tình cảm.
Học là quá trình kiến tạo; học sinh
tìm tòi, khám phá, phát hiện,
luyện tập, khai thác và xử lý thông
tin,…từ đó hình thành hiểu biết,
năng lực và phẩm chất.
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và
chứng minh chân lí của giáo viên.
Tổ chức hoạt động nhận thức cho
học sinh, giáo viên hướng dẫn học
sinh đi tìm chân lí.
Mục tiêu
Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo. Học chủ yếu để thi cử, sau
khi thi xong, những điều đã học
thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến.
Chú trọng hình thành các năng lực
(sáng tạo, hợp tác,…) Học để đáp
ứng những yêu cầu của cuộc sống
hiện tại và tương lai.
Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng, truyền
thụ kiến thức một chiều.
Các phương pháp tìm tòi, gợi mở,
điều tra, giải quyết vấn đề; dạy
học tương tác.
Hình thức
tổ chức
Cố định, giới hạn trong lớp học, giáo
viên đối diện với cả lớp.
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở
hiện trường, trong thực tế…, học
cá nhân, học đôi bạn, học theo
nhóm Ba mối quan hệ đồng thời
được xác lập: giáo viên- học sinh,
học sinh- giáo viên, học sinh- học
sinh.
27
1.2.1.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực:
a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh:
Trong phương pháp dạy học tích cực, học sinh- đối tượng của hoạt động
“dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động
học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua đó, học sinh tự lực khám phá
những điều mình chưa rõ, không thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên
sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, học sinh trực tiếp
quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm
được kiến thức kĩ năng mới, đồng thời nắm được phương pháp kiến tạo kiến thức,
không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có mà có thể bộc lộ và phát huy tiềm
năng sáng tạo.
b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học:
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh
không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy
học.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện
cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
học sinh lòng ham học và khơi dậy năng lực vốn có của mỗi học sinh, kết quả học
tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động
học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang
tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không
chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của
giáo viên.
c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:
Trong một lớp học, trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng
đều tuyệt đối. Do đó, ta buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn
thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác
độc lập. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao
28
tiếp thầy- trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
chiếm lĩnh kiến thức. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá
nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, tăng
tính khách quan khoa học trong việc lĩnh hội kiến thức của học sinh.
Trong lớp học, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở các nhóm, các
tổ, phổ biến nhất là các nhóm nhỏ (từ 2 đến 6 học sinh). Học tập hợp tác làm tăng
hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện
thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong
hoạt động học tập theo nhóm nhỏ, tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc
lộ, uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ,… Hơn nữa, mô
hình hợp tác trong xã hội được đưa vào đời sống học đường sẽ giúp học sinh quen
dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, giúp các em học hỏi được
nhiều kỹ năng mới để áp dụng vào cuộc sống sau này.
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò:
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà đồng thời còn tạo điều kiện nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều
chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên nên tạo điều kiện thuận lợi để học
sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau, chẳng hạn sau khi học sinh trình bày kết quả
thảo luận nhóm hay thuyết trình một vấn đề. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt
động kịp thời là năng lực rất cần thiết cho sự thành công trong cuộc sống mà nhà
trường phải trang bị cho học sinh.
Đặc biệt, theo xu hướng phát triển, để đào tạo những con người năng động,
sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở
yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí
thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.
29
1.2.2. Tính tích cực trong dạy học thơ Đường:
Muốn dạy tốt tác phẩm thơ Đường, trước hết ta cần trực tiếp tiếp xúc với tác
phẩm. Có thể nói đây là một yêu cầu nghiêm ngặt đối với cả giáo viên và học sinh
khi dạy và học tác phẩm văn chương nói chung. Đặc biệt đối với thơ Đường, giáo
viên cần hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm hoặc ngâm thơ Đường (phần phiên âm)
để tạo không khí học tập tích cực và không khí Đường thi cho giờ dạy học.
Một bài thơ Việt cổ đưa vào giảng dạy đối với học sinh đã là một yêu cầu
khó, vì các nhà thơ thường thể hiện cảm xúc về con người, cuộc sống, thiên nhiên...
thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua vần điệu,
tiết tấu... Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên thơ
thường lời ít, ý khôn cùng: “Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc
bàn tay đang viết”, “Nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung
động”. (Alfret de Mussé) Do đó, để hiểu và cảm được bài thơ, người đọc phải suy
nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như nét đặc sắc trong tư
duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ. Cảm nhận được nội dung, nghệ thuật mà tác giả
muốn gởi gắm qua một bài thơ Việt cổ đã khó, huống chi khi tiếp xúc với thơ
Đường của Trung Quốc, các em sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn. Tác phẩm thơ
Đường bao giờ cũng có phần phiên âm chữ Hán, phần này học sinh rất khó hiểu nếu
như không nắm chắc các yếu tố Hán Việt. Do đó, sách giáo khoa có đưa vào bản
dịch nghĩa, dịch thơ để học sinh hiểu rõ hơn. Tuy nhiên, khi dạy thơ Đường, từ bản
phiên âm chữ Hán đến bản dịch nghĩa và dịch thơ thì mặt ngôn từ đã có sự khác
nhau khá xa khiến cho việc bám lấy ngôn từ để tìm hiểu, phân tích là rất khó. Vì
thế, khi dạy thơ Đường, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm
với bản dịch nghĩa và dịch thơ, giúp các em vượt qua “rào cản” về ngôn ngữ, hiểu
thấu đáo được lớp từ ngữ mà nhà thơ dùng làm công cụ để thể hiện tư tưởng, tình
cảm của mình. Từ đó, học sinh mới có thể tích cực trong học tập, chủ động chiếm
lĩnh nội dung và cảm nhận được nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm.
Cùng với việc trực tiếp tiếp xúc với tác phẩm, giáo viên cần gợi ý cho học
sinh tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tác phẩm. Tác phẩm văn chương bao giờ
30
cũng in đậm phong cách của tác giả và mang trên mình một dấu ấn lịch sử, văn hóa,
xã hội nhất định. Vì vậy, việc tìm hiểu tác giả, bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng
tác bao giờ cũng là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Sự hiểu biết về tác giả, về thời
đại, về tập tục xã hội, về bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác sẽ giúp cho học
sinh hiểu và cảm nhận tốt về tác phẩm. Điều này không dễ gì có được nếu học sinh
không chủ động tìm tòi, học hỏi. Vì thế, giáo viên cần tạo không khí thi đua học tập,
khuyến khích các em sưu tầm tranh ảnh, những đọan phim tư liệu, tìm kiếm những
thông tin liên quan đến tác giả, nội dung bài học trong quá trình sọan bài hoặc làm
bài tập thảo luận nhóm… theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Bên cạnh đó, thơ Đường có cấu trúc phong phú, đa dạng và mang một màu
sắc rất riêng. Giáo viên cần hướng dẫn, gợi mở để giúp học sinh nhận ra những nét
có tính chất thi pháp trong thơ Đường:
- Đề tài thơ Đường thường trang trọng, cái tôi với tính chất “phi cá thể”, ước
lệ trong thơ Đường rất phổ biến.
- Trong quá trình thể hiện, thơ Đường thường thể hiện những nguyên tắc
niêm- luật- vần- đối rất chặt chẽ để tạo sự hài hòa.
- Ngôn ngữ thơ Đường hàm súc, “ý tại ngôn ngoại”, rất ít khi đi vào miêu tả
chi tiết, thường mang nhiều tầng nghĩa gợi một màu sắc trí tuệ.
Vì vậy khi dạy thơ Đường, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm chất
“Đường thi”, trong đó nổi bật là thi đề, thi tứ và thi ý để học sinh có thể đi đúng
hướng trong việc phân tích thơ Đường. Để làm được điều đó, giáo viên cần đối
thoại, gợi tìm, tạo tình huống có vấn đề, gợi ý cho các em thảo luận nhóm bằng
nhiều cách khác nhau để tạo không khí học tập cũng như tạo ra sự nổ vỡ trong trí
não của các em.
Ngoài ra, không riêng gì thơ Đường mà bất kì một tác phẩm văn học nào, khi
giảng dạy, giáo viên cần đặt bài thơ đó trong hệ thống đề tài cùng với các bài thơ
khác để học sinh chủ động tìm ra nét độc đáo của bài thơ trong sự khám phá, phát
hiện về thiên nhiên và con người… Giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh sưu tầm,
tìm hiểu thêm những bài thơ, những câu thơ cùng chủ đề với tác phẩm. Điều này
31
không chỉ giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm đang học mà còn
giúp các em phát huy khả năng so sánh đối chiếu giữa văn bản này với văn bản
khác, từ đó giúp học sinh có thể cảm thụ và ghi nhớ tác phẩm sâu sắc hơn.
Cuối cùng, thơ Đường rất hàm súc, tương đối khó giảng, vì vậy, để học sinh
học tập tích cực hơn, giáo viên cần trang bị thêm cho các em những tri thức cơ bản
về thơ Đường, nói chuyện về thơ Đường trong giờ ngoại khóa hoặc chuyên đề tự
chọn. Giáo viên có thể cho các em xem những tranh ảnh tư liệu, những đoạn phim
liên quan đến các tác giả, tác phẩm,…để các em học tập hứng thú hơn, tích lũy được
nhiều kiến thức hơn.
32
Chương 2:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
2.1. Đọc sáng tạo văn bản:
2.1.1. Vấn đề đọc sáng tạo trong dạy học Văn:
GS. Trần Đình Sử đã khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ Văn là dạy học
sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp
đọc các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu
cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn
học”2
. Đáng tiếc là trong nhiều năm nay, đa số học sinh ở các trường Trung học phổ
thông đã xem nhẹ việc đọc văn bản, rất ít học sinh đọc văn bản trước khi đến lớp,
thậm chí khi giáo viên cho đọc văn bản tại lớp cũng không chú ý theo dõi. Việc học
sinh xem nhẹ đọc tác phẩm đã làm hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo của chính
mình, từ đó khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, mất dần kĩ năng
đọc hiểu văn bản, thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo. Như vậy, mấu chốt của vấn
đề dạy học theo hướng tích cực và nâng cao hiệu quả cảm thụ văn học chính là ở
việc đọc sáng tạo, diễn cảm văn bản văn học.
Xuất phát từ mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng và đề cao
ý thức chủ thể của học sinh, GS. Trần Đình Sử đã khẳng định “Trong giờ học, học
sinh phải tự mình đọc, tự mình phán đoán, tự mình nêu câu hỏi…”; “trở về với văn
bản chính là để kích thích cho học sinh hoạt động và chỉ thông qua hoạt động thì
học sinh mới có dịp trưởng thành”. Đây là những quan điểm sư phạm khoa học và
đúng đắn đối với việc tiếp cận môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông.
Cùng quan điểm với GS. Trần Đình Sử, cố GS. Hoàng Ngọc Hiến nhấn
mạnh yêu cầu cần đạt được của việc đọc văn bản là phải nắm bắt trúng giọng điệu
2
Con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy-học văn (Văn nghệ số 10, ngày 7-3-2009)
33
của tác phẩm. Theo ông, “Sự phong phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà của bài văn
trước hết là ở giọng. Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt trúng được
giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình
viết. Bắt được giọng đã khó, làm cho học sinh cảm nhận được cái giọng càng khó,
công việc này đòi hỏi sáng kiến và tài tình của giáo viên…”3
Tục ngữ có câu: “Ăn không nên đọi, nói không nên lời”. Không biết đọc diễn
cảm, không tìm được ngữ điệu trong giảng bài, đó là sự bất lực của người thầy dạy
văn. Có nhiều giáo viên có kiến thức, nhưng khi giảng bài, học sinh thấy chán, buồn
ngủ bởi giáo viên đó thiếu khẩu khí, thiếu hơi văn, chưa bắt trúng được ngữ điệu,
giọng điệu của văn bản. Như vậy, người thầy dạy văn giỏi, ngoài kiến thức cần phải
có ngữ điệu, giọng điệu phù hợp, đa dạng. Có như vậy, tác phẩm mới tác động sâu
vào cảm nhận của học sinh và góp phần quan trọng để phát huy tiềm lực, kích thích
hứng thú học văn của học sinh.
Ngữ điệu và giọng điệu trong dạy học văn trước hết được thể hiện ở khả
năng đọc diễn cảm và ngữ điệu giảng bài của giáo viên. Đọc diễn cảm là ngoài việc
đọc đúng quy tắc ngữ pháp, đúng đặc trưng thể loại, ta cần phải đọc diễn cảm tác
phẩm với một giọng điệu riêng. Nắm bắt đúng giọng điệu của tác phẩm chính là
nắm bắt đúng tư tưởng và tình cảm của tác giả. Tác phẩm trữ tình cần đọc khác với
tác phẩm tự sự; đọc đoạn đối thoại khác đoạn độc thoại nội tâm; đọc văn chính luận
khác với đọc bài tùy bút…Tuỳ từng văn bản cụ thể mà giáo viên và học sinh có thể
chọn cho mình một “tông giọng” phù hợp.
Có thể xem đọc diễn cảm là nghệ thuật của trình diễn. Đọc diễn cảm góp
phần thể hiện sự xúc động của trái tim. Thơ là âm vang của cảm xúc. Việc đọc diễn
cảm bài thơ làm cho tác phẩm thơ vang lên như một bản nhạc, làm cho nó ngân nga
trong hồn người. Việc đọc diễn cảm thể hiện sự cảm thụ và thể nghiệm sâu sắc về
tác phẩm, làm cho người khác cũng có thể sản sinh những tình cảm, những ấn tượng
với tác phẩm như mình.
3
Giọng điệu trong văn chương, những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục, 2006
34
2.1.2. Biện pháp đọc sáng tạo các tác phẩm thơ Đường:
Lâu nay, trong dạy học Văn nói chung và dạy học thơ Đường nói riêng, phần
đọc diễn cảm bản dịch thơ ít được chú ý đúng mức bởi nhiều nguyên nhân từ phía
giáo viên, học sinh và chương trình sách giáo khoa. Dạy Văn phải hướng đến giáo
dục học sinh yêu Tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt,
sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung.
Tuy vậy, để dạy một tiết học thơ Đường thành công, trong đó có phần đọc diễn cảm
vẫn còn là nỗi trăn trở đối với mỗi giáo viên trên bục giảng. Bởi lẽ, để dạy tốt phần
luyện đọc diễn cảm, ta cần phải bảo đảm nhiều yếu tố và phối hợp nhiều hình thức
dạy học sáng tạo từ phía giáo viên đến học sinh.
Bên cạnh đọc bản phiên âm và bản dịch nghĩa, để đọc diễn cảm bản dịch thơ
Đường, trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc đúng, rõ ràng, chính xác, sau
đó, hướng dẫn học sinh thực hiện các yếu tố luyện đọc diễn cảm sau:
- Ngắt nghỉ giọng đúng lúc, đúng chỗ, bộc lộ được ý tứ nội dung bài thơ:
Khi đọc thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn.
Sự phân chia lời ở dạng nói được hình thức hoá bằng chỗ ngắt giọng. Sự phân chia
lời ở dạng viết được hình thức hoá bằng dấu câu. Chỗ ngắt giọng cũng là một căn
cứ để người nghe xác định được ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp, nội dung bài thơ. Vì
thế, khi dạy thơ Đường, giáo viên cần luyện ngắt giọng cho học sinh tùy thuộc vào
thể loại thơ ngũ ngôn Đường luật, thơ thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú Đường
luật…và cảm xúc của chủ thể trữ tình trong câu thơ cụ thể.
- Nhịp điệu đọc thay đổi lúc chậm rãi, lúc dồn dập khẩn trương phù hợp
với từng câu thơ:
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ
nghĩa- ngữ pháp, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tốc độ đọc nhanh hay chậm,
ngắt giọng một quãng ngắn hay ngừng lâu hơn bình thường, hay dừng không do
lôgic ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, tập
trung sự chú ý của người nghe vào từ ngữ sau chỗ ngừng hay vào nhãn tự của bài
thơ.
35
- Cường độ đọc nhấn mạnh hay lướt nhẹ, âm lượng phát ra to hay nhỏ:
Thơ là tiếng nói của tình cảm, phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn từ
một cách cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh và giàu nhạc điệu. Vì thế, khi đọc phiên
âm thơ Đường, cốt lõi phải làm sao tạo được tiếng vang, chú ý những chỗ cần nhấn
mạnh hay lướt nhẹ, không nên đọc to quá hay nhỏ quá làm cho người nghe khó theo
dõi, không hiểu đúng nội dung của bài thơ và ẩn ý của tác giả gửi gắm, bọc kín sau
lớp vỏ ngôn từ.
- Thay đổi sắc thái giọng đọc cho phù hợp với tâm trạng của chủ thể trữ
tình:
Thông qua giọng đọc, người đọc có thể biểu hiện được những sắc thái tình
cảm đa dạng của con người. Con người trong thơ Đường thường mang một “nỗi
buồn thiên cổ” giữa không gian vũ trụ rộng lớn khôn cùng. Qua nỗi buồn thiên cổ
ấy, người đọc tìm thấy một thế giới với những nỗi niềm tâm sự riêng tư, những
quan niệm của cá nhân về hoàn cảnh, số phận cuộc đời… Đó là lời muốn nói trong
sâu thẳm cõi lòng của biết bao nhiêu người trong cõi nhân thế về sự biệt ly, về nỗi
nhớ quê hương sâu sắc,… Để học sinh có giọng đọc phù hợp, chính xác, giáo viên
cần hướng dẫn các em chú ý đến tâm trạng của chủ thể trữ tình, chú ý những nhãn
tự, các yếu tố nghệ thuật được tác giả sử dụng như: so sánh, nhân hoá, tương phản
đối lập…
- Nét mặt, điệu bộ khi đọc:
Khi đọc thơ nói chung và đọc thơ Đường nói riêng, nếu thể hiện nét mặt,
điêu bộ một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung bài thơ thì sẽ góp phần tạo nên sự
truyền cảm đối với người nghe.
Chẳng hạn như bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, giáo viên
hướng dẫn học sinh đọc như sau:
Phần phiên âm:
Chú ý nhịp 4/3, riêng câu 4 nhịp 2/5
Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi,
Hương âm vô cải/ mấn mao tồi.
36
Nhi đồng tương kiến/ bất tương thức,
Tiếu vấn/ Khách tòng hà xứ lai?
Phần dịch thơ: chú ý sự khác nhau về nhịp ngắt ở các câu trong 2 bản dịch:
Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ:
Câu 1: nhịp 3/3
Câu 2: nhịp 4/4
Câu 3: nhịp 3/1/2
Câu 4: nhịp 2/4/2
Khi đi trẻ/ lúc về già,
Giọng quê vẫn thế/ tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn/ lạ/ không chào
Hỏi rằng/: “Khách ở chốn nào/ lại chơi?”
Bản dịch của Trần Trọng San:
Câu 1: nhịp 2/4
Câu 2: nhịp 4/4
Câu 3: nhịp 2/4
Câu 4: nhịp 2/1/5
Trẻ đi/ già trở lại nhà
Giọng quê không đổi/ sương pha mái đầu
Gặp nhau/ mà chẳng biết nhau
Trẻ cười/ hỏi:/ “Khách từ đâu đến làng?”
Một vài lưu ý khi đọc:
Cũng như các bài thơ tứ tuyệt khác, lời thơ rất hàm súc, giàu ý nghĩa biểu
hiện, biểu cảm. Để thể hiện được tâm trạng của tác giả, ta cần đọc chậm rãi, chú ý
phép đối trong hai câu thơ đầu. Câu cuối cần lên giọng, thể hiện sự ngạc nhiên của
lũ trẻ, đồng thời cũng là sự hẫng hụt trong tình cảm của nhà thơ.
37
2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch:
2.2.1. Nghệ thuật dịch thơ Đường:
Cũng như các tác phẩm văn học nước ngoài khác, khi dịch thơ Đường, phần
lớn các nhà nghiên cứu đều lấy ba tiêu chuẩn TÍN, ĐẠT, NHÃ làm căn cứ để đánh
giá một bản dịch. “Tín” tức là phải trung thành với nguyên tác, “đạt” là câu văn
phải thông suốt, lưu loát, “nhã” là lời văn phải chau chuốt sao cho hay, đẹp, thanh
thoát. Trong dịch thơ, người dịch cần phải đặt ba tiêu chí đó trong mối liên hệ chặt
chẽ và giữ cân bằng ba tiêu chí ấy, không nên đề cao hay xem nhẹ một tiêu chí nào.
Tuy nhiên, nếu theo đúng khuôn mẫu, phép tắc của ba tiêu chuẩn TÍN, ĐẠT,
NHÃ thì việc dịch thơ sẽ khó khăn vô cùng. Vì thế, khi dịch thơ, đôi khi ta cũng cần
có sự phóng khoáng, cởi mở và không gò bó hoàn toàn theo đúng khuôn phép, miễn
sao tránh việc làm lệch lạc “ý” của bài thơ gốc. Điều đó có nghĩa ta cần phải lựa
chọn từ ngữ để đem được cái “ý tưởng”, “tâm hồn” và “thần sắc” vào bài thơ dịch,
để độc giả khi đọc bài thơ đó có thể cảm nhận được đúng cảm xúc, tư tưởng mà tác
giả muốn truyền đạt.
Thơ Đường là một thể thơ có đặc trưng mỹ học riêng, đặc trưng mỹ học đó
thể hiện trước hết ở tính hàm súc, tinh luyện “Ý tại ngôn ngoại”, “Ngôn tận nhi ý
bất tận”, “Ý đáo nhi bút bất đáo”, sau đó là ở kết cấu thơ hết sức chặt chẽ, quy định
niêm, luật nghiêm ngặt (đối với thơ Đường luật),… Trong việc dịch thơ Đường luật,
sự ràng buộc về mặt hình thức như vần, thanh điệu, số câu, số chữ trong mỗi câu,…
có tác động rất lớn đến nội dung, tư tưởng của nguyên tác. GS. Nguyễn Khắc Phi đã
từng nói: “Dịch thơ rất khó, dịch thơ Đường lại càng khó hơn, thơ càng hay dịch
càng khó”. Các bản dịch thơ Đường được chọn giảng dạy trong Sách giáo khoa đều
là những bản dịch tiêu biểu của những dịch giả lớn. Những bản dịch đó về cơ bản
đã diễn tả được những nội dung, tình cảm của tác giả, có nhiều cái hay và sáng tạo
riêng nhưng đôi lúc cũng có nhiều chỗ dịch chưa thật sát với nguyên tác, chưa thể
hiện được “thần sắc” của bài thơ do sự ràng buộc về mặt hình thức như vần, thanh
điệu, số câu, số chữ trong mỗi câu,…của thể thơ được chọn để chuyển dịch. Do đó,
38
khi dạy các bài thơ Đường, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh so sánh, phân
tích để tìm ra cái hay và chỗ dịch chưa sát của bản dịch, từ đó giúp học sinh có thể
hiểu đúng và cảm nhận bài thơ một cách sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, biện pháp này
cũng góp phần phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh thông qua hoạt
động tìm tòi, khảo sát và sưu tầm một số bản dịch của các dịch giả khác nhau để đối
chiếu, so sánh.
2.2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch:
2.2.2.1. Đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa:
Đối với học sinh Trung học cơ sở, các em mới bước đầu học từ Hán Việt và
tiếp xúc với các bài thơ Đường. Vì thế, giáo viên cần hướng dẫn các em đối chiếu
từng từ ngữ trong bản phiên âm với bản dịch nghĩa. Sau đó, giáo viên hướng dẫn
các em tìm hiểu bản dịch thơ trong sự so sánh, đối chiếu với bản phiên âm, đặc biệt
chú ý vào những từ ngữ then chốt, giúp các em hiểu bài thơ một cách chính xác
nhất.
Khi đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa, để các em hoạt động tích cực
và nhanh chóng hơn, không mất nhiều thời gian của tiết học, giáo viên có thể dùng
hình thức phiếu học tập cá nhân, yêu cầu các em điền vào những chỗ trống.
Sau đây là một ví dụ:
Bảng 2.2: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa (Học sinh Trung học cơ sở)
Phiên âm Dịch nghĩa
TIÊU ĐỀ
Phong Kiều tên địa danh
dạ đêm
bạc đỗ thuyền
CÂU 1
nguyệt trăng
lạc rơi, rụng
ô con quạ
đề kêu
39
sương sương
mãn đầy
thiên trời
CÂU 2
giang sông
phong cây phong
ngư hỏa đèn chài
đối quay về phía
sầu buồn
miên nằm ngủ
CÂU 3
Cô Tô tên địa danh
thành ngoại ngoài thành
Hàn Sơn tự chùa Hàn Sơn
CÂU 4
dạ bán nửa đêm
chung cái chuông
thanh tiếng, âm thanh
đáo đến nơi
khách thuyền thuyền khách
Đối với học sinh Trung học phổ thông, các em đã được học từ Hán Việt và
một số bài thơ Đường ở Trung học cơ sở, đặc biệt, khả năng tư duy đã phát triển
hơn. Vì thế, trong phần đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa, giáo viên chỉ
chọn lọc một số từ ngữ then chốt trong bài thơ.
Bảng 2.3: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa
(Học sinh Trung học phổ thông)
KHUÊ OÁN
Vương Xương Linh
Phiên âm Dịch nghĩa
khuê phòng khuê
oán oán trách
40
thiếu phụ người phụ nữ trẻ, có chồng ra trận
bất tri sầu không biết buồn
hốt kiến bỗng nhiên, bất chợt nhìn thấy
hối hối hận, nuối tiếc
giao trao cho, giao cho
2.2.2.2. Sưu tầm, đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa:
Đối với học sinh Trung học cơ sở, khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản,
giáo viên hướng dẫn các em đối chiếu bản dịch thơ (được tuyển chọn trong sách
giáo khoa) với bản phiên âm, dịch nghĩa. Tuy nhiên, ở một vài trường hợp đặc biệt,
những từ ngữ then chốt trong bài thơ mà bản dịch được chọn trong sách giáo khoa
dịch chưa sát với nguyên tác, giáo viên có thể giúp học sinh tham khảo thêm ở một
bản dịch khác.
Đối với học sinh Trung học phổ thông, bên cạnh bản dịch thơ được tuyển
chọn trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn các em sưu tầm thêm một vài bản
dịch thơ của các dịch giả khác. Tùy theo điều kiện cụ thể về thời gian, về trình độ
học sinh của từng lớp, giáo viên có thể linh hoạt hướng dẫn các em đối chiếu các
bản dịch thơ đó dưới nhiều mức độ và cách thức khác nhau: Học sinh đối chiếu toàn
bộ bài thơ hoặc chỉ đối chiếu những câu, những từ ngữ then chốt; học sinh có thể
hoạt động độc lập hoặc làm theo tổ, theo nhóm; học sinh có thể thực hiện trong giờ
học hoặc làm bài tập ở nhà, hoặc giáo viên tổ chức riêng một buổi học ngoại khóa,
lớp học bồi dưỡng chuyên về thơ Đường cho học sinh…
Với biện pháp này, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể trong chương thiết kế thể
nghiệm, còn ở đây, chúng tôi tập trung đi sâu khảo sát, sưu tầm, đối chiếu bản dịch
thơ của từng bài với bản phiên âm và dịch nghĩa.
A- Chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở:
1) Bài “Vọng Lư sơn bộc bố”
Lý Bạch
41
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
望廬山瀑布 VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ
李白 Lý Bạch
日照香爐生紫煙, Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
遙看瀑布掛前川。 Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
飛流直下三千尺, Phi lưu trực há tam thiên xích
疑是銀河落九天。 Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
Bản dịch nghĩa:
XA NGẮM THÁC NÚI LƯ
Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía,
Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước.
Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước
Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây.
Bản dịch thơ:
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này.
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
(Bản dịch của Tương Như)
Câu 1: 日 照 香 爐 生 紫 煙
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dịch nghĩa: Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía
Tương Như dịch: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay
Câu thơ đầu thể hiện sự đồng hiện trong một tổ chức ngôn ngữ chật hẹp cái
vĩnh hằng của mặt trời (nhật), cái ổn định bất biến của núi (Hương Lô), cái lung
linh, khả động, khả biến của sương khói (yên), kết hợp với ánh sáng (chiếu) với
màu sắc (tử) với sự chuyển hóa (sinh) làm cho câu thơ đẹp một cách huy hoàng.
42
Thác là sản phẩm của tạo hóa, nó xuất phát từ núi non, nhờ núi non mà có. Nguyên
lai của thác là: từ tự nhiên, sơn sinh ra thủy. Câu thơ nguyên tác của Lý Bạch đã
khái quát một cách trực quan ý tưởng đó:
“Nhật chiếu (tự nhiên) Hương Lô (sơn) sinh tử yên (thủy)
Bản dịch thơ không dịch chữ “sinh” nên chưa thể hiện rõ thác là sản phẩm
của tạo hóa và cảnh vật không vô tri vô giác mà đang chuyển động, rất có hồn như
trong bản nguyên tác.
Câu 2: 遙 看 瀑 布 掛 前 川
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên
Dịch nghĩa: Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước
Tương Như dịch: Xa trông dòng thác trước sông này
Từ “dao khan”, bản dịch nghĩa chỉ giải thích đúng và đủ. Đó là sự tối thiểu
cần thiết: dao: xa, khan (khán): nhìn, xem. Tuy nhiên, nếu kết hợp với chữ “vọng” ở
tên bài thơ, đặc biệt xét kỹ tứ thơ, ta có thể dịch “dao” là xa ngái, xa vời vợi, thậm
chí là vòi vọi (xa theo hướng trông lên). Vậy hai chữ “dao khan” có thể dịch là vời
trông, vời vợi trông hay đảo ngữ sẽ là trông vời, trông vời vợi, trông vòi vọi,…
Trong thơ cổ, ta cũng có những câu như: “Trông vời mặt đất chân mây, Trông vời
cố quốc tha hương, Vời trông còn tưởng cánh hồng chân mây…”. Tương Như dịch
“dao khan” thành “xa trông” đã chuyển tải được thông tin, tư thế và khoảng cách
người ngắm nhưng chưa truyền đạt được sự tương thông giữa cái tồn tại khách quan
với tâm tình ngưỡng vọng của thi nhân.
Câu thơ này còn có một cách hiểu khác. “Quải” là “treo”, “tiền xuyên” là
“dòng sông phía trước”. Có người cho rằng “dòng sông phía trước” không phải chỉ
vị trí nơi thác đổ xuống mà là hình ảnh dùng để so sánh với dòng thác nhìn từ xa.
Nếu vậy, cả câu có nghĩa là: “Đứng xa trông dòng thác giống như một dòng sông
treo trước mặt”. Khi đọc thơ, mỗi người có một cách hiểu và cách cảm nhận khác
nhau. Tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa nào thì bản dịch thơ cũng đã đánh rơi mất chữ
“treo”- chữ quan trọng nhất của câu thơ.
43
Câu 3: 飛 流 直 下 三 千 尺
Phi lưu trực há tam thiên xích
Dịch nghĩa: Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước
Tương Như dịch: Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước
Câu thơ thứ ba đưa bài thơ trở lại động thái với một cường đột tăng đột khởi:
“phi lưu” (tuôn xuống như bay, chảy như bay). Ở câu thơ này, ta phải kết hợp cả hai
động từ “phi lưu” lại để diễn tả một tốc độ, năng lượng kì diệu của dòng thác.
Hướng đổ của thác là “thẳng xuống” (trực há). Thác nước chảy thẳng từ một độ cao
vòi vọi, chóng mặt: tam thiên xích. Với câu thơ này, Tương Như dịch hay và sát với
nguyên tác.
Câu 4: 疑 是 銀 河 落 九 天
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên
Dịch nghĩa: Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây
Tương Như dịch: Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây
Với câu thơ này, bản dịch thơ đã thể hiện được nội dung của bản nguyên tác.
Tác giả tưởng tượng dòng thác như sông Ngân Hà rơi xuống từ chín tầng mây. Từ
“nghi thị” (ngỡ là) thể hiện cảm giác ngỡ ngàng, không tin ở mắt mình. Trong trí
tưởng tượng của tác giả, thác nước dường như không còn là dòng thác có thực mà là
dòng thác của thần thoại, của tiên giới mang một vẻ đẹp huyền diệu, kỳ ảo.
2) Bài “Tĩnh dạ tứ”
Lý Bạch
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
靜夜思 TĨNH DẠ TỨ
李白 Lý Bạch
床前明月光, Sàng tiền minh nguyệt quang,
疑是地上霜。 Nghi thị địa thượng sương.
舉頭望明月, Cử đầu vọng minh nguyệt,
44
低頭思故鄉。 Đê đầu tư cố hương.
Bản dịch nghĩa:
CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM THANH TĨNH
Ánh trăng sáng đầu giường,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Ngẩng đầu ngắm vầng trăng sáng,
Cúi đầu nhớ quê cũ.
Bản dịch thơ:
Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(Bản dịch của Tương Như)
Về tựa đề của bài thơ, bài thơ có tựa đề là 靜夜思 Chữ 思có hai âm: “tư”
và “tứ”. Từ trước đến nay, hầu hết các sách đều viết tựa đề bài thơ là “Tĩnh dạ tứ”.
Tuy nhiên, theo Hán Việt từ điển, chữ “tứ” chỉ có thể nêu được ý tứ, thi tứ; chữ “tư”
mới nêu được cảm xúc, sự nghĩ ngợi, các vấn đề thuộc về tâm như tưởng tượng, ghi
nhớ, suy xét... Căn cứ vào mạch cảm xúc của toàn bài thơ, đặc biệt là câu thơ cuối:
“Đê đầu tư cố hương”, ta nên đặt tựa đề cho bài thơ là “Tĩnh dạ tư” sẽ hợp lý và hay
hơn.
Câu 1: 床 前 明 月 光
Sàng tiền minh nguyệt quang
Dịch nghĩa: Ánh trăng sáng đầu giường
Tương Như dịch: Đầu giường ánh trăng rọi
Ở câu thơ này, bản dịch của Tương Như chưa dịch chữ “minh”, chưa thể
hiện được vẻ đẹp của ánh trăng sáng vằng vặc và làm nhạt sự liên tưởng của bài
thơ: Ánh trăng sáng nhà thơ mới nhầm là sương. Tuy nhiên, với chữ “quang”,
Tương Như dịch thành từ “rọi”. Khác với “sáng”, “chiếu”- trạng thái tự nhiên của
45
trăng, từ “rọi” còn có thêm ý nghĩa: Ánh trăng đi tìm thi nhân như đi tìm bạn tri
âm, tri kỷ. Do đó, bản dịch thơ của Tương Như rất hay và sáng tạo với từ “rọi”.
Câu 2: 疑 是 地 上 霜
Nghi thị địa thượng sương
Dịch nghĩa: Ngỡ là sương trên mặt đất
Tương Như dịch: Ngỡ mặt đất phủ sương
Với câu thơ này, bản dịch thơ đã dịch sát với nguyên tác, thể hiện được mối
liên hệ nguyên nhân- kết quả giữa ánh trăng và sương mặt đất: chính ánh trăng sáng
vằng vặc đầu giường đã khiến tác giả lầm tưởng chính là sương phủ trên mặt đất.
Câu 3: 舉 頭 望 明 月
Cử đầu vọng minh nguyệt
Dịch nghĩa: Ngẩng đầu ngắm vầng trăng sáng
Tương Như dịch: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Đối với câu thơ này, ta nên lưu ý từ “vọng”. “Vọng” là hướng về một phía
bằng cả đôi mắt và tâm hồn. Tương Như dịch “vọng” thành “nhìn”. “Nhìn” hay
“trông” chỉ là một động tác sinh lý của mắt. Do đó, thiết nghĩ ta nên dịch “vọng”
thành “ngắm”- động tác “nhìn” với tâm hồn và sự thưởng thức hòa nhập cái nhìn từ
bên trong sẽ tăng thêm sức biểu cảm cho câu thơ.
Câu 4: 低 頭 思 故 鄉
Đê đầu tư cố hương
Dịch nghĩa: Cúi đầu nhớ quê cũ
Tương Như dịch: Cúi đầu nhớ cố hương
Câu thơ này, Tương Như đã dịch sát với nguyên tác.
3) Bài “Hồi hương ngẫu thư”
Hạ Tri Chương
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
回鄉偶書 HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ
賀知章 Hạ Tri Chương
46
少小離家老大迴, Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,
鄉音無改鬢毛摧。 Hương âm vô cải mấn mao tồi.
兒童相見不相識, Nhi đồng tương kiến bất tương thức
笑問客從何處來。 Tiếu vấn: “Khách tòng hà xứ lai?”
Bản dịch nghĩa:
NGẪU NHIÊN VIẾT NHÂN BUỔI MỚI VỀ QUÊ
Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về
Giọng quê không đổi nhưng tóc mai đã rụng
Trẻ con gặp mặt, không quen biết,
Cười hỏi: “Khách ở nơi nào đến?”
Bản dịch thơ:
Khi đi trẻ, lúc về già,
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng: “Khách ở chốn nào lại chơi?”
(Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ)
Trẻ đi, già trở lại nhà
Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu
Gặp nhau mà chẳng biết nhau
Trẻ cười hỏi: “Khách từ đâu đến làng?”
(Bản dịch của Trần Trọng San)
Câu 1: 少 小 離 家 老 大 迴
Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi
Dịch nghĩa: Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về
Phạm Sĩ Vĩ dịch: Khi đi trẻ, lúc về già
Trần Trọng San dịch: Trẻ đi, già trở lại nhà
47
Đối với câu thơ thứ nhất: “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi”, về nội dung, hai
bản dịch thơ trên đã dịch sát với nguyên tác và cơ bản không có gì khác nhau.
Câu 2: 鄉 音 無 改 鬢 毛 摧
Hương âm vô cải mấn mao tồi
Dịch nghĩa: Giọng quê không đổi nhưng tóc mai đã rụng
Phạm Sĩ Vĩ dịch: Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao
Trần Trọng San dịch: Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu
Đối với cụm từ “hương âm vô cải”, các bản dịch cũng dịch khá thành công,
sát với nguyên tác nhưng đến cụm từ “mấn mao tồi” thì có một điều ta cần lưu ý:
Phạm Sĩ Vĩ dịch “mấn mao tồi” thành “tóc đà khác bao”, Trần Trọng San dịch
“sương pha mái đầu”. Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ chỉ mới thể hiện được sự thay đổi
của mái tóc, bản dịch của Trần Trọng San chỉ thể hiện được tóc đã bạc chứ chưa thể
hiện được nét nghĩa “tóc mai đã rụng” của chữ “tồi” trong bản nguyên tác. Ở câu
thơ này, ta có thể tham khảo thêm bản dịch của Trần Trọng Kim:
“Bé đi, già mới về nhà,
Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa”
So với các hai bản dịch trên, bản dịch của Trần Trọng Kim dịch “mấn mao
tồi” thành “tóc đà rụng thưa” sát với nguyên tác hơn. Cách dịch như vậy thể hiện rõ
nhất sự đối lập: Ông từ giã quê hương ra đi để tìm công danh sự nghiệp vào những
năm còn trai trẻ, và trải qua bao thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ tóc đã rụng
thưa nhưng giọng nói quê cũ của ông chẳng bao giờ đổi thay, chứng tỏ ông vẫn luôn
gắn bó tha thiết với quê hương cho dù phải sống tha phương xa cách ngàn trùng.
Câu 3 và 4: 兒 童 相 見 不 相 識,
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
笑 問 客 從 何 處 來。
Tiếu vấn: “Khách tòng hà xứ lai?”
Dịch nghĩa: Trẻ con gặp mặt, không quen biết,
Cười hỏi: “Khách ở nơi nào đến?”
48
Phạm Sĩ Vĩ dịch: Trẻ con nhìn lạ không chào/ Hỏi rằng: “Khách ở chốn nào
lại chơi?”
Trần Trọng San dịch: Gặp nhau mà chẳng biết nhau/ Trẻ cười hỏi: “Khách từ
đâu đến làng?”
Với hai câu thơ này, bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ, Trần Trọng San dịch khá
thành công. Tuy câu chữ của bản dịch có khác nhau nhưng đều thể hiện được sự
ngạc nhiên, sự hồn nhiên và phản ứng tất yếu của bọn trẻ khi trông thấy một vị
khách lạ đến thăm làng. Và chính sự ngạc nhiên của “nhi đồng” với hành động “tiếu
vấn” ấy đã khiến tác giả cảm thấy ngậm ngùi bởi sự việc thật trớ trêu: Trở về nơi
chôn nhau cắt rốn mà lại bị xem như một người khách lạ.
4) Bài “Phong Kiều dạ bạc”
Trương Kế
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
楓橋夜泊 PHONG KIỀU DẠ BẠC
張繼 Trương Kế
月落烏啼霜滿天,Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
江楓漁火對愁眠。Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
姑蘇城外寒山寺,Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
夜半鐘聲到客船。Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Bản dịch nghĩa:
ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở PHONG KIỀU
Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời,
(Khách) nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bên sông.
Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô,
Nửa đêm tiếng chuông văng vẳng vọng đến thuyền khách.
Bản dịch thơ:
Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
49
Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
(Bản dịch của Tản Đà)
Câu 1, 2 : 月 落 烏 啼 霜 滿 天
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
江 楓 漁 火 對 愁 眠
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Dịch nghĩa: Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời
(Khách) nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bên sông
Tản Đà dịch:
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ
Ở hai câu thơ này, Tản Đà đã dịch rất tài hoa và sáng tạo. Bản dịch thơ đã
miêu tả được khung cảnh mùa thu ở một bến vắng dưới cầu Phong (Phong Kiều)
buồn lạnh và cô đơn- một khung cảnh chỉ hiện lên qua vài nét chấm phá mà thành
một bức tranh có màu sắc, đường nét và âm thanh: trăng xế, quạ kêu, sương đầy
trời. Nội dung toát lên qua hai câu thơ này là cảnh buồn, người buồn như Nguyễn
Du từng nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Câu 3 và 4: 姑 蘇 城 外 寒 山 寺,
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
夜 半 鐘 聲 到 客 船。
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Dịch nghĩa: Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô,
Nửa đêm tiếng chuông văng vẳng vọng đến thuyền khách.
Tản Đà dịch:
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
50
Nếu như Tản Đà đã rất tài hoa và sáng tạo trong việc dịch hai câu thơ đầu thì
đến hai câu thơ sau, ông đã nhầm bến Phong Kiều là bến Cô Tô và cũng chưa diễn
đạt được vai trò chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San, cụ thể là ông đã biến chủ
thể vốn là tiếng chuông thành chủ thể là chiếc thuyền của lữ khách. Trương Kế đã
kết hợp hai thủ pháp nghệ thuật truyền thống của thơ Đường là lấy động để tả tĩnh
và mượn âm thanh để truyền hình ảnh. Câu thơ dịch của Tản Đà đã phần nào làm
nhòa sự ngân vang của tiếng chuông trong đêm yên tĩnh. Ở hai câu thơ này, ta có
thể tham khảo thêm bản dịch của Trần Trọng San:
NỬA ĐÊM ĐẬU BẾN PHONG KIỀU
Trăng tà, tiếng quạ vẳng sương rơi,
Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài
Ngoài lũy Cô Tô, chùa vắng vẻ,
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.
B- Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông:
1) Bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”
Lý Bạch
黃鶴樓送孟浩然之廣陵
李白
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
故人西辭黃鶴樓, Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu,
煙花三月下陽州。 Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
孤帆遠影碧空盡, Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
惟見長江天際流。 Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
Bản dịch nghĩa:
TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG
Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía Tây,
51
Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói.
Bóng cánh buồm lẻ loi xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc,
Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời.
Bản dịch thơ:
* Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa:
Bạn từ lầu Hạc lên đường,
Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng.
Bóng buồm đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
* Bản dịch sưu tầm:
Bản dịch thứ nhất:
Phía Tây bạn biệt Hạc lâu
Tháng ba trẩy xuống Dương Châu thuận dòng
Cánh buồm bóng hút màu không
Trông xa trắng xóa nước sông bên trời.
(Bản dịch của Trần Trọng Kim)
Bản dịch thứ hai:
Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu
Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc
Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau.
(Bản dịch của Trần Trọng San)
Đối chiếu, so sánh:
Câu 1: 故 人 西 辭 黃 鶴 樓
Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu
Dịch nghĩa: Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía Tây
Ngô Tất Tố dịch: Bạn từ lầu Hạc lên đường
Trần Trọng Kim dịch: Phía Tây bạn biệt Hạc lâu
52
Trần Trọng San dịch: Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu
Ngô Tất Tố và Trần Trọng Kim dịch từ “cố nhân” thành “bạn”. Cách dịch
này chưa thể hiện được chiều dài thời gian, bề dày kỉ niệm và chiều sâu tình cảm
của hai người bạn gắn bó, tri âm, tri kỷ. Với từ “cố nhân”, Trần Trọng San dịch sát
nguyên tác nhất.
Ngoài ra, ở câu thơ này, ta cần lưu ý một điểm: Bản dịch của Ngô Tất Tố và
Trần Trọng San không dịch “phía Tây”. Thật ra, khi nói về không gian đưa tiễn, từ
chỉ phương hướng phía Tây rất quan trọng. Theo quan niệm của người xưa, phía
Tây là nơi gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết. Do đó, nó có tác dụng gợi
lên khung cảnh thần tiên của nơi đưa tiễn.
Câu 2: 煙 花 三 月 下 陽 州
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Dịch nghĩa: Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói
Ngô Tất Tố dịch: Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng
Trần Trọng Kim dịch: Tháng ba trẩy xuống Dương Châu thuận dòng
Trần Trọng San dịch: Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
Với cụm từ “yên hoa, tam nguyệt” ở câu thơ thứ hai, các bản dịch thơ đã
dịch “tháng ba, mùa hoa khói” sát với bản nguyên tác và dịch nghĩa. Riêng bản dịch
của Trần Trọng Kim, ông dịch thiếu yếu tố “yên hoa” nên không gợi lên được cái
không gian xa xôi và sự mông lung hư ảo của thành Dương Châu- thắng cảnh phồn
hoa bậc nhất đời Đường. Bản dịch của Ngô Tất Tố lại thiếu yếu tố “tam nguyệt”
nên chưa thể hiện rõ khoảng thời gian đưa tiễn là vào tháng 3.
Câu 3: 孤 帆 遠 影 碧 空 盡
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Dịch nghĩa: Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc
Ngô Tất Tố dịch: Bóng buồm đã khuất bầu không
Trần Trọng Kim dịch: Cánh buồm bóng hút màu không
Trần Trọng San dịch: Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc
53
Trong câu thơ này, ta cần lưu ý so sánh, đối chiếu từ “cô phàm”. Ngô Tất
Tố, Trần Trọng San dịch từ này thành “bóng buồm”, Trần Trọng Kim dịch thành
“cánh buồm”. Như vậy, các dịch giả đã bỏ mất từ “cô”, khiến cho bản dịch thơ
không thể hiện rõ được sự đối lập giữa không gian mênh mông của dòng sông và
bầu trời với con thuyền cô đơn, lẻ loi như đang tan vào cõi hư vô.
Câu 4: 惟 見 長 江 天 際 流
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
Dịch nghĩa: Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời
Ngô Tất Tố dịch: Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời
Trần Trọng Kim dịch: Trông xa trắng xóa nước sông bên trời
Trần Trọng San dịch: Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau
Ở câu thơ cuối, với từ “duy kiến”, bản dịch của Ngô Tất Tố, Trần Trọng San
đã dịch sát nguyên bản; bản dịch của Trần Trọng Kim chưa dịch rõ. Từ “duy kiến”
có tác dụng nhấn mạnh sự việc sau khi “Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào
khoảng không xanh biếc”, nhà thơ chỉ còn thấy duy nhất một dòng sông Trường
Giang đang chảy vào cõi trời cho dù mùa xuân trên sông Trường Giang có rất nhiều
thuyền bè xuôi ngược. Qua đó, ta thấy tấm lòng đã định hướng cho đôi mắt, nhà thơ
chỉ hướng đôi mắt vào con thuyền đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên, vào dòng sông ly biệt
để thể hiện một niềm luyến tiếc bâng khuâng và sự bất lực, không níu kéo được
hình ảnh người bạn.
Với cụm từ “thiên tế lưu”, hầu hết các bản dịch đều chưa lột tả được “thần
thái” của nó như trong bản nguyên tác. Cái chất “thiên tế lưu” của dòng Trường
Giang không chỉ thể hiện được cơn sóng dữ dội trong lòng của người đưa tiễn mà
còn tô đậm hồn thơ lãng mạn, kỳ vĩ của “thi tiên”. Hình ảnh “dòng sông bên trời”,
“nước sông bên trời”, “Trường Giang vẫn chảy mau” trong các bản dịch thơ đã
chưa thật sự làm rõ được ý này.
2) Bài “Thu hứng”- Đỗ Phủ
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
54
秋興 Thu hứng
杜甫 Đỗ Phủ
玉露凋傷楓樹林, Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
巫山巫峽氣蕭森。 Vu Sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
江間波浪兼天湧, Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
塞上風雲接地陰。 Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
叢菊兩開他日淚, Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
孤舟一繫故園心。 Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
寒衣處處催刀尺, Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
白帝城高急暮砧。 Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Bản dịch nghĩa:
CẢM XÚC MÙA THU
Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong,
Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt.
Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời.
Trên cửa ải, mây sà xuống giáp mặt đất âm u.
Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước,
Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ.
Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét,
Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn dập.
Bản dịch thơ:
* Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa:
Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
55
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà.
(Bản dịch của Nguyễn Công Trứ)
* Bản dịch sưu tầm:
Bản dịch thứ nhất:
Vàng úa rừng phong, hạt móc bay,
Non Vu hiu hắt phủ hơi may.
Dòng sông cuồn cuộn, trời tung sóng,
Ngọn ải mờ mờ, đất rợp mây.
Lệ tủi: sợ coi chòm cúc nở,
Lòng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy.
Giục ai kéo thước lo đồ lạnh,
Đập vải trời hôm rộn tiếng chày.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Bản dịch thứ hai:
Móc trắng rừng phong vẻ úa gầy,
Vu Sơn, Vu Giáp khí thu dày.
Lòng sông sóng tận lưng trời nhảy,
Đầu ải mây sà mặt đất bay.
Lệ cũ nở hai mùa cúc đó,
Lòng quê buộc một chiếc thuyền đầy.
Nơi nơi áo lạnh đòi dao thước,
Bạch Đế thành hôm rộn tiếng chày.
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)
Đối chiếu, so sánh:
56
Câu 1: 玉 露 凋 傷 楓 樹 林
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Dịch nghĩa: Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong
Nguyễn Công Trứ dịch: Lác đác rừng phong hạt móc sa
Ngô Tất Tố dịch: Vàng úa rừng phong, hạt móc bay
Khương Hữu Dụng dịch: Móc trắng rừng phong vẻ úa gầy
Với từ “ngọc lộ”, bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ, Ngô Tất Tố dịch thành
“hạt móc”, “móc” nên chưa thể hiện được hình ảnh “ngọc lộ” (sương móc trắng
xóa) đã làm héo hon, điêu tàn một rừng phong bao la. Khương Hữu Dụng dịch
thành “móc trắng rừng phong” là sát với nguyên bản nhất.
Từ “điêu thương”, mỗi bản dịch đều có một cách dịch riêng: Ngô Tất Tố
dịch thành “vàng úa”, Khương Hữu Dụng lại dịch “úa gầy”. Bản dịch nào cũng có
sáng tạo riêng. Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ thì bỏ mất chữ này trong bản dịch. Do
đó, câu thơ “Lác đác rừng phong hạt móc sa” tuy hay nhưng chưa thể hiện được
màu sắc buồn thương, tiêu điều, tàn tạ của không gian núi rừng.
Câu 2: 巫 山 巫 峽 氣 蕭 森
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm
Dịch nghĩa: Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt
Nguyễn Công Trứ dịch: Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa
Ngô Tất Tố dịch: Non Vu hiu hắt phủ hơi may
Khương Hữu Dụng dịch: Vu Sơn, Vu Giáp khí thu dày
Trong câu thơ này, bản dịch của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Trứ đã bỏ mất
Vu Giáp. “non Vu” và “ngàn non” chỉ thể hiện được núi Vu chứ chưa gợi lên hình
ảnh kẽm Vu- khoảng không gian giữa hai vách núi kề nhau, tạo thành một khe núi
có sườn dốc và độ sâu rợn ngợp; bản dịch của Khương Hữu Dụng dịch đủ cả Vu
Sơn và Vu Giáp.
Với từ “tiêu sâm”, bản dịch của Khương Hữu Dụng chưa dịch rõ. Do đó,
chưa thể hiện được màu sắc buồn thương, tàn tạ, hiu hắt của trời thu, khí thu. Ngô
57
Tất Tố dịch: “Non Vu hiu hắt phủ hơi may” và Nguyễn Công Trứ dịch: “Ngàn non
hiu hắt, khí thu lòa” sát với nguyên bản.
Câu 3: 江 間 波 浪 兼 天 湧
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Dịch nghĩa: Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời
Nguyễn Công Trứ dịch: Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm
Ngô Tất Tố dịch: Dòng sông cuồn cuộn, trời tung sóng
Khương Hữu Dụng dịch: Lòng sông sóng tận lưng trời nhảy
Nhìn chung, các bản dịch trên chưa dịch sát nghĩa chữ “dũng” (vọt ra, vọt
lên): Ngô Tất Tố dịch thành “trời tung sóng”, Nguyễn Công Trứ dịch “sóng rợn
lòng sông thẳm”, Khương Hữu Dụng dịch thành “sóng tận lưng trời nhảy”. Các
động từ “tung”, “rợn”, “nhảy” không gợi sức mạnh của những đợt sóng bằng từ
“vọt” nên chưa khắc họa rõ nét hình ảnh dữ dội, hoành tráng của những đợt sóng
giữa lòng sông cuồn cuộn vọt lên, vỗ tận lưng trời.
Câu 4: 塞 上 風 雲 接 地 陰
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Dịch nghĩa: Trên cửa ải, mây sà xuống giáp mặt đất âm u
Nguyễn Công Trứ dịch: Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Ngô Tất Tố dịch: Ngọn ải mờ mờ, đất rợp mây
Khương Hữu Dụng dịch: Đầu ải mây sà mặt đất bay
Trừ bản dịch của Khương Hữu Dụng, hai bản dịch còn lại chưa dịch rõ nghĩa
động từ “tiếp”. Do đó chưa thể hiện được hình tượng thơ kì vĩ, sóng và mây đối
nhau, sóng vọt lên trời cao, mây sà xuống đất thấp.
Từ “địa âm” (mặt đất âm u), Ngô Tất Tố dịch thành “đất”, Nguyễn Công
Trứ, Khương Hữu Dụng dịch “mặt đất” đã bỏ mất từ “âm”, làm giảm sức biểu cảm
của câu thơ về một cảnh thu âm u, tiêu điều.
Câu 5: 叢 菊 兩 開 他 日 淚
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
58
Dịch nghĩa: Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày
trước
Nguyễn Công Trứ dịch: Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ
Ngô Tất Tố dịch: Lệ tủi: sợ coi chòm cúc nở
Khương Hữu Dụng dịch: Lệ cũ nở hai mùa cúc đó
Các bản dịch trên đều chưa dịch được từ “lưỡng khai” (nở rồi lại nở). Ngô
Tất Tố dịch “lưỡng khai” thành “nở”, Nguyễn Công Trứ bỏ mất cả hai chữ “lưỡng
khai” trong bản dịch. Khương Hữu Dụng dịch: “Lệ cũ nở hai mùa cúc đó” sẽ gây
khó hiểu cho người đọc bởi cụm từ “lệ cũ nở” và “hai mùa cúc” vì thật ra là “lệ cũ
tuôn”, “hoa cúc hai lần nở”. Người đọc sẽ rất khó nhận ra ý nghĩa của câu thơ:
Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước.
Với từ “tha nhật lệ”, bản dịch của Nguyễn Công Trứ và Khương Hữu Dụng
dịch sát với bản nguyên tác “dòng lệ cũ”. Ngô Tất Tố dịch thành “lệ tủi” sẽ không
thể hiện rõ dụng ý đồng nhất hiện tại và quá khứ của tác giả: cúc hai lần nở hoa
cũng chính là hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau, giọt lệ hiện tại cũng là
giọt lệ của quá khứ năm xưa. Tuy nhiên, ở câu thơ này, cũng có người hiểu “tha
nhật lệ” là hoa nhỏ lệ, cúc nở hoa như nhỏ lệ, thể hiện sự đồng nhất giữa cảnh và
tình.
Câu 6: 孤 舟 一 繫 故 園 心
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Dịch nghĩa: Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ
Nguyễn Công Trứ dịch: Con thuyền buộc chặt mối tình nhà
Ngô Tất Tố dịch: Lòng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy
Khương Hữu Dụng dịch: Lòng quê buộc một chiếc thuyền đầy
Với câu thơ này, ta cần lưu ý từ “cô chu”. Các bản dịch chỉ dịch thành “chiếc
thuyền”, “con thuyền” nên không gợi lên được hình ảnh con thuyền lẻ loi, mang
chở tâm tình cô đơn của con người.
Từ “cố viên tâm” (tấm lòng nhớ nơi vườn cũ), Ngô Tất Tố, Khương Hữu
Dụng dịch thành “lòng quê”, Nguyễn Công Trứ dịch thành “mối tình nhà”. Ở đây
59
không có khu vườn hiện hữu mà là khu vườn trong tâm hồn nhà thơ, thể hiện nỗi
nhớ quê hương sâu sắc. Bản dịch nào cũng có cái hay và sự sáng tạo riêng nhưng
đều bỏ mất từ “cố”. Do đó, không thể hiện rõ thời điểm hiện tại tác giả đang sống
xa quê hương và đang nhớ về quê cũ.
Câu 7: 寒 衣 處 處 催 刀 尺
Hàn y xứ xứ thôi đao xích
Dịch nghĩa: Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét
Nguyễn Công Trứ dịch: Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước
Ngô Tất Tố dịch: Giục ai kéo thước lo đồ lạnh
Khương Hữu Dụng dịch: Nơi nơi áo lạnh đòi dao thước
Bản dịch của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Trứ đều chưa dịch được từ “xứ xứ”.
Do đó chưa thể hiện được cảnh sinh hoạt ở thành Bạch Đế “Chỗ nào cũng rộn ràng
dao thước để may áo rét”.
Bản dịch của Khương Hữu Dụng chưa thể hiện rõ khung cảnh rộn ràng, nhộn
nhịp may áo rét. “Thôi đao xích” như thúc giục khiến nhà thơ đứng ngồi không yên.
Đây là chi tiết có sức gợi cảm đặc biệt, nhất là đối với người lữ khách tha hương vì
nó gợi cảnh đoàn tụ đầm ấm với việc sửa soạn cắt may áo rét.
Câu 8: 白 帝 城 高 急 暮 砧
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm
Dịch nghĩa: Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn
dập
Nguyễn Công Trứ dịch: Thành Bạch, chày vang bóng ác tà
Ngô Tất Tố dịch: Đập vải trời hôm rộn tiếng chày
Khương Hữu Dụng dịch: Bạch Đế thành hôm rộn tiếng chày
Với câu thơ này, bản dịch của Ngô Tất Tố bỏ mất địa danh thành Bạch Đế.
Bản dịch của Nguyễn Công Trứ chưa dịch từ “cấp”, do đó chưa làm hiện lên cảnh
nhộn nhịp may áo rét với tiếng chày đập vải dồn dập lúc chiều thu.
3) Bài “Hoàng Hạc lâu”
60
Thôi Hiệu
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
黃鶴樓 HOÀNG HẠC LÂU
崔顥 Thôi Hiệu
昔人已乘黄鶴去 Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ,
此地空餘黄鶴樓 Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
黄鶴一去不復返 Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,
白雲千載空悠悠 Bạch Vân thiên tải không du du.
晴川歷歷漢陽樹 Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
芳草萋萋鸚鵡洲 Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
日暮鄉關何處是 Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
煙波江上使人愁 Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Bản dịch nghĩa:
LẦU HOÀNG HẠC
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn trơ lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một khi đã bay đi, không bao giờ trở lại.
Mây trắng ngàn năm còn bay chơi vơi.
Hàng cây đất Hán Dương phản chiếu rõ mồn một trên dòng sông tạnh,
Trên bãi Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn xanh tươi,
Chiều tối (tự hỏi) đâu là quê hương?
Khói và sóng trên sông làm cho người buồn.
Bản dịch thơ:
61
* Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa:
Bản dịch thứ nhất:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non,
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
(Bản dịch của Tản Đà)
Bản dịch thứ hai:
Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi!
Hạc vàng một đã đi, đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời,
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)
* Bản dịch sưu tầm:
Bản dịch thứ nhất:
Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì
62
Chiều hôm lai láng lòng quê
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.
(Bản dịch của Trần Trọng Kim)
Bản dịch thứ hai:
Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một màu mây, vạn vạn đời
Trên bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!
(Bản dịch của Vũ Hoàng Chương)
Bản dịch thứ ba:
Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Bản dịch thứ tư:
Người xưa cưỡi hạc bay đi mất
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây
Hạc đã một đi không trở lại
Man mác muôn đời mây trắng bay
Hán Dương sông tạnh cây in thắm
63
Anh Vũ bờ thơm cỏ biếc đầy
Chiều tối quê nhà đâu chẳng thấy
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.
(Bản dịch của Trần Trọng San)
Đối chiếu, so sánh:
Bài thơ “Hoàng Hạc lâu” đã được rất nhiều nhà chuyên khảo Hán học uyên
bác, các học giả tiền bối Việt Nam và các thi sĩ say mê Đường thi dịch với những
bản dịch trác tuyệt, phong phú và tài hoa. Mỗi dịch giả có một phong cách sáng tạo
và cách dịch thâm thúy khác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng với
những nhận thức tinh tế, những cảm xúc nghệ thuật và rung động thẩm mĩ. Trên đây
là một vài bản dịch tiêu biểu nhất.
Ở câu thơ đầu, một số bản dịch thơ của các dịch giả chưa dịch sát nghĩa chữ
“tích nhân”: Vũ Hoàng Chương dịch “tích nhân” trong câu “Tích nhân dĩ thừa
Hoàng Hạc khứ” thành: “Xưa cánh hạc bay vút bóng người”. Mặc dù trong câu thơ
ấy cũng có yếu tố “người” và “xưa” nhưng nó không mang ý nghĩa “người xưa” là
chủ thể của hành động “cưỡi hạc vàng bay đi” mà nó diễn tả một sự việc đã qua:
cánh hạc đã bay vút bóng người từ xưa rồi. Tản Đà, Khương Hữu Dụng dịch chữ
“tích nhân” thành một đại từ phiếm chỉ “ai”, Trần Trọng Kim dịch là “người đi”
cũng chưa sát nguyên tác. So với các bản dịch trên, bản dịch của Ngô Tất Tố, Trần
Trọng San dịch thành “người xưa” vừa sát với bản nguyên tác, làm nên nền tảng tồn
tại cho một tâm thức cá thể, để con người phải suy tư trầm ngâm đi tìm về cái xa
xưa đã trôi vào quá khứ của thời gian.
Ở câu thơ thứ ba: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản”(Hạc vàng một khi đã
bay đi, không bao giờ trở lại), Tản Đà dịch thành: “Hạc vàng đi mất từ xưa”, Trần
Trọng Kim dịch: “Hạc vàng đi mất đã lâu”. Tản Đà và Trần Trọng Kim đã không
dịch từ “bất phục phản” do đó chưa thể hiện được rõ ý nghĩa hạc vàng bay đi không
bao giờ trở lại. Người đời, việc đời nói chung thì cái gì cũng mòn mỏi, cũng qua đi,
cũng xóa nhòa, không quay trở lại, chỉ có trời đất là tồn tại vĩnh cửu. Các bản dịch
khác của các dịch giả còn lại về cơ bản đã dịch sát với nguyên tác: “Hạc vàng một
64
đã đi, đi biệt” (Khương Hữu Dụng), “Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi” (Vũ Hoàng
Chương), “Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn”(Ngô Tất Tố), “Hạc đã một đi không trở
lại”(Trần Trọng San)…
Ở hai câu luận: “Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ/ Phương thảo thê thê
Anh Vũ châu” (Hàng cây đất Hán Dương phản chiếu rõ mồn một trên dòng sông
tạnh/ Trên bãi Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn xanh tươi), nhìn chung, các bản dịch đã
dịch đạt yêu cầu: “Hán Dương sông tạnh cây bày/ Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ
non”(Tản Đà dịch), “Hán Dương cây bóng lòng sông/ Bãi kia Anh Vũ cỏ trông
xanh rì”(Trần Trọng Kim dịch), “Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng/ Cỏ thơm
Anh Vũ bãi xanh ngời”( Khương Hữu Dụng dịch)… Riêng bản dịch của Vũ Hoàng
Chương: “Trên bến Hán Dương còn nắng chiếu/ Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi” chưa
thể hiện rõ hai hình ảnh “xuyên” và “thụ” cũng như hình ảnh tươi mát “phương thảo
thê thê”(cỏ thơm mơn mởn xanh tươi). Do đó, người đọc khó cảm nhận một cách
sâu sắc không gian cuộc sống mang không khí, hơi thở của con người; có sự tồn tại
của thiên nhiên, sông núi, cỏ cây ngạt ngào hương sắc, tạo ra một hình ảnh sống
động tương giao trong vũ trụ, đem lại sức mạnh lâng lâng gợi cảm vô hình.
Hai câu kết: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân
sầu” (Chiều tối (tự hỏi) đâu là quê hương? Khói sóng trên sông làm cho người
buồn). Từ “nhật mộ”, Tản Đà, Khương Hữu Dụng dịch thành “hoàng hôn”, Trần
Trọng Kim dịch thành “chiều hôm”, Vũ Hoàng Chương dịch “chiều xuống”, Ngô
Tất Tố dịch “trời tối”, Trần Trọng San dịch “chiều tối”. Bản dịch nào cũng có cái
hay và nét sáng tạo riêng, đều gợi trong lòng người nhiều cảm xúc khi chiều xuống.
Với từ “yên ba”, hầu hết các dịch giả đã dịch đạt yêu cầu. Tuy nhiên, bản dịch của
Vũ Hoàng Chương: “Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi” thì mới thể hiện được hình
ảnh “sóng” chứ chưa thể hiện được hình ảnh của “khói sóng”.
4) Bài “Khuê oán”
Vương Xương Linh
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
閨怨 KHUÊ OÁN
65
王昌齡 Vương Xương Linh
閨中少婦不知愁, Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
春日凝妝上翠樓。 Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu.
忽見陌頭楊柳色, Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
悔教夫婿覓封侯。 Hối giao phu tế mịch phong hầu.
Bản dịch nghĩa:
NỖI OÁN PHÒNG KHUÊ
Người thiếu phụ nơi phòng khuê không biết buồn
Ngày xuân trang điểm xong bước lên lầu biếc.
Hoảng hốt nhìn thấy màu cây dương liễu đầu đường
Hối hận đã khuyên chồng đi lính để kiếm ấn phong hầu
Bản dịch thơ:
* Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa:
Bản dịch thứ nhất:
Trẻ trung nàng biết chi sầu,
Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương.
Nhác trông vẻ liễu bên đường,
Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi.
(Bản dịch của Tản Đà)
Bản dịch thứ hai:
Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu,
Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu.
Đầu đường chợt thấy màu dương liễu,
Hối để chàng đi kiếm tước hầu.
(Bản dịch của Nguyễn Khắc Phi)
* Bản dịch sưu tầm:
Bản dịch thứ nhất:
Cô gái phòng the chửa biết sầu
Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
66
Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Hối để chồng đi kiếm tước hầu
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Bản dịch thứ hai:
Ngày xuân trang điểm má hồng
Lên chơi gác thúy, nàng không biết sầu
Đường xa, kìa liễu xanh mầu
Xui chồng đi giật tước hầu, dại chưa!
(Bản dịch của Vũ Hoàng Chương)
Đối chiếu, so sánh:
Câu 1: 閨 中 少 婦 不 知 愁
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Dịch nghĩa: Người thiếu phụ nơi phòng khuê không biết buồn
Tản Đà dịch: Trẻ trung nàng biết chi sầu
Nguyễn Khắc Phi dịch: Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu
Ngô Tất Tố dịch: Cô gái phòng the chửa biết sầu
Vũ Hoàng Chương dịch: Ngày xuân trang điểm má hồng
Qua các bản dịch trên, ta thấy các bản dịch của Tản Đà, Vũ Hoàng Chương
đều không dịch chữ “khuê trung”. Từ “khuê trung” có sức biểu cảm lớn, nó không
những chỉ thể hiện được không gian phòng khuê- nơi ở sang trọng của người thiếu
phụ mà còn gợi nên sự suy nghĩ ở người đọc ngay từ tựa đề bài thơ: người thiếu phụ
được ở nơi khuê phòng sang trọng như vậy tại sao lại sầu oán?
Tản Đà dịch “thiếu phụ” thành “nàng”, Ngô Tất Tố dịch “thiếu phụ” thành
“cô gái”, riêng Nguyễn Khắc Phi giữ nguyên từ “thiếu phụ”. Từ “thiếu phụ” thể
hiện được sắc thái trang trọng của bài thơ, mang ý nghĩa chỉ người phụ nữ trẻ, có
chồng ra trận. Còn các từ như “nàng”, “thiếu nữ”, “cô gái” thì không gợi được nét
nghĩa đó vì nó chỉ là những từ mang ý nghĩa chỉ người con gái nói chung.
67
Câu 2: 春 日 凝 妝 上 翠 樓
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu
Dịch nghĩa: Ngày xuân trang điểm xong bước lên lầu biếc
Tản Đà dịch: Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương
Nguyễn Khắc Phi dịch: Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu
Ngô Tất Tố dịch: Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
Vũ Hoàng Chương dịch: Lên chơi gác thúy, nàng không biết sầu
Tất cả các bản dịch trên đều không dịch chữ “ngưng” trong câu thơ “Xuân
nhật ngưng trang thướng thúy lâu”. Thật ra, chữ “ngưng” giữ một vị trí rất quan
trọng, nó thể hiện được sự tiếp nối giữa công việc này với công việc khác. Lẽ
thường, người phụ nữ sau khi trang điểm xong thì sẽ đi chơi xuân, còn đằng này
người thiếu phụ lại bước lên lầu biếc. Qua đó ta thấy được sự khác thường, sự bế
tắc, cô đơn của người thiếu phụ khi chồng đã ra trận. Nàng làm đẹp cho mình rồi tự
thưởng thức một mình, suốt ngày chỉ quanh quẩn nơi chốn phòng khuê, không có ai
làm bầu bạn để cùng du xuân, cùng chia sẻ, tâm sự những nỗi niềm. Các bản dịch
khác không dịch chữ “ngưng” nên chỉ có thể gợi lên ý nghĩa việc trang điểm vào
ngày xuân là một việc làm quen thuộc của người thiếu phụ.
Câu 3: 忽 見 陌 頭 楊 柳 色
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Dịch nghĩa: Hoảng hốt nhìn thấy màu cây dương liễu đầu đường
Tản Đà dịch: Nhác trông vẻ liễu bên đường
Nguyễn Khắc Phi dịch: Đầu đường chợt thấy màu dương liễu
Ngô Tất Tố dịch: Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Vũ Hoàng Chương dịch: Đường xa, kìa liễu xanh mầu
Về chữ “hốt kiến”, bản dịch nghĩa dịch thành “hoảng hốt”. Nhưng theo Hán
Việt từ điển, “hốt” có nghĩa là bỗng nhiên, bất chợt nói đến sự nhanh chóng tức thì,
không có sự chủ ý của con người. Bản dịch thơ của Nguyễn Khắc Phi và Ngô Tất
Tố dịch theo Hán Việt từ điển. Vũ Hoàng Chương dịch thành: “Đường xa kìa liễu
68
xanh màu” chưa làm rõ nghĩa từ “hốt”. Tản Đà thì lại dịch: “Nhác trông vẻ liễu bên
đường”. Từ “nhác” mang ý nghĩa “hoảng sợ” và “nhìn thoáng qua từ xa” hơn là
“chợt nhìn thấy”.
Với từ “hốt” trong bài thơ này, thiết nghĩ ta nên chọn cách dịch của Nguyễn
Khắc Phi và Ngô Tất Tố. Cách dịch này vừa đúng với nghĩa của từ “hốt” lại vừa
phù hợp với ngữ cảnh của bài thơ: Ngày xuân, người thiếu phụ sau khi trang điểm
xong, nàng bước lên lầu biếc rồi chợt nhìn thấy màu cây dương liễu đầu đường.
Câu 4: 悔 教 夫 婿 覓 封 侯
Hối giao phu tế mịch phong hầu
Dịch nghĩa: Hối hận đã khuyên chồng đi lính để kiếm ấn phong hầu
Tản Đà dịch: Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi
Nguyễn Khắc Phi dịch: Hối để chàng đi kiếm tước hầu
Ngô Tất Tố dịch: Hối để chồng đi kiếm tước hầu
Vũ Hoàng Chương dịch: Xui chồng đi giật tước hầu, dại chưa!
Trong câu thơ cuối cùng, ta cần lưu ý từ “hối”. Bản dịch của Tản Đà, Vũ
Hoàng Chương đã thể hiện được người thiếu phụ nhận ra việc mình khuyên chồng
đi kiếm ấn phong hầu là dại dột nhưng chưa thể hiện rõ được sự hối hận, day dứt,
dằn vặt của người thiếu phụ. Nguyễn Khắc Phi, Ngô Tất Tố giữ nguyên không dịch
từ này.
5) Bài “Điểu minh giản”
Vương Duy
Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
鳥鳴澗 ĐIỂU MINH GIẢN
王維 Vương Duy
人閒桂花落, Nhân nhàn quế hoa lạc,
夜靜春山空。 Dạ tĩnh xuân sơn không.
69
月出驚山鳥, Nguyệt xuất kinh sơn điểu,
時鳴春澗中。 Thời minh xuân giản trung.
Bản dịch nghĩa:
CHIM KÊU TRONG KHE NÚI
Người nhàn, hoa quế rụng,
Đêm yên tĩnh non xuân vắng không.
Trăng lên làm chim núi giật mình,
Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe suối.
Bản dịch thơ:
* Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa:
Bản dịch thứ nhất:
Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,
Đêm xuân lạnh ngắt trái đồi vắng tanh.
Trăng lên, chim núi giật mình,
Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Bản dịch thứ hai:
Người nhàn hoa quế rụng
Đêm xuân núi vắng teo
Trăng lên chim núi hãi
Dưới khe chốc chốc kêu.
(Bản dịch của Tương Như)
* Bản dịch sưu tầm:
Người nhàn hoa quế rụng
Đêm xuân núi đìu hiu
Trăng lên chim thảng thốt
Khe xuân vọng tiếng kêu.
(Bản dịch của Hải Đà)
70
Đối chiếu, so sánh:
Câu 1 và 2: 人 閒 桂 花 落
Nhân nhàn quế hoa lạc
夜 靜 春 山 空
Dạ tĩnh xuân sơn không
Dịch nghĩa:
Người nhàn hoa quế rụng,
Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không.
Ngô Tất Tố dịch: Người nhàn hoa quế nhẹ rơi/ Đêm xuân lạnh ngắt trái đồi
vắng tanh.
Tương Như dịch: Người nhàn hoa quế rụng/ Đêm xuân núi vắng teo
Hải Đà dịch: Người nhàn hoa quế rụng/ Đêm xuân núi đìu hiu
“Khe chim kêu” là một bức tranh thanh tĩnh. Người và cảnh dường như hòa
chung một niềm tâm tư: “Nhân nhàn hoa quế lạc/ Dạ tĩnh xuân sơn không”. Ở hai
câu thơ đầu, các bản dịch trên dịch khá hay và sát với bản nguyên tác, đã thể hiện
được sự hòa hợp của người và cảnh: người thì nhàn nhã, cảnh thì thanh tao. Đêm đã
yên tĩnh, đêm trên núi vắng vào mùa xuân lại càng tĩnh lặng hơn.
Câu 3 và 4: 月 出 驚 山 鳥
Nguyệt xuất kinh sơn điểu
時 鳴 春 澗 中
Thời minh xuân giản trung
Dịch nghĩa:
Trăng lên làm chim núi giật mình,
Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe suối.
Ngô Tất Tố dịch: Trăng lên, chim núi giật mình/ Tiếng kêu thủng thẳng đưa
quanh khe đồi.
Tương Như dịch: Trăng lên chim núi hãi/ Dưới khe chốc chốc kêu.
Hải Đà dịch: Trăng lên chim thảng thốt/ Khe xuân vọng tiếng kêu.
71
Cảnh vật ở hai câu đầu miêu tả một đêm xuân yên tĩnh và thanh tao. Nhưng
đến hai câu thơ sau, không gian đột ngột có sự thay đổi nhờ sự xuất hiện của âm
thanh và ánh sáng- ánh sáng của trăng xuân đã lên và âm thanh của tiếng chim núi
giật mình. Tưởng như cảnh sáng hơn và động hơn nhưng thực ra, ánh sáng và âm
thanh chỉ đủ sức làm nổi bật hơn sự tĩnh lặng của đêm trên núi vắng. Ở đây, nhà thơ
đã dùng ánh sáng để miêu tả đêm tối, dùng âm thanh để miêu tả cái tĩnh lặng. Ở hai
câu thơ này, các bản dịch thơ của các dịch giả đã dịch sát với nguyên tác.
Với “Điểu minh giản”, Vương Duy xứng đáng là nhà thơ đứng đầu của phái
thơ sơn thủy điền viên đời Đường. Thơ điền viên sơn thủy của Vương Duy khiến
cho người đọc cảm nhận được vẻ tao khiết của tâm hồn.
2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở:
2.3.1. Câu hỏi gợi mở trong dạy học Văn:
Trong bộ môn Ngữ văn, giờ đọc văn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng.
Giờ đọc văn giúp học sinh cảm thụ và phân tích được tác phẩm văn chương, rèn
luyện năng lực thẩm mỹ và năng lực tư duy. Năng lực thẩm mỹ còn tuỳ thuộc vào
yếu tố năng khiếu của học sinh, còn năng lực tư duy là một yêu cầu có tính phổ biến
trong dạy học. Tác phẩm văn chương là một bức tranh phản ánh khá đầy đủ và sinh
động hiện thực cuộc sống xung quanh chúng ta. Mỗi người có một cách cảm nhận
riêng về tác phẩm văn học mà mình được tiếp xúc. Vì thế, trong giờ đọc văn, giáo
viên cần phát huy hết năng lực tư duy, khả năng tìm tòi, phát hiện theo những suy
nghĩ, cảm nhận riêng của học sinh.
Văn bản văn chương là văn bản nghệ thuật, nghệ thuật nào cũng lấy cái đẹp
làm mục đích. Dạy văn là khám phá cái hay, cái đẹp trong văn bản nghệ thuật, nên
trước hết nó phải là một nghệ thuật- nghệ thuật cảm thụ và phô diễn cái đẹp. Môn
văn có tầm quan trọng đặc biệt trong nhà trường nhưng dạy văn không giống bất kỳ
một môn học nào khác. Dạy lịch sử quan tâm đến các sự kiện lịch sử, dạy địa lý
quan tâm đến các yếu tố tự nhiên và xã hội, dạy toán chú ý đến các con số, công
thức tính toán. Dạy văn không chỉ cần đến kiến thức mà thêm vào đó là cảm xúc,
72
tình cảm, sự rung động của con tim; cái không khí văn, chất văn trong lớp học,
trong mỗi cá nhân thầy và trò. Hơn nữa, cái đẹp của văn chương không chỉ thể hiện
ở bề mặt ngôn từ mà còn chìm sâu vào nhiều tầng nghĩa của văn bản, của thế giới
hình tượng. Chính vì vậy, việc dạy văn đòi hỏi mỗi giáo viên phải có sự sáng tạo và
đổi mới trong giờ dạy, đặc biệt trong cách sử dụng phương pháp để tạo không khí
văn, chất văn trong giờ học và giúp học sinh tìm hiểu, tiếp cận tác phẩm một cách
sâu sắc nhất. Để thực hiện được điều đó, một trong những phương pháp không thể
thiếu là phương pháp đặt câu hỏi gợi mở.
Hiện nay, phương pháp giảng dạy tích cực theo quan điểm lấy học sinh làm
trung tâm đã được đưa vào ứng dụng khá phổ biến. Với phương pháp này, trong
hoạt động dạy học, cần phải có sự tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh. Để
phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập, giáo viên phải tổ chức
chỉ đạo hoạt động của học sinh, học sinh là chủ thể tự giác tích cực trong quá trình
lĩnh hội kiến thức. Hệ thống câu hỏi gợi mở sẽ góp phần giúp cho giờ học tác phẩm
văn chương trở nên sinh động, vai trò của học sinh trong giờ học được khẳng định
và mối liên hệ qua lại giữa thầy và trò được duy trì. Tuy nhiên, việc sử dụng câu hỏi
như thế nào trong giờ đọc văn để đem lại hiệu quả cao đó là điều mà giáo viên dạy
văn cần trăn trở và suy nghĩ. Theo chúng tôi, câu hỏi gợi mở trong giờ dạy văn cần
có những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Câu hỏi gợi mở phải đạt được mục đích tác động đến cảm xúc và rung động
thẩm mỹ, đến sự cảm thụ của học sinh với tác phẩm, gây được những phản ứng bên
trong của học sinh, không nên đặt những dạng câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh trả lời
có hoặc không.
- Câu hỏi phải hướng vào thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, khái quát của
học sinh.
- Trong hệ thống câu hỏi gợi mở phải tập trung chủ yếu vào những điểm
trọng tâm của bài học, phù hợp với mục đích, yêu cầu của bài giảng, tránh đưa ra
những câu hỏi chung chung mơ hồ, vụn vặt.
73
- Hệ thống câu hỏi gợi mở phải được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp
với đối tượng và phân loại đối tượng.
+ Câu hỏi gợi mở, tạo tình huống dành cho tất cả các đối tượng học sinh;
+ Câu hỏi tái hiện, phát hiện dành cho học sinh nhận thức chậm, trung bình;
+ Câu hỏi cảm nhận, hướng vào thao tác tư duy dành cho học sinh khá, giỏi.
Tóm lại, yêu cầu của câu hỏi gợi mở trong giờ đọc văn phải vừa tạo ra sự
kích thích, vừa tác động đến nhận thức, tư duy của học sinh. Việc đưa ra câu hỏi
phải căn cứ vào nội dung bài học, vào đối tượng học sinh, vào điều kiện khách quan
của giờ học… để có cách đặt câu hỏi, cách lựa chọn hình thức câu hỏi và sử dụng số
lượng câu hỏi thích hợp.
2.3.2. Câu hỏi gợi mở khi dạy các tác phẩm thơ Đường:
2.3.2.1. Gợi mở, khám phá thi đề:
Bảng 2.4: Đề tài các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở,
Trung học phổ thông
Đề tài Bài thơ
Đề tài
về quê
hương
Cảnh “vọng nguyệt hoài hương” của
người xa quê
Tĩnh dạ tứ
(Lí Bạch)
Nỗi lòng của người xa quê hương chứa
chan tâm sự yêu nước, thương đời khi
mùa thu về nơi đất khách.
Thu hứng
(Đỗ Phủ)
Nỗi lòng người trở về quê hương sau
nhiều năm xa cách
Hồi hương ngẫu thư
(Hạ Tri Chương)
Tình cảm gắn bó với quê hương, quê
hương là điểm tựa, là chốn dừng chân,
niềm an ủi cho những cuộc đời phiêu bạt
trong cảnh tha hương, chiều muộn, ngày
tàn
Hoàng Hạc lâu
(Thôi Hiệu)
74
Đề tài về
thiên nhiên
Vẻ đẹp nhìn từ xa của thác nước chảy từ
đỉnh Hương Lô thuộc dãy núi Lư
Vọng Lư Sơn bộc bố
(Lí Bạch)
Đề tài
tiễn biệt
Cuộc chia tay của đôi bạn tri âm tri kỉ:
Lí Bạch- Mạnh Hạo Nhiên
Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng
(Lí Bạch)
Đề tài
chinh phu-
chinh phụ
Nỗi sầu của người thiếu phụ có chồng đi
chinh chiến
Khuê oán
(Vương Xương Linh)
Một số đề
tài khác
Cái yên tĩnh và thanh tịnh của chốn
Thiền môn. Khung cảnh thiên nhiên như
thoát tục với hình ảnh một tao nhân mặc
khách đang muốn lánh chốn bụi trần để
tịnh tâm.
Điểu minh giản
(Vương Duy)
Con người chỉ là một sinh-vật bé nhỏ,
hữu hạn, chìm ngập trong cái vô tận của
màn đêm. Tiếng chuông chùa vọng lại
trong đêm, gây được cảm nhận tri-ngộ
trong tâm hồn con người.
Phong Kiều dạ bạc
(Trương Kế)
Hiện thực cuộc sống của con người
trong cảnh loạn ly do chiến tranh gây ra.
Mao ốc vị thu phong sở
phá ca
(Đỗ Phủ)
Khi dạy thơ Đường, tùy từng bài thơ, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh
khám phá thi đề theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, việc đặt câu hỏi gợi mở để
tìm hiểu, phân tích nhan đề của bài thơ là một khâu có ý nghĩa quan trọng và có tác
dụng đáng kể trong việc khám phá thi đề của tác phẩm.
75
Ở bài “Vọng Lư Sơn bộc bố”, giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào thế giới thiên
nhiên hùng vĩ của thác nước bắt đầu vị trí của người ngắm cảnh thể hiện qua tiêu đề
của bài thơ. Giáo viên đặt câu hỏi gợi mở:
- Căn cứ vào tiêu đề bài thơ “Vọng Lư Sơn bộc bố” và câu thơ thứ hai “Dao
khan bộc bố quải tiền xuyên” (chú ý nghĩa của chữ “vọng” và chữ “dao”), xác
định vị trí đứng ngắm thác nước của tác giả?
- Vị trí này có lợi thế như thế nào trong việc phát hiện những đặc điểm của
thác nước?
Tiêu đề bài thơ có chữ “vọng” (trông từ xa) và câu thơ thứ hai có từ “dao”
(xa) cho thấy: nhà thơ không đứng gần mà ở xa để ngắm cảnh thác nước. Điểm nhìn
này không quan sát chi tiết, tỉ mỉ được nhưng có thể bao quát được một không gian
rộng lớn, phát hiện được vẻ đẹp của toàn cảnh. Qua đó ta thấy Lý Bạch đã chọn
được điểm nhìn phù hợp khi miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của thác Lư Sơn.
Đối với bài “Tĩnh dạ tứ”, giáo viên giúp các em tiếp cận với chủ đề “vọng
nguyệt hoài hương” và mạch cảm xúc của toàn bài thơ qua việc nhận xét, khám phá
nhan đề. Từ trước đến nay, hầu hết các sách đều viết tựa đề bài thơ là “Tĩnh dạ tứ”.
Tuy nhiên, theo Hán Việt từ điển, chữ “tứ” chỉ có thể nêu được ý tứ, thi tứ; chữ “tư”
mới nêu được cảm xúc, sự nghĩ ngợi, các vấn đề thuộc về tâm như tưởng tượng, ghi
nhớ, suy xét... Giáo viên đặt câu hỏi: Căn cứ vào mạch cảm xúc của bài thơ và nhất
là câu thơ cuối, em thấy nhan đề “Tĩnh dạ tứ” hay “Tĩnh dạ tư” phù hợp hơn?
Với bài “Hồi hương ngẫu thư”, giáo viên gợi mở: Xa quê, nhớ quê là đề tài
quen thuộc trong thơ cổ đại, trung đại phương Đông nhưng mỗi nhà thơ trong hoàn
cảnh riêng lại có cách thể hiện độc đáo, không trùng lặp. Qua nhan đề “Hồi hương
ngẫu thư”, em nhận ra điều gì mới trong cách thể hiện tình cảm của Hạ Tri
Chương?
Giáo viên giúp học sinh nhận ra vấn đề: Ở đây có hai sự lạ: Bao năm xa quê,
Hạ Tri Chương đã không viết bài thơ nào, bây giờ lại viết khi vừa mới về quê; mặt
khác, chữ “ngẫu” cho thấy nhà thơ không hề có ý làm thơ, dường như tất cả tâm
76
tình của nhà thơ đều đặt trong cái đích “hồi hương”. Qua đó ta thấy được nỗi lòng
của nhà thơ khi trở về quê hương sau nhiều năm xa cách.
Ở bài “Khuê oán”, giáo viên giúp học sinh tiếp cận tác phẩm bằng cách
khám phá sự đối lập của nhan đề: “Khuê” là nơi ở sang trọng của người thiếu phụ,
là chốn lầu son gác tía, còn “oán” là nỗi sầu oán. Nhan đề bài thơ chỉ vẻn vẹn có hai
chữ nhưng nói được biết bao điều. Giáo viên có thể đặt ra một câu hỏi tác động vào
sự suy nghĩ và tạo tâm thế muốn tìm giải đáp của học sinh: Người thiếu phụ được ở
chốn khuê phòng sang trọng như vậy tại sao lại sầu oán? Khác với nhan đề “Khuê
oán” ngắn gọn, chỉ có hai chữ, bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng” lại có nhan đề dài, trái ngược với sự ngắn gọn, súc tích của thơ
Đường. Nhan đề ấy thể hiện dụng ý của tác giả: thể hiện rõ quá trình tiễn biệt: nơi
ra đi, nơi sẽ đến và người được tiễn.
Tuy nhiên, nhan đề của bài thơ chỉ thể hiện một phần nào thi đề của tác
phẩm, giáo viên cần giúp học sinh tiếp cận thi đề sâu hơn qua những câu hỏi trong
bài học. Chẳng hạn khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề tài tiễn biệt của bài “Hoàng
Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lí Bạch, cùng với câu hỏi
nhận xét nhan đề để tiếp cận đề tài của tác phẩm, giáo viên đặt câu hỏi gợi mở:
- Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên trong bối cảnh không gian, thời gian nào?
- Ba yếu tố không gian, thời gian và con người trong bài thơ có mối quan hệ
với nhau ra sao? Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung
cảnh và tâm tình người đưa tiễn?
Ở câu hỏi thứ nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh cảm nhận được không
gian, thời gian của buổi tiễn đưa, đó là lầu Hoàng Hạc- một thắng cảnh thần tiên
gắn với bao huyền thoại đầy chất thơ. Mạnh Hạo Nhiên lên đường vào một ngày
tháng ba “tam nguyệt”, mùa hoa khói “yên hoa” để xuôi về Dương Châu- thắng
cảnh phồn hoa bậc nhất đời Đường.
Bốn chữ “yên hoa tam nguyệt” được dùng để chỉ thời gian của buổi tiễn đưa
song cũng là một biểu tượng nghệ thuật có sức gợi rất lớn. “Yên hoa”/ “yên ba”
thường chỉ khói sóng trên sông, khói sương mù. Vào mùa xuân ở Trung Quốc, đây
77
là hình ảnh thiên nhiên đã đi vào thơ như một hình tượng nghệ thuật đầy gợi cảm,
làm thức dậy bao nỗi niềm tâm sự của thi nhân như nhà thơ Thôi Hiệu đã thổ lộ:
“Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Bên cạnh đó, “yên hoa” còn có nghĩa là cảnh
đẹp mùa xuân. Đây có thể là một buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện với
sương mù tháng ba tạo nên hình ảnh “hoa khói”, cũng có thể là vào tháng ba mùa
xuân hoa nở nhiều, tầng tầng lớp lớp như là sương, là khói. Lí Bạch và Mạnh Hạo
Nhiên là hai người bạn tri âm, tính tình đều rất phóng khoáng, thích ngao du sơn
thuỷ. Với tâm hồn nghệ sĩ ấy, lầu Hoàng Hạc giữa mùa xuân là khung cảnh gợi bao
thi hứng, đó là nơi lí tưởng để họ đàm đạo thi ca và nhân tình thế thái. Đó cũng là
những giây phút mà cả hai đều thú vị nhưng họ lại phải chia tay nhau. Và đương
nhiên, mỗi người đều mang trong mình một nỗi niềm tâm sự. Qua đó ta thấy được
sự thống nhất và tương phản trong mối quan hệ của ba yếu tố: không gian- thời gian
và con người trong buổi chia tay: không gian đẹp, thời gian đẹp, tình bạn lại càng
đẹp, vậy mà họ lại sắp phải xa nhau. Vì thế, cảnh càng đẹp thì lòng người lại càng
buồn, càng thấm thía nỗi xa cách, chia ly bấy nhiêu.
Bên cạnh đó, giáo viên có thể giúp học sinh tiếp cận thi đề của tác phẩm sâu
hơn thông qua việc liên hệ bài thơ được học với những bài thơ khác cùng đề tài. Với
bài “Khuê oán” (Vương Xương Linh), giáo viên liên hệ với “Chinh phụ ngâm” của
Đặng Trần Côn. Với bài “Tĩnh dạ tứ” (Lí Bạch), giáo viên hướng dẫn học sinh tìm
những bài thơ, những câu thơ cùng chủ đề “Vọng nguyệt hoài hương”- một chủ đề
phổ biến trong thơ cổ, không chỉ thơ Trung Quốc mà cả Việt Nam, hoặc các bài thơ
của các tác giả nước ngoài khác:
Lộ tòng kim bạch dạ
Nguyệt thị cố hương minh
(Sương từ đêm nay trắng xóa
Trăng là ánh sáng của quê nhà)
(Đỗ Phủ)
Cộng khan minh nguyệt ưng thùy lệ
Nhất phiến hương tâm ngũ xứ đồng.
78
(Xem trăng có lẽ cùng rơi lệ
Một mảnh tình quê, năm anh em ở năm nơi đều giống nhau)
(Bạch Cư Dị)
Hay mở tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ta bắt gặp ngay bài “Quỳnh Hải
nguyên tiêu” (Đêm rằm tháng giêng ở Quỳnh Hải), tác giả thấy “trăng sáng đầy
trời”(nguyệt mãn thiên) lại lập tức nhớ tới cảnh “ở Hồng Lĩnh không có nhà, anh
em tan tác” (Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán)
Hoặc khi dạy bài “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, giáo viên giúp
học sinh cảm nhận bài thơ sâu sắc hơn thông qua sự đồng cảm, đồng điệu, đồng tình
giữa bài thơ này với một bài thơ khác của Chế Lan Viên:
Trở lại An Nhơn, tuổi lớn rồi
Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.
(Trở lại An Nhơn)
Tuy nhiên, không phải bất cứ bài thơ nào ta cũng có thể khám phá thi đề qua
việc tìm hiểu nhan đề hoặc liên hệ với các bài thơ có cùng chủ đề. Chẳng hạn như
với nhan đề “Hoàng Hạc lâu” trong bài thơ cùng tên của Thôi Hiệu, ta chỉ có thể
nhận ra một địa danh- một khung cảnh thần tiên gắn với huyền thoại đầy chất thơ
được nói đến trong bài mà không thể thấy được những cái sâu xa hơn. Đó là con
người chỉ là một sinh-vật bé nhỏ, hữu hạn, bị bao trùm trong cái vô hạn của không
gian vũ trụ vô chung vô thủy. Nỗi sầu từ sự ý thức giữa cái vô cùng của tạo vật và
cái hữu hạn của kiếp người, giữa cái còn và cái mất tạo thành mạch cảm xúc xuyên
suốt bài thơ. Chính vì thế, giáo viên cần giúp học sinh nhận ra thi đề của bài thơ
thông qua thi tứ và thi ý.
2.3.2.2. Gợi mở, khám phá thi tứ:
Tứ thơ Đường thường được tạo bởi thứ ngôn ngữ khái quát, nghệ thuật miêu
tả chỉ bằng vài nét chấm phá, vì vậy mà lượng thông tin nghệ thuật trong từng câu
79
chữ luôn lớn hơn rất nhiều dung lượng của nó. Cách cấu tạo của tứ thơ thường được
thể hiện qua nghệ thuật đồng nhất, nghệ thuật đối lập và nhất là qua các phạm trù:
lấy cái “tối” để tả cái “sáng”, lấy cái “động” tả cái “tĩnh”, lấy “không” để nói “có”,
lấy không gian tả thời gian,...
Trong bài thơ “Thu hứng”, để diễn tả cảm xúc của mình, nhà thơ đã sử dụng
nghệ thuật đồng nhất trong cảnh và tình, hiện tại và quá khứ, con người và sự vật.
Năm 765, Đỗ Phủ cùng gia đình rời Thành Đô đến Vân An rồi đến Quỳ Châu. Nhà
thơ đã rời Thành Đô hai năm- hai năm là hai mùa hoa cúc nở, hai mùa thu xa quê
hương. Mùa thu trước, Đỗ Phủ ở Vân An, mùa thu này, ông ở Quỳ Châu. Hai mùa
thu trôi qua, hai lần nhìn hoa cúc nở, cả hai lần đều rơi nước mắt: “Tùng cúc lưỡng
khai tha nhật lệ”. Ở đây, Đỗ Phủ đã đồng nhất cảnh với tình, hiện tại với quá khứ:
cúc nở hoa như nhỏ lệ, diễn tả nỗi đau đến rơi lệ trong lòng người. Lệ của hoa, lệ
của người, cả hai đều chung nước mắt. Khóm cúc nở hoa hai lần, đã hai mùa thu
trôi qua, hai lần nhìn hoa cúc nở, hai lần đều rơi nước mắt. Cúc hai lần nở hoa cũng
chính là hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau- giọt lệ hiện tại cũng là giọt
lệ của quá khứ năm xưa.
Cùng với nghệ thuật đồng nhất cảnh và tình, hiện tại và quá khứ, nhà thơ
cũng đồng nhất sự vật với con người: “Cô chu nhất hệ cố viên tâm”. “Cô chu” là
con thuyền đơn độc trên sông. Đây là hình ảnh thơ vừa có ý nghĩa tả thực, vừa là
một biểu tượng nghệ thuật. Khi chạy loạn, cả gia đình Đỗ Phủ đã phải sống trên một
con thuyền thả trôi trên sông Trường Giang. Mặt khác, hình ảnh con thuyền còn
mang một ý nghĩa khái quát, nó đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật của văn
học, dùng để chỉ thân phận lênh đênh của con người. Nếu Lí Bạch từng dùng hình
ảnh “cô phàm” để thể hiện tâm sự cô đơn thì Đỗ Phủ dùng “cô chu” thể hiện cảnh
ngộ và tâm trạng của mình. Vì chiến tranh loạn lạc, ông không thể trở về quê
hương, tấm lòng thương nhớ quê nhà đành buộc chặt nơi con thuyền nhỏ ấy: “Cô
chu nhất hệ cố viên tâm”- dây buộc con thuyền lẻ loi với vườn cũ cũng chính là dây
buộc lòng người với cố hương.
80
Giáo viên đặt câu hỏi: Ở hai câu luận, tác giả tả sự vật gì? Tác giả đồng
nhất hóa những gì? Điều đó có ý nghĩa như thế nào?
Ở câu hỏi này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh khám phá hình ảnh ẩn dụ
tượng trưng: hoa cúc, con thuyền. Hoa cúc tượng trưng cho mùa thu; con thuyền
tượng trưng cho cuộc đời nổi trôi lưu lạc, mang chở tâm tình con người. Và ở đây,
tác giả đã khéo léo sử dụng nghệ thuật đồng nhất: đồng nhất giữa cảnh và tình: cúc
nở hoa như nhỏ lệ, diễn tả nỗi đau đến rơi lệ; đồng nhất hiện tại và quá khứ: cúc hai
lần nở hoa cũng là hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau- giọt lệ hiện tại
cũng là giọt lệ của quá khứ năm xưa; và cuối cùng là đồng nhất con người với sự
vật: dây buộc con thuyền lẻ loi với vườn cũ chính là dây buộc lòng người với cố
hương.
Tiếp cận với bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, ta lại thấy
cấu tứ của bài được thể hiện rất rõ qua nghệ thuật đối. Ba câu thơ đầu được tạo
dựng bởi phép tiểu đối (đối trong nội bộ câu) với hình thức hai ngữ đoạn đối xứng.
Phép tiểu đối cũng là một thủ pháp đặc trưng trong thơ chữ Hán Đường luật, đặc
biệt ở thể tuyệt cú.
Câu thơ mở đầu bằng một lời tự sự:
Thiếu tiểu li gia / lão đại hồi,
Ngay trong một câu thơ bảy chữ nhưng đã tạo dựng được hai sự đối lập. Đối
lập giữa hành động xa nhà- trở về nhà (li gia- hồi), giữa tuổi trẻ và tuổi già (thiếu
tiểu- lão đại). Cấu trúc đối ở đây đã khái quát cả một cuộc đời con người. Con
người ấy lúc trẻ tuổi đã nặng nợ công danh để lúc về già ngậm ngùi niềm cố thổ. Có
thể nói cảnh huống này là cảnh huống của rất nhiều người trai trong xã hội phong
kiến bởi chí làm trai phải lập công danh, phải thoả chí "tang bồng hồ thỉ”.
Tuy nhiên, cái đáng quý của nhân vật trữ tình ở đây là sau bao nhiêu năm
tháng xa quê hương mà "Hương âm vô cải / mấn mao tồi”. Với câu thơ này, một
lần nữa cấu trúc đối lại được sử dụng để làm nổi bật sự đối lập đầy nghiệt ngã, đối
lập giữa ước muốn của con người và quy luật thời gian. Giọng nói của quê hương
không thay đổi minh chứng cho tâm tình quê hương sâu nặng của một vị quan một
81
thời hiển vinh nay đã “cáo lão hồi hương”. Thế nhưng, vị quan ấy không thể níu kéo
được thời gian, cưỡng lại quy luật vần xoay của Tạo hoá để giờ đây mái tóc mai
ngày nào đã rụng và thay vào đó là mái đầu đã bạc phơ.
Và chính điều này đã đẩy thi nhân vào cảnh huống:
Nhi đồng tương kiến / bất tương thức.
Vẫn cái cấu trúc tiểu đối ấy, chữ bất hiện hữu như một bức tường kiên cố vô
hình ngăn trở lối về với quê hương của thi nhân. Hình ảnh "nhi đồng” xuất hiện như
một điểm nhấn độc đáo. Đây là lớp chủ nhân mới của quê hương, chúng biểu trưng
cho khoảng cách thế hệ. Do vậy, dù có gặp nhau "tương kiến” nhưng sẽ không thể
nào biết nhau "bất tương thức” để rồi những cảm xúc dồn nén dâng trào ở câu thơ
cuối:
Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.
Câu hỏi hồn nhiên của con trẻ làm lòng người tha hương xiết bao ngậm ngùi:
ta đã trở thành người khách lạ chính trên quê hương của mình.
Bài thơ đặc biệt không chỉ ở việc phép đối được tạo lập trên từng đơn vị câu
thơ mà được tạo dựng trên cả cấu trúc của cả bài thơ. Có thể nói, cả bài thơ trên là
một sự đối lập. Đối lập giữa sự mong đợi của người trở về và thực tại đang hiện
hữu. Người trở về đang háo hức trong nỗi nhớ da diết, mong quê hương đón mình
trong niềm vui của ngày sum họp nhưng thực tế đã hoàn toàn khác. Lũ trẻ, với sự
hồn nhiên ngây thơ đã vô tình khiến người tha hương ngộ ra một điều xót xa: người
xa quê đã trở thành khách lạ trên chính quê hương của mình.
Khi dạy bài thơ này, giáo viên cần gợi mở để học sinh khám phá biện pháp
nghệ thuật đối, đặc biệt là phép đối ở hai câu thơ đầu. Giáo viên đặt câu hỏi: Em hãy
phân tích các vế đối ở hai câu thơ đầu? Theo em, phép đối trong hai câu thơ ấy có
tác dụng gì? Học sinh cần làm rõ được hai vế đối ở từng câu thơ:
“Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi
Hương âm vô cải/ mấn mao tồi”
Hai câu thơ trên, mỗi câu có hai vế, mỗi vế có hai bộ phận đối nhau rất
chỉnh:
82
 Thiếu tiểu/ lão; li gia/đại hồi
 Hương âm /mấn mao, vô cải/tồi
Nhà thơ đã lấy cái thay đổi là cái cụ thể: “mấn mao” (tóc mai) để làm nổi bật
cái không thay đổi là cái tượng trưng “hương âm” (giọng quê). Qua đó, ta thấy được
tình cảm gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương.
Với bài thơ “Điểu minh giản” của Vương Duy, tứ thơ Đường lại được thể
hiện qua phạm trù đối lập: lấy cái “tối” để tả cái “sáng”, lấy cái “động” tả cái “tĩnh”.
Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh cảnh và người thật hoà hợp, người thì nhàn nhã,
cảnh thì thanh tao, những bông hoa quế li ti nhẹ rơi càng làm tăng thêm vẻ tĩnh
mịch. Đêm đã yên tĩnh, đêm trên núi vắng vào mùa xuân lại càng tĩnh lặng hơn.
Một chữ “tĩnh” và một chữ “không” cộng hưởng để làm bật lên sự tịch mịch của
đêm trên núi vắng. Cảnh vật ở hai câu đầu thiên về vẻ tĩnh và tối của một đêm mùa
xuân yên tĩnh và thanh tao. Nhưng đến hai câu sau, không gian đột ngột có sự thay
đổi. Đó là sự xuất hiện của âm thanh và ánh sáng. Ánh sáng của trăng xuân đã lên
và âm thanh của tiếng chim núi giật mình. Tưởng như cảnh sáng hơn và động hơn,
nhưng thực ra ánh sáng và âm thanh chỉ đủ sức làm nổi bật hơn sự tĩnh lặng của
đêm trên núi vắng. Trăng làm tăng vẻ huyền ảo, tiếng chim “thỉnh thoảng cất tiếng
kêu trong khe suối” càng làm rõ hơn cái tĩnh của đêm. Trăng lên và tiếng chim kêu
được miêu tả thật sinh động, giàu sức gợi. Nhà thơ đã dùng ánh sáng để miêu tả
đêm tối, dùng âm thanh để miêu tả cái tĩnh lặng. Đây là một trong những thủ pháp
nghệ thuật rất quen thuộc của thơ ca đời Đường. Giáo viên đặt câu hỏi gợi mở để
giúp các em khám phá ra điều này:
- Cây quế cành lá sum suê nhưng hoa lại rất nhỏ. Nhà thơ cảm nhận được
âm thanh hoa quế rơi. Chi tiết đó cho thấy điều gì về cảnh đêm xuân và tâm hồn thi
sĩ?
- Ở câu thơ 3 và 4, cảnh vật có sự thay đổi như thế nào? Hình ảnh, chi tiết
nào thể hiện điều đó? Ở đây, tác giả đã sử dụng nghệ thuật gì?
Học sinh cần nêu được những nét chính: Ở hai câu thơ đầu: “Nhân nhàn quế
hoa lạc/ Dạ tĩnh xuân sơn không” cho thấy hoàn cảnh của tác giả: nhàn- rỗi rãi, thư
83
thái. Tuy hoa quế rất nhỏ, âm thanh hoa quế rụng khẽ khàng, mơ hồ nhưng nhà thơ
vẫn cảm nhận được âm thanh hoa quế rụng. Qua đó ta thấy sự tinh tế, nhạy cảm, tập
trung của tác giả và sự yên tĩnh của cảnh đêm nơi rừng núi. Ở câu 3 và 4: “Nguyệt
xuất kinh sơn điểu/ Thời minh xuân giản trung”, cảnh có sự thay đổi đột ngột với sự
xuất hiện của ánh sáng và âm thanh: ánh sáng của ánh trăng lên và âm thanh của
chim núi giật mình kêu vang. Ở đây, tác giả đã lấy hình gợi âm, lấy động tả tĩnh để
đặc tả sự yên tĩnh dường như tuyệt đối của đêm.
Hoặc với bài “Phong Kiều dạ bạc”, Trương Kế đã vẽ nên một bức tranh thiên
nhiên vào một đêm khuya vắng vẻ- có đường nét, màu sắc và âm thanh: Trăng lặn,
bất chợt có tiếng quạ kêu, ngoài trời sương giăng đầy. Qua làn sương phủ ấy, thi
nhân cảm nhận được phía ngoài con thuyền là khoảng không bao la, vắng lặng.
Tiếng quạ kêu càng khắc sâu hơn sự vắng lặng và tĩnh mịch của đêm. Đó chính là
thủ pháp quen thuộc của Đường thi: lấy động tả tĩnh.
Bên cạnh đó, khi tìm hiểu thơ này, giáo viên cũng cần lưu ý học sinh ở bản
dịch thơ: Ở hai câu thơ sau, bản dịch thơ của Tản Đà đã phần nào làm nhòa sự ngân
vang của tiếng chuông trong đêm yên tĩnh. Bản dịch thơ chưa diễn đạt được vai trò
chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San, cụ thể là Tản Đà đã biến chủ thể vốn là
tiếng chuông thành chủ thể là chiếc thuyền của lữ khách. Do đó, chưa thể hiện rõ
được hai thủ pháp nghệ thuật truyền thống của thơ Đường được sử dụng kết hợp
trong bài thơ là lấy động để tả tĩnh và mượn âm thanh để truyền hình ảnh.
Tương tự như các bài thơ trên, tứ thơ của bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh
Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” cũng được thể hiện một phần qua phạm trù đối lập: lấy
cái “có” để nói cái “không”. Giáo viên có thể đặt thêm câu hỏi nâng cao dành cho
học sinh khá, giỏi: Thơ Đường thường lấy cái “có” (hữu) để nói cái “không” (vô)
hoặc ngược lại. Qua bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng
Lăng”, em hãy chứng minh điều đó.
Ở câu hỏi này, học sinh cần nêu được một số điểm chính: Cái “có” được gợi
ra từ không gian, thời gian cụ thể. Có tháng 3 tiết mùa xuân hoa nở, có dòng sông
Trường Giang trong xanh bao la, có bầu trời xanh biếc ngút tầm mắt, có thành
84
Dương Châu gợi bao vẻ đẹp của chốn phồn hoa… Tất cả để làm rõ cái “không có”.
Đó là cánh buồm mất hút, là người bạn đã đi xa, để lại trong lòng người đưa tiễn nỗi
cô đơn, trống vắng vô bờ. Ngược lại, cánh buồm lẻ loi mất hút vào bầu trời xanh
biếc là cái “không” để nhấn mạnh cái “có”. Đó là người đưa tiễn đang đứng trên lầu
cao dõi theo cánh buồm đưa bạn tới chân trời.
Bên cạnh đó, thơ Đường là thể loại thơ trữ tình. Tình cảm, cảm xúc trở thành
mạch nối vô hình để hàn kết các hình ảnh, ý tưởng, nhạc điệu tạo nên sự vận động
của ý thơ trên con đường tạo nên cấu tứ. Ta hãy thử cảm nhận cái không khí mênh
mang, u tịch trong bài “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Tác giả đặt tâm hồn mình vào khoảng thời gian và không gian vô tận. Nỗi
sầu từ sự ý thức giữa cái vô cùng của tạo vật và cái hữu hạn của kiếp người, giữa cái
còn và cái mất tạo thành mạch chảy suốt bài thơ. Người xưa đi mất, quanh đây chỉ
còn mây trắng bay. Ý thức về “sinh ký tử quy” của tác giả như hòa vào khói sóng
đìu hiu để rồi tất cả đọng lại trong một chữ “sầu” trĩu nặng ở cuối bài thơ. Tuy
nhiên, chữ “sầu” kết lại bài thơ phải chăng đem tới ý vị buồn bã? Đằng sau chữ
“sầu” đó, tác giả muốn diễn tả điều gì? Giáo viên cần lưu ý học sinh ở điểm này.
Khác với Huy Cận trong bài thơ Tràng Giang: “Lòng quê dợn dợn vời con
nước. Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, khi đứng giữa không gian vô tận của
Tràng Giang bát ngát, ông mang trong mình một nỗi sầu nhân thế, ông nhớ đến quê
hương, nhưng quê hương ở đây là một nơi được xác định. Thôi Hiệu trong “Hoàng
Hạc lâu”, trước những cái vạn biến trong cuộc đời, ông không biết quê nhà ở đâu
85
“hà xứ thị”. Tuy nhiên, quê hương được nhắc tới ở đây cũng là điểm tựa của cõi
lòng, là nơi trú ẩn cuối cùng của những tâm hồn không tìm được sự bình an trước
những cái vạn biến trong cuộc đời. Do đó, thông qua cái “sầu”, người đọc thấy được
quan niệm nhân sinh tích cực, tình cảm nhân bản của tác giả. Tác giả đã khẳng định
ý nghĩa cuộc đời. Vì thế, hồn người lữ khách không đắm chìm mãi trong cảnh tiên,
không mãi triền miên suy tư về quá khứ mà cuối cùng vẫn quay lại nhìn thẳng vào
hiện thực với hàng cây, bãi cỏ và khói sóng mịt mùng trên sông. Chính khói sóng ấy
đã khiến cho “sử nhân sầu” khi nhớ tới một miền quê xa vắng. Quê hương chính là
điểm tựa, là chốn dừng chân, là niềm an ủi cho những thân phận lênh đênh, cho
những cuộc đời bấp bênh trôi dạt, không tìm thấy được sự bình an. Đó là tình cảm
nhân bản lành mạnh của bài thơ.
2.3.2.3. Gợi mở, khám phá thi ý:
Đặc trưng của thơ cổ phương Đông là trọng về gợi, “tả cảnh ngụ tình”. Do
đó, một bài thơ Đường bao giờ cũng gồm hai tầng ý: tầng “mặt” và tầng “chìm” vì
“ý kị nông, mạch kị lộ”. Cảm hứng Đường thi ví như một dòng mạch tuôn lặng lẽ
mà cái nhìn hời hợt bên ngoài khó phát hiện. Thưởng thức thơ Đường, để đến được
với “hồn thơ”, khi giảng dạy, giáo viên cần giúp học sinh hiểu được cả “tầng mặt”
và “tầng chìm” của bài thơ. Thông qua đó, học sinh cảm nhận được tiếng nói của thi
nhân, tiếng nói của cảm xúc, của con tim, của những tấm lòng tha thiết yêu đời, yêu
người.
“Hoàng Hạc lâu”(Thôi Hiệu) là một dẫn chứng tiêu biểu. Bài thơ khai tự từ
nhan đề- “Hoàng hạc lâu”- nơi bắt đầu của nguồn mạch cảm xúc. Mạch thơ chạy
dọc theo mạch cảm xúc từ trên xuống qua các câu, kết nối các sự kiện từ cái còn-
cái mất, cái hữu- cái vô, quá khứ- hiện tại, lữ khách viễn xứ- quê hương... trộn lẫn
vào nhau để rồi cuối cùng đọng lại ở chữ “sầu” cuối bài. Chữ “sầu” ấy là mặt
hồ hiển hiện, là biển cả bao la, là nơi kết đọng của tám dòng thơ- “tám nhánh sông
sầu”. Cấu trúc một bài Đường thi là khép kín- “ngôn hữu tận”- nhưng nó luôn quan
hệ, hô ứng với bên ngoài tạo nên “ý vô cùng”. “Ý vô cùng” có được là nhờ nơi
86
“ngôn tận”. Với “Hoàng Hạc lâu”, ngôn tận chính tại chữ “sầu”. Mạch sầu ấy đã
ngân vang bao điều về vấn đề triết lý và nhân sinh. Thông qua cái “sầu”, người đọc
thấy được quan niệm nhân sinh tích cực, tình cảm nhân bản của tác giả.
Giáo viên đặt câu hỏi:
1) Điều gì gợi cho Thôi Hiệu cảm thấy nhớ quê hương? Hai chữ “hương
quan” (quê hương) có thể hiểu với những nghĩa nào?
2) Thông qua nỗi “sầu” ở cuối bài, em nhận ra được điều gì về nhân sinh
quan của nhà thơ?
Ở hai câu hỏi này, học sinh cần nêu được một số điểm chính: thời gian buổi
chiều tối và không gian sông nước, khói sóng đã gợi nỗi lòng “chiều hôm nhớ nhà”
của Thôi Hiệu. Hai chữ “hương quan” (quê hương) ở đây không phải chỉ là nơi
chôn rau cắt rốn của con người mà nó còn có ý nghĩa biểu tượng- là điểm tựa, chốn
dừng chân, niềm an ủi cho những thân phận, những cuộc đời phiêu bạt trước những
cái vạn biến trong cuộc đời.
Nỗi buồn, nỗi sầu ở cuối bài thơ là cảm xúc tất yếu của con người trong cảnh
tha hương, chiều muộn, ngày tàn. Thông qua nỗi sầu ấy, người đọc thấy được tình
cảm gắn bó, tình yêu quê hương tha thiết- tình cảm nhân bản tốt đẹp của con người.
Với bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”- Lí Bạch,
giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu thi ý qua câu hỏi gợi mở: Người ta thường
cho rằng: Cái hay của thơ Đường là ở chỗ thể hiện được “ý tại ngôn ngoại” (ý ở
ngoài lời). Em hãy tìm “ý tại ngôn ngoại” qua bài thơ này.
Để không khí học tập thêm sôi nổi và học sinh có cơ hội hợp tác với nhau để
cùng thực hiện nhiệm vụ học tập, ở câu hỏi này, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo
luận theo nhóm, mỗi nhóm khoảng 4- 5 học sinh, thời gian thảo luận 5 phút. Sau khi
các nhóm thảo luận và trình bày kết quả thảo luận, cả lớp đều có thể tham gia tranh
luận, bổ sung ý kiến và nhận xét, đánh giá lẫn nhau. Giáo viên đưa ra nhận xét,
đánh giá cuối cùng và chốt lại những nội dung chính của vấn đề thảo luận:
“Ý tại ngôn ngoại” của bài thơ được thể hiện qua một số từ ngữ: Từ “cố
nhân” gợi lên tình bạn sâu sắc, gắn bó, lâu bền của Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên. Lí
87
Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên lên đường vào khoảng thời gian “yên hoa, tam
nguyệt”.“Yên hoa” ở đây có thể là một buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện
với sương mù tháng ba tạo nên hình ảnh “hoa khói”, cũng có thể là vào tháng ba
mùa xuân hoa nở nhiều, tầng tầng lớp lớp như là sương, là khói. Dù hiểu theo cách
nào thì “yên hoa” cũng gợi lên nỗi buồn, sự cô đơn trong lòng kẻ ở, người đi. Bên
cạnh đó, ẩn sau địa danh Dương Châu, ta cũng nhận ra tâm trạng và nỗi niềm của
Lý Bạch. Mạnh Hạo Nhiên thuộc phái thơ “sơn thủy điền viên”, thích hợp với cuộc
sống thanh nhàn nơi làng quê nhưng ông lại đến Dương Châu- một nơi chốn phồn
hoa đô hội để làm quan. Và vì thế, Lý Bạch tiễn đưa bạn trong một tâm trạng đầy
trắc ẩn, vừa cô đơn, vừa lo lắng.
Đặc biệt, “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ được thể hiện qua hình ảnh “cô
phàm” và cái nhìn “duy kiến”. Một cánh buồm lẻ loi đã đi rất xa, nó thật nhỏ nhoi
và cô độc giữa cái bát ngát, vô tận của màu xanh nối tiếp đến tận chân trời. Cánh
buồm lẻ loi ấy chất chứa tâm trạng của con người: cô đơn, lẻ loi. Và sự cô đơn, lẻ
loi ấy được thể hiện rõ qua đôi mắt chứa đầy tâm trạng của Lý Bạch. Với đôi mắt
ấy, Lý Bạch chỉ nhìn thấy cánh buồm đưa bạn cũ đi xa mặc dù trên sông Trường
Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược. Qua cái nhìn “duy kiến” đó, chúng ta
hiểu sâu sắc hơn về tình bạn chân thành, thắm thiết của Lý Bạch và Mạnh Hạo
Nhiên đồng thời cũng thấy được sự lưu luyến của Lý Bạch khi phải chia tay bạn.
Ở bài “Hồi hương ngẫu thư”, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu thi ý
qua câu hỏi thảo luận cuối bài: Được đón về trong tiếng cười, tiếng nói, không khí
vui tươi, hồn nhiên, ngây thơ của bọn trẻ, tâm trạng của tác giả có vui lên không?
Vì sao? Tác giả về đến đầu làng, chỉ thấy có nhi đồng ra đón. Ngày xưa, tuổi thọ
của con người thường ngắn hơn bây giờ. Đỗ Phủ đã từng nói: “Nhân sinh thất thập
cổ lai hi” (người mà sống được đến bảy mươi tuổi là đã hiếm lắm rồi). Tác giả khi
ấy đã tám mươi sáu tuổi, những người cùng tuổi với ông có lẽ đã mất cả, nếu còn
chắc cũng không nhận ra ông nữa. Bọn trẻ đón ông với tiếng cười, tiếng nói, với câu
hỏi thật hồn nhiên: “Khách tòng hà xứ lai?”. Chính không khí vui tươi của “nhi
đồng” với hành động“tiếu vấn” đã khiến tác giả cảm thấy ngậm ngùi, chua xót. Trẻ
88
con vốn vô tư, không biết ai thì gọi là “khách” nhưng người già thì hay nghĩ ngợi.
Ta về quê ta, về nơi chôn nhau cắt rốn của ta, sao lại gọi là “khách”? Nỗi buồn
trong cảm giác bị lãng quên, nhất là trở thành người “khách” trên mảnh đất quê
hương chính là “tầng chìm” của lời thơ.
Hay trong bài “Mao ốc vị thu phong sở phá ca” của Đỗ Phủ, sau trận thu
phong “gió thét già”, ba lớp tranh ngôi nhà của Đỗ Phủ bị “cuộn mất”, bay tứ tung
khắp mọi nơi. Lũ trẻ con hàng xóm kéo đến cướp tranh mà Đỗ Phủ gọi là “đạo tặc”-
đám kẻ cướp. Chúng khinh nhà thơ “già yếu”, chúng trơ tráo trước tiếng kêu van
“môi khô miệng cháy gào không được” của ông. Lũ trẻ gian tham cướp được chiếc
tranh nào thì cứ ngang nhiên “cắp tranh đi tuốt vào lũy tre” chiếc tranh ấy. Ẩn sau
những nỗi khổ vì rủi ro do thiên tai gây ra và nỗi đau mất của là nỗi đau nhân tình
thế thái. Ông đau buồn trước một xã hội loạn lạc, đảo điên, đạo lý suy đồi đến cùng
cực qua hình ảnh lũ trẻ con nghịch ngợm, gian tham, thừa gió bẻ măng, xô vào cướp
giật. Khi sống trong cảnh đói nghèo, trẻ em thất học tràn lan, phổ biến khắp đất
nước Trung Hoa li loạn.
Trong nỗi đau thương phũ phàng của cuộc đời, con người rất dễ rơi vào tình
trạng khủng hoảng tinh thần, hoặc gục đầu cam chịu, rồi than thân trách phận. Cũng
có thể suốt đêm ngồi trong mưa lạnh rét cóng, Đỗ Phủ có quyền nghĩ đến một mái
lều, một tấm chăn, một bát cơm, một ngọn lửa... cho vợ con và bản thân ông nhưng
nhà thơ đã làm cho người đọc bất ngờ trước một niềm mong ước:
“Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,
Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn!
Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt
Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”
Ông mơ ước có một ngôi nhà kì vĩ “muôn ngàn gian” vô cùng vững chắc
“gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn”. Ngôi nhà ấy để “che khắp thiên hạ kẻ
sĩ nghèo đều hân hoan”. Thấy được ngôi nhà ấy tức là thấy được cảnh thái bình, no
ấm yên vui đến với mọi người, mọi nhà, trong đó có những kẻ sĩ nghèo. Tác giả nêu
89
ra một giả định rất chân thành cảm động. Nếu thấy ngôi nhà “muôn ngàn gian”
trong mơ trở thành hiện thực thì riêng Đỗ Phủ “lều ta nát, chịu chết rét cũng được”.
Giáo viên cần giúp học sinh nhận ra vấn đề: Đằng sau cái nhà rộng muôn ngàn gian
ấy, ta thấy được trái tim giàu lòng yêu thương, thấm đẫm tình người, chứa chan tinh
thần nhân đạo của nhà thơ.
90
Chương 3:
THỰC NGHIỆM GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
3.1. Việc dạy và học thơ Đường ở trường Phổ thông hiện nay:
3.1.1. Về chương trình sách giáo khoa:
- Thống kê các tác phẩm, tác giả trong chương trình: (Theo sách giáo khoa
chỉnh lí mới nhất)
Bảng 3.5: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở
STT Tác phẩm Tác giả Dịch giả
1 Vọng Lư Sơn bộc bố Lý Bạch Tương Như
2 Phong Kiều dạ bạc (Đọc thêm) Trương Kế Kim Dung
3 Tĩnh dạ tứ Lý Bạch Tương Như
4 Hồi Hương ngẫu thư Hạ Tri Chương Phạm Sĩ Vĩ
Trần Trọng San
5 Mao ốc vị thu phong sở phá ca Đỗ Phủ Khương Hữu Dụng
Bảng 3.6: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông
STT Tác phẩm Tác giả Dịch giả
1 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng
Lý Bạch Ngô Tất Tố
2 Thu hứng Đỗ Phủ Nguyễn Công Trứ
3 Hoàng Hạc Lâu (Đọc thêm) Thôi Hiệu Tản Đà
Khương Hữu Dụng
4 Khuê oán (Đọc thêm) Vương Xương
Linh
Tản Đà
Nguyễn Khắc Phi
91
5 Điểu minh giản (Đọc thêm) Vương Duy Ngô Tất Tố
Tương Như
- Thống kê thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường trong chương trình
Ngữ văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông:
Bảng 3.7: Thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ
Văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
Số TT Tác phẩm Thời lượng
1 Vọng Lư Sơn bộc bố 1 tiết
2 Phong Kiều dạ bạc (Đọc thêm) Đọc thêm
3 Tĩnh dạ tứ 1 tiết
4 Hồi Hương ngẫu thư 1 tiết
5 Mao ốc vị thu phong sở phá ca 1 tiết
6 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng
1 tiết
7 Thu hứng 1 tiết
8 Hoàng Hạc Lâu (Đọc thêm)
1 tiết9 Khuê oán (Đọc thêm)
10 Điểu minh giản (Đọc thêm)
Tổng số 7 tiết
- So sánh thời lượng giảng dạy thơ Đường với Văn học nước ngoài và Văn học
Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông:
Bảng 3.8: So sánh thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường với Văn học nước
ngoài và Văn học Việt Nam
Nội dung Trường
Trung học cơ sở
Trường
Trung học phổ thông
Số tiết Tỉ lệ
(%)
Số tiết Tỉ lệ
(%)
92
Tổng số tiết văn bản 179 100 158 100
Tổng số tiết Văn học Việt Nam 138 77,1 131 82,9
Tổng số tiết Văn học nước ngoài 41 22,9 27 17,1
Tổng số tiết thơ Đường 4 2,2 3 1,9
Thơ Đường/ Văn học Việt Nam 4/138 2,9 3/131 2,3
Thơ Đường/ Văn học nước ngoài 4/41 9,8 3/27 11,1
Tổng số tiết thơ Đường/ Tổng
số tiết văn học nước ngoài ở
trường Phổ thông
7/68 (10,3%)
Qua bảng thống kê các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ văn Trung
học cơ sở, Trung học phổ thông, ta thấy nhìn chung, các tác phẩm thơ Đường được
đưa vào giảng dạy khá phong phú. Đó là những tác phẩm tiêu biểu của những thi sĩ
lớn đời Đường, các bản dịch thơ được lựa chọn cũng là một trong những bản dịch
tiêu biểu của những dịch giả lớn. Thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường
trong chương trình tổng cộng là 7 tiết. So với thời lượng văn học nước ngoài trong
trường phổ thông, thơ Đường được dành nhiều thời gian hơn (7/68 tiết) chiếm tỉ lệ
10,3%. Điều này cũng phù hợp, vì thơ Đường không những chỉ là thành tựu đặc sắc
của thơ ca nhân loại mà còn có ảnh hưởng đến thơ ca Việt Nam, nhất là những bài
thơ sáng tác theo thể thơ Đường luật thời Trung đại.
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy và học thơ Đường:
* Thuận lợi:
- Những bài thơ Đường được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa từ
Trung học cơ sở lên Trung học phổ thông là những bài thơ tiêu biểu của những nhà
thơ nổi tiếng đời Đường, được lựa chọn theo lối xoáy trôn ốc, vừa kế thừa, vừa phát
triển.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở các trường Trung học cơ sở, Trung
học phổ thông, tài liệu tham khảo và tư liệu về thơ Đường ngày càng được bổ sung
và hoàn thiện.
93
- Thơ Đường ngắn gọn, súc tích, giàu cảm xúc nên dễ thuộc, dễ nhớ. Nội
dung thơ Đường chan chứa tính nhân văn, những rung động sâu lắng với thiên
nhiên, với quê hương, với bè bạn,…Hình ảnh con người trong thơ Đường rất gần
gũi và quen thuộc với con người Việt Nam qua những nỗi niềm, những suy tư về
hoàn cảnh, về số phận cuộc đời...
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngày càng trở nên phổ
biến và phát triển vượt bậc. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, bên cạnh dạy học
bằng máy chiếu với phần mềm Powerpoint, hiện nay, ở một số trường Trung học
phổ thông trong Thành phố đã được trang bị thêm bảng thông minh (Active Board),
dạy học bằng phầm mềm Activ Inspire có tác dụng hỗ trợ rất lớn trong việc dạy học
thơ Đường theo hướng tích cực.
* Khó khăn:
- Về phía người dạy:
+ Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 24 phiếu khảo sát giáo viên Trung học
cơ sở và 38 phiếu khảo sát giáo viên Trung học phổ thông, đã có 11/24 phiếu
(chiếm 45,8%) của giáo viên Trung học cơ sở, 21/38 phiếu (chiếm 55,3%) của giáo
viên Trung học phổ thông cho rằng khó khăn lớn nhất khi dạy thơ Đường là do vốn
từ Hán Việt của giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế nên gặp nhiều trở ngại khi
khai thác các yếu tố về thi pháp thơ Đường.
+ Thời gian dạy chỉ bốn mươi lăm phút cho một bài thơ là quá ít, không đủ để
giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích nội dung và thi luật. Có 91,7%
giáo viên Trung học cơ sở và 92,1% giáo viên Trung học phổ thông ở các đơn vị
được chọn khảo sát đều cho rằng, việc phân phối chương trình và thời gian giảng
dạy thơ Đường chưa hợp lý.
+ So với các văn bản văn học Việt Nam, tài liệu tham khảo về thơ Đường của
giáo viên còn nhiều hạn chế
+ Việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, đặc biệt là phương pháp dạy học
mới cho giáo viên chưa được tổ chức thường xuyên, chưa mang lại hiệu quả cao.
- Về phía người học:
94
Khảo sát 157 học sinh Trung học cơ sở ở trường THPT chuyên Trần Đại
Nghĩa và trường THPT Lương Thế Vinh; 272 học sinh Trung học phổ thông ở các
trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, THPT Lương
Thế Vinh và THPT Tạ Quang Bửu, kết quả cho thấy có tới 89,2% học sinh Trung
học cơ sở và 69,9% học sinh Trung học phổ thông không thích học thơ Đường vì
một số lý do chính sau đây:
+ Vốn từ Hán Việt của học sinh còn nhiều hạn chế
+ Bản phiên âm và bản dịch thơ đôi lúc có một số từ ngữ chưa sát nghĩa, gây
lúng túng cho học sinh (và cả giáo viên) khi học và dạy thơ Đường.
+ Nội dung thơ Đường thường có nhiều điển tích, điển cố khó hiểu, khó nhớ;
niêm, luật, vần, đối trong thơ Đường khó tiếp cận nên học sinh không cảm thấy hấp
dẫn.
+ Thơ Đường hàm súc, ý tứ sâu xa, lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở và đầu
Trung học phổ thông khó lĩnh hội đầy đủ được, đôi lúc học sinh cảm thấy khó hiểu
khi tiếp cận thơ Đường.
+ Khả năng tưởng tượng, cảm thụ khi học thơ Đường của học sinh còn nhiều
hạn chế, đôi lúc thấy xa lạ với lối tư duy trong thơ cổ.
* Những nguyên nhân chủ yếu:
- Nhịp sống hịên đại với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông
tin đã thu hút sự quan tâm chú ý của thế hệ trẻ, khiến học sinh ít quan tâm và không
hứng thú khi tiếp cận với những tác phẩm văn học cổ trong quá khứ.
- Muốn chiếm lĩnh được nội dung và cảm nhận được nghệ thuật đặc sắc của
tác phẩm, học sinh cần phải hiểu thấu đáo được lớp từ ngữ mà nhà văn dùng làm
công cụ để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Trong khi đó, vốn từ Hán Việt của
học sinh còn nhiều hạn chế, những điển tích, điển cố trong bài còn xa lạ với học
sinh.
- Với phương pháp giảng dạy theo kiểu diễn giảng đang phổ biến trong trường
phổ thông hiện nay thì việc giảng dạy thơ Đường chưa thật sự hiệu quả. Kết quả
điều tra cho thấy, để chuẩn bị cho một tiết dạy thơ Đường, giáo viên chưa kết hợp
95
được các yếu tố nội dung, nghệ thuật, từ ngữ trong các bản dịch, điển tích, điển
cố,… mà chỉ chủ yếu tập trung vào nội dung chính. Với cách dạy như thế, giáo viên
rất khó đưa các em tiếp cận với thế giới rộng lớn của thơ Đường.
- Do hạn chế về nhận thức trong quan niệm về dạy- học, đã từ lâu với quan
niệm cũ, nhiều người cho rằng, dạy học chủ yếu là nội dung; mục đích của dạy- học
chủ yếu là rèn trí nhớ chứ không phải rèn trí thông minh. Với quan niệm như vậy,
giáo viên đã quên điều Mác đã từng nói: phương thức sản xuất này khác phương
thức sản xuất kia không phải là ở chỗ sản xuất ra cái gì mà là sản xuất bằng cách
nào. Do đó, vẫn còn tồn tại một số giáo viên dạy học theo khuynh hướng cung cấp
kiến thức có sẵn, tách rời học sinh trong quá trình Đọc- hiểu văn bản, ít chú trọng
đến phương pháp hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, khám phá cái hay, cái đẹp của tác
phẩm.
3.2. Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông:
3.2.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm:
3.2.1.1. Mục đích:
- Nghiên cứu các kinh nghiệm về một số biện pháp giảng dạy thơ Đường
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học thơ Đường
- Nhận ra ưu điểm, hạn chế của những biện pháp
- Mức độ phù hợp của biện pháp đối với nhiều loại đối tượng học sinh
- Tìm ra những biện pháp nên áp dụng kết hợp trong một tiết học thơ Đường
- Nhận ra những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng các biện pháp trong dạy học,
từ đó có sự điều chỉnh hợp lý và tìm ra những phương hướng khắc phục.
3.2.1.2. Yêu cầu:
- Tiến hành khảo sát trên nhiều loại đối tượng: giáo viên (gồm giáo viên Trung
học cơ sở và giáo viên Trung học phổ thông), học sinh (Giỏi- khá- trung
bình- yếu) của các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5, trường
96
THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1, trường THPT Lương Thế Vinh-
Quận 1, trường THPT Tạ Quang Bửu- Quận 8
- Thu thập thông tin phản hồi từ những phiếu khảo sát thăm dò và phỏng vấn
trực tiếp một số giáo viên, học sinh.
- Giảng dạy thực nghiệm, dự giờ một số tiết dạy thơ Đường của các giáo viên
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông.
3.2.1.3. Nội dung:
Một số bài thơ Đường trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở, Trung học
phổ thông
- Chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở:
+ Vọng Lư sơn bộc bố- Lí Bạch (Ngữ văn lớp 7, tập 1)
+ Tĩnh dạ tứ- Lí Bạch (Ngữ văn lớp 7, tập 1)
+ Hồi hương ngẫu thư- Hạ Tri Chương (Ngữ văn lớp 7, tập 1)
- Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông:
+ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng- Lí Bạch
(Ngữ văn lớp 10, tập 1)
+ Thu hứng- Đỗ Phủ (Ngữ văn lớp 10, tập 1)
+ Hoàng Hạc lâu- Thôi Hiệu (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1)
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm:
3.2.2.1. Chương trình ngữ văn Trung học cơ sở:
VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ
(Xa ngắm thác núi Lư)
Lí Bạch
MỤC TIÊU BÀI HỌC:
2) Về kiến thức:
- Cảm nhận được vẻ đẹp của thác nước Lư Sơn và qua đó thấy được tâm hồn,
tính cách của nhà thơ Lý Bạch.
97
- Bước đầu nhận biết mối quan hệ gắn bó giữa tình và cảnh trong thơ cổ.
3) Về kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng so sánh, đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa,
dịch thơ để phân tích tác phẩm.
- Có ý thức tích lũy từ Hán Việt
4) Thái độ:
Bồi dưỡng tâm hồn yêu thiên nhiên và biết thưởng thức, trân trọng vẻ đẹp
của thiên nhiên, cuộc sống.
I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG:
1) Tác giả:
- Là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Đường
- Sớm xa gia đình, quê hương, đi du lịch, tìm đường lập công danh và sự
nghiệp, cứu đời nhưng không toại nguyện.
- Lí Bạch được mệnh danh là “tiên thơ”. Thơ ông biểu hiện một tâm hồn tự do,
phóng khoáng, hình ảnh thơ tươi sáng, ngôn ngữ điêu luyện.
- Lí Bạch viết nhiều bài rất hay về chiến tranh, thiên nhiên, tình yêu và tình
bạn.
2) Tác phẩm:
Bài thơ “Vọng Lư Sơn bộc bố” là một trong những bài tiêu biểu viết về thiên
nhiên của ông.
II/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:
* Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch
nghĩa, dịch thơ.
Phần phiên âm:
Nhật chiếu Hương Lô/ sinh tử yên,
Dao khan bộc bố/ quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há/ tam thiên xích,
Nghi thị/ Ngân Hà lạc cửu thiên.
98
Phần dịch thơ: Ở bài thơ này, học sinh đọc với giọng phấn chấn, hùng tráng,
ngợi ca, chú ý nhịp ngắt 4/3 (hoặc 2/2/3) ở các câu trong bản dịch:
Nắng rọi Hương Lô/ khói tía bay,
Xa trông dòng thác/ trước sông này.
Nước bay thẳng xuống/ ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà/ tuột khỏi mây.
(Bản dịch của Tương Như)
- Câu 1, 2: giọng tự nhiên, thanh thản
- Câu 3: giọng nhanh, mạnh, hùng tráng
- Câu 4: giọng ngạc nhiên, ngỡ ngàng
* Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với
bản dịch nghĩa.
(Học sinh điền vào chỗ trống trong phiếu học tập ở phần dịch nghĩa)
Phiên âm Dịch nghĩa
TIÊU ĐỀ
vọng trông từ xa
Lư sơn núi Lư
bộc bố thác nước
CÂU 1
nhật mặt trời, ngày
chiếu chiếu sáng, soi sáng
Hương Lô tên đỉnh núi
sinh làm nảy sinh, sinh ra
tử màu đỏ
yên khói
CÂU 2
dao xa
khan (khán) nhìn, xem
quải treo
tiền trước, phía trước mặt
99
xuyên sông
CÂU 3
phi bay
lưu chảy
trực thẳng
há (hạ) rơi xuống
tam thiên xích ba nghìn thước
CÂU 4
nghi thị ngỡ là
Ngân Hà sông Ngân
lạc rơi xuống
cửu thiên chín tầng trời
* Hoạt động 3:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so
sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa.
1) Tiêu đề bài thơ và vị trí của người ngắm cảnh:
Câu hỏi gợi mở:
- Căn cứ vào tiêu đề bài thơ và câu thơ thứ hai (chú ý nghĩa của chữ “vọng”
và chữ “dao”), xác định vị trí đứng ngắm thác nước của tác giả?
- Vị trí này có lợi thế như thế nào trong việc phát hiện những đặc điểm của
thác nước?
Định hướng trả lời:
- Tên bài thơ có chữ “vọng” (trông từ xa) và câu thơ thứ hai có từ “dao” (xa)
cho thấy: nhà thơ không đứng gần mà ở xa để ngắm cảnh thác nước.
- Điểm nhìn này không quan sát chi tiết, tỉ mỉ được nhưng có thể bao quát
được một không gian rộng lớn, phát hiện được vẻ đẹp của toàn cảnh.
 Lý Bạch đã chọn được điểm nhìn phù hợp khi miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của
thác Lư Sơn.
2) Vẻ đẹp của thác nước Lư Sơn:
Câu 1:
100
“Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên”
Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh ra làn khói tía
(Nắng rọi Hương Lô khói tía bay)
Câu hỏi gợi mở:
Động từ “sinh” ở câu thơ thứ nhất gợi tả được điều gì về thác nước?
Định hướng trả lời:
Động từ “sinh” (làm nảy sinh, sinh ra): Mặt trời chiếu núi Hương Lô sinh ra
làn khói tía Thác là sản phẩm của tạo hóa, cảnh vật không vô tri vô giác mà đang
chuyển động, rất có hồn.
 Bản dịch của Tương Như chưa dịch được chữ “sinh” nên chưa thể hiện
được ý trên.
Câu 2:
“Dao khan bộc bố quải tiền xuyên”
Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước
(Xa trông dòng thác trước sông này)
Câu hỏi gợi mở:
- Theo em, câu thơ thứ hai có mấy cách hiểu? Đối chiếu bản dịch thơ và bản
phiên âm, em thấy có gì khác biệt không?
- Qua hai câu thơ trên, vẻ đẹp của thác nước hiện lên như thế nào?
Định hướng trả lời:
- Câu thơ thứ hai có 2 cách hiểu:
+ Đứng xa trông dòng thác treo trên dòng sông phía trước
“Dòng sông phía trước” chỉ vị trí nơi thác nước đổ xuống.
+ Đứng xa trông dòng thác giống như một con sông treo trước mặt.
 Dòng sông phía trước là hình ảnh dùng để so sánh với dòng thác nhìn từ
xa.
- Dù hiểu theo nghĩa nào thì bản dịch thơ “Xa trông dòng thác trước sông
này” cũng đã đánh rơi mất chữ “treo”, chữ quan trọng nhất của câu thơ.
Vẻ đẹp mềm mại, thanh tú, tĩnh lặng.
101
Câu 3:
“Phi lưu trực há tam thiên xích”
Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước
(Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước)
Câu hỏi gợi mở:
- Ở câu thứ ba, thác Lư Sơn được miêu tả trong trạng thái ra sao? Từ ngữ
nào thể hiện trạng thái đó?
- Nhận xét của em về vẻ đẹp của thác nước?
Định hướng trả lời:
- Nếu ở câu 2, thác ở trạng thái tĩnh lặng thì đến câu 3, thác được miêu tả
trong trạng thái chuyển động.
- Nhà thơ dùng các từ ngữ “phi lưu” (dòng nước chảy như bay), “trực há”
(đổ thẳng xuống), “tam thiên xích” (ba ngàn thước) để thể hiện sự chuyển động (tốc
độ, phương hướng, khoảng cách) của thác nước.
 Vẻ đẹp dữ dội, mãnh liệt, hùng vĩ
Câu 4:
“Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên”
Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây
(Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây)
Câu hỏi gợi mở:
- Trạng thái cảm xúc của nhà thơ được thể hiện qua từ ngữ nào?
- Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thác nước ở câu 4?
Định hướng trả lời:
- Cảm giác ngỡ ngàng, không tin ở mắt mình thể hiện qua từ “nghi thị” (nghi
ngờ, ngỡ là)
- Trong trí tưởng tượng của con người, thác nước dường như không còn là
dòng thác có thực mà là dòng thác của thần thoại, của tiên giới.
 Vẻ đẹp huyền diệu, kỳ ảo.
3) Tâm hồn và tính cách nhà thơ:
102
Câu hỏi gợi mở:
- Tại sao Lí Bạch lại phát hiện được nhiều vẻ đẹp của thiên nhiên?
- Qua bài thơ, em hiểu thêm điều gì về tâm hồn và tính cách của Lí Bạch?
Định hướng trả lời:
- Lí Bạch có đôi mắt và tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, giàu sức tưởng tượng.
- Lí Bạch là bậc thầy sử dụng ngôn ngữ, là một “thi tiên” lãng mạn, có tấm
lòng tha thiết với thiên nhiên cảnh vật, có tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng.
Hoạt động 3: Tổng kết giá trị nội dung, nghệ thuật:
Học sinh điền vào phiếu học tập:
Vọng Lư Sơn bộc bố- Lí Bạch
Nội dung Nghệ thuật
Vẻ đẹp của thác núi Lư và tình
yêu thiên nhiên đằm thắm, tính
cách mạnh mẽ, phóng khoáng của
nhà thơ
- Hình ảnh tráng lệ, huyền ảo
- Ngôn ngữ hàm súc, gợi tả
- Miêu tả sinh động, hấp dẫn
103
HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ
(Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê)
Hạ Tri Chương
MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1) Về kiến thức:
- Thấy được tính độc đáo trong việc thể hiện tình cảm quê hương sâu nặng
của bài thơ.
- Hiểu được phép đối và tác dụng của nó.
2) Về kỹ năng:
Rèn luyện kỹ năng phân tích và cảm thụ thơ Đường luật, kỹ năng sử dụng
phép đối trong khi viết văn.
3) Thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, làng xóm.
I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG:
1) Tác giả:
- Là người có tình cảm sâu nặng với quê hương
- Làm quan trên năm mươi năm, được vua Đường Huyền Tông rất mực vị nể
- Tính tình hào phóng, để lại cho đời 20 bài thơ
2) Tác phẩm:
- Thể thơ:
+ Nguyên tác: Thất ngôn tứ tuyệt
+ Dịch thơ : Lục bát
- Hoàn cảnh sáng tác: Ở bài thơ này, sách giáo khoa không nêu rõ hoàn cảnh
sáng tác, giáo viên cần giảng thêm cho học sinh: Hạ Tri Chương xa quê từ
khi còn trẻ, cuộc đời ông là bước đường thành công trong sự nghiệp. Ông đỗ
tiến sĩ, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất
được vua Đường Huyền Tông vị nể. Trường An có thể được xem là quê
104
hương thứ hai thân thiết của Hạ Tri Chương. Nhưng, con người dù sao cũng
không thể chống lại quy luật tâm lí muôn đời:
“Hồ tử tất như khau
Quyện điểu quy cựu lâm”
(Cáo chết tất quay đầu về núi gò
Chim mỏi tất bay về rừng cũ)
(Khuất Nguyên)
Ai cũng mang trong mình một tình cảm với quê hương thiêng liêng sâu nặng,
nhất là với những người xa quê, tình cảm ấy lại càng trở nên thiết tha, day dứt. Lúc
từ quan về quê làm đạo sĩ sau hơn 50 năm xa cách, ông đã ngẫu nhiên sáng tác bài
thơ này.
II/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:
* Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch
nghĩa, dịch thơ.
Phần phiên âm:
Chú ý nhịp 4/3, riêng câu 4 nhịp 2/5
Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi,
Hương âm vô cải/ mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến/ bất tương thức,
Tiếu vấn/ Khách tòng hà xứ lai?
Phần dịch thơ: chú ý sự khác nhau về nhịp ngắt ở các câu trong 2 bản dịch:
Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ:
Khi đi trẻ/ lúc về già,
Giọng quê vẫn thế/ tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn/ lạ/ không chào
Hỏi rằng/: “Khách ở chốn nào/ lại chơi?”
Bản dịch của Trần Trọng San:
Trẻ đi/ già trở lại nhà
Giọng quê không đổi/ sương pha mái đầu
105
Gặp nhau/ mà chẳng biết nhau
Trẻ cười/ hỏi:/ “Khách từ đâu đến làng?”
Một vài lưu ý khi đọc:
Để thể hiện được tâm trạng của tác giả khi trở về quê hương, ta cần đọc
chậm rãi, chú ý phép đối trong hai câu thơ đầu. Câu cuối cần lên giọng, thể hiện sự
ngạc nhiên của lũ trẻ, đồng thời cũng là sự hẫng hụt trong tình cảm của nhà thơ.
* Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với
bản dịch nghĩa
(Học sinh điền vào chỗ trống trong phiếu học tập ở phần dịch nghĩa)
Phiên âm Dịch nghĩa
TIÊU ĐỀ
hồi trở về
hương làng
ngẫu tình cờ, ngẫu nhiên
thư chép, viết, ghi lại
CÂU 1
thiếu trẻ
tiểu nhỏ
li xa, rời
gia nhà
lão già
đại lớn
CÂU 2
âm tiếng, giọng nói
vô không
cải đổi
mấn mao tóc mai
tồi hỏng, rơi rụng
CÂU 3
nhi đồng trẻ con
tương cùng nhau
kiến thấy
106
bất không
thức biết, quen nhau
CÂU 4
tiếu cười
vấn hỏi
khách người ở nơi khác đến
tòng từ
hà xứ nơi nào
lai đến
* Hoạt động 3:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so
sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa.
Trước tiên, giáo viên tạo tâm thế cho học sinh qua câu hỏi gợi mở khám phá
nhan đề: Xa quê, nhớ quê là đề tài quen thuộc trong thơ cổ đại, trung đại phương
Đông nhưng mỗi nhà thơ trong hoàn cảnh riêng lại có cách thể hiện độc đáo, không
trùng lặp. Qua nhan đề “Hồi hương ngẫu thư”, em nhận ra điều gì mới trong cách
thể hiện tình cảm của Hạ Tri Chương?
Giáo viên gợi mở giúp học sinh nhận ra vấn đề: Ở đây có hai sự lạ: Bao năm
xa quê, Hạ Tri Chương đã không viết bài thơ nào, bây giờ lại viết khi vừa mới về
quê; mặt khác, chữ “ngẫu” cho thấy nhà thơ không hề có ý làm thơ, dường như tất
cả tâm tình của nhà thơ đều đặt trong cái đích “hồi hương”. Qua đó ta thấy được nỗi
lòng của nhà thơ khi trở về quê hương sau nhiều năm xa cách.
1) Hai câu thơ đầu:
“Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi”
(Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về
Giọng quê không đổi, nhưng tóc mai đã rụng)
Phạm Sĩ Vĩ dịch:
107
Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao
Trần Trọng San dịch:
Trẻ đi, già trở lại nhà,
Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu.
Câu hỏi gợi mở:
- Em hãy phân tích các vế đối ở hai câu thơ đầu. Phép đối trong hai câu thơ
ấy có tác dụng gì?
- Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa, Phạm Sĩ Vĩ dịch
cụm từ “mấn mao tồi” thành “tóc đà khác bao”, Trần Trọng San dịch thành
“sương pha mái đầu”. Em có nhận xét gì?
Định hướng trả lời:
* Về nghệ thuật đối:
“Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi
Hương âm vô cải/ mấn mao tồi”
 Hai câu đối, mỗi câu có hai vế, mỗi vế có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh:
 Thiếu tiểu/ lão; li gia/đại hồi
 Hương âm /mấn mao, vô cải/tồi
 Tác dụng của nghệ thuật đối: Lấy cái thay đổi là cái cụ thể: “mấn mao” (tóc
mai) để làm nổi bật cái không thay đổi là cái tượng trưng “hương âm” (giọng quê)
 Tình cảm gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương.
* Về bản dịch thơ:
Phạm Sĩ Vĩ dịch “mấn mao tồi” thành “tóc đà khác bao” chỉ thể hiện được sự
thay đổi của mái tóc, Trần Trọng San dịch thành “sương pha mái đầu” chỉ thể hiện
được tóc đã bạc chứ chưa thể hiện được nét nghĩa “tóc mai đã rụng” của chữ “tồi”
trong bản nguyên tác.
Ở câu thơ này, ta có thể tham khảo thêm bản dịch của Trần Trọng Kim:
“Bé đi, già mới về nhà,
Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa”
108
So với các hai bản dịch trên, bản dịch của Trần Trọng Kim dịch “mấn mao
tồi” thành “tóc đà rụng thưa” sát với nguyên tác hơn. Cách dịch như vậy đã thể hiện
rõ nhất sự đối lập: Ông từ giã quê hương ra đi để mưu tìm công danh sự nghiệp vào
những năm còn trai trẻ, và qua bao nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ
tóc đã rụng thưa nhưng giọng nói quê cũ của ông chẳng bao giờ đổi thay  Tình
cảm gắn bó tha thiết với quê hương cho dù phải sống tha phương xa cách ngàn
trùng.
2) Hai câu thơ cuối:
“Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?”
(Trẻ con gặp mặt, không quen biết
Cười hỏi: Khách ở nơi nào đến?)
Phạm Sĩ Vĩ dịch:
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
Trần Trọng San dịch:
Gặp nhau mà chẳng biết nhau,
Trẻ cười hỏi: “Khách từ đâu đến làng?”
Câu hỏi gợi mở:
- Nhận xét của em về giọng điệu của câu thơ?
- Tại sao chỉ có nhi đồng ra đón tác giả ở làng quê? Bọn trẻ đã đón ông với
thái độ như thế nào?
Định hướng trả lời:
- Giọng điệu như bình thản, khách quan nhưng vẫn phảng phất buồn.
- Nhi đồng ra đón ông với tiếng cười và câu hỏi hồn nhiên “Khách tòng hà
xứ lai?”  Bạn bè cùng tuổi với ông chẳng còn ai, nếu còn thì chưa chắc họ đã
nhận ra ông.
109
Câu hỏi thảo luận nhóm: Được đón về trong tiếng cười, tiếng nói, không
khí vui tươi, hồn nhiên, ngây thơ của bọn trẻ, tâm trạng của tác giả có vui lên
không? Vì sao?
( Một nhóm 4 học sinh, thời gian thảo luận: 4 phút)
Định hướng trả lời:
Bọn trẻ đón ông với tiếng cười, tiếng nói, với câu hỏi thật hồn nhiên: “Khách
tòng hà xứ lai?”. Chính không khí vui tươi của “nhi đồng” với hành động“tiếu vấn”
đã khiến tác giả cảm thấy hụt hẫng, ngậm ngùi, chua xót. Sự việc thật trớ trêu: Trở
về nơi chôn nhau cắt rốn mà bị xem như một người khách lạ. Tình huống đặc biệt
ấy được thể hiện qua giọng điệu bi hài thấp thoáng ẩn hiện sau những lời tường
thuật khách quan, hóm hỉnh.
* Hoạt động 3: Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
1) Nội dung:
Bài thơ biểu hiện một cách chân thực sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình
yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc
vừa mới đặt chân lên miền quê cũ.
2) Nghệ thuật:
Sử dụng phép đối linh hoạt, từ ngữ điêu luyện.
110
TĨNH DẠ TỨ
(Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)
Lí Bạch
MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1) Về kiến thức:
- Cảm nhận được tình cảm sâu nặng đối với quê hương của nhà thơ Lý Bạch.
- Thấy được một số đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: ngôn ngữ tự nhiên bình
dị, hình ảnh cụ thể, thủ pháp đối lập.
2) Về kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng so sánh, đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa, dịch
thơ để phân tích tác phẩm.
- Có ý thức tích lũy từ Hán Việt
3) Thái độ: biết yêu quê hương- nơi mình đã sinh ra và lớn lên.
I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG:
1) Hoàn cảnh sáng tác:
Thuở nhỏ, Lí Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng. Từ 25
tuổi, Lí Bạch đã xa quê và xa mãi. Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là ông lại
nhớ tới quê nhà.
2) Thể loại:
Bài thơ được viết theo hình thức cổ thể- một thể thơ trong đó mỗi câu thường
có 5 hoặc 7 chữ, song không bị những quy tắc chặt chẽ về niêm luật và đối
ràng buộc.
3) Chủ đề: Chủ đề quen thuộc “Vọng nguyệt hoài hương”
II/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:
* Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch
nghĩa, dịch thơ.
111
Phần phiên âm: Bài thơ có nhịp 2/3, chú ý phép đối trong hai câu 3 và 4.
Sàng tiền/ minh nguyệt quang
Nghi thị/ địa thượng sương
Cử đầu/ vọng minh nguyệt
Đê đầu/ tư cố hương.
Phần dịch thơ: Cần đọc chậm, nhẹ nhàng nhưng rành mạch, thể hiện được
tình cảm nhớ quê nhà của tác giả. Chú ý nhịp ngắt ở các câu trong bản dịch:
- Câu 1: nhịp 2/3
- Câu 2: nhịp 3/2
- Câu 3: nhịp 2/3
- Câu 4: nhịp 2/3
Đầu giường/ ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất/ phủ sương.
Ngẩng đầu/ nhìn trăng sáng,
Cúi đầu/ nhớ cố hương.
- Câu 1: giọng tự nhiên, thanh thản
- Câu 2: giọng ngạc nhiên, ngỡ ngàng
- Câu 3: giọng lên cao, ngưỡng vọng
- Câu 4: giọng trầm, đượm buồn
* Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản
dịch nghĩa.
Phiên âm Dịch nghĩa
TIÊU ĐỀ
tĩnh im lặng, yên tĩnh
dạ đêm
tứ ý tứ, cảm nghĩ
CÂU 1
sàng giường
tiền trước
minh sáng
nguyệt trăng
112
quang ánh sáng
CÂU 2
nghi ngờ
thị là
địa đất
thượng trên
sương sương
CÂU 3
cử cất lên, nâng lên
đầu đầu
vọng trông xa
CÂU 4
đê cuối xuống
tư lo nghĩ
cố cũ
hương làng, quê hương
* Hoạt động 3:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so
sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa.
Trước khi tìm hiểu bản dịch thơ, giáo viên giúp các em tiếp cận với chủ đề
“vọng nguyệt hoài hương” và mạch cảm xúc của toàn bài thơ qua việc gợi mở nhan
đề: Từ trước đến nay, hầu hết các sách đều viết tựa đề bài thơ là “Tĩnh dạ tứ”. Tuy
nhiên, theo Hán Việt từ điển, “tứ” là ý tứ, thi tứ; “tư” là cảm xúc, sự nghĩ ngợi, các
vấn đề thuộc về tâm như tưởng tượng, ghi nhớ, suy xét... Căn cứ vào mạch cảm xúc
của bài thơ và nhất là câu thơ cuối, em thấy nhan đề “Tĩnh dạ tứ” hay “Tĩnh dạ tư”
phù hợp hơn?
1) Hai câu thơ đầu:
Câu hỏi gợi mở:
- Điều gì gợi cho Lí Bạch cảm thấy nhớ quê hương?
- Vì sao trăng lại gợi lên nỗi nhớ quê của Lí Bạch? Vì sao Lí Bạch lại xúc
cảm từ một ánh trăng đầu giường?
113
- Bản dịch nghĩa dịch từ “quang” thành từ “ sáng”. Câu thơ dịch đổi thành
“rọi”. Em thấy từ “sáng”,“rọi” và “chiếu” khác nhau như thế nào? Em có thích từ
“rọi” trong bản dịch thơ không? Tại sao?
- Trong hai câu, câu nào là câu miêu tả, câu nào là câu biểu cảm? Mối quan
hệ giữa câu tả và câu cảm gợi nên điều gì?
Định hướng trả lời:
- Lí Bạch nhớ quê không phải vì đêm yên tĩnh mà vì ánh trăng sáng.
- Mọi người khi xa quê chỉ có vầng trăng là quen thuộc Tình quê hương
của Lý Bạch chân thực, mang ý nghĩa phổ biến (xa quê chỉ có trăng gần gũi, thân
thương, gợi nhớ)
- Nhà thơ xúc cảm từ ánh trăng đầu giường. Ánh trăng đầu giường gợi thêm
ý nghĩa “trăng đi tìm người thân”.
- “Sáng”, “chiếu” là trạng thái tự nhiên của trăng. “Rọi” có thêm ý: Ánh
trăng đi tìm thi nhân như đi tìm bạn tri âm, tri kỷ.
 Bản dịch thơ của Tương Như rất hay và sáng tạo với từ “rọi”.
- Câu đầu là tả, câu hai biểu cảm  Sự liên tưởng nhạy bén, phóng khoáng,
tâm hồn dễ rung cảm với thiên nhiên của nhà thơ: nhà thơ nhìn ánh trăng rọi đầu
giường mà ngỡ là sương sa trên mặt đất.
 Hình ảnh thơ đi từ cái thực đến cái ảo.
2) Hai câu thơ cuối:
Câu hỏi gợi mở:
- Đối chiếu từ “vọng” trong bản phiên âm, bản dịch nghĩa dịch thành
“ngắm”, bản dịch thơ dịch thành “nhìn”. Em có nhận xét gì về ba từ: “vọng”,
“ngắm”, “nhìn” về sắc thái ý nghĩa? Em thích từ “nhìn” hay từ “ngắm” hơn? Tại
sao?
(Giáo viên gợi ý: Học sinh có thể tra từ điển Tiếng Việt để hiểu nghĩa của
các từ trên)
- Phân tích nghệ thuật đối trong hai câu thơ cuối để cảm nhận cảm xúc của
nhà thơ?
114
- Sưu tầm một số câu thơ cùng chủ đề “Vọng nguyệt hoài hương” với bài thơ
Định hướng trả lời:
- So sánh sắc thái ý nghĩa của ba từ : vọng, ngắm, nhìn:
+ “Vọng” là hướng về một phía như là hướng cả mắt và tâm hồn.
+ “Nhìn” chỉ là một động tác sinh lý của mắt.
+ “Ngắm” là động tác “nhìn” với tâm hồn, với sự thưởng thức hòa nhập cái
nhìn bên trong.
 Bản dịch thơ của Tương Như dịch “vọng” thành “nhìn” Chưa thể hiện
được ý nghĩa của từ “vọng”: hướng về ánh trăng bằng cả đôi mắt và tâm hồn.
- Nghệ thuật đối: Cử đầu (ngẩng đầu)/ đê đầu (cúi đầu):
+ Ngẩng đầu: là cử chỉ phóng tầm mắt ra xa, lên cao để hòa nhập với thiên
nhiên đẹp, phóng khoáng.
+ Cúi đầu: là cử chỉ thu mình vào tâm linh, vào trạng thái trầm mặc, thoát
khỏi mọi sự vật xung quanh để tưởng nhớ.
 Nỗi nhớ quê hương sâu nặng, da diết, khôn nguôi.
 Bản dịch thơ của Tương Như đã chuyển tải rất thành công biện pháp đối
của thơ Đường.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những bài thơ, những câu thơ cùng chủ
đề “Vọng nguyệt hoài hương” với bài thơ để cảm nhận bài thơ sâu sắc hơn:
Lộ tòng kim bạch dạ
Nguyệt thị cố hương minh
(Sương từ đêm nay trắng xóa
Trăng là ánh sáng của quê nhà)
(Đỗ Phủ)
Cộng khan minh nguyệt ưng thùy lệ
Nhất phiến hương tâm ngũ xứ đồng.
(Xem trăng có lẽ cùng rơi lệ
Một mảnh tình quê, năm anh em ở năm nơi đều giống nhau)
(Bạch Cư Dị)
115
* Hoạt động 4: Tổng kết lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
Học sinh điền vào phiếu học tập:
Tĩnh dạ tứ- Lí Bạch
Nội dung Nghệ thuật
Bài thơ thể hiện một cách nhẹ nhàng
mà thấm thía tình quê hương của
một người sống xa nhà trong một
đêm trăng thanh tĩnh.
Bút pháp tả cảnh ngụ tình
Ngôn ngữ thơ tinh luyện, cô đọng, hàm súc
Từ ngữ, hình ảnh giản dị mà gợi hình, gợi
cảm
Thành công trong việc sử dụng nghệ thuật
đối
116
3.2.2.2. Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông:
TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
Lí Bạch
MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1) Về kiến thức:
- Cảm nhận được tình bạn chân thành, thắm thiết của hai nhà thơ nổi tiếng Trung
Quốc thời Đường.
- Hiểu được một số nghệ thuật cơ bản của thơ Đường: ý ở ngoài lời; ngôn ngữ thơ
cô đọng, hàm súc, đa nghĩa; bút pháp tả cảnh ngụ tình.
2) Về kĩ năng:
Rèn luyện và bồi dưỡng kĩ năng, phương pháp học thơ Đường
3) Về thái độ:
Biết trân trọng tình bạn, thấy được vị trí, ý nghĩa quan trọng của tình bạn trong
cuộc sống.
I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG:
1) Tác giả:
a) Về cuộc đờì: Lí Bạch (701-762)
- Tự là Thái Bạch, quê ở Lũng Tây (nay thuộc tỉnh Cam Túc)
- Là nhà thơ lãng mạn của Trung Quốc, được mệnh danh là “thi tiên”
b) Sự nghiệp thơ văn: hiện còn trên 1000 bài
- Nội dung: ước mơ vươn tới lý tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá tính,
bất bình với hiện thực tầm thường, thể hiện tình cảm phong phú, mãnh liệt.
- Phong cách: hào phóng, bay bổng, tự nhiên, tinh tế, giản dị.
- Đặc trưng: thống nhất giữa cái cao cả và cái đẹp
2) Tác phẩm:
117
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 726, khi Lí Bạch tiễn Mạnh
Hạo Nhiên đi Quảng Lăng tại lầu Hoàng Hạc
- Thể loại: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
II- GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:
* Hoạt động 1: Giáo viên gọi học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch nghĩa,
dịch thơ.
Phần phiên âm: nhịp 4/3 hoặc 2/2/3
Cố nhân/ Tây từ/ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa/ tam nguyệt/ há Dương Châu.
Cô phàm/ viễn ảnh/ bích không tận,
Duy kiến/ Trường Giang/ thiên tế lưu.
Phần dịch thơ: chú ý nhịp ngắt ở các câu thơ:
Bạn từ lầu Hạc/ lên đường,
Giữa mùa hoa khói/ Châu Dương/ xuôi dòng.
Bóng buồm/ đã khuất bầu không,
Trông theo/ chỉ thấy/ dòng sông bên trời.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Một số lưu ý khi đọc:
- Câu 1, 2: giọng trầm, đượm buồn
- Câu 3: đọc chậm rãi, nhỏ dần
- Câu 4: giọng thiết tha, lưu luyến.
* Hoạt động 2:
Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa.
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
- Lí Bạch
Phiên âm Dịch nghĩa
cố nhân bạn cũ
yên hoa mùa hoa khói
cô phàm cánh buồm lẻ loi
118
cô phàm viễn ảnh bóng cánh buồm lẻ loi
bích không tận mất hút vào khoảng không
xanh biếc
duy kiến chỉ thấy
thiên tế lưu chảy vào cõi trời
* Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối
chiếu, so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa.
* Nhan đề: Em có nhận xét gì về nhan đề của bài thơ?
- Nhan đề dài, trái ngược với sự ngắn gọn, súc tích của thơ Đường.
- Dụng ý nghệ thuật của tác giả: Thể hiện rõ quá trình tiễn biệt: Nơi ra đi, nơi sẽ
đến, người được tiễn.
1) Hai câu đầu: Khung cảnh buổi chia tay
Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng
Hệ thống câu hỏi gợi mở:
1) Lí Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên trong bối cảnh không gian, thời gian nào?
2) Ba yếu tố không gian, thời gian và con người có mối quan hệ với nhau ra sao?
Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình
người đưa tiễn?
3) Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa, Ngô Tất Tố dịch từ “cố
nhân” thành từ “bạn”. Em có nhận xét gì?
119
Định hướng trả lời:
* Không gian:
 Không gian thần tiên, mĩ lệ, khoáng đạt.
* Thời gian:
 Thời gian thống nhất với không gian ở cái đẹp.
* Con người:
 Tình bạn đẹp của đôi bạn tri âm, tri kỷ.
Nơi ra đi
Lầu Hoàng Hạc
(Phía Tây)
Nơi sẽ đến
Thắng cảnh phồn hoa bậc
nhất đời Đường
Thắng cảnh thần tiên gắn với
bao huyền thoại đầy chất thơ
Dương Châu
(Phía Đông)
Sông Trường Giang
Thời gian
Tháng 3 của mùa xuân
Mùa hoa khói
Tam nguyệt
Yên hoa
Con người
Mạnh Hạo Nhiên (Cố nhân)
Lí Bạch
Người ra đi
Người đưa tiễn
120
* Mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người:
 Bút pháp tả cảnh ngụ tình: Cảnh càng đẹp bao nhiêu thì lòng người càng
buồn, càng thấm thía nỗi xa cách, chia ly bấy nhiêu.
Đối chiếu bản dịch thơ và phiên âm, dịch nghĩa:
Bản dịch thơ đã đánh mất sắc thái hoài niệm trang trọng của hai chữ “cố
nhân” và chưa lột tả hết ý nghĩa và cảm xúc của từ này. Mạnh Hạo Nhiên không
phải chỉ là bạn thông thường của Lí Bạch mà là bạn tao nhân mặc khách, là bạn tri
âm tri kỷ. Tình bạn của Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên đã trải qua chiều dài của thời
gian, dã có bề dày của kỉ niệm và dộ sâu của tình cảm. Vì vậy, hai chữ “cố nhân”
(bạn cũ, người xưa) mới nói lên được mối quan hệ sâu sắc, lâu bền và gợi sức nặng
bội phần của tình cảm tống biệt.
2) Hai câu sau: Tâm tình người đưa tiễn
Bóng buồm đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.
Hệ thống câu hỏi:
1) Cảm nhận của em về mối quan hệ của các hình ảnh trong hai câu thơ
cuối?
2) Ngô Tất Tố dịch từ “cô phàm” thành “bóng buồm”. Em có nhận xét gì?
Thống nhất Tương phản
Tình bạn đẹp
Thời tiết đẹp
Cảnh đẹp
Sự biệt ly
Mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người
121
3) Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung
Quốc. Mùa xuân trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao
Lí Bạch lại chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” (cô phàm) của “cố nhân”?
4) Em hãy tự đặt mình vào vị trí của người đưa tiễn, nhìn theo cánh buồm
dần xa và dòng sông chảy vào cõi trời để cảm nhận tâm tình của thi nhân.
Định hướng trả lời:
- Vị trí: Chọn điểm cao: một lầu cao, một bến sông Người tiễn thấy người
đi đi xa hơn Không gian rợn ngợp, khiến mối sầu chia ly lan toả.
- Mối quan hệ của 3 hình ảnh:
Bầu trời- Cánh buồm- Dòng sông
 Nghệ thuật đối lập: Sự nhỏ bé, cô đơn của cánh buồm >< sự rộng lớn đến
không cùng của bầu trời và dòng sông.
Đối chiếu bản dịch thơ:
“Cô phàm” dịch thành “bóng buồm” Mất từ “cô” (lẻ loi) Không thấy
hết sự đối lập giữa không gian mênh mông của dòng sông và bầu trời với con
thuyền lẻ loi như đang tan vào cõi hư vô.
- Câu thơ cuối: “Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu”
+ Cái hữu hạn của dòng sông hòa vào cái vô hạn của bầu trời
+ Đôi mắt của nhà thơ chỉ còn nhìn thấy trời mây sông nước vô thủy, vô
chung.
+ Cánh buồm lẻ loi đã nhoè đi trong đôi mắt thương nhớ đong đầy.
 Tấm lòng định hướng cho đôi mắt. Người đọc nhận ra hai dòng sông:
Một dòng sông Trường Giang chảy vào cõi trời và một dòng tình cảm cô đơn, lưu
luyến, nhớ thương đang chảy mãi trong tâm hồn nhà thơ.
Câu hỏi thảo luận nhóm:
Người ta thường cho rằng: Cái hay của thơ Đường là ở chỗ thể hiện được “ý
tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời). Em hãy tìm “ý tại ngôn ngoại” qua bài thơ này.
- Học sinh thảo luận, trình bày.
- Giáo viên nhận xét và chốt lại ý chính.
122
+ “Cố nhân”: gợi lên mối quan hệ sâu sắc, lâu bền, gắn bó của đôi bạn tri
âm, tri kỷ.
+ “Yên hoa”: Đây có thể là một buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện với
sương mù tháng ba tạo nên hình ảnh “hoa khói”, cũng có thể là vào tháng ba mùa
xuân hoa nở nhiều, tầng tầng lớp lớp như là sương, là khói; gợi lên sự xa xôi, mông
lung, hư ảo và nỗi buồn, sự cô đơn trong lòng kẻ ở, người đi.
+ Dương Châu: Ẩn sau địa danh Dương Châu, chúng ta nhận ra tâm trạng
và nỗi niềm của Lí Bạch. Mạnh Hạo Nhiên thuộc phái thơ “sơn thủy điền viên”,
thích hợp với cuộc sống thanh nhàn nơi làng quê nhưng ông lại đến Dương Châu-
một nơi chốn phồn hoa đô hội để làm quan. Và vì thế, Lí Bạch tiễn đưa bạn trong
một tâm trạng đầy trắc ẩn, vừa cô đơn, vừa lo lắng.
+ “Cô phàm”: Gợi lên hình ảnh một cánh buồm đã đi rất xa, nó thật nhỏ
nhoi và cô độc giữa cái bát ngát, vô tận của màu xanh nối tiếp đến tận chân trời 
Tâm trạng của con người: cô đơn, lẻ loi.
+ “Duy kiến”: Từ “duy kiến” gợi lên một đôi mắt chứa đầy tâm trạng của Lí
Bạch. Với đôi mắt ấy, Lí Bạch chỉ nhìn thấy cánh buồm lẻ loi đưa bạn cũ đi xa mặc
dù trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược. Và Lí Bạch cứ đứng
đấy để nhìn mãi, nhìn hoài con thuyền đó cho đến khi mất hút vào khoảng hư
không. Qua cái nhìn “duy kiến” ấy, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tình bạn chân
thành, thắm thiết của Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên đồng thời cũng thấy được sự lưu
luyến của ông khi phải chia tay bạn.
* Hoạt động 4: Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng- Lí Bạch
Nội dung Nghệ thuật
Bài thơ tiễn biệt thể hịên một tình
bạn đẹp, chân thành, thắm thiết
và vô cùng cao quý
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình
- Nghệ thuật đối lập
- Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, ý tại ngôn ngoại
- Tả cảnh, tả tình đặc sắc bằng lối chấm phá
123
III- LUYỆN TẬP
1) Bài tập 1:
Sưu tầm thêm một vài bản dịch thơ của các dịch giả khác, đối chiếu với bản
phiên âm, dịch nghĩa và so sánh với bản dịch thơ của Ngô Tất Tố (bản dịch sách
giáo khoa)
* Bản dịch sưu tầm:
Bản dịch thứ nhất:
Giã từ Hoàng Hạc bạn về tây
Cảnh tiết thành Dương hoa khói bay
Nhòa nhạt trời xanh buồm khuất bóng
Trường Giang cuồn cuộn tận chân mây.
(Bản dịch của Hải Đà)
Bản dịch thứ hai:
Hoàng Hạc lầu xưa bạn cũ rời
Dương Châu hoa khói tháng ba xuôi
Buồm đơn bóng hút vào xanh biếc
Chỉ thấy Trường Giang chảy cuối trời
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)
Đối chiếu, so sánh:
Câu 1:
Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu
Dịch nghĩa: Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía Tây
Ngô Tất Tố dịch: Bạn từ lầu Hạc lên đường
Hải Đà dịch: Giã từ Hoàng Hạc bạn về Tây
Khương Hữu Dụng dịch: Hoàng Hạc lầu xưa bạn cũ rời
Ngô Tất Tố và Hải Đà dịch từ “cố nhân” thành “bạn”. Cách dịch này chưa
thể hiện được chiều dài thời gian, bề dày kỉ niệm và chiều sâu tình cảm của hai
người bạn gắn bó, tri âm, tri kỷ. Với từ “cố nhân”, Khương Hữu Dụng dịch sát
nguyên tác nhất.
124
Bản dịch của Ngô Tất Tố và Khương Hữu Dụng không dịch “phía Tây”.
Theo quan niệm của người xưa, phía Tây là nơi gắn liền với nhiều huyền thoại,
truyền thuyết. Do đó, nó có tác dụng gợi lên khung cảnh thần tiên của nơi đưa tiễn.
Hải Đà dịch “Giã từ Hoàng Hạc bạn về Tây”, cụm từ “bạn về Tây” chưa hợp
lý. Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên về Dương Châu (phía Đông), vị trí đưa tiễn mới
là phía Tây (lầu Hoàng Hạc).
Câu 2:
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Dịch nghĩa: Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói
Ngô Tất Tố dịch: Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng
Hải Đà dịch: Cảnh tiết thành Dương hoa khói bay
Khương Hữu Dụng dịch: Dương Châu hoa khói tháng ba xuôi
Ở câu thơ này, nhìn chung, mỗi bản dịch đều có nét sáng tạo riêng và đã dịch
khá sát với bản phiên âm.
Bản dịch của Ngô Tất Tố và Hải Đà thiếu yếu tố “tam nguyệt” nên chưa thể
hiện rõ khoảng thời gian đưa tiễn là vào tháng 3.
Câu 3:
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Dịch nghĩa: Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc
Ngô Tất Tố dịch: Bóng buồm đã khuất bầu không
Hải Đà dịch: Nhòa nhạt trời xanh buồm khuất bóng
Khương Hữu Dụng dịch: Buồm đơn bóng hút vào xanh biếc
Trong câu thơ này, ta cần lưu ý so sánh, đối chiếu từ “cô phàm”. Ngô Tất Tố
dịch thành “bóng buồm”, Hải Đà dịch thành “buồm”. Khương Hữu Dụng dịch
thành “buồm đơn”. Bản dịch của Ngô Tất Tố và Hải Đà đã bỏ mất từ “cô” nên
không thể hiện rõ được sự đối lập giữa không gian mênh mông của dòng sông và
bầu trời với con thuyền cô đơn, lẻ loi như đang tan vào cõi hư vô. Ở câu thơ này,
bản dịch của Khương Hữu Dụng dịch sát với nguyên bản nhất.
Câu 4:
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
125
Dịch nghĩa: Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời
Ngô Tất Tố dịch: Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời
Hải Đà dịch: Trường Giang cuồn cuộn tận chân mây
Khương Hữu Dụng dịch: Chỉ thấy Trường Giang chảy cuối trời
Ở câu thơ cuối, với từ “duy kiến”, bản dịch của Ngô Tất Tố, Khương Hữu
Dụng đã dịch sát nguyên bản; Hải Đà không dịch từ này. Từ “duy kiến” có tác dụng
nhấn mạnh sự việc sau khi “ Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào khoảng không
xanh biếc” thì nhà thơ chỉ còn thấy duy nhất một dòng sông Trường Giang đang
chảy vào cõi trời cho dù mùa xuân trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè
xuôi ngược. Qua đó, ta thấy tấm lòng đã định hướng cho đôi mắt, nhà thơ chỉ hướng
đôi mắt vào con thuyền đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên, vào dòng sông ly biệt để thể
hiện một niềm luyến tiếc bâng khuâng và sự bất lực, không níu kéo được hình ảnh
người bạn.
2) Bài tập 2:
Sưu tầm một số bài thơ về đề tài tiễn biệt trong thơ Đường và thơ Việt Nam.
Phiên âm:
Dịch thủy tống biệt
Lạc Tân Vương
Thử địa biệt yên Đan,
Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thủy do hàn.
Dịch thơ:
Tiễn biệt trên sông Dịch
Nơi này biệt Yên Đan,
Tráng sĩ tóc dựng ngược.
Người xưa đã khuất rồi,
Nước sông còn lạnh buốt.
(Bản dịch của Tương Như)
126
Phiên âm:
Tặng Uông Luân
Lý Bạch
Lý Bạch thừa chu tương dục hành
Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh
Đào hoa đàm thủy thâm thiên xích
Bất cập Uông Luân tống ngã tình.
Sắp đi Lý Bạch ngồi thuyền,
Dịch thơ:
Trên bờ chân giậm, nghe liền tiếng ca.
Nước đầm nghìn thước Đào Hoa,
Uông Luân, tình bác tiễn ta sâu nhiều.
(Bản dịch của Tản Đà)
Thơ cổ Việt Nam cũng có nhiều bài viết về cảnh biệt ly gây xúc động lòng
người. Trong “Truyện Kiều”, cụ Nguyễn Du đã tả cảnh chia ly giữa Thúc Sinh và
Thúy Kiều khi mối tình của hai người đang thời nồng thắm:
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san
Trong “Chinh phụ ngâm”, nữ sĩ Đoàn thị Điểm cũng vẽ lên cảnh biệt ly giữa
người vợ và người chồng ra trận bằng những lời thơ vô cùng xúc động:
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi
127
THU HỨNG
(Cảm xúc mùa thu)
Đỗ Phủ
MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1) Về kiến thức:
- Cảm nhận được tấm lòng yêu nước, thương nhà sâu sắc của Đỗ Phủ trước cảnh
chiều thu u ám giữa thời buổi tao loạn nơi đất khách.
- Thấy được tính chất đặc biệt hàm súc của thơ Đỗ Phủ qua việc khai thác các
tầng lớp ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh thơ.
2) Về kĩ năng:
Rèn luyện và bồi dưỡng kĩ năng, phương pháp học thơ Đường
3) Về thái độ:
Bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quê hương, đất nước.
I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG:
1) Tác giả:
a) Về cuộc đời: Đỗ Phủ (712- 770)
- Tự là Tử Mĩ, quê ở tỉnh Hà Nam
- Là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, cuộc đời Đỗ Phủ là cả một chuỗi
dài những biến cố thăng trầm của thời buổi tao lọan đời Đường.
- Được mệnh danh là “Thi thánh”
b) Sự nghiệp thơ văn: hiện còn khoảng 1500 bài
- Nội dung: bức tranh hiện thực sinh động, niềm đồng cảm với nhân dân trong khổ
nạn, chứa chan tình yêu nước và tinh thần nhân đạo.
- Giọng thơ: trầm uất, nghẹn ngào
2) Tác phẩm:
128
- Hoàn cảnh sáng tác: Năm 766, Đỗ Phủ đang ngụ cư ở Quỳ Châu, tại đây, ông đã
sáng tác chùm thơ “Thu hứng” gồm 8 bài. Bài “Thu hứng” được tuyển học ở đây là
bài thứ nhất của chùm thơ đó.
- Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật
- Bố cục: Thể thất ngôn bát cú trong thơ Đường có bố cục gồm 4 phần, mỗi phần 2
câu: Đề- thực- luận- kết. Bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ cũng có bố cục 4 phần.
Song bài thơ có thể chia làm 2 phần tương đối rõ:
+ Bốn câu đầu: Miêu tả cảnh thu
+ Bốn câu sau: Nỗi lòng của nhà thơ
Tuy nhiên, cảnh thu và nỗi lòng của nhà thơ đã hòa quyện và xuyên thấm trong
nhau: trong cảnh có nỗi lòng, trong nỗi lòng có cảnh.
II- GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN:
* Hoạt động 1:
Giáo viên gọi học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ; giợng
điệu chậm- buồn, tha thiết.
Phần phiên âm: Nhịp thơ 4/3 hoặc 2/2/3
Ngọc lộ/ điêu thương/ phong thụ lâm,
Vu Sơn/ Vu Giáp/ khí tiêu sâm.
Giang gian/ ba lãng/ kiêm thiên dũng,
Tái thượng/ phong vân/ tiếp địa âm.
Tùng cúc/ lưỡng khai/ tha nhật lệ,
Cô chu/ nhất hệ/ cố viên tâm.
Hàn y/ xứ xứ/ thôi đao xích,
Bạch Đế/ thành cao/ cấp mộ châm.
Phần dịch thơ: Nhịp thơ 4/3 hoặc 2/2/3
Lác đác/ rừng phong/ hạt móc sa,
Ngàn non/ hiu hắt/ khí thu lòa.
Lưng trời/ sóng rợn/ lòng sông thẳm,
Mặt đất/ mây đùn/ cửa ải xa.
129
Khóm cúc/ tuôn thêm/ dòng lệ cũ,
Con thuyền/ buộc chặt/ mối tình nhà.
Lạnh lùng/ giục kẻ/ tay dao thước,
Thành Bạch/ chày vang/ bóng ác tà.
(Bản dịch của Nguyễn Công Trứ)
* Hoạt động 2:
Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa.
Thu hứng- Đỗ Phủ
Phiên âm Dịch nghĩa
ngọc lộ sương móc trắng xóa
điêu thương làm tiêu điều
khí tiêu sâm hơi thu hiu hắt
kiêm thiên dũng (nước) vọt ra, vọt lên tận lưng trời
tiếp địa âm giáp mặt đất âm u
lưỡng khai hai lần nở
tha nhật lệ nước mắt ngày trước
cô chu con thuyền lẻ loi
nhất hệ chỉ buộc, buộc mãi
cố viên tâm tấm lòng nơi vườn cũ
* Hoạt động 3:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so sánh bản
dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa.
1) Bốn câu đầu: Cảnh thu
Hệ thống câu hỏi gợi mở:
- Cảnh thu trong hai câu thơ đầu được tác giả miêu tả thông qua những
hình ảnh nào? Những hình ảnh ấy có tác dụng gợi tả ra sao?
- Cảnh thu trong hai câu 3 và 4 có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Ở hai
câu này, tác giả sử dụng nghệ thuật gì?
130
- Đối chiếu với bản phiên âm và dịch nghĩa, em có nhận xét gì về bản dịch
thơ của Nguyễn Công Trứ?
Định hướng trả lời:
* Hai câu đầu:
“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm”
(Lác đác rừng phong hạt móc sa
Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa)
- Hình ảnh:
+ Sương móc: trắng xóa làm tiêu điều, tang thương cả rừng phong
+ Núi Vu, kẽm Vu: hơi thu hiu hắt, ảm đạm
- Tác giả miêu tả cảnh thu ở cả 3 chiều không gian:
+ Chiều dài, rộng: rừng phong
+ Chiều cao: núi Vu
+ Chiều sâu: kẽm Vu
 Cảnh thu tiêu điều, hiu hắt, bi thương khác với không khí mơ màng của
mùa thu thường thấy trong thơ ca truyền thống.
Đối chiếu bản dịch thơ với phiên âm, dịch nghĩa:
- Bản dịch thơ: “Lác đác rừng phong hạt móc sa” chưa sát với nguyên bản
hai từ: Ngọc lộ: sương móc trắng xóa; điêu thương: làm tiêu điều
- Bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ thay “Vu Sơn, Vu Giáp” thành “ngàn
non” thật sáng tạo. Tuy nhiên, ông đã bỏ mất Vu Giáp vì từ “ngàn non” chỉ thể hiện
được núi Vu chứ chưa diễn tả rõ hình ảnh kẽm Vu- khoảng không gian giữa hai
vách núi kề nhau tạo thành một khe núi có sườn dốc, có độ sâu rợn ngợp.
- Nguyễn Công Trứ dịch “khí tiêu sâm” thành “khí thu lòa” chưa thể hiện
được sự hiu hắt của trời thu, khí thu.
* Hai câu 3-4:
“Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm”
131
(Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Nhà thơ sử dụng một loạt hình ảnh đối lập:
- Giang gian (giữa lòng sông) với tái thượng (trên cửa ải)
- Ba lãng (sóng) với phong vân (gió mây)
- Kiêm thiên dũng (vọt lên tận lưng trời) với tiếp địa âm (sà xuống đất âm u)
Tả cảnh chuyển động chao đảo, dữ dội, hùng vĩ, bi tráng
 Bốn câu thơ tả cảnh thu vừa tiêu điều, ảm đạm, vừa hùng vĩ, bi tráng. Đây
là cảnh thu mang dấu ấn Quỳ Châu và cũng là cảnh thu mang bóng dáng cuộc đời
và nỗi lòng của con người- nỗi lòng đau đớn trước thời thế và tình cảm nhớ thương
quê nhà.
Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa:
- Nguyễn Công Trứ dịch “kiêm thiên dũng” dịch thành “lưng trời sóng rợn”
 chưa khắc họa rõ nét hình ảnh dữ dội, hoành tráng của những đợt sóng
giữa lòng sông cuồn cuộn vọt lên, vỗ tận lưng trời.
- Từ “địa âm” (mặt đất âm u) dịch thành “mặt đất” sẽ làm giảm sức biểu cảm
của câu thơ về một cảnh thu âm u, tiêu điều.
2) Bốn câu sau: Nỗi lòng của nhà thơ
Hệ thống câu hỏi gợi mở:
- Nhận xét của em về tầm nhìn và thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong
hai câu thơ 5 và 6?
- Ở hai câu thơ này, tác giả tả sự vật gì? Tác giả đồng nhất hóa những gì?
Điều đó có ý nghĩa như thế nào?
- Ở hai câu thơ kết, tác giả miêu tả âm thanh, hành động nào? Cho biết tác
dụng của âm thanh, hành động đó?
- Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa, em có nhận xét gì
về bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ?
Định hướng trả lời:
* Hai câu 5- 6:
132
“Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm”
(Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà)
- Tầm nhìn thay đổi từ không gian xa cận kề nội tâm
- Phép đối ý, từ ngữ, thanh điệu
- Hình ảnh ẩn dụ tượng trưng: hoa cúc, con thuyền
+ Hoa cúc: tượng trưng cho mùa thu
+ Con thuyền: cuộc đời nổi trôi lưu lạc; con thuyền mang chở tâm
tình con người.
- Nghệ thuật đồng nhất:
+ Cảnh và tình: cúc nở hoa như nhỏ lệ Nỗi đau đến rơi lệ.
+ Hiện tại và quá khứ: cúc hai lần nở hoa- hai lần tác giả rơi lệ ở hai
miền quê khác nhau Giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ của quá khứ năm xưa.
+ Con người và sự vật: Dây buộc con thuyền lẻ loi với vườn cũ- dây
buộc lòng người với cố hương.
 Tình lấn cảnh: nỗi nhớ quê hương sâu sắc.
Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa:
- “Cô chu” dịch thành “con thuyền”  bỏ mất từ “cô” không gợi lên được
hình ảnh con thuyền mang chở tâm tình cô đơn của con người.
- Bản dịch thơ không dịch từ “lưỡng”: nở rồi lại nở  chưa làm rõ ý cúc hai
lần nở hoa đồng nhất với hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau.
* Hai câu cuối: bất ngờ, độc đáo
“Hàn y xứ xứ thôi đao xích
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm”
(Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà)
Cảnh sinh hoạt:
- Hành động rộn ràng may áo rét
133
- Âm thanh dồn dập của tiếng chày đập áo
 Đây là 2 chi tiết có sức gợi cảm đặc biệt, nhất là đối với lữ khách tha
hương
 Nỗi buồn nhớ quê nhà càng da diết. Câu kết tạo ra một dư âm vang vọng,
lan xa, thấm sâu.
Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa:
+ Từ “hàn y”, Nguyễn Công Trứ dịch thành “lạnh lùng” chưa phù hợp. Từ
“lạnh lùng” dùng để chỉ thái độ chứ không phải dùng để nói đến áo rét hay thể hiện
cái lạnh, cái rét của mùa đông.
+ Bản dịch thơ chưa dịch từ “xứ xứ”. Do đó chưa thể hiện được cảnh sinh
hoạt ở thành Bạch Đế “Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét”.
+ Bản dịch thơ cũng chưa dịch được từ “cấp”, do đó chưa làm hiện lên cảnh
nhộn nhịp may áo rét với tiếng chày đập vải dồn dập lúc chiều thu.
* Hoạt động 4: Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
Thu hứng- Đỗ Phủ
Nội dung Nghệ thuật
Bài thơ là nỗi lòng của Đỗ Phủ và cũng
chính là nỗi lòng của trăm họ đang trong
cảnh lầm than, li biệt. Bài thơ không trực
tiếp phản ánh xã hội mà vẫn có giá trị
hiện thực và ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Bút pháp tả cảnh ngụ tình
Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc
Từ ngữ, hình ảnh gợi tả, gợi cảm với
nhiều lớp ý nghĩa
III- Luyện tập: Đọc thêm bài thơ “Trại đầu xuân độ” (Bến đò xuân đầu trại)
của Nguyễn Trãi, so sánh hình ảnh hai con đò mùa xuân và con đò mùa thu trong
hai bài thơ, rút ra nhận xét.
Phiên âm:
Độ đầu xuân thảo lục như yên,
Xuân vũ thiêm lai thuỷ phách thiên.
Dã kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô châu trấn nhật các sa miên.
134
Dịch nghĩa:
Cỏ xuân ở đầu bến đò, xanh biếc như khói,
Lại thêm mưa xuân nước tiếp ngang trời.
Ðường đồng nội vắng tanh, ít người qua lại,
Con thuyền mồ côi suốt ngày gác đầu lên bãi mà ngủ.
Dịch thơ:
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi,
Lại có mưa xuân nước vỗ trời
Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách
Con đò gối bãi suốt ngày ngơi”.
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)
Bài thơ tả cảnh một ngày mưa xuân trên bến đò đầu trại. Cảnh vật mùa xuân
tràn đầy sức sống nhưng dường như bị mờ đi, chìm đi trong không gian bao la tĩnh
lặng. Ức Trai đã viết bài thơ này trong những tháng năm sống ở Côn Sơn.
Câu thứ thứ tư tả con đò, hình ảnh trung tâm của “Bến đò xuân đầu trại”:
“Cô châu trấn nhật các sa miên”. Trời mưa, không có khách qua đò. Con đò trở
thành mồ côi, đơn độc. Con đò được nhân hóa đang nằm ngủ an nhàn, gối đầu lên
bãi cát. Hình ảnh con đò là hiện thân của nhà thơ, nhà thơ muốn gởi trọn tâm hồn
mình qua sự yên tĩnh của cảnh thiên khi về Côn Sơn ở ẩn mà quên đi bao phiền
muộn. Hình ảnh con thuyền trong bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ cũng là con
thuyền lẻ loi, cô đơn, mang chở tâm tình con người nhưng khác ở chỗ con thuyền
này gợi lên thân phận đơn chiếc, dạt trôi, phiêu bạt của cuộc đời Đỗ Phủ trong cảnh
loạn li và luôn nhớ về quê hương.
135
Bài đọc thêm:
HOÀNG HẠC LÂU (Thôi Hiệu)
Mục tiêu bài học: Giúp học sinh:
- Hiểu được chủ đề- cảm hứng chủ đạo và nét đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu
trong bài thơ.
- Rèn kĩ năng tự học, tự tìm hiểu giá trị của tác phẩm thơ trữ tình qua hệ
thống câu hỏi trong Sgk.
- Có lòng trân trọng vẻ đẹp của thơ Đường, đồng cảm với những xúc cảm,
tình cảm đẹp của các thi nhân đời Đường.
1. Vài nét về tác giả Thôi Hiệu và bài thơ Hoàng Hạc lâu:
- Nêu vài nét về tác giả Thôi Hiệu?
- Em biết gì về lầu Hoàng Hạc và các ý kiến đánh giá về bài thơ này?
a. Tác giả:
- Thôi Hiệu (704- 754), quê ở Biện Châu- Hà Nam (Trung Quốc), đỗ tiến sĩ
năm 21 tuổi, là người nổi tiếng tài hoa.
- Sống vào thời thịnh Đường.
- Thích ngao du sơn thuỷ.
- Để lại cho đời 40 bài thơ.
b. Bài thơ Hoàng Hạc lâu:
- Được đánh giá là một trong những bài thơ Đường hay nhất.
- Tương truyền, Lí bạch đến thăm lầu, thấy bài thơ này của Thôi Hiệu, đã
viết vào vách rằng: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc/ Thôi Hiệu đề thi tại thượng
đầu” (Trước mắt có cảnh đẹp nhưng ko nói được/ Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu)
c. Lầu Hoàng Hạc:
- Là một địa danh ở bờ bắc Trường Giang, thuộc tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc).
- Truyền thuyết kể rằng: xưa có chàng Nho sinh Phí Văn Vi buồn vì thi hỏng,
lang thang đến bãi Anh Vũ, bên bờ Trường Giang và tu luyện. Sau có hạc vàng đáp
136
xuống và chàng cưỡi hạc vàng bay lên trời. Người đời sau xây ngôi lầu này để kỉ
niệm.
 Lầu Hoàng Hạc là một thắng cảnh nổi tiếng đồng thời là một di chỉ thần tiên.
2. Hướng dẫn đọc- hiểu: (Ở bài đọc thêm, giáo viên hướng dẫn học sinh tự
đọc văn bản, tự so sánh đối chiếu các bản dịch)
a. Hai câu đề:
Đọc hai câu đề, em thấy có những hình ảnh nào đáng chú ý? Những hình
ảnh ấy có mối quan hệ với nhau như thế nào? Cảm nhận của em về tâm trạng của
tác giả?
- Hình ảnh:
Người xưa và hạc vàng  Lầu Hoàng Hạc
Cái đã mất Cái còn
Cõi tiên Cõi trần
Quá khứ Hiện tại
 Sự đối lập của quá khứ với hiện tại: Tác giả tìm đến một di chỉ thần tiên
nhưng người tiên, hạc tiên đâu còn, chỉ còn trơ lại lầu Hoàng Hạc như một dấu tích
kỉ niệm.
- Tâm trạng của tác giả: nuối tiếc, bàng hoàng, ngẩn ngơ trước thực tại biến
cải.
b. Hai câu thực:
Thanh điệu của hai câu thực có gì đặc biệt? Nó có giá trị biểu cảm ra sao?
- Câu 3: 6/7 thanh trắc  âm điệu trúc trắc nhấn mạnh cái đã mất  sự
bừng tỉnh sau những đắm chìm của cảm xúc hoài niệm  tâm trạng hẫng hụt, nuối
tiếc, thảng thốt.
- Câu 4: 5/7 thanh bằng, lối phù bình thanh- 3 thanh bằng liên tiếp không dấu
(không du du)  âm điệu nhẹ nhàng.
- Hình ảnh “Hạc vàng một đã đi, đi biệt” và “mây trắng ngàn năm bay chơi
vơi”  Tác giả nhận thức được thiên nhiên là cái vĩnh cửu, trường tồn còn đời
người hữu hạn, dù huy hoàng đến mấy cũng lui vào quá khứ.
137
c. Hai câu luận:
1) Ở hai câu luận, cảnh thiên nhiên được miêu tả là cảnh của quá khứ hay
thực tại? Sắc thái của thiên nhiên ở đây như thế nào?
2) Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của hai câu luận?
3) Hai câu thơ tả cảnh nhưng ẩn sâu trong cảnh là tâm trạng gì của tác giả?
- Cảnh vật: miêu tả khái quát, chấm phá:
+ Hàng cây ở đất Hán Dương.
+ Dòng sông Trường Giang.
+ Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ.
 Là cảnh thực tại, gắn với đời thường, có địa danh cụ thể.
- Sắc thái của cảnh:
+ Lịch lịch- rõ mồn một
+ Thê thê- mơn mởn xanh tươi
 Vẻ đẹp vắng lặng, yên tĩnh, thanh khiết, tràn đầy sức sống
Tâm trạng của tác giả: điểm nhìn của tác giả có sự vận động, biến đổi. Nếu
như ở 4 câu đầu, tác giả hướng về quá khứ với cảm hứng hoài cổ thì đến hai câu
luận, tác giả quay trở lại thực tại. Cảnh vật quá tĩnh lặng, tác giả không tìm được
“đường dây liên hệ tình cảm” nào. Nỗi cô đơn dâng lên trong lòng người lữ khách
khi phải đối diện với không gian vắng lặng và thời gian “nhật mộ” (chiều tàn)
d. Hai câu kết:
1) Điều gì gợi cho Thôi Hiệu cảm thấy nhớ quê hương? Hai chữ “hương
quan” (quê hương) có thể hiểu với những nghĩa nào?
2) Thông qua nỗi “sầu” ở cuối bài, em nhận ra được điều gì về nhân sinh
quan của nhà thơ?
- Thời gian: chiều tối  Gợi nỗi lòng “chiều hôm nhớ nhà”
- Không gian: sông nước, khói sóng
- Quê hương:
+ Nghĩa đen: nơi chôn rau cắt rốn của con người.
138
+ Nghĩa biểu tượng: điểm tựa, chốn dừng chân, niềm an ủi cho những thân
phận, những cuộc đời phiêu bạt.
- Chữ “sầu”: Nỗi buồn, nỗi sầu là cảm xúc tất yếu của con người trong cảnh
tha hương, chiều muộn, ngày tàn.
 Tình cảm gắn bó, tình yêu quê hương tha thiết- là tình cảm nhân bản của
con người
- Hai câu này đã gợi tứ cho Huy Cận viết hai câu cuối trong bài Tràng giang.
3.2.3. Tổ chức dạy học thực nghiệm:
3.2.3.1. Địa điểm và thời gian thực nghiệm:
- Địa điểm thực nghiệm: gồm tất cả 4 trường Trung học phổ thông trong
Thành phố thuộc quận 1, quận 5 và Quận 8:
+ Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5- Tp. HCM
+ Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1- Tp. HCM
+ Trường THPT Lương Thế Vinh- Quận 1- Tp. HCM
+ Trường THPT Tạ Quang Bửu- Quận 8- Tp. HCM
- Thời gian thực nghiệm: Từ ngày 15/09/2012 đến 24/10/2012
3.2.3.2. Kết quả thực nghiệm:
- Đối với học sinh:
Qua việc nghiên cứu đề tài này và vận dụng vào công tác giảng dạy của
mình, chúng tôi nhận thấy học sinh không còn thái độ chán nản trong khi tiếp thu
những kiến thức thơ Đường, trái lại các em có hứng thú hơn, tích cực hơn trong giờ
học và trong việc tìm kiếm tài liệu liên quan đến tác phẩm.
- Đối với giáo viên:
Học sinh có hứng thú hơn khi học thơ Đường cũng là một trong những điều
kiện thuận lợi giúp giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh, phát hiện và bổ
sung thêm vào kiến thức của mình những cái mới và hay hơn, đồng thời giúp giáo
139
viên xua tan những ý nghĩ cho rằng: thơ Đường khó dạy, khó có thể làm cho học
sinh cảm và hiểu được cái hay trong từng tác phẩm.
3.2.3.3. Nhận xét, đánh giá:
- Ưu điểm:
+ Thông qua việc so sánh, đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch
nghĩa, học sinh có thể hiểu bài thơ một cách chính xác, từ đó các em có thể cảm thụ
bài thơ sâu sắc hơn.
+ Nâng cao kỹ năng, phương pháp học thơ Đường; phát huy khả năng độc
lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh; rèn luyện cho học sinh kỹ năng đối chiếu, so
sánh các bản dịch và trình bày quan điểm, ý kiến riêng trước những điểm trong bản
dịch mà mình cho rằng chưa hay và phù hợp.
+ Từ thời thượng cổ, Trung Hoa là nước văn minh nhất nhân loại. Sự ảnh
hưởng văn hóa Trung Hoa đã lan tràn sang các nước Á Châu trong vùng, trong đó
có Việt Nam. Dân tộc ta tiếp thu văn hóa Hán sâu đậm qua nhiều thế kỷ bị đô hộ
của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Ngôn ngữ Việt Nam trở nên phong phú và
đa dạng một phần cũng nhờ từ Hán Việt. Do đó, việc so sánh, đối chiếu giữa bản
phiên âm với bản dịch nghĩa qua các bài thơ chữ Hán sẽ giúp học sinh nâng cao khả
năng học từ Hán Việt. Đối với người Việt Nam, việc học chữ Hán Việt cũng là một
cách để hiểu rõ hơn nền văn hóa, văn học nước nhà và giữ gìn, phát huy sự trong
sáng của Tiếng Việt.
+ Hệ thống câu hỏi khám phá thi đề, thi tứ, thi ý giúp giáo viên điều khiển có
hiệu quả hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tích cực trong hoạt động
nhận thức, giúp học sinh cảm nhận thơ Đường tốt hơn.
+ Những câu hỏi thảo luận nhóm giúp giáo viên chỉ đạo họat động nhận thức
của cả lớp và của từng học sinh, thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách
nhanh, gon, kịp thời để điều chỉnh hoạt động dạy học. Ngược lại, học sinh cũng thu
được tín hiệu ngược từ giáo viên để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức- học
tập của mình.
140
- Khuyết điểm:
+ Việc so sánh, đối chiếu giữa các bản dịch tốn khá nhiều thời gian. Nếu
giáo viên quá chú trọng vào phần đối chiếu so sánh thì các phần quan trọng khác
như phân tích, bình giảng, liên hệ,… sẽ không đủ thời gian để chú ý đúng mức. Tiết
học sẽ không thành công do học sinh chưa lĩnh hội đủ kiến thức để hiểu giá trị nội
dung, nghệ thuật và ý nghĩa, bài học được rút ra từ mỗi bài thơ.
+ Việc so sánh, đối chiếu giữa các bản dịch tương đối khó so với trình độ
học sinh, nhất là đối với học sinh Trung học cơ sở do các em chưa được trang bị
đầy đủ, chắc chắn kiến thức về từ Hán Việt và và vốn từ Hán Việt còn nghèo nàn.
+ Việc đặt câu hỏi gợi mở nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian,
ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa giáo viên
và một vài học sinh, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung. Nếu câu
hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến
sự phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh.
- Một số giải pháp kiến nghị:
+ Tăng thêm một số tiết học từ Hán Việt trong chương trình Tiếng Việt
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông để trang bị cho học sinh những kiến thức cơ
bản về từ Hán Việt, giúp học sinh tích lũy vốn từ Hán Việt ngày càng phong phú, từ
đó học sinh có thể vận dụng vào việc học thơ chữ Hán nói chung và thơ Đường
Luật nói riêng một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.
+ Trong các tiết học thơ chữ Hán, giáo viên cần phân phối thời gian hợp lý
giữa các phần, các khâu trong tiến trình lên lớp để dành thời gian hợp lý cho phần
so sánh, đối chiếu giữa các bản dịch, nhất là đối với những bài thơ thất ngôn bát cú
Đường Luật.
+ Hiện nay, đa số học sinh đều chú trọng vào các môn thuộc ngành khoa học
tự nhiên, việc học văn đối với học sinh dường như không còn quan trọng, các em
thường không có hứng thú trong giờ học. Vì thế, thư viện trường nên cung cấp cho
giáo viên, học sinh những loại sách tham khảo, từ điển Hán Việt, tài liệu, tranh
141
truyện, băng đĩa .. liên quan đến thơ Đường để giáo viên, học sinh có thể tham khảo
và tiếp cận với tác phẩm dể dàng và hứng thú hơn.
+ Không có một phương pháp vạn năng cho mọi nội dung dạy học. Bởi vậy,
giáo viên không nên lạm dụng bất kì một phương pháp nào mà cần phối hợp linh
hoạt với các phương pháp khác để giờ học sinh động hơn.
142
PHẦN III: KẾT LUẬN
Là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và cũng là một trong những đỉnh cao của
thơ ca nhân loại, thơ Đường rất đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung, hoàn mỹ
về hình thức. Từ lâu thơ Đường đã trở thành mẫu mực và chiếm một địa vị quan
trọng trong nền văn học nhân loại. Đi vào thơ Đường là đi vào thế giới hoà điệu,
vào thế giới nội cảm của các thi nhân ở cái “ý tại ngôn ngoại”.
Thơ Đường thường đi sâu khám phá sự thống nhất và chủ yếu là sự giao cảm
giữa con người và thiên nhiên, tạo vật, đem đến cho người đọc những bạn bè mới,
những tri âm mới. Một con sông như chảy suốt các tâm hồn. Một vầng trăng như
canh cánh bên kẻ ở và người đi. Một cánh chim như rút ngắn không gian và thời
gian. Đọc xong một bài thơ Đường hay, nguời ta bỗng cảm thấy dòng sông như có
thể thủ thỉ trò chuyện, vầng trăng như cửa sổ để giãi bày tâm sự, và cánh chim như
một phương pháp rút ngắn lại khoảng cách thiên địa. Cách cấu tứ nhằm phá đi mọi
ranh giới ngăn cách, tạo ra một sức mạnh và âm vang sâu lắng của thơ Đường. Âm
vang thơ Đường đã tỏa ra khắp nhân loại bởi thơ Đường là những trang viết chói lọi
trong lịch sử văn học Trung Quốc, đồng thời, thơ Đường đã đặt cơ sở nghệ thuật,
phong cách và luật thơ cho nền thi ca Trung Quốc các thời kì sau này. Thơ Đường
cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca Việt Nam.
Ngôn ngữ của thơ Đường trong sáng, tinh luyện, bởi vậy thơ Đường rất cô
đọng, súc tích, ngắn gọn. Khi đọc thơ Đường, người ta phải tìm “cái ẩn, cái sâu, cái
xa”, tức là phải suy luận, phải khám phá, phải suy ngẫm. Từ trước tới nay, người
đọc thơ Đường không phải ít nhưng người hiểu thơ Đường cũng không phải là
nhiều. Ngày nay, thơ Đường vẫn được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông. Để
giúp học sinh hiểu đúng và cảm nhận được cái hay của thơ Đường, việc nghiên cứu,
tìm hiểu về phương pháp dạy học thơ Đường là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa
thiết thực.
Với những kết quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu, nhất là thông qua
việc vận dụng đề tài này vào công tác giảng dạy của mình, mặc dù khả quan nhưng
143
bản thân chúng tôi nhận thấy mình cần cố gắng hơn nữa, không ngừng học tập ở
bạn bè, đồng nghiệp để kết quả giảng dạy thơ Đường nói riêng và những bài thơ cổ
nói chung đạt kết quả tốt hơn. Đồng thời, chúng tôi sẽ luôn tìm tòi, nghiên cứu, đổi
mới phương pháp, hình thức giảng dạy để phát huy tính tích cực học tập, tạo sự say
mê, hứng thú của học sinh khi học thơ Đường.
Chúng tôi hi vọng những kinh nghiệm trên sẽ phần nào giúp ích cho giáo
viên Văn các trường Trung học phổ thông trong công tác giảng dạy nói chung và
dạy thơ Đường nói riêng. Và tất nhiên, đề tài nghiên cứu của chúng tôi còn nhiều
thiếu sót và có những quan niệm chưa thể đồng nhất với các thầy cô, các anh (chị)
và các bạn đồng nghiệp. Chính vì thế, chúng tôi rất mong nhận được những đóng
góp chân tình của quý thầy cô và các anh chị, các bạn đồng nghiệp để chúng tôi có
thể hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu, từ đó vận dụng vào công tác giảng dạy
của mình một cách thiết thực và có hiệu quả hơn.
144
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nhật Chiêu (2001), Câu chuyện văn chương phương Đông, Nxb Giáo dục.
2. Trương Chính, Lương Duy Thứ, Bùi Văn Ba (1971), Lịch sử văn học Trung
Quốc, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Thiều Chửu (2005), Hán Việt từ điển, Nxb Đà Nẵng.
4. Cao Hữu Công- Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Nxb Văn
học.
5. Phạm Minh Diệu (chủ biên) (2006), Thiết kế bài soạn Ngữ Văn 10, Nxb ĐHQG
Hà Nội.
6. Trương Dĩnh (2004), Thiết kế bài dạy Ngữ Văn 10 theo hướng tích hợp, tập (1),
Nxb Giáo dục.
7. Trương Dĩnh (2004), Thiết kế dạy học Ngữ Văn 7 theo hướng tích hợp, tập (1),
Nxb Giáo dục.
8. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê dịch) (1990), Lịch sử văn minh Trung Quốc,
Trung tâm thông tin ĐHSP TPHCM.
9. Nguyễn Sĩ Đại (1996), Đặc trưng thơ tứ tuyệt đời Đường, Nxb Văn học.
10.Bùi Khánh Đản (2006), Đường thi trích dịch, Nxb Văn học.
11.Trần Xuân Đề (1976), Thơ Đỗ Phủ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
12.Trần Xuân Đề, Hồ Sĩ Hiệp (1997), Tinh hoa văn học Trung Quốc, Đại học Sư
phạm TP.HCM.
13.Trần Xuân Đề (2007), Tác giả tiêu biểu Văn học phương Đông Trung Quốc,
Nxb Giáo dục.
14.Phạm Văn Đồng (1973), Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Tạp chí
Nghiên cứu giáo dục số 11.
15.Lâm Ngữ Đường (1994), Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa, Nxb Văn hóa.
16.Franjois Cheng: Bút pháp thơ ca Trung Quốc, Tài liệu ĐHSP Hà Nội.
17.Phạm Minh Hạc (1995), Các cuộc cải cách giáo dục ở VN, Tạp chí nghiên cứu
giáo dục số 11.
145
18.Nguyễn Thị Bích Hải (1996), Thi pháp thơ Đường – một số phương diện chủ
yếu, Luận án PTSKH Ngữ văn (Thư viện Quốc gia VN, Thư viện Đại học
Sư phạm Hà Nội)
19.Nguyễn Thị Bích Hải (2002), Giảng văn văn học châu Á trong trường Phổ
thông, Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, Nxb
Thuận Hóa, Huế.
20.Nguyễn Thị Bích Hải (2003), Bình giảng thơ Đường và việc dạy học thơ Đường
ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
21.Nguyễn Thị Bích Hải (2005), Bình giảng thơ Đường: Theo sách giáo khoa Ngữ
văn mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
22.Nguyễn Thị Bích Hải (2006), Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hóa.
23.Nguyễn Thị Bích Hải (2009), Đến với tác phẩm văn chương phương Đông
(Trung Quốc- Nhật Bản- Ấn Độ), Nxb Giáo dục.
24.Lê Bá Hán (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội.
25.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học,
Nxb Giáo dục.
26.Nguyễn Tuyết Hạnh (1996), Vấn đề dịch thơ Đường ở VN, trung tâm nghiên cứu
quốc học, Nxb Văn học, Hà Nội.
27.Phạm Thị Hảo (2002), Văn học Trung Quốc giản yếu, Nxb ĐHQG Tp. HCM.
28.Hồ Sĩ Hiệp (1995), Thơ Đường ở trường PT, Nxb Văn nghệ, Tp.HCM.
29.Hồ Sĩ Hiệp (1998), Giúp học tốt Văn học Trung Quốc trong nhà trường, Nxb
Đồng Nai.
30.Hồ Sĩ Hiệp (2002), Lí Bạch, Tủ sách văn học trong nhà trường.
31.Hồ Sĩ Hiệp (2006), Văn học Trung Quốc với nhà trường (tiểu luận), Nxb ĐHQG
Tp. HCM.
32.Hồ Sĩ Hiệp (2007), Đến với Đường thi tuyệt cú, Nxb ĐHSP Tp.HCM.
33.Nguyễn Văn Hiệu (2000), Quan hệ và tiếp nhận VHTQ ở VN đầu thế kỉ XX, Tạp
chí Hán Nôm số 4.
34.Nguyễn Trọng Hoàn (2007), Đọc- hiểu văn bản Ngữ Văn 7, Nxb Giáo dục.
146
35.Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK,
Nxb ĐHSP, Hà Nội.
36.Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở
trường phổ thông trung học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
37.Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy học văn ở trường phổ thông, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
38.Trần Ngọc Hưởng (2004), Thơ Đường trong nhà trường, Nxb Đồng Nai.
39.Nguyễn Thị Dư Khánh (2006), Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong
nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
40.Trần Trọng Kim (1995), Đường thi, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội.
41.Nguyễn Lai (1993), Tiếp nhận văn học- một vấn đề thời sự, Báo Văn nghệ số 10
42.Mai Quốc Liên (2002), Những vấn đề của phương pháp giảng dạy thơ trong nhà
trường, Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, tập (29), số 1.
43.I.X.Lixevich (Trần Đình Sử dịch) (2002), Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
44.Nguyễn Thế Long (2006), Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong
kinh tế thị trường, Nxb Lao động, Hà Nội.
45.Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học – giảng dạy văn học, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
46.Phan Trọng Luận (2004), Phương pháp dạy học Văn, tập (1), Nxb Đại học sư
phạm, Hà Nội.
47.Phan Trọng Luận (2004), Phương pháp dạy học Văn, tập (2), Nxb Đại học sư
phạm, Hà Nội.
48.Phan Trọng Luận (chủ biên) (2006), SGK Ngữ Văn 10, tập (1), Nxb Giáo dục.
49.Lê Nguyễn Lưu (1997), Đường thi tuyển dịch tập (1),( 2), Nxb Thuận Hóa.
50.Phương Lựu (1996), Văn hóa, VHTQ cùng một số liên hệ ở VN, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
51.Robert J. Marzano – Debra J. Pickering – Jane E. Pollock (2005), Các phương
pháp dạy học hiệu quả (người dịch Hồng Lạc), NXB Giáo dục.
147
52.Nguyễn Thị Hồng Nam (2008), Chuyên đề đổi mới PPDH dành cho học viên
Cao học, Đại học Cần Thơ.
53.Nguyễn Thị Hồng Nam (2010), Câu hỏi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, Tạp
chí Khoa học học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, tập (73), số 11.
54.Phan Ngọc (1990), Đỗ Phủ- nhà thơ dân đen, Nxb Đà Nẵng.
55.Lê Đức Niệm (1995), Thi tiên Lý Bạch, Nxb Văn học.
56.Lê Đức Niệm (1998), Diện mạo thơ Đường, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội.
57.Nguyễn Khắc Phi (1997), Vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật ( In trong Về
thi pháp thơ Đường), NXB Đà Nẵng.
58.Nguyễn Khắc Phi (1999), Thơ văn Trung Hoa cổ mảnh đất lạ mà quen, Nxb
Giáo dục.
59.Nguyễn Khắc Phi (2001), Mối quan hệ giữa văn học VN và VHTQ qua cái nhìn
so sánh, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
60.Ngô Văn Phú (biên soạn và tuyển chọn) (1996), Thơ Đường ở Việt Nam, Nxb
Hội nhà văn, Hà Nội.
61.Ngô Văn Phú (dịch) (2008), Đường thi tam bách thủ do Hoành Đường Thoái Sĩ
soạn, NXB Văn học.
62.Vũ Tiến Quỳnh (1990), Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, Nxb Khánh Hòa.
63.Trần Trọng San (1990), Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, tủ sách Đại học
tổng hợp Tp. HCM.
64.Trần Trọng San (1990), Thơ Đường, Trường Đại học tổng hợp Tp.HCM.
65.Trần Trọng San (1995), Hán Văn (tái bản lần thứ nhất), Nxb Tp. HCM.
66.Nguyễn Quốc Siêu (1998), Thơ Đường bình giảng, Nxb Giáo dục.
67.Lê Xuân Soạn- Lê Phương Liên (2005), Thiết kế bài dạy Ngữ Văn 7, tập (1),
Nxb ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
68.Lê Xuân Soạn (2006), Dạy- học các tác phẩm thơ Đường ở trường THCS và
THPT theo chương trình Ngữ văn mới, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh.
148
69.Tạ Thanh Sơn (chủ biên) (2007), Kiến thức cơ bản Ngữ Văn 10, Nxb ĐHQG Hà
Nội.
70.Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng.
71.Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
72.Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Nxb Văn
học, Hà Nội. Nguyên bản của Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân (Mỹ)
73.Trần Đình Sử (2002), Đọc văn – Học văn, Nxb Giáo dục.
74.Vũ Minh Tâm (1996), Vấn đề con người trong Triết học cổ đại Trung Quốc,
Tạp chí Triết học số 4.
75.Cao Tự Thanh (1995), Giai thoại thơ Đường, Nxb Phụ nữ.
76.Khâu Chấn Thanh, Mai Xuân Hải dịch (1994), Lý luận văn học, nghệ thuật cổ
điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục.
77.Khâu Chấn Thanh (2000), Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Nxb
Văn học, Hà Nội.
78.Nguyễn Thành Thi (2011), Chuyên đề bồi dưỡng giáo viên THPT, Sóc Trăng.
79.Lương Duy Thứ (1996), Thơ cổ Trung Quốc- Quá trình tiếp nhận và thi pháp,
Tạp chí văn học số 6.
80.Lương Duy Thứ và Nguyễn Lộc tuyển chọn (1996), Thơ ca cổ điển Trung Quốc,
Tuyển tập in 2 thứ tiếng. Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học TP. HCM
81.Lương Duy Thứ, GS Nguyễn Lộc (1997), Thơ ca cổ điển Trung Quốc, Nxb Trẻ.
82.Lương Duy Thứ (2005), Thi pháp thơ Đường, Nxb ĐHSP. TPHCM
83.Đinh Phan Cẩm Vân (2011), Tiếp cận thể loại văn học cổ Trung Quốc, Nxb
ĐHSP. TPHCM.
84.Trịnh Xuân Vũ (2002), Phương pháp dạy học văn ở bậc phổ thông, Nxb Đại học
Quốc gia Tp.HCM.
149
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Hoàng Hạc Lâu
Thắng cảnh, huyền thoại, thơ và ảnh
Hoàng Hạc lâu là thắng cảnh nổi tiếng ở Vũ Hán gắn liền với sông Trường
Giang, trận Xích Bích, huyền thoại hạc vàng, Thôi Hiệu đề thơ, Lí Bạch gác bút,
Khổng Minh mượn gió đông, Tôn Quyền xem trận thế, Khuất Nguyên viết Ly Tao,
Nguyễn Du viết tuyệt phẩm trong “Bắc hành tạp lục”, Tô Thức, Mạnh Hạo Nhiên,
Mao Trạch Đông… đề thơ cùng biết bao danh họa và ảnh đẹp về Hoàng Hạc lâu
làm say đắm lòng người.
150
Thắng cảnh
Lầu Hoàng Hạc vốn là đài quan sát quân sự được xây từ thời Tam Quốc, ở
bờ Nam sông Trường Giang, thuộc địa phận nước Ngô (thành phố Vũ Xương, Vũ
Hán ngày nay). Đài quan sát này liên quan với trận Xích Bích nổi tiếng trong lịch sử
và huyền thoại cầu gió đông của Khổng Minh. Sau này, khi nước Ngô bị diệt vong
thì đài không còn ý nghĩa quân sự quan trọng nữa. Nhưng do được xây ở nơi phong
cảnh hung vĩ nên lầu Hoàng Hạc dần trở thành điểm đến của tao nhân, mặc khách
và ngày càng nổi tiếng, là biểu tượng, niềm tự hào của người dân Vũ Hán.
Sa bàn Hoàng Hạc lâu (ngày xưa)
Lầu Hoàng Hạc nguyên thủy
là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ
gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng.
Trải qua nhiều triều đại phong kiến
Trung Quốc, chịu biết bao cuộc
chiến tranh hủy diệt; rồi lại được
dựng lên, sau nhiều lần trùng tu cho
đến nay, lầu Hoàng Hạc được tái
sinh trở lại với sự kết tinh nhuần
nhuyễn những phong cách độc đáo của Hoàng Hạc lâu qua các đời Đường, Tống,
Nguyên, Minh, Thanh,…được trưng bày để mọi người thưởng ngoạn. Hoàng Hạc
lâu hịên tại lộng lẫy hơn nhiều với năm tầng có chiều cao 51,4 mét, ngói vàng, trụ
đỏ, các mái hiên được uốn cong lên như đôi cánh hạc.
151
Tầng một cao hơn 10m
với trang trí bên trong giúp
người xem hiểu ngay được sự
tích của Hoàng Hạc lâu. Tầng
hai đến tầng bốn lưu giữ lại
những bài thơ từ và danh họa về
các sự kiện lịch sử từ thời Tam
Quốc đến nay, những danh nhân
như Khuất Nguyên, Nhạc Phi,
thi tiên Lí Bạch, Thôi Hiệu, Tô
Đông Pha, Mạnh Hạo Nhiên. Tầng năm là tầng cao nhất của lầu, đứng ở đây, người
ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, nhìn dòng Trường Giang và Hán
Thủy hợp lại thành hình chữ “Nhân” trong Hán tự.
Huyền thoại
Theo sách “Liệt tiên toàn truyện” của Vương Thế Trinh đời Minh, có chuyện
kể rằng: “Xưa có một người họ Tân, bán rượu ở chân núi Hoàng Cốc kiếm sống qua
ngày. Một hôm có đạo sĩ già ăn mặc rách rưới đến xin rượu uống. Anh bán rượu
nghèo tốt bụng, thấy ông lão đáng thương, bèn cho rượu uống. Từ đấy, ngày nào
đạo sĩ cũng đến xin rượu. Một hôm, đạo sĩ từ biệt anh bán rượu, nói: “Một năm qua,
ngày nào anh cũng cho rượu uống, lão chẳng có gì đền đáp. Lão có con hạc quý,
tặng anh để tỏ lòng biết ơn”. Nói
rồi ông lẫy vỏ cam vẽ lên tường
một con hạc, dặn: “Chỉ cần anh
vỗ tay là hạc sẽ bay ra nhảy múa,
mua vui cho khách”. Dứt lời, đạo
sĩ biến mất. Anh bán rượu làm
theo, quả nhiên có hạc vàng bay
ra nhảy múa. Từ đấy, khách uống
rượu hiếu kì kéo đến rất đông.
152
Chẳng bao lâu, anh trở nên giàu có. Bỗng một hôm, đạo sĩ quay lại nói: “Mười năm
qua, tiền anh kiếm được chắc đã đủ trả chỗ rượu anh cho lão uống?”. Rồi ông rút
cây sáo thần thổi lên một khúc, gọi hạc vàng bay ra, cưỡi hạc bay đi mất. Vì thế, về
sau, căn lầu xây ở nơi này được mang tên Hoàng Hạc.
Thơ và Ảnh
Theo tài liệu
văn học Trung Quốc,
có khoảng 300 bài thơ
tả cảnh lầu Hoàng Hạc,
nhưng bài thơ của Thôi
Hiệu đời Đường là xuất
sắc nhất, có giá trị nghệ
thuật vượt không gian
và thời gian, được lưu
truyền mãi cho đến
ngày nay.
153
Lầu Hoàng Hạc
Người xưa cưỡi hạc đã cao bay
Lầu hạc còn suông với chốn này
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây
hửng
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dầy
Hoàng hôn về đó quê đâu tá?
Khói sóng trên sông nảo dạ
người.
Ngô Tất Tố
154
Tương truyền, khi Lí Bạch đến lầu Hoàng Hạc du ngoạn, định đề thơ, nhưng
đọc xong thơ Thôi Hiệu đã đề trước đó, ông đành nghiêng mình gác bút, ngửa mặt
lên trời mà than rằng: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo vô tắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng
đầu” (Cảnh đẹp nhường kia sao khó viết, trên đầu Thôi Hiệu đã đề thơ). Để ghi nhớ
giai thoại văn học “Thôi Hiệu đề thơ, Lí Bạch gác bút” thú vị này, ngày nay ở phía
Nam lầu Hoàng Hạc, người ta xây dựng “Đình gác bút” làm điểm tham quan, dừng
chân cho du khách.
Nguyễn Du khi đi sứ nhà Thanh qua lầu Hoàng Hạc, trong “Bắc hành tạp
lục”, ông đã viết bài thơ:
黃鶴樓 Hoàng Hạc lâu
阮攸 Nguyễn Du
何處神仙經紀時 Hà xứ thần tiên kinh kỉ thì
猶留仙跡此江楣 Do lưu tiên tích thử giang mi
今來古往盧生夢 Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng
鶴去樓空崔顥詩 Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi
軒外煙波空渺渺 Hiên ngoại yên ba không diểu diểu
155
眼中草樹尚依依 Nhãn trung thảo thụ thượng y y
衷情無限凴誰訴 Trung tình vô hạn bằng thùy tố
明月清風也不知 Minh nguyệt thanh phong dã bất tri
Lầu Hoàng Hạc
Nào thuở tiên đi mãi đến giờ,
Dấu tiên bên bến đứng trơ vơ.
Xưa qua nay lại Lư dồn mộng,
Hạc khuất lầu không Hạo để thơ.
Thăm thẳm nước mây ngoài vạn dặm,
Dờn dờn cây cỏ vẫn nghìn xưa.
Nỗi lòng ấp ủ cùng ai tỏ?
Gió mát trăng trong luống hững hờ
(Quách Tấn dịch)
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng cảm khái viết bài thơ cùng tên Hoàng Hạc
lâu:
Hoàng Hạc Lâu
Vũ Hoàng Chương
Đã bao giờ có hạc vàng đâu
Mà có người tiên để có lầu!
Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở
Lầm Thôi Hiệu trước Nguyễn Du sau:
Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch
Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu
Trăng gió hão huyền như khói sóng
Nồi kê đã chín nghĩ mà đau.
156
157
Phụ lục 2:
Chùa Hàn San: Một trong mười ngôi
chùa nổi tiếng ở Trung Quốc
Chùa Hàn San tọa lạc bên bờ sông Cổ Vận thôn Thất Lý, nằm ngoài cổng Tây
Xương thành cổ Tô Châu, nay thuộc trấn Phong Kiều, khu Kim Xương, thành phố
Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Chùa được xây cất vào năm Thiên Giám đời nhà Lương
(CN 502-519), cách nay có hơn 1400 năm. Xưa gọi là “Tháp Viện Diệu Lợi Phổ
Minh”.
Qua con hẻm nhỏ đường Thạch Bản của cổ trấn Phong Kiều, hoặc đứng ở đầu
cầu Phong Kiều, đưa mắt nhìn sẽ thấy trên con đường nhỏ quanh co xa tắp, thấp
thoáng bóng chùa Hàn San với tường vàng ngói biếc, sân chùa tùng bách tươi xanh,
tọa lạc trong rừng cây xanh thẳm.
158
Trương Kế - Thi nhân đời Đường, khi đi ngang qua cầu Phong Kiều, nhìn
con thuyền trôi lững lờ trên dòng sông Cổ Vận, nghe tiếng chuông chùa Hàn San
đồng vọng ngân nga, ông tức cảnh sanh tình, làm bài thơ với nhan đề “PHONG
KIỀU DẠ BẠC”
Tấm bia ghi
bài thơ Phong
Kiều Dạ Bạc
của nhà thơ
Trương Kế
Tương truyền tiếng chuông chùa Hàn
San là độc nhất vô nhị, sự cảm xúc đã
gợi hứng cho rất nhiều thi nhân qua
các triều đại, nhưng nổi bậc vẫn là bài
thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” của thi sĩ
Trương Kế. Kiệt tác này hiện là pháp
bảo vô giá của Hàn San, được khắc
trên bia đá sừng sững giữa trời thi gan
cùng tuế nguyệt.
159
160
161
Giai thoại lý thú giải thích về tiếng chuông chùa Hàn San vào lúc
nửa đêm:
Chuyện kể rằng, vào đêm Trương Kế đậu thuyền tại bến Phong Kiều, trong lúc
thao thức vì cảnh đẹp thiên nhiên và chỉ mới làm được hai câu đầu của bài thơ thất
ngôn tứ tuyệt như dự định mà thôi, nhà thơ bâng khuâng mãi vì chưa tìm được ý
tưởng cho hai câu kế tiếp. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, không phải chỉ có một mình
thi nhân không ngủ được mà có đến hai người khác nữa vì quá say mê thơ cũng trằn
trọc không sao an giấc. Người thứ nhất là sư cụ trụ trì chùa Hàn San. Đêm đã khuya
lắm rồi mà thầy vẫn còn thao thức vì không làm được hai câu cuối bài thơ thất ngôn
tứ tuyệt. Thầy chỉ làm được hai câu đầu rồi bị ngưng lại ở đó, không sao viết tiếp
được. Người thứ ba cũng trằn trọc trong đêm là chú tiểu trong chùa. Chú tiểu cũng
là người yêu thơ. Lúc đó, sư cụ trụ trì thấy chú tiểu còn thức bèn đưa cho chú hai
câu thơ mình đã làm nhưng không thể làm tiếp được kể kết thúc trọn vẹn bài thơ.
Chú tiểu vừa đọc qua hai câu đầu của sư cụ liền xuất thần viết ra ngay hai câu sau.
Sư cụ đọc qua, ráp nhau lại, nhận thấy cả bài thơ bốn câu hay quá:
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tự ngân câu bán tự cung.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán trầm thủy để bán phù không.
Bản dịch của Trần Trọng San:
Mồng ba mồng bốn trăng mờ,
Nửa như móc bạc nửa ngờ vành cung.
Trăng kia ai xẻ đôi vầng,
Nửa in đáy nước nửa lồng trên mây.
Với tâm trạng vô cùng mừng rỡ và nghĩ rằng Phật Tổ đã linh thiêng giúp đỡ
cho hai thầy trò ngẫu nhiên làm được một bài thơ ưng ý, thầy bảo chú tiểu thắp
hương và thỉnh chuông để tạ ơn đức Phật. Lúc đó, Trương Kế đang thao thức suy
nghĩ về hai câu thơ sau, thì tiếng chuông chùa Hàn San vang lên. Trong một đêm
khuya mùa thu, sương phủ mờ cả dòng sông, Trương Kế nằm dưới thuyền lẻ loi đậu
162
ở bến Phong Kiều trong tâm trạng buồn bã, lại thêm có tiếng quạ kêu não nề vang
vọng trên không trung thì bất ngờ thay, tiếng chuông chùa Hàn San vẳng đến. Tiếng
chuông chùa ngân vang, lay động cả màn sương. Hồn thơ của Trương Kế tưởng như
đã lụi tàn trong nỗi buồn “đối sầu miên” bỗng trỗi dậy khi đột nhiên từ ngoài thành
Cô Tô có tiếng chuông chùa Hàn San ngân nga vọng lại. Ông lắng nghe tiếng
chuông và chợt tỉnh. Tiếng chuông nửa đêm khuya vang lên rửa sạch lớp bụi trần
gian, một đời bôn ba trên trường khoa bảng của ông đã bị tiếng chuông cuốn trôi
vào quá khứ. Hiện hữu là một sự tỉnh thức: là tâm trạng thoát tục; là khách cửa
thiền. Nhà thơ bỗng cảm thấy tâm hồn lâng lâng thoát tục và ý thơ từ đâu ùa vào
như nước lũ. Và với tâm hồn cảm xúc với đạo Phật, hồn thơ Trương Kế đã lay động
với sự vi diệu của tiếng chuông chùa, lập tức nhà thơ viết ra hai câu kết:
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Và từ đó, trong kho tàng văn học sử Trung Hoa lại có thêm một kiệt tác Đường
thi theo thể loại thất ngôn tứ tuyệt.
163
Phụ lục 3: Lư Sơn
Lư Sơn (hay còn gọi là Lô Sơn)
là một dãy núi nằm ở phía nam thành
phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây, Trung
Quốc. Lư Sơn có 99 ngọn núi, trong đó
đỉnh cao nhất là Đại Hán Dương với
độ cao 1.474 m trên mực nước biển.
Núi này là một điểm du lịch quan trọng
của Trung Quốc.
Đây là nơi đến được du khách
nội địa Trung Quốc ưa thích. Tại đây,
trên vách núi có thể nhìn thấy những
sự dịch chuyển vỉa rất đặc biệt từ thời
kỳ băng hà. Phong cảnh vùng này rất
đẹp với các đỉnh núi, thung lũng, hẻm
núi, khe núi, kiến tạo đá, hang động, và thác nước. Khu vực này cũng có một số đền
thờ Đạo giáo, chùa Phật giáo, cũng như nhiều di tích Khổng giáo.
Năm 1982, Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn Lư Sơn là khu danh lam
thắng cảnh trọng điểm của quốc gia. Công viên quốc gia này trải dài trên diện tích
500 km² đến lưu vực Hồ Bà Dương.
Năm 1996, Công viên Quốc gia Lư Sơn được UNESCO công nhận là di sản
văn hóa thế giới.
Năm 2004, công viên được UNESCO công nhận là vườn địa chất và được
đưa vào danh sách hệ thống các vườn địa chất quốc tế.
Núi Lư Sơn nổi tiếng đẹp đã là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm thi ca
Trung Quốc. Điển hình là bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” của Lí Bạch, hay bài “Lô
Sơn” (hay Lư Sơn) mà giới thiền tông thường cho là của Tô Đông Pha:
164
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều
Vị đáo bình sinh hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt vị
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều.
Bản dịch tiếng Việt của sư Mật Thể:
Lô Sơn
Mù tỏa Lô Sơn sóng Triết Giang
Khi chưa đến đó hận muôn vàn
Đến rồi về lại không gì lạ
Mù toả Lô Sơn sóng Triết Giang.
165
Phụ lục 4: Tổng hợp các kết quả điều tra
* Kết quả điều tra giáo viên THCS và THPT:
- Tổng số phiếu: 62 phiếu (gồm 24 phiếu Giáo viên THCS và 38 phiếu Giáo viên
THPT)
- Đơn vị khảo sát:
+ Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5: 8 phiếu giáo viên THPT
+ Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1(cấp II, III): 10 phiếu giáo viên
THCS và 9 phiếu giáo viên THPT
+ Trường THPT Lương Thế Vinh- Quận 1 (cấp II, III): 14 phiếu giáo viên THCS và
12 phiếu giáo viên THPT
+ Trường THPT Tạ Quang Bửu: 9 phiếu giáo viên THPT
Số
TT
Nội dung câu hỏi Nội dung trả lời
Giáo viên
THCS
Giáo viên
THPT
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Câu
1
Theo thầy/ cô, việc
đọc diễn cảm phần
phiên âm trong giờ
dạy thơ Đường có
cần thiết không?
- Có
- Không
16/24
8/24
66,7
33,3
31/38
7/38
81,6
18,4
Câu
2
Thầy/ cô dạy thơ
Đường chủ yếu theo:
- Bản phiên âm
- Bản dịch nghĩa
- Bản dịch thơ
- Đối chiếu, so sánh dịch
thơ với phiên âm và dịch
nghĩa
2/24
0/24
6/24
16/24
8,3
0
25,0
66,7
5/38
0/38
11/38
22/38
13,2
0
28,9
57,9
Câu
3
Trước khi dạy thơ
Đường, thầy/ cô dặn
- Đọc văn bản: Phiên âm,
dịch nghĩa, dịch thơ
- So sánh, đối chiếu các
22/24
1/24
91,7
4,2
31/38
3/38
81,6
7,9
166
dò học sinh chuẩn bị
bài những gì?
(Ở câu này, thầy/cô
có thể chọn nhiều
hơn một đáp án trả
lời)
bản dịch
- Trả lời các câu hỏi
trong Sgk (hoặc câu hỏi
giáo viên hướng dẫn soạn
bài)
- Sưu tầm tranh ảnh, tư
liệu
- Hoàn toàn không yêu
cầu
22/24
7/24
2/24
91,7
29,2
8,3
31/38
13/38
7/38
81,6
34,2
18,4
Câu
4
Trong giờ dạy các
bài thơ Đường, thầy/
cô có đặt ra những
vấn đề để học sinh
thảo luận, tranh luận
không?
- Rất nhiều
- Khá nhiều
- Thỉnh thoảng
- Không có
2/24
5/24
17/24
0/24
8,3
20,8
70,9
0
5/38
18/38
15/38
0/38
13,2
47,4
39,4
0
Câu
5
So sánh thơ Đường
và thơ Việt Nam,
thầy/ cô thấy dạy thơ
Đường:
- Dễ hơn
- Khó hơn
- Như nhau
0/24
24/24
0/24
0
100
0
0/38
33/38
5/38
0
86,8
13,2
Câu
6
Khó khăn lớn nhất
khi thầy/ cô dạy thơ
Đường là gì?
- Vốn từ Hán Việt của
o viên và học sinh hạn chế
- Sách giáo viên, tài liệu
tham khảo chưa phong
phú
- Thơ Đường ngắn gọn,
hàm súc, học sinh khó
hiểu
- Giáo viên ít được bồi
11/24
2/24
6/24
5/24
45,8
8,3
25,0
20,9
21/38
5/38
8/38
4/38
55,3
13,2
21,1
10,4
167
dưỡng, đổi mới phương
pháp dạy học
Câu
7
Theo thầy/ cô, việc
phân phối thơ Đường
trong chương trình
đã hợp lý chưa?
- Hợp lý
- Chưa hợp lý
2/24
22/24
8,3
91,7
3/38
35/38
7,9
92,1
Câu
8
Qua quan sát, thầy/
cô cho biết tâm lý
của học sinh khi tiếp
cận thơ Đường
- Thích thú
- Bình thường
- Không thích
1/24
4/24
19/24
4,2
16,7
79,1
1/38
7/38
30/38
2,6
18,4
79,0
Câu 9: (Dành cho Giáo viên Trung học cơ sở)
Theo thầy/cô, các bài thơ Đường được chọn để giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn
Trung học cơ sở có phù hợp với học sinh không?
Bài thơ Phù hợp Không phù hợp
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
1. Tĩnh dạ tứ 24 100 0 0
2. Hồi hương ngẫu thư 11 45,8 13 54,2
3. Vọng Lư Sơn bộc bố 23 95,8 1 4,2
4. Mao ốc vị thu phong sở phá ca 14 58,3 10 41,7
5. Phong Kiều dạ bạc 3 12,5 21 87,5
168
Câu 9: (Dành cho Giáo viên Trung học phổ thông)
Theo thầy/cô, các bài thơ Đường được chọn để giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn
Trung học phổ thông có phù hợp với học sinh không?
Bài thơ Phù hợp Không phù hợp
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
1. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh
Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
38 100 0 0
2. Thu hứng 36 94,7 2 5,3
3. Hoàng Hạc lâu 35 92,1 3 7,9
4. Khuê oán 6 15,8 32 84,2
5. Điểu minh giản 4 10,5 34 89,5
Câu 10: Thầy/ cô sử dụng những phương pháp nào khi giảng dạy thơ Đường?
(Thống kê giáo viên Trung học cơ sở)
Tên PPDH
Mức độ sử dụng
Thường
xuyên
Khá
thường xuyên
Thỉnh thoảng Không
sử dụng
Đọc diễn cảm 15/24
62,5 %
5/24
20,8 %
4/24
16,7 %
0/24
0
So sánh, đối chiếu
các bản dịch
4/24
16,7 %
11/24
45,8 %
5/24
20,8 %
4/24
16,7 %
Đặt câu hỏi
gợi mở
17/24
70,8 %
6/24
25 %
1/24
4,2 %
0/24
0
169
Phân tích
bình giảng
6/24
25 %
10/24
41,7 %
8/24
33,3 %
0/24
0
Trực quan 3/24
12,5 %
9/24
37,5 %
5/24
20,8 %
7/24
29,2 %
Câu 10: Thầy/ cô sử dụng những phương pháp nào khi giảng dạy thơ Đường?
(Thống kê giáo viên Trung học phổ thông)
Tên PPDH
Mức độ sử dụng
Thường
xuyên
Khá
thường xuyên
Thỉnh thoảng Không
sử dụng
Đọc diễn cảm 19/38
50 %
9/38
23,7 %
7/38
18,4 %
3/38
7,9 %
So sánh, đối chiếu
các bản dịch
9/38
23,7 %
21/38
55,3 %
8/38
21 %
0
0
Đặt câu hỏi
gợi mở
27/38
71,1 %
9/38
23,7 %
2/38
5,2 %
0
0
Phân tích
bình giảng
19/38
50 %
15/38
39,5 %
4/38
10,5 %
0
0
Trực quan 2/38
5,3 %
4/38
10,5 %
15/38
39,5 %
17/38
44,7 %
* Kết quả điều tra học sinh THCS và THPT:
- Tổng số phiếu: 429 phiếu (gồm 157 phiếu học sinh THCS và 272 phiếu học sinh
THPT)
- Đơn vị khảo sát:
+ Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5: 90 phiếu học sinh THPT
+ Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1(cấp II, III): 73 phiếu học sinh
THCS và 48 phiếu học sinh THPT
170
+ Trường THPT Lương Thế Vinh- Quận 1 (cấp II, III): 84 phiếu học sinh THCS và
51 phiếu học sinh THPT
+ Trường THPT Tạ Quang Bửu: 83 phiếu học sinh THPT
Số
TT
Nội dung
câu hỏi
Nội dung trả lời
Học sinh
THCS
Học sinh
THPT
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Câu
1
Em có thích học
thơ Đường
không?
- Có
- Không
17
140
10,8
89,2
82
190
30,1
69,9
Câu
2
Lý do tại sao em
thích (không
thích) học thơ
Đường?
* Thích:
- Thơ Đường ngắn gọn, hàm
súc
- Thơ Đường dễ thuộc, dễ
nhớ
- Thơ Đường thâm trầm, ý vị
* Không thích:
- Thơ Đường thâm trầm, khó
hiểu
- Thơ Đường nhiều điển tích,
điển cố
- Vốn từ Hán Việt hạn chế
6
2
9
10
9
121
35,3
11,8
52,9
7,1
6,4
86,4
17
11
54
13
24
153
20,7
13,4
65,9
6,8
12,6
80,5
Câu
3
Trước khi học
thơ Đường, em
chuẩn bị bài
những gì?
(Ở câu này, học
sinh có thể chọn
- Đọc văn bản: Phiên âm,
dịch nghĩa, dịch thơ
- Đối chiếu các bản dịch
- Trả lời các câu hỏi trong
Sgk (hoặc câu hỏi giáo viên
hướng dẫn soạn bài)
113
9
89
72,0
5,7
56,7
213
12
131
78,3
4,4
48,2
171
nhiều hơn một
đáp án trả lời)
- Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu
- Hoàn toàn không chuẩn bị
15
44
9,6
28,0
21
59
7,7
21,7
Câu
4
Trong giờ học,
em có tích cực
tham gia phát
biểu, thảo luận,
tranh luận những
vấn đề giáo viên
đặt ra không?
- Rất nhiều
- Khá nhiều
- Thỉnh thoảng
- Không có
13
38
67
39
8,3
24,2
42,7
24,8
11
53
134
74
4,0
19,5
49,3
27,2
Câu
5
Phương pháp
giảng dạy của
giáo viên:
- Rất lôi cuốn
- Khá lôi cuốn
- Ít lôi cuốn
- Không lôi cuốn
6
81
57
13
3,8
51,6
36,3
8,3
48
159
54
11
17,6
58,5
19,9
4,0
Câu
6
Em thích học thơ
Đường qua bản
- Phiên âm
- Dịch nghĩa
- Dịch thơ
- Đối chiếu các bản dịch
3
2
114
38
1,9
1,3
72,6
24,2
14
5
142
111
5,1
1,8
52,2
40,8
Câu
7
So sánh thơ
Đường và thơ
Việt Nam, em
thấy học thơ
Đường:
- Dễ hơn
- Khó hơn
- Như nhau
0
112
45
0
71,3
28,7
4
236
32
1,5
86,8
11,8
172
Câu 8: (Dành cho học sinh Trung học cơ sở)
Xếp theo thứ tự ưu tiên (từ 1 đến 5) các bài thơ Đường trong chương trình ngữ Văn
Trung học cơ sở mà em thích học nhất:
Bài thơ Thứ tự ưu tiên
1 2 3 4 5
1. Tĩnh dạ tứ 111 29 10 7 0
2. Hồi hương ngẫu thư 9 22 25 54 47
3. Vọng Lư Sơn bộc bố 98 34 17 6 2
4. Mao ốc vị thu phong sở phá ca 6 13 21 56 61
5. Phong Kiều dạ bạc 2 7 33 46 69
Câu 8: (Dành cho học sinh Trung học phổ thông)
Xếp theo thứ tự ưu tiên (từ 1 đến 5) các bài thơ Đường trong chương trình ngữ Văn
Trung học phổ thông mà em thích học nhất:
Bài thơ Thứ tự ưu tiên
1 2 3 4 5
1. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh
Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
253 14 5 0 0
2. Thu hứng 198 45 19 7 3
3. Hoàng Hạc lâu 212 33 12 8 7
4. Khuê oán 46 42 52 58 74
5. Điểu minh giản 10 17 20 67 158
173

More Related Content

PDF
Luận văn: Dạy học đọc - hiểu thơ Đường theo đặc trưng thể loại, HAY
PDF
Luận văn: Dạy học đọc - hiểu thơ Đường theo đặc trưng thể loại, 9đ
PDF
PHONG CÁCH HỌC TIẾNG VIỆT
PDF
Luận văn: Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
PDF
Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết “Một thế giới không có đàn bà”, HAY
PDF
Luận án: Ảnh hưởng văn học dân gian trong truyện thiếu nhi, HAY
DOC
Đề tài: Dạy học tích hợp trong một số tác phẩm trong môn Ngữ Văn 10
PDF
Luận văn: Dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình trong trường Trung học phổ th...
Luận văn: Dạy học đọc - hiểu thơ Đường theo đặc trưng thể loại, HAY
Luận văn: Dạy học đọc - hiểu thơ Đường theo đặc trưng thể loại, 9đ
PHONG CÁCH HỌC TIẾNG VIỆT
Luận văn: Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết “Một thế giới không có đàn bà”, HAY
Luận án: Ảnh hưởng văn học dân gian trong truyện thiếu nhi, HAY
Đề tài: Dạy học tích hợp trong một số tác phẩm trong môn Ngữ Văn 10
Luận văn: Dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình trong trường Trung học phổ th...

What's hot (20)

PDF
Luận văn: Sự chuyển biến trong văn học nửa cuối thế kỉ XIX, HAY
PDF
LUẬN VĂN THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ SAU NĂM 1975_102537...
PDF
Luận văn: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Nhật Ánh, HAY
PDF
Luận văn: Thơ cổ phong Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từ góc nhìn thi pháp, HAY
PDF
Luận văn: Thể loại truyền kì trong tiến trình văn học Việt Nam, 9đ
PDF
Luận án: Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam
DOC
Luận văn thạc sĩ Dạy học thơ đường ở trường phổ thông theo hướng tích cực.doc
PDF
Luận văn: Dạy học đọc - hiểu các văn bản tự sự văn học nước ngoài lớp 12 ở tr...
PDF
Luận văn: Yếu tố phong tục trong truyện cổ tích người Việt từ góc nhìn văn hoá
PDF
Luận văn: Truyện Nôm trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, 9đ
PDF
Luận văn: Phát triển năng lực viết sáng tạo cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu...
PDF
Luận văn:Dạy đọc hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam ở Ngữ văn 10 THPT th...
PDF
Luận văn: Dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình trong THPT, HAY
DOCX
Khoá Luận Dạy Học Đọc Hiểu Văn Bản Nghị Luận Ở Trường Trung Học Phổ Thông
PDF
Luận án: Tiểu thuyết Việt Nam từ góc nhìn phê bình sinh thái, HAY
DOC
Đề tài: Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (nhìn từ góc độ thể loại)
PDF
Luận văn: Vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của T...
DOC
Luận Văn Dấu Ấn Thi Pháp Văn Học Dân Gian Trong Thơ Tố Hữu.doc
PDF
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Tô Hoài.pdf
PDF
Luận văn: Cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng quê
Luận văn: Sự chuyển biến trong văn học nửa cuối thế kỉ XIX, HAY
LUẬN VĂN THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ SAU NĂM 1975_102537...
Luận văn: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Nhật Ánh, HAY
Luận văn: Thơ cổ phong Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từ góc nhìn thi pháp, HAY
Luận văn: Thể loại truyền kì trong tiến trình văn học Việt Nam, 9đ
Luận án: Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam
Luận văn thạc sĩ Dạy học thơ đường ở trường phổ thông theo hướng tích cực.doc
Luận văn: Dạy học đọc - hiểu các văn bản tự sự văn học nước ngoài lớp 12 ở tr...
Luận văn: Yếu tố phong tục trong truyện cổ tích người Việt từ góc nhìn văn hoá
Luận văn: Truyện Nôm trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, 9đ
Luận văn: Phát triển năng lực viết sáng tạo cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu...
Luận văn:Dạy đọc hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam ở Ngữ văn 10 THPT th...
Luận văn: Dạy học đọc hiểu văn bản thơ trữ tình trong THPT, HAY
Khoá Luận Dạy Học Đọc Hiểu Văn Bản Nghị Luận Ở Trường Trung Học Phổ Thông
Luận án: Tiểu thuyết Việt Nam từ góc nhìn phê bình sinh thái, HAY
Đề tài: Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (nhìn từ góc độ thể loại)
Luận văn: Vận dụng lý thuyết tự sự học vào dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của T...
Luận Văn Dấu Ấn Thi Pháp Văn Học Dân Gian Trong Thơ Tố Hữu.doc
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Tô Hoài.pdf
Luận văn: Cách nhìn về con người trong tiểu thuyết Người cùng quê
Ad

Similar to Dạy học thơ đường ở trường phổ thông theo hướng tích cực, 9đ (20)

PDF
Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo h...
PDF
Luận văn: Tích hợp văn hóa trong dạy học văn học nước ngoài ở chương trình Ng...
PDF
Luận văn: Tích hợp văn hóa trong dạy học văn học nước ngoài, HAY
PDF
Khóa luận tốt nghiệp cái say trong thơ nguyễn khuyến
PDF
DẠY TRUYỆN KIỀU TỪ GÓC ĐỘ KHAI THÁC ẨN DỤ- HOÁN DỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM N...
DOCX
Dạy học các trích đoạn truyện kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho học s...
PDF
Luận văn: Dạy học các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại...
PDF
Luận văn: Hệ thống rèn luyện kỹ năng cảm thụ văn học cho học sinh
PDF
Luận văn: Giá trị đạo lý trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, 9đ
PDF
Luận văn Vấn đề tiếp nhận Truyện Kiều trên thế giới
PDF
Th s31 067_một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hoá ở học sinh...
PDF
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh ôn thi THPT Quốc gia các văn bản th...
PDF
Luận văn: Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hoá ở học sinh ...
PDF
TỔ CHỨC DẠY BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN CHO HỌC SINH LỚP ...
PDF
Luận văn thạc sĩ: Truyện cổ dân gian Châu Ro, HAY, 9đ
DOC
CHẤT LIỆU TRUYỆN DÂN GIAN TRONG CHUYỆN NGÀY XƯA MỘT TRĂM CỔ TÍCH CỦA TÔ HOÀI
PDF
Luận văn Thế giới cỏ cây trong thơ nôm Nguyễn Trãi dưới góc nhìn phê bình sin...
PDF
Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn Lớp 6
DOCX
Luận Văn Thạc Sĩ Chủ Đề Tình Yêu Lứa Đôi Trong Thơ Của Xuân Diệu Và Thơ R.Tag...
PDF
Luận văn: Từ ngữ địa phương trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc
Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo h...
Luận văn: Tích hợp văn hóa trong dạy học văn học nước ngoài ở chương trình Ng...
Luận văn: Tích hợp văn hóa trong dạy học văn học nước ngoài, HAY
Khóa luận tốt nghiệp cái say trong thơ nguyễn khuyến
DẠY TRUYỆN KIỀU TỪ GÓC ĐỘ KHAI THÁC ẨN DỤ- HOÁN DỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM N...
Dạy học các trích đoạn truyện kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại cho học s...
Luận văn: Dạy học các trích đoạn Truyện Kiều theo đặc trưng thi pháp thể loại...
Luận văn: Hệ thống rèn luyện kỹ năng cảm thụ văn học cho học sinh
Luận văn: Giá trị đạo lý trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, 9đ
Luận văn Vấn đề tiếp nhận Truyện Kiều trên thế giới
Th s31 067_một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hoá ở học sinh...
Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh ôn thi THPT Quốc gia các văn bản th...
Luận văn: Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hoá ở học sinh ...
TỔ CHỨC DẠY BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN CHO HỌC SINH LỚP ...
Luận văn thạc sĩ: Truyện cổ dân gian Châu Ro, HAY, 9đ
CHẤT LIỆU TRUYỆN DÂN GIAN TRONG CHUYỆN NGÀY XƯA MỘT TRĂM CỔ TÍCH CỦA TÔ HOÀI
Luận văn Thế giới cỏ cây trong thơ nôm Nguyễn Trãi dưới góc nhìn phê bình sin...
Phương pháp sử dụng và khai thác tranh minh họa trong môn ngữ văn Lớp 6
Luận Văn Thạc Sĩ Chủ Đề Tình Yêu Lứa Đôi Trong Thơ Của Xuân Diệu Và Thơ R.Tag...
Luận văn: Từ ngữ địa phương trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc
Ad

More from Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864 (20)

DOC
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
DOC
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
DOC
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
DOC
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
DOC
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
DOC
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
DOC
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
DOC
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
DOC
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
DOC
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
DOC
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
DOC
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
DOC
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
DOC
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...
Yếu Tố Tự Truyện Trong Truyện Ngắn Thạch Lam Và Thanh Tịnh.doc
Từ Ngữ Biểu Thị Tâm Lí – Tình Cảm Trong Ca Dao Người Việt.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Môn Khoa Học Tự Nhiên Theo Chuẩn Kiến Thức Và K...
Quản Lý Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Trên ...
Thu Hút Nguồn Nhân Lực Trình Độ Cao Vào Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Tỉnh ...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thương Mại ...
Vaporisation Of Single And Binary Component Droplets In Heated Flowing Gas St...
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Các Trường Thpt Trên Địa Bàn Huyện Sơn Hà Tỉnh Quản...
Tác Giả Hàm Ẩn Trong Tiểu Thuyết Nguyễn Việt Hà.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Ngắn Hạn Tại Ngân Hàng Công Thƣơng Chi...
Quản Lý Nhà Nước Về Nuôi Trồng Thủy Sản Nước Ngọt Trên Địa Bàn Thành Phố Hải ...
Song Song Hóa Các Thuật Toán Trên Mạng Đồ Thị.doc
Ứng Dụng Số Phức Trong Các Bài Toán Sơ Cấp.doc
Vai Trò Của Cái Bi Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ.doc
Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Các Trường Thcs Huyện Chư Păh ...
Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Lĩnh Vực Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai.doc
Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ngoại Ngữ Tại Các Trung Tâm Ngoại Ngữ - Tin Học Trê...
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Ngân Hàng Thƣơng Mại ...
Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Quận Thanh Khê, Thành Phố Đà Nẵng.doc
Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Trung Và Dài Hạn Tại Ngân Hàng Thương ...

Recently uploaded (20)

PPTX
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
PPTX
THUÊ 2025 - CHƯƠNG 1 TỔNG QUANưqeqweqw.pptx
PDF
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
PDF
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
PDF
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
PPT
CH4 1 Van bagggggggggggggggggggggggggggggn QH.ppt
PPTX
Nhận thức chung về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
PDF
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
PPTX
GIỚI THIỆU SÁCH GIÁO KHOA TOÁN 4_CTST.pptx
PDF
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
PDF
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
DOCX
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
PPTX
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
PDF
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án
PDF
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 10 BÓNG CHUYỀN - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THE...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PDF
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
PDF
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...
Bai giảng ngữ văn Trai nghiem de truong thanh.pptx
THUÊ 2025 - CHƯƠNG 1 TỔNG QUANưqeqweqw.pptx
dfmnghjkdh hỳh fhtrydr. ỷey rỷtu dfyy ỳy rt y y ytyr t rty rt
Giáo Dục Minh Triết: Tâm thế - Tâm thức bước vào kỷ nguyên mới
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY ...
CH4 1 Van bagggggggggggggggggggggggggggggn QH.ppt
Nhận thức chung về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
BÀI TẬP BỔ TRỢ TIẾNG ANH I-LEARN SMART WORLD LỚP 10 BÁM SÁT NỘI DUNG SGK - PH...
GIỚI THIỆU SÁCH GIÁO KHOA TOÁN 4_CTST.pptx
712387774-Slide-Lịch-Sử-Đảng-Vnfsdfsf.pdf
Bài giảng Xã hội học đại cương chuyên ngành
Sổ chỉ tiêu thực tập rhm hoàn chỉnh.docx
Chuong 2 Dinh gia Doanh nghiep LN RUI RO sv
Trạng nguyên Tiếng Việt lớp 2 năm 2025 - 2026 có đáp án
BÀI GIẢNG POWERPOINT CHÍNH KHÓA THEO LESSON TIẾNG ANH 11 - HK1 - NĂM 2026 - G...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 11 CẦU LÔNG - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO C...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 10 BÓNG CHUYỀN - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THE...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG RỔ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
GIÁO ÁN KẾ HOẠCH BÀI DẠY THỂ DỤC 12 BÓNG ĐÁ - KẾT NỐI TRI THỨC CẢ NĂM THEO CÔ...
GIÁO TRÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ TH...

Dạy học thơ đường ở trường phổ thông theo hướng tích cực, 9đ

  • 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Thị Tuyết Trinh DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC TP. HỒ CHÍ MINH- 2012
  • 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Thị Tuyết Trinh DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Văn Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. ĐINH PHAN CẨM VÂN Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
  • 3. 2 LỜI CẢM ƠN Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS. Đinh Phan Cẩm Vân- người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn. Cô đã hướng dẫn tôi rất tận tình với những góp ý cụ thể, sâu sắc, giúp tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến Phòng Sau đại học và quý thầy cô khoa Ngữ Văn- trường ĐHSP TP. HCM. Những tri thức quý báu mà thầy cô đã truyền đạt trong suốt bốn năm đại học và hai năm cao học đã giúp tôi có đủ kiến thức và tự tin để thực hiện đề tài khóa luận. Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này. Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2012 Học viên Lê Thị Tuyết Trinh
  • 4. 3 MỤC LỤC Lời cám ơn .................................................................................................................. 2 Mục lục........................................................................................................................ 3 Danh mục bảng ........................................................................................................... 5 MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 6 1. Lý do chọn đề tài:................................................................................................ 6 2. Mục đích nghiên cứu:.......................................................................................... 6 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: ................................................................................. 8 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: .................................................................... 11 5. Phương pháp nghiên cứu:.................................................................................. 12 6. Đóng góp mới của luận văn: ............................................................................. 12 7. Kết cấu của luận văn: ........................................................................................ 13 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN DẠY VÀ HỌC THƠ ĐƯỜNG14 THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 1.1. Vài nét về thơ Đường ....................................................................................... 14 1.1.1. Khái niệm, phân loại:...................................................................................... 14 1.1.2. Các quy tắc sáng tác thơ:................................................................................ 14 1.2. Tính tích cực trong dạy học nói chung và trong dạy học thơ Đường: ....... 24 1.2.1. Tính tích cực trong dạy học:........................................................................... 24 1.2.2. Tính tích cực trong dạy học thơ Đường: ........................................................ 28 Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 2.1. Đọc sáng tạo văn bản: ..................................................................................... 32 2.1.1. Vấn đề đọc sáng tạo trong dạy học Văn:........................................................ 32 2.1.2. Biện pháp đọc sáng tạo các tác phẩm thơ Đường: ......................................... 34 2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch: ..................................................... 37 2.2.1. Nghệ thuật dịch thơ Đường: ........................................................................... 37
  • 5. 4 2.2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch: ....................................................... 38 2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở:............................................................... 71 2.3.1. Câu hỏi gợi mở trong dạy học Văn: ............................................................... 71 2.3.2. Câu hỏi gợi mở khi dạy các tác phẩm thơ Đường:......................................... 73 2.3.2.1. Gợi mở, khám phá thi đề:........................................................................... 73 2.3.2.2. Gợi mở, khám phá thi tứ: ........................................................................... 78 2.3.2.3. Gợi mở, khám phá thi ý: ............................................................................ 85 Chương 3: THỰC NGHIỆM GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 3.1. Việc dạy và học thơ Đường ở trường Phổ thông hiện nay:......................... 89 3.1.1. Về chương trình sách giáo khoa:.................................................................... 89 3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy và học thơ Đường: ..................... 92 3.2. Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông:........................... 95 3.2.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm: ................................................ 95 3.2.1.1. Mục đích:.................................................................................................... 95 3.2.1.2. Yêu cầu:...................................................................................................... 95 3.2.1.3. Nội dung:.................................................................................................... 96 3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm:..................................................................... 96 3.2.2.1. Chương trình ngữ văn Trung học cơ sở:.................................................... 96 3.2.2.2. Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông:......................................... 116 3.2.3. Tổ chức dạy học thực nghiệm: .................................................................. 138 3.2.3.1. Địa điểm và thời gian thực nghiệm:......................................................... 138 3.2.3.2. Kết quả thực nghiệm: ............................................................................... 138 3.2.3.3. Nhận xét, đánh giá:................................................................................... 139 KẾT LUẬN............................................................................................................ 142 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 144 PHỤ LỤC............................................................................................................... 149
  • 6. 5 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học mới Bảng 2.2: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa (Học sinh Trung học cơ sở) Bảng 2.3: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa (Học sinh Trung học phổ thông) Bảng 2.4: Đề tài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Bảng 3.5: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở Bảng 3.6: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông Bảng 3.7: Thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Bảng 3.8: So sánh thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường với Văn học nước ngoài và Văn học Việt Nam
  • 7. 6 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Thời nhà Đường đã đi qua hơn 1000 năm, lịch sử nhân loại đã có những bước phát triển nhưng có một điều không thay đổi trong tâm thức những ai đã từng biết về đất nước Trung Quốc, đó là sự ngưỡng mộ về một thời đã sản sinh ra nền thi ca vĩ đại trường tồn cùng năm tháng trong lòng người- Thơ Đường. Thật vậy, Trung Quốc được mệnh danh là “đất nước của thơ ca”. Trong lịch sử phát triển của thơ ca cổ điển Trung Quốc, thơ Đường chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Kéo dài ròng rã gần ba trăm năm (618-907), từ khi Đường Cao Tổ Lý Uyên dựng triều đại cho đến khi nhà Đường mất, thi phẩm toàn bộ thơ Đường có tới hơn 48000 bài của khoảng 2300 thi sĩ với những đỉnh cao: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Vương Duy, Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh… Với những vần thơ ngắn gọn súc tích nhưng nội dung tư tưởng sâu sắc, thâm trầm “ý tại ngôn ngoại”, thơ Đường là một di sản quý giá của nền văn hoá- văn học nhân loại. Thưởng thức và cảm nhận thơ Đường là thưởng thức một vườn hoa đa hương sắc, một “mảnh đất quen mà lạ” (Nguyễn Khắc Phi). Là một tài sản vô giá, thơ Đường mang trong mình nhiều giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. Chúng ta đến với thơ Đường là tìm về thế giới tâm thức của người Trung Hoa thâm trầm, ý vị. Qua thế giới nghệ thuật ấy, người đọc tìm thấy một thế giới với những nỗi niềm tâm sự riêng tư, những quan niệm của cá nhân về hoàn cảnh, số phận cuộc đời…nhưng nó lại là lời muốn nói trong sâu thẳm cõi lòng của biết bao nhiêu người trong cõi nhân thế. Chính vì thế, thơ Đường được nhiều người yêu thích, nhiều nhà thơ, dịch giả Việt Nam tham gia dịch thơ Đường và một số bản dịch tiêu biểu đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Tuy nhiên, thực tế dạy và học hiện nay, số lượng học sinh say mê học văn không nhiều, thậm chí còn có nhiều học sinh chán học văn, năng lực học văn yếu kém, khả năng cảm thụ, phân tích văn học còn hạn chế. Trong khi đó, do bị chi phối
  • 8. 7 bởi đặc điểm, những quy phạm nghiêm ngặt của thơ luật Đường, ta càng khó tìm hiểu được hết giá trị của thơ Đường nếu không hiểu sâu sắc về nó. Vì thế, các tiết học thơ Đường lại càng khó khăn hơn đối với các em. Việc dạy và học những bài thơ Đường trong nhà trường phổ thông gặp không ít những trở ngại do vốn từ Hán Việt của học sinh hết sức ít ỏi, năng lực cảm thụ và khả năng phân tích thơ Đường của người học (kể cả người dạy) còn nhiều hạn chế. Do vậy, đọc- hiểu thơ Đường là một việc tưởng chừng như vựơt quá sức của lứa tuổi từ 13 đến 16 tuổi. Trong thời điểm giáo dục đang đổi mới và có nhiều chuyển biến mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng dạy học như hiện nay thì phương pháp dạy học là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Phương pháp là khâu có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng đào tạo. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta. Trong quá trình nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, các nhà lý luận dạy học trên thế giới đã khẳng định vai trò to lớn và ý nghĩa quan trọng của xu hướng dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của người học đối với quá trình nhận thức và giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Do đó, xu hướng dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh đang trở thành phương châm hành động của hầu hết giáo viên và được quan tâm chú trọng hơn bao giờ hết. Qua thực tế giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông chúng tôi nhận thấy: Thơ Đường là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm thơ Đường được ra đời từ rất lâu (khoảng từ thế kỉ VII đến thế kỉ X), cách chúng ta hơn mười thế kỉ, đến với thế hệ học sinh phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách về thời gian. Vì thế, giáo viên gặp khó khăn trong quá trình soạn giáo án, học sinh ít hứng thú, khó tiếp cận, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ. Vấn đề đặt ra là phải có những biện pháp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học thơ Đường, để những thi phẩm đời Đường sẽ chảy mãi, đọng mãi trong lòng người học, người đọc.
  • 9. 8 2. Mục đích nghiên cứu: Như chúng ta đều biết, dạy Văn nói chung và dạy thơ Đường nói riêng là một công việc đầy gian nan, thử thách. Những bài thơ Đường được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 7 Trung học cơ sở và Ngữ văn lớp 10 Trung học phổ thông là những tác phẩm đặc sắc của thơ cổ Trung Quốc, của văn học nhân loại. Làm sao để học sinh chủ động lĩnh hội cái hay, cái đẹp của một bài thơ Đường thông qua việc chỉ đạo, hướng dẫn của người thầy theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy và học đã được ghi trong Luật Giáo Dục- 2005, điều 24.2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đây là một câu hỏi khó giải đáp, đòi hỏi người thầy phải nỗ lực phấn đấu, không ngừng học hỏi, kết hợp với niềm say mê văn chương và lòng yêu nghề mới có thể từng bước nâng cao hiệu quả trong giảng dạy thơ Đường. Thơ Đường thể hiện những tình cảm có tính tiêu biểu, tượng trưng hơn là cái cá thể, cá biệt. Nhà thơ thường không nói hết, không nói trực tiếp hết ý của mình mà để cho người đọc suy nghĩ, cảm thụ. Ngôn ngữ thơ Đường tinh luyện, hàm súc mà lại có dư ba, lời ít ý nhiều, ý ở ngoài lời. Bởi vậy, giảng dạy thơ Đường cho học sinh lớp 7 Trung học cơ sở và học sinh lớp 10 Trung học phổ thông quả là một công việc đầy thử thách. Cái khó lớn nhất là phải vượt qua hàng rào ngôn ngữ để hiểu và cảm cái hay, cái đẹp, sự thâm thuý của những bài thơ cổ nổi tiếng của các nhà thơ Trung Quốc. Do đó, chọn đề tài “Dạy học thơ Đường ở trường Phổ thông theo hướng tích cực”, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu, cụ thể hóa vấn đề lí luận phương pháp dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thơ Đường ở trường Phổ thông thông qua việc tìm tòi, khám phá những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập, giúp học sinh chủ động tìm hiểu cái hay, cái đẹp của thơ Đường, tạo hứng thú cho các em khi tiếp xúc với tinh hoa văn hoá của nhân loại.
  • 10. 9 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Là đỉnh cao của thơ ca cổ điển Trung Quốc, là tinh hoa văn hoá của nhân loại nên hơn 1000 năm qua, thơ Đường đã có bề dày nghiên cứu, phê bình của nhiều tác giả thuộc nhiều thế hệ. Họ nghiên cứu thơ Đường dưới nhiều góc độ khác nhau: nội dung tư tưởng, ý nghĩa xã hội của thơ Đường; hình thức thơ Đường dưới góc nhìn của thi pháp học, thể loại và ngôn ngữ,…với một số công trình nghiên cứu nổi bật: Quyển Thơ Đường của giáo sư Lê Đức Niệm trình bày khái quát về văn học đời Đường và tập trung đi sâu vào con người và thơ của ba tác giả tiêu biểu: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Quyển Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc của viện sĩ LX. Lixevích do Trần Đình Sử dịch, viện sĩ đã đề cập đến tư tưởng chung của thơ Đường (Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo) Quyển Thi pháp thơ Đường – một số phương diện chủ yếu của Nguyễn Thị Bích Hải, Luận án PTSKH Ngữ văn (Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội), 1996. Quyển Thi pháp thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải, Nxb Thuận Hóa,1997 Với công trình nghiên cứu về “Thi pháp thơ Đường”, Nguyễn Thị Bích Hải nói khá rõ về ba lĩnh vực thi pháp: con người, không gian và thời gian. Tác giả cho rằng: con người gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên, ở giữa thiên nhiên, mọi hành động, suy tư của con người đều được thiên nhiên cảm ứng. Con người đó xuất hiện trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời, đầu đội trời, chân đạp đất- nối đất với trời. Ta ít khi thấy nhà thơ xuất hiện với tư cách là một cái tôi- cá nhân, bởi con người đó là con người siêu cá thể. Tiếng nói của họ hoà âm với nhịp điệu của vũ trụ. Không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ Đường cũng đa phần là không gian, thời gian vũ trụ. Bầu trời, thiên nhiên là cái nền của thơ Đường, thời gian thì được quan niệm như dòng chảy liên tục, tuần hoàn không nghỉ và con người cũng liên tục bị cuốn theo dòng tuần hoàn đó. Quyển Về thi pháp thơ Đường của Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nxb Đà Nẵng, 1997.
  • 11. 10 Ở công trình nghiên cứu này, Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử đề cập đến những vấn đề cơ bản về không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Đường. Các tác giả cho rằng: không gian trong thơ Đường là không gian của vũ trụ, không gian to lớn, vĩ mô của những đất trời, nhật nguyệt, nam bắc, đông tây…. Về thời gian thì xuất hiện năm phạm trù: thời gian siêu mệnh cá thể, thời gian vũ trụ, tự nhiên, thời gian siêu nhiên, thời gian sinh hoạt, thời gian lịch sử. Ngoài ra, nghiên cứu thơ Đường trong lịch trình phát triển thì có quyển “Lịch sử văn học Trung Quốc, tập hai”, nghiên cứu về tác giả có “Lý Bạch tứ tuyệt” của Phạm Hải Anh; “Thơ Đỗ Phủ” của Trần Xuân Đề….Nghiên cứu về thể loại lại có “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại, “Đến với Đường thi tuyệt cú” của PGS. TS Hồ Sĩ Hiệp… Thơ Đường đã được đưa vào sách giáo khoa Trung học cơ sở từ năm 1989, song đến nay những công trình nghiên cứu về nó vẫn chưa thật sự phong phú, phần lớn các nhà nghiên cứu tiếp nhận thơ Đường bằng con đường khám phá, tìm hiểu nội dung, bút pháp nghệ thuật và bàn về những vấn đề lịch sử văn học, nội dung, nghệ thuật, thể loại,… của thơ Đường. Đặc biệt, khía cạnh về phương pháp dạy học những bài thơ Đường rất ít được đề cập đến. Do điều kiện khảo sát còn hạn chế, dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu nổi bật có liên quan đến đề tài nghiên cứu: Quyển Thơ Đường trong nhà trường do Trần Ngọc Hưởng biên soạn, tác giả tuyển chọn một số bài thơ Đường và một số bài phân tích, bình giảng về các bài thơ đó, nhằm giúp học sinh hiểu và nắm bắt chính xác những bài thơ Đường có trong chương trình phổ thông. Quyển Thơ Đường ở trường phổ thông do PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp tuyển chọn và biên soạn, Nxb Văn nghệ, TP.HCM, 1995 Quyển Giúp học tốt Văn học Trung Quốc trong nhà trường của PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp, Nxb Đồng Nai, 1998 Quyển Văn học Trung Quốc với nhà trường (tiểu luận) của PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp, Nxb ĐHQG TP. HCM, 2006
  • 12. 11 Quyển Giảng văn văn học châu Á trong trường Phổ thông, Nguyễn Thị Bích Hải, Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, NXB Thuận Hóa, Huế, 2002 Quyển Bình giảng thơ Đường: Theo sách giáo khoa Ngữ văn mới, Nguyễn Thị Bích Hải, NXB Giáo dục, HN, 2005 Quyển Thơ Đường bình giải của Nguyễn Quốc Siêu, Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ 5 năm 2005 Tuy nhiên, những cuốn sách, những công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu chỉ đề cập đến thơ Đường ở khía cạnh thi pháp; phân tích, bình giảng nội dung, nghệ thuật chứ chưa đi sâu vào việc nghiên cứu phương pháp giảng dạy thơ Đường theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy, ở luận văn này, chúng tôi sẽ thực hiện công việc đó với hi vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả dạy và học thơ Đường trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu của luận văn gồm các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ Văn phổ thông: 1) Vọng Lư sơn bộc bố- Lí Bạch (Ngữ Văn lớp 7, tập 1) 2) Tĩnh dạ tứ- Lý Bạch (Ngữ văn lớp 7, tập 1) 3) Hồi hương ngẫu thư- Hạ Tri Chương (Ngữ văn lớp 7, tập 1) 4) Mao ốc vị thu phong sở phá ca- Đỗ Phủ (Ngữ văn lớp 7, tập 1) 5) Phong Kiều dạ bạc- Trương Kế (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 7, tập 1) 6) Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng- Lý Bạch (Ngữ văn lớp 10, tập 1) 7) Thu hứng- Đỗ Phủ (Ngữ văn lớp 10, tập 1) 8) Hoàng Hạc lâu- Thôi Hiệu (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1) 9) Khuê oán- Vương Xương Linh (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1) 10) Điểu minh giản- Vương Duy (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1)
  • 13. 12 Ngoài các bản dịch thơ trong Sách giáo khoa, ở một số bài thơ, chúng tôi còn sưu tầm, khảo sát thêm một số bản dịch thơ của các dịch giả khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu để đối chiếu và bổ sung. Từ đó, giúp chúng tôi làm sáng tỏ hơn biện pháp dạy học tích cực cần trình bày. 5. Phương pháp nghiên cứu: Với việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp chính sau:  Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu các bản dịch theo hai hướng: so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa và so sánh giữa các bản dịch thơ của các dịch giả với nhau.  Phương pháp phân tích: Phân tích thơ, phân tích từ ngữ trong các bản dịch để thấy được chỗ đạt, chưa đạt của các bản dịch.  Phương pháp vận dụng lý luận thi pháp học thơ Đường để tiếp cận các tác phẩm về đặc điểm nội dung, đặc trưng thể loại và hình thức nghệ thuật.  Phuơng pháp điều tra, thăm dò, thống kê, phân tích: điều tra, thăm dò ý kiến của các giáo viên Trung học cơ sở, Trung học phổ thông để rút ra những thụân lợi, khó khăn của việc dạy và học thơ Đuờng; thống kê, phân tích để đánh giá thực trạng dạy và học thơ Đuờng ở trường phổ thông hiện nay.  Phương pháp thực nghiệm qua việc thiết kế giáo án và giảng dạy ở trường Trung học phổ thông. 6. Đóng góp mới của luận văn: Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học thơ Đường thông qua việc tiếp cận sâu văn bản, giáo viên không chỉ hướng dẫn học sinh so sánh, đối chiếu bản dịch thơ với phiên âm, dịch nghĩa mà còn hướng dẫn học sinh khảo sát, sưu tầm và so sánh một số bản dịch thơ tiêu biểu của các dịch giả khác nhau. Bên cạnh đó, việc khám phá chất Đường thi ở các bình diện thi đề, thi ý và thi tứ qua hệ thống câu hỏi gợi mở liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo, kết hợp với những bài tập
  • 14. 13 trong hoạt động thảo luận nhóm, sẽ xóa bỏ phần nào những khó khăn khi học sinh tiếp cận với thơ Đường, giúp học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo và tích cực học tập; tạo hứng thú cho các em khám phá cái hay, cái đẹp của thơ Đường- một trong những tinh hoa văn hóa của nhân loại. 7. Kết cấu của luận văn: Ngoài các phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Tài liệu tham khảo” và “Phụ lục”, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận dạy và học thơ Đường theo hướng tích cực 1.1. Vài nét về thơ Đường 1.2. Tính tích cực trong dạy học nói chung và trong dạy học thơ Đường Chương 2: Những biện pháp dạy và học thơ Đường theo hướng tích cực 2.1. Đọc sáng tạo văn bản 2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch 2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở Chương 3: Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông 3.1. Việc dạy và học thơ Đường ở trường Phổ thông hiện nay 3.1.1. Về chương trình Sách giáo khoa 3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy và học thơ Đường 3.2. Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông 3.2.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm 3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm 3.2.3. Tổ chức dạy học thực nghiệm
  • 15. 14 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN DẠY VÀ HỌC THƠ ĐƯỜNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 1.1. Vài nét về thơ Đường: 1.1.1. Khái niệm, phân loại: Thơ Đường hay Đường thi là những bài thơ của các thi sĩ Trung Hoa làm dưới thời nhà Đường, nổi tiếng nhất là 300 bài được gọi là Đường thi tam bách thủ. Trong số đó có một số bài được làm theo thể thơ Đuờng lụât, số còn lại làm theo các thể thơ khác, phần lớn là thơ cổ phong. Thơ Đuờng lụât chia làm 2 loại: thơ thất ngôn mỗi câu có 7 chữ, thơ ngũ ngôn mỗi câu có 5 chữ. Bài thơ nào có 8 câu thì gọi là bát cú, có 4 câu thì là tứ tuyệt, còn gọi là tuyệt cú. Như vậy có các loại thơ Đuờng luật sau đây: - Thất ngôn bát cú - Thất ngôn tứ tuyệt - Ngũ ngôn bát cú - Ngũ ngôn tứ tuyệt Trong các thể loại này, thơ Đuờng luật thất ngôn bát cú là thể loại phổ biến nhất. Về hình thức, thơ tứ tuyệt được xem như thơ bát cú đem giấu đi hai cặp câu và thơ ngũ ngôn được coi là thơ thất ngôn cắt bỏ hai chữ đầu mỗi câu. Vì vậy, chỉ cần biết luật thơ Đuờng luật thất ngôn bát cú thì có thể làm các loại thơ Đuờng luật khác. 1.1.2. Các quy tắc sáng tác thơ: 1.1.2.1. Luật bằng trắc: gồm có thanh, luật, niêm, vận. - Thanh luật là quy tắc xếp đặt thanh bằng và thanh trắc cho mỗi chữ trong một câu thơ theo luật lệ nhất định. Hệ thống thanh truyền thống có bình- thượng-
  • 16. 15 khứ- nhập. Bình thanh có trầm bình và phù bình. Trong phép làm thơ, thanh luật chia ra bằng/ trắc. Có hai thanh bằng gồm có trầm bình (dấu huyền) và phù bình (không dấu). Có bốn thanh trắc gồm phù thượng thanh (dấu ngã), trầm thượng thanh (dấu hỏi), phù khứ thanh (dấu sắc), trầm khứ thanh (dấu nặng). Ngoài ra còn có phù nhập thanh (dấu sắc), trầm nhập thanh (dấu nặng) dành riêng cho các tiếng đằng sau có phụ âm c, ch, p, t. - Luật của bài thơ thất ngôn bát cú căn cứ vào chữ thứ hai của câu thơ đầu. Thơ thất ngôn bát cú có thể được làm theo hai luật: Luật bằng và luật trắc. Bài thơ thất ngôn bát cú làm theo luật bằng nếu chữ thứ hai ở câu đầu thuộc thanh bằng và luật trắc nếu chữ thứ hai ở câu đầu thuộc thanh trắc. Căn cứ vào thanh của chữ cuối câu đầu, bài thơ còn thuộc vần bằng hay vần trắc. Từ hai luật và hai vần, ta có bốn dạng thơ thất ngôn bát cú: thơ luật bằng vần bằng, luật trắc vần bằng, luật bằng vần trắc và luật trắc vần trắc. Tuy nhiên, các thi nhân thường hay làm theo vần bằng, tức là luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng. Sau đây là bảng luật thơ: (Ghi chú: Kí hiệu B: thanh bằng phân minh, T: thanh trắc phân minh sẽ được nói đến ở luật “nhị tứ lục phân minh” ở phần tiếp theo) Luật bằng vần bằng: Hận biệt Đỗ Phủ 1) B B T T T B B (vần) 1. Lạc thành nhất biệt tứ thiên lý1 2) T T B B T T B (vần) 2. Hồ kỵ trường khu ngũ lục niên 3) T T B B B T T (đối câu 4) 3. Thảo mộc biến suy hành kiếm ngoại 4) B B T T T B B (vần) (đối câu 3) 4. Binh qua trở tuyệt lão giang biên 5) B B T T B B T (đối câu 6) 5. Tư gia bộ nguyệt thanh tiêu lập 6) T T B B T T B (vần) (đối câu 5) 6. Ức đệ khán vân bạch nhật miên 1 Theo luật bằng vần bằng, từ “lý” trong câu thơ thứ nhất phải vần với các từ niên- biên- miên- Yên và phải là vần bằng.
  • 17. 16 7) T T B B B T T 7. Văn đạo Hà Dương cận thặng thắng 8) B B T T T B B (vần) 8. Tư đồ cấp vị phá u Yên Hận biệt ly Đỗ Phủ Bốn nghìn dặm bỏ rơi thành Lạc Sáu bảy năm tràn mãi giặc Hồ Bến lạ chết già: đường lối nghẽn Ải ngoài chạy mệt cỏ cây thu Em xa mây bạc ngày nằm ngắm Nhà nhớ, trăng thanh tối đứng xo Nghe nói Hà Dương quân mới thắng Phá ngay Yên kế, cậy Tư Đồ. (Nhượng Tống dịch) Luật trắc vần bằng: Xuy địch Đỗ Phủ T T B B T T B (vần) 1. Xuy địch thu san phong nguyệt thanh B B T T T B B (vần) 2. Thùy gia xảo tác đoạn trường thanh B B T T B B T (đối câu 4) 3. Phong phiêu luật lữ tương hòa thiết T T B B T T B (vần) (đối câu 3) 4. Nguyệt bạng quan san kỷ xứ minh T T B B B T T (đối câu 6) 5. Hồ kỵ trung tiêu kham bắc tẩu B B T T T B B (vần) (đối câu 5) 6. Vũ Lăng nhất khúc tưởng nam chinh B B T T B B T 7. Cố viên dương liễu kim dao lạc T T B B T T B (vần) 8. Hà đắc sầu trung khúc tận sinh Thổi sáo Đỗ Phủ Non thu sáo thổi gió trăng trong Khéo lựa nhà ai tiếng mủi lòng
  • 18. 17 Gió lọt cung thương hòa xát nhịp Trăng soi ải núi sáng bao vùng Ngựa Hồ về Bắc đêm tan vỡ Khê Vũ sang Nam khúc não nùng Vườn cũ liễu giờ xơ xác hết Trời buồn chưa dễ nảy chồi đông. (Nhượng Tống dịch) Đối với thơ thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt (theo thể luật), quy tắc bằng trắc cũng có bốn dạng (luật bằng vần bằng, luật trắc vần bằng, luật bằng vần trắc và luật trắc vần trắc) tương tự như thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Sau đây là một số ví dụ: Luật bằng vần bằng: (thể thất ngôn tứ tuyệt) Lương Châu từ Vương Hàn B B T T T B B (vần) 1. Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, T T B B T T B (vần) 2. Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi. T T B B B T T 3. Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, B B T T T B B (vần) 4. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi? Lương Châu từ Vương Hàn Rượu bồ đào chén dạ quang Muốn say đàn đã rền vang giục rồi Sa trường say ngủ ai cười Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu. (Trần Trọng San dịch) Luật trắc vần bằng: (thể thất ngôn tứ tuyệt) Phong Kiều dạ bạc Trương Kế T T B B T T B (vần) 1. Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
  • 19. 18 B B T T T B B (vần) 2. Giang phong ngư hỏa đối sầu miên B B T T B B T 3. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự T T B B T T B (vần) 4. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền Đêm đậu thuyền ở Phong Kiều Trương Kế Trăng tà, chiếc quạ kêu sương Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ. Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San. (Tản Đà dịch) Luật bằng vần bằng: ( thể ngũ ngôn tứ tuyệt) Phần thượng kinh thu Tô Đĩnh B B T T B (vần) 1. Bắc phong xuy bạch vân T T T B B (vần) 2. Vạn lý độ hà Phần T T B B T 3. Tâm tự phùng dao lạc B B T T B (vần) 4. Thu thanh bất khả văn Ngại đến sông Phần Tô Đĩnh Mây bay gió núi thổi vi vu Sông Phần xa khuất, trời thu bẽ bàng Tơ lòng bao mối ngổn ngang Có ai nghe tiếng thu vàng xa xa? (Hải Đà dịch) Luật trắc vần bằng: (thể ngũ ngôn tứ tuyệt) Tảo khởi Lý Thương Ẩn T T T B B (vần) 1. Phong lộ đạm thanh thần B B T T B (vần) 2. Liêm gian độc khởi nhân B B B T T 3. Oanh đề hoa hựu tiếu
  • 20. 19 T T T B B (vần) 4. Tất cánh thị thùy nhân Dậy sớm Lý Thương Ẩn Gió êm sương nhạt sớm mai, Một mình thức dậy khoan thai trước mành. Hoa cười oanh nói trên cành, Gẫm xem xuân sắc trời dành cho ai (Trần Trọng Kim dịch) Luật thơ Đường rất khó, ngoại trừ những đại thi gia, còn phần nhiều các thi sĩ đôi khi còn bị thất niêm luật. Chính vì sự phức tạp của niêm luật nên vào thời Mạc Đường, các thi nhân đã nhiều lần tranh cãi và đã nêu ra lệ bất luận để giảm bớt tính cứng nhắc trong thơ Đường. Trong thơ thất ngôn, chữ thứ nhất, chữ thứ ba và chữ thứ năm không cần phải đúng luật «nhất, tam, ngũ bất luận». Trong Đường thi, tuyệt cú thể cổ là một thể thơ được ưa chuộng vì các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng, trắc,… trong khi thể luật thì quá khuôn phép, gò bó. Thi nhân đời Đường làm thơ theo thể tuyệt cú theo thể cổ để có thể bày biện được chỗ khoáng đạt trong lòng mà vẫn giữ được vẻ cổ kính, phiêu nhiên, cao nhã- những nét đặc trưng của thời đại thi ca này. - Niêm trong thơ Đường Luật được định nghĩa xem như là sự dính liền âm luật với nhau giữa hai câu thơ. Hai câu thơ được gọi là niêm với nhau khi chữ thứ hai và chữ thứ sáu của chúng cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc. Như thế bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Trong bài thơ thất ngôn bát cú, câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5 và câu 6 niêm với câu 7. Trong thơ tuyệt cú thể luật, câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3. Trường hợp xem là thất niêm (mất sự dính liền) là khi các câu trong bài thơ đặt để sai không theo luật đã định. Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, có câu 1 niêm với câu 8 (lộ- đế và thụ- mộ), câu 2 niêm với câu 3 (sơn- gian và tiêu- thiên), câu 4 niêm với câu 5 (thượng- cúc và địa- nhật), câu 6 niêm với
  • 21. 20 câu 7 (chu- y và viên- đao). Cặp câu 1 và câu 8, câu 4 và câu 5 là trắc niêm với trắc, hai cặp còn lại là bằng niêm với bằng: Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu Sơn, Vu giáp khí tiêu sâm. Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm. Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. Bài «Giang bạn độc bộ tầm hoa» của Đỗ Phủ là thơ tuyệt cú thể luật, có “tứ”(câu 1) niêm với “tại” (câu 4) và “mãn” (câu 1) niêm với “kháp” (câu 4); “hoa” (câu 2) niêm với “liên” (câu 3) và “chi” (câu 2) niêm với “thời” (câu 3). Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê, Thiên hoa vạn đóa áp chi đê. Lưu liên hí điệp thời thời vũ, Tự tại kiều oanh kháp kháp đề”. - Vận hay vần của bài thơ là vần của những chữ cuối câu. Đó là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hay nhiều câu thơ để hưởng ứng nhau, có tác dụng tạo ra nhạc tính cho câu thơ. Ví dụ: cương và sương. Các thi nhân sáng tác thơ Đường Luật thường làm theo vần bằng. Đối với thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ được làm theo vần bằng khi các chữ cuối câu 1, câu 2, câu 4, câu 6 và câu 8 phải là thanh bằng và cùng vần. Cả một bài thơ chỉ hiệp theo một vần gọi là gieo vần theo lối độc vận. Các chữ gieo vần tránh trùng nhau và phải hiệp vận cho đúng, nếu gieo sai gọi là lạc vận hay vận rụng, gieo vần gượng gạo ép chế không được hiệp cho lắm gọi là cưỡng vận hay gượng vận. Và như vậy theo vận luật thì không thể chấp nhận được. Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ làm theo luật trắc vần bằng, có 5 vần bằng được gieo ở câu đầu và các câu chẵn: lâm- sâm- âm- tâm- châm:
  • 22. 21 Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu Sơn, Vu giáp khí tiêu sâm. Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm. Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. Hai thể loại chủ yếu của thơ tuyệt cú là thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt được làm theo lối thơ luật hay thơ cổ phong. Nhân dựa vào lối thơ luật mà bài thơ tuyệt cú ngắt ra bốn câu (có từ hai đến ba vần bằng) thì gọi là tuyệt cú thể luật, còn nếu làm theo vần trắc không theo niêm luật thì gọi là tuyệt cú thể cổ. Do đó, luật sáng tác thơ tuyệt cú thể cổ có vẻ “rộng rãi” hơn, các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng, trắc, miễn là ý tứ sâu sắc, lời hay, ý đẹp và giàu âm điệu… Bài “Giang bạn độc bộ tầm hoa” của Đỗ Phủ được sáng tác theo thể luật, có ba vần bằng gieo ở câu đầu và hai câu chẵn thứ hai và thứ tư: Hoàng Tứ nương gia hoa mãn khê, Thiên hoa vạn đóa áp chi đê. Lưu liên hí điệp thời thời vũ, Tự tại kiều oanh kháp kháp đề Bài “Xuân hiểu” của Mạnh Hạo Nhiên sáng tác theo thể cổ, vận vần trắc không theo niêm luật: Xuân miên bất giác hiểu, Xứ xứ văn đề điểu. Dạ lai phong vũ thanh, Hoa lạc tri đa thiểu? 1.1.2.2. Quy tắc đối:
  • 23. 22 Đối là đặt hai câu đi song đôi với nhau cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng. Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu song nhau, có tác dụng nhấn mạnh, làm rõ hai ý đối nhau. Đối chữ tức là đối thanh nghĩa: bằng đối trắc, trắc đối bằng hay đối từ loại: danh từ đối danh từ, động từ đối động từ,… Đối thanh có tác dụng tạo nên tính nhạc trong thơ, tạo cho câu thơ có âm điệu êm đềm, thánh thót hay trầm bổng. Trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật, hai câu thực và hai câu luận phải đối với nhau (cả về ý và từ ngữ). Hai câu đề cũng như hai câu kết không phải đối nhau về ý và từ ngữ nhưng phải đối nhau về bằng trắc. Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ, hai câu đề có bằng đối trắc: Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, T T B B B T B Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm. B B B T T B B Về đối từ loại, hai câu thơ luận: «Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng/ Tái thượng phong vân tiếp địa âm» có danh từ đối danh từ: giang/ tái, ba lãng/ phong vân, thiên/ địa. Hai câu thơ này cũng đối nhau về ý, có tác dụng nhấn mạnh hai ý đối nhau: «Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời/ Trên cửa ải, mây sà xuống giáp mặt đất âm u» 1.1.2.3. Cấu trúc: Một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật có 4 phần. Phần mạo là mào đầu (vào bài) còn gọi là phần Đề, gồm phá đề (câu 1) dùng để mở bài và thừa đề ( câu 2) dùng để chuyển tiếp vào bài. Phần thực hay trạng (Gồm hai câu 3 và 4) dùng để giải thích, triển khai tựa đề cho rõ ràng. Phần luận (Gồm hai câu 5 và 6) dùng để bàn luận ý nghĩa của bài. Và phần kết (Gồm hai câu 7 và 8) dùng để tóm tắt ý nghĩa cả bài, bày tỏ tình cảm, thái độ. Ví dụ bài «Đăng cao» của Đỗ Phủ: Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai, Phần đề Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi. Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ, Phần thực Bất tận trường giang cổn cổn lai.
  • 24. 23 Vạn lý bi thu thường tác khách, Phần luận Bách niên đa bệnh độc đăng đài. Gian nan khổ hận phồn sương mấn, Phần kết Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi. Kết cấu của thơ tuyệt cú về cơ bản không khác luật thi bát cú, nghĩa là vẫn tuân theo trình tự: Đề( câu 1), Thực ( câu 2), Luận (câu 3) và Kết (câu 4). Với thủ pháp “khai môn kiến sơn” (mở cửa thấy núi) nên ngay từ câu thứ nhất (câu mở đề còn gọi là câu Khởi (Phá), tác giả thơ tuyệt cú phải vào đề ngay. Nghĩa là phần mở đề của bài thơ chỉ gói gọn trong một câu (trong luật thi thì hai câu). Đặc điểm của câu Khởi trong thơ tuyệt cú thường là giới thiệu không gian, thời gian, con người và sự việc trong năm chữ (ngũ ngôn tứ tuyệt) hay bảy chữ (thất ngôn tứ tuyệt). Ba câu sau là Thừa, Chuyển, Hạp. Ngôn ngữ uyển chuyển, biến hóa ở câu thơ thứ ba, nếu chỗ chuyển này mềm mại sẽ giữ được huyết mạch của toàn bài và làm cho câu cuối cùng hoặc vút lên cao ngất hoặc trôi đi như thuyền thuận nước… Chẳng hạn như bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lý Bạch: Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu, Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. Cô phàm viễn ảnh bích không tận, Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu. Bạn từ lầu Hạc lên đường. Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng. Bóng buồm đã khuất bầu không, Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. (Ngô Tất Tố dịch) Ở hai câu thơ đầu, Lý Bạch đã tái hiện lại khung cảnh của buổi chia tay: có không gian đưa tiễn (Hoàng Hạc lâu), thời gian đưa tiễn (yên hoa tam nguyệt), con người và sự việc (Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng). Đến câu thơ thứ
  • 25. 24 ba “Cô phàm viễn ảnh bích không tận”, với hình ảnh “cô phàm” và “bích không tận”, ông đã chuyển từ khung cảnh chia tay sang bày tỏ một cách kín đáo tâm tình của người đưa tiễn nhưng vẫn giữ được huyết mạch của toàn bài và làm cho câu cuối cùng vút lên cao ngất với hình ảnh “duy kiến Trường Giang thiên tế lưu”. Đó là một hình ảnh thơ kỳ vĩ nhưng ẩn chứa một nỗi niềm của tác giả. Ở đây người đọc đã cảm nhận được hai dòng sông: một dòng sông Trường Giang bao la đang chảy vào cõi trời và một dòng sông của nỗi nhớ bạn đang chảy trong tâm tư nhà thơ. Thơ tuyệt cú và thất ngôn bát cú Đường luật là một bộ phận quan trọng của thơ Đường. Nó có vị trí xứng đáng trong thi đàn thơ ca cổ điển Trung Quốc. Có thể nói, thơ tuyệt cú và thất ngôn bát cú Đường luật là một sự sáng tạo rất lớn của các nhà thơ đời Đường. Hai thể thơ này là kết quả của tư duy sáng tạo và nền học vấn thi cử với chủ trương “dĩ thi thủ sĩ” (lấy thơ để chọn nhân tài). Thơ Đường luật làm hay thật khó nhưng cũng có nhiều bài thơ tuyệt cú và thất ngôn bát cú đã vượt qua được thử thách để lưu truyền hàng nghìn năm với những vần thơ tuyệt đẹp, ngắn gọn, súc tích nhưng mang nội dung tư tưởng thật sâu sắc. Do đó, thơ Đường luật đẹp như một bông hoa trên cành thắm và mãi mãi là những viên ngọc sáng giá trên thi đàn Trung Quốc. 1.2. Tính tích cực trong dạy học nói chung và trong dạy học thơ Đường: 1.2.1. Tính tích cực trong dạy học: 1.2.1.1. Khái niệm: Khi nói về phương pháp day học, người ta thường sử dụng những thuật ngữ khác nhau: Phương pháp dạy học mới; phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm; phương pháp dạy học hiện đại; phương pháp day học tích cực... Mặc dù sắc thái của các thuật ngữ có khác nhau, nhưng theo chúng tôi, tất cả đều có chung một bản chất. Có thể quan niệm, phương pháp dạy học tích cực là:
  • 26. 25 - Là sự khơi dậy, phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh nhằm trau dồi tư duy sáng tạo và rèn trí thông minh trong quá trình chinh phục chân lý. - Là sự dạy và học mà trong đó thầy là người tổ chức, định hướng, tạo điều kiện; trò là người thực hiện, thi công. - Là sự dạy và học nhằm đạt được cả ba mục tiêu: Kiến thức, kỹ năng và thái độ trên cơ sở đánh giá, kiểm tra quá trình học tập. - Là sự dạy và học mà trong đó có sử dụng hiệu quả những phương tiện kỹ thuật hiện đại. Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là thay đổi cách dạy và cách học; chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong cách dạy này, học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Phương pháp này là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập. Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Tóm lại, phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học. Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy theo phương pháp thụ động. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Vì thế, giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
  • 27. 26 Có thể so sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học mới như sau: Bảng 1.1: Bảng so sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học mới Phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp dạy học mới Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm. Học là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin,…từ đó hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và chứng minh chân lí của giáo viên. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh đi tìm chân lí. Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Học chủ yếu để thi cử, sau khi thi xong, những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến. Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Phương pháp Các phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều. Các phương pháp tìm tòi, gợi mở, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác. Hình thức tổ chức Cố định, giới hạn trong lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp. Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở hiện trường, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm Ba mối quan hệ đồng thời được xác lập: giáo viên- học sinh, học sinh- giáo viên, học sinh- học sinh.
  • 28. 27 1.2.1.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực: a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh: Trong phương pháp dạy học tích cực, học sinh- đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua đó, học sinh tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, không thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, học sinh trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, đồng thời nắm được phương pháp kiến tạo kiến thức, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có mà có thể bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho học sinh lòng ham học và khơi dậy năng lực vốn có của mỗi học sinh, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác: Trong một lớp học, trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối. Do đó, ta buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao
  • 29. 28 tiếp thầy- trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh kiến thức. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, tăng tính khách quan khoa học trong việc lĩnh hội kiến thức của học sinh. Trong lớp học, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở các nhóm, các tổ, phổ biến nhất là các nhóm nhỏ (từ 2 đến 6 học sinh). Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động học tập theo nhóm nhỏ, tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ,… Hơn nữa, mô hình hợp tác trong xã hội được đưa vào đời sống học đường sẽ giúp học sinh quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, giúp các em học hỏi được nhiều kỹ năng mới để áp dụng vào cuộc sống sau này. d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà đồng thời còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên nên tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau, chẳng hạn sau khi học sinh trình bày kết quả thảo luận nhóm hay thuyết trình một vấn đề. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần thiết cho sự thành công trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh. Đặc biệt, theo xu hướng phát triển, để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.
  • 30. 29 1.2.2. Tính tích cực trong dạy học thơ Đường: Muốn dạy tốt tác phẩm thơ Đường, trước hết ta cần trực tiếp tiếp xúc với tác phẩm. Có thể nói đây là một yêu cầu nghiêm ngặt đối với cả giáo viên và học sinh khi dạy và học tác phẩm văn chương nói chung. Đặc biệt đối với thơ Đường, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm hoặc ngâm thơ Đường (phần phiên âm) để tạo không khí học tập tích cực và không khí Đường thi cho giờ dạy học. Một bài thơ Việt cổ đưa vào giảng dạy đối với học sinh đã là một yêu cầu khó, vì các nhà thơ thường thể hiện cảm xúc về con người, cuộc sống, thiên nhiên... thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua vần điệu, tiết tấu... Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên thơ thường lời ít, ý khôn cùng: “Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc bàn tay đang viết”, “Nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung động”. (Alfret de Mussé) Do đó, để hiểu và cảm được bài thơ, người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như nét đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ. Cảm nhận được nội dung, nghệ thuật mà tác giả muốn gởi gắm qua một bài thơ Việt cổ đã khó, huống chi khi tiếp xúc với thơ Đường của Trung Quốc, các em sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn. Tác phẩm thơ Đường bao giờ cũng có phần phiên âm chữ Hán, phần này học sinh rất khó hiểu nếu như không nắm chắc các yếu tố Hán Việt. Do đó, sách giáo khoa có đưa vào bản dịch nghĩa, dịch thơ để học sinh hiểu rõ hơn. Tuy nhiên, khi dạy thơ Đường, từ bản phiên âm chữ Hán đến bản dịch nghĩa và dịch thơ thì mặt ngôn từ đã có sự khác nhau khá xa khiến cho việc bám lấy ngôn từ để tìm hiểu, phân tích là rất khó. Vì thế, khi dạy thơ Đường, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa và dịch thơ, giúp các em vượt qua “rào cản” về ngôn ngữ, hiểu thấu đáo được lớp từ ngữ mà nhà thơ dùng làm công cụ để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Từ đó, học sinh mới có thể tích cực trong học tập, chủ động chiếm lĩnh nội dung và cảm nhận được nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm. Cùng với việc trực tiếp tiếp xúc với tác phẩm, giáo viên cần gợi ý cho học sinh tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tác phẩm. Tác phẩm văn chương bao giờ
  • 31. 30 cũng in đậm phong cách của tác giả và mang trên mình một dấu ấn lịch sử, văn hóa, xã hội nhất định. Vì vậy, việc tìm hiểu tác giả, bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác bao giờ cũng là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Sự hiểu biết về tác giả, về thời đại, về tập tục xã hội, về bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác sẽ giúp cho học sinh hiểu và cảm nhận tốt về tác phẩm. Điều này không dễ gì có được nếu học sinh không chủ động tìm tòi, học hỏi. Vì thế, giáo viên cần tạo không khí thi đua học tập, khuyến khích các em sưu tầm tranh ảnh, những đọan phim tư liệu, tìm kiếm những thông tin liên quan đến tác giả, nội dung bài học trong quá trình sọan bài hoặc làm bài tập thảo luận nhóm… theo sự hướng dẫn của giáo viên. Bên cạnh đó, thơ Đường có cấu trúc phong phú, đa dạng và mang một màu sắc rất riêng. Giáo viên cần hướng dẫn, gợi mở để giúp học sinh nhận ra những nét có tính chất thi pháp trong thơ Đường: - Đề tài thơ Đường thường trang trọng, cái tôi với tính chất “phi cá thể”, ước lệ trong thơ Đường rất phổ biến. - Trong quá trình thể hiện, thơ Đường thường thể hiện những nguyên tắc niêm- luật- vần- đối rất chặt chẽ để tạo sự hài hòa. - Ngôn ngữ thơ Đường hàm súc, “ý tại ngôn ngoại”, rất ít khi đi vào miêu tả chi tiết, thường mang nhiều tầng nghĩa gợi một màu sắc trí tuệ. Vì vậy khi dạy thơ Đường, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm chất “Đường thi”, trong đó nổi bật là thi đề, thi tứ và thi ý để học sinh có thể đi đúng hướng trong việc phân tích thơ Đường. Để làm được điều đó, giáo viên cần đối thoại, gợi tìm, tạo tình huống có vấn đề, gợi ý cho các em thảo luận nhóm bằng nhiều cách khác nhau để tạo không khí học tập cũng như tạo ra sự nổ vỡ trong trí não của các em. Ngoài ra, không riêng gì thơ Đường mà bất kì một tác phẩm văn học nào, khi giảng dạy, giáo viên cần đặt bài thơ đó trong hệ thống đề tài cùng với các bài thơ khác để học sinh chủ động tìm ra nét độc đáo của bài thơ trong sự khám phá, phát hiện về thiên nhiên và con người… Giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh sưu tầm, tìm hiểu thêm những bài thơ, những câu thơ cùng chủ đề với tác phẩm. Điều này
  • 32. 31 không chỉ giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm đang học mà còn giúp các em phát huy khả năng so sánh đối chiếu giữa văn bản này với văn bản khác, từ đó giúp học sinh có thể cảm thụ và ghi nhớ tác phẩm sâu sắc hơn. Cuối cùng, thơ Đường rất hàm súc, tương đối khó giảng, vì vậy, để học sinh học tập tích cực hơn, giáo viên cần trang bị thêm cho các em những tri thức cơ bản về thơ Đường, nói chuyện về thơ Đường trong giờ ngoại khóa hoặc chuyên đề tự chọn. Giáo viên có thể cho các em xem những tranh ảnh tư liệu, những đoạn phim liên quan đến các tác giả, tác phẩm,…để các em học tập hứng thú hơn, tích lũy được nhiều kiến thức hơn.
  • 33. 32 Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC THƠ ĐƯỜNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 2.1. Đọc sáng tạo văn bản: 2.1.1. Vấn đề đọc sáng tạo trong dạy học Văn: GS. Trần Đình Sử đã khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ Văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học”2 . Đáng tiếc là trong nhiều năm nay, đa số học sinh ở các trường Trung học phổ thông đã xem nhẹ việc đọc văn bản, rất ít học sinh đọc văn bản trước khi đến lớp, thậm chí khi giáo viên cho đọc văn bản tại lớp cũng không chú ý theo dõi. Việc học sinh xem nhẹ đọc tác phẩm đã làm hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo của chính mình, từ đó khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản, thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo. Như vậy, mấu chốt của vấn đề dạy học theo hướng tích cực và nâng cao hiệu quả cảm thụ văn học chính là ở việc đọc sáng tạo, diễn cảm văn bản văn học. Xuất phát từ mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng và đề cao ý thức chủ thể của học sinh, GS. Trần Đình Sử đã khẳng định “Trong giờ học, học sinh phải tự mình đọc, tự mình phán đoán, tự mình nêu câu hỏi…”; “trở về với văn bản chính là để kích thích cho học sinh hoạt động và chỉ thông qua hoạt động thì học sinh mới có dịp trưởng thành”. Đây là những quan điểm sư phạm khoa học và đúng đắn đối với việc tiếp cận môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Cùng quan điểm với GS. Trần Đình Sử, cố GS. Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh yêu cầu cần đạt được của việc đọc văn bản là phải nắm bắt trúng giọng điệu 2 Con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy-học văn (Văn nghệ số 10, ngày 7-3-2009)
  • 34. 33 của tác phẩm. Theo ông, “Sự phong phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng. Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt trúng được giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết. Bắt được giọng đã khó, làm cho học sinh cảm nhận được cái giọng càng khó, công việc này đòi hỏi sáng kiến và tài tình của giáo viên…”3 Tục ngữ có câu: “Ăn không nên đọi, nói không nên lời”. Không biết đọc diễn cảm, không tìm được ngữ điệu trong giảng bài, đó là sự bất lực của người thầy dạy văn. Có nhiều giáo viên có kiến thức, nhưng khi giảng bài, học sinh thấy chán, buồn ngủ bởi giáo viên đó thiếu khẩu khí, thiếu hơi văn, chưa bắt trúng được ngữ điệu, giọng điệu của văn bản. Như vậy, người thầy dạy văn giỏi, ngoài kiến thức cần phải có ngữ điệu, giọng điệu phù hợp, đa dạng. Có như vậy, tác phẩm mới tác động sâu vào cảm nhận của học sinh và góp phần quan trọng để phát huy tiềm lực, kích thích hứng thú học văn của học sinh. Ngữ điệu và giọng điệu trong dạy học văn trước hết được thể hiện ở khả năng đọc diễn cảm và ngữ điệu giảng bài của giáo viên. Đọc diễn cảm là ngoài việc đọc đúng quy tắc ngữ pháp, đúng đặc trưng thể loại, ta cần phải đọc diễn cảm tác phẩm với một giọng điệu riêng. Nắm bắt đúng giọng điệu của tác phẩm chính là nắm bắt đúng tư tưởng và tình cảm của tác giả. Tác phẩm trữ tình cần đọc khác với tác phẩm tự sự; đọc đoạn đối thoại khác đoạn độc thoại nội tâm; đọc văn chính luận khác với đọc bài tùy bút…Tuỳ từng văn bản cụ thể mà giáo viên và học sinh có thể chọn cho mình một “tông giọng” phù hợp. Có thể xem đọc diễn cảm là nghệ thuật của trình diễn. Đọc diễn cảm góp phần thể hiện sự xúc động của trái tim. Thơ là âm vang của cảm xúc. Việc đọc diễn cảm bài thơ làm cho tác phẩm thơ vang lên như một bản nhạc, làm cho nó ngân nga trong hồn người. Việc đọc diễn cảm thể hiện sự cảm thụ và thể nghiệm sâu sắc về tác phẩm, làm cho người khác cũng có thể sản sinh những tình cảm, những ấn tượng với tác phẩm như mình. 3 Giọng điệu trong văn chương, những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục, 2006
  • 35. 34 2.1.2. Biện pháp đọc sáng tạo các tác phẩm thơ Đường: Lâu nay, trong dạy học Văn nói chung và dạy học thơ Đường nói riêng, phần đọc diễn cảm bản dịch thơ ít được chú ý đúng mức bởi nhiều nguyên nhân từ phía giáo viên, học sinh và chương trình sách giáo khoa. Dạy Văn phải hướng đến giáo dục học sinh yêu Tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Tuy vậy, để dạy một tiết học thơ Đường thành công, trong đó có phần đọc diễn cảm vẫn còn là nỗi trăn trở đối với mỗi giáo viên trên bục giảng. Bởi lẽ, để dạy tốt phần luyện đọc diễn cảm, ta cần phải bảo đảm nhiều yếu tố và phối hợp nhiều hình thức dạy học sáng tạo từ phía giáo viên đến học sinh. Bên cạnh đọc bản phiên âm và bản dịch nghĩa, để đọc diễn cảm bản dịch thơ Đường, trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc đúng, rõ ràng, chính xác, sau đó, hướng dẫn học sinh thực hiện các yếu tố luyện đọc diễn cảm sau: - Ngắt nghỉ giọng đúng lúc, đúng chỗ, bộc lộ được ý tứ nội dung bài thơ: Khi đọc thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn. Sự phân chia lời ở dạng nói được hình thức hoá bằng chỗ ngắt giọng. Sự phân chia lời ở dạng viết được hình thức hoá bằng dấu câu. Chỗ ngắt giọng cũng là một căn cứ để người nghe xác định được ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp, nội dung bài thơ. Vì thế, khi dạy thơ Đường, giáo viên cần luyện ngắt giọng cho học sinh tùy thuộc vào thể loại thơ ngũ ngôn Đường luật, thơ thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú Đường luật…và cảm xúc của chủ thể trữ tình trong câu thơ cụ thể. - Nhịp điệu đọc thay đổi lúc chậm rãi, lúc dồn dập khẩn trương phù hợp với từng câu thơ: Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tốc độ đọc nhanh hay chậm, ngắt giọng một quãng ngắn hay ngừng lâu hơn bình thường, hay dừng không do lôgic ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, tập trung sự chú ý của người nghe vào từ ngữ sau chỗ ngừng hay vào nhãn tự của bài thơ.
  • 36. 35 - Cường độ đọc nhấn mạnh hay lướt nhẹ, âm lượng phát ra to hay nhỏ: Thơ là tiếng nói của tình cảm, phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn từ một cách cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh và giàu nhạc điệu. Vì thế, khi đọc phiên âm thơ Đường, cốt lõi phải làm sao tạo được tiếng vang, chú ý những chỗ cần nhấn mạnh hay lướt nhẹ, không nên đọc to quá hay nhỏ quá làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng nội dung của bài thơ và ẩn ý của tác giả gửi gắm, bọc kín sau lớp vỏ ngôn từ. - Thay đổi sắc thái giọng đọc cho phù hợp với tâm trạng của chủ thể trữ tình: Thông qua giọng đọc, người đọc có thể biểu hiện được những sắc thái tình cảm đa dạng của con người. Con người trong thơ Đường thường mang một “nỗi buồn thiên cổ” giữa không gian vũ trụ rộng lớn khôn cùng. Qua nỗi buồn thiên cổ ấy, người đọc tìm thấy một thế giới với những nỗi niềm tâm sự riêng tư, những quan niệm của cá nhân về hoàn cảnh, số phận cuộc đời… Đó là lời muốn nói trong sâu thẳm cõi lòng của biết bao nhiêu người trong cõi nhân thế về sự biệt ly, về nỗi nhớ quê hương sâu sắc,… Để học sinh có giọng đọc phù hợp, chính xác, giáo viên cần hướng dẫn các em chú ý đến tâm trạng của chủ thể trữ tình, chú ý những nhãn tự, các yếu tố nghệ thuật được tác giả sử dụng như: so sánh, nhân hoá, tương phản đối lập… - Nét mặt, điệu bộ khi đọc: Khi đọc thơ nói chung và đọc thơ Đường nói riêng, nếu thể hiện nét mặt, điêu bộ một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung bài thơ thì sẽ góp phần tạo nên sự truyền cảm đối với người nghe. Chẳng hạn như bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc như sau: Phần phiên âm: Chú ý nhịp 4/3, riêng câu 4 nhịp 2/5 Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi, Hương âm vô cải/ mấn mao tồi.
  • 37. 36 Nhi đồng tương kiến/ bất tương thức, Tiếu vấn/ Khách tòng hà xứ lai? Phần dịch thơ: chú ý sự khác nhau về nhịp ngắt ở các câu trong 2 bản dịch: Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ: Câu 1: nhịp 3/3 Câu 2: nhịp 4/4 Câu 3: nhịp 3/1/2 Câu 4: nhịp 2/4/2 Khi đi trẻ/ lúc về già, Giọng quê vẫn thế/ tóc đà khác bao. Trẻ con nhìn/ lạ/ không chào Hỏi rằng/: “Khách ở chốn nào/ lại chơi?” Bản dịch của Trần Trọng San: Câu 1: nhịp 2/4 Câu 2: nhịp 4/4 Câu 3: nhịp 2/4 Câu 4: nhịp 2/1/5 Trẻ đi/ già trở lại nhà Giọng quê không đổi/ sương pha mái đầu Gặp nhau/ mà chẳng biết nhau Trẻ cười/ hỏi:/ “Khách từ đâu đến làng?” Một vài lưu ý khi đọc: Cũng như các bài thơ tứ tuyệt khác, lời thơ rất hàm súc, giàu ý nghĩa biểu hiện, biểu cảm. Để thể hiện được tâm trạng của tác giả, ta cần đọc chậm rãi, chú ý phép đối trong hai câu thơ đầu. Câu cuối cần lên giọng, thể hiện sự ngạc nhiên của lũ trẻ, đồng thời cũng là sự hẫng hụt trong tình cảm của nhà thơ.
  • 38. 37 2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch: 2.2.1. Nghệ thuật dịch thơ Đường: Cũng như các tác phẩm văn học nước ngoài khác, khi dịch thơ Đường, phần lớn các nhà nghiên cứu đều lấy ba tiêu chuẩn TÍN, ĐẠT, NHÃ làm căn cứ để đánh giá một bản dịch. “Tín” tức là phải trung thành với nguyên tác, “đạt” là câu văn phải thông suốt, lưu loát, “nhã” là lời văn phải chau chuốt sao cho hay, đẹp, thanh thoát. Trong dịch thơ, người dịch cần phải đặt ba tiêu chí đó trong mối liên hệ chặt chẽ và giữ cân bằng ba tiêu chí ấy, không nên đề cao hay xem nhẹ một tiêu chí nào. Tuy nhiên, nếu theo đúng khuôn mẫu, phép tắc của ba tiêu chuẩn TÍN, ĐẠT, NHÃ thì việc dịch thơ sẽ khó khăn vô cùng. Vì thế, khi dịch thơ, đôi khi ta cũng cần có sự phóng khoáng, cởi mở và không gò bó hoàn toàn theo đúng khuôn phép, miễn sao tránh việc làm lệch lạc “ý” của bài thơ gốc. Điều đó có nghĩa ta cần phải lựa chọn từ ngữ để đem được cái “ý tưởng”, “tâm hồn” và “thần sắc” vào bài thơ dịch, để độc giả khi đọc bài thơ đó có thể cảm nhận được đúng cảm xúc, tư tưởng mà tác giả muốn truyền đạt. Thơ Đường là một thể thơ có đặc trưng mỹ học riêng, đặc trưng mỹ học đó thể hiện trước hết ở tính hàm súc, tinh luyện “Ý tại ngôn ngoại”, “Ngôn tận nhi ý bất tận”, “Ý đáo nhi bút bất đáo”, sau đó là ở kết cấu thơ hết sức chặt chẽ, quy định niêm, luật nghiêm ngặt (đối với thơ Đường luật),… Trong việc dịch thơ Đường luật, sự ràng buộc về mặt hình thức như vần, thanh điệu, số câu, số chữ trong mỗi câu,… có tác động rất lớn đến nội dung, tư tưởng của nguyên tác. GS. Nguyễn Khắc Phi đã từng nói: “Dịch thơ rất khó, dịch thơ Đường lại càng khó hơn, thơ càng hay dịch càng khó”. Các bản dịch thơ Đường được chọn giảng dạy trong Sách giáo khoa đều là những bản dịch tiêu biểu của những dịch giả lớn. Những bản dịch đó về cơ bản đã diễn tả được những nội dung, tình cảm của tác giả, có nhiều cái hay và sáng tạo riêng nhưng đôi lúc cũng có nhiều chỗ dịch chưa thật sát với nguyên tác, chưa thể hiện được “thần sắc” của bài thơ do sự ràng buộc về mặt hình thức như vần, thanh điệu, số câu, số chữ trong mỗi câu,…của thể thơ được chọn để chuyển dịch. Do đó,
  • 39. 38 khi dạy các bài thơ Đường, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh so sánh, phân tích để tìm ra cái hay và chỗ dịch chưa sát của bản dịch, từ đó giúp học sinh có thể hiểu đúng và cảm nhận bài thơ một cách sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, biện pháp này cũng góp phần phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh thông qua hoạt động tìm tòi, khảo sát và sưu tầm một số bản dịch của các dịch giả khác nhau để đối chiếu, so sánh. 2.2.2. Khảo sát, sưu tầm, so sánh các bản dịch: 2.2.2.1. Đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa: Đối với học sinh Trung học cơ sở, các em mới bước đầu học từ Hán Việt và tiếp xúc với các bài thơ Đường. Vì thế, giáo viên cần hướng dẫn các em đối chiếu từng từ ngữ trong bản phiên âm với bản dịch nghĩa. Sau đó, giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu bản dịch thơ trong sự so sánh, đối chiếu với bản phiên âm, đặc biệt chú ý vào những từ ngữ then chốt, giúp các em hiểu bài thơ một cách chính xác nhất. Khi đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa, để các em hoạt động tích cực và nhanh chóng hơn, không mất nhiều thời gian của tiết học, giáo viên có thể dùng hình thức phiếu học tập cá nhân, yêu cầu các em điền vào những chỗ trống. Sau đây là một ví dụ: Bảng 2.2: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa (Học sinh Trung học cơ sở) Phiên âm Dịch nghĩa TIÊU ĐỀ Phong Kiều tên địa danh dạ đêm bạc đỗ thuyền CÂU 1 nguyệt trăng lạc rơi, rụng ô con quạ đề kêu
  • 40. 39 sương sương mãn đầy thiên trời CÂU 2 giang sông phong cây phong ngư hỏa đèn chài đối quay về phía sầu buồn miên nằm ngủ CÂU 3 Cô Tô tên địa danh thành ngoại ngoài thành Hàn Sơn tự chùa Hàn Sơn CÂU 4 dạ bán nửa đêm chung cái chuông thanh tiếng, âm thanh đáo đến nơi khách thuyền thuyền khách Đối với học sinh Trung học phổ thông, các em đã được học từ Hán Việt và một số bài thơ Đường ở Trung học cơ sở, đặc biệt, khả năng tư duy đã phát triển hơn. Vì thế, trong phần đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa, giáo viên chỉ chọn lọc một số từ ngữ then chốt trong bài thơ. Bảng 2.3: Đối chiếu bản phiên âm và dịch nghĩa (Học sinh Trung học phổ thông) KHUÊ OÁN Vương Xương Linh Phiên âm Dịch nghĩa khuê phòng khuê oán oán trách
  • 41. 40 thiếu phụ người phụ nữ trẻ, có chồng ra trận bất tri sầu không biết buồn hốt kiến bỗng nhiên, bất chợt nhìn thấy hối hối hận, nuối tiếc giao trao cho, giao cho 2.2.2.2. Sưu tầm, đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa: Đối với học sinh Trung học cơ sở, khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản, giáo viên hướng dẫn các em đối chiếu bản dịch thơ (được tuyển chọn trong sách giáo khoa) với bản phiên âm, dịch nghĩa. Tuy nhiên, ở một vài trường hợp đặc biệt, những từ ngữ then chốt trong bài thơ mà bản dịch được chọn trong sách giáo khoa dịch chưa sát với nguyên tác, giáo viên có thể giúp học sinh tham khảo thêm ở một bản dịch khác. Đối với học sinh Trung học phổ thông, bên cạnh bản dịch thơ được tuyển chọn trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn các em sưu tầm thêm một vài bản dịch thơ của các dịch giả khác. Tùy theo điều kiện cụ thể về thời gian, về trình độ học sinh của từng lớp, giáo viên có thể linh hoạt hướng dẫn các em đối chiếu các bản dịch thơ đó dưới nhiều mức độ và cách thức khác nhau: Học sinh đối chiếu toàn bộ bài thơ hoặc chỉ đối chiếu những câu, những từ ngữ then chốt; học sinh có thể hoạt động độc lập hoặc làm theo tổ, theo nhóm; học sinh có thể thực hiện trong giờ học hoặc làm bài tập ở nhà, hoặc giáo viên tổ chức riêng một buổi học ngoại khóa, lớp học bồi dưỡng chuyên về thơ Đường cho học sinh… Với biện pháp này, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể trong chương thiết kế thể nghiệm, còn ở đây, chúng tôi tập trung đi sâu khảo sát, sưu tầm, đối chiếu bản dịch thơ của từng bài với bản phiên âm và dịch nghĩa. A- Chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở: 1) Bài “Vọng Lư sơn bộc bố” Lý Bạch
  • 42. 41 Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 望廬山瀑布 VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ 李白 Lý Bạch 日照香爐生紫煙, Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên 遙看瀑布掛前川。 Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. 飛流直下三千尺, Phi lưu trực há tam thiên xích 疑是銀河落九天。 Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên. Bản dịch nghĩa: XA NGẮM THÁC NÚI LƯ Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía, Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước. Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây. Bản dịch thơ: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây. (Bản dịch của Tương Như) Câu 1: 日 照 香 爐 生 紫 煙 Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên Dịch nghĩa: Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía Tương Như dịch: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Câu thơ đầu thể hiện sự đồng hiện trong một tổ chức ngôn ngữ chật hẹp cái vĩnh hằng của mặt trời (nhật), cái ổn định bất biến của núi (Hương Lô), cái lung linh, khả động, khả biến của sương khói (yên), kết hợp với ánh sáng (chiếu) với màu sắc (tử) với sự chuyển hóa (sinh) làm cho câu thơ đẹp một cách huy hoàng.
  • 43. 42 Thác là sản phẩm của tạo hóa, nó xuất phát từ núi non, nhờ núi non mà có. Nguyên lai của thác là: từ tự nhiên, sơn sinh ra thủy. Câu thơ nguyên tác của Lý Bạch đã khái quát một cách trực quan ý tưởng đó: “Nhật chiếu (tự nhiên) Hương Lô (sơn) sinh tử yên (thủy) Bản dịch thơ không dịch chữ “sinh” nên chưa thể hiện rõ thác là sản phẩm của tạo hóa và cảnh vật không vô tri vô giác mà đang chuyển động, rất có hồn như trong bản nguyên tác. Câu 2: 遙 看 瀑 布 掛 前 川 Dao khan bộc bố quải tiền xuyên Dịch nghĩa: Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước Tương Như dịch: Xa trông dòng thác trước sông này Từ “dao khan”, bản dịch nghĩa chỉ giải thích đúng và đủ. Đó là sự tối thiểu cần thiết: dao: xa, khan (khán): nhìn, xem. Tuy nhiên, nếu kết hợp với chữ “vọng” ở tên bài thơ, đặc biệt xét kỹ tứ thơ, ta có thể dịch “dao” là xa ngái, xa vời vợi, thậm chí là vòi vọi (xa theo hướng trông lên). Vậy hai chữ “dao khan” có thể dịch là vời trông, vời vợi trông hay đảo ngữ sẽ là trông vời, trông vời vợi, trông vòi vọi,… Trong thơ cổ, ta cũng có những câu như: “Trông vời mặt đất chân mây, Trông vời cố quốc tha hương, Vời trông còn tưởng cánh hồng chân mây…”. Tương Như dịch “dao khan” thành “xa trông” đã chuyển tải được thông tin, tư thế và khoảng cách người ngắm nhưng chưa truyền đạt được sự tương thông giữa cái tồn tại khách quan với tâm tình ngưỡng vọng của thi nhân. Câu thơ này còn có một cách hiểu khác. “Quải” là “treo”, “tiền xuyên” là “dòng sông phía trước”. Có người cho rằng “dòng sông phía trước” không phải chỉ vị trí nơi thác đổ xuống mà là hình ảnh dùng để so sánh với dòng thác nhìn từ xa. Nếu vậy, cả câu có nghĩa là: “Đứng xa trông dòng thác giống như một dòng sông treo trước mặt”. Khi đọc thơ, mỗi người có một cách hiểu và cách cảm nhận khác nhau. Tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa nào thì bản dịch thơ cũng đã đánh rơi mất chữ “treo”- chữ quan trọng nhất của câu thơ.
  • 44. 43 Câu 3: 飛 流 直 下 三 千 尺 Phi lưu trực há tam thiên xích Dịch nghĩa: Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước Tương Như dịch: Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước Câu thơ thứ ba đưa bài thơ trở lại động thái với một cường đột tăng đột khởi: “phi lưu” (tuôn xuống như bay, chảy như bay). Ở câu thơ này, ta phải kết hợp cả hai động từ “phi lưu” lại để diễn tả một tốc độ, năng lượng kì diệu của dòng thác. Hướng đổ của thác là “thẳng xuống” (trực há). Thác nước chảy thẳng từ một độ cao vòi vọi, chóng mặt: tam thiên xích. Với câu thơ này, Tương Như dịch hay và sát với nguyên tác. Câu 4: 疑 是 銀 河 落 九 天 Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên Dịch nghĩa: Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây Tương Như dịch: Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây Với câu thơ này, bản dịch thơ đã thể hiện được nội dung của bản nguyên tác. Tác giả tưởng tượng dòng thác như sông Ngân Hà rơi xuống từ chín tầng mây. Từ “nghi thị” (ngỡ là) thể hiện cảm giác ngỡ ngàng, không tin ở mắt mình. Trong trí tưởng tượng của tác giả, thác nước dường như không còn là dòng thác có thực mà là dòng thác của thần thoại, của tiên giới mang một vẻ đẹp huyền diệu, kỳ ảo. 2) Bài “Tĩnh dạ tứ” Lý Bạch Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 靜夜思 TĨNH DẠ TỨ 李白 Lý Bạch 床前明月光, Sàng tiền minh nguyệt quang, 疑是地上霜。 Nghi thị địa thượng sương. 舉頭望明月, Cử đầu vọng minh nguyệt,
  • 45. 44 低頭思故鄉。 Đê đầu tư cố hương. Bản dịch nghĩa: CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM THANH TĨNH Ánh trăng sáng đầu giường, Ngỡ là sương trên mặt đất. Ngẩng đầu ngắm vầng trăng sáng, Cúi đầu nhớ quê cũ. Bản dịch thơ: Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương. (Bản dịch của Tương Như) Về tựa đề của bài thơ, bài thơ có tựa đề là 靜夜思 Chữ 思có hai âm: “tư” và “tứ”. Từ trước đến nay, hầu hết các sách đều viết tựa đề bài thơ là “Tĩnh dạ tứ”. Tuy nhiên, theo Hán Việt từ điển, chữ “tứ” chỉ có thể nêu được ý tứ, thi tứ; chữ “tư” mới nêu được cảm xúc, sự nghĩ ngợi, các vấn đề thuộc về tâm như tưởng tượng, ghi nhớ, suy xét... Căn cứ vào mạch cảm xúc của toàn bài thơ, đặc biệt là câu thơ cuối: “Đê đầu tư cố hương”, ta nên đặt tựa đề cho bài thơ là “Tĩnh dạ tư” sẽ hợp lý và hay hơn. Câu 1: 床 前 明 月 光 Sàng tiền minh nguyệt quang Dịch nghĩa: Ánh trăng sáng đầu giường Tương Như dịch: Đầu giường ánh trăng rọi Ở câu thơ này, bản dịch của Tương Như chưa dịch chữ “minh”, chưa thể hiện được vẻ đẹp của ánh trăng sáng vằng vặc và làm nhạt sự liên tưởng của bài thơ: Ánh trăng sáng nhà thơ mới nhầm là sương. Tuy nhiên, với chữ “quang”, Tương Như dịch thành từ “rọi”. Khác với “sáng”, “chiếu”- trạng thái tự nhiên của
  • 46. 45 trăng, từ “rọi” còn có thêm ý nghĩa: Ánh trăng đi tìm thi nhân như đi tìm bạn tri âm, tri kỷ. Do đó, bản dịch thơ của Tương Như rất hay và sáng tạo với từ “rọi”. Câu 2: 疑 是 地 上 霜 Nghi thị địa thượng sương Dịch nghĩa: Ngỡ là sương trên mặt đất Tương Như dịch: Ngỡ mặt đất phủ sương Với câu thơ này, bản dịch thơ đã dịch sát với nguyên tác, thể hiện được mối liên hệ nguyên nhân- kết quả giữa ánh trăng và sương mặt đất: chính ánh trăng sáng vằng vặc đầu giường đã khiến tác giả lầm tưởng chính là sương phủ trên mặt đất. Câu 3: 舉 頭 望 明 月 Cử đầu vọng minh nguyệt Dịch nghĩa: Ngẩng đầu ngắm vầng trăng sáng Tương Như dịch: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Đối với câu thơ này, ta nên lưu ý từ “vọng”. “Vọng” là hướng về một phía bằng cả đôi mắt và tâm hồn. Tương Như dịch “vọng” thành “nhìn”. “Nhìn” hay “trông” chỉ là một động tác sinh lý của mắt. Do đó, thiết nghĩ ta nên dịch “vọng” thành “ngắm”- động tác “nhìn” với tâm hồn và sự thưởng thức hòa nhập cái nhìn từ bên trong sẽ tăng thêm sức biểu cảm cho câu thơ. Câu 4: 低 頭 思 故 鄉 Đê đầu tư cố hương Dịch nghĩa: Cúi đầu nhớ quê cũ Tương Như dịch: Cúi đầu nhớ cố hương Câu thơ này, Tương Như đã dịch sát với nguyên tác. 3) Bài “Hồi hương ngẫu thư” Hạ Tri Chương Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 回鄉偶書 HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ 賀知章 Hạ Tri Chương
  • 47. 46 少小離家老大迴, Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi, 鄉音無改鬢毛摧。 Hương âm vô cải mấn mao tồi. 兒童相見不相識, Nhi đồng tương kiến bất tương thức 笑問客從何處來。 Tiếu vấn: “Khách tòng hà xứ lai?” Bản dịch nghĩa: NGẪU NHIÊN VIẾT NHÂN BUỔI MỚI VỀ QUÊ Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về Giọng quê không đổi nhưng tóc mai đã rụng Trẻ con gặp mặt, không quen biết, Cười hỏi: “Khách ở nơi nào đến?” Bản dịch thơ: Khi đi trẻ, lúc về già, Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao. Trẻ con nhìn lạ không chào, Hỏi rằng: “Khách ở chốn nào lại chơi?” (Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ) Trẻ đi, già trở lại nhà Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu Gặp nhau mà chẳng biết nhau Trẻ cười hỏi: “Khách từ đâu đến làng?” (Bản dịch của Trần Trọng San) Câu 1: 少 小 離 家 老 大 迴 Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi Dịch nghĩa: Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về Phạm Sĩ Vĩ dịch: Khi đi trẻ, lúc về già Trần Trọng San dịch: Trẻ đi, già trở lại nhà
  • 48. 47 Đối với câu thơ thứ nhất: “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi”, về nội dung, hai bản dịch thơ trên đã dịch sát với nguyên tác và cơ bản không có gì khác nhau. Câu 2: 鄉 音 無 改 鬢 毛 摧 Hương âm vô cải mấn mao tồi Dịch nghĩa: Giọng quê không đổi nhưng tóc mai đã rụng Phạm Sĩ Vĩ dịch: Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao Trần Trọng San dịch: Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu Đối với cụm từ “hương âm vô cải”, các bản dịch cũng dịch khá thành công, sát với nguyên tác nhưng đến cụm từ “mấn mao tồi” thì có một điều ta cần lưu ý: Phạm Sĩ Vĩ dịch “mấn mao tồi” thành “tóc đà khác bao”, Trần Trọng San dịch “sương pha mái đầu”. Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ chỉ mới thể hiện được sự thay đổi của mái tóc, bản dịch của Trần Trọng San chỉ thể hiện được tóc đã bạc chứ chưa thể hiện được nét nghĩa “tóc mai đã rụng” của chữ “tồi” trong bản nguyên tác. Ở câu thơ này, ta có thể tham khảo thêm bản dịch của Trần Trọng Kim: “Bé đi, già mới về nhà, Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa” So với các hai bản dịch trên, bản dịch của Trần Trọng Kim dịch “mấn mao tồi” thành “tóc đà rụng thưa” sát với nguyên tác hơn. Cách dịch như vậy thể hiện rõ nhất sự đối lập: Ông từ giã quê hương ra đi để tìm công danh sự nghiệp vào những năm còn trai trẻ, và trải qua bao thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ tóc đã rụng thưa nhưng giọng nói quê cũ của ông chẳng bao giờ đổi thay, chứng tỏ ông vẫn luôn gắn bó tha thiết với quê hương cho dù phải sống tha phương xa cách ngàn trùng. Câu 3 và 4: 兒 童 相 見 不 相 識, Nhi đồng tương kiến bất tương thức 笑 問 客 從 何 處 來。 Tiếu vấn: “Khách tòng hà xứ lai?” Dịch nghĩa: Trẻ con gặp mặt, không quen biết, Cười hỏi: “Khách ở nơi nào đến?”
  • 49. 48 Phạm Sĩ Vĩ dịch: Trẻ con nhìn lạ không chào/ Hỏi rằng: “Khách ở chốn nào lại chơi?” Trần Trọng San dịch: Gặp nhau mà chẳng biết nhau/ Trẻ cười hỏi: “Khách từ đâu đến làng?” Với hai câu thơ này, bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ, Trần Trọng San dịch khá thành công. Tuy câu chữ của bản dịch có khác nhau nhưng đều thể hiện được sự ngạc nhiên, sự hồn nhiên và phản ứng tất yếu của bọn trẻ khi trông thấy một vị khách lạ đến thăm làng. Và chính sự ngạc nhiên của “nhi đồng” với hành động “tiếu vấn” ấy đã khiến tác giả cảm thấy ngậm ngùi bởi sự việc thật trớ trêu: Trở về nơi chôn nhau cắt rốn mà lại bị xem như một người khách lạ. 4) Bài “Phong Kiều dạ bạc” Trương Kế Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 楓橋夜泊 PHONG KIỀU DẠ BẠC 張繼 Trương Kế 月落烏啼霜滿天,Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, 江楓漁火對愁眠。Giang phong ngư hoả đối sầu miên. 姑蘇城外寒山寺,Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, 夜半鐘聲到客船。Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Bản dịch nghĩa: ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở PHONG KIỀU Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời, (Khách) nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bên sông. Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô, Nửa đêm tiếng chuông văng vẳng vọng đến thuyền khách. Bản dịch thơ: Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
  • 50. 49 Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ. Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn. (Bản dịch của Tản Đà) Câu 1, 2 : 月 落 烏 啼 霜 滿 天 Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên 江 楓 漁 火 對 愁 眠 Giang phong ngư hoả đối sầu miên Dịch nghĩa: Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời (Khách) nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bên sông Tản Đà dịch: Trăng tà chiếc quạ kêu sương Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ Ở hai câu thơ này, Tản Đà đã dịch rất tài hoa và sáng tạo. Bản dịch thơ đã miêu tả được khung cảnh mùa thu ở một bến vắng dưới cầu Phong (Phong Kiều) buồn lạnh và cô đơn- một khung cảnh chỉ hiện lên qua vài nét chấm phá mà thành một bức tranh có màu sắc, đường nét và âm thanh: trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời. Nội dung toát lên qua hai câu thơ này là cảnh buồn, người buồn như Nguyễn Du từng nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Câu 3 và 4: 姑 蘇 城 外 寒 山 寺, Cô Tô thành ngoại Hàn San tự 夜 半 鐘 聲 到 客 船。 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền Dịch nghĩa: Chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô, Nửa đêm tiếng chuông văng vẳng vọng đến thuyền khách. Tản Đà dịch: Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
  • 51. 50 Nếu như Tản Đà đã rất tài hoa và sáng tạo trong việc dịch hai câu thơ đầu thì đến hai câu thơ sau, ông đã nhầm bến Phong Kiều là bến Cô Tô và cũng chưa diễn đạt được vai trò chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San, cụ thể là ông đã biến chủ thể vốn là tiếng chuông thành chủ thể là chiếc thuyền của lữ khách. Trương Kế đã kết hợp hai thủ pháp nghệ thuật truyền thống của thơ Đường là lấy động để tả tĩnh và mượn âm thanh để truyền hình ảnh. Câu thơ dịch của Tản Đà đã phần nào làm nhòa sự ngân vang của tiếng chuông trong đêm yên tĩnh. Ở hai câu thơ này, ta có thể tham khảo thêm bản dịch của Trần Trọng San: NỬA ĐÊM ĐẬU BẾN PHONG KIỀU Trăng tà, tiếng quạ vẳng sương rơi, Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài Ngoài lũy Cô Tô, chùa vắng vẻ, Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai. B- Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông: 1) Bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” Lý Bạch 黃鶴樓送孟浩然之廣陵 李白 Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 故人西辭黃鶴樓, Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu, 煙花三月下陽州。 Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. 孤帆遠影碧空盡, Cô phàm viễn ảnh bích không tận, 惟見長江天際流。 Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu. Bản dịch nghĩa: TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía Tây,
  • 52. 51 Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói. Bóng cánh buồm lẻ loi xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc, Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời. Bản dịch thơ: * Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa: Bạn từ lầu Hạc lên đường, Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng. Bóng buồm đã khuất bầu không, Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. (Bản dịch của Ngô Tất Tố) * Bản dịch sưu tầm: Bản dịch thứ nhất: Phía Tây bạn biệt Hạc lâu Tháng ba trẩy xuống Dương Châu thuận dòng Cánh buồm bóng hút màu không Trông xa trắng xóa nước sông bên trời. (Bản dịch của Trần Trọng Kim) Bản dịch thứ hai: Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau. (Bản dịch của Trần Trọng San) Đối chiếu, so sánh: Câu 1: 故 人 西 辭 黃 鶴 樓 Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu Dịch nghĩa: Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía Tây Ngô Tất Tố dịch: Bạn từ lầu Hạc lên đường Trần Trọng Kim dịch: Phía Tây bạn biệt Hạc lâu
  • 53. 52 Trần Trọng San dịch: Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu Ngô Tất Tố và Trần Trọng Kim dịch từ “cố nhân” thành “bạn”. Cách dịch này chưa thể hiện được chiều dài thời gian, bề dày kỉ niệm và chiều sâu tình cảm của hai người bạn gắn bó, tri âm, tri kỷ. Với từ “cố nhân”, Trần Trọng San dịch sát nguyên tác nhất. Ngoài ra, ở câu thơ này, ta cần lưu ý một điểm: Bản dịch của Ngô Tất Tố và Trần Trọng San không dịch “phía Tây”. Thật ra, khi nói về không gian đưa tiễn, từ chỉ phương hướng phía Tây rất quan trọng. Theo quan niệm của người xưa, phía Tây là nơi gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết. Do đó, nó có tác dụng gợi lên khung cảnh thần tiên của nơi đưa tiễn. Câu 2: 煙 花 三 月 下 陽 州 Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu Dịch nghĩa: Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói Ngô Tất Tố dịch: Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng Trần Trọng Kim dịch: Tháng ba trẩy xuống Dương Châu thuận dòng Trần Trọng San dịch: Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu Với cụm từ “yên hoa, tam nguyệt” ở câu thơ thứ hai, các bản dịch thơ đã dịch “tháng ba, mùa hoa khói” sát với bản nguyên tác và dịch nghĩa. Riêng bản dịch của Trần Trọng Kim, ông dịch thiếu yếu tố “yên hoa” nên không gợi lên được cái không gian xa xôi và sự mông lung hư ảo của thành Dương Châu- thắng cảnh phồn hoa bậc nhất đời Đường. Bản dịch của Ngô Tất Tố lại thiếu yếu tố “tam nguyệt” nên chưa thể hiện rõ khoảng thời gian đưa tiễn là vào tháng 3. Câu 3: 孤 帆 遠 影 碧 空 盡 Cô phàm viễn ảnh bích không tận Dịch nghĩa: Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc Ngô Tất Tố dịch: Bóng buồm đã khuất bầu không Trần Trọng Kim dịch: Cánh buồm bóng hút màu không Trần Trọng San dịch: Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc
  • 54. 53 Trong câu thơ này, ta cần lưu ý so sánh, đối chiếu từ “cô phàm”. Ngô Tất Tố, Trần Trọng San dịch từ này thành “bóng buồm”, Trần Trọng Kim dịch thành “cánh buồm”. Như vậy, các dịch giả đã bỏ mất từ “cô”, khiến cho bản dịch thơ không thể hiện rõ được sự đối lập giữa không gian mênh mông của dòng sông và bầu trời với con thuyền cô đơn, lẻ loi như đang tan vào cõi hư vô. Câu 4: 惟 見 長 江 天 際 流 Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu Dịch nghĩa: Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời Ngô Tất Tố dịch: Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời Trần Trọng Kim dịch: Trông xa trắng xóa nước sông bên trời Trần Trọng San dịch: Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau Ở câu thơ cuối, với từ “duy kiến”, bản dịch của Ngô Tất Tố, Trần Trọng San đã dịch sát nguyên bản; bản dịch của Trần Trọng Kim chưa dịch rõ. Từ “duy kiến” có tác dụng nhấn mạnh sự việc sau khi “Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc”, nhà thơ chỉ còn thấy duy nhất một dòng sông Trường Giang đang chảy vào cõi trời cho dù mùa xuân trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược. Qua đó, ta thấy tấm lòng đã định hướng cho đôi mắt, nhà thơ chỉ hướng đôi mắt vào con thuyền đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên, vào dòng sông ly biệt để thể hiện một niềm luyến tiếc bâng khuâng và sự bất lực, không níu kéo được hình ảnh người bạn. Với cụm từ “thiên tế lưu”, hầu hết các bản dịch đều chưa lột tả được “thần thái” của nó như trong bản nguyên tác. Cái chất “thiên tế lưu” của dòng Trường Giang không chỉ thể hiện được cơn sóng dữ dội trong lòng của người đưa tiễn mà còn tô đậm hồn thơ lãng mạn, kỳ vĩ của “thi tiên”. Hình ảnh “dòng sông bên trời”, “nước sông bên trời”, “Trường Giang vẫn chảy mau” trong các bản dịch thơ đã chưa thật sự làm rõ được ý này. 2) Bài “Thu hứng”- Đỗ Phủ Bản chữ Hán: Bản phiên âm:
  • 55. 54 秋興 Thu hứng 杜甫 Đỗ Phủ 玉露凋傷楓樹林, Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, 巫山巫峽氣蕭森。 Vu Sơn, Vu giáp khí tiêu sâm. 江間波浪兼天湧, Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, 塞上風雲接地陰。 Tái thượng phong vân tiếp địa âm. 叢菊兩開他日淚, Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, 孤舟一繫故園心。 Cô chu nhất hệ cố viên tâm. 寒衣處處催刀尺, Hàn y xứ xứ thôi đao xích, 白帝城高急暮砧。 Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. Bản dịch nghĩa: CẢM XÚC MÙA THU Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong, Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt. Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời. Trên cửa ải, mây sà xuống giáp mặt đất âm u. Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước, Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ. Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét, Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn dập. Bản dịch thơ: * Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa: Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa. Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
  • 56. 55 Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà. Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước, Thành Bạch, chày vang bóng ác tà. (Bản dịch của Nguyễn Công Trứ) * Bản dịch sưu tầm: Bản dịch thứ nhất: Vàng úa rừng phong, hạt móc bay, Non Vu hiu hắt phủ hơi may. Dòng sông cuồn cuộn, trời tung sóng, Ngọn ải mờ mờ, đất rợp mây. Lệ tủi: sợ coi chòm cúc nở, Lòng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy. Giục ai kéo thước lo đồ lạnh, Đập vải trời hôm rộn tiếng chày. (Bản dịch của Ngô Tất Tố) Bản dịch thứ hai: Móc trắng rừng phong vẻ úa gầy, Vu Sơn, Vu Giáp khí thu dày. Lòng sông sóng tận lưng trời nhảy, Đầu ải mây sà mặt đất bay. Lệ cũ nở hai mùa cúc đó, Lòng quê buộc một chiếc thuyền đầy. Nơi nơi áo lạnh đòi dao thước, Bạch Đế thành hôm rộn tiếng chày. (Bản dịch của Khương Hữu Dụng) Đối chiếu, so sánh:
  • 57. 56 Câu 1: 玉 露 凋 傷 楓 樹 林 Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm Dịch nghĩa: Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong Nguyễn Công Trứ dịch: Lác đác rừng phong hạt móc sa Ngô Tất Tố dịch: Vàng úa rừng phong, hạt móc bay Khương Hữu Dụng dịch: Móc trắng rừng phong vẻ úa gầy Với từ “ngọc lộ”, bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ, Ngô Tất Tố dịch thành “hạt móc”, “móc” nên chưa thể hiện được hình ảnh “ngọc lộ” (sương móc trắng xóa) đã làm héo hon, điêu tàn một rừng phong bao la. Khương Hữu Dụng dịch thành “móc trắng rừng phong” là sát với nguyên bản nhất. Từ “điêu thương”, mỗi bản dịch đều có một cách dịch riêng: Ngô Tất Tố dịch thành “vàng úa”, Khương Hữu Dụng lại dịch “úa gầy”. Bản dịch nào cũng có sáng tạo riêng. Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ thì bỏ mất chữ này trong bản dịch. Do đó, câu thơ “Lác đác rừng phong hạt móc sa” tuy hay nhưng chưa thể hiện được màu sắc buồn thương, tiêu điều, tàn tạ của không gian núi rừng. Câu 2: 巫 山 巫 峽 氣 蕭 森 Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm Dịch nghĩa: Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt Nguyễn Công Trứ dịch: Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa Ngô Tất Tố dịch: Non Vu hiu hắt phủ hơi may Khương Hữu Dụng dịch: Vu Sơn, Vu Giáp khí thu dày Trong câu thơ này, bản dịch của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Trứ đã bỏ mất Vu Giáp. “non Vu” và “ngàn non” chỉ thể hiện được núi Vu chứ chưa gợi lên hình ảnh kẽm Vu- khoảng không gian giữa hai vách núi kề nhau, tạo thành một khe núi có sườn dốc và độ sâu rợn ngợp; bản dịch của Khương Hữu Dụng dịch đủ cả Vu Sơn và Vu Giáp. Với từ “tiêu sâm”, bản dịch của Khương Hữu Dụng chưa dịch rõ. Do đó, chưa thể hiện được màu sắc buồn thương, tàn tạ, hiu hắt của trời thu, khí thu. Ngô
  • 58. 57 Tất Tố dịch: “Non Vu hiu hắt phủ hơi may” và Nguyễn Công Trứ dịch: “Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa” sát với nguyên bản. Câu 3: 江 間 波 浪 兼 天 湧 Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng Dịch nghĩa: Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời Nguyễn Công Trứ dịch: Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm Ngô Tất Tố dịch: Dòng sông cuồn cuộn, trời tung sóng Khương Hữu Dụng dịch: Lòng sông sóng tận lưng trời nhảy Nhìn chung, các bản dịch trên chưa dịch sát nghĩa chữ “dũng” (vọt ra, vọt lên): Ngô Tất Tố dịch thành “trời tung sóng”, Nguyễn Công Trứ dịch “sóng rợn lòng sông thẳm”, Khương Hữu Dụng dịch thành “sóng tận lưng trời nhảy”. Các động từ “tung”, “rợn”, “nhảy” không gợi sức mạnh của những đợt sóng bằng từ “vọt” nên chưa khắc họa rõ nét hình ảnh dữ dội, hoành tráng của những đợt sóng giữa lòng sông cuồn cuộn vọt lên, vỗ tận lưng trời. Câu 4: 塞 上 風 雲 接 地 陰 Tái thượng phong vân tiếp địa âm Dịch nghĩa: Trên cửa ải, mây sà xuống giáp mặt đất âm u Nguyễn Công Trứ dịch: Mặt đất mây đùn cửa ải xa Ngô Tất Tố dịch: Ngọn ải mờ mờ, đất rợp mây Khương Hữu Dụng dịch: Đầu ải mây sà mặt đất bay Trừ bản dịch của Khương Hữu Dụng, hai bản dịch còn lại chưa dịch rõ nghĩa động từ “tiếp”. Do đó chưa thể hiện được hình tượng thơ kì vĩ, sóng và mây đối nhau, sóng vọt lên trời cao, mây sà xuống đất thấp. Từ “địa âm” (mặt đất âm u), Ngô Tất Tố dịch thành “đất”, Nguyễn Công Trứ, Khương Hữu Dụng dịch “mặt đất” đã bỏ mất từ “âm”, làm giảm sức biểu cảm của câu thơ về một cảnh thu âm u, tiêu điều. Câu 5: 叢 菊 兩 開 他 日 淚 Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
  • 59. 58 Dịch nghĩa: Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước Nguyễn Công Trứ dịch: Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ Ngô Tất Tố dịch: Lệ tủi: sợ coi chòm cúc nở Khương Hữu Dụng dịch: Lệ cũ nở hai mùa cúc đó Các bản dịch trên đều chưa dịch được từ “lưỡng khai” (nở rồi lại nở). Ngô Tất Tố dịch “lưỡng khai” thành “nở”, Nguyễn Công Trứ bỏ mất cả hai chữ “lưỡng khai” trong bản dịch. Khương Hữu Dụng dịch: “Lệ cũ nở hai mùa cúc đó” sẽ gây khó hiểu cho người đọc bởi cụm từ “lệ cũ nở” và “hai mùa cúc” vì thật ra là “lệ cũ tuôn”, “hoa cúc hai lần nở”. Người đọc sẽ rất khó nhận ra ý nghĩa của câu thơ: Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước. Với từ “tha nhật lệ”, bản dịch của Nguyễn Công Trứ và Khương Hữu Dụng dịch sát với bản nguyên tác “dòng lệ cũ”. Ngô Tất Tố dịch thành “lệ tủi” sẽ không thể hiện rõ dụng ý đồng nhất hiện tại và quá khứ của tác giả: cúc hai lần nở hoa cũng chính là hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau, giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ của quá khứ năm xưa. Tuy nhiên, ở câu thơ này, cũng có người hiểu “tha nhật lệ” là hoa nhỏ lệ, cúc nở hoa như nhỏ lệ, thể hiện sự đồng nhất giữa cảnh và tình. Câu 6: 孤 舟 一 繫 故 園 心 Cô chu nhất hệ cố viên tâm Dịch nghĩa: Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ Nguyễn Công Trứ dịch: Con thuyền buộc chặt mối tình nhà Ngô Tất Tố dịch: Lòng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy Khương Hữu Dụng dịch: Lòng quê buộc một chiếc thuyền đầy Với câu thơ này, ta cần lưu ý từ “cô chu”. Các bản dịch chỉ dịch thành “chiếc thuyền”, “con thuyền” nên không gợi lên được hình ảnh con thuyền lẻ loi, mang chở tâm tình cô đơn của con người. Từ “cố viên tâm” (tấm lòng nhớ nơi vườn cũ), Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng dịch thành “lòng quê”, Nguyễn Công Trứ dịch thành “mối tình nhà”. Ở đây
  • 60. 59 không có khu vườn hiện hữu mà là khu vườn trong tâm hồn nhà thơ, thể hiện nỗi nhớ quê hương sâu sắc. Bản dịch nào cũng có cái hay và sự sáng tạo riêng nhưng đều bỏ mất từ “cố”. Do đó, không thể hiện rõ thời điểm hiện tại tác giả đang sống xa quê hương và đang nhớ về quê cũ. Câu 7: 寒 衣 處 處 催 刀 尺 Hàn y xứ xứ thôi đao xích Dịch nghĩa: Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét Nguyễn Công Trứ dịch: Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước Ngô Tất Tố dịch: Giục ai kéo thước lo đồ lạnh Khương Hữu Dụng dịch: Nơi nơi áo lạnh đòi dao thước Bản dịch của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Trứ đều chưa dịch được từ “xứ xứ”. Do đó chưa thể hiện được cảnh sinh hoạt ở thành Bạch Đế “Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét”. Bản dịch của Khương Hữu Dụng chưa thể hiện rõ khung cảnh rộn ràng, nhộn nhịp may áo rét. “Thôi đao xích” như thúc giục khiến nhà thơ đứng ngồi không yên. Đây là chi tiết có sức gợi cảm đặc biệt, nhất là đối với người lữ khách tha hương vì nó gợi cảnh đoàn tụ đầm ấm với việc sửa soạn cắt may áo rét. Câu 8: 白 帝 城 高 急 暮 砧 Bạch Đế thành cao cấp mộ châm Dịch nghĩa: Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn dập Nguyễn Công Trứ dịch: Thành Bạch, chày vang bóng ác tà Ngô Tất Tố dịch: Đập vải trời hôm rộn tiếng chày Khương Hữu Dụng dịch: Bạch Đế thành hôm rộn tiếng chày Với câu thơ này, bản dịch của Ngô Tất Tố bỏ mất địa danh thành Bạch Đế. Bản dịch của Nguyễn Công Trứ chưa dịch từ “cấp”, do đó chưa làm hiện lên cảnh nhộn nhịp may áo rét với tiếng chày đập vải dồn dập lúc chiều thu. 3) Bài “Hoàng Hạc lâu”
  • 61. 60 Thôi Hiệu Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 黃鶴樓 HOÀNG HẠC LÂU 崔顥 Thôi Hiệu 昔人已乘黄鶴去 Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ, 此地空餘黄鶴樓 Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu. 黄鶴一去不復返 Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản, 白雲千載空悠悠 Bạch Vân thiên tải không du du. 晴川歷歷漢陽樹 Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, 芳草萋萋鸚鵡洲 Phương thảo thê thê Anh Vũ châu. 日暮鄉關何處是 Nhật mộ hương quan hà xứ thị, 煙波江上使人愁 Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Bản dịch nghĩa: LẦU HOÀNG HẠC Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi, Nơi đây chỉ còn trơ lại lầu Hoàng Hạc. Hạc vàng một khi đã bay đi, không bao giờ trở lại. Mây trắng ngàn năm còn bay chơi vơi. Hàng cây đất Hán Dương phản chiếu rõ mồn một trên dòng sông tạnh, Trên bãi Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn xanh tươi, Chiều tối (tự hỏi) đâu là quê hương? Khói và sóng trên sông làm cho người buồn. Bản dịch thơ:
  • 62. 61 * Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa: Bản dịch thứ nhất: Hạc vàng ai cưỡi đi đâu, Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. Hạc vàng đi mất từ xưa, Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay. Hán Dương sông tạnh cây bày, Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non, Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai? (Bản dịch của Tản Đà) Bản dịch thứ hai: Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút, Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi! Hạc vàng một đã đi, đi biệt, Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi. Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng, Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời, Hoàng hôn về đó, quê đâu tá? Khói sóng trên sông não dạ người. (Bản dịch của Khương Hữu Dụng) * Bản dịch sưu tầm: Bản dịch thứ nhất: Người đi cưỡi hạc từ xưa, Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu. Hạc vàng đi mất đã lâu Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông. Hán Dương cây bóng lòng sông Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì
  • 63. 62 Chiều hôm lai láng lòng quê Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu. (Bản dịch của Trần Trọng Kim) Bản dịch thứ hai: Xưa cánh hạc bay vút bóng người Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi Trắng một màu mây, vạn vạn đời Trên bến Hán Dương còn nắng chiếu Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi Gần xa chiều xuống, đâu quê quán? Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi! (Bản dịch của Vũ Hoàng Chương) Bản dịch thứ ba: Người xưa cưỡi hạc đã cao bay, Lầu hạc còn suông với chốn này. Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn, Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay. Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng, Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dày. Trời tối quê hương đâu tá nhỉ? Đầy sông khói sóng gợi niềm tây. (Bản dịch của Ngô Tất Tố) Bản dịch thứ tư: Người xưa cưỡi hạc bay đi mất Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây Hạc đã một đi không trở lại Man mác muôn đời mây trắng bay Hán Dương sông tạnh cây in thắm
  • 64. 63 Anh Vũ bờ thơm cỏ biếc đầy Chiều tối quê nhà đâu chẳng thấy Trên sông khói sóng gợi buồn ai. (Bản dịch của Trần Trọng San) Đối chiếu, so sánh: Bài thơ “Hoàng Hạc lâu” đã được rất nhiều nhà chuyên khảo Hán học uyên bác, các học giả tiền bối Việt Nam và các thi sĩ say mê Đường thi dịch với những bản dịch trác tuyệt, phong phú và tài hoa. Mỗi dịch giả có một phong cách sáng tạo và cách dịch thâm thúy khác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng với những nhận thức tinh tế, những cảm xúc nghệ thuật và rung động thẩm mĩ. Trên đây là một vài bản dịch tiêu biểu nhất. Ở câu thơ đầu, một số bản dịch thơ của các dịch giả chưa dịch sát nghĩa chữ “tích nhân”: Vũ Hoàng Chương dịch “tích nhân” trong câu “Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ” thành: “Xưa cánh hạc bay vút bóng người”. Mặc dù trong câu thơ ấy cũng có yếu tố “người” và “xưa” nhưng nó không mang ý nghĩa “người xưa” là chủ thể của hành động “cưỡi hạc vàng bay đi” mà nó diễn tả một sự việc đã qua: cánh hạc đã bay vút bóng người từ xưa rồi. Tản Đà, Khương Hữu Dụng dịch chữ “tích nhân” thành một đại từ phiếm chỉ “ai”, Trần Trọng Kim dịch là “người đi” cũng chưa sát nguyên tác. So với các bản dịch trên, bản dịch của Ngô Tất Tố, Trần Trọng San dịch thành “người xưa” vừa sát với bản nguyên tác, làm nên nền tảng tồn tại cho một tâm thức cá thể, để con người phải suy tư trầm ngâm đi tìm về cái xa xưa đã trôi vào quá khứ của thời gian. Ở câu thơ thứ ba: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản”(Hạc vàng một khi đã bay đi, không bao giờ trở lại), Tản Đà dịch thành: “Hạc vàng đi mất từ xưa”, Trần Trọng Kim dịch: “Hạc vàng đi mất đã lâu”. Tản Đà và Trần Trọng Kim đã không dịch từ “bất phục phản” do đó chưa thể hiện được rõ ý nghĩa hạc vàng bay đi không bao giờ trở lại. Người đời, việc đời nói chung thì cái gì cũng mòn mỏi, cũng qua đi, cũng xóa nhòa, không quay trở lại, chỉ có trời đất là tồn tại vĩnh cửu. Các bản dịch khác của các dịch giả còn lại về cơ bản đã dịch sát với nguyên tác: “Hạc vàng một
  • 65. 64 đã đi, đi biệt” (Khương Hữu Dụng), “Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi” (Vũ Hoàng Chương), “Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn”(Ngô Tất Tố), “Hạc đã một đi không trở lại”(Trần Trọng San)… Ở hai câu luận: “Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ/ Phương thảo thê thê Anh Vũ châu” (Hàng cây đất Hán Dương phản chiếu rõ mồn một trên dòng sông tạnh/ Trên bãi Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn xanh tươi), nhìn chung, các bản dịch đã dịch đạt yêu cầu: “Hán Dương sông tạnh cây bày/ Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non”(Tản Đà dịch), “Hán Dương cây bóng lòng sông/ Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì”(Trần Trọng Kim dịch), “Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng/ Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời”( Khương Hữu Dụng dịch)… Riêng bản dịch của Vũ Hoàng Chương: “Trên bến Hán Dương còn nắng chiếu/ Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi” chưa thể hiện rõ hai hình ảnh “xuyên” và “thụ” cũng như hình ảnh tươi mát “phương thảo thê thê”(cỏ thơm mơn mởn xanh tươi). Do đó, người đọc khó cảm nhận một cách sâu sắc không gian cuộc sống mang không khí, hơi thở của con người; có sự tồn tại của thiên nhiên, sông núi, cỏ cây ngạt ngào hương sắc, tạo ra một hình ảnh sống động tương giao trong vũ trụ, đem lại sức mạnh lâng lâng gợi cảm vô hình. Hai câu kết: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Chiều tối (tự hỏi) đâu là quê hương? Khói sóng trên sông làm cho người buồn). Từ “nhật mộ”, Tản Đà, Khương Hữu Dụng dịch thành “hoàng hôn”, Trần Trọng Kim dịch thành “chiều hôm”, Vũ Hoàng Chương dịch “chiều xuống”, Ngô Tất Tố dịch “trời tối”, Trần Trọng San dịch “chiều tối”. Bản dịch nào cũng có cái hay và nét sáng tạo riêng, đều gợi trong lòng người nhiều cảm xúc khi chiều xuống. Với từ “yên ba”, hầu hết các dịch giả đã dịch đạt yêu cầu. Tuy nhiên, bản dịch của Vũ Hoàng Chương: “Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi” thì mới thể hiện được hình ảnh “sóng” chứ chưa thể hiện được hình ảnh của “khói sóng”. 4) Bài “Khuê oán” Vương Xương Linh Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 閨怨 KHUÊ OÁN
  • 66. 65 王昌齡 Vương Xương Linh 閨中少婦不知愁, Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu, 春日凝妝上翠樓。 Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu. 忽見陌頭楊柳色, Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, 悔教夫婿覓封侯。 Hối giao phu tế mịch phong hầu. Bản dịch nghĩa: NỖI OÁN PHÒNG KHUÊ Người thiếu phụ nơi phòng khuê không biết buồn Ngày xuân trang điểm xong bước lên lầu biếc. Hoảng hốt nhìn thấy màu cây dương liễu đầu đường Hối hận đã khuyên chồng đi lính để kiếm ấn phong hầu Bản dịch thơ: * Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa: Bản dịch thứ nhất: Trẻ trung nàng biết chi sầu, Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương. Nhác trông vẻ liễu bên đường, Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi. (Bản dịch của Tản Đà) Bản dịch thứ hai: Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu, Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu. Đầu đường chợt thấy màu dương liễu, Hối để chàng đi kiếm tước hầu. (Bản dịch của Nguyễn Khắc Phi) * Bản dịch sưu tầm: Bản dịch thứ nhất: Cô gái phòng the chửa biết sầu Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
  • 67. 66 Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu Hối để chồng đi kiếm tước hầu (Bản dịch của Ngô Tất Tố) Bản dịch thứ hai: Ngày xuân trang điểm má hồng Lên chơi gác thúy, nàng không biết sầu Đường xa, kìa liễu xanh mầu Xui chồng đi giật tước hầu, dại chưa! (Bản dịch của Vũ Hoàng Chương) Đối chiếu, so sánh: Câu 1: 閨 中 少 婦 不 知 愁 Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu Dịch nghĩa: Người thiếu phụ nơi phòng khuê không biết buồn Tản Đà dịch: Trẻ trung nàng biết chi sầu Nguyễn Khắc Phi dịch: Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu Ngô Tất Tố dịch: Cô gái phòng the chửa biết sầu Vũ Hoàng Chương dịch: Ngày xuân trang điểm má hồng Qua các bản dịch trên, ta thấy các bản dịch của Tản Đà, Vũ Hoàng Chương đều không dịch chữ “khuê trung”. Từ “khuê trung” có sức biểu cảm lớn, nó không những chỉ thể hiện được không gian phòng khuê- nơi ở sang trọng của người thiếu phụ mà còn gợi nên sự suy nghĩ ở người đọc ngay từ tựa đề bài thơ: người thiếu phụ được ở nơi khuê phòng sang trọng như vậy tại sao lại sầu oán? Tản Đà dịch “thiếu phụ” thành “nàng”, Ngô Tất Tố dịch “thiếu phụ” thành “cô gái”, riêng Nguyễn Khắc Phi giữ nguyên từ “thiếu phụ”. Từ “thiếu phụ” thể hiện được sắc thái trang trọng của bài thơ, mang ý nghĩa chỉ người phụ nữ trẻ, có chồng ra trận. Còn các từ như “nàng”, “thiếu nữ”, “cô gái” thì không gợi được nét nghĩa đó vì nó chỉ là những từ mang ý nghĩa chỉ người con gái nói chung.
  • 68. 67 Câu 2: 春 日 凝 妝 上 翠 樓 Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu Dịch nghĩa: Ngày xuân trang điểm xong bước lên lầu biếc Tản Đà dịch: Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương Nguyễn Khắc Phi dịch: Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu Ngô Tất Tố dịch: Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu Vũ Hoàng Chương dịch: Lên chơi gác thúy, nàng không biết sầu Tất cả các bản dịch trên đều không dịch chữ “ngưng” trong câu thơ “Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu”. Thật ra, chữ “ngưng” giữ một vị trí rất quan trọng, nó thể hiện được sự tiếp nối giữa công việc này với công việc khác. Lẽ thường, người phụ nữ sau khi trang điểm xong thì sẽ đi chơi xuân, còn đằng này người thiếu phụ lại bước lên lầu biếc. Qua đó ta thấy được sự khác thường, sự bế tắc, cô đơn của người thiếu phụ khi chồng đã ra trận. Nàng làm đẹp cho mình rồi tự thưởng thức một mình, suốt ngày chỉ quanh quẩn nơi chốn phòng khuê, không có ai làm bầu bạn để cùng du xuân, cùng chia sẻ, tâm sự những nỗi niềm. Các bản dịch khác không dịch chữ “ngưng” nên chỉ có thể gợi lên ý nghĩa việc trang điểm vào ngày xuân là một việc làm quen thuộc của người thiếu phụ. Câu 3: 忽 見 陌 頭 楊 柳 色 Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc Dịch nghĩa: Hoảng hốt nhìn thấy màu cây dương liễu đầu đường Tản Đà dịch: Nhác trông vẻ liễu bên đường Nguyễn Khắc Phi dịch: Đầu đường chợt thấy màu dương liễu Ngô Tất Tố dịch: Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu Vũ Hoàng Chương dịch: Đường xa, kìa liễu xanh mầu Về chữ “hốt kiến”, bản dịch nghĩa dịch thành “hoảng hốt”. Nhưng theo Hán Việt từ điển, “hốt” có nghĩa là bỗng nhiên, bất chợt nói đến sự nhanh chóng tức thì, không có sự chủ ý của con người. Bản dịch thơ của Nguyễn Khắc Phi và Ngô Tất Tố dịch theo Hán Việt từ điển. Vũ Hoàng Chương dịch thành: “Đường xa kìa liễu
  • 69. 68 xanh màu” chưa làm rõ nghĩa từ “hốt”. Tản Đà thì lại dịch: “Nhác trông vẻ liễu bên đường”. Từ “nhác” mang ý nghĩa “hoảng sợ” và “nhìn thoáng qua từ xa” hơn là “chợt nhìn thấy”. Với từ “hốt” trong bài thơ này, thiết nghĩ ta nên chọn cách dịch của Nguyễn Khắc Phi và Ngô Tất Tố. Cách dịch này vừa đúng với nghĩa của từ “hốt” lại vừa phù hợp với ngữ cảnh của bài thơ: Ngày xuân, người thiếu phụ sau khi trang điểm xong, nàng bước lên lầu biếc rồi chợt nhìn thấy màu cây dương liễu đầu đường. Câu 4: 悔 教 夫 婿 覓 封 侯 Hối giao phu tế mịch phong hầu Dịch nghĩa: Hối hận đã khuyên chồng đi lính để kiếm ấn phong hầu Tản Đà dịch: Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi Nguyễn Khắc Phi dịch: Hối để chàng đi kiếm tước hầu Ngô Tất Tố dịch: Hối để chồng đi kiếm tước hầu Vũ Hoàng Chương dịch: Xui chồng đi giật tước hầu, dại chưa! Trong câu thơ cuối cùng, ta cần lưu ý từ “hối”. Bản dịch của Tản Đà, Vũ Hoàng Chương đã thể hiện được người thiếu phụ nhận ra việc mình khuyên chồng đi kiếm ấn phong hầu là dại dột nhưng chưa thể hiện rõ được sự hối hận, day dứt, dằn vặt của người thiếu phụ. Nguyễn Khắc Phi, Ngô Tất Tố giữ nguyên không dịch từ này. 5) Bài “Điểu minh giản” Vương Duy Bản chữ Hán: Bản phiên âm: 鳥鳴澗 ĐIỂU MINH GIẢN 王維 Vương Duy 人閒桂花落, Nhân nhàn quế hoa lạc, 夜靜春山空。 Dạ tĩnh xuân sơn không.
  • 70. 69 月出驚山鳥, Nguyệt xuất kinh sơn điểu, 時鳴春澗中。 Thời minh xuân giản trung. Bản dịch nghĩa: CHIM KÊU TRONG KHE NÚI Người nhàn, hoa quế rụng, Đêm yên tĩnh non xuân vắng không. Trăng lên làm chim núi giật mình, Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe suối. Bản dịch thơ: * Bản dịch được chọn trong sách giáo khoa: Bản dịch thứ nhất: Người nhàn hoa quế nhẹ rơi, Đêm xuân lạnh ngắt trái đồi vắng tanh. Trăng lên, chim núi giật mình, Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi. (Bản dịch của Ngô Tất Tố) Bản dịch thứ hai: Người nhàn hoa quế rụng Đêm xuân núi vắng teo Trăng lên chim núi hãi Dưới khe chốc chốc kêu. (Bản dịch của Tương Như) * Bản dịch sưu tầm: Người nhàn hoa quế rụng Đêm xuân núi đìu hiu Trăng lên chim thảng thốt Khe xuân vọng tiếng kêu. (Bản dịch của Hải Đà)
  • 71. 70 Đối chiếu, so sánh: Câu 1 và 2: 人 閒 桂 花 落 Nhân nhàn quế hoa lạc 夜 靜 春 山 空 Dạ tĩnh xuân sơn không Dịch nghĩa: Người nhàn hoa quế rụng, Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không. Ngô Tất Tố dịch: Người nhàn hoa quế nhẹ rơi/ Đêm xuân lạnh ngắt trái đồi vắng tanh. Tương Như dịch: Người nhàn hoa quế rụng/ Đêm xuân núi vắng teo Hải Đà dịch: Người nhàn hoa quế rụng/ Đêm xuân núi đìu hiu “Khe chim kêu” là một bức tranh thanh tĩnh. Người và cảnh dường như hòa chung một niềm tâm tư: “Nhân nhàn hoa quế lạc/ Dạ tĩnh xuân sơn không”. Ở hai câu thơ đầu, các bản dịch trên dịch khá hay và sát với bản nguyên tác, đã thể hiện được sự hòa hợp của người và cảnh: người thì nhàn nhã, cảnh thì thanh tao. Đêm đã yên tĩnh, đêm trên núi vắng vào mùa xuân lại càng tĩnh lặng hơn. Câu 3 và 4: 月 出 驚 山 鳥 Nguyệt xuất kinh sơn điểu 時 鳴 春 澗 中 Thời minh xuân giản trung Dịch nghĩa: Trăng lên làm chim núi giật mình, Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe suối. Ngô Tất Tố dịch: Trăng lên, chim núi giật mình/ Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi. Tương Như dịch: Trăng lên chim núi hãi/ Dưới khe chốc chốc kêu. Hải Đà dịch: Trăng lên chim thảng thốt/ Khe xuân vọng tiếng kêu.
  • 72. 71 Cảnh vật ở hai câu đầu miêu tả một đêm xuân yên tĩnh và thanh tao. Nhưng đến hai câu thơ sau, không gian đột ngột có sự thay đổi nhờ sự xuất hiện của âm thanh và ánh sáng- ánh sáng của trăng xuân đã lên và âm thanh của tiếng chim núi giật mình. Tưởng như cảnh sáng hơn và động hơn nhưng thực ra, ánh sáng và âm thanh chỉ đủ sức làm nổi bật hơn sự tĩnh lặng của đêm trên núi vắng. Ở đây, nhà thơ đã dùng ánh sáng để miêu tả đêm tối, dùng âm thanh để miêu tả cái tĩnh lặng. Ở hai câu thơ này, các bản dịch thơ của các dịch giả đã dịch sát với nguyên tác. Với “Điểu minh giản”, Vương Duy xứng đáng là nhà thơ đứng đầu của phái thơ sơn thủy điền viên đời Đường. Thơ điền viên sơn thủy của Vương Duy khiến cho người đọc cảm nhận được vẻ tao khiết của tâm hồn. 2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở: 2.3.1. Câu hỏi gợi mở trong dạy học Văn: Trong bộ môn Ngữ văn, giờ đọc văn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Giờ đọc văn giúp học sinh cảm thụ và phân tích được tác phẩm văn chương, rèn luyện năng lực thẩm mỹ và năng lực tư duy. Năng lực thẩm mỹ còn tuỳ thuộc vào yếu tố năng khiếu của học sinh, còn năng lực tư duy là một yêu cầu có tính phổ biến trong dạy học. Tác phẩm văn chương là một bức tranh phản ánh khá đầy đủ và sinh động hiện thực cuộc sống xung quanh chúng ta. Mỗi người có một cách cảm nhận riêng về tác phẩm văn học mà mình được tiếp xúc. Vì thế, trong giờ đọc văn, giáo viên cần phát huy hết năng lực tư duy, khả năng tìm tòi, phát hiện theo những suy nghĩ, cảm nhận riêng của học sinh. Văn bản văn chương là văn bản nghệ thuật, nghệ thuật nào cũng lấy cái đẹp làm mục đích. Dạy văn là khám phá cái hay, cái đẹp trong văn bản nghệ thuật, nên trước hết nó phải là một nghệ thuật- nghệ thuật cảm thụ và phô diễn cái đẹp. Môn văn có tầm quan trọng đặc biệt trong nhà trường nhưng dạy văn không giống bất kỳ một môn học nào khác. Dạy lịch sử quan tâm đến các sự kiện lịch sử, dạy địa lý quan tâm đến các yếu tố tự nhiên và xã hội, dạy toán chú ý đến các con số, công thức tính toán. Dạy văn không chỉ cần đến kiến thức mà thêm vào đó là cảm xúc,
  • 73. 72 tình cảm, sự rung động của con tim; cái không khí văn, chất văn trong lớp học, trong mỗi cá nhân thầy và trò. Hơn nữa, cái đẹp của văn chương không chỉ thể hiện ở bề mặt ngôn từ mà còn chìm sâu vào nhiều tầng nghĩa của văn bản, của thế giới hình tượng. Chính vì vậy, việc dạy văn đòi hỏi mỗi giáo viên phải có sự sáng tạo và đổi mới trong giờ dạy, đặc biệt trong cách sử dụng phương pháp để tạo không khí văn, chất văn trong giờ học và giúp học sinh tìm hiểu, tiếp cận tác phẩm một cách sâu sắc nhất. Để thực hiện được điều đó, một trong những phương pháp không thể thiếu là phương pháp đặt câu hỏi gợi mở. Hiện nay, phương pháp giảng dạy tích cực theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm đã được đưa vào ứng dụng khá phổ biến. Với phương pháp này, trong hoạt động dạy học, cần phải có sự tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh. Để phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập, giáo viên phải tổ chức chỉ đạo hoạt động của học sinh, học sinh là chủ thể tự giác tích cực trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Hệ thống câu hỏi gợi mở sẽ góp phần giúp cho giờ học tác phẩm văn chương trở nên sinh động, vai trò của học sinh trong giờ học được khẳng định và mối liên hệ qua lại giữa thầy và trò được duy trì. Tuy nhiên, việc sử dụng câu hỏi như thế nào trong giờ đọc văn để đem lại hiệu quả cao đó là điều mà giáo viên dạy văn cần trăn trở và suy nghĩ. Theo chúng tôi, câu hỏi gợi mở trong giờ dạy văn cần có những yêu cầu cơ bản sau đây: - Câu hỏi gợi mở phải đạt được mục đích tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mỹ, đến sự cảm thụ của học sinh với tác phẩm, gây được những phản ứng bên trong của học sinh, không nên đặt những dạng câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh trả lời có hoặc không. - Câu hỏi phải hướng vào thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, khái quát của học sinh. - Trong hệ thống câu hỏi gợi mở phải tập trung chủ yếu vào những điểm trọng tâm của bài học, phù hợp với mục đích, yêu cầu của bài giảng, tránh đưa ra những câu hỏi chung chung mơ hồ, vụn vặt.
  • 74. 73 - Hệ thống câu hỏi gợi mở phải được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp với đối tượng và phân loại đối tượng. + Câu hỏi gợi mở, tạo tình huống dành cho tất cả các đối tượng học sinh; + Câu hỏi tái hiện, phát hiện dành cho học sinh nhận thức chậm, trung bình; + Câu hỏi cảm nhận, hướng vào thao tác tư duy dành cho học sinh khá, giỏi. Tóm lại, yêu cầu của câu hỏi gợi mở trong giờ đọc văn phải vừa tạo ra sự kích thích, vừa tác động đến nhận thức, tư duy của học sinh. Việc đưa ra câu hỏi phải căn cứ vào nội dung bài học, vào đối tượng học sinh, vào điều kiện khách quan của giờ học… để có cách đặt câu hỏi, cách lựa chọn hình thức câu hỏi và sử dụng số lượng câu hỏi thích hợp. 2.3.2. Câu hỏi gợi mở khi dạy các tác phẩm thơ Đường: 2.3.2.1. Gợi mở, khám phá thi đề: Bảng 2.4: Đề tài các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Đề tài Bài thơ Đề tài về quê hương Cảnh “vọng nguyệt hoài hương” của người xa quê Tĩnh dạ tứ (Lí Bạch) Nỗi lòng của người xa quê hương chứa chan tâm sự yêu nước, thương đời khi mùa thu về nơi đất khách. Thu hứng (Đỗ Phủ) Nỗi lòng người trở về quê hương sau nhiều năm xa cách Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương) Tình cảm gắn bó với quê hương, quê hương là điểm tựa, là chốn dừng chân, niềm an ủi cho những cuộc đời phiêu bạt trong cảnh tha hương, chiều muộn, ngày tàn Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu)
  • 75. 74 Đề tài về thiên nhiên Vẻ đẹp nhìn từ xa của thác nước chảy từ đỉnh Hương Lô thuộc dãy núi Lư Vọng Lư Sơn bộc bố (Lí Bạch) Đề tài tiễn biệt Cuộc chia tay của đôi bạn tri âm tri kỉ: Lí Bạch- Mạnh Hạo Nhiên Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lí Bạch) Đề tài chinh phu- chinh phụ Nỗi sầu của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến Khuê oán (Vương Xương Linh) Một số đề tài khác Cái yên tĩnh và thanh tịnh của chốn Thiền môn. Khung cảnh thiên nhiên như thoát tục với hình ảnh một tao nhân mặc khách đang muốn lánh chốn bụi trần để tịnh tâm. Điểu minh giản (Vương Duy) Con người chỉ là một sinh-vật bé nhỏ, hữu hạn, chìm ngập trong cái vô tận của màn đêm. Tiếng chuông chùa vọng lại trong đêm, gây được cảm nhận tri-ngộ trong tâm hồn con người. Phong Kiều dạ bạc (Trương Kế) Hiện thực cuộc sống của con người trong cảnh loạn ly do chiến tranh gây ra. Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Đỗ Phủ) Khi dạy thơ Đường, tùy từng bài thơ, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh khám phá thi đề theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, việc đặt câu hỏi gợi mở để tìm hiểu, phân tích nhan đề của bài thơ là một khâu có ý nghĩa quan trọng và có tác dụng đáng kể trong việc khám phá thi đề của tác phẩm.
  • 76. 75 Ở bài “Vọng Lư Sơn bộc bố”, giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào thế giới thiên nhiên hùng vĩ của thác nước bắt đầu vị trí của người ngắm cảnh thể hiện qua tiêu đề của bài thơ. Giáo viên đặt câu hỏi gợi mở: - Căn cứ vào tiêu đề bài thơ “Vọng Lư Sơn bộc bố” và câu thơ thứ hai “Dao khan bộc bố quải tiền xuyên” (chú ý nghĩa của chữ “vọng” và chữ “dao”), xác định vị trí đứng ngắm thác nước của tác giả? - Vị trí này có lợi thế như thế nào trong việc phát hiện những đặc điểm của thác nước? Tiêu đề bài thơ có chữ “vọng” (trông từ xa) và câu thơ thứ hai có từ “dao” (xa) cho thấy: nhà thơ không đứng gần mà ở xa để ngắm cảnh thác nước. Điểm nhìn này không quan sát chi tiết, tỉ mỉ được nhưng có thể bao quát được một không gian rộng lớn, phát hiện được vẻ đẹp của toàn cảnh. Qua đó ta thấy Lý Bạch đã chọn được điểm nhìn phù hợp khi miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của thác Lư Sơn. Đối với bài “Tĩnh dạ tứ”, giáo viên giúp các em tiếp cận với chủ đề “vọng nguyệt hoài hương” và mạch cảm xúc của toàn bài thơ qua việc nhận xét, khám phá nhan đề. Từ trước đến nay, hầu hết các sách đều viết tựa đề bài thơ là “Tĩnh dạ tứ”. Tuy nhiên, theo Hán Việt từ điển, chữ “tứ” chỉ có thể nêu được ý tứ, thi tứ; chữ “tư” mới nêu được cảm xúc, sự nghĩ ngợi, các vấn đề thuộc về tâm như tưởng tượng, ghi nhớ, suy xét... Giáo viên đặt câu hỏi: Căn cứ vào mạch cảm xúc của bài thơ và nhất là câu thơ cuối, em thấy nhan đề “Tĩnh dạ tứ” hay “Tĩnh dạ tư” phù hợp hơn? Với bài “Hồi hương ngẫu thư”, giáo viên gợi mở: Xa quê, nhớ quê là đề tài quen thuộc trong thơ cổ đại, trung đại phương Đông nhưng mỗi nhà thơ trong hoàn cảnh riêng lại có cách thể hiện độc đáo, không trùng lặp. Qua nhan đề “Hồi hương ngẫu thư”, em nhận ra điều gì mới trong cách thể hiện tình cảm của Hạ Tri Chương? Giáo viên giúp học sinh nhận ra vấn đề: Ở đây có hai sự lạ: Bao năm xa quê, Hạ Tri Chương đã không viết bài thơ nào, bây giờ lại viết khi vừa mới về quê; mặt khác, chữ “ngẫu” cho thấy nhà thơ không hề có ý làm thơ, dường như tất cả tâm
  • 77. 76 tình của nhà thơ đều đặt trong cái đích “hồi hương”. Qua đó ta thấy được nỗi lòng của nhà thơ khi trở về quê hương sau nhiều năm xa cách. Ở bài “Khuê oán”, giáo viên giúp học sinh tiếp cận tác phẩm bằng cách khám phá sự đối lập của nhan đề: “Khuê” là nơi ở sang trọng của người thiếu phụ, là chốn lầu son gác tía, còn “oán” là nỗi sầu oán. Nhan đề bài thơ chỉ vẻn vẹn có hai chữ nhưng nói được biết bao điều. Giáo viên có thể đặt ra một câu hỏi tác động vào sự suy nghĩ và tạo tâm thế muốn tìm giải đáp của học sinh: Người thiếu phụ được ở chốn khuê phòng sang trọng như vậy tại sao lại sầu oán? Khác với nhan đề “Khuê oán” ngắn gọn, chỉ có hai chữ, bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” lại có nhan đề dài, trái ngược với sự ngắn gọn, súc tích của thơ Đường. Nhan đề ấy thể hiện dụng ý của tác giả: thể hiện rõ quá trình tiễn biệt: nơi ra đi, nơi sẽ đến và người được tiễn. Tuy nhiên, nhan đề của bài thơ chỉ thể hiện một phần nào thi đề của tác phẩm, giáo viên cần giúp học sinh tiếp cận thi đề sâu hơn qua những câu hỏi trong bài học. Chẳng hạn khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề tài tiễn biệt của bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lí Bạch, cùng với câu hỏi nhận xét nhan đề để tiếp cận đề tài của tác phẩm, giáo viên đặt câu hỏi gợi mở: - Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên trong bối cảnh không gian, thời gian nào? - Ba yếu tố không gian, thời gian và con người trong bài thơ có mối quan hệ với nhau ra sao? Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn? Ở câu hỏi thứ nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh cảm nhận được không gian, thời gian của buổi tiễn đưa, đó là lầu Hoàng Hạc- một thắng cảnh thần tiên gắn với bao huyền thoại đầy chất thơ. Mạnh Hạo Nhiên lên đường vào một ngày tháng ba “tam nguyệt”, mùa hoa khói “yên hoa” để xuôi về Dương Châu- thắng cảnh phồn hoa bậc nhất đời Đường. Bốn chữ “yên hoa tam nguyệt” được dùng để chỉ thời gian của buổi tiễn đưa song cũng là một biểu tượng nghệ thuật có sức gợi rất lớn. “Yên hoa”/ “yên ba” thường chỉ khói sóng trên sông, khói sương mù. Vào mùa xuân ở Trung Quốc, đây
  • 78. 77 là hình ảnh thiên nhiên đã đi vào thơ như một hình tượng nghệ thuật đầy gợi cảm, làm thức dậy bao nỗi niềm tâm sự của thi nhân như nhà thơ Thôi Hiệu đã thổ lộ: “Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Bên cạnh đó, “yên hoa” còn có nghĩa là cảnh đẹp mùa xuân. Đây có thể là một buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện với sương mù tháng ba tạo nên hình ảnh “hoa khói”, cũng có thể là vào tháng ba mùa xuân hoa nở nhiều, tầng tầng lớp lớp như là sương, là khói. Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên là hai người bạn tri âm, tính tình đều rất phóng khoáng, thích ngao du sơn thuỷ. Với tâm hồn nghệ sĩ ấy, lầu Hoàng Hạc giữa mùa xuân là khung cảnh gợi bao thi hứng, đó là nơi lí tưởng để họ đàm đạo thi ca và nhân tình thế thái. Đó cũng là những giây phút mà cả hai đều thú vị nhưng họ lại phải chia tay nhau. Và đương nhiên, mỗi người đều mang trong mình một nỗi niềm tâm sự. Qua đó ta thấy được sự thống nhất và tương phản trong mối quan hệ của ba yếu tố: không gian- thời gian và con người trong buổi chia tay: không gian đẹp, thời gian đẹp, tình bạn lại càng đẹp, vậy mà họ lại sắp phải xa nhau. Vì thế, cảnh càng đẹp thì lòng người lại càng buồn, càng thấm thía nỗi xa cách, chia ly bấy nhiêu. Bên cạnh đó, giáo viên có thể giúp học sinh tiếp cận thi đề của tác phẩm sâu hơn thông qua việc liên hệ bài thơ được học với những bài thơ khác cùng đề tài. Với bài “Khuê oán” (Vương Xương Linh), giáo viên liên hệ với “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn. Với bài “Tĩnh dạ tứ” (Lí Bạch), giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những bài thơ, những câu thơ cùng chủ đề “Vọng nguyệt hoài hương”- một chủ đề phổ biến trong thơ cổ, không chỉ thơ Trung Quốc mà cả Việt Nam, hoặc các bài thơ của các tác giả nước ngoài khác: Lộ tòng kim bạch dạ Nguyệt thị cố hương minh (Sương từ đêm nay trắng xóa Trăng là ánh sáng của quê nhà) (Đỗ Phủ) Cộng khan minh nguyệt ưng thùy lệ Nhất phiến hương tâm ngũ xứ đồng.
  • 79. 78 (Xem trăng có lẽ cùng rơi lệ Một mảnh tình quê, năm anh em ở năm nơi đều giống nhau) (Bạch Cư Dị) Hay mở tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ta bắt gặp ngay bài “Quỳnh Hải nguyên tiêu” (Đêm rằm tháng giêng ở Quỳnh Hải), tác giả thấy “trăng sáng đầy trời”(nguyệt mãn thiên) lại lập tức nhớ tới cảnh “ở Hồng Lĩnh không có nhà, anh em tan tác” (Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán) Hoặc khi dạy bài “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, giáo viên giúp học sinh cảm nhận bài thơ sâu sắc hơn thông qua sự đồng cảm, đồng điệu, đồng tình giữa bài thơ này với một bài thơ khác của Chế Lan Viên: Trở lại An Nhơn, tuổi lớn rồi Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai Nền nhà nay dựng cơ quan mới Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người. (Trở lại An Nhơn) Tuy nhiên, không phải bất cứ bài thơ nào ta cũng có thể khám phá thi đề qua việc tìm hiểu nhan đề hoặc liên hệ với các bài thơ có cùng chủ đề. Chẳng hạn như với nhan đề “Hoàng Hạc lâu” trong bài thơ cùng tên của Thôi Hiệu, ta chỉ có thể nhận ra một địa danh- một khung cảnh thần tiên gắn với huyền thoại đầy chất thơ được nói đến trong bài mà không thể thấy được những cái sâu xa hơn. Đó là con người chỉ là một sinh-vật bé nhỏ, hữu hạn, bị bao trùm trong cái vô hạn của không gian vũ trụ vô chung vô thủy. Nỗi sầu từ sự ý thức giữa cái vô cùng của tạo vật và cái hữu hạn của kiếp người, giữa cái còn và cái mất tạo thành mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ. Chính vì thế, giáo viên cần giúp học sinh nhận ra thi đề của bài thơ thông qua thi tứ và thi ý. 2.3.2.2. Gợi mở, khám phá thi tứ: Tứ thơ Đường thường được tạo bởi thứ ngôn ngữ khái quát, nghệ thuật miêu tả chỉ bằng vài nét chấm phá, vì vậy mà lượng thông tin nghệ thuật trong từng câu
  • 80. 79 chữ luôn lớn hơn rất nhiều dung lượng của nó. Cách cấu tạo của tứ thơ thường được thể hiện qua nghệ thuật đồng nhất, nghệ thuật đối lập và nhất là qua các phạm trù: lấy cái “tối” để tả cái “sáng”, lấy cái “động” tả cái “tĩnh”, lấy “không” để nói “có”, lấy không gian tả thời gian,... Trong bài thơ “Thu hứng”, để diễn tả cảm xúc của mình, nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật đồng nhất trong cảnh và tình, hiện tại và quá khứ, con người và sự vật. Năm 765, Đỗ Phủ cùng gia đình rời Thành Đô đến Vân An rồi đến Quỳ Châu. Nhà thơ đã rời Thành Đô hai năm- hai năm là hai mùa hoa cúc nở, hai mùa thu xa quê hương. Mùa thu trước, Đỗ Phủ ở Vân An, mùa thu này, ông ở Quỳ Châu. Hai mùa thu trôi qua, hai lần nhìn hoa cúc nở, cả hai lần đều rơi nước mắt: “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ”. Ở đây, Đỗ Phủ đã đồng nhất cảnh với tình, hiện tại với quá khứ: cúc nở hoa như nhỏ lệ, diễn tả nỗi đau đến rơi lệ trong lòng người. Lệ của hoa, lệ của người, cả hai đều chung nước mắt. Khóm cúc nở hoa hai lần, đã hai mùa thu trôi qua, hai lần nhìn hoa cúc nở, hai lần đều rơi nước mắt. Cúc hai lần nở hoa cũng chính là hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau- giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ của quá khứ năm xưa. Cùng với nghệ thuật đồng nhất cảnh và tình, hiện tại và quá khứ, nhà thơ cũng đồng nhất sự vật với con người: “Cô chu nhất hệ cố viên tâm”. “Cô chu” là con thuyền đơn độc trên sông. Đây là hình ảnh thơ vừa có ý nghĩa tả thực, vừa là một biểu tượng nghệ thuật. Khi chạy loạn, cả gia đình Đỗ Phủ đã phải sống trên một con thuyền thả trôi trên sông Trường Giang. Mặt khác, hình ảnh con thuyền còn mang một ý nghĩa khái quát, nó đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật của văn học, dùng để chỉ thân phận lênh đênh của con người. Nếu Lí Bạch từng dùng hình ảnh “cô phàm” để thể hiện tâm sự cô đơn thì Đỗ Phủ dùng “cô chu” thể hiện cảnh ngộ và tâm trạng của mình. Vì chiến tranh loạn lạc, ông không thể trở về quê hương, tấm lòng thương nhớ quê nhà đành buộc chặt nơi con thuyền nhỏ ấy: “Cô chu nhất hệ cố viên tâm”- dây buộc con thuyền lẻ loi với vườn cũ cũng chính là dây buộc lòng người với cố hương.
  • 81. 80 Giáo viên đặt câu hỏi: Ở hai câu luận, tác giả tả sự vật gì? Tác giả đồng nhất hóa những gì? Điều đó có ý nghĩa như thế nào? Ở câu hỏi này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh khám phá hình ảnh ẩn dụ tượng trưng: hoa cúc, con thuyền. Hoa cúc tượng trưng cho mùa thu; con thuyền tượng trưng cho cuộc đời nổi trôi lưu lạc, mang chở tâm tình con người. Và ở đây, tác giả đã khéo léo sử dụng nghệ thuật đồng nhất: đồng nhất giữa cảnh và tình: cúc nở hoa như nhỏ lệ, diễn tả nỗi đau đến rơi lệ; đồng nhất hiện tại và quá khứ: cúc hai lần nở hoa cũng là hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau- giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ của quá khứ năm xưa; và cuối cùng là đồng nhất con người với sự vật: dây buộc con thuyền lẻ loi với vườn cũ chính là dây buộc lòng người với cố hương. Tiếp cận với bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, ta lại thấy cấu tứ của bài được thể hiện rất rõ qua nghệ thuật đối. Ba câu thơ đầu được tạo dựng bởi phép tiểu đối (đối trong nội bộ câu) với hình thức hai ngữ đoạn đối xứng. Phép tiểu đối cũng là một thủ pháp đặc trưng trong thơ chữ Hán Đường luật, đặc biệt ở thể tuyệt cú. Câu thơ mở đầu bằng một lời tự sự: Thiếu tiểu li gia / lão đại hồi, Ngay trong một câu thơ bảy chữ nhưng đã tạo dựng được hai sự đối lập. Đối lập giữa hành động xa nhà- trở về nhà (li gia- hồi), giữa tuổi trẻ và tuổi già (thiếu tiểu- lão đại). Cấu trúc đối ở đây đã khái quát cả một cuộc đời con người. Con người ấy lúc trẻ tuổi đã nặng nợ công danh để lúc về già ngậm ngùi niềm cố thổ. Có thể nói cảnh huống này là cảnh huống của rất nhiều người trai trong xã hội phong kiến bởi chí làm trai phải lập công danh, phải thoả chí "tang bồng hồ thỉ”. Tuy nhiên, cái đáng quý của nhân vật trữ tình ở đây là sau bao nhiêu năm tháng xa quê hương mà "Hương âm vô cải / mấn mao tồi”. Với câu thơ này, một lần nữa cấu trúc đối lại được sử dụng để làm nổi bật sự đối lập đầy nghiệt ngã, đối lập giữa ước muốn của con người và quy luật thời gian. Giọng nói của quê hương không thay đổi minh chứng cho tâm tình quê hương sâu nặng của một vị quan một
  • 82. 81 thời hiển vinh nay đã “cáo lão hồi hương”. Thế nhưng, vị quan ấy không thể níu kéo được thời gian, cưỡng lại quy luật vần xoay của Tạo hoá để giờ đây mái tóc mai ngày nào đã rụng và thay vào đó là mái đầu đã bạc phơ. Và chính điều này đã đẩy thi nhân vào cảnh huống: Nhi đồng tương kiến / bất tương thức. Vẫn cái cấu trúc tiểu đối ấy, chữ bất hiện hữu như một bức tường kiên cố vô hình ngăn trở lối về với quê hương của thi nhân. Hình ảnh "nhi đồng” xuất hiện như một điểm nhấn độc đáo. Đây là lớp chủ nhân mới của quê hương, chúng biểu trưng cho khoảng cách thế hệ. Do vậy, dù có gặp nhau "tương kiến” nhưng sẽ không thể nào biết nhau "bất tương thức” để rồi những cảm xúc dồn nén dâng trào ở câu thơ cuối: Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai. Câu hỏi hồn nhiên của con trẻ làm lòng người tha hương xiết bao ngậm ngùi: ta đã trở thành người khách lạ chính trên quê hương của mình. Bài thơ đặc biệt không chỉ ở việc phép đối được tạo lập trên từng đơn vị câu thơ mà được tạo dựng trên cả cấu trúc của cả bài thơ. Có thể nói, cả bài thơ trên là một sự đối lập. Đối lập giữa sự mong đợi của người trở về và thực tại đang hiện hữu. Người trở về đang háo hức trong nỗi nhớ da diết, mong quê hương đón mình trong niềm vui của ngày sum họp nhưng thực tế đã hoàn toàn khác. Lũ trẻ, với sự hồn nhiên ngây thơ đã vô tình khiến người tha hương ngộ ra một điều xót xa: người xa quê đã trở thành khách lạ trên chính quê hương của mình. Khi dạy bài thơ này, giáo viên cần gợi mở để học sinh khám phá biện pháp nghệ thuật đối, đặc biệt là phép đối ở hai câu thơ đầu. Giáo viên đặt câu hỏi: Em hãy phân tích các vế đối ở hai câu thơ đầu? Theo em, phép đối trong hai câu thơ ấy có tác dụng gì? Học sinh cần làm rõ được hai vế đối ở từng câu thơ: “Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi Hương âm vô cải/ mấn mao tồi” Hai câu thơ trên, mỗi câu có hai vế, mỗi vế có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh:
  • 83. 82  Thiếu tiểu/ lão; li gia/đại hồi  Hương âm /mấn mao, vô cải/tồi Nhà thơ đã lấy cái thay đổi là cái cụ thể: “mấn mao” (tóc mai) để làm nổi bật cái không thay đổi là cái tượng trưng “hương âm” (giọng quê). Qua đó, ta thấy được tình cảm gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương. Với bài thơ “Điểu minh giản” của Vương Duy, tứ thơ Đường lại được thể hiện qua phạm trù đối lập: lấy cái “tối” để tả cái “sáng”, lấy cái “động” tả cái “tĩnh”. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh cảnh và người thật hoà hợp, người thì nhàn nhã, cảnh thì thanh tao, những bông hoa quế li ti nhẹ rơi càng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch. Đêm đã yên tĩnh, đêm trên núi vắng vào mùa xuân lại càng tĩnh lặng hơn. Một chữ “tĩnh” và một chữ “không” cộng hưởng để làm bật lên sự tịch mịch của đêm trên núi vắng. Cảnh vật ở hai câu đầu thiên về vẻ tĩnh và tối của một đêm mùa xuân yên tĩnh và thanh tao. Nhưng đến hai câu sau, không gian đột ngột có sự thay đổi. Đó là sự xuất hiện của âm thanh và ánh sáng. Ánh sáng của trăng xuân đã lên và âm thanh của tiếng chim núi giật mình. Tưởng như cảnh sáng hơn và động hơn, nhưng thực ra ánh sáng và âm thanh chỉ đủ sức làm nổi bật hơn sự tĩnh lặng của đêm trên núi vắng. Trăng làm tăng vẻ huyền ảo, tiếng chim “thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe suối” càng làm rõ hơn cái tĩnh của đêm. Trăng lên và tiếng chim kêu được miêu tả thật sinh động, giàu sức gợi. Nhà thơ đã dùng ánh sáng để miêu tả đêm tối, dùng âm thanh để miêu tả cái tĩnh lặng. Đây là một trong những thủ pháp nghệ thuật rất quen thuộc của thơ ca đời Đường. Giáo viên đặt câu hỏi gợi mở để giúp các em khám phá ra điều này: - Cây quế cành lá sum suê nhưng hoa lại rất nhỏ. Nhà thơ cảm nhận được âm thanh hoa quế rơi. Chi tiết đó cho thấy điều gì về cảnh đêm xuân và tâm hồn thi sĩ? - Ở câu thơ 3 và 4, cảnh vật có sự thay đổi như thế nào? Hình ảnh, chi tiết nào thể hiện điều đó? Ở đây, tác giả đã sử dụng nghệ thuật gì? Học sinh cần nêu được những nét chính: Ở hai câu thơ đầu: “Nhân nhàn quế hoa lạc/ Dạ tĩnh xuân sơn không” cho thấy hoàn cảnh của tác giả: nhàn- rỗi rãi, thư
  • 84. 83 thái. Tuy hoa quế rất nhỏ, âm thanh hoa quế rụng khẽ khàng, mơ hồ nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận được âm thanh hoa quế rụng. Qua đó ta thấy sự tinh tế, nhạy cảm, tập trung của tác giả và sự yên tĩnh của cảnh đêm nơi rừng núi. Ở câu 3 và 4: “Nguyệt xuất kinh sơn điểu/ Thời minh xuân giản trung”, cảnh có sự thay đổi đột ngột với sự xuất hiện của ánh sáng và âm thanh: ánh sáng của ánh trăng lên và âm thanh của chim núi giật mình kêu vang. Ở đây, tác giả đã lấy hình gợi âm, lấy động tả tĩnh để đặc tả sự yên tĩnh dường như tuyệt đối của đêm. Hoặc với bài “Phong Kiều dạ bạc”, Trương Kế đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên vào một đêm khuya vắng vẻ- có đường nét, màu sắc và âm thanh: Trăng lặn, bất chợt có tiếng quạ kêu, ngoài trời sương giăng đầy. Qua làn sương phủ ấy, thi nhân cảm nhận được phía ngoài con thuyền là khoảng không bao la, vắng lặng. Tiếng quạ kêu càng khắc sâu hơn sự vắng lặng và tĩnh mịch của đêm. Đó chính là thủ pháp quen thuộc của Đường thi: lấy động tả tĩnh. Bên cạnh đó, khi tìm hiểu thơ này, giáo viên cũng cần lưu ý học sinh ở bản dịch thơ: Ở hai câu thơ sau, bản dịch thơ của Tản Đà đã phần nào làm nhòa sự ngân vang của tiếng chuông trong đêm yên tĩnh. Bản dịch thơ chưa diễn đạt được vai trò chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San, cụ thể là Tản Đà đã biến chủ thể vốn là tiếng chuông thành chủ thể là chiếc thuyền của lữ khách. Do đó, chưa thể hiện rõ được hai thủ pháp nghệ thuật truyền thống của thơ Đường được sử dụng kết hợp trong bài thơ là lấy động để tả tĩnh và mượn âm thanh để truyền hình ảnh. Tương tự như các bài thơ trên, tứ thơ của bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” cũng được thể hiện một phần qua phạm trù đối lập: lấy cái “có” để nói cái “không”. Giáo viên có thể đặt thêm câu hỏi nâng cao dành cho học sinh khá, giỏi: Thơ Đường thường lấy cái “có” (hữu) để nói cái “không” (vô) hoặc ngược lại. Qua bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”, em hãy chứng minh điều đó. Ở câu hỏi này, học sinh cần nêu được một số điểm chính: Cái “có” được gợi ra từ không gian, thời gian cụ thể. Có tháng 3 tiết mùa xuân hoa nở, có dòng sông Trường Giang trong xanh bao la, có bầu trời xanh biếc ngút tầm mắt, có thành
  • 85. 84 Dương Châu gợi bao vẻ đẹp của chốn phồn hoa… Tất cả để làm rõ cái “không có”. Đó là cánh buồm mất hút, là người bạn đã đi xa, để lại trong lòng người đưa tiễn nỗi cô đơn, trống vắng vô bờ. Ngược lại, cánh buồm lẻ loi mất hút vào bầu trời xanh biếc là cái “không” để nhấn mạnh cái “có”. Đó là người đưa tiễn đang đứng trên lầu cao dõi theo cánh buồm đưa bạn tới chân trời. Bên cạnh đó, thơ Đường là thể loại thơ trữ tình. Tình cảm, cảm xúc trở thành mạch nối vô hình để hàn kết các hình ảnh, ý tưởng, nhạc điệu tạo nên sự vận động của ý thơ trên con đường tạo nên cấu tứ. Ta hãy thử cảm nhận cái không khí mênh mang, u tịch trong bài “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu: Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản Bạch vân thiên tải không du du Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ Phương thảo thê thê Anh Vũ châu Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Tác giả đặt tâm hồn mình vào khoảng thời gian và không gian vô tận. Nỗi sầu từ sự ý thức giữa cái vô cùng của tạo vật và cái hữu hạn của kiếp người, giữa cái còn và cái mất tạo thành mạch chảy suốt bài thơ. Người xưa đi mất, quanh đây chỉ còn mây trắng bay. Ý thức về “sinh ký tử quy” của tác giả như hòa vào khói sóng đìu hiu để rồi tất cả đọng lại trong một chữ “sầu” trĩu nặng ở cuối bài thơ. Tuy nhiên, chữ “sầu” kết lại bài thơ phải chăng đem tới ý vị buồn bã? Đằng sau chữ “sầu” đó, tác giả muốn diễn tả điều gì? Giáo viên cần lưu ý học sinh ở điểm này. Khác với Huy Cận trong bài thơ Tràng Giang: “Lòng quê dợn dợn vời con nước. Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, khi đứng giữa không gian vô tận của Tràng Giang bát ngát, ông mang trong mình một nỗi sầu nhân thế, ông nhớ đến quê hương, nhưng quê hương ở đây là một nơi được xác định. Thôi Hiệu trong “Hoàng Hạc lâu”, trước những cái vạn biến trong cuộc đời, ông không biết quê nhà ở đâu
  • 86. 85 “hà xứ thị”. Tuy nhiên, quê hương được nhắc tới ở đây cũng là điểm tựa của cõi lòng, là nơi trú ẩn cuối cùng của những tâm hồn không tìm được sự bình an trước những cái vạn biến trong cuộc đời. Do đó, thông qua cái “sầu”, người đọc thấy được quan niệm nhân sinh tích cực, tình cảm nhân bản của tác giả. Tác giả đã khẳng định ý nghĩa cuộc đời. Vì thế, hồn người lữ khách không đắm chìm mãi trong cảnh tiên, không mãi triền miên suy tư về quá khứ mà cuối cùng vẫn quay lại nhìn thẳng vào hiện thực với hàng cây, bãi cỏ và khói sóng mịt mùng trên sông. Chính khói sóng ấy đã khiến cho “sử nhân sầu” khi nhớ tới một miền quê xa vắng. Quê hương chính là điểm tựa, là chốn dừng chân, là niềm an ủi cho những thân phận lênh đênh, cho những cuộc đời bấp bênh trôi dạt, không tìm thấy được sự bình an. Đó là tình cảm nhân bản lành mạnh của bài thơ. 2.3.2.3. Gợi mở, khám phá thi ý: Đặc trưng của thơ cổ phương Đông là trọng về gợi, “tả cảnh ngụ tình”. Do đó, một bài thơ Đường bao giờ cũng gồm hai tầng ý: tầng “mặt” và tầng “chìm” vì “ý kị nông, mạch kị lộ”. Cảm hứng Đường thi ví như một dòng mạch tuôn lặng lẽ mà cái nhìn hời hợt bên ngoài khó phát hiện. Thưởng thức thơ Đường, để đến được với “hồn thơ”, khi giảng dạy, giáo viên cần giúp học sinh hiểu được cả “tầng mặt” và “tầng chìm” của bài thơ. Thông qua đó, học sinh cảm nhận được tiếng nói của thi nhân, tiếng nói của cảm xúc, của con tim, của những tấm lòng tha thiết yêu đời, yêu người. “Hoàng Hạc lâu”(Thôi Hiệu) là một dẫn chứng tiêu biểu. Bài thơ khai tự từ nhan đề- “Hoàng hạc lâu”- nơi bắt đầu của nguồn mạch cảm xúc. Mạch thơ chạy dọc theo mạch cảm xúc từ trên xuống qua các câu, kết nối các sự kiện từ cái còn- cái mất, cái hữu- cái vô, quá khứ- hiện tại, lữ khách viễn xứ- quê hương... trộn lẫn vào nhau để rồi cuối cùng đọng lại ở chữ “sầu” cuối bài. Chữ “sầu” ấy là mặt hồ hiển hiện, là biển cả bao la, là nơi kết đọng của tám dòng thơ- “tám nhánh sông sầu”. Cấu trúc một bài Đường thi là khép kín- “ngôn hữu tận”- nhưng nó luôn quan hệ, hô ứng với bên ngoài tạo nên “ý vô cùng”. “Ý vô cùng” có được là nhờ nơi
  • 87. 86 “ngôn tận”. Với “Hoàng Hạc lâu”, ngôn tận chính tại chữ “sầu”. Mạch sầu ấy đã ngân vang bao điều về vấn đề triết lý và nhân sinh. Thông qua cái “sầu”, người đọc thấy được quan niệm nhân sinh tích cực, tình cảm nhân bản của tác giả. Giáo viên đặt câu hỏi: 1) Điều gì gợi cho Thôi Hiệu cảm thấy nhớ quê hương? Hai chữ “hương quan” (quê hương) có thể hiểu với những nghĩa nào? 2) Thông qua nỗi “sầu” ở cuối bài, em nhận ra được điều gì về nhân sinh quan của nhà thơ? Ở hai câu hỏi này, học sinh cần nêu được một số điểm chính: thời gian buổi chiều tối và không gian sông nước, khói sóng đã gợi nỗi lòng “chiều hôm nhớ nhà” của Thôi Hiệu. Hai chữ “hương quan” (quê hương) ở đây không phải chỉ là nơi chôn rau cắt rốn của con người mà nó còn có ý nghĩa biểu tượng- là điểm tựa, chốn dừng chân, niềm an ủi cho những thân phận, những cuộc đời phiêu bạt trước những cái vạn biến trong cuộc đời. Nỗi buồn, nỗi sầu ở cuối bài thơ là cảm xúc tất yếu của con người trong cảnh tha hương, chiều muộn, ngày tàn. Thông qua nỗi sầu ấy, người đọc thấy được tình cảm gắn bó, tình yêu quê hương tha thiết- tình cảm nhân bản tốt đẹp của con người. Với bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”- Lí Bạch, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu thi ý qua câu hỏi gợi mở: Người ta thường cho rằng: Cái hay của thơ Đường là ở chỗ thể hiện được “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời). Em hãy tìm “ý tại ngôn ngoại” qua bài thơ này. Để không khí học tập thêm sôi nổi và học sinh có cơ hội hợp tác với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ học tập, ở câu hỏi này, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm, mỗi nhóm khoảng 4- 5 học sinh, thời gian thảo luận 5 phút. Sau khi các nhóm thảo luận và trình bày kết quả thảo luận, cả lớp đều có thể tham gia tranh luận, bổ sung ý kiến và nhận xét, đánh giá lẫn nhau. Giáo viên đưa ra nhận xét, đánh giá cuối cùng và chốt lại những nội dung chính của vấn đề thảo luận: “Ý tại ngôn ngoại” của bài thơ được thể hiện qua một số từ ngữ: Từ “cố nhân” gợi lên tình bạn sâu sắc, gắn bó, lâu bền của Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên. Lí
  • 88. 87 Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên lên đường vào khoảng thời gian “yên hoa, tam nguyệt”.“Yên hoa” ở đây có thể là một buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện với sương mù tháng ba tạo nên hình ảnh “hoa khói”, cũng có thể là vào tháng ba mùa xuân hoa nở nhiều, tầng tầng lớp lớp như là sương, là khói. Dù hiểu theo cách nào thì “yên hoa” cũng gợi lên nỗi buồn, sự cô đơn trong lòng kẻ ở, người đi. Bên cạnh đó, ẩn sau địa danh Dương Châu, ta cũng nhận ra tâm trạng và nỗi niềm của Lý Bạch. Mạnh Hạo Nhiên thuộc phái thơ “sơn thủy điền viên”, thích hợp với cuộc sống thanh nhàn nơi làng quê nhưng ông lại đến Dương Châu- một nơi chốn phồn hoa đô hội để làm quan. Và vì thế, Lý Bạch tiễn đưa bạn trong một tâm trạng đầy trắc ẩn, vừa cô đơn, vừa lo lắng. Đặc biệt, “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ được thể hiện qua hình ảnh “cô phàm” và cái nhìn “duy kiến”. Một cánh buồm lẻ loi đã đi rất xa, nó thật nhỏ nhoi và cô độc giữa cái bát ngát, vô tận của màu xanh nối tiếp đến tận chân trời. Cánh buồm lẻ loi ấy chất chứa tâm trạng của con người: cô đơn, lẻ loi. Và sự cô đơn, lẻ loi ấy được thể hiện rõ qua đôi mắt chứa đầy tâm trạng của Lý Bạch. Với đôi mắt ấy, Lý Bạch chỉ nhìn thấy cánh buồm đưa bạn cũ đi xa mặc dù trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược. Qua cái nhìn “duy kiến” đó, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tình bạn chân thành, thắm thiết của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên đồng thời cũng thấy được sự lưu luyến của Lý Bạch khi phải chia tay bạn. Ở bài “Hồi hương ngẫu thư”, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu thi ý qua câu hỏi thảo luận cuối bài: Được đón về trong tiếng cười, tiếng nói, không khí vui tươi, hồn nhiên, ngây thơ của bọn trẻ, tâm trạng của tác giả có vui lên không? Vì sao? Tác giả về đến đầu làng, chỉ thấy có nhi đồng ra đón. Ngày xưa, tuổi thọ của con người thường ngắn hơn bây giờ. Đỗ Phủ đã từng nói: “Nhân sinh thất thập cổ lai hi” (người mà sống được đến bảy mươi tuổi là đã hiếm lắm rồi). Tác giả khi ấy đã tám mươi sáu tuổi, những người cùng tuổi với ông có lẽ đã mất cả, nếu còn chắc cũng không nhận ra ông nữa. Bọn trẻ đón ông với tiếng cười, tiếng nói, với câu hỏi thật hồn nhiên: “Khách tòng hà xứ lai?”. Chính không khí vui tươi của “nhi đồng” với hành động“tiếu vấn” đã khiến tác giả cảm thấy ngậm ngùi, chua xót. Trẻ
  • 89. 88 con vốn vô tư, không biết ai thì gọi là “khách” nhưng người già thì hay nghĩ ngợi. Ta về quê ta, về nơi chôn nhau cắt rốn của ta, sao lại gọi là “khách”? Nỗi buồn trong cảm giác bị lãng quên, nhất là trở thành người “khách” trên mảnh đất quê hương chính là “tầng chìm” của lời thơ. Hay trong bài “Mao ốc vị thu phong sở phá ca” của Đỗ Phủ, sau trận thu phong “gió thét già”, ba lớp tranh ngôi nhà của Đỗ Phủ bị “cuộn mất”, bay tứ tung khắp mọi nơi. Lũ trẻ con hàng xóm kéo đến cướp tranh mà Đỗ Phủ gọi là “đạo tặc”- đám kẻ cướp. Chúng khinh nhà thơ “già yếu”, chúng trơ tráo trước tiếng kêu van “môi khô miệng cháy gào không được” của ông. Lũ trẻ gian tham cướp được chiếc tranh nào thì cứ ngang nhiên “cắp tranh đi tuốt vào lũy tre” chiếc tranh ấy. Ẩn sau những nỗi khổ vì rủi ro do thiên tai gây ra và nỗi đau mất của là nỗi đau nhân tình thế thái. Ông đau buồn trước một xã hội loạn lạc, đảo điên, đạo lý suy đồi đến cùng cực qua hình ảnh lũ trẻ con nghịch ngợm, gian tham, thừa gió bẻ măng, xô vào cướp giật. Khi sống trong cảnh đói nghèo, trẻ em thất học tràn lan, phổ biến khắp đất nước Trung Hoa li loạn. Trong nỗi đau thương phũ phàng của cuộc đời, con người rất dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, hoặc gục đầu cam chịu, rồi than thân trách phận. Cũng có thể suốt đêm ngồi trong mưa lạnh rét cóng, Đỗ Phủ có quyền nghĩ đến một mái lều, một tấm chăn, một bát cơm, một ngọn lửa... cho vợ con và bản thân ông nhưng nhà thơ đã làm cho người đọc bất ngờ trước một niềm mong ước: “Ước được nhà rộng muôn ngàn gian, Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan, Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn! Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!” Ông mơ ước có một ngôi nhà kì vĩ “muôn ngàn gian” vô cùng vững chắc “gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn”. Ngôi nhà ấy để “che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan”. Thấy được ngôi nhà ấy tức là thấy được cảnh thái bình, no ấm yên vui đến với mọi người, mọi nhà, trong đó có những kẻ sĩ nghèo. Tác giả nêu
  • 90. 89 ra một giả định rất chân thành cảm động. Nếu thấy ngôi nhà “muôn ngàn gian” trong mơ trở thành hiện thực thì riêng Đỗ Phủ “lều ta nát, chịu chết rét cũng được”. Giáo viên cần giúp học sinh nhận ra vấn đề: Đằng sau cái nhà rộng muôn ngàn gian ấy, ta thấy được trái tim giàu lòng yêu thương, thấm đẫm tình người, chứa chan tinh thần nhân đạo của nhà thơ.
  • 91. 90 Chương 3: THỰC NGHIỆM GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 3.1. Việc dạy và học thơ Đường ở trường Phổ thông hiện nay: 3.1.1. Về chương trình sách giáo khoa: - Thống kê các tác phẩm, tác giả trong chương trình: (Theo sách giáo khoa chỉnh lí mới nhất) Bảng 3.5: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở STT Tác phẩm Tác giả Dịch giả 1 Vọng Lư Sơn bộc bố Lý Bạch Tương Như 2 Phong Kiều dạ bạc (Đọc thêm) Trương Kế Kim Dung 3 Tĩnh dạ tứ Lý Bạch Tương Như 4 Hồi Hương ngẫu thư Hạ Tri Chương Phạm Sĩ Vĩ Trần Trọng San 5 Mao ốc vị thu phong sở phá ca Đỗ Phủ Khương Hữu Dụng Bảng 3.6: Các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông STT Tác phẩm Tác giả Dịch giả 1 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lý Bạch Ngô Tất Tố 2 Thu hứng Đỗ Phủ Nguyễn Công Trứ 3 Hoàng Hạc Lâu (Đọc thêm) Thôi Hiệu Tản Đà Khương Hữu Dụng 4 Khuê oán (Đọc thêm) Vương Xương Linh Tản Đà Nguyễn Khắc Phi
  • 92. 91 5 Điểu minh giản (Đọc thêm) Vương Duy Ngô Tất Tố Tương Như - Thống kê thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông: Bảng 3.7: Thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Số TT Tác phẩm Thời lượng 1 Vọng Lư Sơn bộc bố 1 tiết 2 Phong Kiều dạ bạc (Đọc thêm) Đọc thêm 3 Tĩnh dạ tứ 1 tiết 4 Hồi Hương ngẫu thư 1 tiết 5 Mao ốc vị thu phong sở phá ca 1 tiết 6 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng 1 tiết 7 Thu hứng 1 tiết 8 Hoàng Hạc Lâu (Đọc thêm) 1 tiết9 Khuê oán (Đọc thêm) 10 Điểu minh giản (Đọc thêm) Tổng số 7 tiết - So sánh thời lượng giảng dạy thơ Đường với Văn học nước ngoài và Văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông: Bảng 3.8: So sánh thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường với Văn học nước ngoài và Văn học Việt Nam Nội dung Trường Trung học cơ sở Trường Trung học phổ thông Số tiết Tỉ lệ (%) Số tiết Tỉ lệ (%)
  • 93. 92 Tổng số tiết văn bản 179 100 158 100 Tổng số tiết Văn học Việt Nam 138 77,1 131 82,9 Tổng số tiết Văn học nước ngoài 41 22,9 27 17,1 Tổng số tiết thơ Đường 4 2,2 3 1,9 Thơ Đường/ Văn học Việt Nam 4/138 2,9 3/131 2,3 Thơ Đường/ Văn học nước ngoài 4/41 9,8 3/27 11,1 Tổng số tiết thơ Đường/ Tổng số tiết văn học nước ngoài ở trường Phổ thông 7/68 (10,3%) Qua bảng thống kê các tác phẩm, tác giả trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, ta thấy nhìn chung, các tác phẩm thơ Đường được đưa vào giảng dạy khá phong phú. Đó là những tác phẩm tiêu biểu của những thi sĩ lớn đời Đường, các bản dịch thơ được lựa chọn cũng là một trong những bản dịch tiêu biểu của những dịch giả lớn. Thời lượng giảng dạy các tác phẩm thơ Đường trong chương trình tổng cộng là 7 tiết. So với thời lượng văn học nước ngoài trong trường phổ thông, thơ Đường được dành nhiều thời gian hơn (7/68 tiết) chiếm tỉ lệ 10,3%. Điều này cũng phù hợp, vì thơ Đường không những chỉ là thành tựu đặc sắc của thơ ca nhân loại mà còn có ảnh hưởng đến thơ ca Việt Nam, nhất là những bài thơ sáng tác theo thể thơ Đường luật thời Trung đại. 3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn của việc dạy và học thơ Đường: * Thuận lợi: - Những bài thơ Đường được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa từ Trung học cơ sở lên Trung học phổ thông là những bài thơ tiêu biểu của những nhà thơ nổi tiếng đời Đường, được lựa chọn theo lối xoáy trôn ốc, vừa kế thừa, vừa phát triển. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, tài liệu tham khảo và tư liệu về thơ Đường ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.
  • 94. 93 - Thơ Đường ngắn gọn, súc tích, giàu cảm xúc nên dễ thuộc, dễ nhớ. Nội dung thơ Đường chan chứa tính nhân văn, những rung động sâu lắng với thiên nhiên, với quê hương, với bè bạn,…Hình ảnh con người trong thơ Đường rất gần gũi và quen thuộc với con người Việt Nam qua những nỗi niềm, những suy tư về hoàn cảnh, về số phận cuộc đời... - Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngày càng trở nên phổ biến và phát triển vượt bậc. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, bên cạnh dạy học bằng máy chiếu với phần mềm Powerpoint, hiện nay, ở một số trường Trung học phổ thông trong Thành phố đã được trang bị thêm bảng thông minh (Active Board), dạy học bằng phầm mềm Activ Inspire có tác dụng hỗ trợ rất lớn trong việc dạy học thơ Đường theo hướng tích cực. * Khó khăn: - Về phía người dạy: + Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 24 phiếu khảo sát giáo viên Trung học cơ sở và 38 phiếu khảo sát giáo viên Trung học phổ thông, đã có 11/24 phiếu (chiếm 45,8%) của giáo viên Trung học cơ sở, 21/38 phiếu (chiếm 55,3%) của giáo viên Trung học phổ thông cho rằng khó khăn lớn nhất khi dạy thơ Đường là do vốn từ Hán Việt của giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế nên gặp nhiều trở ngại khi khai thác các yếu tố về thi pháp thơ Đường. + Thời gian dạy chỉ bốn mươi lăm phút cho một bài thơ là quá ít, không đủ để giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích nội dung và thi luật. Có 91,7% giáo viên Trung học cơ sở và 92,1% giáo viên Trung học phổ thông ở các đơn vị được chọn khảo sát đều cho rằng, việc phân phối chương trình và thời gian giảng dạy thơ Đường chưa hợp lý. + So với các văn bản văn học Việt Nam, tài liệu tham khảo về thơ Đường của giáo viên còn nhiều hạn chế + Việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, đặc biệt là phương pháp dạy học mới cho giáo viên chưa được tổ chức thường xuyên, chưa mang lại hiệu quả cao. - Về phía người học:
  • 95. 94 Khảo sát 157 học sinh Trung học cơ sở ở trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa và trường THPT Lương Thế Vinh; 272 học sinh Trung học phổ thông ở các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, THPT Lương Thế Vinh và THPT Tạ Quang Bửu, kết quả cho thấy có tới 89,2% học sinh Trung học cơ sở và 69,9% học sinh Trung học phổ thông không thích học thơ Đường vì một số lý do chính sau đây: + Vốn từ Hán Việt của học sinh còn nhiều hạn chế + Bản phiên âm và bản dịch thơ đôi lúc có một số từ ngữ chưa sát nghĩa, gây lúng túng cho học sinh (và cả giáo viên) khi học và dạy thơ Đường. + Nội dung thơ Đường thường có nhiều điển tích, điển cố khó hiểu, khó nhớ; niêm, luật, vần, đối trong thơ Đường khó tiếp cận nên học sinh không cảm thấy hấp dẫn. + Thơ Đường hàm súc, ý tứ sâu xa, lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở và đầu Trung học phổ thông khó lĩnh hội đầy đủ được, đôi lúc học sinh cảm thấy khó hiểu khi tiếp cận thơ Đường. + Khả năng tưởng tượng, cảm thụ khi học thơ Đường của học sinh còn nhiều hạn chế, đôi lúc thấy xa lạ với lối tư duy trong thơ cổ. * Những nguyên nhân chủ yếu: - Nhịp sống hịên đại với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin đã thu hút sự quan tâm chú ý của thế hệ trẻ, khiến học sinh ít quan tâm và không hứng thú khi tiếp cận với những tác phẩm văn học cổ trong quá khứ. - Muốn chiếm lĩnh được nội dung và cảm nhận được nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm, học sinh cần phải hiểu thấu đáo được lớp từ ngữ mà nhà văn dùng làm công cụ để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Trong khi đó, vốn từ Hán Việt của học sinh còn nhiều hạn chế, những điển tích, điển cố trong bài còn xa lạ với học sinh. - Với phương pháp giảng dạy theo kiểu diễn giảng đang phổ biến trong trường phổ thông hiện nay thì việc giảng dạy thơ Đường chưa thật sự hiệu quả. Kết quả điều tra cho thấy, để chuẩn bị cho một tiết dạy thơ Đường, giáo viên chưa kết hợp
  • 96. 95 được các yếu tố nội dung, nghệ thuật, từ ngữ trong các bản dịch, điển tích, điển cố,… mà chỉ chủ yếu tập trung vào nội dung chính. Với cách dạy như thế, giáo viên rất khó đưa các em tiếp cận với thế giới rộng lớn của thơ Đường. - Do hạn chế về nhận thức trong quan niệm về dạy- học, đã từ lâu với quan niệm cũ, nhiều người cho rằng, dạy học chủ yếu là nội dung; mục đích của dạy- học chủ yếu là rèn trí nhớ chứ không phải rèn trí thông minh. Với quan niệm như vậy, giáo viên đã quên điều Mác đã từng nói: phương thức sản xuất này khác phương thức sản xuất kia không phải là ở chỗ sản xuất ra cái gì mà là sản xuất bằng cách nào. Do đó, vẫn còn tồn tại một số giáo viên dạy học theo khuynh hướng cung cấp kiến thức có sẵn, tách rời học sinh trong quá trình Đọc- hiểu văn bản, ít chú trọng đến phương pháp hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm. 3.2. Thực nghiệm giảng dạy thơ Đường ở trường Phổ thông: 3.2.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm: 3.2.1.1. Mục đích: - Nghiên cứu các kinh nghiệm về một số biện pháp giảng dạy thơ Đường nhằm nâng cao chất lượng dạy và học thơ Đường - Nhận ra ưu điểm, hạn chế của những biện pháp - Mức độ phù hợp của biện pháp đối với nhiều loại đối tượng học sinh - Tìm ra những biện pháp nên áp dụng kết hợp trong một tiết học thơ Đường - Nhận ra những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng các biện pháp trong dạy học, từ đó có sự điều chỉnh hợp lý và tìm ra những phương hướng khắc phục. 3.2.1.2. Yêu cầu: - Tiến hành khảo sát trên nhiều loại đối tượng: giáo viên (gồm giáo viên Trung học cơ sở và giáo viên Trung học phổ thông), học sinh (Giỏi- khá- trung bình- yếu) của các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5, trường
  • 97. 96 THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1, trường THPT Lương Thế Vinh- Quận 1, trường THPT Tạ Quang Bửu- Quận 8 - Thu thập thông tin phản hồi từ những phiếu khảo sát thăm dò và phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên, học sinh. - Giảng dạy thực nghiệm, dự giờ một số tiết dạy thơ Đường của các giáo viên Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. 3.2.1.3. Nội dung: Một số bài thơ Đường trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông - Chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở: + Vọng Lư sơn bộc bố- Lí Bạch (Ngữ văn lớp 7, tập 1) + Tĩnh dạ tứ- Lí Bạch (Ngữ văn lớp 7, tập 1) + Hồi hương ngẫu thư- Hạ Tri Chương (Ngữ văn lớp 7, tập 1) - Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông: + Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng- Lí Bạch (Ngữ văn lớp 10, tập 1) + Thu hứng- Đỗ Phủ (Ngữ văn lớp 10, tập 1) + Hoàng Hạc lâu- Thôi Hiệu (Bài đọc thêm, Ngữ văn lớp 10, tập 1) 3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm: 3.2.2.1. Chương trình ngữ văn Trung học cơ sở: VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ (Xa ngắm thác núi Lư) Lí Bạch MỤC TIÊU BÀI HỌC: 2) Về kiến thức: - Cảm nhận được vẻ đẹp của thác nước Lư Sơn và qua đó thấy được tâm hồn, tính cách của nhà thơ Lý Bạch.
  • 98. 97 - Bước đầu nhận biết mối quan hệ gắn bó giữa tình và cảnh trong thơ cổ. 3) Về kỹ năng: - Rèn luyện kỹ năng so sánh, đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa, dịch thơ để phân tích tác phẩm. - Có ý thức tích lũy từ Hán Việt 4) Thái độ: Bồi dưỡng tâm hồn yêu thiên nhiên và biết thưởng thức, trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống. I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG: 1) Tác giả: - Là nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đời Đường - Sớm xa gia đình, quê hương, đi du lịch, tìm đường lập công danh và sự nghiệp, cứu đời nhưng không toại nguyện. - Lí Bạch được mệnh danh là “tiên thơ”. Thơ ông biểu hiện một tâm hồn tự do, phóng khoáng, hình ảnh thơ tươi sáng, ngôn ngữ điêu luyện. - Lí Bạch viết nhiều bài rất hay về chiến tranh, thiên nhiên, tình yêu và tình bạn. 2) Tác phẩm: Bài thơ “Vọng Lư Sơn bộc bố” là một trong những bài tiêu biểu viết về thiên nhiên của ông. II/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN: * Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ. Phần phiên âm: Nhật chiếu Hương Lô/ sinh tử yên, Dao khan bộc bố/ quải tiền xuyên. Phi lưu trực há/ tam thiên xích, Nghi thị/ Ngân Hà lạc cửu thiên.
  • 99. 98 Phần dịch thơ: Ở bài thơ này, học sinh đọc với giọng phấn chấn, hùng tráng, ngợi ca, chú ý nhịp ngắt 4/3 (hoặc 2/2/3) ở các câu trong bản dịch: Nắng rọi Hương Lô/ khói tía bay, Xa trông dòng thác/ trước sông này. Nước bay thẳng xuống/ ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà/ tuột khỏi mây. (Bản dịch của Tương Như) - Câu 1, 2: giọng tự nhiên, thanh thản - Câu 3: giọng nhanh, mạnh, hùng tráng - Câu 4: giọng ngạc nhiên, ngỡ ngàng * Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa. (Học sinh điền vào chỗ trống trong phiếu học tập ở phần dịch nghĩa) Phiên âm Dịch nghĩa TIÊU ĐỀ vọng trông từ xa Lư sơn núi Lư bộc bố thác nước CÂU 1 nhật mặt trời, ngày chiếu chiếu sáng, soi sáng Hương Lô tên đỉnh núi sinh làm nảy sinh, sinh ra tử màu đỏ yên khói CÂU 2 dao xa khan (khán) nhìn, xem quải treo tiền trước, phía trước mặt
  • 100. 99 xuyên sông CÂU 3 phi bay lưu chảy trực thẳng há (hạ) rơi xuống tam thiên xích ba nghìn thước CÂU 4 nghi thị ngỡ là Ngân Hà sông Ngân lạc rơi xuống cửu thiên chín tầng trời * Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa. 1) Tiêu đề bài thơ và vị trí của người ngắm cảnh: Câu hỏi gợi mở: - Căn cứ vào tiêu đề bài thơ và câu thơ thứ hai (chú ý nghĩa của chữ “vọng” và chữ “dao”), xác định vị trí đứng ngắm thác nước của tác giả? - Vị trí này có lợi thế như thế nào trong việc phát hiện những đặc điểm của thác nước? Định hướng trả lời: - Tên bài thơ có chữ “vọng” (trông từ xa) và câu thơ thứ hai có từ “dao” (xa) cho thấy: nhà thơ không đứng gần mà ở xa để ngắm cảnh thác nước. - Điểm nhìn này không quan sát chi tiết, tỉ mỉ được nhưng có thể bao quát được một không gian rộng lớn, phát hiện được vẻ đẹp của toàn cảnh.  Lý Bạch đã chọn được điểm nhìn phù hợp khi miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của thác Lư Sơn. 2) Vẻ đẹp của thác nước Lư Sơn: Câu 1:
  • 101. 100 “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên” Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh ra làn khói tía (Nắng rọi Hương Lô khói tía bay) Câu hỏi gợi mở: Động từ “sinh” ở câu thơ thứ nhất gợi tả được điều gì về thác nước? Định hướng trả lời: Động từ “sinh” (làm nảy sinh, sinh ra): Mặt trời chiếu núi Hương Lô sinh ra làn khói tía Thác là sản phẩm của tạo hóa, cảnh vật không vô tri vô giác mà đang chuyển động, rất có hồn.  Bản dịch của Tương Như chưa dịch được chữ “sinh” nên chưa thể hiện được ý trên. Câu 2: “Dao khan bộc bố quải tiền xuyên” Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước (Xa trông dòng thác trước sông này) Câu hỏi gợi mở: - Theo em, câu thơ thứ hai có mấy cách hiểu? Đối chiếu bản dịch thơ và bản phiên âm, em thấy có gì khác biệt không? - Qua hai câu thơ trên, vẻ đẹp của thác nước hiện lên như thế nào? Định hướng trả lời: - Câu thơ thứ hai có 2 cách hiểu: + Đứng xa trông dòng thác treo trên dòng sông phía trước “Dòng sông phía trước” chỉ vị trí nơi thác nước đổ xuống. + Đứng xa trông dòng thác giống như một con sông treo trước mặt.  Dòng sông phía trước là hình ảnh dùng để so sánh với dòng thác nhìn từ xa. - Dù hiểu theo nghĩa nào thì bản dịch thơ “Xa trông dòng thác trước sông này” cũng đã đánh rơi mất chữ “treo”, chữ quan trọng nhất của câu thơ. Vẻ đẹp mềm mại, thanh tú, tĩnh lặng.
  • 102. 101 Câu 3: “Phi lưu trực há tam thiên xích” Thác chảy như bay đổ thẳng xuống từ ba nghìn thước (Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước) Câu hỏi gợi mở: - Ở câu thứ ba, thác Lư Sơn được miêu tả trong trạng thái ra sao? Từ ngữ nào thể hiện trạng thái đó? - Nhận xét của em về vẻ đẹp của thác nước? Định hướng trả lời: - Nếu ở câu 2, thác ở trạng thái tĩnh lặng thì đến câu 3, thác được miêu tả trong trạng thái chuyển động. - Nhà thơ dùng các từ ngữ “phi lưu” (dòng nước chảy như bay), “trực há” (đổ thẳng xuống), “tam thiên xích” (ba ngàn thước) để thể hiện sự chuyển động (tốc độ, phương hướng, khoảng cách) của thác nước.  Vẻ đẹp dữ dội, mãnh liệt, hùng vĩ Câu 4: “Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên” Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây (Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây) Câu hỏi gợi mở: - Trạng thái cảm xúc của nhà thơ được thể hiện qua từ ngữ nào? - Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thác nước ở câu 4? Định hướng trả lời: - Cảm giác ngỡ ngàng, không tin ở mắt mình thể hiện qua từ “nghi thị” (nghi ngờ, ngỡ là) - Trong trí tưởng tượng của con người, thác nước dường như không còn là dòng thác có thực mà là dòng thác của thần thoại, của tiên giới.  Vẻ đẹp huyền diệu, kỳ ảo. 3) Tâm hồn và tính cách nhà thơ:
  • 103. 102 Câu hỏi gợi mở: - Tại sao Lí Bạch lại phát hiện được nhiều vẻ đẹp của thiên nhiên? - Qua bài thơ, em hiểu thêm điều gì về tâm hồn và tính cách của Lí Bạch? Định hướng trả lời: - Lí Bạch có đôi mắt và tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, giàu sức tưởng tượng. - Lí Bạch là bậc thầy sử dụng ngôn ngữ, là một “thi tiên” lãng mạn, có tấm lòng tha thiết với thiên nhiên cảnh vật, có tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng. Hoạt động 3: Tổng kết giá trị nội dung, nghệ thuật: Học sinh điền vào phiếu học tập: Vọng Lư Sơn bộc bố- Lí Bạch Nội dung Nghệ thuật Vẻ đẹp của thác núi Lư và tình yêu thiên nhiên đằm thắm, tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng của nhà thơ - Hình ảnh tráng lệ, huyền ảo - Ngôn ngữ hàm súc, gợi tả - Miêu tả sinh động, hấp dẫn
  • 104. 103 HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ (Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê) Hạ Tri Chương MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1) Về kiến thức: - Thấy được tính độc đáo trong việc thể hiện tình cảm quê hương sâu nặng của bài thơ. - Hiểu được phép đối và tác dụng của nó. 2) Về kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng phân tích và cảm thụ thơ Đường luật, kỹ năng sử dụng phép đối trong khi viết văn. 3) Thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, làng xóm. I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG: 1) Tác giả: - Là người có tình cảm sâu nặng với quê hương - Làm quan trên năm mươi năm, được vua Đường Huyền Tông rất mực vị nể - Tính tình hào phóng, để lại cho đời 20 bài thơ 2) Tác phẩm: - Thể thơ: + Nguyên tác: Thất ngôn tứ tuyệt + Dịch thơ : Lục bát - Hoàn cảnh sáng tác: Ở bài thơ này, sách giáo khoa không nêu rõ hoàn cảnh sáng tác, giáo viên cần giảng thêm cho học sinh: Hạ Tri Chương xa quê từ khi còn trẻ, cuộc đời ông là bước đường thành công trong sự nghiệp. Ông đỗ tiến sĩ, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được vua Đường Huyền Tông vị nể. Trường An có thể được xem là quê
  • 105. 104 hương thứ hai thân thiết của Hạ Tri Chương. Nhưng, con người dù sao cũng không thể chống lại quy luật tâm lí muôn đời: “Hồ tử tất như khau Quyện điểu quy cựu lâm” (Cáo chết tất quay đầu về núi gò Chim mỏi tất bay về rừng cũ) (Khuất Nguyên) Ai cũng mang trong mình một tình cảm với quê hương thiêng liêng sâu nặng, nhất là với những người xa quê, tình cảm ấy lại càng trở nên thiết tha, day dứt. Lúc từ quan về quê làm đạo sĩ sau hơn 50 năm xa cách, ông đã ngẫu nhiên sáng tác bài thơ này. II/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN: * Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ. Phần phiên âm: Chú ý nhịp 4/3, riêng câu 4 nhịp 2/5 Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi, Hương âm vô cải/ mấn mao tồi. Nhi đồng tương kiến/ bất tương thức, Tiếu vấn/ Khách tòng hà xứ lai? Phần dịch thơ: chú ý sự khác nhau về nhịp ngắt ở các câu trong 2 bản dịch: Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ: Khi đi trẻ/ lúc về già, Giọng quê vẫn thế/ tóc đà khác bao. Trẻ con nhìn/ lạ/ không chào Hỏi rằng/: “Khách ở chốn nào/ lại chơi?” Bản dịch của Trần Trọng San: Trẻ đi/ già trở lại nhà Giọng quê không đổi/ sương pha mái đầu
  • 106. 105 Gặp nhau/ mà chẳng biết nhau Trẻ cười/ hỏi:/ “Khách từ đâu đến làng?” Một vài lưu ý khi đọc: Để thể hiện được tâm trạng của tác giả khi trở về quê hương, ta cần đọc chậm rãi, chú ý phép đối trong hai câu thơ đầu. Câu cuối cần lên giọng, thể hiện sự ngạc nhiên của lũ trẻ, đồng thời cũng là sự hẫng hụt trong tình cảm của nhà thơ. * Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa (Học sinh điền vào chỗ trống trong phiếu học tập ở phần dịch nghĩa) Phiên âm Dịch nghĩa TIÊU ĐỀ hồi trở về hương làng ngẫu tình cờ, ngẫu nhiên thư chép, viết, ghi lại CÂU 1 thiếu trẻ tiểu nhỏ li xa, rời gia nhà lão già đại lớn CÂU 2 âm tiếng, giọng nói vô không cải đổi mấn mao tóc mai tồi hỏng, rơi rụng CÂU 3 nhi đồng trẻ con tương cùng nhau kiến thấy
  • 107. 106 bất không thức biết, quen nhau CÂU 4 tiếu cười vấn hỏi khách người ở nơi khác đến tòng từ hà xứ nơi nào lai đến * Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa. Trước tiên, giáo viên tạo tâm thế cho học sinh qua câu hỏi gợi mở khám phá nhan đề: Xa quê, nhớ quê là đề tài quen thuộc trong thơ cổ đại, trung đại phương Đông nhưng mỗi nhà thơ trong hoàn cảnh riêng lại có cách thể hiện độc đáo, không trùng lặp. Qua nhan đề “Hồi hương ngẫu thư”, em nhận ra điều gì mới trong cách thể hiện tình cảm của Hạ Tri Chương? Giáo viên gợi mở giúp học sinh nhận ra vấn đề: Ở đây có hai sự lạ: Bao năm xa quê, Hạ Tri Chương đã không viết bài thơ nào, bây giờ lại viết khi vừa mới về quê; mặt khác, chữ “ngẫu” cho thấy nhà thơ không hề có ý làm thơ, dường như tất cả tâm tình của nhà thơ đều đặt trong cái đích “hồi hương”. Qua đó ta thấy được nỗi lòng của nhà thơ khi trở về quê hương sau nhiều năm xa cách. 1) Hai câu thơ đầu: “Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi Hương âm vô cải, mấn mao tồi” (Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về Giọng quê không đổi, nhưng tóc mai đã rụng) Phạm Sĩ Vĩ dịch:
  • 108. 107 Khi đi trẻ, lúc về già Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao Trần Trọng San dịch: Trẻ đi, già trở lại nhà, Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu. Câu hỏi gợi mở: - Em hãy phân tích các vế đối ở hai câu thơ đầu. Phép đối trong hai câu thơ ấy có tác dụng gì? - Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa, Phạm Sĩ Vĩ dịch cụm từ “mấn mao tồi” thành “tóc đà khác bao”, Trần Trọng San dịch thành “sương pha mái đầu”. Em có nhận xét gì? Định hướng trả lời: * Về nghệ thuật đối: “Thiếu tiểu li gia/ lão đại hồi Hương âm vô cải/ mấn mao tồi”  Hai câu đối, mỗi câu có hai vế, mỗi vế có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh:  Thiếu tiểu/ lão; li gia/đại hồi  Hương âm /mấn mao, vô cải/tồi  Tác dụng của nghệ thuật đối: Lấy cái thay đổi là cái cụ thể: “mấn mao” (tóc mai) để làm nổi bật cái không thay đổi là cái tượng trưng “hương âm” (giọng quê)  Tình cảm gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương. * Về bản dịch thơ: Phạm Sĩ Vĩ dịch “mấn mao tồi” thành “tóc đà khác bao” chỉ thể hiện được sự thay đổi của mái tóc, Trần Trọng San dịch thành “sương pha mái đầu” chỉ thể hiện được tóc đã bạc chứ chưa thể hiện được nét nghĩa “tóc mai đã rụng” của chữ “tồi” trong bản nguyên tác. Ở câu thơ này, ta có thể tham khảo thêm bản dịch của Trần Trọng Kim: “Bé đi, già mới về nhà, Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa”
  • 109. 108 So với các hai bản dịch trên, bản dịch của Trần Trọng Kim dịch “mấn mao tồi” thành “tóc đà rụng thưa” sát với nguyên tác hơn. Cách dịch như vậy đã thể hiện rõ nhất sự đối lập: Ông từ giã quê hương ra đi để mưu tìm công danh sự nghiệp vào những năm còn trai trẻ, và qua bao nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ tóc đã rụng thưa nhưng giọng nói quê cũ của ông chẳng bao giờ đổi thay  Tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương cho dù phải sống tha phương xa cách ngàn trùng. 2) Hai câu thơ cuối: “Nhi đồng tương kiến, bất tương thức Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?” (Trẻ con gặp mặt, không quen biết Cười hỏi: Khách ở nơi nào đến?) Phạm Sĩ Vĩ dịch: Trẻ con nhìn lạ không chào Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi? Trần Trọng San dịch: Gặp nhau mà chẳng biết nhau, Trẻ cười hỏi: “Khách từ đâu đến làng?” Câu hỏi gợi mở: - Nhận xét của em về giọng điệu của câu thơ? - Tại sao chỉ có nhi đồng ra đón tác giả ở làng quê? Bọn trẻ đã đón ông với thái độ như thế nào? Định hướng trả lời: - Giọng điệu như bình thản, khách quan nhưng vẫn phảng phất buồn. - Nhi đồng ra đón ông với tiếng cười và câu hỏi hồn nhiên “Khách tòng hà xứ lai?”  Bạn bè cùng tuổi với ông chẳng còn ai, nếu còn thì chưa chắc họ đã nhận ra ông.
  • 110. 109 Câu hỏi thảo luận nhóm: Được đón về trong tiếng cười, tiếng nói, không khí vui tươi, hồn nhiên, ngây thơ của bọn trẻ, tâm trạng của tác giả có vui lên không? Vì sao? ( Một nhóm 4 học sinh, thời gian thảo luận: 4 phút) Định hướng trả lời: Bọn trẻ đón ông với tiếng cười, tiếng nói, với câu hỏi thật hồn nhiên: “Khách tòng hà xứ lai?”. Chính không khí vui tươi của “nhi đồng” với hành động“tiếu vấn” đã khiến tác giả cảm thấy hụt hẫng, ngậm ngùi, chua xót. Sự việc thật trớ trêu: Trở về nơi chôn nhau cắt rốn mà bị xem như một người khách lạ. Tình huống đặc biệt ấy được thể hiện qua giọng điệu bi hài thấp thoáng ẩn hiện sau những lời tường thuật khách quan, hóm hỉnh. * Hoạt động 3: Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ 1) Nội dung: Bài thơ biểu hiện một cách chân thực sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân lên miền quê cũ. 2) Nghệ thuật: Sử dụng phép đối linh hoạt, từ ngữ điêu luyện.
  • 111. 110 TĨNH DẠ TỨ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) Lí Bạch MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1) Về kiến thức: - Cảm nhận được tình cảm sâu nặng đối với quê hương của nhà thơ Lý Bạch. - Thấy được một số đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: ngôn ngữ tự nhiên bình dị, hình ảnh cụ thể, thủ pháp đối lập. 2) Về kỹ năng: - Rèn luyện kỹ năng so sánh, đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa, dịch thơ để phân tích tác phẩm. - Có ý thức tích lũy từ Hán Việt 3) Thái độ: biết yêu quê hương- nơi mình đã sinh ra và lớn lên. I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG: 1) Hoàn cảnh sáng tác: Thuở nhỏ, Lí Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng. Từ 25 tuổi, Lí Bạch đã xa quê và xa mãi. Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là ông lại nhớ tới quê nhà. 2) Thể loại: Bài thơ được viết theo hình thức cổ thể- một thể thơ trong đó mỗi câu thường có 5 hoặc 7 chữ, song không bị những quy tắc chặt chẽ về niêm luật và đối ràng buộc. 3) Chủ đề: Chủ đề quen thuộc “Vọng nguyệt hoài hương” II/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN: * Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ.
  • 112. 111 Phần phiên âm: Bài thơ có nhịp 2/3, chú ý phép đối trong hai câu 3 và 4. Sàng tiền/ minh nguyệt quang Nghi thị/ địa thượng sương Cử đầu/ vọng minh nguyệt Đê đầu/ tư cố hương. Phần dịch thơ: Cần đọc chậm, nhẹ nhàng nhưng rành mạch, thể hiện được tình cảm nhớ quê nhà của tác giả. Chú ý nhịp ngắt ở các câu trong bản dịch: - Câu 1: nhịp 2/3 - Câu 2: nhịp 3/2 - Câu 3: nhịp 2/3 - Câu 4: nhịp 2/3 Đầu giường/ ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất/ phủ sương. Ngẩng đầu/ nhìn trăng sáng, Cúi đầu/ nhớ cố hương. - Câu 1: giọng tự nhiên, thanh thản - Câu 2: giọng ngạc nhiên, ngỡ ngàng - Câu 3: giọng lên cao, ngưỡng vọng - Câu 4: giọng trầm, đượm buồn * Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa. Phiên âm Dịch nghĩa TIÊU ĐỀ tĩnh im lặng, yên tĩnh dạ đêm tứ ý tứ, cảm nghĩ CÂU 1 sàng giường tiền trước minh sáng nguyệt trăng
  • 113. 112 quang ánh sáng CÂU 2 nghi ngờ thị là địa đất thượng trên sương sương CÂU 3 cử cất lên, nâng lên đầu đầu vọng trông xa CÂU 4 đê cuối xuống tư lo nghĩ cố cũ hương làng, quê hương * Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa. Trước khi tìm hiểu bản dịch thơ, giáo viên giúp các em tiếp cận với chủ đề “vọng nguyệt hoài hương” và mạch cảm xúc của toàn bài thơ qua việc gợi mở nhan đề: Từ trước đến nay, hầu hết các sách đều viết tựa đề bài thơ là “Tĩnh dạ tứ”. Tuy nhiên, theo Hán Việt từ điển, “tứ” là ý tứ, thi tứ; “tư” là cảm xúc, sự nghĩ ngợi, các vấn đề thuộc về tâm như tưởng tượng, ghi nhớ, suy xét... Căn cứ vào mạch cảm xúc của bài thơ và nhất là câu thơ cuối, em thấy nhan đề “Tĩnh dạ tứ” hay “Tĩnh dạ tư” phù hợp hơn? 1) Hai câu thơ đầu: Câu hỏi gợi mở: - Điều gì gợi cho Lí Bạch cảm thấy nhớ quê hương? - Vì sao trăng lại gợi lên nỗi nhớ quê của Lí Bạch? Vì sao Lí Bạch lại xúc cảm từ một ánh trăng đầu giường?
  • 114. 113 - Bản dịch nghĩa dịch từ “quang” thành từ “ sáng”. Câu thơ dịch đổi thành “rọi”. Em thấy từ “sáng”,“rọi” và “chiếu” khác nhau như thế nào? Em có thích từ “rọi” trong bản dịch thơ không? Tại sao? - Trong hai câu, câu nào là câu miêu tả, câu nào là câu biểu cảm? Mối quan hệ giữa câu tả và câu cảm gợi nên điều gì? Định hướng trả lời: - Lí Bạch nhớ quê không phải vì đêm yên tĩnh mà vì ánh trăng sáng. - Mọi người khi xa quê chỉ có vầng trăng là quen thuộc Tình quê hương của Lý Bạch chân thực, mang ý nghĩa phổ biến (xa quê chỉ có trăng gần gũi, thân thương, gợi nhớ) - Nhà thơ xúc cảm từ ánh trăng đầu giường. Ánh trăng đầu giường gợi thêm ý nghĩa “trăng đi tìm người thân”. - “Sáng”, “chiếu” là trạng thái tự nhiên của trăng. “Rọi” có thêm ý: Ánh trăng đi tìm thi nhân như đi tìm bạn tri âm, tri kỷ.  Bản dịch thơ của Tương Như rất hay và sáng tạo với từ “rọi”. - Câu đầu là tả, câu hai biểu cảm  Sự liên tưởng nhạy bén, phóng khoáng, tâm hồn dễ rung cảm với thiên nhiên của nhà thơ: nhà thơ nhìn ánh trăng rọi đầu giường mà ngỡ là sương sa trên mặt đất.  Hình ảnh thơ đi từ cái thực đến cái ảo. 2) Hai câu thơ cuối: Câu hỏi gợi mở: - Đối chiếu từ “vọng” trong bản phiên âm, bản dịch nghĩa dịch thành “ngắm”, bản dịch thơ dịch thành “nhìn”. Em có nhận xét gì về ba từ: “vọng”, “ngắm”, “nhìn” về sắc thái ý nghĩa? Em thích từ “nhìn” hay từ “ngắm” hơn? Tại sao? (Giáo viên gợi ý: Học sinh có thể tra từ điển Tiếng Việt để hiểu nghĩa của các từ trên) - Phân tích nghệ thuật đối trong hai câu thơ cuối để cảm nhận cảm xúc của nhà thơ?
  • 115. 114 - Sưu tầm một số câu thơ cùng chủ đề “Vọng nguyệt hoài hương” với bài thơ Định hướng trả lời: - So sánh sắc thái ý nghĩa của ba từ : vọng, ngắm, nhìn: + “Vọng” là hướng về một phía như là hướng cả mắt và tâm hồn. + “Nhìn” chỉ là một động tác sinh lý của mắt. + “Ngắm” là động tác “nhìn” với tâm hồn, với sự thưởng thức hòa nhập cái nhìn bên trong.  Bản dịch thơ của Tương Như dịch “vọng” thành “nhìn” Chưa thể hiện được ý nghĩa của từ “vọng”: hướng về ánh trăng bằng cả đôi mắt và tâm hồn. - Nghệ thuật đối: Cử đầu (ngẩng đầu)/ đê đầu (cúi đầu): + Ngẩng đầu: là cử chỉ phóng tầm mắt ra xa, lên cao để hòa nhập với thiên nhiên đẹp, phóng khoáng. + Cúi đầu: là cử chỉ thu mình vào tâm linh, vào trạng thái trầm mặc, thoát khỏi mọi sự vật xung quanh để tưởng nhớ.  Nỗi nhớ quê hương sâu nặng, da diết, khôn nguôi.  Bản dịch thơ của Tương Như đã chuyển tải rất thành công biện pháp đối của thơ Đường. - Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những bài thơ, những câu thơ cùng chủ đề “Vọng nguyệt hoài hương” với bài thơ để cảm nhận bài thơ sâu sắc hơn: Lộ tòng kim bạch dạ Nguyệt thị cố hương minh (Sương từ đêm nay trắng xóa Trăng là ánh sáng của quê nhà) (Đỗ Phủ) Cộng khan minh nguyệt ưng thùy lệ Nhất phiến hương tâm ngũ xứ đồng. (Xem trăng có lẽ cùng rơi lệ Một mảnh tình quê, năm anh em ở năm nơi đều giống nhau) (Bạch Cư Dị)
  • 116. 115 * Hoạt động 4: Tổng kết lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Học sinh điền vào phiếu học tập: Tĩnh dạ tứ- Lí Bạch Nội dung Nghệ thuật Bài thơ thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tình quê hương của một người sống xa nhà trong một đêm trăng thanh tĩnh. Bút pháp tả cảnh ngụ tình Ngôn ngữ thơ tinh luyện, cô đọng, hàm súc Từ ngữ, hình ảnh giản dị mà gợi hình, gợi cảm Thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối
  • 117. 116 3.2.2.2. Chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông: TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) Lí Bạch MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1) Về kiến thức: - Cảm nhận được tình bạn chân thành, thắm thiết của hai nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc thời Đường. - Hiểu được một số nghệ thuật cơ bản của thơ Đường: ý ở ngoài lời; ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, đa nghĩa; bút pháp tả cảnh ngụ tình. 2) Về kĩ năng: Rèn luyện và bồi dưỡng kĩ năng, phương pháp học thơ Đường 3) Về thái độ: Biết trân trọng tình bạn, thấy được vị trí, ý nghĩa quan trọng của tình bạn trong cuộc sống. I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG: 1) Tác giả: a) Về cuộc đờì: Lí Bạch (701-762) - Tự là Thái Bạch, quê ở Lũng Tây (nay thuộc tỉnh Cam Túc) - Là nhà thơ lãng mạn của Trung Quốc, được mệnh danh là “thi tiên” b) Sự nghiệp thơ văn: hiện còn trên 1000 bài - Nội dung: ước mơ vươn tới lý tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá tính, bất bình với hiện thực tầm thường, thể hiện tình cảm phong phú, mãnh liệt. - Phong cách: hào phóng, bay bổng, tự nhiên, tinh tế, giản dị. - Đặc trưng: thống nhất giữa cái cao cả và cái đẹp 2) Tác phẩm:
  • 118. 117 - Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 726, khi Lí Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng tại lầu Hoàng Hạc - Thể loại: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. II- GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN: * Hoạt động 1: Giáo viên gọi học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ. Phần phiên âm: nhịp 4/3 hoặc 2/2/3 Cố nhân/ Tây từ/ Hoàng Hạc lâu, Yên hoa/ tam nguyệt/ há Dương Châu. Cô phàm/ viễn ảnh/ bích không tận, Duy kiến/ Trường Giang/ thiên tế lưu. Phần dịch thơ: chú ý nhịp ngắt ở các câu thơ: Bạn từ lầu Hạc/ lên đường, Giữa mùa hoa khói/ Châu Dương/ xuôi dòng. Bóng buồm/ đã khuất bầu không, Trông theo/ chỉ thấy/ dòng sông bên trời. (Bản dịch của Ngô Tất Tố) Một số lưu ý khi đọc: - Câu 1, 2: giọng trầm, đượm buồn - Câu 3: đọc chậm rãi, nhỏ dần - Câu 4: giọng thiết tha, lưu luyến. * Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng - Lí Bạch Phiên âm Dịch nghĩa cố nhân bạn cũ yên hoa mùa hoa khói cô phàm cánh buồm lẻ loi
  • 119. 118 cô phàm viễn ảnh bóng cánh buồm lẻ loi bích không tận mất hút vào khoảng không xanh biếc duy kiến chỉ thấy thiên tế lưu chảy vào cõi trời * Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa. * Nhan đề: Em có nhận xét gì về nhan đề của bài thơ? - Nhan đề dài, trái ngược với sự ngắn gọn, súc tích của thơ Đường. - Dụng ý nghệ thuật của tác giả: Thể hiện rõ quá trình tiễn biệt: Nơi ra đi, nơi sẽ đến, người được tiễn. 1) Hai câu đầu: Khung cảnh buổi chia tay Bạn từ lầu Hạc lên đường Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng Hệ thống câu hỏi gợi mở: 1) Lí Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên trong bối cảnh không gian, thời gian nào? 2) Ba yếu tố không gian, thời gian và con người có mối quan hệ với nhau ra sao? Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn? 3) Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa, Ngô Tất Tố dịch từ “cố nhân” thành từ “bạn”. Em có nhận xét gì?
  • 120. 119 Định hướng trả lời: * Không gian:  Không gian thần tiên, mĩ lệ, khoáng đạt. * Thời gian:  Thời gian thống nhất với không gian ở cái đẹp. * Con người:  Tình bạn đẹp của đôi bạn tri âm, tri kỷ. Nơi ra đi Lầu Hoàng Hạc (Phía Tây) Nơi sẽ đến Thắng cảnh phồn hoa bậc nhất đời Đường Thắng cảnh thần tiên gắn với bao huyền thoại đầy chất thơ Dương Châu (Phía Đông) Sông Trường Giang Thời gian Tháng 3 của mùa xuân Mùa hoa khói Tam nguyệt Yên hoa Con người Mạnh Hạo Nhiên (Cố nhân) Lí Bạch Người ra đi Người đưa tiễn
  • 121. 120 * Mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người:  Bút pháp tả cảnh ngụ tình: Cảnh càng đẹp bao nhiêu thì lòng người càng buồn, càng thấm thía nỗi xa cách, chia ly bấy nhiêu. Đối chiếu bản dịch thơ và phiên âm, dịch nghĩa: Bản dịch thơ đã đánh mất sắc thái hoài niệm trang trọng của hai chữ “cố nhân” và chưa lột tả hết ý nghĩa và cảm xúc của từ này. Mạnh Hạo Nhiên không phải chỉ là bạn thông thường của Lí Bạch mà là bạn tao nhân mặc khách, là bạn tri âm tri kỷ. Tình bạn của Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên đã trải qua chiều dài của thời gian, dã có bề dày của kỉ niệm và dộ sâu của tình cảm. Vì vậy, hai chữ “cố nhân” (bạn cũ, người xưa) mới nói lên được mối quan hệ sâu sắc, lâu bền và gợi sức nặng bội phần của tình cảm tống biệt. 2) Hai câu sau: Tâm tình người đưa tiễn Bóng buồm đã khuất bầu không, Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. Hệ thống câu hỏi: 1) Cảm nhận của em về mối quan hệ của các hình ảnh trong hai câu thơ cuối? 2) Ngô Tất Tố dịch từ “cô phàm” thành “bóng buồm”. Em có nhận xét gì? Thống nhất Tương phản Tình bạn đẹp Thời tiết đẹp Cảnh đẹp Sự biệt ly Mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người
  • 122. 121 3) Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao Lí Bạch lại chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” (cô phàm) của “cố nhân”? 4) Em hãy tự đặt mình vào vị trí của người đưa tiễn, nhìn theo cánh buồm dần xa và dòng sông chảy vào cõi trời để cảm nhận tâm tình của thi nhân. Định hướng trả lời: - Vị trí: Chọn điểm cao: một lầu cao, một bến sông Người tiễn thấy người đi đi xa hơn Không gian rợn ngợp, khiến mối sầu chia ly lan toả. - Mối quan hệ của 3 hình ảnh: Bầu trời- Cánh buồm- Dòng sông  Nghệ thuật đối lập: Sự nhỏ bé, cô đơn của cánh buồm >< sự rộng lớn đến không cùng của bầu trời và dòng sông. Đối chiếu bản dịch thơ: “Cô phàm” dịch thành “bóng buồm” Mất từ “cô” (lẻ loi) Không thấy hết sự đối lập giữa không gian mênh mông của dòng sông và bầu trời với con thuyền lẻ loi như đang tan vào cõi hư vô. - Câu thơ cuối: “Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu” + Cái hữu hạn của dòng sông hòa vào cái vô hạn của bầu trời + Đôi mắt của nhà thơ chỉ còn nhìn thấy trời mây sông nước vô thủy, vô chung. + Cánh buồm lẻ loi đã nhoè đi trong đôi mắt thương nhớ đong đầy.  Tấm lòng định hướng cho đôi mắt. Người đọc nhận ra hai dòng sông: Một dòng sông Trường Giang chảy vào cõi trời và một dòng tình cảm cô đơn, lưu luyến, nhớ thương đang chảy mãi trong tâm hồn nhà thơ. Câu hỏi thảo luận nhóm: Người ta thường cho rằng: Cái hay của thơ Đường là ở chỗ thể hiện được “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời). Em hãy tìm “ý tại ngôn ngoại” qua bài thơ này. - Học sinh thảo luận, trình bày. - Giáo viên nhận xét và chốt lại ý chính.
  • 123. 122 + “Cố nhân”: gợi lên mối quan hệ sâu sắc, lâu bền, gắn bó của đôi bạn tri âm, tri kỷ. + “Yên hoa”: Đây có thể là một buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện với sương mù tháng ba tạo nên hình ảnh “hoa khói”, cũng có thể là vào tháng ba mùa xuân hoa nở nhiều, tầng tầng lớp lớp như là sương, là khói; gợi lên sự xa xôi, mông lung, hư ảo và nỗi buồn, sự cô đơn trong lòng kẻ ở, người đi. + Dương Châu: Ẩn sau địa danh Dương Châu, chúng ta nhận ra tâm trạng và nỗi niềm của Lí Bạch. Mạnh Hạo Nhiên thuộc phái thơ “sơn thủy điền viên”, thích hợp với cuộc sống thanh nhàn nơi làng quê nhưng ông lại đến Dương Châu- một nơi chốn phồn hoa đô hội để làm quan. Và vì thế, Lí Bạch tiễn đưa bạn trong một tâm trạng đầy trắc ẩn, vừa cô đơn, vừa lo lắng. + “Cô phàm”: Gợi lên hình ảnh một cánh buồm đã đi rất xa, nó thật nhỏ nhoi và cô độc giữa cái bát ngát, vô tận của màu xanh nối tiếp đến tận chân trời  Tâm trạng của con người: cô đơn, lẻ loi. + “Duy kiến”: Từ “duy kiến” gợi lên một đôi mắt chứa đầy tâm trạng của Lí Bạch. Với đôi mắt ấy, Lí Bạch chỉ nhìn thấy cánh buồm lẻ loi đưa bạn cũ đi xa mặc dù trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược. Và Lí Bạch cứ đứng đấy để nhìn mãi, nhìn hoài con thuyền đó cho đến khi mất hút vào khoảng hư không. Qua cái nhìn “duy kiến” ấy, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tình bạn chân thành, thắm thiết của Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên đồng thời cũng thấy được sự lưu luyến của ông khi phải chia tay bạn. * Hoạt động 4: Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng- Lí Bạch Nội dung Nghệ thuật Bài thơ tiễn biệt thể hịên một tình bạn đẹp, chân thành, thắm thiết và vô cùng cao quý - Bút pháp tả cảnh ngụ tình - Nghệ thuật đối lập - Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, ý tại ngôn ngoại - Tả cảnh, tả tình đặc sắc bằng lối chấm phá
  • 124. 123 III- LUYỆN TẬP 1) Bài tập 1: Sưu tầm thêm một vài bản dịch thơ của các dịch giả khác, đối chiếu với bản phiên âm, dịch nghĩa và so sánh với bản dịch thơ của Ngô Tất Tố (bản dịch sách giáo khoa) * Bản dịch sưu tầm: Bản dịch thứ nhất: Giã từ Hoàng Hạc bạn về tây Cảnh tiết thành Dương hoa khói bay Nhòa nhạt trời xanh buồm khuất bóng Trường Giang cuồn cuộn tận chân mây. (Bản dịch của Hải Đà) Bản dịch thứ hai: Hoàng Hạc lầu xưa bạn cũ rời Dương Châu hoa khói tháng ba xuôi Buồm đơn bóng hút vào xanh biếc Chỉ thấy Trường Giang chảy cuối trời (Bản dịch của Khương Hữu Dụng) Đối chiếu, so sánh: Câu 1: Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc lâu Dịch nghĩa: Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía Tây Ngô Tất Tố dịch: Bạn từ lầu Hạc lên đường Hải Đà dịch: Giã từ Hoàng Hạc bạn về Tây Khương Hữu Dụng dịch: Hoàng Hạc lầu xưa bạn cũ rời Ngô Tất Tố và Hải Đà dịch từ “cố nhân” thành “bạn”. Cách dịch này chưa thể hiện được chiều dài thời gian, bề dày kỉ niệm và chiều sâu tình cảm của hai người bạn gắn bó, tri âm, tri kỷ. Với từ “cố nhân”, Khương Hữu Dụng dịch sát nguyên tác nhất.
  • 125. 124 Bản dịch của Ngô Tất Tố và Khương Hữu Dụng không dịch “phía Tây”. Theo quan niệm của người xưa, phía Tây là nơi gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết. Do đó, nó có tác dụng gợi lên khung cảnh thần tiên của nơi đưa tiễn. Hải Đà dịch “Giã từ Hoàng Hạc bạn về Tây”, cụm từ “bạn về Tây” chưa hợp lý. Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên về Dương Châu (phía Đông), vị trí đưa tiễn mới là phía Tây (lầu Hoàng Hạc). Câu 2: Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu Dịch nghĩa: Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói Ngô Tất Tố dịch: Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng Hải Đà dịch: Cảnh tiết thành Dương hoa khói bay Khương Hữu Dụng dịch: Dương Châu hoa khói tháng ba xuôi Ở câu thơ này, nhìn chung, mỗi bản dịch đều có nét sáng tạo riêng và đã dịch khá sát với bản phiên âm. Bản dịch của Ngô Tất Tố và Hải Đà thiếu yếu tố “tam nguyệt” nên chưa thể hiện rõ khoảng thời gian đưa tiễn là vào tháng 3. Câu 3: Cô phàm viễn ảnh bích không tận Dịch nghĩa: Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc Ngô Tất Tố dịch: Bóng buồm đã khuất bầu không Hải Đà dịch: Nhòa nhạt trời xanh buồm khuất bóng Khương Hữu Dụng dịch: Buồm đơn bóng hút vào xanh biếc Trong câu thơ này, ta cần lưu ý so sánh, đối chiếu từ “cô phàm”. Ngô Tất Tố dịch thành “bóng buồm”, Hải Đà dịch thành “buồm”. Khương Hữu Dụng dịch thành “buồm đơn”. Bản dịch của Ngô Tất Tố và Hải Đà đã bỏ mất từ “cô” nên không thể hiện rõ được sự đối lập giữa không gian mênh mông của dòng sông và bầu trời với con thuyền cô đơn, lẻ loi như đang tan vào cõi hư vô. Ở câu thơ này, bản dịch của Khương Hữu Dụng dịch sát với nguyên bản nhất. Câu 4: Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
  • 126. 125 Dịch nghĩa: Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời Ngô Tất Tố dịch: Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời Hải Đà dịch: Trường Giang cuồn cuộn tận chân mây Khương Hữu Dụng dịch: Chỉ thấy Trường Giang chảy cuối trời Ở câu thơ cuối, với từ “duy kiến”, bản dịch của Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng đã dịch sát nguyên bản; Hải Đà không dịch từ này. Từ “duy kiến” có tác dụng nhấn mạnh sự việc sau khi “ Bóng cánh buồm xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc” thì nhà thơ chỉ còn thấy duy nhất một dòng sông Trường Giang đang chảy vào cõi trời cho dù mùa xuân trên sông Trường Giang có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược. Qua đó, ta thấy tấm lòng đã định hướng cho đôi mắt, nhà thơ chỉ hướng đôi mắt vào con thuyền đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên, vào dòng sông ly biệt để thể hiện một niềm luyến tiếc bâng khuâng và sự bất lực, không níu kéo được hình ảnh người bạn. 2) Bài tập 2: Sưu tầm một số bài thơ về đề tài tiễn biệt trong thơ Đường và thơ Việt Nam. Phiên âm: Dịch thủy tống biệt Lạc Tân Vương Thử địa biệt yên Đan, Tráng sĩ phát xung quan Tích thời nhân dĩ một, Kim nhật thủy do hàn. Dịch thơ: Tiễn biệt trên sông Dịch Nơi này biệt Yên Đan, Tráng sĩ tóc dựng ngược. Người xưa đã khuất rồi, Nước sông còn lạnh buốt. (Bản dịch của Tương Như)
  • 127. 126 Phiên âm: Tặng Uông Luân Lý Bạch Lý Bạch thừa chu tương dục hành Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh Đào hoa đàm thủy thâm thiên xích Bất cập Uông Luân tống ngã tình. Sắp đi Lý Bạch ngồi thuyền, Dịch thơ: Trên bờ chân giậm, nghe liền tiếng ca. Nước đầm nghìn thước Đào Hoa, Uông Luân, tình bác tiễn ta sâu nhiều. (Bản dịch của Tản Đà) Thơ cổ Việt Nam cũng có nhiều bài viết về cảnh biệt ly gây xúc động lòng người. Trong “Truyện Kiều”, cụ Nguyễn Du đã tả cảnh chia ly giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều khi mối tình của hai người đang thời nồng thắm: Người lên ngựa, kẻ chia bào, Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san Trong “Chinh phụ ngâm”, nữ sĩ Đoàn thị Điểm cũng vẽ lên cảnh biệt ly giữa người vợ và người chồng ra trận bằng những lời thơ vô cùng xúc động: Hà lương chia rẽ đường này, Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi
  • 128. 127 THU HỨNG (Cảm xúc mùa thu) Đỗ Phủ MỤC TIÊU BÀI HỌC: 1) Về kiến thức: - Cảm nhận được tấm lòng yêu nước, thương nhà sâu sắc của Đỗ Phủ trước cảnh chiều thu u ám giữa thời buổi tao loạn nơi đất khách. - Thấy được tính chất đặc biệt hàm súc của thơ Đỗ Phủ qua việc khai thác các tầng lớp ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh thơ. 2) Về kĩ năng: Rèn luyện và bồi dưỡng kĩ năng, phương pháp học thơ Đường 3) Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quê hương, đất nước. I/ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHẦN TÌM HIỂU CHUNG: 1) Tác giả: a) Về cuộc đời: Đỗ Phủ (712- 770) - Tự là Tử Mĩ, quê ở tỉnh Hà Nam - Là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, cuộc đời Đỗ Phủ là cả một chuỗi dài những biến cố thăng trầm của thời buổi tao lọan đời Đường. - Được mệnh danh là “Thi thánh” b) Sự nghiệp thơ văn: hiện còn khoảng 1500 bài - Nội dung: bức tranh hiện thực sinh động, niềm đồng cảm với nhân dân trong khổ nạn, chứa chan tình yêu nước và tinh thần nhân đạo. - Giọng thơ: trầm uất, nghẹn ngào 2) Tác phẩm:
  • 129. 128 - Hoàn cảnh sáng tác: Năm 766, Đỗ Phủ đang ngụ cư ở Quỳ Châu, tại đây, ông đã sáng tác chùm thơ “Thu hứng” gồm 8 bài. Bài “Thu hứng” được tuyển học ở đây là bài thứ nhất của chùm thơ đó. - Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật - Bố cục: Thể thất ngôn bát cú trong thơ Đường có bố cục gồm 4 phần, mỗi phần 2 câu: Đề- thực- luận- kết. Bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ cũng có bố cục 4 phần. Song bài thơ có thể chia làm 2 phần tương đối rõ: + Bốn câu đầu: Miêu tả cảnh thu + Bốn câu sau: Nỗi lòng của nhà thơ Tuy nhiên, cảnh thu và nỗi lòng của nhà thơ đã hòa quyện và xuyên thấm trong nhau: trong cảnh có nỗi lòng, trong nỗi lòng có cảnh. II- GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN: * Hoạt động 1: Giáo viên gọi học sinh đọc văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ; giợng điệu chậm- buồn, tha thiết. Phần phiên âm: Nhịp thơ 4/3 hoặc 2/2/3 Ngọc lộ/ điêu thương/ phong thụ lâm, Vu Sơn/ Vu Giáp/ khí tiêu sâm. Giang gian/ ba lãng/ kiêm thiên dũng, Tái thượng/ phong vân/ tiếp địa âm. Tùng cúc/ lưỡng khai/ tha nhật lệ, Cô chu/ nhất hệ/ cố viên tâm. Hàn y/ xứ xứ/ thôi đao xích, Bạch Đế/ thành cao/ cấp mộ châm. Phần dịch thơ: Nhịp thơ 4/3 hoặc 2/2/3 Lác đác/ rừng phong/ hạt móc sa, Ngàn non/ hiu hắt/ khí thu lòa. Lưng trời/ sóng rợn/ lòng sông thẳm, Mặt đất/ mây đùn/ cửa ải xa.
  • 130. 129 Khóm cúc/ tuôn thêm/ dòng lệ cũ, Con thuyền/ buộc chặt/ mối tình nhà. Lạnh lùng/ giục kẻ/ tay dao thước, Thành Bạch/ chày vang/ bóng ác tà. (Bản dịch của Nguyễn Công Trứ) * Hoạt động 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu bản phiên âm với bản dịch nghĩa. Thu hứng- Đỗ Phủ Phiên âm Dịch nghĩa ngọc lộ sương móc trắng xóa điêu thương làm tiêu điều khí tiêu sâm hơi thu hiu hắt kiêm thiên dũng (nước) vọt ra, vọt lên tận lưng trời tiếp địa âm giáp mặt đất âm u lưỡng khai hai lần nở tha nhật lệ nước mắt ngày trước cô chu con thuyền lẻ loi nhất hệ chỉ buộc, buộc mãi cố viên tâm tấm lòng nơi vườn cũ * Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bản dịch thơ, kết hợp đối chiếu, so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa. 1) Bốn câu đầu: Cảnh thu Hệ thống câu hỏi gợi mở: - Cảnh thu trong hai câu thơ đầu được tác giả miêu tả thông qua những hình ảnh nào? Những hình ảnh ấy có tác dụng gợi tả ra sao? - Cảnh thu trong hai câu 3 và 4 có gì thay đổi so với hai câu thơ trên? Ở hai câu này, tác giả sử dụng nghệ thuật gì?
  • 131. 130 - Đối chiếu với bản phiên âm và dịch nghĩa, em có nhận xét gì về bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ? Định hướng trả lời: * Hai câu đầu: “Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm” (Lác đác rừng phong hạt móc sa Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa) - Hình ảnh: + Sương móc: trắng xóa làm tiêu điều, tang thương cả rừng phong + Núi Vu, kẽm Vu: hơi thu hiu hắt, ảm đạm - Tác giả miêu tả cảnh thu ở cả 3 chiều không gian: + Chiều dài, rộng: rừng phong + Chiều cao: núi Vu + Chiều sâu: kẽm Vu  Cảnh thu tiêu điều, hiu hắt, bi thương khác với không khí mơ màng của mùa thu thường thấy trong thơ ca truyền thống. Đối chiếu bản dịch thơ với phiên âm, dịch nghĩa: - Bản dịch thơ: “Lác đác rừng phong hạt móc sa” chưa sát với nguyên bản hai từ: Ngọc lộ: sương móc trắng xóa; điêu thương: làm tiêu điều - Bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ thay “Vu Sơn, Vu Giáp” thành “ngàn non” thật sáng tạo. Tuy nhiên, ông đã bỏ mất Vu Giáp vì từ “ngàn non” chỉ thể hiện được núi Vu chứ chưa diễn tả rõ hình ảnh kẽm Vu- khoảng không gian giữa hai vách núi kề nhau tạo thành một khe núi có sườn dốc, có độ sâu rợn ngợp. - Nguyễn Công Trứ dịch “khí tiêu sâm” thành “khí thu lòa” chưa thể hiện được sự hiu hắt của trời thu, khí thu. * Hai câu 3-4: “Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm”
  • 132. 131 (Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa ải xa) Nhà thơ sử dụng một loạt hình ảnh đối lập: - Giang gian (giữa lòng sông) với tái thượng (trên cửa ải) - Ba lãng (sóng) với phong vân (gió mây) - Kiêm thiên dũng (vọt lên tận lưng trời) với tiếp địa âm (sà xuống đất âm u) Tả cảnh chuyển động chao đảo, dữ dội, hùng vĩ, bi tráng  Bốn câu thơ tả cảnh thu vừa tiêu điều, ảm đạm, vừa hùng vĩ, bi tráng. Đây là cảnh thu mang dấu ấn Quỳ Châu và cũng là cảnh thu mang bóng dáng cuộc đời và nỗi lòng của con người- nỗi lòng đau đớn trước thời thế và tình cảm nhớ thương quê nhà. Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa: - Nguyễn Công Trứ dịch “kiêm thiên dũng” dịch thành “lưng trời sóng rợn”  chưa khắc họa rõ nét hình ảnh dữ dội, hoành tráng của những đợt sóng giữa lòng sông cuồn cuộn vọt lên, vỗ tận lưng trời. - Từ “địa âm” (mặt đất âm u) dịch thành “mặt đất” sẽ làm giảm sức biểu cảm của câu thơ về một cảnh thu âm u, tiêu điều. 2) Bốn câu sau: Nỗi lòng của nhà thơ Hệ thống câu hỏi gợi mở: - Nhận xét của em về tầm nhìn và thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ 5 và 6? - Ở hai câu thơ này, tác giả tả sự vật gì? Tác giả đồng nhất hóa những gì? Điều đó có ý nghĩa như thế nào? - Ở hai câu thơ kết, tác giả miêu tả âm thanh, hành động nào? Cho biết tác dụng của âm thanh, hành động đó? - Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa, em có nhận xét gì về bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ? Định hướng trả lời: * Hai câu 5- 6:
  • 133. 132 “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ Cô chu nhất hệ cố viên tâm” (Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà) - Tầm nhìn thay đổi từ không gian xa cận kề nội tâm - Phép đối ý, từ ngữ, thanh điệu - Hình ảnh ẩn dụ tượng trưng: hoa cúc, con thuyền + Hoa cúc: tượng trưng cho mùa thu + Con thuyền: cuộc đời nổi trôi lưu lạc; con thuyền mang chở tâm tình con người. - Nghệ thuật đồng nhất: + Cảnh và tình: cúc nở hoa như nhỏ lệ Nỗi đau đến rơi lệ. + Hiện tại và quá khứ: cúc hai lần nở hoa- hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau Giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ của quá khứ năm xưa. + Con người và sự vật: Dây buộc con thuyền lẻ loi với vườn cũ- dây buộc lòng người với cố hương.  Tình lấn cảnh: nỗi nhớ quê hương sâu sắc. Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa: - “Cô chu” dịch thành “con thuyền”  bỏ mất từ “cô” không gợi lên được hình ảnh con thuyền mang chở tâm tình cô đơn của con người. - Bản dịch thơ không dịch từ “lưỡng”: nở rồi lại nở  chưa làm rõ ý cúc hai lần nở hoa đồng nhất với hai lần tác giả rơi lệ ở hai miền quê khác nhau. * Hai câu cuối: bất ngờ, độc đáo “Hàn y xứ xứ thôi đao xích Bạch Đế thành cao cấp mộ châm” (Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước, Thành Bạch, chày vang bóng ác tà) Cảnh sinh hoạt: - Hành động rộn ràng may áo rét
  • 134. 133 - Âm thanh dồn dập của tiếng chày đập áo  Đây là 2 chi tiết có sức gợi cảm đặc biệt, nhất là đối với lữ khách tha hương  Nỗi buồn nhớ quê nhà càng da diết. Câu kết tạo ra một dư âm vang vọng, lan xa, thấm sâu. Đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm, dịch nghĩa: + Từ “hàn y”, Nguyễn Công Trứ dịch thành “lạnh lùng” chưa phù hợp. Từ “lạnh lùng” dùng để chỉ thái độ chứ không phải dùng để nói đến áo rét hay thể hiện cái lạnh, cái rét của mùa đông. + Bản dịch thơ chưa dịch từ “xứ xứ”. Do đó chưa thể hiện được cảnh sinh hoạt ở thành Bạch Đế “Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét”. + Bản dịch thơ cũng chưa dịch được từ “cấp”, do đó chưa làm hiện lên cảnh nhộn nhịp may áo rét với tiếng chày đập vải dồn dập lúc chiều thu. * Hoạt động 4: Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Thu hứng- Đỗ Phủ Nội dung Nghệ thuật Bài thơ là nỗi lòng của Đỗ Phủ và cũng chính là nỗi lòng của trăm họ đang trong cảnh lầm than, li biệt. Bài thơ không trực tiếp phản ánh xã hội mà vẫn có giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn sâu sắc Bút pháp tả cảnh ngụ tình Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc Từ ngữ, hình ảnh gợi tả, gợi cảm với nhiều lớp ý nghĩa III- Luyện tập: Đọc thêm bài thơ “Trại đầu xuân độ” (Bến đò xuân đầu trại) của Nguyễn Trãi, so sánh hình ảnh hai con đò mùa xuân và con đò mùa thu trong hai bài thơ, rút ra nhận xét. Phiên âm: Độ đầu xuân thảo lục như yên, Xuân vũ thiêm lai thuỷ phách thiên. Dã kính hoang lương hành khách thiểu, Cô châu trấn nhật các sa miên.
  • 135. 134 Dịch nghĩa: Cỏ xuân ở đầu bến đò, xanh biếc như khói, Lại thêm mưa xuân nước tiếp ngang trời. Ðường đồng nội vắng tanh, ít người qua lại, Con thuyền mồ côi suốt ngày gác đầu lên bãi mà ngủ. Dịch thơ: Cỏ xanh như khói bến xuân tươi, Lại có mưa xuân nước vỗ trời Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách Con đò gối bãi suốt ngày ngơi”. (Bản dịch của Khương Hữu Dụng) Bài thơ tả cảnh một ngày mưa xuân trên bến đò đầu trại. Cảnh vật mùa xuân tràn đầy sức sống nhưng dường như bị mờ đi, chìm đi trong không gian bao la tĩnh lặng. Ức Trai đã viết bài thơ này trong những tháng năm sống ở Côn Sơn. Câu thứ thứ tư tả con đò, hình ảnh trung tâm của “Bến đò xuân đầu trại”: “Cô châu trấn nhật các sa miên”. Trời mưa, không có khách qua đò. Con đò trở thành mồ côi, đơn độc. Con đò được nhân hóa đang nằm ngủ an nhàn, gối đầu lên bãi cát. Hình ảnh con đò là hiện thân của nhà thơ, nhà thơ muốn gởi trọn tâm hồn mình qua sự yên tĩnh của cảnh thiên khi về Côn Sơn ở ẩn mà quên đi bao phiền muộn. Hình ảnh con thuyền trong bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ cũng là con thuyền lẻ loi, cô đơn, mang chở tâm tình con người nhưng khác ở chỗ con thuyền này gợi lên thân phận đơn chiếc, dạt trôi, phiêu bạt của cuộc đời Đỗ Phủ trong cảnh loạn li và luôn nhớ về quê hương.
  • 136. 135 Bài đọc thêm: HOÀNG HẠC LÂU (Thôi Hiệu) Mục tiêu bài học: Giúp học sinh: - Hiểu được chủ đề- cảm hứng chủ đạo và nét đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu trong bài thơ. - Rèn kĩ năng tự học, tự tìm hiểu giá trị của tác phẩm thơ trữ tình qua hệ thống câu hỏi trong Sgk. - Có lòng trân trọng vẻ đẹp của thơ Đường, đồng cảm với những xúc cảm, tình cảm đẹp của các thi nhân đời Đường. 1. Vài nét về tác giả Thôi Hiệu và bài thơ Hoàng Hạc lâu: - Nêu vài nét về tác giả Thôi Hiệu? - Em biết gì về lầu Hoàng Hạc và các ý kiến đánh giá về bài thơ này? a. Tác giả: - Thôi Hiệu (704- 754), quê ở Biện Châu- Hà Nam (Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi, là người nổi tiếng tài hoa. - Sống vào thời thịnh Đường. - Thích ngao du sơn thuỷ. - Để lại cho đời 40 bài thơ. b. Bài thơ Hoàng Hạc lâu: - Được đánh giá là một trong những bài thơ Đường hay nhất. - Tương truyền, Lí bạch đến thăm lầu, thấy bài thơ này của Thôi Hiệu, đã viết vào vách rằng: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc/ Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Trước mắt có cảnh đẹp nhưng ko nói được/ Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu) c. Lầu Hoàng Hạc: - Là một địa danh ở bờ bắc Trường Giang, thuộc tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc). - Truyền thuyết kể rằng: xưa có chàng Nho sinh Phí Văn Vi buồn vì thi hỏng, lang thang đến bãi Anh Vũ, bên bờ Trường Giang và tu luyện. Sau có hạc vàng đáp
  • 137. 136 xuống và chàng cưỡi hạc vàng bay lên trời. Người đời sau xây ngôi lầu này để kỉ niệm.  Lầu Hoàng Hạc là một thắng cảnh nổi tiếng đồng thời là một di chỉ thần tiên. 2. Hướng dẫn đọc- hiểu: (Ở bài đọc thêm, giáo viên hướng dẫn học sinh tự đọc văn bản, tự so sánh đối chiếu các bản dịch) a. Hai câu đề: Đọc hai câu đề, em thấy có những hình ảnh nào đáng chú ý? Những hình ảnh ấy có mối quan hệ với nhau như thế nào? Cảm nhận của em về tâm trạng của tác giả? - Hình ảnh: Người xưa và hạc vàng  Lầu Hoàng Hạc Cái đã mất Cái còn Cõi tiên Cõi trần Quá khứ Hiện tại  Sự đối lập của quá khứ với hiện tại: Tác giả tìm đến một di chỉ thần tiên nhưng người tiên, hạc tiên đâu còn, chỉ còn trơ lại lầu Hoàng Hạc như một dấu tích kỉ niệm. - Tâm trạng của tác giả: nuối tiếc, bàng hoàng, ngẩn ngơ trước thực tại biến cải. b. Hai câu thực: Thanh điệu của hai câu thực có gì đặc biệt? Nó có giá trị biểu cảm ra sao? - Câu 3: 6/7 thanh trắc  âm điệu trúc trắc nhấn mạnh cái đã mất  sự bừng tỉnh sau những đắm chìm của cảm xúc hoài niệm  tâm trạng hẫng hụt, nuối tiếc, thảng thốt. - Câu 4: 5/7 thanh bằng, lối phù bình thanh- 3 thanh bằng liên tiếp không dấu (không du du)  âm điệu nhẹ nhàng. - Hình ảnh “Hạc vàng một đã đi, đi biệt” và “mây trắng ngàn năm bay chơi vơi”  Tác giả nhận thức được thiên nhiên là cái vĩnh cửu, trường tồn còn đời người hữu hạn, dù huy hoàng đến mấy cũng lui vào quá khứ.
  • 138. 137 c. Hai câu luận: 1) Ở hai câu luận, cảnh thiên nhiên được miêu tả là cảnh của quá khứ hay thực tại? Sắc thái của thiên nhiên ở đây như thế nào? 2) Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của hai câu luận? 3) Hai câu thơ tả cảnh nhưng ẩn sâu trong cảnh là tâm trạng gì của tác giả? - Cảnh vật: miêu tả khái quát, chấm phá: + Hàng cây ở đất Hán Dương. + Dòng sông Trường Giang. + Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ.  Là cảnh thực tại, gắn với đời thường, có địa danh cụ thể. - Sắc thái của cảnh: + Lịch lịch- rõ mồn một + Thê thê- mơn mởn xanh tươi  Vẻ đẹp vắng lặng, yên tĩnh, thanh khiết, tràn đầy sức sống Tâm trạng của tác giả: điểm nhìn của tác giả có sự vận động, biến đổi. Nếu như ở 4 câu đầu, tác giả hướng về quá khứ với cảm hứng hoài cổ thì đến hai câu luận, tác giả quay trở lại thực tại. Cảnh vật quá tĩnh lặng, tác giả không tìm được “đường dây liên hệ tình cảm” nào. Nỗi cô đơn dâng lên trong lòng người lữ khách khi phải đối diện với không gian vắng lặng và thời gian “nhật mộ” (chiều tàn) d. Hai câu kết: 1) Điều gì gợi cho Thôi Hiệu cảm thấy nhớ quê hương? Hai chữ “hương quan” (quê hương) có thể hiểu với những nghĩa nào? 2) Thông qua nỗi “sầu” ở cuối bài, em nhận ra được điều gì về nhân sinh quan của nhà thơ? - Thời gian: chiều tối  Gợi nỗi lòng “chiều hôm nhớ nhà” - Không gian: sông nước, khói sóng - Quê hương: + Nghĩa đen: nơi chôn rau cắt rốn của con người.
  • 139. 138 + Nghĩa biểu tượng: điểm tựa, chốn dừng chân, niềm an ủi cho những thân phận, những cuộc đời phiêu bạt. - Chữ “sầu”: Nỗi buồn, nỗi sầu là cảm xúc tất yếu của con người trong cảnh tha hương, chiều muộn, ngày tàn.  Tình cảm gắn bó, tình yêu quê hương tha thiết- là tình cảm nhân bản của con người - Hai câu này đã gợi tứ cho Huy Cận viết hai câu cuối trong bài Tràng giang. 3.2.3. Tổ chức dạy học thực nghiệm: 3.2.3.1. Địa điểm và thời gian thực nghiệm: - Địa điểm thực nghiệm: gồm tất cả 4 trường Trung học phổ thông trong Thành phố thuộc quận 1, quận 5 và Quận 8: + Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5- Tp. HCM + Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1- Tp. HCM + Trường THPT Lương Thế Vinh- Quận 1- Tp. HCM + Trường THPT Tạ Quang Bửu- Quận 8- Tp. HCM - Thời gian thực nghiệm: Từ ngày 15/09/2012 đến 24/10/2012 3.2.3.2. Kết quả thực nghiệm: - Đối với học sinh: Qua việc nghiên cứu đề tài này và vận dụng vào công tác giảng dạy của mình, chúng tôi nhận thấy học sinh không còn thái độ chán nản trong khi tiếp thu những kiến thức thơ Đường, trái lại các em có hứng thú hơn, tích cực hơn trong giờ học và trong việc tìm kiếm tài liệu liên quan đến tác phẩm. - Đối với giáo viên: Học sinh có hứng thú hơn khi học thơ Đường cũng là một trong những điều kiện thuận lợi giúp giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh, phát hiện và bổ sung thêm vào kiến thức của mình những cái mới và hay hơn, đồng thời giúp giáo
  • 140. 139 viên xua tan những ý nghĩ cho rằng: thơ Đường khó dạy, khó có thể làm cho học sinh cảm và hiểu được cái hay trong từng tác phẩm. 3.2.3.3. Nhận xét, đánh giá: - Ưu điểm: + Thông qua việc so sánh, đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và dịch nghĩa, học sinh có thể hiểu bài thơ một cách chính xác, từ đó các em có thể cảm thụ bài thơ sâu sắc hơn. + Nâng cao kỹ năng, phương pháp học thơ Đường; phát huy khả năng độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh; rèn luyện cho học sinh kỹ năng đối chiếu, so sánh các bản dịch và trình bày quan điểm, ý kiến riêng trước những điểm trong bản dịch mà mình cho rằng chưa hay và phù hợp. + Từ thời thượng cổ, Trung Hoa là nước văn minh nhất nhân loại. Sự ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa đã lan tràn sang các nước Á Châu trong vùng, trong đó có Việt Nam. Dân tộc ta tiếp thu văn hóa Hán sâu đậm qua nhiều thế kỷ bị đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Ngôn ngữ Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng một phần cũng nhờ từ Hán Việt. Do đó, việc so sánh, đối chiếu giữa bản phiên âm với bản dịch nghĩa qua các bài thơ chữ Hán sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng học từ Hán Việt. Đối với người Việt Nam, việc học chữ Hán Việt cũng là một cách để hiểu rõ hơn nền văn hóa, văn học nước nhà và giữ gìn, phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt. + Hệ thống câu hỏi khám phá thi đề, thi tứ, thi ý giúp giáo viên điều khiển có hiệu quả hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tích cực trong hoạt động nhận thức, giúp học sinh cảm nhận thơ Đường tốt hơn. + Những câu hỏi thảo luận nhóm giúp giáo viên chỉ đạo họat động nhận thức của cả lớp và của từng học sinh, thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh, gon, kịp thời để điều chỉnh hoạt động dạy học. Ngược lại, học sinh cũng thu được tín hiệu ngược từ giáo viên để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức- học tập của mình.
  • 141. 140 - Khuyết điểm: + Việc so sánh, đối chiếu giữa các bản dịch tốn khá nhiều thời gian. Nếu giáo viên quá chú trọng vào phần đối chiếu so sánh thì các phần quan trọng khác như phân tích, bình giảng, liên hệ,… sẽ không đủ thời gian để chú ý đúng mức. Tiết học sẽ không thành công do học sinh chưa lĩnh hội đủ kiến thức để hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa, bài học được rút ra từ mỗi bài thơ. + Việc so sánh, đối chiếu giữa các bản dịch tương đối khó so với trình độ học sinh, nhất là đối với học sinh Trung học cơ sở do các em chưa được trang bị đầy đủ, chắc chắn kiến thức về từ Hán Việt và và vốn từ Hán Việt còn nghèo nàn. + Việc đặt câu hỏi gợi mở nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa giáo viên và một vài học sinh, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung. Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh. - Một số giải pháp kiến nghị: + Tăng thêm một số tiết học từ Hán Việt trong chương trình Tiếng Việt Trung học cơ sở, Trung học phổ thông để trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về từ Hán Việt, giúp học sinh tích lũy vốn từ Hán Việt ngày càng phong phú, từ đó học sinh có thể vận dụng vào việc học thơ chữ Hán nói chung và thơ Đường Luật nói riêng một cách dễ dàng và hiệu quả hơn. + Trong các tiết học thơ chữ Hán, giáo viên cần phân phối thời gian hợp lý giữa các phần, các khâu trong tiến trình lên lớp để dành thời gian hợp lý cho phần so sánh, đối chiếu giữa các bản dịch, nhất là đối với những bài thơ thất ngôn bát cú Đường Luật. + Hiện nay, đa số học sinh đều chú trọng vào các môn thuộc ngành khoa học tự nhiên, việc học văn đối với học sinh dường như không còn quan trọng, các em thường không có hứng thú trong giờ học. Vì thế, thư viện trường nên cung cấp cho giáo viên, học sinh những loại sách tham khảo, từ điển Hán Việt, tài liệu, tranh
  • 142. 141 truyện, băng đĩa .. liên quan đến thơ Đường để giáo viên, học sinh có thể tham khảo và tiếp cận với tác phẩm dể dàng và hứng thú hơn. + Không có một phương pháp vạn năng cho mọi nội dung dạy học. Bởi vậy, giáo viên không nên lạm dụng bất kì một phương pháp nào mà cần phối hợp linh hoạt với các phương pháp khác để giờ học sinh động hơn.
  • 143. 142 PHẦN III: KẾT LUẬN Là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và cũng là một trong những đỉnh cao của thơ ca nhân loại, thơ Đường rất đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung, hoàn mỹ về hình thức. Từ lâu thơ Đường đã trở thành mẫu mực và chiếm một địa vị quan trọng trong nền văn học nhân loại. Đi vào thơ Đường là đi vào thế giới hoà điệu, vào thế giới nội cảm của các thi nhân ở cái “ý tại ngôn ngoại”. Thơ Đường thường đi sâu khám phá sự thống nhất và chủ yếu là sự giao cảm giữa con người và thiên nhiên, tạo vật, đem đến cho người đọc những bạn bè mới, những tri âm mới. Một con sông như chảy suốt các tâm hồn. Một vầng trăng như canh cánh bên kẻ ở và người đi. Một cánh chim như rút ngắn không gian và thời gian. Đọc xong một bài thơ Đường hay, nguời ta bỗng cảm thấy dòng sông như có thể thủ thỉ trò chuyện, vầng trăng như cửa sổ để giãi bày tâm sự, và cánh chim như một phương pháp rút ngắn lại khoảng cách thiên địa. Cách cấu tứ nhằm phá đi mọi ranh giới ngăn cách, tạo ra một sức mạnh và âm vang sâu lắng của thơ Đường. Âm vang thơ Đường đã tỏa ra khắp nhân loại bởi thơ Đường là những trang viết chói lọi trong lịch sử văn học Trung Quốc, đồng thời, thơ Đường đã đặt cơ sở nghệ thuật, phong cách và luật thơ cho nền thi ca Trung Quốc các thời kì sau này. Thơ Đường cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca Việt Nam. Ngôn ngữ của thơ Đường trong sáng, tinh luyện, bởi vậy thơ Đường rất cô đọng, súc tích, ngắn gọn. Khi đọc thơ Đường, người ta phải tìm “cái ẩn, cái sâu, cái xa”, tức là phải suy luận, phải khám phá, phải suy ngẫm. Từ trước tới nay, người đọc thơ Đường không phải ít nhưng người hiểu thơ Đường cũng không phải là nhiều. Ngày nay, thơ Đường vẫn được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông. Để giúp học sinh hiểu đúng và cảm nhận được cái hay của thơ Đường, việc nghiên cứu, tìm hiểu về phương pháp dạy học thơ Đường là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực. Với những kết quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu, nhất là thông qua việc vận dụng đề tài này vào công tác giảng dạy của mình, mặc dù khả quan nhưng
  • 144. 143 bản thân chúng tôi nhận thấy mình cần cố gắng hơn nữa, không ngừng học tập ở bạn bè, đồng nghiệp để kết quả giảng dạy thơ Đường nói riêng và những bài thơ cổ nói chung đạt kết quả tốt hơn. Đồng thời, chúng tôi sẽ luôn tìm tòi, nghiên cứu, đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy để phát huy tính tích cực học tập, tạo sự say mê, hứng thú của học sinh khi học thơ Đường. Chúng tôi hi vọng những kinh nghiệm trên sẽ phần nào giúp ích cho giáo viên Văn các trường Trung học phổ thông trong công tác giảng dạy nói chung và dạy thơ Đường nói riêng. Và tất nhiên, đề tài nghiên cứu của chúng tôi còn nhiều thiếu sót và có những quan niệm chưa thể đồng nhất với các thầy cô, các anh (chị) và các bạn đồng nghiệp. Chính vì thế, chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp chân tình của quý thầy cô và các anh chị, các bạn đồng nghiệp để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu, từ đó vận dụng vào công tác giảng dạy của mình một cách thiết thực và có hiệu quả hơn.
  • 145. 144 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nhật Chiêu (2001), Câu chuyện văn chương phương Đông, Nxb Giáo dục. 2. Trương Chính, Lương Duy Thứ, Bùi Văn Ba (1971), Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 3. Thiều Chửu (2005), Hán Việt từ điển, Nxb Đà Nẵng. 4. Cao Hữu Công- Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Nxb Văn học. 5. Phạm Minh Diệu (chủ biên) (2006), Thiết kế bài soạn Ngữ Văn 10, Nxb ĐHQG Hà Nội. 6. Trương Dĩnh (2004), Thiết kế bài dạy Ngữ Văn 10 theo hướng tích hợp, tập (1), Nxb Giáo dục. 7. Trương Dĩnh (2004), Thiết kế dạy học Ngữ Văn 7 theo hướng tích hợp, tập (1), Nxb Giáo dục. 8. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê dịch) (1990), Lịch sử văn minh Trung Quốc, Trung tâm thông tin ĐHSP TPHCM. 9. Nguyễn Sĩ Đại (1996), Đặc trưng thơ tứ tuyệt đời Đường, Nxb Văn học. 10.Bùi Khánh Đản (2006), Đường thi trích dịch, Nxb Văn học. 11.Trần Xuân Đề (1976), Thơ Đỗ Phủ, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 12.Trần Xuân Đề, Hồ Sĩ Hiệp (1997), Tinh hoa văn học Trung Quốc, Đại học Sư phạm TP.HCM. 13.Trần Xuân Đề (2007), Tác giả tiêu biểu Văn học phương Đông Trung Quốc, Nxb Giáo dục. 14.Phạm Văn Đồng (1973), Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 11. 15.Lâm Ngữ Đường (1994), Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa, Nxb Văn hóa. 16.Franjois Cheng: Bút pháp thơ ca Trung Quốc, Tài liệu ĐHSP Hà Nội. 17.Phạm Minh Hạc (1995), Các cuộc cải cách giáo dục ở VN, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 11.
  • 146. 145 18.Nguyễn Thị Bích Hải (1996), Thi pháp thơ Đường – một số phương diện chủ yếu, Luận án PTSKH Ngữ văn (Thư viện Quốc gia VN, Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội) 19.Nguyễn Thị Bích Hải (2002), Giảng văn văn học châu Á trong trường Phổ thông, Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, Nxb Thuận Hóa, Huế. 20.Nguyễn Thị Bích Hải (2003), Bình giảng thơ Đường và việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 21.Nguyễn Thị Bích Hải (2005), Bình giảng thơ Đường: Theo sách giáo khoa Ngữ văn mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 22.Nguyễn Thị Bích Hải (2006), Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hóa. 23.Nguyễn Thị Bích Hải (2009), Đến với tác phẩm văn chương phương Đông (Trung Quốc- Nhật Bản- Ấn Độ), Nxb Giáo dục. 24.Lê Bá Hán (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội. 25.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục. 26.Nguyễn Tuyết Hạnh (1996), Vấn đề dịch thơ Đường ở VN, trung tâm nghiên cứu quốc học, Nxb Văn học, Hà Nội. 27.Phạm Thị Hảo (2002), Văn học Trung Quốc giản yếu, Nxb ĐHQG Tp. HCM. 28.Hồ Sĩ Hiệp (1995), Thơ Đường ở trường PT, Nxb Văn nghệ, Tp.HCM. 29.Hồ Sĩ Hiệp (1998), Giúp học tốt Văn học Trung Quốc trong nhà trường, Nxb Đồng Nai. 30.Hồ Sĩ Hiệp (2002), Lí Bạch, Tủ sách văn học trong nhà trường. 31.Hồ Sĩ Hiệp (2006), Văn học Trung Quốc với nhà trường (tiểu luận), Nxb ĐHQG Tp. HCM. 32.Hồ Sĩ Hiệp (2007), Đến với Đường thi tuyệt cú, Nxb ĐHSP Tp.HCM. 33.Nguyễn Văn Hiệu (2000), Quan hệ và tiếp nhận VHTQ ở VN đầu thế kỉ XX, Tạp chí Hán Nôm số 4. 34.Nguyễn Trọng Hoàn (2007), Đọc- hiểu văn bản Ngữ Văn 7, Nxb Giáo dục.
  • 147. 146 35.Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK, Nxb ĐHSP, Hà Nội. 36.Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 37.Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy học văn ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 38.Trần Ngọc Hưởng (2004), Thơ Đường trong nhà trường, Nxb Đồng Nai. 39.Nguyễn Thị Dư Khánh (2006), Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 40.Trần Trọng Kim (1995), Đường thi, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội. 41.Nguyễn Lai (1993), Tiếp nhận văn học- một vấn đề thời sự, Báo Văn nghệ số 10 42.Mai Quốc Liên (2002), Những vấn đề của phương pháp giảng dạy thơ trong nhà trường, Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, tập (29), số 1. 43.I.X.Lixevich (Trần Đình Sử dịch) (2002), Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 44.Nguyễn Thế Long (2006), Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường, Nxb Lao động, Hà Nội. 45.Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học – giảng dạy văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 46.Phan Trọng Luận (2004), Phương pháp dạy học Văn, tập (1), Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội. 47.Phan Trọng Luận (2004), Phương pháp dạy học Văn, tập (2), Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội. 48.Phan Trọng Luận (chủ biên) (2006), SGK Ngữ Văn 10, tập (1), Nxb Giáo dục. 49.Lê Nguyễn Lưu (1997), Đường thi tuyển dịch tập (1),( 2), Nxb Thuận Hóa. 50.Phương Lựu (1996), Văn hóa, VHTQ cùng một số liên hệ ở VN, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 51.Robert J. Marzano – Debra J. Pickering – Jane E. Pollock (2005), Các phương pháp dạy học hiệu quả (người dịch Hồng Lạc), NXB Giáo dục.
  • 148. 147 52.Nguyễn Thị Hồng Nam (2008), Chuyên đề đổi mới PPDH dành cho học viên Cao học, Đại học Cần Thơ. 53.Nguyễn Thị Hồng Nam (2010), Câu hỏi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, Tạp chí Khoa học học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, tập (73), số 11. 54.Phan Ngọc (1990), Đỗ Phủ- nhà thơ dân đen, Nxb Đà Nẵng. 55.Lê Đức Niệm (1995), Thi tiên Lý Bạch, Nxb Văn học. 56.Lê Đức Niệm (1998), Diện mạo thơ Đường, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội. 57.Nguyễn Khắc Phi (1997), Vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật ( In trong Về thi pháp thơ Đường), NXB Đà Nẵng. 58.Nguyễn Khắc Phi (1999), Thơ văn Trung Hoa cổ mảnh đất lạ mà quen, Nxb Giáo dục. 59.Nguyễn Khắc Phi (2001), Mối quan hệ giữa văn học VN và VHTQ qua cái nhìn so sánh, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 60.Ngô Văn Phú (biên soạn và tuyển chọn) (1996), Thơ Đường ở Việt Nam, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 61.Ngô Văn Phú (dịch) (2008), Đường thi tam bách thủ do Hoành Đường Thoái Sĩ soạn, NXB Văn học. 62.Vũ Tiến Quỳnh (1990), Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, Nxb Khánh Hòa. 63.Trần Trọng San (1990), Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, tủ sách Đại học tổng hợp Tp. HCM. 64.Trần Trọng San (1990), Thơ Đường, Trường Đại học tổng hợp Tp.HCM. 65.Trần Trọng San (1995), Hán Văn (tái bản lần thứ nhất), Nxb Tp. HCM. 66.Nguyễn Quốc Siêu (1998), Thơ Đường bình giảng, Nxb Giáo dục. 67.Lê Xuân Soạn- Lê Phương Liên (2005), Thiết kế bài dạy Ngữ Văn 7, tập (1), Nxb ĐHQG TP. Hồ Chí Minh. 68.Lê Xuân Soạn (2006), Dạy- học các tác phẩm thơ Đường ở trường THCS và THPT theo chương trình Ngữ văn mới, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
  • 149. 148 69.Tạ Thanh Sơn (chủ biên) (2007), Kiến thức cơ bản Ngữ Văn 10, Nxb ĐHQG Hà Nội. 70.Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng. 71.Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 72.Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Nxb Văn học, Hà Nội. Nguyên bản của Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân (Mỹ) 73.Trần Đình Sử (2002), Đọc văn – Học văn, Nxb Giáo dục. 74.Vũ Minh Tâm (1996), Vấn đề con người trong Triết học cổ đại Trung Quốc, Tạp chí Triết học số 4. 75.Cao Tự Thanh (1995), Giai thoại thơ Đường, Nxb Phụ nữ. 76.Khâu Chấn Thanh, Mai Xuân Hải dịch (1994), Lý luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục. 77.Khâu Chấn Thanh (2000), Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, Nxb Văn học, Hà Nội. 78.Nguyễn Thành Thi (2011), Chuyên đề bồi dưỡng giáo viên THPT, Sóc Trăng. 79.Lương Duy Thứ (1996), Thơ cổ Trung Quốc- Quá trình tiếp nhận và thi pháp, Tạp chí văn học số 6. 80.Lương Duy Thứ và Nguyễn Lộc tuyển chọn (1996), Thơ ca cổ điển Trung Quốc, Tuyển tập in 2 thứ tiếng. Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học TP. HCM 81.Lương Duy Thứ, GS Nguyễn Lộc (1997), Thơ ca cổ điển Trung Quốc, Nxb Trẻ. 82.Lương Duy Thứ (2005), Thi pháp thơ Đường, Nxb ĐHSP. TPHCM 83.Đinh Phan Cẩm Vân (2011), Tiếp cận thể loại văn học cổ Trung Quốc, Nxb ĐHSP. TPHCM. 84.Trịnh Xuân Vũ (2002), Phương pháp dạy học văn ở bậc phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM.
  • 150. 149 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Hoàng Hạc Lâu Thắng cảnh, huyền thoại, thơ và ảnh Hoàng Hạc lâu là thắng cảnh nổi tiếng ở Vũ Hán gắn liền với sông Trường Giang, trận Xích Bích, huyền thoại hạc vàng, Thôi Hiệu đề thơ, Lí Bạch gác bút, Khổng Minh mượn gió đông, Tôn Quyền xem trận thế, Khuất Nguyên viết Ly Tao, Nguyễn Du viết tuyệt phẩm trong “Bắc hành tạp lục”, Tô Thức, Mạnh Hạo Nhiên, Mao Trạch Đông… đề thơ cùng biết bao danh họa và ảnh đẹp về Hoàng Hạc lâu làm say đắm lòng người.
  • 151. 150 Thắng cảnh Lầu Hoàng Hạc vốn là đài quan sát quân sự được xây từ thời Tam Quốc, ở bờ Nam sông Trường Giang, thuộc địa phận nước Ngô (thành phố Vũ Xương, Vũ Hán ngày nay). Đài quan sát này liên quan với trận Xích Bích nổi tiếng trong lịch sử và huyền thoại cầu gió đông của Khổng Minh. Sau này, khi nước Ngô bị diệt vong thì đài không còn ý nghĩa quân sự quan trọng nữa. Nhưng do được xây ở nơi phong cảnh hung vĩ nên lầu Hoàng Hạc dần trở thành điểm đến của tao nhân, mặc khách và ngày càng nổi tiếng, là biểu tượng, niềm tự hào của người dân Vũ Hán. Sa bàn Hoàng Hạc lâu (ngày xưa) Lầu Hoàng Hạc nguyên thủy là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng. Trải qua nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc, chịu biết bao cuộc chiến tranh hủy diệt; rồi lại được dựng lên, sau nhiều lần trùng tu cho đến nay, lầu Hoàng Hạc được tái sinh trở lại với sự kết tinh nhuần nhuyễn những phong cách độc đáo của Hoàng Hạc lâu qua các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh,…được trưng bày để mọi người thưởng ngoạn. Hoàng Hạc lâu hịên tại lộng lẫy hơn nhiều với năm tầng có chiều cao 51,4 mét, ngói vàng, trụ đỏ, các mái hiên được uốn cong lên như đôi cánh hạc.
  • 152. 151 Tầng một cao hơn 10m với trang trí bên trong giúp người xem hiểu ngay được sự tích của Hoàng Hạc lâu. Tầng hai đến tầng bốn lưu giữ lại những bài thơ từ và danh họa về các sự kiện lịch sử từ thời Tam Quốc đến nay, những danh nhân như Khuất Nguyên, Nhạc Phi, thi tiên Lí Bạch, Thôi Hiệu, Tô Đông Pha, Mạnh Hạo Nhiên. Tầng năm là tầng cao nhất của lầu, đứng ở đây, người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, nhìn dòng Trường Giang và Hán Thủy hợp lại thành hình chữ “Nhân” trong Hán tự. Huyền thoại Theo sách “Liệt tiên toàn truyện” của Vương Thế Trinh đời Minh, có chuyện kể rằng: “Xưa có một người họ Tân, bán rượu ở chân núi Hoàng Cốc kiếm sống qua ngày. Một hôm có đạo sĩ già ăn mặc rách rưới đến xin rượu uống. Anh bán rượu nghèo tốt bụng, thấy ông lão đáng thương, bèn cho rượu uống. Từ đấy, ngày nào đạo sĩ cũng đến xin rượu. Một hôm, đạo sĩ từ biệt anh bán rượu, nói: “Một năm qua, ngày nào anh cũng cho rượu uống, lão chẳng có gì đền đáp. Lão có con hạc quý, tặng anh để tỏ lòng biết ơn”. Nói rồi ông lẫy vỏ cam vẽ lên tường một con hạc, dặn: “Chỉ cần anh vỗ tay là hạc sẽ bay ra nhảy múa, mua vui cho khách”. Dứt lời, đạo sĩ biến mất. Anh bán rượu làm theo, quả nhiên có hạc vàng bay ra nhảy múa. Từ đấy, khách uống rượu hiếu kì kéo đến rất đông.
  • 153. 152 Chẳng bao lâu, anh trở nên giàu có. Bỗng một hôm, đạo sĩ quay lại nói: “Mười năm qua, tiền anh kiếm được chắc đã đủ trả chỗ rượu anh cho lão uống?”. Rồi ông rút cây sáo thần thổi lên một khúc, gọi hạc vàng bay ra, cưỡi hạc bay đi mất. Vì thế, về sau, căn lầu xây ở nơi này được mang tên Hoàng Hạc. Thơ và Ảnh Theo tài liệu văn học Trung Quốc, có khoảng 300 bài thơ tả cảnh lầu Hoàng Hạc, nhưng bài thơ của Thôi Hiệu đời Đường là xuất sắc nhất, có giá trị nghệ thuật vượt không gian và thời gian, được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
  • 154. 153 Lầu Hoàng Hạc Người xưa cưỡi hạc đã cao bay Lầu hạc còn suông với chốn này Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dầy Hoàng hôn về đó quê đâu tá? Khói sóng trên sông nảo dạ người. Ngô Tất Tố
  • 155. 154 Tương truyền, khi Lí Bạch đến lầu Hoàng Hạc du ngoạn, định đề thơ, nhưng đọc xong thơ Thôi Hiệu đã đề trước đó, ông đành nghiêng mình gác bút, ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo vô tắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Cảnh đẹp nhường kia sao khó viết, trên đầu Thôi Hiệu đã đề thơ). Để ghi nhớ giai thoại văn học “Thôi Hiệu đề thơ, Lí Bạch gác bút” thú vị này, ngày nay ở phía Nam lầu Hoàng Hạc, người ta xây dựng “Đình gác bút” làm điểm tham quan, dừng chân cho du khách. Nguyễn Du khi đi sứ nhà Thanh qua lầu Hoàng Hạc, trong “Bắc hành tạp lục”, ông đã viết bài thơ: 黃鶴樓 Hoàng Hạc lâu 阮攸 Nguyễn Du 何處神仙經紀時 Hà xứ thần tiên kinh kỉ thì 猶留仙跡此江楣 Do lưu tiên tích thử giang mi 今來古往盧生夢 Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng 鶴去樓空崔顥詩 Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi 軒外煙波空渺渺 Hiên ngoại yên ba không diểu diểu
  • 156. 155 眼中草樹尚依依 Nhãn trung thảo thụ thượng y y 衷情無限凴誰訴 Trung tình vô hạn bằng thùy tố 明月清風也不知 Minh nguyệt thanh phong dã bất tri Lầu Hoàng Hạc Nào thuở tiên đi mãi đến giờ, Dấu tiên bên bến đứng trơ vơ. Xưa qua nay lại Lư dồn mộng, Hạc khuất lầu không Hạo để thơ. Thăm thẳm nước mây ngoài vạn dặm, Dờn dờn cây cỏ vẫn nghìn xưa. Nỗi lòng ấp ủ cùng ai tỏ? Gió mát trăng trong luống hững hờ (Quách Tấn dịch) Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng cảm khái viết bài thơ cùng tên Hoàng Hạc lâu: Hoàng Hạc Lâu Vũ Hoàng Chương Đã bao giờ có hạc vàng đâu Mà có người tiên để có lầu! Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở Lầm Thôi Hiệu trước Nguyễn Du sau: Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu Trăng gió hão huyền như khói sóng Nồi kê đã chín nghĩ mà đau.
  • 157. 156
  • 158. 157 Phụ lục 2: Chùa Hàn San: Một trong mười ngôi chùa nổi tiếng ở Trung Quốc Chùa Hàn San tọa lạc bên bờ sông Cổ Vận thôn Thất Lý, nằm ngoài cổng Tây Xương thành cổ Tô Châu, nay thuộc trấn Phong Kiều, khu Kim Xương, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Chùa được xây cất vào năm Thiên Giám đời nhà Lương (CN 502-519), cách nay có hơn 1400 năm. Xưa gọi là “Tháp Viện Diệu Lợi Phổ Minh”. Qua con hẻm nhỏ đường Thạch Bản của cổ trấn Phong Kiều, hoặc đứng ở đầu cầu Phong Kiều, đưa mắt nhìn sẽ thấy trên con đường nhỏ quanh co xa tắp, thấp thoáng bóng chùa Hàn San với tường vàng ngói biếc, sân chùa tùng bách tươi xanh, tọa lạc trong rừng cây xanh thẳm.
  • 159. 158 Trương Kế - Thi nhân đời Đường, khi đi ngang qua cầu Phong Kiều, nhìn con thuyền trôi lững lờ trên dòng sông Cổ Vận, nghe tiếng chuông chùa Hàn San đồng vọng ngân nga, ông tức cảnh sanh tình, làm bài thơ với nhan đề “PHONG KIỀU DẠ BẠC” Tấm bia ghi bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của nhà thơ Trương Kế Tương truyền tiếng chuông chùa Hàn San là độc nhất vô nhị, sự cảm xúc đã gợi hứng cho rất nhiều thi nhân qua các triều đại, nhưng nổi bậc vẫn là bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” của thi sĩ Trương Kế. Kiệt tác này hiện là pháp bảo vô giá của Hàn San, được khắc trên bia đá sừng sững giữa trời thi gan cùng tuế nguyệt.
  • 160. 159
  • 161. 160
  • 162. 161 Giai thoại lý thú giải thích về tiếng chuông chùa Hàn San vào lúc nửa đêm: Chuyện kể rằng, vào đêm Trương Kế đậu thuyền tại bến Phong Kiều, trong lúc thao thức vì cảnh đẹp thiên nhiên và chỉ mới làm được hai câu đầu của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt như dự định mà thôi, nhà thơ bâng khuâng mãi vì chưa tìm được ý tưởng cho hai câu kế tiếp. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, không phải chỉ có một mình thi nhân không ngủ được mà có đến hai người khác nữa vì quá say mê thơ cũng trằn trọc không sao an giấc. Người thứ nhất là sư cụ trụ trì chùa Hàn San. Đêm đã khuya lắm rồi mà thầy vẫn còn thao thức vì không làm được hai câu cuối bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Thầy chỉ làm được hai câu đầu rồi bị ngưng lại ở đó, không sao viết tiếp được. Người thứ ba cũng trằn trọc trong đêm là chú tiểu trong chùa. Chú tiểu cũng là người yêu thơ. Lúc đó, sư cụ trụ trì thấy chú tiểu còn thức bèn đưa cho chú hai câu thơ mình đã làm nhưng không thể làm tiếp được kể kết thúc trọn vẹn bài thơ. Chú tiểu vừa đọc qua hai câu đầu của sư cụ liền xuất thần viết ra ngay hai câu sau. Sư cụ đọc qua, ráp nhau lại, nhận thấy cả bài thơ bốn câu hay quá: Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung, Bán tự ngân câu bán tự cung. Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn, Bán trầm thủy để bán phù không. Bản dịch của Trần Trọng San: Mồng ba mồng bốn trăng mờ, Nửa như móc bạc nửa ngờ vành cung. Trăng kia ai xẻ đôi vầng, Nửa in đáy nước nửa lồng trên mây. Với tâm trạng vô cùng mừng rỡ và nghĩ rằng Phật Tổ đã linh thiêng giúp đỡ cho hai thầy trò ngẫu nhiên làm được một bài thơ ưng ý, thầy bảo chú tiểu thắp hương và thỉnh chuông để tạ ơn đức Phật. Lúc đó, Trương Kế đang thao thức suy nghĩ về hai câu thơ sau, thì tiếng chuông chùa Hàn San vang lên. Trong một đêm khuya mùa thu, sương phủ mờ cả dòng sông, Trương Kế nằm dưới thuyền lẻ loi đậu
  • 163. 162 ở bến Phong Kiều trong tâm trạng buồn bã, lại thêm có tiếng quạ kêu não nề vang vọng trên không trung thì bất ngờ thay, tiếng chuông chùa Hàn San vẳng đến. Tiếng chuông chùa ngân vang, lay động cả màn sương. Hồn thơ của Trương Kế tưởng như đã lụi tàn trong nỗi buồn “đối sầu miên” bỗng trỗi dậy khi đột nhiên từ ngoài thành Cô Tô có tiếng chuông chùa Hàn San ngân nga vọng lại. Ông lắng nghe tiếng chuông và chợt tỉnh. Tiếng chuông nửa đêm khuya vang lên rửa sạch lớp bụi trần gian, một đời bôn ba trên trường khoa bảng của ông đã bị tiếng chuông cuốn trôi vào quá khứ. Hiện hữu là một sự tỉnh thức: là tâm trạng thoát tục; là khách cửa thiền. Nhà thơ bỗng cảm thấy tâm hồn lâng lâng thoát tục và ý thơ từ đâu ùa vào như nước lũ. Và với tâm hồn cảm xúc với đạo Phật, hồn thơ Trương Kế đã lay động với sự vi diệu của tiếng chuông chùa, lập tức nhà thơ viết ra hai câu kết: Cô Tô thành ngoại Hàn San tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền Và từ đó, trong kho tàng văn học sử Trung Hoa lại có thêm một kiệt tác Đường thi theo thể loại thất ngôn tứ tuyệt.
  • 164. 163 Phụ lục 3: Lư Sơn Lư Sơn (hay còn gọi là Lô Sơn) là một dãy núi nằm ở phía nam thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Lư Sơn có 99 ngọn núi, trong đó đỉnh cao nhất là Đại Hán Dương với độ cao 1.474 m trên mực nước biển. Núi này là một điểm du lịch quan trọng của Trung Quốc. Đây là nơi đến được du khách nội địa Trung Quốc ưa thích. Tại đây, trên vách núi có thể nhìn thấy những sự dịch chuyển vỉa rất đặc biệt từ thời kỳ băng hà. Phong cảnh vùng này rất đẹp với các đỉnh núi, thung lũng, hẻm núi, khe núi, kiến tạo đá, hang động, và thác nước. Khu vực này cũng có một số đền thờ Đạo giáo, chùa Phật giáo, cũng như nhiều di tích Khổng giáo. Năm 1982, Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn Lư Sơn là khu danh lam thắng cảnh trọng điểm của quốc gia. Công viên quốc gia này trải dài trên diện tích 500 km² đến lưu vực Hồ Bà Dương. Năm 1996, Công viên Quốc gia Lư Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Năm 2004, công viên được UNESCO công nhận là vườn địa chất và được đưa vào danh sách hệ thống các vườn địa chất quốc tế. Núi Lư Sơn nổi tiếng đẹp đã là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Trung Quốc. Điển hình là bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” của Lí Bạch, hay bài “Lô Sơn” (hay Lư Sơn) mà giới thiền tông thường cho là của Tô Đông Pha:
  • 165. 164 Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều Vị đáo bình sinh hận bất tiêu Đáo đắc hoàn lai vô biệt vị Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều. Bản dịch tiếng Việt của sư Mật Thể: Lô Sơn Mù tỏa Lô Sơn sóng Triết Giang Khi chưa đến đó hận muôn vàn Đến rồi về lại không gì lạ Mù toả Lô Sơn sóng Triết Giang.
  • 166. 165 Phụ lục 4: Tổng hợp các kết quả điều tra * Kết quả điều tra giáo viên THCS và THPT: - Tổng số phiếu: 62 phiếu (gồm 24 phiếu Giáo viên THCS và 38 phiếu Giáo viên THPT) - Đơn vị khảo sát: + Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5: 8 phiếu giáo viên THPT + Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1(cấp II, III): 10 phiếu giáo viên THCS và 9 phiếu giáo viên THPT + Trường THPT Lương Thế Vinh- Quận 1 (cấp II, III): 14 phiếu giáo viên THCS và 12 phiếu giáo viên THPT + Trường THPT Tạ Quang Bửu: 9 phiếu giáo viên THPT Số TT Nội dung câu hỏi Nội dung trả lời Giáo viên THCS Giáo viên THPT Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Câu 1 Theo thầy/ cô, việc đọc diễn cảm phần phiên âm trong giờ dạy thơ Đường có cần thiết không? - Có - Không 16/24 8/24 66,7 33,3 31/38 7/38 81,6 18,4 Câu 2 Thầy/ cô dạy thơ Đường chủ yếu theo: - Bản phiên âm - Bản dịch nghĩa - Bản dịch thơ - Đối chiếu, so sánh dịch thơ với phiên âm và dịch nghĩa 2/24 0/24 6/24 16/24 8,3 0 25,0 66,7 5/38 0/38 11/38 22/38 13,2 0 28,9 57,9 Câu 3 Trước khi dạy thơ Đường, thầy/ cô dặn - Đọc văn bản: Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ - So sánh, đối chiếu các 22/24 1/24 91,7 4,2 31/38 3/38 81,6 7,9
  • 167. 166 dò học sinh chuẩn bị bài những gì? (Ở câu này, thầy/cô có thể chọn nhiều hơn một đáp án trả lời) bản dịch - Trả lời các câu hỏi trong Sgk (hoặc câu hỏi giáo viên hướng dẫn soạn bài) - Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu - Hoàn toàn không yêu cầu 22/24 7/24 2/24 91,7 29,2 8,3 31/38 13/38 7/38 81,6 34,2 18,4 Câu 4 Trong giờ dạy các bài thơ Đường, thầy/ cô có đặt ra những vấn đề để học sinh thảo luận, tranh luận không? - Rất nhiều - Khá nhiều - Thỉnh thoảng - Không có 2/24 5/24 17/24 0/24 8,3 20,8 70,9 0 5/38 18/38 15/38 0/38 13,2 47,4 39,4 0 Câu 5 So sánh thơ Đường và thơ Việt Nam, thầy/ cô thấy dạy thơ Đường: - Dễ hơn - Khó hơn - Như nhau 0/24 24/24 0/24 0 100 0 0/38 33/38 5/38 0 86,8 13,2 Câu 6 Khó khăn lớn nhất khi thầy/ cô dạy thơ Đường là gì? - Vốn từ Hán Việt của o viên và học sinh hạn chế - Sách giáo viên, tài liệu tham khảo chưa phong phú - Thơ Đường ngắn gọn, hàm súc, học sinh khó hiểu - Giáo viên ít được bồi 11/24 2/24 6/24 5/24 45,8 8,3 25,0 20,9 21/38 5/38 8/38 4/38 55,3 13,2 21,1 10,4
  • 168. 167 dưỡng, đổi mới phương pháp dạy học Câu 7 Theo thầy/ cô, việc phân phối thơ Đường trong chương trình đã hợp lý chưa? - Hợp lý - Chưa hợp lý 2/24 22/24 8,3 91,7 3/38 35/38 7,9 92,1 Câu 8 Qua quan sát, thầy/ cô cho biết tâm lý của học sinh khi tiếp cận thơ Đường - Thích thú - Bình thường - Không thích 1/24 4/24 19/24 4,2 16,7 79,1 1/38 7/38 30/38 2,6 18,4 79,0 Câu 9: (Dành cho Giáo viên Trung học cơ sở) Theo thầy/cô, các bài thơ Đường được chọn để giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở có phù hợp với học sinh không? Bài thơ Phù hợp Không phù hợp Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 1. Tĩnh dạ tứ 24 100 0 0 2. Hồi hương ngẫu thư 11 45,8 13 54,2 3. Vọng Lư Sơn bộc bố 23 95,8 1 4,2 4. Mao ốc vị thu phong sở phá ca 14 58,3 10 41,7 5. Phong Kiều dạ bạc 3 12,5 21 87,5
  • 169. 168 Câu 9: (Dành cho Giáo viên Trung học phổ thông) Theo thầy/cô, các bài thơ Đường được chọn để giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông có phù hợp với học sinh không? Bài thơ Phù hợp Không phù hợp Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 1. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng 38 100 0 0 2. Thu hứng 36 94,7 2 5,3 3. Hoàng Hạc lâu 35 92,1 3 7,9 4. Khuê oán 6 15,8 32 84,2 5. Điểu minh giản 4 10,5 34 89,5 Câu 10: Thầy/ cô sử dụng những phương pháp nào khi giảng dạy thơ Đường? (Thống kê giáo viên Trung học cơ sở) Tên PPDH Mức độ sử dụng Thường xuyên Khá thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng Đọc diễn cảm 15/24 62,5 % 5/24 20,8 % 4/24 16,7 % 0/24 0 So sánh, đối chiếu các bản dịch 4/24 16,7 % 11/24 45,8 % 5/24 20,8 % 4/24 16,7 % Đặt câu hỏi gợi mở 17/24 70,8 % 6/24 25 % 1/24 4,2 % 0/24 0
  • 170. 169 Phân tích bình giảng 6/24 25 % 10/24 41,7 % 8/24 33,3 % 0/24 0 Trực quan 3/24 12,5 % 9/24 37,5 % 5/24 20,8 % 7/24 29,2 % Câu 10: Thầy/ cô sử dụng những phương pháp nào khi giảng dạy thơ Đường? (Thống kê giáo viên Trung học phổ thông) Tên PPDH Mức độ sử dụng Thường xuyên Khá thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng Đọc diễn cảm 19/38 50 % 9/38 23,7 % 7/38 18,4 % 3/38 7,9 % So sánh, đối chiếu các bản dịch 9/38 23,7 % 21/38 55,3 % 8/38 21 % 0 0 Đặt câu hỏi gợi mở 27/38 71,1 % 9/38 23,7 % 2/38 5,2 % 0 0 Phân tích bình giảng 19/38 50 % 15/38 39,5 % 4/38 10,5 % 0 0 Trực quan 2/38 5,3 % 4/38 10,5 % 15/38 39,5 % 17/38 44,7 % * Kết quả điều tra học sinh THCS và THPT: - Tổng số phiếu: 429 phiếu (gồm 157 phiếu học sinh THCS và 272 phiếu học sinh THPT) - Đơn vị khảo sát: + Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong- Quận 5: 90 phiếu học sinh THPT + Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa- Quận 1(cấp II, III): 73 phiếu học sinh THCS và 48 phiếu học sinh THPT
  • 171. 170 + Trường THPT Lương Thế Vinh- Quận 1 (cấp II, III): 84 phiếu học sinh THCS và 51 phiếu học sinh THPT + Trường THPT Tạ Quang Bửu: 83 phiếu học sinh THPT Số TT Nội dung câu hỏi Nội dung trả lời Học sinh THCS Học sinh THPT Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Câu 1 Em có thích học thơ Đường không? - Có - Không 17 140 10,8 89,2 82 190 30,1 69,9 Câu 2 Lý do tại sao em thích (không thích) học thơ Đường? * Thích: - Thơ Đường ngắn gọn, hàm súc - Thơ Đường dễ thuộc, dễ nhớ - Thơ Đường thâm trầm, ý vị * Không thích: - Thơ Đường thâm trầm, khó hiểu - Thơ Đường nhiều điển tích, điển cố - Vốn từ Hán Việt hạn chế 6 2 9 10 9 121 35,3 11,8 52,9 7,1 6,4 86,4 17 11 54 13 24 153 20,7 13,4 65,9 6,8 12,6 80,5 Câu 3 Trước khi học thơ Đường, em chuẩn bị bài những gì? (Ở câu này, học sinh có thể chọn - Đọc văn bản: Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ - Đối chiếu các bản dịch - Trả lời các câu hỏi trong Sgk (hoặc câu hỏi giáo viên hướng dẫn soạn bài) 113 9 89 72,0 5,7 56,7 213 12 131 78,3 4,4 48,2
  • 172. 171 nhiều hơn một đáp án trả lời) - Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu - Hoàn toàn không chuẩn bị 15 44 9,6 28,0 21 59 7,7 21,7 Câu 4 Trong giờ học, em có tích cực tham gia phát biểu, thảo luận, tranh luận những vấn đề giáo viên đặt ra không? - Rất nhiều - Khá nhiều - Thỉnh thoảng - Không có 13 38 67 39 8,3 24,2 42,7 24,8 11 53 134 74 4,0 19,5 49,3 27,2 Câu 5 Phương pháp giảng dạy của giáo viên: - Rất lôi cuốn - Khá lôi cuốn - Ít lôi cuốn - Không lôi cuốn 6 81 57 13 3,8 51,6 36,3 8,3 48 159 54 11 17,6 58,5 19,9 4,0 Câu 6 Em thích học thơ Đường qua bản - Phiên âm - Dịch nghĩa - Dịch thơ - Đối chiếu các bản dịch 3 2 114 38 1,9 1,3 72,6 24,2 14 5 142 111 5,1 1,8 52,2 40,8 Câu 7 So sánh thơ Đường và thơ Việt Nam, em thấy học thơ Đường: - Dễ hơn - Khó hơn - Như nhau 0 112 45 0 71,3 28,7 4 236 32 1,5 86,8 11,8
  • 173. 172 Câu 8: (Dành cho học sinh Trung học cơ sở) Xếp theo thứ tự ưu tiên (từ 1 đến 5) các bài thơ Đường trong chương trình ngữ Văn Trung học cơ sở mà em thích học nhất: Bài thơ Thứ tự ưu tiên 1 2 3 4 5 1. Tĩnh dạ tứ 111 29 10 7 0 2. Hồi hương ngẫu thư 9 22 25 54 47 3. Vọng Lư Sơn bộc bố 98 34 17 6 2 4. Mao ốc vị thu phong sở phá ca 6 13 21 56 61 5. Phong Kiều dạ bạc 2 7 33 46 69 Câu 8: (Dành cho học sinh Trung học phổ thông) Xếp theo thứ tự ưu tiên (từ 1 đến 5) các bài thơ Đường trong chương trình ngữ Văn Trung học phổ thông mà em thích học nhất: Bài thơ Thứ tự ưu tiên 1 2 3 4 5 1. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng 253 14 5 0 0 2. Thu hứng 198 45 19 7 3 3. Hoàng Hạc lâu 212 33 12 8 7 4. Khuê oán 46 42 52 58 74 5. Điểu minh giản 10 17 20 67 158
  • 174. 173